Cô Gái Đến Từ Milan

Lượt đọc: 1008 | 3 Đánh giá: 8,7/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
☆ 3 ☆

Sai lầm đầu tiên của anh là việc anh ghét giám đốc phòng khám. Đúng, tất cả mọi thứ ở lão Arquate đều đáng ghét – vẻ ngoài của lão, giống một tên lưu manh giả danh bác sĩ phẫu thuật, tính cách của lão, giọng nói của lão, hành vi thô lỗ của lão – nhưng ghét thì để làm gì! Nếu không thích lão Arquate, anh nên thôi việc ở phòng khám thì hơn.

Nhưng dù ghét lão Arquate đến mấy đi nữa thì anh cũng đã sai khi quá quan trọng chuyện xảy ra sáng hôm đó. Sau một ca khám chỉ theo thủ tục, lão Arquate và anh vừa rời khỏi phòng của bà Maldrigati. Lão vẫn để cửa mở – không bao giờ đóng cửa, đây là vấn đề nguyên tắc đối với lão. Lão đã nói, “Người phụ nữ đó có thể nằm thoi thóp ở chỗ tôi cho tới ngày nghỉ lễ ngân hàng tháng Tám, hoặc thậm chí qua cả khi đó nữa. Lúc nào cũng có mấy người tưởng chừng sắp đi tong đến nơi nhưng chẳng bao giờ chịu biến đi cho khuất mắt.” Giọng lão, vốn đã to như giọng bình luận viên thể thao, còn vang hơn cả thường lệ vì lão đang bực mình. Không chỉ bà Maldrigati, người phụ nữ tội nghiệp được nhắc đến, mà toàn bộ bệnh nhân trong phòng khám hẳn đều nghe thấy lời lão ta.

Lý do cho thái độ không hay đó là hàng năm từ ngày 5 tới ngày 20 tháng Tám, giáo sư Arquate sẽ đóng cửa phòng khám nhỏ xíu nhưng đông đúc của mình và cho các bệnh nhân về nhà, hoặc tuyên bố họ đã đột nhiên lành bệnh hoặc trấn an họ rằng họ cần phải thay đổi không khí. Không phải lúc nào lão ta cũng có thể dọn sạch phòng khám theo đúng ngày lão ta định ra, hoặc phải nói chính xác là do vợ lão ta định ra, người vợ cần đến Forte dei Marmi vào ngày hôm đó, vì năm nào một trong các chị em của bà ta cũng sẽ từ New York đến nghỉ hè với bà ta, mà đôi khi, vì một bệnh nhân nào đó, lão ta phải trì hoãn ngày đó lại, thì đồng nghĩa sẽ cãi nhau với vợ, và lão Arquate sẽ cáu điên lên.

Duca đáng nhẽ không nên thấy phẫn nộ trước những lời lẽ đó, hoặc trở nên quá rầu rĩ trước vẻ tuyệt vọng của bà Maldrigati, người đã nghe thấy lời họ nói. Cả hai phản ứng này đều là sai lầm chí mạng.

Bà Maldrigati đã nghe thấy những lời đó, nhanh chóng hiểu toàn bộ sự việc và rơi vào trạng thái hãi hùng. Bà ta nên rỉ suốt nửa ngày, đến nỗi tiêm thuốc cũng không thể trấn an được, cuối cùng phải viện đến liều thuốc ngủ mạnh nhất mới dỗ bà ta vào một giấc ngủ sâu tưởng không dậy nổi. Bà ta chưa bao giờ có ảo tưởng là mình còn nhiều thời gian để sống, nhưng lời của vị bác sĩ vĩ đại lại cho bà ta biết thời gian còn lại của mình ít ỏi đến mức nào: bà ta sẽ chết trước cả ngày nghỉ lễ tháng Tám, theo những gì mà lão Arquate hy vọng, hoặc nếu không thì cũng rất nhanh sau đó.

Đáng lẽ anh phải để mặc bà ta. Một ca bệnh đáng buồn nhưng không hiếm gặp: nhờ morphine mà bà Maldrigati không phải chịu đau đớn, tất cả những gì anh phải làm là để y tá tiếp tục tiêm thuốc cho bà ta. Thay vào đó, anh lại ở bên cạnh bà hết mức có thể và cố gắng thuyết phục rằng việc bà ta sắp chết không phải là sự thật. Đó lại là một sai lầm khác, bởi vì, dù già nua và bị bệnh ung thư tàn phá, bà Maldrigati vẫn là một người phụ nữ thông minh.

Ở phiên tòa, anh đã bị hỏi khoảng bao lâu sau khi bà Maldrigati nhờ anh giúp bà ta kết liễu cuộc sống thì anh đồng ý tiêm liều ircodine chết người đó cho bà ta.

Anh tiếp tục phạm sai lầm khi trả lời, “Suốt cả buổi sáng ngày 30 tháng Bảy bà ấy đã nài nỉ tôi để bà ấy chết.” Đáng lẽ anh không nên nhắc đến một ngày cụ thể nào, chỉ nói mơ mơ hồ hồ thôi, như thể anh không nhớ rõ lắm.

“Thế anh đã tiêm liều ircodine cho bà ấy hôm nào?”

Anh lại phạm sai lầm khi đưa ra câu trả lời kinh khủng ấy, “Đêm ngày 31 tháng Bảy rạng sáng ngày 1 tháng Tám.”

“Nói cách khác,” công tố viên đã nói, “anh đã đưa ra quyết định giết một người phụ nữ già ốm yếu, dù dưới danh nghĩa tưởng như hợp lý là chết không đau đớn, chỉ trong chưa đầy ba mươi sáu tiếng. Mọi hành vi tự vấn lương tâm mà anh có thể nghĩ đến về giá trị đạo đức khi giết một con người vẫn còn có thể sống thêm vài năm nữa cũng không kéo dài quá ba mươi sáu tiếng, hay thậm chí ít hơn, vì anh hẳn đã phải ngủ từ bảy đến tám tiếng trong số thời gian đó.”

Kể từ khi ấy, anh không thể nào dập tắt được giọng nói đó trong đầu mình, mà mấu chốt là vì sự ngu ngốc hiển hiện trong đó. Trước phiên tòa, anh vẫn tin rằng chắc người ta cũng chỉ ngu ngốc đến một mức độ nhất định thôi, nhưng rồi anh nhận ra đến cả chuyện đó mình cũng nhầm. Nhờ vào tài năng của vị luật sư mà cha anh thuê mới cứu được anh, ít nhất là phần nào, khỏi tất cả những sai lầm mà anh đã phạm phải: ba năm tù giam và bị tước giấy phép hành nghề không phải quá tệ. Đáng nhẽ anh có thể phải nhận đến mười lăm năm tù, chỉ vì đồng ý giúp bà Maldrigati thoát khỏi nỗi sợ tử thần. Chết còn tốn hơn việc sống trong nỗi sợ chết cả trăm lần, như anh đã giải thích ở phiên tòa, lúng túng như như gà mắc tóc, anh đứng bật dậy và gào khóc kể lại, “Đôi mắt của bà Maldrigati tím quạch lại ngay khi nhìn thấy giáo sư Arquate, sau khi ông ấy thông báo cho bà ta biết ngày chết của bà ta.” Hai cảnh sát đã bắt anh ngồi xuống, và ngay khi án phạt được đưa ra, cháu gái của bà Maldrigati đã đi tới chỗ công chứng viên để bàn về khối tài sản thừa kế.

Một sáng nọ, cha anh đã đến nhà tù thăm anh, nhưng lại rời đi gần như ngay lập tức vì ông cảm thấy không được khỏe. Bốn ngày sau, ông chết vì đau tim. Chỉ còn lại một mình suốt ba năm ấy, em gái Lorenza của Duca đã gặp một chàng trai tử tế tỏ ra quan tâm đến con bé, an ủi con bé, làm con bé mang thai, và đến lúc ấy hắn ta mới cho con bé biết là mình đã có vợ, rồi ngay lập tức quất ngựa truy phong. Lorenza đã hỏi Duca là anh có thích đặt tên Sara cho đứa bé không. Từ nhà tù anh đã trả lời là có. Tất cả mới thật sai trái làm sao.

Và anh cũng sai khi không muốn uống thuốc ngủ, vì anh đáng nhẽ có thể tránh việc thức chong chong cả đêm cho tới tận bình minh và nghe giọng nói của Arquate hoặc cha anh, hoặc tiếng rên rỉ của bà Maldrigati, mà chỉ có liều ircodine nhân từ mới dập tắt được. Bác sĩ trong nhà tù cũng đã đề nghị kê đơn cho anh, nhưng anh từ chối. Chắc ai cũng nghĩ lý do anh không ngủ được là bởi ăn năn hối lỗi vì đã giết một người phụ nữ ốm đau trong khi biết đâu bà ấy có thể sống thêm vài năm nữa. Nhưng đúng thật ngu ngốc khi nghĩ rằng bà Maldrigati có thể sống nhiều hơn một hoặc nhiều nhất là hai tháng, chỉ ở phiên tòa người ta mới có thể nghĩ đến khả năng đó, mới nói như thế. Lý do không ngủ được chỉ đơn giản là vì anh không còn mấy quan tâm đến thế giới xung quanh nữa.

Chỉ mới bốn giờ nhưng cơn sóng cuộn trong lòng anh đã thôi không còn trào dâng, có thể màn tra tấn quen thuộc hàng đêm đang dần tạm dừng. Ban nãy anh đã nghe thấy một tiếng động, có thể là tiếng cửa ra vào hoặc một cái cửa sổ bị đóng lại một cách chậm rãi. Davide của Michelangelo chắc đang khó ngủ: thế giới mà cậu ta đang sống chắc cũng chẳng mấy dễ chịu. Duca đứng dậy lấy một cuốn sách. Anh với tay lấy một cuốn ngẫu nhiên, hóa ra lại là lịch sử của nền cộng hòa Salò, và cũng hết sức ngẫu nhiên, anh đọc được một bức thư tín của Buffarini gửi cho Mussolini: sự nhiệt tình của đám người Ý với chiến tranh đã nguội lạnh nhanh chóng từ khi Stalingrad và quân đồng minh đặt chân tới Maroc, lãnh tụ phải ghi nhớ rằng tinh thần dân tộc sẽ rất khác với hồi còn là Vương quốc. Thậm chí cả sự thù địch đối với đám quân đồng minh Đức của họ cũng đang dâng lên.

Anh đóng phắt cuốn sách lại, đứng dậy và cất nó lên giá. Vào thời điểm ấy có một thứ gì đó mà anh không hề thích ở căn nhà này, giống như cảm giác mà vệt mây xám xịt trên bầu trời rạng đông đem lại cho anh. Anh rời khỏi phòng, như thể đã biết thứ mình không thích là gì, dù thực ra là không, và anh gõ cửa phòng bên cạnh, phòng của Davide.

Không ai trả lời. Anh thử vặn tay nắm cửa: cửa khóa. Ngay tức thì, anh nhận ra chuyện gì đang xảy ra và dùng nắm tay nện vào cửa thật mạnh, ba đến bốn lần gì đó. “Mở cửa ra, không thì tôi sẽ phá cửa đấy.”

Không một tiếng trả lời, trong giây lát, anh lại nện cửa, to tiếng hơn, và trong khi anh đập cửa, chìa khóa xoay trong ổ và cửa mở ra. Đúng như lo sợ của anh. Davide đang dùng bàn tay phải đè chặt một chiếc khăn tay trên cổ tay trái, chiếc khăn đã thấm đẫm máu, máu đang chảy xuống tong tỏng. Một cách từ giã cuộc đời đau đớn nhất.

Duca không nói gì, chỉ đẩy Davide vào phòng tắm. Lạ lùng làm sao, có một cái hộp cứu thương trên tường chứa tất cả mọi thứ anh cần. Duỗi thẳng cánh tay vạm vỡ trên bồn rửa, Davide để mặc cho anh làm bất kỳ điều gì anh muốn. Cậu ta đã biết rõ mình làm gì khi rạch cổ tay, với mục tiêu nhắm đến: mất nhiều máu nhất bằng vết cắt nhỏ nhất. Điều đó giúp Duca dễ khâu và băng bó vết thương hơn, và chưa đầy nửa tiếng sau cậu chàng suýt chết vì tự tử ấy đã nằm trên giường. Cổ tay áo sơ mi của cậu ta che khuất phần lớn băng gạc. Cho đến giờ cậu ta vẫn không nói một từ nào, cả khi nằm trên giường như thế, vẫn không nói một từ.

Duca cũng không nói một lời. Không một lời nào hết. Ngay khi đưa được cậu ta về giường, việc đầu tiên của anh là đi tìm chỗ giấu whisky. Đúng là trò chơi của con nít: chỗ duy nhất mà một người cao như Davide Auseri có thể giấu chai rượu chính là trên nóc tủ quần áo, anh kiễng chân tìm cách với tay lên chỗ giấu quá lộ liễu đó và lấy chai rượu xuống. Anh lo lắng nhưng vẫn tự cười một mình: anh không thấp hơn Davide nhiều lắm.

Anh bắt đầu uống rượu: một hớp, rồi hít vào, thêm một hớp dài hơn, lại hít vào, hớp thứ ba, đủ rồi. Anh cần rượu, anh vẫn đang tê liệt vì khiếp hãi, và thậm chí đến cả whisky cũng không khiến anh ấm áp lên chút nào. Anh trả chai rượu lên nóc tủ quần áo, ngồi lên giường của Davide và nhìn cậu ta. Vẻ mặt của cậu ta hết sức bình thường, cậu ta không khóc, da cũng chẳng nhợt nhạt, nó vẫn khô ráo. Đây mới là điều khủng khiếp: cậu ta đã bình tĩnh và quyết định khi vẫn còn minh mẫn rằng mình muốn chết. Ở tuổi hai mươi hai.

“Cậu không bao giờ nghĩ đến những người khác à?” Duca hỏi. Anh nhìn cửa sổ: ánh rạng đông phủ lên mảnh trời vuông vức một màu trắng sữa. Không có câu trả lời. “Không, tôi không nói về cha cậu, nỗi đau đớn mà cậu sẽ mang lại cho ông ấy nếu cậu chết. Tôi đang nói về những người khác, một người bất kỳ, một người mà cậu đi ngang qua trên đường. Tôi chẳng hạn. Giả sử tôi không hề nghe thấy tiếng động vừa rồi: khi cậu đi vào phòng tắm để lấy kéo rạch cổ tay. Giả dụ tôi đang say ngủ, và khi tỉnh giấc tôi phát hiện ra cậu, đã chảy máu tới chết. Tưởng tượng tình thế của tôi xem. Tôi vừa ra tù, chỉ mới cách đây ba ngày. Tôi lại bị tống vào tù vì một tội mà vài người gọi là tội giết người, mặc dù có tình tiết giảm nhẹ về ý thức. Sáng nay họ sẽ phát hiện ra tôi ở đây, với một chàng trai trẻ đã chết, sau một đêm lang chạ với hai cô nàng dễ dãi, tàn dư của cuộc truy hoan ấy vẫn còn ở dưới gác. Cậu không hiểu là cánh báo chí giàu trí tưởng tượng đến mức nào đâu, hay đám cảnh sát có thể hoài nghi như thế nào. Họ sẽ nói đến chất gây nghiện, và vì từng là bác sĩ nên tôi sẽ bị cáo buộc tổ chức một buổi truy hoan điền dã và cung cấp heroin, cocaine, chất thức thần, cần sa; họ có thể thấy hành vi tự tử của cậu rất đáng nghi. ‘Có người đã cắt mạch máu của anh ta trong khi anh ta đang phê thuốc.’ Luôn có một luật sư nào đó sẵn sàng đưa ra cáo buộc như thế trước tòa. Vậy thì tôi sẽ quay vào khám ngay lập tức, và rồi không bao giờ ngóc đầu lên được. Giờ thì nghe những gì tôi nói đây: đúng là cậu chẳng biết gì nhiều về tôi, nhưng tôi có một đứa em gái mới hai mươi hai tuổi với một đứa con gái ngoài giá thú mới một tuổi, và cuộc sống của họ hoàn toàn phụ thuộc vào tôi. Nếu tôi làm việc thì họ có cái ăn, nếu tôi không kiếm ra tiền thì họ sẽ phải sống dựa vào lòng hảo tâm, như họ đã phải trải qua suốt quãng thời gian tôi ở trong tù. Nếu trò đùa tự tử ngớ ngẩn này của cậu thành công thì đời tôi hẳn cũng tèo. Tôi biết là cậu không thể nghĩ đến những điều đó đâu, nhưng tôi thì có, lý do để tôi không bóp cổ cậu ngay khi nhìn thấy cổ tay chảy máu của cậu là vì tôi vẫn còn kiềm chế được đấy.”

Cuối cùng cũng có một từ, chỉ một từ cộc lốc và ngắn gọn được thốt ra, nhưng như thế cũng đủ cảm động: “Xin lỗi,” và mắt cậu ta hơi nheo lại khi nói ra; Davide cũng có khả năng kiềm chế bản thân.

“Đừng có mà lặp lại hành động đó, Davide,” trước đây anh chưa từng đe dọa một người ít tuổi hơn như thế này, “tôi không thể giám sát cậu như hình với bóng, trong khi một người muốn bỏ cuộc chơi sẽ nghĩ ra trăm phương nghìn kế dù có mười gã bảo vệ giám sát đi nữa. Nếu cậu chán đời thì cứ đợi tới khi tôi xong việc, sau một tháng cậu sẽ chỉ muốn uống nước khoáng, sau đó tôi sẽ đi, và cậu có thể làm bất kỳ việc gì cậu thích. Nhưng chừng nào tôi còn ở đây,” anh túm cổ áo sơ mi không cài khuy của cậu ta bằng một tay, và dù nặng như cậu ta, anh vẫn nhấc bổng lên cho tới khi cậu ta gần như đứng hẳn dậy, và ánh mắt họ chạm nhau, “chừng nào tôi còn ở đây với cậu, cậu còn gây chuyện như vậy nữa, tôi tất nhiên sẽ ngăn cản cậu, nhưng sau đó chính tôi sẽ tự giết cậu, và tôi sẽ không nhẹ nhàng đâu.”

Bất kể Davide có thông minh đến đâu chăng nữa thì cậu ta cũng không nhận ra cảnh này có bao nhiêu phần là đóng kịch. Duca thổi phồng sự thật hay đang cố khơi lên trong cậu ta một chút cảm thương để cho cậu ta không tự tử, anh đã cường điệu hành động tự tử của cậu ta có thể tàn nhẫn hủy hoại một người đàn ông, một người đàn ông như anh, dù cho cậu ta và anh chẳng chút thân quen gì. Thỉnh thoảng, ở tuổi hai mươi hai, một lời kêu gọi đồng cảm biết đâu lại có tác dụng.

“Chuyện đó sẽ không tái diễn đâu,” Davide nói, nheo hẳn mắt lại; hẳn là trong lòng cậu ta đang vô cùng rối ren, nhưng vẫn tìm được cách giấu giếm cảm xúc đó gần như trọn vẹn.

Duca đứng dậy, lúc này mới nhận ra trên người mình chỉ có duy nhất chiếc quần. “Tôi đi lấy thuốc lá.” Anh về phòng mình và mặc đồ vào: chiếc áo sơ mi mới tinh, bộ vest màu xanh dương hút mắt, chiếc cà vạt cùng màu siêu nhẹ, tất cả được Lorenza trao cho anh khi ra tù, hay nói chính xác hơn là sĩ quan Carrua, người đã đưa tiền cho cô. Tóc anh cua ngắn gần như sát đầu nên không cần chải, nhưng khi đứng trước gương của tủ đồ thắt lại cà vạt, anh nhận ra mình cần cạo râu. Anh châm một điếu thuốc lá và quay về phòng của Davide.

Giờ mới bình minh, mặt trời còn chưa mọc, nhưng anh không cần bật đèn nữa, anh với tay tắt nó đi. Davide vẫn ở đó, thù lù một đống và chẳng vui vẻ gì, cậu ta nằm trên một cái giường quá chật hẹp so với thân hình, như thể đang nằm trên một tấm ván. Duca cầm một cái ghế, kéo nó lại gần cậu ta. Anh vẫn hút thuốc mà không thèm mời mọc gì.

“Nãy tôi đã không hỏi vì sao cậu lại cố gắng tự tử vì biết cậu sẽ chẳng buồn kể.” Anh không chờ câu trả lời vì anh biết sẽ không có gì hết. Rít thêm vài hơi thuốc, anh nói, “Và bây giờ tôi cũng sẽ không hỏi, vì cậu vẫn sẽ không kể, phải không.”

Trên thực tế quả thật cậu ta chẳng nói lời nào. Nhưng Duca hiểu. Vấn đề không phải ở thói uống rượu, nghiện rượu, như người cha uy quyền của Davide nghĩ. Phụ huynh lúc nào cũng nghĩ con cái mình vẫn còn nhỏ, vẫn cần được bao bọc. Một thanh niên ở tuổi này mà lại khao khát được chết một cách tỉnh như không như vậy, thì lý do phải hết sức nghiêm trọng và sâu sắc. Davide là một thanh niên sinh lực tràn trề từ mọi góc độ, đêm hôm qua Mariolina đã xác nhận chuyện ấy, và để một chàng thanh niên khỏe mạnh có chủ ý quyết tâm kết liễu cuộc đời mình thì hẳn cái tôi của cậu ta đã phải gánh một vết thương đau đớn. Một sự kiện đơn giản, dù có nghiêm trọng đến mức nào đi nữa, cũng sẽ không khiến cậu ta rơi vào tình trạng này: dù cậu ta có giết người, cậu ta có châm lửa thiêu sống một bà già hay đặt bom ở tầng hầm của ga trung tâm Milan thì cậu ta cũng sẽ không hành xử như thế. Davide Auseri đã bị tổn thương sâu sắc bởi một thứ gì đó hoặc một ai đó. Đó là việc mà anh phải tìm hiểu cho bằng được. Nát rượu chỉ là trò trẻ con hòng qua mắt cha cậu ta mà thôi.

“Cậu đã được nghỉ ngơi đầy đủ rồi, giờ thì đi thôi.” Anh đứng dậy và ném đầu thuốc lá ra ngoài cửa sổ, bầu trời vẫn một màu trắng sữa như lúc chạng vạng, chẳng đậm hay nhạt hơn so với lúc trước, như thể bình minh chưa muốn rời đi. Lạ lùng hơn là không có bản giao hưởng nào cho buổi bình minh. Không gian im ắng như đang giữa đêm vậy. “Đây không phải là chỗ phù hợp cho cậu hoặc cho tôi. Rời khỏi đây luôn đi. Tôi sẽ đóng gói hành lí hộ cậu: trong vài ngày tới tốt nhất là cậu cố gắng dùng tay trái ít nhất có thể. Tôi không nghĩ cậu buồn ngủ. Tôi cũng vậy.”

Với những chỉ dẫn cần thiết từ Davide, anh ngay lập tức tìm được một chiếc va li mềm, đẹp, màu xanh dương đậm, và lấy tất cả những gì họ cần cho vào đó. Sau đó, anh dùng giấy vệ sinh tỉ mẩn lau sạch vết máu dẫn từ phòng ngủ tới tận phòng tắm – để nuôi Lorenza và cháu anh thì anh sẽ phải làm cả việc này và hơn thế nữa. Khi mọi thứ đều đã sẵn sàng, anh nói, “Giờ thì cậu có thể đứng dậy. Có thể tôi bỏ sót vài vết máu nên trước khi đi, hãy đánh thức người giúp việc, quản gia, bất kỳ ai cậu thích, và báo cho họ biết rằng cậu sắp đi, sau đó dù họ có phát hiện ra các vết máu mà tôi đã bỏ sót thì họ cũng sẽ không nghĩ là đã có một vụ giết người nào đó và chúng ta đã bỏ trốn.”

Davide rầu rĩ nghe lời anh ngay lập tức, cậu ta đánh thức quản gia dậy, ông ta xuất hiện trong chiếc áo ngủ tối qua. Cậu ta bảo ông ta mang va li ra xe rồi im lìm ngồi xuống cạnh Duca ở ghế phụ lái, biết rõ rằng mình sẽ không phải là người điều khiển.

Họ đi khỏi những ngọn đồi thoai thoải của Brianza xuống đồng bằng Milan và gần đến Monza, họ tìm được một quán ăn đang mở cửa: rõ ràng không có rượu whisky để uống, nó không giống một quán bar mà giống một nhà kho hơn, nhưng mặt Davide bắt đầu trắng bệch ra và cần nạp năng lượng. Duca gọi hai ly rượu nho. Davide đã nốc cạn ly rượu của mình nên Duca đưa cho cậu ta ly rượu của anh.

“Quá trình trị liệu bắt đầu từ lúc này,” anh nói. “Bất kỳ lúc nào tôi nghĩ là cậu thật sự cần uống rượu, tôi sẽ cho cậu một ly. Không thì đừng mong dù chỉ một giọt và tôi sẽ ngăn cậu bằng mọi cách có thể.”

Davide uống nốt ly rượu thứ hai, quá ít, như muối bỏ bể và gợi nhớ đến thời mới bập vào rượu chè, một thế giới với rượu vang và giày cao gót, khiến Duca phải nói, “Uống thêm một ly nữa đi, mệnh lệnh đấy.” Anh trở lại sau vô lăng và một lúc sau nhìn sang Davide; vẻ xanh xao của cậu ta đã biến mất, hơi thở đã trở lại bình thường. Rõ ràng việc mất máu ngớ ngẩn kia không phải thứ khiến cậu ta nhợt nhạt. Mà là con rắn hổ mang trong lòng cậu ta, nó đang ăn mòn cậu tạ, dần dần.

“Nếu cậu kể cho tôi biết chuyện gì đã xảy ra với cậu và để tôi giúp cậu thì sẽ tốt hơn cho cậu đấy,” Duca nói. Anh không mong được đáp lại. Và đúng là như thế.

« Lùi
Tiến »