Trên đoạn đường nối từ cổng thành Arco della Pace tới lâu đài Sforzesco, dù mới hơn mười giờ sáng, hai bên đường đã tràn ngập những bóng hồng hấp dẫn, mặc những bộ đồ mùa hè bó sát hở hang, những người rất biết cách vận hành trong một đô thị rộng lớn, nơi không hề có giới hạn với thời gian biểu hay quy ước phân chia ngày đêm, và vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày, từ giữa trưa đến giữa đêm, ai cũng có thể lái xe chậm lại, réo gọi một trong số các cô gái này và ngỏ lời muốn vui vẻ cùng họ.
Sáng hôm đó, một chiếc xe Giulietta màu xanh dương xuất hiện ở mặt bên phải của cổng thành và đi chậm lại, một người phụ nữ bốn mươi tuổi ăn vận như một người hâm mộ trẻ tuổi của Beatles bước xuống đường xem chừng để chặn xe lại, nhưng chiếc xe Giulietta đảo tay lái và phóng đi, chẳng phải vì Davide Auseri thấy những gì người phụ nữ tử tế đó mời chào không hợp với mình, mà chỉ đơn giản là vì đó là lúc cậu ta chuẩn bị hiện thực hóa kế hoạch của mình: có điều gì đó trong cậu ta gần như luôn luôn thúc giục cậu ta bỏ chạy. Đi xa hơn, khuất sau một thân cây, một thiếu nữ thực thụ, dẫu nhìn thế nào cũng chưa quá hai mươi, vẫy tay gọi cậu ta vào, nghiêm túc và hiển nhiên như thể cô ta có hẹn trình giấy tờ để kết hôn. Cô ta tóc vàng, trông như một ả nhân tình của những kẻ găng-xtơ trong các bộ phim Hollywood, hay nói đúng hơn, giống mấy cô nàng nhỏ tuổi ở một lễ hội hóa trang, ăn vận như một quý cô ở thế kỷ mười tám nhảy nhạc đồng quê, họa mặt, dặm phấn trắng bệch và hoàn toàn mù tịt về những gì đang mặc trên người, chỉ quan tâm đến một điều trên thực tế rằng họ sẽ được ăn rất nhiều đồ ngọt, chơi rất nhiều trò chơi trong ngày hôm đó. Nhưng Davide Auseri như thể sợ hãi, tiếp tục lạng xe tránh cô gái tóc vàng đó, dù điều cậu ta mong muốn nhất là được dừng xe. Gần như lúc nào mới đầu cũng sẽ như thế này, cậu ta sợ sệt chút đỉnh; sau đó, nếu cô gái tìm được cách lên xe thì nỗi sợ lập tức tan biến.
Nhưng sáng ngày hôm đó không một quý cô tình nguyện nào đứng trên đại lộ biết cách chặn chiếc xe Giulietta lại; nỗi sợ mạnh mẽ hơn, và Davide hướng về trung tâm, lái xe trong một khoảng thời gian dài, cảm thấy khá buồn, qua cung đường Bonaparte, đường Dante, đường Orefici, quảng trường Duomo, đường Vittorio, San Babila, đường Porta Venezia, không còn chỗ nào để đi ngoài chỗ đã định, cậu ta quay trở lại đường Palestro, đến quảng trường Cavour và quyết định đến cửa hàng Alemagna trên đường Manzoni để ăn chút gì đó. Bản năng vốn đã thui chột nay quay trở lại càng mạnh mẽ hơn.
Cậu ta đến đường Giardini và không gặp khó khăn gì trong việc tìm chỗ đậu chiếc Giulietta bởi vì giữa những ngày tháng Tám đổ lửa, thành phố này được xem là nơi khó sống, bởi phần đông cư dân, những kẻ vì một lý do nào đó, lại muốn được sống trong sương mù, sương khói và tuyết. Thậm chí ở Alemagna, có cả cửa hàng – quầy bar dài vài chục mét toàn đồ uống, một quầy bar dài chục mét chứa đầy sandwich trứng, cá hồi, trứng cá muối, hai quầy bánh mì và kem với số lượng tương đồng với Versailles và Tuileries – gần như chỉ dành riêng cho mình cậu ta, trừ hai khách hàng khác giống cậu thích được đắm mình trong điều hòa với nhiệt độ để thấp, lạnh như trên núi nhưng tất nhiên không thể bằng.
Cậu ta ăn ba chiếc sandwich to tướng và uống một cốc bia. Cậu ta không dám nhìn kĩ năm nhân viên bán hàng và hai người thu ngân, tất cả đều là phụ nữ, cũng như chẳng bao giờ dám nhìn kĩ một ai đó hết, chỉ nhìn những thứ vô tri vô giác, giả dụ chúng không phải búp bê hay chó bông với đôi mắt sinh động như mắt người khiến cậu sợ. Dẫu vậy, cậu ta vẫn dành một chút thời gian nhìn nhân viên bán hàng quầy bánh mì, một chuyên gia kẹo hạt dẻ có phần quê mùa về thời trang, với kiểu tóc phồng: kiểu tóc mà cô ta để hôm đó còn chưa phải là phồng nhất, tuần trước cậu ta đã nhìn thấy một mái tóc thậm chí còn phồng hơn, và kích cỡ của mái tóc đột nhiên thôi thúc cậu ta muốn quay lại công viên, và lần này đỗ xe lại. Nhưng đó chỉ là một ý muốn nhất thời, ngay sau đó, như có một quyền lực tối thượng vô hình nào đó trong cậu ta chặn đứng cơn sóng đam mê vừa mới manh nha trỗi dậy đó, và gợi ý một hành động khác ý nghĩa hơn: đi đến Florence rồi quay về, theo cao tốc Autostrada del Sole, cố gắng phá vỡ kỷ lục của chính cậu tháng trước, vốn cũng là kỷ lục về mặt thời gian rồi. Cậu sẽ ăn ở Florence và quay lại Milan kịp giờ uống rượu khai vị. Cậu thích ý tưởng đó và ngay lập tức rời khỏi quán Alemagna.
Trên đường Giardini, chiếc xe Giulietta, không chắc lắm nhưng có lẽ là chiếc duy nhất đỗ trên đoạn đường gần trạm xe buýt tầm hai mươi mét. Cậu trả tiền đỗ xe cho người đàn ông đội mũ lưỡi trai, ông ta ngay lập tức quay lại bóng râm, và đúng lúc cậu chuẩn bị nhét người vào lại trong xe thì nghe thấy giọng nói đó.
“Xin lỗi.”
Cậu ta quay lại. Một cô gái mặc bộ vest màu xanh da trời, với cặp kính râm sẫm màu, to, tròn vành vạnh, đang mỉm cười với cậu, khóe miệng khẽ nhếch lên với một chút lo lắng. Ngoài cái mũi nhỏ nhắn, bờ môi là phần duy nhất nhìn rõ trên mặt cô ta, khuôn mặt bị che kín bởi cặp kính to đùng và mái tóc nâu phủ xuống mặt như hai tấm rèm khép hờ.
“Xin lỗi anh, tôi chờ xe buýt nửa tiếng đồng hồ rồi, tôi có một cuộc hẹn quan trọng và giờ thì tôi đã muộn mất rồi. Liệu anh có thể cho tôi đi nhờ tới cổng Romana được không?”
Davide Auseri gật đầu và mở cửa giùm cô ta. Cô ta vào xe và ngồi xuống một cách bình tĩnh, đặt chiếc cặp táp da màu nâu sáng lên đầu gối, có lẽ trông nó giống một cái ví nam to hơn, và cậu khởi hành.
“Chính xác là đoạn nào?” Cậu hỏi.
“À, ngay ở cuối đường, nếu được.”
“Được chứ, tôi cũng định đi đường đó.”
“Vậy thì mừng quá, tôi sẽ không khiến anh mất quá nhiều thời gian.”
Đầu gối của cô ta không hoàn toàn lộ ra, nó nửa kín nửa hở và cậu có thể nhìn thấy chúng trong lúc lái xe.
“Tôi biết mình mặt dày thật đấy, nhưng anh xem, thực tế là chẳng bao giờ tìm được một chiếc taxi khi cần cả.”
Có thể giọng nói của cô ta khiến cậu đi đúng đường nhưng không phải chỉ vì thế. Cậu là một người đàn ông cô độc, và đàn ông cô độc nghĩ rất nhiều. Hơn tất cả, dù không phải là chuyên gia thì cậu cũng có ấn tượng là xe buýt đi qua đường Giardini thì không dẫn tới cổng Romana. Ngay cạnh bến xe buýt có một bến taxi, và cậu đã nhìn thấy một hàng dài taxi xếp hàng ở đó. Toàn bộ đèn giao thông trung tâm hẳn đã về phe cậu và chưa gì cậu đã đến quảng trường Missori. Sự gần gũi của cô gái và hình ảnh cặp đầu gối nửa kín nửa hở đó, chưa kể đến cái nóng hẳn đã khiến đấng tối thượng trong cậu ngừng hoạt động.
“Cô có thích đi du lịch bằng ô tô không?” Cậu hỏi cô ta.
“Tôi thích đi với một người lái xe giỏi.” Giọng của cô ta tiếp tục thay đổi, như rót mật vào tai Davide.
“Tôi định tới Florence, theo đường cao tốc. Chúng ta có thể quay lại lúc sáu giờ tối nay, muộn nhất là bảy giờ.”
“Florence thì có vẻ hơi xa nhỉ.” Giọng nói của cô ta đã giảm bớt ngọt ngào, nhưng cô ta chẳng hề đề cập đến buổi hẹn quan trọng mà đáng ra phải đến.
“Chúng ta sẽ quay lại trước bữa tối,” cậu nói. Đến giờ này thì đấng tối thượng trong cậu dường như đã biến mất hoàn toàn, và Davide Auseri nguyên bản trỗi dậy từ sâu trong tiềm thức.
Giọng cô ta bắt đầu có chút gắt gỏng. “Tôi không thích bị vứt lại giữa đường đâu.”
“Tôi không làm những chuyện như vậy đâu.” Giọng cậu cũng trở nên gay gắt theo, thậm chí nó còn phảng phất giọng cha cậu.
Cô gái tháo kính và hất tóc ra sau, đôi mắt có phần mệt mỏi và sợ sệt, nhưng biểu cảm thì ngọt ngào như một nàng thơ trong trắng, nói với vẻ ngây thơ, “Tôi luôn muốn đi tới Florence, nhưng đi kiểu này thì hơi đáng sợ.”
Một cô gái giả vờ chờ xe buýt, cạnh một bãi đỗ xe, thật ra là kẻ săn mồi lão luyện đang kiên nhẫn chờ đợi bất kỳ một gã đàn ông nào, dù trẻ hay già, đến lấy xe, miễn là anh ta đi một mình và thể hiện rõ là không có chuyện gì gấp cần làm ngay, đáng nhẽ ra không nên sợ sệt như vậy, nhưng cô ta lại diễn rất thật.
“Đây là lần đầu tiên có người nói là sợ tôi đấy.” Họ đã gần đến cuối đường Corso Lodi và cậu phải ra quyết định. Cậu nhẹ nhàng đỗ xe lại và lịch thiệp giả đò không chú tâm cũng như không để lộ tiền hay ví tiền, nhẹ nhàng rút ra vài tờ bạc và chuyển chúng vào trong cái cặp, hay cái ví, mà cô ta đang đặt trên đầu gối, giấu kín chúng trong tay theo một cách khiến cho màn giao dịch diễn ra không bị phô phang bởi sự xuất hiện của những tờ tiền thô tục. Trong rất nhiều trường hợp, tiền chính là liều thần dược có tác dụng nhanh chóng, một liều thuốc thổi bay mọi nỗi sợ, lo lắng và các trạng thái trầm cảm phức tạp khác. Gã Davide vừa nổi lên từ trong tiềm thức của cậu, tràn trề bản năng, biết rõ điều đó.
“Chúng ta đi thôi,” cô ta nói, giọng vẫn gay gắt và thậm chí còn có phần cay đắng. “Có rất nhiều cách để tới Florence, rõ ràng là tôi phải đi kiểu này rồi.”
Cho tới khi họ đến trạm thu phí trên đường cao tốc, cậu vẫn lái hết sức chậm rãi, và suốt chừng mười cây số sau khi lấy vé, cậu vẫn giữ tốc độ rùa bò ấy, nhưng chỉ là đang chuẩn bị tinh thần mà thôi. Cô ta đã đeo kính vào và xõa tóc xuống như lúc đầu, đủ thông minh để không dựa vào vai cậu. “Đi nhanh hơn đi, tôi thích thế.”
Cậu chiều lòng cô ta, đẩy chiếc Giulietta tới giới hạn tối đa, đường cao tốc khá quang nhưng cô ta không hề thấy cậu phạm phải một sai lầm nào dù nhỏ nhất, hay sợ hãi mảy may, và bất chấp con số trên đồng hồ tốc độ, cô ta không hề có cảm giác là đang gặp nguy hiểm, dù chỉ là một chút.
Cậu im lặng sau đó, không nói một lời. Cô ta hẳn phải hiểu đàn ông lắm: cô ta không hề bảo cậu rằng cô ta cực kỳ thích xe đi như thế này, cô ta cũng không bảo cậu bất kỳ điều gì về bản thân mình hay hỏi bất kỳ câu hỏi nào về cậu, nói ngắn gọn, cô ta không có nhu cầu trò chuyện, thừa hiểu rằng cậu thuộc kiểu đàn ông như vậy – có thể là kiểu ngầu nhất – những người chỉ làm từng việc một trong từng thời điểm. Hiện thời cậu đang lái xe và chỉ lái xe mà thôi. Cô ta không thích mấy gã hát rong cố chơi nhiều nhạc cụ, như mấy con chó trình diễn chơi trống bằng gậy buộc ở đuôi, chơi chũm chọe bằng vuốt, và rung chuông bằng đầu. Sự im lặng tuyệt đối trước sau như một đó tốt cho Davide, nó giải phóng cậu hoàn toàn, những bản năng bị chôn giấu nơi sâu nhất trong con người cậu đã bắt đầu rần rần như những con mèo bị nhốt trong chuồng suốt nửa ngày: nóng nảy, hung hăng. Chính xác là như vậy. Cậu không còn quan tâm đến việc mình có phá được kỷ lục đi từ Milan tới Florence và quay về như cái siêu ngã của cậu đã gợi ý lúc trước nữa, và đến trạm xăng ở Somaglia, cậu đỗ lại bên ngoài một căn nhà gỗ được trang trí cờ phướn đầy không khí hội hè.
“Uống gì đi!”
Im lặng nghe lời, cô ta đi theo cậu, họ khát khô họng và uống một cốc rượu bạc hà mạnh có thêm đá.
“Gần đây có một đường bờ sông, đi dạo khá hay.” Cậu đã từng đến đấy một lần, và nhận ra đó là chỗ thích hợp cho một số chuyện, nhưng cậu chưa bao giờ nghĩ rằng sẽ có ngày mình đưa một cô gái đến đấy. Thế mà lúc này cậu đang ở đây, với một cô gái.
Bỏ lại chiếc xe trước căn nhà nhỏ tưng bừng cờ hoa, họ rời khỏi khu vực trạm xăng. Có một con đường dẫn ra sông, sau đó có một đường mòn chạy dọc bờ sông, đi hết đường có những lối mòn lẩn khuất giữa các bụi cây to rậm rạp và cỏ dại um tùm không ai để ý. Khi họ đi bộ dọc bờ sông, cô ta tháo kính ra, lau son môi bằng một tờ Kleenex, sau đó vo tròn mẩu giấy ăn hình vuông nhỏ xíu mềm mại đó lại và ném nó xuống nước: cô ta dõi mắt nhìn theo khi nó dập dềnh trên dòng nước cho tới khi cậu nắm lấy cánh tay và dẫn cô ta vào bụi rậm.
Có thể là người thực tế hơn, cô ta là người chọn chỗ, và ngồi xuống bãi cỏ ở nơi kín đáo nhất. Cậu đứng đó, hút một điếu thuốc lá, quan sát khi cô ta cởi chiếc áo khoác màu xanh da trời, bên trong là áo lót và ả cũng cởi nốt nó ra. Sau đó đến lượt cậu cởi áo khoác, thứ mà mỗi khi ra khỏi nhà, cậu chỉ cởi bỏ lúc làm tình mà thôi.
Trên đường quay lại, cô ta vẫn nhìn thấy mẩu khăn giấy Kleenex, nó đã bị vướng vào một đụn cỏ trên mặt nước. Cô ả dừng lại để tô son. “Anh rất tử tế,” cô ta nói với cậu trong lúc quết lớp son lên môi. “Khi tôi nhìn thấy anh trên đường Giardini, tôi đã không chắc nên tiếp cận anh như thế nào, trông anh giống kiểu đàn ông sẽ dễ dàng hành hạ phụ nữ, nhưng tôi cần năm mươi nghìn lia.” Cô ta cất son và gương vào túi và lại đi tiếp. “Chúng ta có thể ăn ở đây,” cô ta nói.
Davide biết rõ là mình không hề giỏi mặc cả, và, vẫn không hề có sự thô tục nào khi để mấy tờ mười nghìn lia lộ liễu lộ ra, cậu một lần nữa chuyển chúng từ ví mình vào túi của cô ta số tiền mà cô ta yêu cầu.
“Con số quá lớn, tôi biết,” cô ta nói. “Hãy coi đó như là một lần quyên góp từ thiện đi.”
Cậu không thích nói chuyện về tiền nong. “Cô là người ở đâu?” Cậu hỏi.
“Naples.”
“Nghe giọng cô không giống người Naples.”
“Tôi đã học diễn thuyết ba năm, vì tôi muốn làm việc trong rạp hát, rạp hát với chữ R viết hoa. Tôi cũng có thể trích dẫn một vài câu của Shakespeare, nếu anh thích.”
Họ ăn trong căn nhà gỗ nhỏ đầy không khí hội hè trên đường cao tốc. Họ trao đổi một vài thông tin chung chung, hời hợt về bản thân: cô ta mơ hồ kể rằng mình đã tới Milan gần một năm trước để tìm việc nhưng không có nhiều lựa chọn, còn cậu thì kể cho cô ta biết mình là một nhân viên trong một văn phòng lớn. Điều đó thì có gì sai, cậu chẳng đang làm việc cho Montecatini đó thôi?
“Một nhân viên được trả lương hậu hĩnh, nhìn từ cách anh tiêu pha.” Cậu không trả lời, vậy nên cô ta hỏi tiếp, “Anh có còn muốn đi tới Florence rồi quay lại không?”
Sau bữa ăn, những ham muốn nguyên thủy như đã đánh bại đấng tối thượng trong cậu, khiến chúng càng nổi loạn hơn. “Tôi muốn quay lại bờ sông,” cậu thờ ơ nói.
“Tôi cũng thế,” cô ta đáp lại.
Họ lại ra bờ sông và rồi sau đó trở về căn nhà gỗ có trang trí đầy cờ phướn để uống gì đó. Cô ả chọn whisky, trong khi cậu thích bia hơn. Sau cốc whisky thứ hai của cô ta, cậu nói, “Chẳng phải uống từng ấy rượu không tốt cho cô sao?”
“Về mặt lý thuyết thì đúng là như vậy. Trên thực tế thì, vì ngày mai tôi sẽ tự tử, nên bây giờ kể cả có uống axit sunfuric thì tôi cũng chẳng quan tâm.”
Davide chẳng buồn để ý, nghĩ rằng cô ta chỉ đang đùa và có thể do cô ta đã uống quá nhiều rượu. Nhưng đồng thời cậu cũng biết rằng mình đang tự dối mình, vì sâu thẳm bên trong cậu cũng có cảm giác rằng những lời lẽ vừa rồi của cô gái này không bông phèng chút nào. Cô ta là một người thẳng thắn, từ trong tính cách cho tới cách cô ta nói chuyện, không nói từ nào thừa thãi hay vô nghĩa: nếu cô ta không có ý định tự tử hẳn sẽ không phí thời gian nói vậy.
“Đó là một suy nghĩ mà chúng ta thỉnh thoảng lại cân nhắc,” cậu nói.
“Thỉnh thoảng đó không chỉ là một suy nghĩ,” cô ta nói. “Cách đây vài tháng tôi đã nhìn thấy một cuốn sách được trưng bày trên cửa sổ của một tiệm sách. Tình cờ thay tôi đọc được một dòng chữ trên bìa. Giờ thì tôi không nhớ rõ chính xác từng câu từng chữ, nhưng đại khái chúng như thế này: ‘Ngay khi viết xong cuốn sách này tôi sẽ tự tử.’ Tác giả là một phụ nữ, đã nói vậy, và sau khi viết xong cuốn tiểu thuyết đó cô ta đã tự tử thật. Đối với cô ta thì đó không chỉ là một ý nghĩ đâu.” Họ đang ngồi cạnh cửa sổ và thỉnh thoảng lại nhìn ra đường cao tốc qua tấm rèm, ô tô lao vun vút dưới nắng như ánh đèn flash của các nhiếp ảnh gia. “Đối với tôi cũng thế.”
Cậu thích nghe cô ta nói chuyện, và thậm chí cậu còn thích chủ đề bất ngờ này, Eros và Thanatos là anh em họ, và bản thân cậu cũng chẳng biết gì nhiều về sự sống và cái chết, những suy nghĩ mà cậu chẳng bao giờ có cơ hội nói đến do chẳng tiếp xúc với ai, và giờ thì cậu trao đổi với cô ta một trong những suy nghĩ của cậu: “Tất nhiên sống mới khó, trong khi đó chết thì lại cực kỳ đơn giản.”
“Đúng thế,” cô ta nói, mặc dù nhận xét của cậu không nhằm vào cô ta. “Nhưng tôi không có khao khát muốn chết, và cũng chưa bao giờ có. Nghe này, nếu anh không thấy chán thì chúng ta sẽ trò chuyện thêm chút nữa về vài vấn đề riêng tư, sau đó tôi hứa là sẽ ngồi im như hến.”
“Tôi không hề thấy chán” cậu nói, và đó là sự thật.
“Trên đời này chuyện quái gì cũng có thể xảy ra. Hôm nay tôi gặp anh, biết đâu anh lại là người mà định mệnh gửi đến cho tôi.” Lọn tóc bên má của cô ta cọ vào hai bên khóe miệng đang hé mở, và cô ta chẳng buồn nở nụ cười. “Nếu anh đưa tôi đi theo, ít nhất ba tháng, rời khỏi đây thật xa, và ở bên tôi từng giây từng phút một, vậy thì ngày mai tôi sẽ không phải tự tử nữa. Tôi biết chuyện đó thật ngớ ngẩn, nhưng với tôi nó vận hành như vậy đấy. Nếu anh thích tôi, nó hẳn sẽ không tệ như địa ngục. Bên ngoài – chỉ bên ngoài nhé – tôi nghiêm túc, thanh lịch, tinh tế, anh có thể đưa tôi đi tới bất cứ đâu và tôi dám chắc sẽ không khiến anh trở thành trò hề. Tôi biết cách ăn ốc đúng kiểu với dĩa, không cần phải lấy tay cầm chúng lên và mút mát như một vài người bạn của tôi vẫn làm. Dù anh đã nói mình chỉ là một nhân viên, nhưng chắc anh không cần tiết kiệm tiền, và nếu được thì tôi có thể sống dựa vào bánh mì nướng và Coca-Cola, tôi cũng hoàn toàn có thể ngủ trong nhà trọ. Nhưng xin hãy đưa tôi rời khỏi Milan ba tháng, ít nhất ba tháng, đáng lẽ phải lâu hơn, có thể một đến hai năm, nhưng ba tháng cũng được, sau đó tôi sẽ xem thế nào.”
Vào khoảnh khắc đó, suy nghĩ dành ra ba tháng với người con gái này, một cô gái dành riêng cho mình, việc mà cậu chưa bao giờ nghĩ đến bởi có cả tá vấn đề rối bòng bong vẫn luôn quấn lấy cậu, đã mở rộng cánh cửa về một cuộc sống mới mẻ đối với cậu ngay lúc này, và qua ô cửa sổ ấy, cậu có thể nhìn thấy ba tháng tràn trề nhiệt huyết thanh xuân với cơ thể trần trụi nóng bỏng ấy, suốt ba tháng, khi ô tô mải miết chạy, đưa họ đi hết một lượt bản đồ tưởng tượng, Cannes, Paris, Biarritz, Lisbon, Seville.
Cô ta như cảm nhận được những điều cậu đang nghĩ. “Anh không cần phải sợ. Tôi không phải như những gì anh nghĩ, anh không đưa một ả gái điếm theo đâu. Tôi có điên loạn nhưng đó lại là chuyện khác. Thỉnh thoảng tôi cần tiền, hoặc không thì tôi cần cảm giác tiêu xài hoang phí, tôi sẽ ra ngoài và làm những gì như tôi đã làm với anh hôm nay, tới gần một bến xe buýt hoặc một tiệm bán báo, hoặc thậm chí cũng sẽ có người bám theo tôi. Nhưng đó không phải là nghề mà tôi theo đuổi. Có thể nó sẽ diễn ra hai đến ba lần một tháng, không nhiều hơn, dù gần đây thì thường xuyên hơn một chút vì tôi phải bỏ công việc mà tôi đang làm, và tôi không thể sống dựa vào các bài giảng đại số và địa lý mà chị tôi tìm giúp, cộng thêm việc rất khó đòi tiền từ mẹ của lũ tối dạ đấy. Tôi tự coi mình là một kẻ bất trị, nhưng tôi cũng là kiểu con gái mà anh có thể giới thiệu với bất kỳ ai, cha tôi là một thầy giáo ở Naples, tôi không muốn kể cho anh nghe đâu, nhưng tôi phải để anh biết một chút về mình, bởi anh tất nhiên sẽ không muốn đưa một ả gái đứng đường đi theo và tôi thì thực chất không như thế. Chị gái tôi làm việc cho công ty viễn thông, chị ấy đã tìm giúp tôi một công việc ở đấy, nhưng tôi không thể chịu nổi cái chuồng gà đó nên đã bỏ việc. Sau đó thì chuyện này xảy ra và tôi không còn lựa chọn nào khác: hoặc anh đưa tôi đi theo hoặc ngày mai tôi sẽ chấm dứt tất cả.”
“Chuyện gì đã xảy ra với cô?” Lời của cô ta đã khiến cậu như chết trân tại chỗ.
“Xin lỗi, cưng. Tôi không thể kể cho anh được. Anh là một quý ông, xem cách ăn mặc của anh là rõ quá rồi. Tôi đang xin xỏ anh vì trên hết tôi đã thấy anh ra dáng đàn ông thực thụ, tôi chắc sẽ không bao giờ kể cho lũ cục mịch mà anh thấy quanh đây việc tôi thích uống trà với sữa hay với chanh hơn.” Sau đó cô ta lại im lặng, như thể thăm dò ý tứ và cho cậu thời gian suy nghĩ.
Và cậu cũng đã suy nghĩ rất lung. Mặc dù cậu thực sự rất thông cảm với cô ả, nhưng những lời nói điên rồ vừa nãy cũng chỉ như gió thổi qua tai của cậu mà thôi. Bỏ đi ba tháng với một cô gái chỉ vừa gặp vài giờ trước, không điên thì cũng là điều tệ hại đối với cậu. Mặc dù từ chối cô ả khiến cậu không hề dễ dàng, cậu vẫn phải nói, vẻ chán nản, “Tôi không thể.”
“Tại sao anh lại không thể? Đừng có nói với tôi vì tiền đấy nhé.”
Có lẽ không phải vì tiền, mặc dù cậu cũng không hề muốn tiêu xài hết số tiền tiêu vặt của mình rồi sau đó phải ngửa tay xin ông già. “Không chỉ vì tiền đâu”, cậu trả lời.
Cô ả nhanh chóng đọc được suy nghĩ thực sự của cậu một cách tài tình. “Tôi hiểu rồi. Anh không thể đột ngột biến mất trong ba tháng, anh có gia đình, có bạn gái, rồi thì giải thích với người này người khác, bịa đặt ra một số câu chuyện: chẳng ai là không bị trói buộc cả. Tôi biết hết chứ, nhưng tất cả những gì tôi có thể làm là sống một cuộc sống như vậy. Tôi không cố đem nước mắt ra nài ép anh, anh là một người đàn ông dễ thương, lịch thiệp và đồng cảm với tôi nhất. Nhưng chỉ có anh mới cứu rỗi được tôi. Nếu anh từ chối, điều duy nhất tôi làm được chính là cứa cổ tay mình.”
“Nhưng tại sao lại là tôi?” Những lời sau chót của cô ta có vẻ làm cậu bàng hoàng.
“Bởi vì tôi chẳng có lựa chọn nào cả. Không có cách nào hết. Không có ai có thể cứu chuộc. Hoặc là anh để tôi lên xe và đưa tôi đi xa ít nhất một nghìn cây số kể từ đây, hoặc tôi sẽ nói là làm.” Giọng cô ả nhẹ bẫng, không đao to búa lớn, không chút cường điệu. Cô ta chỉ đang giải thích, như thể cậu là một trong số những học sinh của cô ta.
Cậu bất ngờ trước những gì thốt ra từ cô ả và chúng bắt đầu làm cậu lo lắng. “Ít nhất tôi cũng nên thu xếp mọi chuyện với bố tôi, tôi không thể đùng đùng lặn mất tăm ba tháng như vậy, tôi cũng có việc của mình. Có lẽ chúng ta nên gặp lại nhau sau vài ngày, tôi sẽ xoay xở.”
“Cưng ơi, không còn thời gian đâu. Mà kể cả có còn thời gian, thì anh cũng sẽ một đi không trở lại. Hoặc là đi ngay bây giờ, chúng ta sẽ trốn chạy khỏi đây càng nhanh càng tốt, hoặc là không gì hết.” Cô ả tiếp tục đẩy cậu vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, sau đó im lặng để cậu có thêm thời gian suy nghĩ.
Nhưng dường như cậu chẳng cần nghĩ ngợi gì thêm. Nỗi thống khổ đã khiến cậu căng thẳng, và căng thẳng khiến chúng ta khép mình, vô cảm, khiến những suy nghĩ lạnh lùng nảy sinh. Có thể đây là chứng rối loạn phân ly ở nữ giới, rõ ràng rồi. Một người phụ nữ bình thường sẽ không có chuyện bất chợt một ngày nảy ra quyết định tự sát và rồi yêu cầu người đàn ông đầu tiên mà cô ta gặp hãy cứu cô ta vì cô ta không muốn chết, xin hãy đưa cô ta đi thật xa. Đây là một hành vi bất thường và việc hoài nghi là mình đang đối phó với một người bất thường như vậy khiến cậu lạnh xương sống. Cậu không biết phải nói gì với cô ta.
Cô ta hút thuốc trong lúc chờ đợi, đưa mắt nhìn túi xách, nhìn đám vận động viên chạy marathon ra ra vào vào quán bar. Cô ả mở túi xách lần nữa, nhìn vào trong, rồi nói, “Đi thôi, xin anh.”
Họ quay ra xe. Davide lái xe trong im lặng, tốc độ không nhanh lắm. Đến trạm đầu tiên, cậu rời khỏi đường cao tốc, lái vào một con đường dài hơn qua các đường nhánh và quay lại lối vào đường cao tốc, nhưng ở phía bên kia, làn dẫn về Milan.
“Không, không,” cô ta bắt đầu năn nỉ. “Tôi không muốn quay lại Milan, hãy đưa tôi đi, hãy đưa tôi đi.” Tiếng mè nheo trẻ con ấy phát ra từ một người phụ nữ như cô ta khiến cậu hoàn toàn bất ngờ và cậu cho rằng đó hẳn là dấu hiệu của chứng quá khích.
“Tối nay tôi sẽ nói chuyện với cha tôi, biết đâu tôi có thể thuyết phục được ông ấy, thế thì mai chúng ta sẽ khởi hành luôn.” Cậu nói dối, giống như cách một bác sĩ nói về khả năng sống sót với một bệnh nhân đã đến giai đoạn thập tử nhất sinh.
“Không, nếu anh bỏ tôi lại thì chúng ta sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa, hãy đưa tôi đi ngay.” Cô ta bắt đầu náo loạn hơn ngay khi cậu lái xe vào làn đường dẫn về Milan.
“Bình tĩnh lại đi, tôi không thể đi ngay bây giờ, đừng làm thế.”
“Không, xin hãy đưa tôi đi ngay lập tức, không thì tôi sẽ phải tự tử mất.” Cô ta căng thẳng, cố giữ khoảng cách với cậu, mái tóc lòa xòa che phủ khuôn mặt vậy nhưng giọng vẫn đầy van vỉ.
“Hãy cố gắng bình tĩnh lại đi, khi về đến Milan chúng ta sẽ nói chuyện thêm.” Nhưng giờ cậu thấy sợ, một người phụ nữ hoảng loạn sẽ khiến bất kỳ người đàn ông nào cũng phải khiếp sợ. Tất cả những gì cậu muốn làm bây giờ là cố gắng chống đỡ cho tới khi có thể thoát khỏi cô ta mà không gây ra cảnh tượng gì quá khích, nhưng cô ta hoàn toàn có thể la hét, vùng vẫy, bắt cậu dừng lại giữa đường cao tốc bất kỳ lúc nào, rồi cảnh sát giao thông sẽ tiến đến: quỷ tha ma bắt, mày chỉ cần dành ra năm phút ở bên cạnh một người phụ nữ, sau đó mày sẽ thấy mình bị nghiền thành cám, như thể vừa rơi xuống từ tầng cao nhất của tòa nhà chọc trời Pirelli. Người phụ nữ này lúc trước có vẻ bình tĩnh lắm cơ mà, sao giờ lại thế này.
“Quay lại đi cưng, xin hãy đưa tôi đi.” Vẫn tiếng rên rỉ ấy phát ra một cách liên tục, nỉ non và dai như đỉa chẳng khác gì giọng điệu của một cô bé đòi kem, mẹ ơi cho con kem, mẹ ơi kem, mẹ ơi kem, mẹ ơi kem.
Cậu quyết định không trả lời cô ta nữa.
“Xin hãy đưa tôi đi, xin hãy rủ lòng thương, không thì tôi sẽ tự tử… Rời khỏi đây, rời khỏi đây đi, ở trạm dừng chân này, hãy quay lại, đưa tôi đi, xin hãy rủ lòng thương… Đưa tôi đi đi, cưng, giá mà anh biết, giá mà anh biết mọi chuyện thì anh sẽ đưa tôi đi ngay lập tức.”
Davide cố gắng phớt lờ cô ả, nếu cậu để bản thân cuốn theo những gì cô ta nói thì chắc hẳn cậu sẽ nhượng bộ, dù chỉ để khiến cô ta dừng lại. Cậu cố gắng làm mình phân tâm, nhưng trên cung đường này chẳng có gì đáng phải chú ý, trừ phi bạn là người mê đám cột điện cao thế. Qua gương chiếu hậu, cậu vẫn có thể nhìn thấy chiếc xe Mercedes 230 xinh đẹp đó, pha trộn giữa màu cà phê và màu vàng đồng, cũng có thể là cậu nhầm, nhưng cậu có cảm giác là mình đã nhìn thấy nó bám theo xe mình trên đường ra khỏi thành phố: cậu cực kỳ thích chiếc Giulietta của mình, nhưng cậu còn thích hơn nữa khi có một chiếc xe Mercedes thể thao giống như chiếc xe đó.
“Không, không, không, tôi không muốn quay lại Milan.”
Cậu có thể nói chuyện với ông Brambilla, người phụ trách tài chính của gia đình, hỏi xem ông ấy có thể mua cho cậu một chiếc Mercedes như vậy mà không để cha cậu biết và sau đó nổi cơn tam bành hay không. Họ đã gần đến cuối đường cao tốc.
“Không, không, không, không, không, tôi phát điên mất, quay lại đi.” Cô ta lấy khăn tay ra khỏi túi khi cậu dừng lại ở lối ra của trạm thu phí, và trong khi cậu trả tiền, người soát vé nhìn vào trong xe và thấy cô ta đang chấm mắt: cô ả trông hết sức lố bịch với cặp kính râm to kéo hẳn ra và tóc che khuất trán. Davide nghe một tiếng cạch, hẳn có thứ gì đó rơi khỏi túi, nhưng cảnh tượng điên rồ ấy, ánh mắt châm chọc, dửng dưng của người soát vé, “Cậu ta đưa cô ả đi một vòng, và trên đường quay lại thì cô ta gây sự”, vượt quá sức chịu đựng của cậu.
“Không, không, không, quay lại đi, không, không không, đưa tôi đi đi.”
Cậu dừng phắt lại, đánh lái lệch sang phải, gần như lao xuống ruộng. Xung quanh họ, hoàng hôn đỏ quạch như đang lặng lẽ thiêu đốt những tòa nhà quanh khu vực Metanopoli, và cả chuỗi không, không, không, không đó của cô ả như đả kích một cách thô lỗ vào các dây thần kinh của cậu, lần thứ hai trong đời cậu – lần thứ nhất là hồi cậu đi nghĩa vụ, khi cậu đấm gã đồng đội giường bên – cậu cao giọng và gầm lên, “Đủ lắm rồi, ra ngoài, tôi không thể chịu đựng thêm được nữa!”
Rồi tiếng rên rỉ của cô ta đột ngột tắt ngóm, như một cái radio bị rút phích cắm đột ngột. Cặp kính râm to tròn che kín khiến cậu không thể nhìn rõ mắt cô ta, nhưng khuôn miệng há hốc của cô ta cho cậu biết cô ta đang sợ hãi chừng nào. Trong giây lát, cô ta ngồi chết trân ở đó, miệng đơ ra, rồi mở cửa và ra khỏi xe, vừa sợ vừa luống cuống, như thể sợ cậu sẽ cho cô ta một trận nếu không ra ngoài ngay, và ngay khi cô ta bước chân ra khỏi xe, Davide đóng sập cửa xe lại rồi phóng đi. Cậu giận dữ vượt qua chiếc Mercedes 230, với tốc độ bốn mươi cây số một giờ: ô tô đúng là tuyệt nhất, đàn bà cũng chẳng sánh bằng, bạn có thể lái một chiếc ô tô hai mươi ngày liên tiếp, còn với phụ nữ, chỉ sau hai mươi phút, đã trở nên đỏng đảnh khó chiều.
Cậu chỉ cảm thấy an toàn khi về tới gara gần nhà, và chậm rãi đi xuống con dốc vào hầm, nơi đã trở thành một khách sạn hạng sang như trong tiểu thuyết khoa học viễn tưởng dành riêng cho ô tô, với các thanh niên trẻ mặc bộ đồ khí động lực từ vùng Cape Kennedy và mũ hải quân, nói chuyện thô tục như dân Milan, tất cả ngay lập tức tạo nên một môi trường thân thuộc hơn nhiều.
Cậu vốn là một thanh niên gọn gàng, cẩn thận, và trước khi giao xe cậu luôn quan sát trong xe hết một lượt. Vậy nên cậu nhanh chóng nhìn thấy chiếc khăn tay và vật thể nhỏ xíu kỳ lạ đó, thứ mà cậu đã nghe thấy tiếng động khi nó rơi khỏi túi của cô gái, lúc cô ta lau mắt. Cậu cất tất cả vào túi, cảm thấy xấu hổ bởi lúc đó có một trong các chàng trai mặc đồ hải quân đang chờ.
“Chào buổi tối, Auseri.”
“Chào buổi tối.”
Cậu băng qua quảng trường Cavour, trông nó thật ảm đạm trong ánh hoàng hôn yên bình. Mùi lũ sư tử ở vườn thú phảng phất trong không khí oi bức. Cậu đi vào trung tâm mua sắm Galleria Cavour và dừng lại ở quán Milanese Bar, thậm chí ở đây cậu cũng là khách hàng duy nhất, bao quanh bởi kẹo, chocolate, pasta, những chai rượu, và sau khi uống bia lạnh, cơn giận dữ của cậu có vẻ đã hạ nhiệt phần nào, và suy nghĩ ấy xuất hiện trong đầu cậu: “Giờ có lẽ cô ta đang tự tử.”
Cậu rời khỏi quầy bar, đi qua quảng trường Cavour tới đường dell’Annunciata, và đi lên căn hộ của mình. “Không, cô ta không tự tử đâu, cô ta sẽ vượt qua thôi.”
Trong căn hộ, chẳng có ai ngoài người giúp việc: cha cậu đang ở Rome, ông dành nhiều thời gian ở đó hơn là ở đây.
Cậu đi tắm. Khi làn nước giội xuống người, cậu cố gắng bình tĩnh lại và bắt đầu lẩm nhẩm. “Phụ nữ thật điên rồ, họ thật sự sẽ tự tử đấy.”
Cậu mặc đồ và đi vào phòng khách nhỏ, vừa là phòng ăn, vừa là thư viện, và có một lối nhỏ dẫn tới phòng khách chính của căn hộ. “Nhưng cho dù cô ta có tự tử thật thì cũng có can hệ gì tới mình đâu?”
Cậu ăn tối tại nhà, trong khi tivi đang bật. “Đáng nhẽ ít nhất, mình có thể đưa cô ta quay lại trung tâm thành phố. Để cô ta lại một chỗ đồng không mông quạnh như thế ở Metanopoli hẳn sẽ càng khiến cô ta tuyệt vọng hơn.” Trên màn hình giờ là một người đàn ông đang giải thích chi tiết về tất cả các khía cạnh về vấn đề ô nhiễm môi trường trong mùa đông, do các nhà máy sản xuất lớn và việc nhà dân dùng khí đốt: nhiệt độ rơi vào khoảng ba mươi sáu độ giữa mùa hè, chủ đề này không có gì hấp dẫn cả. Điều khiến cậu hứng thú hơn, trong chính khoảnh khắc ấy, là quả đầu hình bắp ngô của người hầu mới, một phụ nữ luống tuổi vô ý vô tứ với nụ cười đãi bôi, xin phép được ngồi xuống sofa và xem tivi. Cậu nhìn bà ta, quả đầu hình bắp ngô của bà ta che khuất một phần ba màn hình tivi. Chẳng chương trình tivi nào có thể phá tan không gian hiu quạnh đến ngột ngạt của căn nhà này, chắc cũng chẳng thứ gì có thể, cho dù họ có tổ chức một buổi vũ hội hóa trang đi nữa. “Nếu cô ta tự tử và có người nhìn thấy mình đi cùng cô ta thì nhất định mình sẽ bị triệu tập tới Sở cảnh sát.”
Cậu thờ ơ, chẳng cảm thấy gì: lúc nào cậu cũng có tâm trạng như thế, trong những buổi tối xem tivi với người hầu, vì đến sáng hôm sau cậu sẽ phải tới Montecatini, nhưng tối hôm đó cậu thậm chí còn thấy tâm trạng tệ hơn mọi ngày. Nếu cậu quay lại Metanopoli để kiểm tra thì sao? Cậu liếc nhìn đồng hồ, cứ làm như cậu sẽ làm cái việc ngu ngốc ấy: à phải, đương nhiên rồi, người phụ nữ đó sẽ vẫn ở đó chờ cậu, cứ thử tưởng tượng ra điều đó mà xem, và cho dù cô ta vẫn còn ở đó thật đi, tệ hơn nữa, cô ta sẽ lại bắt đầu tràng giang đại hải những câu đại loại “Đưa tôi đi đi”. Lúc đấy thì cậu chết chắc.
Cả đêm, và cả ngày hôm sau ở văn phòng, cậu cảm thấy vô cùng tồi tệ. Cậu đọc mọi tiêu đề trên tờ Corriere , nhưng không có tin tức bất kỳ nào về một vụ tử tử của một cô gái. Cũng không có gì trên tờ La Notte hay Il Lombardo . Buổi tối, người hầu lịch sự với quả đầu hình bắp ngô không đến, và cậu đi ăn vài ổ bánh mì ở quán Milanese Bar. Đang ăn dở thì cậu băng qua đường: ấn bản cuối ngày của tờ La Notte hẳn đã ra rồi. Ngày nay báo buổi chiều có rất ít lựa chọn: họ không thể lúc nào cũng đưa tin về đợt nóng sắp tới hay tin về bom nguyên tử Trung Quốc lên trang nhất được, vậy nên đám nhà báo, dù có đạo đức thối nát hay không, cũng đều cố đơm đặt các tin tức địa phương – người chồng đã dùng bàn là đánh vợ rồi quẳng nó ra khỏi cửa sổ, một cặp đôi bị bắt quả tang đang diễn cảnh nóng bỏng ở nơi công cộng (Idroscalo, chẳng lẽ người ta có thể làm chuyện gì khác ở Idroscalo à?) – và chính bằng cách đó mà Davide nhìn thấy tất cả những gì cậu đang lo sợ, trên trang nhất của tờ báo, một dòng tít gồm năm cột báo bên dưới, MỘT CÔ GÁI CẮT CỔ TAY Ở METANOPOLI, nó khiến tin tức này như đã được thêm mắm dặm muối về địa lý, như thể thực tế là một người có thể cắt cổ tay ở Metanopoli sẽ là người đi đầu xu hướng trong tương lai, một dấu hiệu của thời đại: ngày nay bạn không cắt cổ tay một cách nhàm chán, ở nhà riêng, hay ở những thành phố và tòa nhà cổ kính với những cái tên cổ nữa, Pavia, Livorno, Udine; ngày nay bạn cắt cổ tay ở giữa vùng kinh tế mới nổi về dầu và công nghiệp nặng, dù cho bạn muốn thế hay đã cùng đường, thì cũng vẫn là một nô lệ của quá trình phát triển tàn nhẫn không ngừng.
Với tờ báo trong tay, Davide băng qua đường và ăn ổ bánh thứ hai ở Milanese Bar, xung quanh là nửa tá người đang uống bia trước khi tới rạp chiếu phim Cavour để xem một bộ phim mà nữ chính, ít nhất thì qua tranh ảnh treo bên ngoài, chắc chắn là một trường hợp cực kỳ thú vị của chứng bệnh ngực bự quá mức.
Phóng viên đã khiến cho câu chuyện đậm chất kịch tính khi miêu tả làm thế nào mà đám cỏ trên cánh đồng nơi người ta phát hiện ra cô gái với cổ tay bị rạch đều chuyển thành màu xanh dương: theo cậu biết thì màu xanh của cỏ kết hợp với màu đỏ của máu sẽ tạo ra màu xanh dương thôi. Người đi xe đạp Antonio Marangoni, không phải một tay đua xe đạp, mà chỉ là một ông già bảy mươi bảy tuổi, một người dậy sớm đang trên đường tới Metanopoli từ nông trại nhà mình bằng xe đạp, đã phát hiện ra cô gái đã tắt thở, và hô hoán lên. Bên cạnh cô gái có một cái túi phẳng lì, trông gần giống chiếc ví nam quá khổ, và bên trong có một bức thư cho chị cô ta. Nội dung bức thư không được tiết lộ, nhưng ký giả đã đánh hơi được từ nguồn tin của Sở cảnh sát rằng nó chỉ là lời trăng trối thường thấy của một người sắp tự tử, mong những người ở lại tha thứ cho mình. Trong dấu ngoặc là ghi chú thông báo bài báo vẫn còn tiếp ở trang hai.
Davide về nhà để uống whisky và đọc tiếp bài báo ở trang hai. Cậu đọc đi đọc lại vài lần, và mỗi lần đọc xong cậu đều đứng dậy, rót cho mình một cốc whisky, lấy chai rượu từ một tủ rượu hẳn từng là tủ đựng giày hồi thế kỷ mười chín.
Cô ta đã nói là sẽ tự tử và cô ta đã làm vậy. Cô ta thậm chí còn không đợi sang ngày hôm sau, đã cắt cổ tay ngay khi cậu đuổi cô ta ra khỏi xe. Cô ta đã trốn trong một bụi rậm, cạnh nông trại của ông Antonio Marangoni, như một con thú chỉ còn thoi thóp, và ở đó cô ta đã kết liễu đời mình, vì cô ta đã hạ quyết tâm, thậm chí còn viết thư xin chị gái tha thứ: cô ta đã cất nó vào túi khi đi theo cậu ra bờ sông, chính là cái túi mà cô ta đã cất số tiền cậu đưa cho.
Nhưng cô ta không muốn chết, cô ta định chết nhưng cô ta không muốn vậy, cô ta đã ỉ ôi suốt quãng đường quay trở lại, không, không, không, cô ta không muốn, và nếu cậu đưa cô ta đi xa, nếu họ đi thật xa, như cô ta vẫn nài nỉ, thì cô ta có lẽ đã không tự tử, hẳn cô ta sẽ vẫn còn sống. Cả ngày lẫn đêm hôm ấy cậu đều nhớ đến cặp kính râm tròn to của cô ta, giọng nói van xin của cô ta, vừa van nài vừa than thở. Chính cậu đã giết cô ta, cậu cứ nghĩ như vậy suốt quãng thời gian lật qua các tờ bướm rực rỡ trong những tập giấy báo màu mè trên bàn cậu ở Montecatini, và dần dần cậu khám phá ra rằng, bằng cách uống một lượng whisky nhất định, loại whisky nào cũng được, thì cái cảm giác rằng cậu đang che giấu một kẻ sát nhân trong người, cái cách một hộp quà nhỏ được tặng ở đám cưới có thể chứa thuốc xyanua, cảm giác ấy sẽ phai nhạt dần. Cứ uống thêm whisky đi, rồi cảm giác ấy sẽ biến mất hẳn.