Cô Gái Đến Từ Milan

Lượt đọc: 1006 | 3 Đánh giá: 8,7/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
☆ 2 ☆

Tất cả đều diễn ra hết sức nhanh gọn: ông hoàng nhỏ con với quần ống côn lại trở nên mệt mỏi, thốt ra thêm vài câu thoại như một diễn viên đã mệt lử, con trai ông ta sẽ tiếp đãi anh, ông ta nói, ông ta rất tiếc vì không thể ở lại. Ông ta thậm chí còn có vẻ miễn cưỡng khi nhìn con trai mình, nói lời tạm biệt mà không thèm nhìn mặt, sau đó chìa tay ra để chào Duca và nói, “Cứ gọi điện thoại nếu cần thiết, nhưng thời gian tới gặp được tôi không dễ đâu,” đó hẳn là một cách nói lịch sự thể hiện rằng không muốn bị làm phiền. “Cảm ơn anh rất nhiều, bác sĩ Lamberti,” và chỉ đến lúc chuẩn bị tiến ra vườn, mới dành một giây để nhìn đứa con trai đô con của mình, ánh mắt như chứa đủ mọi điều, đầy ăm ắp mọi cảm xúc: thương ghét, yêu dữ dội, trào phúng, khinh miệt, một tình thương đau đớn của một người cha.

Sau tiếng lạo xạo phát ra từ sỏi mà chân giẫm xuống là sự im lặng, tiếp theo là tiếng động cơ xe nhẹ nhàng khởi động, tiếng lốp xe lăn bánh ra đường nhạt nhẽo và không còn gì nữa.

Họ đứng hồi lâu trong im lặng, chẳng nhìn nhau. Davide Auseri chỉ từ tốn lắc lư người đúng hai lần suốt quãng thời gian đó: không có gì quá trớn ở vẻ say xỉn của cậu ta hết, đặc biệt là khuôn mặt. Nét mặt của cậu ta biểu lộ điều gì nhỉ? Duca cố gắng phỏng đoán, và rồi nhận ra: đó là khuôn mặt của một cậu học sinh trong một kỳ thi quan trọng nhưng lại không trả lời nổi một câu hỏi, vẻ mặt pha trộn giữa khổ não và nhút nhát, xen kẽ trong đó còn là vẻ tự nhiên gượng gạo đầy khốn khổ.

Đó là một khuôn mặt hiền lành, khuôn mặt của một thằng bé chạy việc lặt vặt, vậy nhưng cũng rất đàn ông, như thể chưa bị rượu tàn phá. Cậu ta rất thanh lịch, thể hiện qua mái tóc vàng sẫm màu rẽ ngôi lệch, râu lởm chởm trên má, chiếc áo sơ mi trắng với hai ống tay áo được xắn lên ngang bắp tay vạm vỡ phủ đầy lông tơ, quần cotton dài màu đen, đôi giày đen xỉn màu: hình mẫu một thanh niên Milan trẻ trung mẫu mực, phảng phất hơi thở Anh quốc, như thể Milan, một phần nào đó, về mặt đạo đức, là một phần của vương quốc Anh.

“Ngồi xuống đi” Duca nói với Davide, cậu ta lảo đảo lần nữa rồi nhẹ nhàng thả mình xuống ghế bành. Anh nói câu đó với cậu ta một cách nghiêm nghị, bởi vì dù đã phải ngồi tù thì anh vẫn còn chút lương tâm, không phải dưới hình thức một bó cơ trong ngực mà giống như một hình trái tim mà người ta vẫn thấy trên các tấm thiệp chúc mừng. Sự lạnh lùng sẽ giúp bạn che giấu cảm xúc, đặc biệt là sự yếu đuối. Đến cả một bác sĩ cũng có thể thấy buồn trước một căn bệnh tinh thần, và tinh thần của chàng trai này rõ ràng là không khỏe mạnh. “Ngoài chúng ta ra, còn ai ở trong dinh thự này nữa?” Anh hỏi cậu ta, một lần nữa bằng giọng nghiêm nghị.

“Trong dinh thự này à, để xem,” câu hỏi mang tính kiểm tra này không khó, không khó như việc trò chuyện với một người xa lạ đối với chàng trai này, “trong dinh thự này, thôi cứ gọi nó là nhà đi, còn có một bà giúp việc, vợ của người làm vườn, có một quản gia, rồi có cả một đầu bếp nữa, giờ bà ta đang chuẩn bị bữa tối, đến cả cha tôi cũng bảo rằng bà ta không đáng được gọi là một đầu bếp, nhưng chúng ta đành phải chấp nhận thôi.” Cậu ta mỉm cười khi nói chuyện, duyên dáng vào vai một thanh niên có tài ăn nói.

“Còn ai nữa?” Duca ngắt lời một cách gay gắt.

Đôi mắt của chàng thanh niên khổng lồ như mờ đi vì sợ hãi. “Không còn ai nữa,” cậu ta trả lời ngay lập tức.

Đây là một ca khó. Anh không được phép phạm sai lầm khi kết thân với người này: cậu ta say xỉn nhưng vẫn khá minh mẫn. “Cố gắng đừng sợ tôi, không thì chúng ta sẽ không đi tới đâu cả.”

“Tôi không sợ,” Davide nói, nuốt nước bọt sợ sệt.

“Việc cậu sợ cũng hợp lẽ tự nhiên thôi, trước đây cậu chưa từng gặp tôi và cậu biết là mình sắp phải làm theo tất cả những gì tôi nói. Đây không phải là điều thoải mái dễ chịu gì, nhưng lại là điều cha cậu mong muốn. Nếu cậu thoải mái thì ta cùng bắt đầu bằng những việc đáng xấu hổ của cha cậu nào.” Chàng trai trẻ không hề cười, sự dí dỏm của một giáo viên chẳng bao giờ khiến một thí sinh đang sợ hãi mỉm cười cho được. “Cha cậu đã nhào nặn cậu, luôn luôn áp đặt ý chí của ông ấy lên cậu, ngăn cản cậu trở thành một người đàn ông thực sự. Tôi ở đây để giúp cậu cai rượu, và tôi có thể làm vậy một cách dễ dàng, nhưng đó không phải là căn bệnh thực sự của cậu. Cậu không đối xử với con trai mình như thể nó vẫn còn là một thằng bé phải ngồi im thin thít ở bàn ăn. Cha cậu đã sai lầm và điều đó không thể cứu vãn, thậm chí tôi cũng sẽ không cố làm gì. Khi cậu cai được rượu thì tôi sẽ đi, và điều đó sẽ khiến cả hai ta cùng nhẹ nhõm. Vậy nên cậu cần phải cố gắng tỏ ra bình thản nhất có thể. Không tính đến nhiều thứ khác, việc mọi người sợ tôi khiến tôi khó chịu.”

“Tôi không sợ, bác sĩ.” Cậu ta có vẻ sợ hãi hơn.

“Bỏ đi. Và bỏ cả danh xưng bác sĩ đi nữa. Tôi không thích tỏ ra thân thiết quá sớm, nhưng trong trường hợp này thì đó là điều cần thiết. Chúng ta sẽ gọi nhau bằng tên.” Cố gắng kết bạn với chàng trai này, cố gắng phỉnh phờ cậu ta sẽ là sai lầm: chàng thanh niên này rất thông minh, nhạy cảm, cậu ta sẽ không bao giờ tin tưởng tình bạn bất thình lình từ trên trời rơi xuống. Nói thật vẫn tốt hơn, dù cho anh vẫn có thể nghe thấy lời luật sư biện hộ của mình thì thào bên tai: Đừng bao giờ, đừng bao giờ, đừng bao giờ nói ra sự thật, cứ để nó biến mất thì hơn.

Sau đó người giúp việc lớn tuổi bước vào. Bà ta trông giống một nông phụ do sơ suất mà bước vào dinh thự này, và cảm thấy bối rối khi nhìn thấy họ ở đây. Bà ta cáu kỉnh hỏi liệu có nên bày biện bàn ăn ngay không, cho bao nhiêu người. “Tám giờ rưỡi rồi đấy,” bà ta châm chọc đế thêm.

Thậm chí câu hỏi này cũng khiến đôi mắt buồn của cậu bé khổng lồ ánh lên vẻ lo âu, và Duca phải xử lý nó ngay. “Ra ngoài ăn đi. Báo với người làm trong nhà là họ có thể nghỉ tối nay.”

“Chúng tôi sẽ ra ngoài ăn,” Davide nói với người phụ nữ đang càu nhàu, bà ta khinh khỉnh giây lát rồi hờ hững rời khỏi phòng y như lúc bước vào.

Nhưng trước khi đưa chàng trai ra ngoài ăn tối, Duca thấy rằng cần phải kiểm tra tổng quát cơ thể cậu ta, nên đã yêu cầu Davide đưa anh lên phòng cậu ta trên tầng, và bảo cậu ta cởi đồ. Davide cởi quần xuống nửa chừng rồi lưỡng lự dừng lại, nhưng Duca ra dấu bảo cậu ta cởi hẳn. Cậu ta lúc khỏa thân trông còn to lớn hơn cả khi mặc đồ, và Duca cảm thấy như thể mình đang ở Florence, ngắm nhìn bức tượng David của Michelangelo, hơi béo chút đỉnh nhưng chỉ tí tẹo mà thôi.

“Tôi biết là hơi ngại, nhưng xoay người lại và đi vài bước xem nào.”

Davide nghe lời như một đứa trẻ, tệ hơn nữa, như một con chuột trong phòng thí nghiệm làm theo một lộ trình đã được sắp đặt sẵn dựa trên các tín hiệu kích thích truyền tới, chỉ có điều cậu ta không thể xoay người một cách chính xác cho lắm và lảo đảo hơn so với lúc trước.

“Đủ rồi. Giờ thì nằm xuống giường đi.” Ngoài một chút rối loạn chuyển động do trạng thái say rượu, dáng đi của cậu ta không cho thấy có gì bất thường. Khi cậu ta nằm xuống giường, Duca cảm nhận gan của cậu ta, và qua khám bệnh sơ bộ thì đây là lá gan của một người hoàn toàn không nghiện rượu. Anh xem lưỡi của cậu ta: hoàn hảo; anh kiểm tra da cậu ta tỉ mỉ tới từng centimet: hoàn hảo, mặc dù kết cấu da hiển nhiên thuộc về nam giới, nhưng nó trong và đàn hồi như da của một phụ nữ xinh đẹp. Đến rượu cũng cần thời gian mới có thể ăn mòn được kiệt tác này của tạo hóa.

Hẳn phải có khiếm khuyết ở đâu đó chứ nhỉ. “Cứ ở nguyên trên giường nhé,” anh nói, “nhưng nói xem tôi có thể tìm kéo ở đâu.”

“Trong phòng tắm, cứ ra hành lang đi, nó nằm ngay bên cạnh đấy.”

Anh mang theo kéo từ phòng tắm quay lại và bắt đầu chọc vào chân, bắp chân, cẳng chân của Davide, dùng một hoặc cả hai mũi kéo. Câu trả lời lúc nào cũng hết sức rõ ràng: Davide trẻ tuổi là một kẻ nghiện rượu nhưng cho tới giờ rượu hoàn toàn không để lại một chút ảnh hưởng nào.

“Cậu có thể mặc đồ lại, sau đó chúng ta sẽ đi ăn tối. Tôi nghĩ là có một chỗ gần Inverigo đấy.” Anh nhìn ra ngoài cửa sổ trong khi Davide mặc đồ vào, rồi nói, “Chắc hẳn cha cậu đã cho cậu biết là tôi vừa mới ra tù?” Đó rõ ràng là một câu hỏi không cần trả lời.

“Đúng thế.”

“Vậy thì tôi chắc chắn là cậu sẽ hiểu chuyện này. Ngày mai chúng ta mới bắt đầu điều trị. Tối nay tôi muốn thư giãn đã. Khá là khác so với những gì ở đây, cơm tù khiến người ta tuyệt vọng lắm. Tối nay cậu sẽ là người bầu bạn với tôi.”

Trước khi họ ra ngoài, Duca bắt Davide dừng lại dưới ánh đèn và lướt hai ngón tay qua má trái của cậu ta, ở đó trông như thể có một vết bụi than, chỉ có điều không có bụi than nào cả.

“Có đau không?”

“Có.” Cậu ta có vẻ đã bớt sợ sệt. “Không nhiều, chỉ vào buổi đêm thôi. Tốt nhất là tôi không nằm đè lên bên đó.”

“Dùng que cời lửa để đánh cậu có vẻ hơi quá đáng rồi.”

Lần đầu tiên Davide mỉm cười. “Tối hôm đó tôi say quá.” Cậu ta đang bào chữa cho cha mình, và nghĩ rằng sự trừng phạt đó là xứng đáng, cậu ta hẳn sẽ chìa má còn lại ra nhận cú đánh thứ hai.

Xe ô tô của chàng thanh niên kỳ lạ này của hãng Giulietta, rõ ràng là có màu xanh dương đậm, nội thất bên trong màu xám, và hiển nhiên không có radio hay bất kỳ một phụ tùng nào khác: nếu có thì trông chắc tầm thường lắm. Nó không nằm xa quả đồi nơi dinh thự nhìn xuống Inverigo, nhưng chẳng mấy chốc sau khi Davide ngồi xuống sau vô lăng, Duca đã nhìn thấy dinh thự nằm cao vời vợi sát bầu trời, sau đó con đường bên dưới gần như đập thẳng vào mắt anh, những cú xóc nảy liên hoàn, đèn pha chói lóa, hẳn là đèn của các xe khác, và con xe Giulietta dừng lại: họ đã đến nơi.

“Cha cậu đã cho tôi biết cậu lái xe nhanh đến mức nào,” anh nói, “nhưng lại không nói cậu lái giỏi đến mức nào.” Con đường hẹp và đầy khúc quanh, thời gian này trong năm cũng có rất nhiều xe cộ: phải là một lái xe siêu đẳng mới đi hết quãng đường đó nhanh như vậy được.

Duca vẫn tiếp tục cố gắng với ca bệnh khó nhằn của mình, dù anh cảm thấy những nỗ lực của mình nãy giờ chẳng khác gì nước đổ lá khoai, vô ích như việc cố gắng tưới nước vào sa mạc. Davide không nói chuyện một cách tự nguyện, cậu ta chỉ trả lời câu hỏi, và nếu câu trả lời chỉ cần đáp lại bằng một từ “có”, cậu ta sẽ làm như thế ngay tắp lự. Đầu tiên, anh đưa cậu ta đến quầy bar. “Cứ thoải mái uống một ly whisky đi, ngày mai chúng ta mới bắt đầu trị liệu.”

Nơi này, cũng giống dinh thự, nằm ở sườn đồi, và dù cho người ta cố gắng khoác cho nó vẻ ngoài của một hộp đêm, thì nó vẫn giống một vũ trường hơn. Sàn nhảy nằm ngoài hiên, nhìn xuống một khu vườn. Không có khách khứa gì mấy, chỉ có vài kẻ chơi bời kín đáo xuất hiện dưới ánh sáng lờ mờ trong một ngày giữa tuần như này. Ngay lúc này, hai thanh niên đang nhảy theo nhạc phát ra từ máy hát tự động. Theo áp phích quảng cáo thì sẽ có một ban nhạc hoành tráng chơi nhạc lúc mười giờ, nghe như kiểu phải có đến năm mươi nhạc công, nhưng lại chỉ có bốn nhạc cụ trên bục.

Trên hàng hiên nhỏ có một nhà hàng với vài cái bàn được bày biện. Chưa đến một tiếng đồng hồ, họ ngốn hết chỗ thịt nguội đầy mùi tủ lạnh, trong khi món thịt gà nấu đông được nấu rất ngon, và món salad capricciosa tàm tạm không có gì để nói. Điều tuyệt vời nhất chính là không khí dịu mát và khung cảnh trong bóng tối, gồm các ngọn đèn sáng lốm đốm từ những căn nhà và mái tranh, đèn đường, nằm thoai thoải dẫn xuống vùng đồng bằng ở Milan.

Davide ăn, nhưng rõ ràng cậu ta đang thấy hết sức vất vả. Cậu ta thậm chí không uống quá nửa ly rượu vang, cũng không nói một lời nào, vậy nên trước khi cậu ta ăn xong salad, Duca đứng dậy, đi tới quầy bar và tìm được ba loại whisky. Anh cầm cả ba chai về bàn. “Chọn loại cậu thích đi, với tôi thì loại nào cũng được.”

“Tôi cũng vậy.”

“Thế thì chúng ta sẽ lấy chai to nhất. Tôi không xin đá hay soda vì tôi không nghĩ là cậu cần chúng.”

“Tôi luôn uống rượu nguyên chất.”

“Tôi cũng thế.” Anh rót một ít whisky vào cốc rượu vang của Davide. “Kể từ bây giờ, bất kỳ lúc nào cậu muốn uống rượu thì cứ uống. Tôi đãng trí lắm, với lại tôi có rất nhiều chuyện để nói với cậu.”

Và anh tiếp tục chuỗi câu hỏi của mình, đó là cách duy nhất để giao tiếp với người đồng hành, cách duy nhất để cậy cái miệng kín như bưng của cậu ta nói ra được vài câu. Lâu lâu anh lại hỏi một câu, và lâu lâu Davide sẽ trả lời, thỉnh thoảng tiếng nhạc từ ban nhạc đang chơi sẽ vọng lại từ sàn nhảy, và trên nóc hàng hiên nhỏ ấy là các vì sao nhấp nháy.

Phải, mẹ cậu ta rất cao, đó là câu trả lời cho một câu hỏi. Mẹ cậu ta quê ở Cremona, một câu trả lời nữa. Không, cậu ta không thích biển, nhưng mẹ cậu ta thì rất thích. Bà ấy cực kỳ thích biển, họ có một ngôi nhà ở Viareggio nhưng kể từ ngày mẹ của cậu ta mất thì họ mới chỉ về đó có một lần; không, cậu ta chưa từng có bạn gái đúng nghĩa: đây là câu trả lời cho câu hỏi, “Cậu có thể kể cho tôi nghe về người bạn gái đầu tiên của cậu không?”

“Đúng nghĩa chỉ là một cách nói mà thôi,” Duca vẫn gặng hỏi, “một cô gái để đi chơi cùng nhau vài ngày, một tuần gì đó.”

Câu trả lời là “không”.

Duca thấy hơi mệt mỏi. Anh rót một cốc rượu cho Davide: như một kẻ theo chủ nghĩa khắc kỷ, khi đã hết cốc đầu tiên, anh không hề rót thêm rượu cho mình, mà gần như đổ đầy tràn cốc của chàng trai kia. “Như thế này không tốt, nhưng chúng ta đỡ phải mất công rót đến hai mươi lần. Biết đâu cậu lại hào hứng hơn với cuộc trò chuyện này. Tôi muốn nói chuyện về đàn bà, mà không chỉ nói về họ thôi đâu. Lần cuối cùng tôi chạm vào cánh tay của một cô gái là bốn mươi mốt tháng trước. Tôi đã tỉnh dậy bên cạnh cô ta và nhận ra rằng tay tôi đang đặt lên cánh tay cô ta, cô ta vẫn đang ngủ, sau khi tỉnh dậy thì cô ta đã rụt tay về. Kể từ khi ấy đã bốn mươi mốt tháng trôi qua. Tôi không nghĩ là mình còn có thể tiếp tục sống như một tu sĩ bất đắc dĩ thế này được nữa.” Nếu cứ để như vậy, anh cảm giác có lẽ chính mình cũng sẽ chui vào cái vỏ mà Davide đang trốn tránh như bây giờ.

“Ở đây chắc anh sẽ không gặp may đâu,” Davide nói. Một câu khá dài thốt ra từ miệng cậu ta.

“Không biết, để xem thế nào.” Anh bỏ cậu ta lại một mình trên hàng hiên nhỏ dưới các vì sao và đi qua quầy bar tới sàn nhảy. Nó đã đông hơn một chút, và không có nhiều đàn ông cho lắm, mặc dù số đàn ông ít ỏi trên sàn cũng đã khá huyên náo. Trong số các cô gái tao nhã ở đó, anh đánh giá từng cô một: những cô nàng từ Milan đều có bạn đi cùng và ăn diện như công chúa Soraya, những cô còn lại trông rất chân chất, vòng cổ bằng nhựa, kiểu tóc được bới bởi những cô bạn đang tập tành làm tóc của họ, và đi đôi sandal màu vàng ánh kim lạc quẻ. Nhưng từ lâu anh đã không còn niềm tin vào vẻ ngoài giản dị của họ. Anh quay lại với hàng hiên nhỏ, ở đó anh hài lòng khi thấy Davide đã uống xong cốc whisky, và dẫn cậu ta ra sàn nhảy. Cậu ta không lảo đảo hơn so với trước đó, một khi bạn đã nốc một lượng rượu nhất định vào trong người thì hoặc bạn bình tâm như người đi trên dây hoặc bạn ngủ thiếp đi.

“Tôi không biết nhảy,” Davide nói. Họ ngồi xuống một chiếc bàn cách xa ban nhạc, ở một trong những góc kín đáo và ít ánh sáng nhất của nơi này.

“À, tôi thì nhảy rất giỏi.” Anh khiến người bồi hài lòng bằng việc hăm hở gọi whisky, rồi đứng dậy đi mời một cô gái khiêu vũ cùng mình: một trong những cô nàng quê mùa nhất, cô ta thậm chí còn không hề trang điểm. Đến cuối điệu nhảy, cô gái nhận lời mời uống một ly nước cam ở bàn họ. “Em không thể ở lại quá muộn. Cha em chỉ cho đi chơi đến mười một giờ, về nhà lúc nửa đêm cũng được nhưng nếu ông tỉnh giấc thì em tiêu đời.”

“Thật đáng tiếc,” anh nói. “Bạn anh có một dinh thự ở đây, cậu ấy có một máy quay đĩa và vài đĩa nhạc tuyệt lắm.”

Nghe đến từ “dinh thự”, cô gái trở nên đăm chiêu, anh dẫn cô ta quay lại sàn nhảy ngay khi ban nhạc cất tiếng đàn trở lại và dịu dàng trò chuyện với cô ta. Cô ta có vẻ là kiểu con gái hiểu được tâm tính của hai gã cô đơn trong một đêm đầy sao như tối nay, và đến cuối điệu nhảy đã đồng ý hai chuyện: cô ta sẽ tới dinh thự, và cô ta sẽ đưa một người bạn đi cùng.

“Nhưng anh sẽ phải đưa chúng em về nhà sớm, muộn nhất là mười một giờ rưỡi,” cô ta luôn miệng nài nỉ, có phần gượng ép. Cô ả thậm chí còn để giờ giới nghiêm của mình dôi thêm nửa tiếng.

Không tốn nhiều thời gian để người bạn ấy xuất hiện, cô gái đi đâu mất ba phút và quay lại cùng một cô nàng giống hệt cô ta, trông họ như chị em song sinh vậy, chỉ khác về màu tóc, vì cô nàng đầu tiên tóc vàng còn cô thứ hai tóc nâu. Sự tương đồng của họ không thuộc về mặt cơ thể hay bộ cánh họ mặc, mà là sự tương đồng về tâm hồn. Cả hai đều tán thành việc anh mua vài chai bia nhỏ, cũng hài lòng với Giulietta, và sẵn sàng tán gẫu trên đường lái xe về, nhưng với tốc độ một trăm hai mươi cây số một giờ thì việc hé răng nói nửa lời vượt quá khả năng của họ, và thậm chí hai ả chỉ thở lại được một cách bình thường khi xe đỗ xịch ngoài cửa dinh thự. “Tôi không thích phóng xe bạt mạng như thế,” cô nàng tóc nâu nói: rõ ràng tên cô ta là Mariolina, hay Mariolina là cô nàng còn lại nhỉ? “Lúc về hãy lái xe chầm chậm thôi, không thì chúng tôi thà đi bộ còn hơn.”

Suốt cả thời gian còn lại của bữa tiệc Davide không nghiêng ngả nữa, cậu ta chỉ hơi mất tự nhiên, và không nói gì. Duca là người duy nhất pha trò, vì một khi đã quyết tâm cống hiến sức lực cho việc giải cứu thế giới thì bạn hẳn sẽ phải làm cho rốt ráo, không phải sao, bác sĩ Duca Lamberti – anh lắc đầu – và anh, bác sĩ Duca Lamberti – anh lại lắc đầu – là người hùng của thế giới, à không, công tước chứ, Duca có nghĩa là công tước, không phải sao, à, buồn cười ghê nhỉ: đúng thế, anh có thể cứu rỗi loài người khỏi chứng nghiện rượu, mà đại diện ngay lúc này là Davide Auseri; anh có thể giải phóng loài người khỏi nỗi sợ tử thần, trong trường hợp đó loài người hiện thân qua hình dạng của bà Sofia Maldrigati, người có đôi mắt lập tức chuyển sang màu đỏ tía vì khiếp hãi mỗi lần lão bác sĩ tham vấn thích kể chuyện đùa tục tĩu đến gần bà ta, anh có thể cứu chuộc bất kỳ ai khỏi bất kỳ căn bệnh nào, cứu chuộc là nghề của anh, và anh trò chuyện suốt gần một tiếng đồng hồ với hai cô gái cùng với Davide, anh cố gắng sửa máy quay đĩa nhưng nó đã hỏng và rồi một trong hai cô gái bật đài radio Roma 2 lên, và anh tiếp tục đóng vai như một diễn giả vì giờ đã có nhạc khiêu vũ làm nền.

Vừa rót rượu, anh vừa cho hai cô gái biết bạn của mình tên là Davide và cậu ta bị câm. Hai cô gái khá giữ ý tứ và không uống quá nhiều, những chuyện mà họ kể cho hai người đàn ông về bản thân mình có phần hoang đường, nhưng anh và Davide vẫn chấp nhận những chuyện đó như thể họ tin lắm, vậy nên tất cả bọn họ đều góp phần khiến cho buổi tụ hội ít người này không bị cợt nhả quá trớn, cho tới khi Duca kéo Mariolina sang một bên một lát, cứ tạm cho rằng đó là Mariolina, và giải thích tình huống hiện thời.

Vài phút sau, Mariolina tìm được cách để lôi Davide ra khỏi chiếc ghế bành và cùng cậu ta uốn éo đi lên cầu thang về phía phòng ngủ tầng hai: dù đã đi giày cao gót và làm tóc thì cô ta cũng chẳng cao tới vai Davide. Khi đôi trẻ đã biến mất, Duca duỗi người trên sofa; cô gái còn lại người mềm nhũn trong tiếng nhạc và vài ly rượu chếnh choáng, cô ả ngồi bệt xuống sàn nhà, cạnh anh, với mái tóc dài ôm lấy khuôn mặt, biến thành một Françoise Hardy duyên dáng, đang lẩm nhẩm lời nhạc của một khúc bi ca. Sau đó cô ta dừng lại và nói, vừa cụ thể và rõ ràng, vừa không thiếu phần nóng bỏng, “Này anh, chúng ta cũng đã ở đây rồi, có chỗ nào để mình cùng ngả lưng được không?” Và cô ta đánh mắt lên tầng hai, hy vọng cũng có giường cho mình trên đó.

Anh rót cho cô ta một ly rượu nữa, và bản thân anh cũng uống thêm. Anh không thể nói cho cô gái biết rằng việc kiêng khem tình dục lâu ngày đã tạo ra một dạng rào cản tinh thần trong anh, một kiểu chay tịnh, sống trong cái khổ cũng quen rồi. Về cơ bản, tránh xa nhục dục cũng là một thói quen không tốt: một khi bạn bắt đầu trở nên lãnh cảm thì không dễ thoát khỏi thói quen đó và rồi ngày càng trở nên thờ ơ. Sau một câu hỏi như thế từ một phụ nữ, đặc biệt là ở Ý, từ chối khéo léo thế nào đi nữa cũng đều bất khả thi. Một cô ả quyến rũ lại thành thực, nhiệt tình như Françoise Hardy, đã thẳng thắn gạ gẫm anh ở lại, thì ả sẽ không bao giờ hiểu được. Cô ta sẽ thấy bị sỉ nhục, sẽ nghĩ anh là kẻ yếu sinh lý theo đúng nghĩa đen, thậm chí có khi còn nghĩ anh là “gay” cũng nên. Anh không muốn làm cho một cô gái xinh đẹp từ vùng Brianza tuyệt vời này phải buồn phiền. “Ở đây thích hơn đấy, nhưng em hãy tắt radio đi.” Từng có một sĩ quan phát xít cấp cao trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha thích làm tình trong tiếng nhạc Bolero của Ravel: Duca không muốn trở nên đến mức ấy.

Tầm một giờ rưỡi sáng, Mariolina biết ý biết tứ đi xuống nhà một mình. Duca và Françoise Hardy đã bật lại radio, cũng tỏ ra lịch sự không kém, đang cố gắng chứng tỏ họ là những tri âm tri kỷ của nhau. Trước khi Mariolina có thể đi hết cầu thang, anh tiến tới chỗ cô ta và nhẹ nhàng kéo ả ngồi xuống bậc cầu thang cuối cùng, ngồi kế bên ả, nhẹ nhàng đề nghị một lời giải thích. Những câu hỏi mà anh dành cho cô ta hết sức thẳng thắn, nhưng cô gái thông minh theo một cách riêng và am tường ấy đã quyến rũ anh.

Trước câu hỏi số một, không quá khiếm nhã, cô gái đã phá ra cười. “Tôi cũng đã nghĩ anh ấy sẽ ngủ thiếp đi sau khi hành sự, nhưng không, ngược lại là đằng khác.”

Câu hỏi thứ hai không được tinh tế cho lắm, và cô gái chỉ đơn giản trả lời đúng một từ, “Không.”

Cô ta cũng trả lời “không” với câu số ba, bốn và năm. Bạn của cô ta mang cho cô ta một cốc rượu và rõ ràng cũng muốn ở lại nghe cùng, nhưng sau khi nghe câu hỏi số sáu và số bảy, cùng với câu trả lời của Mariolina, cô ta có vẻ thấy bực mình trước sự thiếu đứng đắn của họ và quay lại ngồi trên ghế sofa bên cạnh radio.

Câu hỏi số tám là câu hỏi cuối cùng và Mariolina trả lời, có phần hơi xúc động, “Không, anh ấy không làm vậy, anh ấy đã bật đài radio nhỏ cạnh giường, và đó là ngọn đèn duy nhất trong phòng.” Cô ta thích miêu tả khung cảnh: thứ hẳn là ấn tượng. “Anh ấy đã châm một điếu thuốc lá cho tôi và xin lỗi vì không hoạt ngôn mấy, sau đó anh ấy hỏi tôi muốn ngủ qua đêm ở đây hay thích được đưa về nhà. Tôi bảo anh ấy rằng tôi phải về nhà, tôi vào phòng tắm và khi quay ra, anh ấy đã ăn vận chỉn chu, quần dài, áo sơ mi, đi giày, và lại xin lỗi.”

“Vì điều gì?”

“Vì không tự mình đưa tôi về được, anh ấy bảo rằng anh ấy cảm thấy không thoải mái.”

“Không thoải mái về cái gì?”

“Về việc gặp lại anh.”

Cuộc điều tra tìm hiểu tâm lý tính dục kết thúc. Thậm chí từ góc độ đó thì Davide của Michelangelo cũng hết sức bình thường. Bình thường đến phát chán. Tám câu hỏi chuyên môn và phân tích mà anh hỏi Mariolina đã nhận được những câu trả lời hết sức rành mạch. Davide Auseri là một thanh niên trai tráng đầy sinh lực, với khao khát tình dục hết sức truyền thống dành cho bạn khác giới, và không hề có những dục vọng hay biến thể trừu tượng dị thường với một người ở tuổi cậu ta. Rượu, thậm chí cậu ta đã nốc khá nhiều, cũng chưa để lại dấu ấn gì: không có sự thiếu sót hay bất thường nào, Mariolina đoan chắc về điểm này hết sức cụ thể.

Anh đứng dậy khỏi bậc thang cuối cùng và giúp Mariolina đứng dậy theo. “Uống nhanh một cốc rượu đi, rồi chúng ta về nhà.”

Vài tờ bạc mà kỹ sư Auseri đã đưa cho anh được anh kín đáo chuyển từ túi áo khoác vào túi của hai cô gái, nhưng cả buổi tối nay đều mang một màu sắc rất tao nhã. Duca thả hai cô gái bên ngoài nhà hàng nơi anh gặp gỡ họ dưới các vì sao. Ở đó vẫn mở cửa, và rồi anh chậm rãi lái xe quay về dinh thự ở Giulietta. Đến cổng, anh được một quý ông hết sức thanh lịch đón tiếp, ông ta mặc áo mưa bên ngoài áo ngủ dài, thông báo với anh bằng thứ tiếng Ý hoàn hảo thậm chí còn không có dấu vết địa phương nào, rằng ông ta là quản gia. Ông ta xin lỗi vì cách ăn mặc của mình, nói rằng công tử Auseri đã yêu cầu ông ta dẫn anh về phòng và cung cấp cho anh bất kỳ thứ gì anh cần cho đêm đó.

Viên quản gia kiểu mẫu dẫn anh lên tầng hai, giới thiệu phòng của anh, cũng như phòng tắm, nơi anh đã biết, và sau khi cung kính cúi chào, với một bàn tay đặt lên trái tim để giữ áo mưa, ông ta để anh lại một mình.

Căn phòng này nằm ngay cạnh phòng của Davide. Kiến trúc của căn phòng không khó nắm bắt: đây hẳn là phòng mà kỹ sư Auseri ngủ lại khi ở đây. Không chỉ là phán đoán logic, chuyện này còn được xác nhận bởi các cuốn sách trên giá sách trên tường. Có hai cuốn lịch sử về Thế chiến Hai, một cuốn lịch sử nền Cộng hòa Salò, một cuốn lịch sử nước Ý từ 1860 đến 1960, cuốn Human Knowledge của Bertrand Russell, một tờ rơi quảng cáo về sơn không cháy bằng tiếng Anh, và vài tờ tạp chí du lịch Touring Club được đóng bìa hồ sơ. Những cuốn sách giàu kiến thức cho một trí tuệ thông thái như ông Auseri.

Anh không hề mang theo hành lý. Khi rời khỏi Milan anh không lường trước được việc mình sẽ ở lại đây. Cũng chẳng quan trọng lắm. Trong phòng tắm, anh đặt một ít kem đánh răng lên lưỡi và súc miệng, nhanh chóng vệ sinh, tắm rửa và quay lại phòng ngủ của mình chỉ với chiếc quần trên người. Tâm trạng anh chẳng mấy vui vẻ gì.

Những cơn gió ẩm ướt thổi vào qua cửa sổ, cùng với vài con muỗi, nhưng trên tất cả là sự tĩnh lặng đến nặng nề, vì không còn ô tô đi qua đi lại trên con đường dưới dinh thự nữa. Tâm trạng của anh tồi tệ thêm dù đã tự mình rửa ráy, anh vẫn phát hiện ra một sợi tóc dài có lẽ của Francoise Hardy trên cổ. Trong tù cũng vậy, thời khắc buổi đêm chết lặng này là những thời điểm khó vượt qua nhất. Anh đã sẵn sàng đón nhận sự tấn công của suy nghĩ và ký ức, nhưng khi cơn sóng đó ập đến, nó vẫn nuốt chửng anh, thậm chí còn tồi tệ hơn cả những gì anh đã sợ. Nhưng anh lại chẳng thể làm gì.

Anh đã sai ở tất cả mọi chuyện.

« Lùi
Tiến »