Kể cả Milan thì mặt trời cũng tuân theo quy luật mọc rồi lặn. Sáng hôm đó mặt trời bừng lên, trên nóc các tòa nhà có một quầng sáng đỏ ửng, mọi người đều thở hổn hển vì nóng. Anh đỗ chiếc Giuliette ở quảng trường Leonardo da Vinci. “Đi gặp em gái tôi nhé. Chắc nó dậy rồi, cháu gái tôi ăn bữa đầu tiên trong ngày lúc sáu giờ.”
Cánh cửa đồ sộ từ thế kỷ mười lăm đối lập đến sững sờ với vẻ khiêm tốn của tòa nhà, nó đang đóng, nhưng anh thậm chí còn chẳng thèm nhìn cửa, anh chỉ huýt sáo và Lorenza xuất hiện ở ô cửa sổ tầng hai với đứa bé trong tay. “Em đã nghĩ là mình nghe nhầm, không nghĩ anh lại đến vào giờ này,” Lorenza nói, quẳng chìa khóa xuống cho anh.
“Đây là bạn của anh, pha cho bọn anh chút cà phê nhé.” Anh dẫn Davide lên cầu thang ngắn. “Căn hộ vừa cũ vừa nhỏ, lũ gián thì nhiều gấp đôi bình thường, chúng tràn vào từ ngoài đường và cả từ sân trong nữa. Nhưng chúng ta sẽ không ở lại đây lâu đâu.”
Lorenza đứng ở chiếu nghỉ, tay ôm con. Cô mặc bộ đồ ngủ sẫm màu và mái tóc dài ngang vai được buộc kiểu đuôi ngựa bằng một sợi dây chun thông thường.
Duca bế đứa bé và giới thiệu hai người, tình cờ thay lúc này Sara hoàn toàn khô ráo. “Con bé đã xì xì rồi hay chuẩn bị đấy?” Anh hỏi Lorenza.
“Con bé xì xì rồi, em vừa thay xong đấy.” Đôi mắt sẫm màu của Lorenza đang nhìn anh xúc động, cô thậm chí còn nhìn Davide một cách vui vẻ. Đó chính là cách nhìn cuộc sống của cô: kể cả khi đến thăm anh ở nhà tù thì cô cũng nhìn anh như thế, cô trò chuyện với anh như thế, bằng giọng nói vui tươi ấy: “Luật sư nói rằng mọi chuyện sẽ ổn cả thôi.”
“Vậy thì anh sẽ bế con bé và theo em vào bếp, chỗ pha cà phê.” Anh quay sang nói với Davide, đang ngồi bất động trong một cái ghế ọp ẹp. “Thứ lỗi nhé, Davide, tôi sẽ quay lại ngay.” Trong bếp, anh bế Sara đi qua đi lại: con bé là một đứa trẻ ngoan, miễn là được nằm trong cánh tay của ai đó, không thì nó sẽ hét toáng lên.
“Thuốc lá của anh ở trong túi áo bên phải ấy.”
Lorenza rút bao thuốc lá ra, châm một điếu và cho nó vào giữa môi anh.
“Trong túi áo bên trái có một tấm séc và ít tiền mặt. Cứ lấy hết tiền mặt đi còn để tờ séc lại cho anh.”
Khi cô lấy cuộn tiền mặt ra khỏi túi áo khoác của anh, Lorenza trở nên trầm ngâm. Cô cất chúng vào một ngăn kéo trong bàn bếp và vặn bếp ga dưới ấm pha cà phê đã được chuẩn bị sẵn. “Cái gì thế, anh Duca?”
“Đó là khoản tạm ứng cho công việc của anh.” Anh thổi khói ra xa đứa bé. “Đó là việc trong khả năng của anh, đừng lo, ông Carrua đã giúp anh tìm việc đó. Có thể thời gian tới anh không thể đến thăm em, đó là lý do hôm nay anh đến đây.” Và cũng để đưa tiền cho cô nữa; trên chiếc ghế dành cho trẻ con là một ổ bánh mì nhỏ, cho thấy Lorenza không còn tiền mua loại bánh quy Plasmon mà cô thường mua.
“Nhưng việc anh phải làm là gì?” Lorenza như thể ngày càng thấy sợ sệt mọi thứ kể từ khi Duca phải vào tù, từ khi cha họ mất, từ khi cô phát hiện ra mình đơn thương độc mã mỗi ngày, và một ngày kia bác sĩ thông báo cho cô biết rằng theo ông thấy thì cô đã có thai. Đôi môi xinh đẹp của Lorenza mím chặt vì sợ hãi.
Không đi quá sâu vào các tiểu tiết, anh giải thích mình phải làm gì với chàng thanh niên đang ngồi ở phòng ngoài, và khi họ mang cà phê quay trở lại, cậu ta vẫn yên vị chỗ cũ. Duca bế đứa bé cho đến tận lúc về, điều đó có lúc khiến anh thấp thỏm vì sợ lỡ Sara tè dầm sẽ làm hỏng bộ vest mới, bộ vest duy nhất anh có lúc này, nhưng một bàn tay bé xíu của Sara ôm lấy cổ anh, tay kia thì sờ mũi anh, đôi mắt biết cười màu xanh dương của con bé, tiếng bi bô của con bé, tất cả đều đáng giá: anh đã lường trước hết mọi chuyện rồi. Trong khoảng thời gian ấy anh cũng quan sát Davide, nhưng không có gì đặc biệt. Thiếu rượu khiến cậu ta càng thêm biệt lập với thế giới bình thường này. Cậu ta thậm chí không buồn trả lời câu hỏi, chỉ cười hoặc gật đầu, và mặt cũng bắt đầu trắng bệch ra: cậu ta cần phải được bổ sung năng lượng trước khi cơn suy nhược khác cuốn bay đi mất.
“Bọn anh đi đây.” Anh trả Sara đáng yêu cho em gái.
“Khi nào anh trở lại?” Lorenza hỏi.
“Khó nói lắm. Anh sẽ gọi cho em sau.” Vào xe ô tô, anh nói với Davide, “Nhịn thêm một chút nữa nhé. Giờ chúng ta sẽ tới tiệm cắt tóc, sau đó chúng ta sẽ tới một quán bar tử tế gần đây.” Davide mỉm cười, khẽ gật đầu hàm ý biết ơn. Đến tiệm cắt tóc, Duca cũng cạo râu. Họ ngồi cạnh nhau và trong gương anh nhìn thấy Davide thỉnh thoảng lại nhắm hờ mắt lại: nếu cậu ta ngủ được thì đúng là may mắn.
Cậu ta ngủ thật.
“Suỵt.” Duca thì thầm nói với người thợ cắt tóc. “Chúng tôi đã lái xe cả đêm, cậu ấy mệt lử và cảm thấy không khỏe cho lắm. Cứ để cậu ta ngủ, ít nhất cho tới khi cửa hàng đông khách hẵng hay.”
“Hôm nay không đông khách đâu.” Người thợ cắt tóc hẳn là người biết cảm thông, một người đã nhìn thấu nhân tình thế thái: ông ta bỏ mặc Davide vẫn còn nguyên xà phòng ở một bên mặt và châm một điếu thuốc cho mình.
Duca được trợ lý của chủ tiệm cắt tóc, một thanh niên trẻ đến từ Como, cậu ta hoàn toàn không giống ông chủ của mình, chưa trải đời và cũng chưa bao giờ lường được giữa biết bao sự kiện có thể xảy ra trên thế giới này, lại có khả năng một người đàn ông ngủ thiếp đi ở tiệm cắt tóc, mặc dù cậu ta nói bằng giọng trầm trầm, bản thân cậu ta đã từng ngủ thiếp đi trong một quán cà phê ở Como, trái ngược hẳn với thói quen của bản thân đến mức cậu ta sẽ nhớ chuyện đó suốt đời.
Với mái tóc đã được cắt, râu đã được cạo, anh bắt đầu trò chuyện với người thợ cắt tóc già, thảng hoặc liếc đồng hồ và nhìn sang Davide: mỗi phút trôi qua là bớt một phút đụng vào rượu và thêm thời gian hồi phục cơ thể. Có lẽ cậu ta sẽ ngủ cho tới giữa trưa, nhưng đến mười giờ mười lăm phút, có một khách hàng lớn tuổi bước vào, một người Milan cao gầy, ồn ào, như sinh ra để đi các show truyền hình. Ông ta hét lên một khẩu hiệu phát-xít khi bước vào trong, trông thật đáng ghét với vẻ thô lậu và khuôn mặt đỏ kè như say rượu.
Davide thức dậy, nhận ra rằng mình đã ngủ thiếp đi, và bên má không có bọt, Duca có thể nhìn thấy vết hằn đỏ, nhưng ông thợ cắt tóc già rất thạo việc, đã chuẩn bị sẵn sàng cạo nốt râu cho cậu ta và họ nhanh chóng rời đi.
“Xin lỗi vì đã đưa cậu tới đó,” Duca nói, “hàng cắt tóc quen của cậu hẳn sẽ thoải mái hơn.” Anh không nhận được câu trả lời. Anh đỗ lại ngoài cửa một quán bar trên đường Plinio. “Đây là quán bar xịn nhất vùng này. Cứ gọi bất kỳ thứ gì cậu thích.”
Anh tảng lờ như không để ý việc Davide uống một cốc whisky to, chỉ nói, “Uống chậm thôi, tôi không vội gì đâu.”
Giấc ngủ ngắn và cốc whisky to đã tiếp thêm chút sức sống cho Davide. Khi ra xe, cậu ta bỗng nhiên cất tiếng, “Tôi hẳn là một gánh nặng đối với anh.”
“Cũng hơi hơi,” Duca nói trong khi đang lái xe. “Nhưng tôi thích cậu.” Đến quảng trường Cavour, anh rẽ vào đường Fatebenefratelli, rồi đỗ lại trên đường Giardini. “Chờ tôi ở đây nhé. Tôi phải tới Sở cảnh sát. Tôi sẽ để chìa khóa xe lại, nhưng hãy nhớ những gì tôi đã dặn cậu sáng nay: đừng có gây ra hành động gì ngu ngốc khi tôi còn ở cạnh cậu. Nếu cậu không có mặt ở đây khi tôi quay lại thì tôi sẽ đi tìm cậu, và tôi hy vọng khi tôi tìm ra cậu thì cậu đã chết vì đấy là thứ cậu vẫn mong muốn mà. Tôi mà tìm ra cậu khi vẫn còn sống thì cứ coi chừng. Và đừng có mó vào rượu đấy.”
Davide gật đầu lia lịa, miệng không hé chút nào. Cậu ta sẽ vẫn ở đó khi Duca quay lại: cậu ta là một đứa trẻ đáng tin cậy.
Khi Duca đặt chân vào trụ sở, ký ức về cha anh dội thẳng vào mặt anh, chẳng khác gì một tấm màn đen phủ xuống anh. Ngày bé, lúc nào anh cũng cùng cha bước qua cánh cửa đó, đi qua sân trong đằng kia, trèo lên các bậc cầu thang ấy, đi hết hành lang kia và trong căn phòng nhỏ xíu, không lớn hơn một nhà kho là mấy, nơi mà cha anh gọi là văn phòng, cha anh sẽ dùng hết sức bình sinh nâng cánh tay trái lên, mà thực tế là cũng không giơ được nhiều sau khi bị đâm ở Sicily, và chỉ vào một cái ghế, như thể đó thật sự là một cái ghế chứ không phải một băng ghế nhỏ có một tấm ván làm lưng dựa và ra lệnh cho anh, “Ngồi xuống đó học bài đi!” Anh sẽ đặt lên đầu gối cuốn sách giáo khoa mà cha anh dặn mang theo, bắt đầu đọc đi đọc lại, và khi anh cần viết lách gì đó, cha anh sẽ cho anh mượn một góc bàn nhỏ xíu của ông, dù không được tử tế lắm nhưng vẫn có thể xem là một cái bàn. Như thế, ở nơi đó, anh đã học được phép vi phân, hóa học và thậm chí là hình học xạ ảnh.
Nhưng sáng nay anh đi dạo trên một hành lang lạ lẫm, im ắng hơn, thưa thớt hơn, chỉ có đúng một sĩ quan đứng ngoài cửa văn phòng của ông Carrua. Một người mới, trước khi cho anh vào, đã tra hỏi đủ điều và trông như còn muốn khám xét người anh. Cuối cùng thì tự ông Carrua phải ra ngoài hét lên.
“Cậu để cho đủ loại người phiền phức mà tôi không muốn gặp xông vào, vậy mà khi một người bạn của tôi đến thì cậu lại ngăn họ ở ngoài.” Ông Carrua chắc chẳng bao giờ nói chuyện điềm đạm, nếu không im lặng, ông buộc sẽ phải hét lên. “Chuyện với ông Auseri thế nào?” Ông hét lên hỏi Duca ngay khi họ bước vào trong văn phòng.
Anh kể cho ông diễn biến mọi chuyện và cảm ơn ông vì đã giúp anh tìm việc. “Đó là một công việc khá bất thường, nhưng cháu rất thích, dù nó không được rõ ràng cho lắm.”
“Có gì không rõ ràng ở đó?”
“Cháu thấy khó mà tin được chuyện này chỉ là một thanh niên nghiện rượu. Hẳn phải có điều gì đó nữa.”
“Điều gì cơ?”
“Cháu không biết. Một điều mà có thể sẽ khiến cảnh sát quan tâm.”
Mọi thứ như chững lại. Sĩ quan cảnh sát Luigi Carrua đang nhìn anh. Ông là bạn thân của cha anh, Duca hẳn chỉ mới năm hay sáu tuổi gì đó lúc ông nhìn thấy anh lần đầu tiên, và kể từ đó đến nay họ đã gặp nhau cả nghìn dịp và đôi mắt họ chạm nhau cả nghìn lần, nhưng anh vẫn chưa thể quen nổi. Anh cảm giác mình như bị lột trần trước ánh mắt của ông Carrua. Ông lùn, không béo, áp lực ba mươi năm làm nghề cảnh sát đè nặng trên vai. Dù đã ngả sang màu xám, mái tóc của ông vẫn được để dài và chải gọn gàng ra sau, không một sợi nào rời nếp, trông ông giống một quan chức ngân hàng hơn là một sĩ quan cảnh sát. Trừ những lúc ông nhìn chăm chú vào mắt bạn. “Nếu cháu được thừa hưởng khả năng nhạy bén của cha cháu,” ông nói bằng giọng trầm thấp lạ thường, “vậy thì có thể là có vụ gì đó thật. Cha cháu chưa từng sai.” Ông lại cao giọng. “Nhưng cháu là một bác sĩ chứ không phải cảnh sát. Nhà Auseri sẽ không bao giờ có gì phải dây dưa với cảnh sát hết.” Điện thoại reo, ông nhấc máy lên và nghe, rồi lại hét lên, “Được rồi, cứ để họ khám nghiệm tử thi lần nữa, tôi có phải là tay bác sĩ phẫu thuật chết tiệt ấy đâu.” Ông quay lại với Duca và nhún vai. “Họ vẫn gọi chú là sĩ quan Carrùa. Đó là một người khác. Họ đã biết chú mười năm nay và ngày nào chú cũng bảo với họ là: Càrrua , làm ơn gọi vậy đi, nhấn âm vào chữ a đầu tiên, không phải Carrùa với âm nhấn vào chữ u , nhưng chẳng có kết quả gì: Carrùa mới là thứ họ lưu trong đầu và Carrùa là cách họ gọi.”
Anh mỉm cười. Điểm yếu của người đàn ông này là cách phát âm đúng tên gọi của ông: đó là điều bận lòng mà ông luôn giấu kín, một vết thương có vẻ sẽ chẳng bao giờ lành được, vì mọi người, một cách vô thức đều nói là Carrùa , và họ thậm chí còn chẳng bao giờ nghĩ rằng có khi phải phát âm là Càrrua . Anh lại trở nên nghiêm túc, rồi rầu rĩ.
Không, Duca không thích công việc này. “Nếu trong lúc chăm sóc chàng thanh niên này, cháu lại phát hiện ra một chuyện gì đó mờ ám thì sao, cháu nên làm gì? Kỹ sư Auseri là bạn của chú.”
Tiếng hét lần này có vẻ còn dữ dội hơn. “Cháu sẽ không khám phá ra bất kỳ điều gì hết vì chẳng có gì để khám phá ở Auseri cả. Bọn chú đã đi học cùng nhau, đã thực hiện nghĩa vụ quân sự cùng nhau, cùng nhau trưởng thành trong cái thế giới bẩn thỉu này, ông ta có một thằng con trai hơi chậm chạp, nhưng ông ta là người nhất định không chịu bước khỏi vỉa hè nếu đèn giao thông không phải màu xanh. Con trai của Auseri uống rượu vì nó đần, thế thôi. Còn cháu, một đứa thông minh, sẽ dạy nó biết đường mà thích nước chanh hơn.”
Sau đó Duca vẫn lật bài ngửa một cách rõ ràng với ông, vì có ích gì khi làm con trai một cảnh sát, hay con đỡ đầu của một sĩ quan cao cấp ở Sở cảnh sát, nếu bánh xe cuộc đời chẳng đưa bạn đến đâu và bạn vẫn bị nghiền nát? Họ đã bị kẹt với bà Maldrigati và anh không muốn bị nghiền nát thêm lần nữa. “Nghe cháu nói này. Có thể cháu sẽ không khám phá ra chuyện gì hết, như thế thì tốt cho cháu hơn, nhưng nếu cháu khám ra bất kỳ chuyện gì dù nhỏ nhặt thì cháu cũng sẽ đến đây, báo cáo với chú và từ bỏ công việc này. Cháu không muốn dính dáng gì tới mấy người hay mấy chuyện ngoài vòng pháp luật. Đó không phải là một yêu cầu quá đáng, phải không?”
Thay vì tiếng hét mà anh đang chờ đợi, là sự im lặng. Một khoảng thời gian khá dài. Sau đó ông Carrua đứng phắt dậy, cuối cùng cũng hét lên, “Hẳn cháu phải có lý do để nghĩ có chuyện gì đó ngoài vòng pháp luật.”
“Cháu không muốn nói với chú vì chưa có bằng chứng gì chắc chắn,” anh đáp lại một cách rõ ràng mạch lạc, “nhưng đêm qua con trai của bạn chú đã cố gắng tự tử bằng cách rạch cổ tay. Cháu đã kịp thời phát hiện ra. Cậu ta hiện đang ở bên ngoài xe chờ cháu, còn sống và khỏe mạnh. Nhưng một cậu chàng trẻ trung ở tuổi đó sẽ không bao giờ cố gắng tìm tới cái chết nếu không có nguyên nhân kinh khủng sâu xa nào đó.”
“Thế nó không nói cho cháu lý do à?”
“Không, cũng như suốt cả năm qua cậu ta không hề kể cho cha mình nghe lý do vì sao uống rượu, không có một người bạn hay người thân nào dẫn cậu ta vào con đường đó hết. Vả lại cháu nghĩ nếu càng cố hỏi, cậu ta sẽ càng khép kín, không kể gì.”
“Rất nhiều người tự tử chẳng vì lý do gì cả.”
“Davide Auseri không phải là một cô gái trẻ bị lừa tình. Cậu ta có thể còn trẻ nhưng là một người đàn ông. Và cậu ta không hề chậm như chú nghĩ, hay như cha cậu ta vẫn nghĩ. Nếu cậu ta muốn chết thì cậu ta phải có một lý do nghiêm túc, và đối với đàn ông thì lý do gọi là nghiêm túc đấy luôn dính dáng đến pháp luật. Cháu đã phải đối diện với pháp luật đủ rồi. Đó là lý do cháu tới đây để nói với chú rằng, nếu có chuyện gì đó không đúng trong chuyện này thì cháu sẽ bỏ hết, bỏ hết tất cả.”
Không có tiếng hét nào. Ông Carrua lại ngồi xuống. “Cháu nói đúng.” Rồi ông trở nên buồn bã. Ông đã làm tất cả mọi việc có thể để giúp Duca, để bảo vệ anh, để giúp anh tránh ra tòa và vào tù. Nhưng chẳng có kết quả nào ra hồn cả: mọi thứ trở thành công cốc. “Chú không nghĩ cháu sẽ tìm được gì đó, nhưng nếu có thì hãy đến báo cho chú ngay lập tức, và chú sẽ tìm cho cháu một công việc khác.” Trước khi mở cửa, ông ôm anh. “Cố gắng kiên trì nhé. Thêm một, hai năm nữa thì họ sẽ cho cháu hành nghề trở lại thôi, mọi chuyện rồi sẽ lại như trước kia, cháu vẫn còn trẻ mà.”
Anh để mặc ông Carrua tin rằng đó là điều anh hy vọng, dù anh biết rõ rằng hy vọng là một điều xa xỉ, là thứ chẳng ra gì luôn ẩn giấu trong lòng mà không ai có thể tìm cách vứt bỏ hoàn toàn khỏi bản thân mình được. “Cảm ơn vì tất cả những gì chú đã làm cho Lorenza,” anh nói, ôm chặt lấy ông.
Khi anh bước ra đường Fatebenefratelli, dưới ánh mặt trời oi bức cũng nóng như kem cạo râu từ một tiệm làm tóc xa hoa, anh chợt nhận ra rằng nếu bây giờ mình không thấy Davide và chiếc xe Giulietta trên đường Giardini thì hỏng chuyện thật rồi. Nhưng anh vẫn phải chấp nhận mạo hiểm, nếu không thì anh sẽ chẳng bao giờ biết được liệu mình có thể tin tưởng chàng trai đó được không, hay chàng trai đó có tính cách ra sao.
Davide vẫn ở nguyên tại chỗ, đi qua đi lại bên chiếc xe Giulietta trong bóng râm ít ỏi vào giờ này. Duca nhìn thấy cậu ta từ phía sau lưng, cao to, vững chãi, và cảm thấy tiếc cho cậu ta. Bất kể lý do là gì thì chắc hẳn với cậu ta, cũng vô cùng bức bối. “Cảm ơn cậu,” anh nói với cậu ta, ngồi xuống sau vô lăng. “Ghé qua nhà băng một chút nhé, và sau đó tôi xin lỗi nếu đưa cậu tới một nơi có vẻ ảm đạm, vì tôi sẽ tới thăm mộ cha tôi.”
Đến nhà băng, cũng là nhà băng của cha anh, họ đổi tấm séc mà kỹ sư Auseri đưa cho anh sang tiền mặt, một con số khá lớn. Quá trình đổi tiền không gặp chút vấn đề gì, dù họ biết là anh đã từng ngồi tù và dù cha anh chưa từng làm gì nhiều để giúp ngân hàng tăng doanh thu với tài khoản tiết kiệm ít ỏi của ông.
“Sau khi tới Musocco, chúng ta sẽ dừng lại uống một ly,” anh nói, giọng khích lệ. Trong tuần đầu tiên anh không thể giảm quá một phần ba lượng rượu mà Davide đã quen uống, chủ yếu là vì lý do tâm lý: anh muốn cậu ta vẫn cứ là một người bình thường chứ không phải là một thanh niên thèm rượu, vật vã và chẳng nghĩ được gì.
Nghĩa địa ngoài cánh đồng, bao quanh là hàng cỏ xanh rì và các cây bách cao sừng sững, không mang đến cảm giác ớn lạnh như các nghĩa địa lớn trong thành phố lớn, mà là sự bí bách, không hề dễ chịu. Anh chưa từng nhìn thấy phần mộ của cha mình, anh thậm chí còn chẳng tham dự đám tang, và giờ trong túi anh là mẩu giấy mà Lorenza đưa cho anh, trên đó ghi số khu và số mộ, và cùng với Davide, anh đặt chân vào khu vực rộng mênh mông buồn thảm, thậm chí dưới ánh mặt trời, trông nó còn u ám hơn. Tất nhiên, ngôi mộ nằm tít ở cuối và họ phải đi bộ khá xa, trong tay Duca là bó cẩm chướng anh mua ở phía cổng trước.
Đến khu vực được ghi trên giấy, đi bộ thêm một đoạn nữa, ngôi mộ của cha anh hiện ra, cũng giống như tất cả các ngôi mộ khác trong hàng, ngọn nến trong cốc thủy tinh tối màu đã tắt ngấm tự bao giờ, thảm hoa nhỏ đã cháy rụi vì nắng nóng, dòng chữ khắc trên bia “Một con người can đảm” , Pietro Lamberti, năm sinh năm mất, chỉ có thế. Anh đặt bó cẩm chướng xuống thảm hoa, không để tâm sắp xếp sao cho gọn gàng hay đẹp mắt. Qua bức ảnh chân dung, cha anh lạnh lùng nhìn thế giới trước mặt, và Duca trân trân nhìn bức ảnh.
“Đây là cha tôi,” anh nói, như thể đang giới thiệu ông, “một sĩ quan cảnh sát, đến từ vùng Emilia Romagna, cũng giống tôi, nhưng ông không giống một người dân Emilia thứ thiệt, ông không thích cách mạng hay nổi loạn, ông thích luật, ông thích nguyên tắc. Ông toàn tâm toàn ý xử lý tất cả những kẻ phạm luật hoặc phá luật. Ông giống như nhân vật Javert vậy. Ông đã tìm cách để được thuyên chuyển tới Sicily vì ông nghĩ mình có thể đánh một canh bạc tất tay với lũ mafia. Suốt một thời gian, lũ mafia không có hứng thú gì với ông, chúng không dư thời gian mà lãng phí cho một cảnh sát tầm thường, nhưng cha tôi đã đi quá xa: ông tìm cách moi được lời khai từ ba hay bốn tên du côn đã chứng kiến và biết tất tần tật mọi chuyện nhưng luôn nói rằng chúng chẳng biết gì hết. Tôi không biết ông đã dùng biện pháp gì, có thể ông đã phải lách luật một chút, nhưng bằng tiểu xảo của mình, ông đã tìm được cách xuyên thủng bức tường im lặng ấy. Ông được thượng cấp đề bạt, và lũ mafia cử một thanh niên trẻ tới xử ông: đó hẳn là một phi vụ cảm tử, vì cha tôi là một tay súng cừ khôi nhưng đáng tiếc, lại là phi vụ thất bại. Cha tôi đã bắn chết hắn ta nhưng trước đó đã bị đâm vào vai trái, cánh tay trái của ông sau đó gần như bị liệt và ông bị điều chuyển tới Milan, làm công việc bàn giấy.” Anh không nhìn Davide, anh không mấy quan tâm liệu cậu ta có nghe hay không, anh lầm rầm như một kiểu cầu nguyện – không phải tóm tắt cuộc đời của một người là một hình thức cầu nguyện sao? – nhưng anh cảm thấy Davide đang lắng nghe, không chỉ thế, cậu ta chưa bao giờ chăm chú lắng nghe như lúc này.
“Có thể vì ông không muốn chuyện tương tự xảy ra với tôi nên mới phản đối ý định trở thành một cảnh sát của tôi, ông muốn tôi trở thành bác sĩ, như tôi đã làm. Không một ai biết ông đã xoay xở thế nào với mức lương của một cảnh sát bàn giấy trong hoàn cảnh gà trống nuôi con, vì mẹ tôi đã mất khi tôi còn rất nhỏ, nhưng đến ngày tôi tốt nghiệp thì cũng là lúc ông chỉ có thể nằm một chỗ, chịu đựng trái tim co rút từng cơn, và khi tôi thi, ông lên cơn đau tim. Sau đó tôi thực hiện nghĩa vụ quân sự, và đến lúc tôi trở về, khi vẫn kẹt trong văn phòng của ông trên đường Fatebenefratelli, xoay xở kiểu gì không biết, ông tìm được công việc cho tôi, một chỗ làm trong một phòng khám, phòng khám của giáo sư Arquate. Đáng ra tôi sẽ từ từ đi lên, và ông sẽ sống vui vẻ đến tuổi chín mươi, nhưng tôi đã gặp bà Maldrigati. Bà ấy là người phụ nữ già mà tôi đã giết bằng một liều ircodine. Cha tôi thậm chí còn không biết cụm từ ‘chết không đau đớn’, đối với ông nó còn tệ hơn cả việc tôi phát điên, hay phải nói rằng chắc ông cũng nghĩ tôi đã hóa điên, và có lẽ vì lẽ đó mà ông tha thứ cho tôi, nhưng ông sớm nhận ra hậu quả của những gì tôi đã gây ra: tôi sẽ không làm bác sĩ được nữa, sẽ có một vết nhơ trong hồ sơ của tôi, và điều đó đã giết ông.” Cha anh vẫn tiếp tục nghiêm khắc nhìn anh qua tấm ảnh, kể cả khi anh đã chìm vào im lặng, và cho dù ông có nghe thấy lời anh đi chăng nữa thì ông vẫn không hiểu nổi lý do con trai mình giết người. Ông sẽ chẳng bao giờ hiểu được, mãi mãi là thế, ánh mắt của ông trong bức ảnh như đang thể hiện điều đó, một cách rõ ràng.
Đột nhiên giọng của Davide vang lên bên tai anh, dưới cái nóng như thiêu như đốt và sự buồn bã vô tận đó, Duca không nghĩ cậu ta lại là người lên tiếng trước. “Tôi cũng muốn đi thăm mộ.”
Duca gật đầu, tiếp tục nhìn cha mình.
“Nhưng tôi không biết nó ở đâu. Nó hẳn phải ở đây, nhưng tôi không biết ở đâu.”
“Hẳn phải có một văn phòng ở đâu đó,” anh nói với Davide. Anh nhìn cậu ta, giờ khuôn mặt đã bóng nhẫy vì mồ hôi. “Chỉ cần cho họ biết tên của người đó và họ sẽ chỉ cho cậu phân khu và số mộ.”
Giọng Davide vẫn đều đều. “Đó là người phụ nữ mà tôi đã giết năm ngoái. Tên cô ấy là Alberta Radelli.”