Cô Gái Đến Từ Milan

Lượt đọc: 1011 | 3 Đánh giá: 8,7/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
☆ 6 ☆

Ngay khi Duca nhận ra qua câu chuyện của Davide Anseri rằng chàng thanh niên này không hề giết một ai cả, anh đã phải nghiến răng thật chặt để kìm lại mong muốn nện cho cậu ta một trận nhừ tử. Quỷ tha ma bắt lũ bệnh nhân tâm thần, suy nhược cơ thể, tâm thần phân liệt! Sau đó khuôn mặt của cậu ta, vừa trở nên oặt ẹo vì khổ sở, như mayonnaise trào ra từ lọ, khuấy động lòng thương cảm trong anh.

“Quay lại chỗ em gái tôi nào.” Họ đã ngồi trong xe gần một tiếng đồng hồ, xe đỗ bên ngoài nghĩa trang Musocco và với khung cảnh xung quanh cùng câu chuyện vô nghĩa mà Davide vừa kể cho anh qua những câu độc thoại lộn xộn, anh thấy cần phải thay đổi ngoại cảnh và không khí. Anh không có nhiều chỗ để đi với gã sắp hóa điên này: không nên về căn hộ của cậu ta ở trên đường Annunciata, không, kỹ sư Auseri vĩ đại có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào, họ cũng không thể quay về dinh thự ở Brianza; có thể tới một khách sạn nào đó, nhưng để sau đi: hiện thời anh muốn đưa cậu ta về chỗ em gái mình hơn. Trong khi Davide uống thả phanh ở quầy thì anh gọi cho em gái từ một quán bar, các vị khách không mời không bao giờ được chào đón cả. Cứ để cậu ta uống.

“Anh chuẩn bị quay lại với cậu bạn mà em vừa gặp lúc nãy. Em sẽ phải kiên nhẫn, em sẽ phải giúp anh, em có thể dọn dẹp phòng anh cho cậu ta ngay bây giờ không?”

“Có chuyện gì xảy ra à?”

“Không, không có gì cả, chỉ là một ca ngu lâu dốt bền thôi.”

Trên đường trở về, anh dừng lại ở một tiệm thuốc, mua một tuýp nhỏ thuốc ngủ loại cơ bản nhất, và ngay khi họ về đến căn hộ của Lorenza, anh bắt Davide nằm xuống giường, cho cậu ta một viên và như một bảo mẫu đang trông trẻ, ngồi đó nhìn cậu ta cho tới khi cậu ta chìm vào giấc ngủ. Việc xảy ra gần như ngay lập tức vì sau màn thú tội, cậu chàng bề ngoài to cao nhưng lại quá mức nhạy cảm này đã kiệt sức và rơi vào trạng thái cạn kiệt năng lượng, thay vì nói là ngủ.

Sau đó anh cũng đưa Sara đi ngủ – trong vòng tay anh, cô bé chìm vào giấc ngủ ngay lập tức – khi anh và Lorenza ở riêng trong bếp, nơi đó có chỗ tránh nắng dù không mấy mát mẻ, anh kể cho em gái mình nghe rằng anh cảm thấy như muốn khóc.

“Nếu chỉ là vấn đề cai rượu cho cậu ta thì quá dễ. Vấn đề là chàng trai này có phức cảm tội lỗi về một người đã chết, cậu ta muốn chôn vùi sự áy náy ấy trong whisky suốt một năm mà không kể cho ai hết. Ý nghĩ mình giết chết một cô gái luôn âm ỉ trong suy nghĩ của cậu ta, và cho dù có là Freud thì cũng phải mất nhiều năm mới mong tống khứ suy nghĩ chết tiệt đó ra khỏi đầu cậu ta được. Ngay khi chỉ còn lại một mình là cậu ta sẽ cố gắng rạch cổ tay, như chính cái cách mà cô gái kia đã làm, và rốt cục thì cậu ta cũng sẽ thành công thôi.”

“Anh có thể báo cho cha cậu ta, ông ấy có thể đưa cậu ta vào trại cai nghiện và sau đó anh cũng nên tìm một công việc dễ dàng hơn.”

“Đúng là anh có thể làm như vậy. Cậu ta có thể vào trại cai nghiện, một tháng, hai tháng, sáu tháng, tùy thôi, và khi ra ngoài cậu ta vẫn sẽ lại rạch cổ tay mình.” Anh ăn nốt miếng thịt hầm to tướng mà Lorenza đã chuẩn bị cho bữa trưa. “Và rồi đến lượt anh bị đeo bám bởi suy nghĩ nếu anh ở cùng cậu ta thì đáng ra anh có thể cứu cậu ta. Chúng ta quá nhạy cảm. Nói cách khác, lố bịch đấy nhưng chúng ta chia ra làm hai hạng người khác biệt, những kẻ tàn nhẫn và những kẻ nhạy cảm. Có người có thể giết chết chính người thân của mình, vợ, mẹ, và con cái, sau đó vào tù vẫn bình thản xin đăng ký mua báo giải đố để chơi trò giải ô chữ, trong khi một người khác thì bị tự kỉ ám thị chỉ vì nhỡ để cửa sổ mở và con mèo nhỏ của anh ta trèo lên bục cửa, rơi xuống từ tầng năm; anh ta nghĩ chính mình đã giết chết con mèo và sau đó hóa điên.”

Tầm bảy giờ tối, Davide Auseri tỉnh dậy, người sũng mồ hôi: cậu ta có đầy đủ những đặc điểm của một hầu gái già bị bệnh suy giảm tuyến giáp, đến cả việc đổ mồ hôi cũng giống. Duca bắt cậu ta tắm nước lạnh, ở cùng cậu ta trong phòng tắm vì anh không tự tin khi để cậu lại một mình, sau đó Lorenza là bộ vest và áo sơ mi của Davide và bắt cậu ta ăn nửa con gà quay mà cô đã mua từ hàng bán thực phẩm gần nhà. Duca hai lần rót đầy rượu vang đỏ vào ly của cậu ta, sau đó yêu cầu cậu ta vào phòng làm việc của anh. Không có cuộc đối thoại nào hết: dường như Davide đã đóng cửa lại và ngừng tiếp khách. Duca sẽ bắt cậu ta tiếp nhận anh, bằng vũ lực nếu cần thiết.

“Ngồi xuống đó đi,” anh nói. Đây là phòng làm việc mà cha anh đã lắp đặt để anh làm phòng mổ: bình đựng các mẫu vật y tế vẫn còn đó từ ba năm trước, ghế được phủ nhựa giả da, có bình phong trước mặt và trong góc phòng, cạnh ô cửa sổ nhìn ra quảng trường Leonardo da Vinci, chiếc bàn kính có ống đựng bút và ngăn kéo bàn có các tấm thiệp nhỏ bên trong, có khi phải có hơn một trăm tấm – tủ tài liệu của anh. Cha anh đã tưởng tượng rằng nó sẽ sớm chứa đầy tên của tất cả những người đàn ông, phụ nữ và trẻ con ốm yếu tìm đến anh để được chữa bệnh. Một tưởng tượng xa vời làm sao! Anh kéo thấp chiếc đèn đọc sách xuống và châm một điếu thuốc lá.

“Tôi không biết cậu có để ý không, nhưng tôi chưa hề cố gắng thuyết phục cậu là cậu không hề giết ai cả và cậu cũng không phải chịu trách nhiệm cho cái chết của cô gái đó.” Anh đứng dậy đi tìm thứ gì đó có thể làm gạt tàn, sau đó quay lại với một chiếc bát thủy tinh nhỏ và ngồi xuống. “Và tôi cũng sẽ không cố gắng làm vậy vào lúc này. Nếu cậu muốn xem mình là kẻ sát nhân thì cứ tự nhiên. Có những kẻ nghĩ mình là Hitler và cậu cũng mắc chứng bệnh tương tự. Hiện giờ tôi nói những điều này với cậu, trước khi trả cậu lại cho cha cậu, bởi vì giúp đỡ một thanh niên trẻ uống hơi nhiều rượu thì tôi có thể, nhưng với một người tâm thần thì tôi chịu, tôi không biết phải làm gì.”

Anh không lạc quan đến mức ngay sau lần gõ cửa đầu tiên, cánh cửa nội tâm của cậu ta đã lập tức mở ra, nhưng sự thật đã là như thế. “Nếu tôi đưa cô ta đi thì cô ta đáng lẽ đã không chết, tôi không hề mắc bệnh tâm thần đâu, việc đưa cô ta đi đâu đó chẳng hề mất mát gì, ngược lại, tôi có thể cũng sẽ thích chuyện đó. Đáng ra tôi có thể đưa cô ta đi, tôi thậm chí chẳng cần nói gì với cha tôi, tôi có thể gọi cho ông Brambilla và nhờ ông ấy báo cho cha tôi biết rằng tôi sẽ có một kỳ nghỉ ngắn ngày, cha tôi thậm chí cũng chẳng mấy quan tâm đến việc tôi có làm cho Montecatini hay không, chỉ là ông muốn tôi có việc gì đó để làm, tôi chỉ cần đưa cô ta đi vài ngày thôi, cho tới khi cơn khủng hoảng trôi đi.” Cậu ta vừa nói vừa thở hổn hển, nhưng không phải vì nóng: ý nghĩ bị coi là tâm thần, lại còn bởi một bác sĩ, đã khiến cậu ta chấn động.

“À không, cậu Auseri này,” Duca ngắt lời, “việc cậu cố gắng lôi tôi vào cuộc thảo luận này là vô nghĩa,” giọng anh lạnh lùng và châm biếm, “trong những chuyên luận về tâm thần học có những ví dụ nổi tiếng về phép biện chứng phi lý. Tôi không có khao khát nghe cậu chứng minh điều đó qua việc cậu đã giết cô gái đó như thế nào. Cùng cái lý lẽ đó, công ty gas phải chịu trách nhiệm cho tất cả những người tự tử bằng khí gas, và nếu cậu là giám đốc của công ty gas thì chắc cậu sẽ bắt đầu uống whisky và muốn chết ngay sau đó. Vậy nên quên đi, cậu càng cố chấp với ý tưởng này thì cậu càng chứng minh rõ bệnh tình của mình nghiêm trọng đến mức nào.” Câu nói đó hẳn đã chạm trúng chỗ nhạy cảm, vì anh thấy Davide giơ nắm đấm lên, như định nện xuống bàn, nhưng cậu ta đã không làm vậy, chỉ giơ nắm đấm lên, giữa không trung.

“Nhưng nếu tôi đưa cô ấy theo…” Cậu ta như sắp òa khóc đến nơi.

“Đủ rồi!” Duca đấm mạnh bàn tay đã nắm của mình xuống bàn. “Một người bình thường không bận tâm với mấy cái nếu ấy đâu. Nhưng cậu thì không bình thường. Đây, thêm một bằng chứng nữa: suốt một năm, cha cậu đã làm tất cả những gì có thể để tìm hiểu lí do vì sao cậu sa đà vào rượu như thế, vì sao cậu lại biểu hiện lạ lùng như thế, ông ấy còn suýt làm cậu vỡ quai hàm bằng một cái que cời lửa, vậy thì vì sao, vì sao cậu không bao giờ kể cho ông ấy sự thật? Cậu đã sợ cái gì?”

Câu trả lời vang lên, bất ngờ và rõ ràng. “Vì cha tôi sẽ không hiểu.”

Cậu ta nói đúng, kỹ sư Auseri sẽ không hiểu: phân tâm học không phải là thứ mà những kẻ lõi đời muốn đi sâu tìm hiểu. Tất nhiên anh sẽ không nói với cậu ta là cậu ta nói đúng. “Được rồi. Vậy thì vì sao cậu lại kể sự thật cho tôi nghe? Cậu biết tôi chưa đầy hai mươi tư giờ, và tôi thậm chí còn chưa lên tiếng hỏi cậu.” Thực ra anh đã biết lí do, nhưng anh muốn xem xem Davide có khả năng giải thích điều đó không.

“Tôi đã không quay lại đường Giardini gần một năm nay rồi,” cậu ta nói, nhìn xuống sàn, “và sáng nay anh đã đưa tôi tới đó, anh đã đỗ xe gần như chính cái điểm tôi đã đỗ xe cách đây một năm, và anh đã bỏ tôi lại đó trong khi đi vào Sở cảnh sát. Và rồi anh đưa tôi tới nghĩa trang, kể cho tôi nghe về cha anh, tôi nhìn thấy những ngôi mộ ấy…”

Chính xác, dù không chủ tâm, sáng nay anh đã đặt Auseri trẻ tuổi vào một tình thế phá vỡ trạng thái lo sợ của cậu ta, và giờ, để chạm vào một phức cảm khác, nguy hiểm hơn – phức cảm tội lỗi – anh đã tìm được cách dọa cậu ta bằng cách nói cậu ta bị điên, và Davide tội nghiệp đang cố gắng chứng minh cho anh thấy là cậu ta không điên: nghĩ rằng mình điên còn đau khổ hơn nghĩ rằng mình mắc tội sát nhân. Nhưng đây đúng là một công việc vô cùng khó chịu: việc bán thuốc sinh lời thấp hơn nhưng lại ít bị phê phán hơn.

“Chiếc khăn tay và cả món đồ mà cô ta bỏ lại trong xe,” Davide tiếp tục nói, “Tôi vốn không muốn nhìn thấy chúng, chúng khiến tôi cảm thấy tồi tệ, nhưng tôi lại không thể kháng cự lại được, tôi cứ lôi chúng ra, tôi cứ nghĩ đến lúc cô ta lau môi và thay vì đưa cô ta đi theo, tôi lại tống cô ta ra ngoài.”

Cậu ta là một tạo vật đáng thương, trông thì vạm vỡ nhưng lại nhạy cảm thái quá, nhưng ít nhất thì lúc này, cậu ta không thu mình lại như đang ở trong một quả bóng trám kín, như lúc trước.

“Được rồi, tôi muốn tận mắt thấy hai món đó. Chúng đâu?” Anh chỉ đang muốn để cậu ta dốc hết tâm can, phần nào đấy giúp cậu ta giải phóng bản thân. Lúc đầu Davide không muốn cho anh xem, nhưng anh khăng khăng đòi xem bằng được.

Chúng nằm trong chiếc va li mềm mại đẹp đẽ của cậu ta, trong một chiếc túi trong có khóa.

“Tôi muốn quẳng chúng đi và không bao giờ nhìn thấy nữa, nhưng chỉ cần nghĩ đến việc quẳng chúng ở đâu cũng đã khiến tôi cảm thấy tồi tệ rồi.”

Tất nhiên, chúng tượng trưng những ký ức tâm lý bệnh hoạn mà. Trên mặt kính của chiếc bàn nhỏ, Duca có thể thấy chiếc khăn tay mà nãy giờ họ nhắc đến, theo suy nghĩ của Davide, là khăn tay của cô gái mà cậu ta đã giết, và một vật thể nhỏ, trông giống ống nghe điện thoại nhỏ xíu của búp bê, hai bánh xe nhỏ xíu được nối vào một bên bằng một sợi dây thép, không dài quá ba centimet. Anh chẳng để ý đến chiếc khăn tay cho lắm, chỉ nhặt món đồ đó lên và cầm nó trong lòng bàn tay. Khác hẳn với tông giọng gay gắt, khắc nghiệt trước đó, anh nhẹ nhàng hỏi, “Thứ này rơi ra khỏi túi của cô gái đó ngày hôm ấy, đúng thế không?”

“Đúng thế.”

“Cậu có biết nó là gì không?”

“Không. Tôi đã nghĩ có thể là mẫu dùng thử của một loại mỹ phẩm nào đó, nhưng tôi không biết.”

“Cậu đã thử mở nó ra chưa?”

“Tôi thậm chí chưa bao giờ nghĩ rằng nó có thể mở ra được.”

“Nhưng cậu vừa nói cậu nghĩ nó là sản phẩm dùng thử. Sản phẩm dùng thử thì phải mở được chứ.”

“Tôi có nghĩ quá nhiều về nó đâu. Chỉ nhìn nó thôi đã khiến tôi cảm thấy tội lỗi rồi.”

Anh hiểu. “Tôi sẽ nói cho cậu biết thứ này là thứ gì: đây là một cuộn phim Minox.” Anh thấy rằng Davide không biết phim Minox là gì, nên anh giải thích cho cậu ta. “Bên trong này là một dải phim dài tầm năm mươi centimet và rộng chưa đầy một centimet, dùng nó, cậu có thể chụp hơn năm mươi bức ảnh bằng một chiếc máy ảnh thu nhỏ có tên là Minox.” Sau khi giải thích đại khái như vậy, anh ra vẻ tảng lờ, như thể cậu ta không còn đứng trước mặt anh nữa, như thể Davide không tồn tại và anh chỉ còn lại một mình, trong bầu không khí nhớp nháp vì nóng, trong ánh sáng êm dịu, cũ kĩ của chiếc đèn, một chiếc đèn của dân chuyên nghiệp, như nhân viên bán hàng đã nói với cha anh khi ông mua nó cho anh. Chỉ còn lại anh và cuộn phim này.

Minox không phải là máy ảnh dành cho dân nghiệp dư. Không to hơn một cái bật lửa thuốc lá là mấy, nó đã được các điệp viên dùng trong thời chiến để chụp ảnh tài liệu, mà mọi độc giả của thể loại tiểu thuyết gián điệp đều biết. Nó có thể chụp ảnh trong sương mù và trong khói, đó là lý do nó cũng được những người đưa thư trong chiến tranh dùng rất nhiều. Nhưng rõ ràng cần phải biết cách mới có thể chụp ảnh bằng một chiếc máy ảnh nhỏ xíu như thế này, không dễ định khung hay giữ máy ảnh đứng vững. Đối với dân nghiệp dư, chụp năm mươi bức ảnh chỉ bằng một cuộn phim là quá khó khăn, nhưng đối với dân chuyên nghiệp thì lại quá đơn giản. Nó rất nhỏ, nên có thể dễ dàng được gửi đi qua đường bưu điện, và giấu giếm cũng rất dễ. Trong một tiểu thuyết anh đã từng đọc, một điệp viên đã phải ngậm một cuộn phim Minox trong miệng khi đi qua biên giới mà vẫn nói chuyện được, dù điều đó, tất nhiên, có thể là do tác giả phóng đại – hoặc nhân vật đó có cái miệng rộng hơn bình thường.

Anh vẫn cảm thấy lo lắng. Anh không thích những tưởng tượng viển vông, ấu trĩ, nhưng cuộn phim này rơi ra từ túi của một người phụ nữ và chẳng có nhiều phụ nữ ham mê nhiếp ảnh đến mức dùng máy Minox. Bên cạnh đó, cô gái này cũng không hẳn là một cô gái bình thường, thích ru rú trong nhà: thỉnh thoảng cô ta sẽ ra ngoài, để mồi chài một gã đàn ông và đi theo hắn ta, đổi lấy tiền. Sĩ quan Carrua hẳn sẽ định nghĩa hành vi đó là bán dâm, chẳng phải sa cơ thất thế gì đâu, nhưng chắc chắn là chính xác. Thêm vào đó, cô gái này, vì những lý do mà cô ta không muốn tiết lộ, đã có ý định tự tử, và trên thực tế đã tự tử. Anh không muốn tìm hiểu sâu hơn nhưng thực sự rất muốn biết liệu cuộn phim này đã bị phơi sáng hoàn toàn – hay một phần nào đấy chưa – hẳn nó đã được dùng để chụp ảnh bởi vì không có một dải phim nào giữa hai ống, nếu nó chưa được dùng thì phải còn phim ở đó – không biết sau một năm, nó còn có thể cung cấp một âm bản rõ ràng, dùng được hay không, và hơn hết thảy, cái gì đã được chụp lại. Có một điều anh chắc chắn: những bức ảnh này sẽ không phải là ảnh chơi bời xả hơi, một quý bà trung niên nằm dưới một tán ô bên bờ biển, một phụ nữ phơi nắng trên tảng đá, một nhóm bạn trên bãi biển chơi đùa với một quả bóng lớn.

Và tất cả những điều đó anh đều muốn biết ngay lập tức, anh sẽ không ngủ được, ăn được, hay nghĩ được chuyện gì nữa cho tới khi biết rõ mọi thứ.

Anh bọc cuộn phim trong khăn tay và cất nó trong túi áo. “Chờ tôi một lát nhé, tôi sẽ quay lại ngay.” Điện thoại nằm trong hành lang. Cửa bếp mở hé và qua khe cửa anh có thể nhìn thấy Lorenza đang đan đồ mùa đông cho Sara và nghe radio. Anh mỉm cười với em gái và ra dấu cho cô ngồi im, anh không cần gì hết. Anh nhìn đồng hồ đeo tay của mình: chín giờ.

“Xin cho gặp sĩ quan Carrua.”

“Tôi nên nói là ai gọi nhỉ?”

“Duca Lamberti.”

Anh phải đợi không lâu, rồi có vài tiếng lách cách, sau đó giọng ông Carrua vang lên, hơi phá âm. “Xin lỗi, chú đang ngáp.”

“Cháu cũng xin lỗi, nhưng có chuyện cấp bách đây.”

“Cháu có thể đến đây mà không cần gọi điện, lúc nào chú cũng sẵn sàng gặp cháu.”

“Cháu muốn biết liệu phòng rửa ảnh có mở không.”

“Phòng rửa ảnh à? Hẳn là đóng cửa rồi. Họ vẫn làm việc ít ngày hơn thường lệ.”

“Cháu xin lỗi, cháu không muốn đợi tới sáng mai.” Anh không thể, thà anh đi đánh thức một thợ ảnh nào đó ra khỏi giường còn hơn.

“Nếu là chuyện khẩn cấp thì chú có thể bảo phòng rửa ảnh hoạt động và kiếm vài tay kỹ thuật viên.”

“Chuyện khẩn cấp đấy. Cháu sẽ giải thích khi tới đó.”

“Được rồi, chú sẽ đợi.”

“Cháu sẽ đưa con trai của ông Auseri đi theo.”

Mười phút sau, anh và Davide đã đến đường Fatebenefratelli, và đến mười một giờ bốn mươi phút, bàn làm việc rộng rãi của ông Carrua đã phủ kín ảnh cỡ 18x24: ảnh rửa ra từ cuộn phim Minox. Trên bàn còn có cả hai chai Coca-Cola lớn. Chỉ có Davide chưa cởi áo khoác ra: họ đã bảo cậu ta ngồi ở cuối phòng, trước bàn đặt máy đánh chữ, và cậu ta đã ngồi lại đó cho đến tận bây giờ, trong khi họ xem xét các bức ảnh.

“Cháu nghĩ gì, Duca?”

“Cháu đang phân loại ảnh.”

Từ góc độ của một người Thanh giáo thì những bức ảnh này rất khiêu dâm. Dù đã được phóng to nhưng ảnh vẫn nét căng và được chụp dưới bàn tay nhà nghề. Trên nền trời mây bảng lảng, loại ảnh mà bạn sẽ thấy trong các studio chụp ảnh xưa cũ, chủ thể đứng đó, một người phụ nữ khỏa thân.

“Không có nhiều để phân loại: một nửa là ảnh cô gái tóc nâu và một nửa là ảnh cô gái tóc vàng.”

Đúng là thế: có khoảng hai mươi lăm bức ảnh chụp một cô gái tóc sẫm màu, và hai mươi lăm đến hai mươi sáu ảnh chụp một cô gái tóc vàng. Có thể coi là ảnh nghệ thuật, dẫu có vẻ hết sức táo bạo đi nữa, trên thực tế thì cách tạo dáng chụp ảnh cũng có chút đỉnh thiên hướng nghệ thuật, nhưng chắc phải phân tích kĩ lắm mới thấy. Cách tạo dáng của hai cô gái khêu gợi một cách lồ lộ, không phải chỉ do họ khỏa thân mà còn ở dáng diệu của đôi tay, tư thế của đôi chân. Trong phần lớn các bức ảnh, hai cô gái đều giấu mặt, nhưng không phải toàn bộ. Họ không quá hai mươi hai hoặc hai mươi ba tuổi.

“Chú cất hồ sơ về cô gái Radelli ở đâu?” Anh hỏi ông Carrua.

“À phải, nó nằm trong ngăn kéo.” Ông Carrua đưa tập hồ sơ cho anh.

Đó là một tập hồ sơ lớn màu vàng, khá nhàu nhĩ, tài liệu về vụ tự tử của Alberta Radelli. Nó chứa ảnh của cô gái, giấy chứng tử do một bác sĩ xác nhận, bản sao bức thư mà cô gái đã viết cho chị gái xin tha thứ vì tự tử, một bản báo cáo của cảnh sát, một bản báo cáo tổng quan do một cảnh sát khác viết, ba đến bốn trang tóm tắt lại một số cuộc thẩm vấn: chị gái của người tự tử, ông già đi xe đạp Antonio Marangoni tự dưng được quan tâm, quản lý của tòa nhà nơi cô gái sống cùng chị gái. Có tem, chữ ký, dòng chữ được gạch đỏ bên dưới và các dấu niêm phong lớn màu xanh lục. Duca rút bức ảnh của cô gái ra, chụp từ bằng lái xe, và cho ông Carrua xem cùng với một trong các bức ảnh Minox.

“Có khả năng,” ông Carrua nói.

“Chúng ta có thể sớm biết chắc thôi. Davide, hãy lại đây một lát.” Davide Auseri cuối cùng cũng nhấc người dậy và đi về phía Duca, anh cho cậu ta xem các bức ảnh rửa từ phim Minox, ảnh chụp cô nàng tóc nâu và cô nàng tóc vàng, không phải bức ảnh từ bằng lái xe. “Cậu có biết ai trong hai người này không?”

Văn phòng này quả thực đẹp đẽ, rộng rãi và yên tĩnh, một nơi tuyệt vời để làm việc vào buổi tối. Ông Carrua có một căn hộ ở đâu đó trong thành phố, nhưng bản thân ông cũng mơ hồ việc nó nằm ở đâu, ông chỉ tới đó khi nhớ ra địa chỉ hoặc muốn tắm táp, thời gian còn lại sau khi hết giờ làm việc, ông thích ngủ lại trên đi-văng trong căn phòng nhỏ tiếp giáp văn phòng hơn, các chồng báo và tạp chí nằm la liệt trên sàn, cùng với máy điện thoại. Nhà của ông ở Sardinia, nơi ông sinh ra, nhưng ông chỉ đến đó một lần mỗi năm, mỗi lần chỉ vài ngày. Ngôi nhà thật sự của ông là nơi này, văn phòng của ông, nơi lúc nào cũng chật kín. Giờ thì có chàng thanh niên này đang xem xét các bức ảnh. Ông Carrua không phải là một người đàn ông có xu hướng ủy mị, nhưng ông vẫn cảm thấy thương cảm khi quan sát biểu cảm của Davide trong lúc cậu ta xem ảnh của cô gái tóc nâu.

“Đó là cô ấy,” Davide nói.

“Ý cậu cô gái này chính là người đã được phát hiện ở Metanopoli cách đây một năm à?” Duca hỏi.

“Đúng vậy.”

“Thế còn cô còn lại, tóc vàng? Cậu có biết cô ta không?”

“Không.”

Duca quay sang nói với ông Carrua. “Chú gọi một chai whisky lên đây được không?” Anh nói thêm, “Cháu sẽ trả tiền.” Anh nắm lấy cánh tay của Davide và dẫn cậu ta đi ra cửa sổ.

“Ở lại đó một lát nhé, whisky sẽ sớm có thôi.” Anh kéo một chiếc ghế lại gần cậu ta, giọng nhẹ nhàng, “Chừng nào cậu cảm thấy không thích đứng nữa thì cứ ngồi xuống.”

“Loại nào?” Ông Carrua hỏi.

“Loại đắt tiền nhất,” Duca nói.

Nửa cốc whisky giúp đôi mắt của Davide bớt đi vài phần xa xôi vô định. “Đừng sợ. Cảm giác run rẩy trong lòng đó sẽ sớm qua thôi. Uống thêm một chút đi.”

Anh cũng uống kha khá. Ngày nào đó anh có thể kéo chàng trai này ra khỏi rượu chè nhưng lại tự biến mình thành bợm rượu cũng nên. “Và giờ hãy phân tích những bức ảnh này.” Anh ngồi xuống bên cạnh ông Carrua. Duca nhận ra rằng khi vào tù bạn sẽ đánh mất cá tính, đánh mất sự ấm áp, bạn trở nên lạnh băng, và đó là lý do phải uống rượu. “Các bức ảnh này được chụp bởi một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp trong một studio. Kỹ thuật chụp hoàn hảo, dù không được nghệ thuật cho lắm. Thợ ảnh không để tâm nhiều đến bố cục của vật thể, tất cả những gì anh ta hứng thú là màn trập, tốc độ, ánh sáng. Nhận xét thứ hai của cháu là chụp ảnh studio, lại còn là loại ảnh này, với một chiếc Minox là chuyện rất kỳ lạ. Chụp bằng Rollei hoặc Contax sẽ tốt hơn, hoặc những chiếc máy ảnh kính thường thấy trong các studio cũng được. Để chụp được các bức ảnh này, họ hẳn đã phải đặt chiếc Minox lên một cái giá ba chân, và việc gắn nó vào giá ba chân khá là rắc rối, sẽ cần loại đinh ốc đặc biệt, và không dễ kiếm, bởi vì mọi người thường không cần đặt một chiếc máy ảnh nặng năm mươi gram hoặc nặng hơn một chút lên một chiếc giá ba chân nặng đến mười lăm kí lô.”

“Cháu học chụp ảnh lúc nào đấy?” Ông Carrua nói.

“Cháu chưa từng học chụp ảnh, chỉ là dân nghiệp dư thôi, nhưng cháu có một người bạn từng là thợ chụp ảnh.” Anh nhìn Davide, cậu ta đã ngồi xuống ghế và đang nhìn ra ngoài cửa sổ, quay lưng về phía họ. “Nhận xét thứ ba là hai cô gái này không phải gái bán dâm chuyên nghiệp đã quen với loại việc này. Nhìn dáng chụp ảnh của họ mà xem: họ chẳng biết thế nào là quyến rũ hết, đặc biệt là cô gái tóc vàng. Cô gái tóc nâu giỏi hơn một chút, có vẻ thanh lịch hơn nhưng vẫn rất ngây thơ. Cô gái tóc vàng, mặt khác, hoặc khiếm nhã hoặc vụng về.”

Ông Carrua vẫn xem xét thêm các bức ảnh trong khi nói. “Một phân tích cực kỳ chính xác.”

“Điều cuối cùng là điều mà chú phải nghĩ đến: Mục đích khi chụp hơn năm mươi tấm ảnh kiểu này là gì? Đó là công việc của chú. Nhưng có một chuyện còn khó hiểu hơn, hay ít nhất là một vấn đề mà cháu nghĩ là nghiêm trọng.” Anh nhấc tập hồ sơ vàng lên và lấy ra vài tờ giấy bên trong. “Khi một cô gái nằm xuống một cánh đồng và rạch cổ tay thì cô ta sẽ phải dùng đến một thứ gì đó sắc bén. Sau đó cô ta có thể làm một trong hai việc sau: nếu cô ta có khả năng tự chủ rất cao và cực kỳ gọn gàng thì cô ta sẽ cất vật sắc đó vào trong túi, nếu cô ta đã rơi vào trạng thái hoảng loạn thì cô ta sẽ vứt nó đi, thả nó gần người hoặc cầm nó trong tay. Nhưng báo cáo của cảnh sát không hề đề cập đến bất kỳ vật sắc nào được phát hiện gần thi thể cả. Cũng không có vật sắc nào như vậy trong túi cô ta. Khó có khả năng là cô gái sẽ rạch cổ tay bằng vật sắc đầu tiên mà cô ta tìm được trên cánh đồng nơi cô ta ẩn nấp, ví dụ như nắp một lon thép, một cái gai, một mẩu kính, nhưng cho dù chúng ta chấp nhận điều đó thì báo cáo của bác sĩ pháp y cũng phủ nhận chuyện này: vết cứa mạch máu rất thẳng và gọn. Chú không thể tạo ra một vết cứa như thế với nắp lon thép hay một mẩu kính được.”

Ông Carrua kiểm tra giấy tờ trong hồ sơ. “Nó đây: ‘Danh sách đầy đủ những thứ tìm được ở nơi phát hiện ra xác cô Alberta Radelli kể trên’. Có vẻ họ đã tìm kiếm nhưng không tìm được thứ gì sắc hết. Nếu là một lưỡi dao mảnh thì chắc nó đã bị lẫn đâu đó trong cánh đồng.”

Họ nhìn nhau. Họ biết nhau rất rõ và biết là không thể trí trá với đối phương. “Chú không thể phỉ báng đội cảnh sát Metanopoli như thế được,” Duca nói. “Nếu có thứ gì sắc bén ở đó, dù là trong bán kính ba mươi mét đi nữa thì họ cũng sẽ tìm được và cho nó vào trong danh sách. Có vẻ chú không đánh giá cao các sĩ quan thuộc cấp của mình lắm nhỉ.”

“Cha cháu lúc nào cũng nói thế, điều đó khiến ông ấy bị xúc phạm.”

Cả hai cùng mỉm cười tinh quái. Sau đó ông Carrua nói, “Chú nghĩ là cháu còn có điều muốn nói.”

“Đúng thế,” anh nói, “đồ ở bên trong ví.” Anh nhìn ra hướng cửa sổ. Davide ở đó, quay lưng về phía họ. “Davide, không cần đứng dậy, chỉ cần nói cho tôi biết hôm đó cậu đã đưa cho cô gái đó bao nhiêu tiền. Nghĩ kĩ vào. Cho chúng tôi biết cả mệnh giá tiền nữa.”

Davide quay lại. Đáng thương xót, rượu whisky đã ru ngủ lũ rắn lục đang gặm nhấm cậu ta từ bên trong. “Để xem. Đó là các tờ mười nghìn lia.”

“Bao nhiêu?”

“Để xem. Tôi nghĩ là hai, phải, hai tờ, khi chúng tôi ở Corso Lodi, bởi vì cô ta không muốn đi, cô ta sợ. Sau đó, đến bờ sông, cô ta nói là mình cần năm mươi nghìn lia, vậy nên tôi đã cho cô ta ba tờ mười nghìn nữa. Trong ví tôi chỉ giữ các tờ…” Cậu ta đột ngột khựng lại và chậm chạp quay lại cửa sổ.

“Vậy là,” Duca nói với ông Carrua, “khi Davide bỏ cô gái lại, cô ta có năm mươi nghìn lia trong túi, ít nhất là năm mươi nghìn. Giờ thì cháu sẽ đọc cho chú số tiền còn lại trong danh sách khi cảnh sát xuất hiện: một tờ mười nghìn lia, một tờ một nghìn lia, ba xu một trăm lia, hai xu hai mươi lia, bốn xu năm lia. Nếu chúng ta giả sử rằng cô gái đã có số tiền lẻ trước khi gặp Davide, nói cách khác, một nghìn ba trăm sáu mươi lia, và tờ mười nghìn lia kia là một trong năm tờ mà Davide đã đưa cho cô ta, thì có bốn mươi nghìn lia đã biệt tích.”

Rõ ràng rồi, nhưng ông Carrua vẫn kiểm tra lại mẩu giấy gấp mép một cách cẩn thận. “Đưa cho chú kết luận của bác sĩ.” Ông đọc thật kĩ. “Ở đây nói rằng cô ta không thể rạch cổ tay trước tám giờ, nhưng chắc là sau tám giờ ba mươi phút.”

Duca lại nhìn về phía cửa sổ, đôi phần buồn bã. “Davide, cứ ngồi yên ở đó. Ngày hôm đó cậu bỏ cô gái lại lúc mấy giờ?” Ngay lập tức anh nhận ra rằng chàng trai này vẫn chưa hiểu, cậu ta đang đờ đẫn, nhưng không phải vì whisky. “Ở Metanopoli, khi cậu bảo cô gái xuống khỏi xe, lúc đó là mấy giờ, hơn hay kém?”

Một lúc lâu sau Davide mới lên tiếng trả lời, “Để xem.” Cậu ta nói, “Mặt trời đã lặn.”

“Cậu vẫn nhìn thấy đường chứ?”

“Đúng thế. Mặt trời chỉ vừa mới lặn.”

“Theo mùa thì chắc lúc đó tầm bảy giờ hoặc muộn hơn một chút,” Duca nói với ông Carrua. “Cô gái đã đi vòng quanh hơn một tiếng trước khi ra quyết định và trong thời gian ấy cô ta có thể đã tiêu bốn mươi nghìn lia. Ở đâu và như thế nào thì cháu chịu không hình dung được, bởi vì Metanopoli đâu có đầy rẫy cửa hàng như đường Montenapoleone.”

“Có thể cô ta đã đưa số tiền cho ai đó,” ông Carrua nói, “hoặc có kẻ đã cướp chúng, đó là những gì cháu đang cố nói.”

Họ không hiểu nhau. Ngay cả những bạn người thân thiết và gần gũi nhất cũng không phải lúc nào cũng hiểu rõ nhau. “Cháu không cố nói gì hết. Ngoài một chuyện: đó là cháu đầu hàng trước vấn đề của cậu chàng này rồi. Cháu không hứng thú với việc mua dây buộc mình và đây là một mớ bòng bong đúng nghĩa. Đừng có nói với cháu là chú giúp cháu tìm được một công việc tử tế mà cháu lại không muốn nhận, chú phải nhận ra rằng cháu không thể dây dưa với bất kỳ chuyện gì kiểu như thế này nữa, nó sẽ khiến cháu đi tong. Sau khi đã bị kết án tù vì tội giết người với các tình tiết giảm nhẹ, tất cả những gì cháu cần không phải là bị nghi ngờ có móc nối với đám gái gọi, truy hoan, và rồi cháu sẽ thật sự tiêu đời.”

“Cháu nói đúng,” ông Carrua nhẹ nhàng nói.

“Cháu chỉ muốn cho chú thấy rằng không phải do cháu bốc đồng,” Duca nói. “Chuyện này từ bây giờ là của chú.”

“Chú sẽ nhận ngay lập tức.” Ông Carrua nhấc máy điện thoại lên. “Gọi Mascaranti cho tôi.”

“Cháu sẽ tìm một công việc khác,” Duca nói. “Xin hãy liên lạc với kỹ sư Auseri, nói cho ông ấy bất kỳ điều gì chú muốn và trả con trai lại cho ông ấy. Bảo ông ấy đừng để cậu ta ở một mình.” Anh nhìn ra phía cửa sổ. “Tôi vô cùng xin lỗi, Davide.”

Davide lờ đờ đứng dậy đi về phía họ, oặt ẹo như thể chỉ một luồng gió nhỏ từ cửa sổ thổi vào, cũng có thể khiến cậu ta lảo đảo. “Anh Lamberti,” cậu ta nói, một cách khó khăn.

Họ đợi cậu ta nói nốt, một phút mà như cả tỉ năm.

“Đừng bỏ tôi lại.”

Họ nhẫn nhịn chờ thêm, cậu ta có vẻ có rất nhiều điều để nói.

“Đừng bỏ tôi lại.”

Cậu ta tiến lên thêm một bước ngắn nữa. “Anh Lamberti.” Cậu ta là một thanh niên trẻ thông minh, cậu ta chuyên chú, không cần phải nhắc nhở đến lần thứ hai, cậu ta biết là Duca không thích bị gọi là “bác sĩ Lamberti”.

Chờ đợi là điều duy nhất họ có thể làm lúc này, để nghe cậu ta thều thào. Đến bây giờ cả hai đều biết cậu ta sẽ nói gì. Và trên thực tế cậu ta nói đúng điều đó.

“Đừng bỏ tôi lại.”

Cậu ta đang tái diễn, mà không nhận ra, cảnh tượng ngày hôm ấy của cô gái trong xe. “Không, không, không hãy đưa tôi đi theo anh, đưa tôi đi đi mà.” Cậu ta thậm chí còn cố gắng rạch cổ tay, giống cô ta, và cậu ta hẳn sẽ thử lại lần nữa, ngay khi còn lại một mình. Đó là một sự liên kết vô thức, một cách chuộc tội.

Duca đứng dậy, nâng nhẹ cánh tay cậu ta, dù Davide không say, anh vẫn đưa cậu ta quay lại cửa sổ và bắt ngồi xuống. “Cậu sẽ ổn thôi, Davide.”

“Đừng bỏ tôi lại.”

“Mascaranti đâu rồi?” Ông Carrua đang hét vào điện thoại. “Tôi có được vinh dự gặp cậu ta không hay tôi đang yêu cầu quá đáng?”

“Không sao rồi, tôi sẽ không bỏ cậu lại đâu.”

“Nếu anh bỏ tôi lại thì mọi chuyện kết thúc, anh biết tôi sẽ làm gì rồi đấy.”

Duca cũng biết rõ là mình sẽ làm gì, hệt như khi bà Maldrigati bảo anh rằng bà không thể chịu nổi cảnh sống như thế nữa.

“Tôi sẽ không bỏ cậu.”

“Cậu ta đã lên đây chưa?” Ông Carrua hét lên. “Văn phòng tôi nằm ở ngọn núi K2 hay sao? Sao cậu ta chưa lên đến nơi?”

“Không sao hết.” Anh không thể bỏ cậu ta lại. Anh là một chuyên gia trong công tác tình nguyện xã hội: trợ tử, cứu những thanh niên trẻ gặp rắc rối. Anh quay lại bàn làm việc của ông Carrua đúng lúc Mascaranti bước vào.

“Tôi xin lỗi,” Mascaranti nói, “Tôi vừa kết thúc ca trực và đã đi uống bia.”

Dù anh ta lùn và ngăm đen, dù anh ta vẫn nói giọng Sicily, anh ta chẳng có vẻ gì của một cảnh sát mà giống dân thể thao hơn, một tay đấm bốc, một tay đua xe đạp, vì bộ ngực cơ bắp và bàn tay to bè lông lá, cùng cái quần, dù quần không bó nhưng chúng vẫn bám dính lấy chân anh ta chẳng khác nào một đôi tất.

“Đây không phải là FBI,” ông Carrua quát lên, “chúng ta đang ở Sở cảnh sát Milan: hết ca trực thì cậu vẫn phải ở lại đây.” Ông đưa cho anh ta tập hồ sơ vàng. “Xem xem cậu có nhớ vụ án này không, có dấu triện của cậu trên hồ sơ.”

Trên đôi tay cơ bắp cuồn cuộn ấy, các tờ giấy phất phơ giống như lũ bướm trong móng vuốt rồng. Mascaranti nghiên cứu chúng hồi lâu mà không nói gì.

“Cậu ta quên mất cách đọc rồi,” ông Carrua châm biếm nói.

“Rồi, tôi vẫn nhớ vụ này,” Mascaranti nói. “Cô gái đã tự rạch cổ tay ở Metanopoli. Tôi đã kiểm tra hồ sơ từ cảnh sát Metanopoli, tôi thậm chí còn đưa hồ sơ cho ông xem. Có gì không ổn à?”

“Phải, có vấn đề không ổn đấy, dù tôi đã đọc chúng và cậu đã đọc chúng và Tổng Thư ký Liên hợp quốc chắc cũng đã đọc chúng.” Thỉnh thoảng ông Carrua cũng hạ giọng xuống nhưng điều đó chẳng bao giờ kéo dài được. “Thứ không ổn ở đây là chúng ta không biết cô gái này đã dùng thứ gì để rạch cổ tay. Thêm vào đó, đáng lẽ cô ta phải có hơn năm mươi nghìn lia trong túi nhưng lại chỉ có hơn mười nghìn lúc được phát hiện.”

Duca thanh minh hộ Mascaranti. “Không ai có thể biết được điều đó, ngoài Davide, người đã đưa tiền cho cô ta.”

“Và còn có mấy bức ảnh này nữa, chúng vừa được khám phá sau một năm,” ông Carrua nói. “Cô gái tóc nâu chính là cô gái đã chết. Cân nhắc đến loại ảnh thì có vẻ chúng ta có chuyện cần suy nghĩ ở đây.”

“Còn một chuyện nữa,” Duca nói, mắt vẫn dán chặt vào Davide, “bất kỳ ai muốn tự tử bằng cách rạch cổ tay đều thực hiện việc đó ở nhà, hoặc trong một phòng khách sạn, hoặc trong bồn tắm hoặc trên giường. Có hơi bất thường khi núp trong một cánh đồng để làm việc đó, đặc biệt là khi anh có nhà để về.”

“Cậu không hề nghĩ đến những chuyện đó khi ký cái báo cáo này à?” Ông Carrua gào lên.

Mascaranti có vẻ đã miễn nhiễm với tiếng la hét quát tháo của ông Carrua từ lâu. “Có,” anh ta nói một cách bình tĩnh, “tôi đã cân nhắc về chúng, tôi thậm chí còn hỏi bác sĩ pháp y xem có cần làm khám nghiệm tử thi không. Anh ta đã bảo tôi rằng anh ta có thể làm nếu tôi muốn, nhưng xác nhận của anh ta đã đủ rõ ràng rồi.” Anh ta đọc lên vài câu: “Mất máu. Không còn vết thương, vết giập, hay dấu vết nào khác trên thi thể.”

“Biết rồi, tôi cũng đọc rồi,” ông Carrua nói, “nhưng tôi nghĩ chúng ta phải bắt đầu từ đầu thôi. Cầm hồ sơ đi và sáng mai quay lại Metanopoli, một lần nữa thẩm vấn tất cả những người đã từng bị thẩm vấn trước đó. Và trên hết, hãy kiểm tra các tấm ảnh khiêu dâm này. Sáng mai tôi sẽ cho cậu biết toàn bộ chi tiết cụ thể.”

“Làm sao chúng ta có được những bức ảnh này?” Mascaranti hỏi.

“Tôi sẽ nói rõ hơn vào sáng mai!” Ông Carrua bùng nổ. Bây giờ ông không muốn nói về Davide. “Được rồi,” ông nói với Duca. “Đưa cậu bạn của cháu về nhà đi. Ngày mai chú sẽ liên lạc với Auseri, ông ấy sẽ đến đón con trai và cháu sẽ được tự do.” Duca không nói gì, anh đang nhìn Mascaranti với khuôn mặt nặng như đeo đá, anh ta cầm tập hồ sơ màu vàng lên và ôm chặt nó vào ngực.

“Chú đang nói chuyện với cháu đấy,” ông Carrua nói.

“Xin lỗi.” Duca nhìn ông. “Có thể cháu đã đổi ý rồi.” Không hẳn là một sự thay đổi, có vẻ như anh chỉ đang lần nữa, lặp lại sai lầm.

Ông Carrua đặt hai chai Coca-Cola rỗng xuống sàn. “Giờ thì đi đi,” ông nói với Mascaranti, “và sáng mai tôi sẽ gặp cậu lúc mười giờ.” Ông đã hiểu ý anh rồi.

“Cháu sẽ ở lại với Davide,” Duca nói với ông Carrua, ngay khi Mascaranti ra ngoài.

“Nếu cháu muốn,” ông Carrua đáp lại vẻ căng thẳng: động đến sự nhạy cảm là ông trở nên lo lắng.

“Cháu muốn vậy. Thêm vào đó, cháu muốn xin chú một việc.”

“Nói đi.”

“Cháu muốn cùng Mascaranti điều tra vụ này.”

Ông Carrua đang nhìn chai whisky. “Cho chú một hớp nào.” Ông chỉ tợp một ngụm nhỏ, hơi thấm ướt môi, mắt dán chặt vào cốc rượu. “Để chú xem chú có hiểu đúng không, Duca, cháu muốn điều tra cùng Mascaranti.” Đó thậm chí còn không phải là một câu hỏi.

“Đại loại thế. Cháu sẽ không đóng vai trò chủ động, nhưng cháu sẽ đồng hành cùng Mascaranti.”

“Đầu tiên thì cháu muốn bỏ hết tất cả, giờ thì cháu lại muốn chơi trò cảnh sát điều tra.”

“Cháu đã đổi ý.”

“Vì sao?”

Anh không trả lời và ông Carrua cũng không ép, bởi vì ông biết vì sao. Davide vẫn ngồi đó, cạnh cửa sổ, lưng thẳng đờ, như một bức tượng bị đánh gục.

“Được rồi. Ngày mai chú sẽ cử Mascaranti đến chỗ cháu.” Ông Carrua che hai chồng ảnh lại, úp ngược một bức ảnh xuống mỗi chồng. Nhìn ảnh khỏa thân của một phụ nữ đã chết là một cảm giác thật lạ lùng. “Cháu sẽ ở đâu?”

“Cháu nghĩ tốt nhất là bọn cháu ở khách sạn Cavour, sẽ gần đây hơn.”

“Phải, thực tế đấy.” Ông Carrua nhìn đồng hồ đeo tay. “Chú không biết cháu là một cảnh sát thì sẽ giỏi đến đâu, nên chú sẽ cho cháu một bài kiểm tra. Cháu sẽ bắt đầu từ đâu?”

Lần này anh cũng không trả lời. Và ông Carrua cũng không ép hỏi, bởi ông biết rất rõ anh sẽ bắt đầu từ đâu: với Davide Auseri. Một vụ giết người ngụy trang thành một vụ tự tử là một việc mà rất nhiều người đã thử, hầu như lúc nào cũng chỉ phí công vô ích, nhưng cho dù cô gái này đã thật sự tự tử đi nữa thì Davide Auseri vẫn sẽ là người cuối cùng gặp cô ta, và câu chuyện của cậu ta chỉ là câu chuyện phía cậu ta, không hẳn đã là sự thật, hay ít nhất cũng chưa được trọn vẹn. Nhưng cả hai người họ đều không có bụng dạ đâu mà tra khảo cậu ta vào lúc này, cả anh lẫn ông Carrua. Họ thậm chí còn sợ những gì sẽ tuôn ra nếu họ tra hỏi cậu ta, hoặc có thể không phải do sợ hãi, họ cảm thấy tội nghiệp, họ sẽ rủ lòng thương chàng trai này, cả hai người họ, anh và ông Carrua. Một ngày nào đó, trước khi quá muộn, họ sẽ phải hỏi Davide đã ở đâu tối hôm đó, từ bảy giờ tới mười giờ, và cậu ta có thể nói cho họ tên của người đã gặp cậu ta trong khoảng thời gian đó không, và nếu cậu ta không thể khai rõ về điều đó, và nếu họ hoài nghi vụ tự tử của Alberta Radelli không phải là một vụ tự tử mà cô ta đã bị sát hại thì họ sẽ cần cậu ta, Davide, vận dụng hết công lực của bộ não để trả lời họ, điều gì ẩn sau cái chết của cô gái đó, và điều gì ẩn sau các bức ảnh này, bởi vì bất kể đó là gì thì cũng không phải chuyện gì tốt đẹp.

“Chú biết cháu đang nghĩ gì,” ông Carrua nói. “Chú nhớ có kẻ đã làm vậy năm 1959. Một người đàn ông có người vợ luôn uống thuốc ngủ buổi tối. Một tối nọ ông ta cho vợ uống nhiều hơn thường lệ rồi rạch cổ tay bà ta và đến sáng tới chỗ bọn chú khai báo rằng ông ta phát hiện vợ mình đã chết.”

“Thế làm sao chú moi được thông tin từ ông ta?”

“Bọn chú đánh đến khi lão khai ra. Mascaranti là người đã thẩm vấn lão ta. Khi cháu nghĩ ra một trò như thế thì cháu sẽ không bao giờ nghĩ rằng mình có thể bị ăn đòn. Không cần đến mấy trò tra khảo man rợ của Trung Quốc thời cổ, sau cú tát thứ năm hay thứ sáu gì đó từ Mascaranti, một người phải đưa ra quyết định trước khi não họ nổ tung.”

“Cháu không hề nói rằng cô ta đã bị giết,” Duca nói, rồi đứng dậy. Anh thực sự hy vọng, với niềm tin cuối cùng ở con người còn le lói, cộng thêm cơn giận dữ sục sôi, câu chuyện này sẽ không kinh tởm như thế. Anh đi tới chỗ Davide. “Đi thôi, đi cắm trại ở Cavour nào.” Anh đặt tay lên vai cậu ta và thân tình siết nhẹ.

« Lùi
Tiến »