Cô Gái Đến Từ Milan

Lượt đọc: 1004 | 3 Đánh giá: 8,7/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN MỘT
☆ 1 ☆

Sau ba năm trong tù, anh đã học được cách giết thời gian với mọi thứ sẵn có trong tay, nhưng suốt mười phút đầu, anh chỉ hút thuốc mà không nghĩ ra nổi trò nào để chơi. Chỉ đến khi quẳng đầu thuốc lá xuống con đường lái xe vào nhà, có trải sỏi, anh mới nhận ra: số viên sỏi nhỏ xíu trên các con đường dẫn vào nhà hay các lối mòn khác nhau trong vườn là một con số hữu hạn. Đến cả số hạt cát tí hon trên toàn bộ các bãi biển trên thế giới này cũng là một con số hữu hạn có thể tính toán ra, bất kể con số có lớn đến đâu đi chăng nữa, vậy nên, anh nhìn chăm chú xuống mặt đất, và bắt đầu đếm. Trong năm centimet vuông có thể có trung bình tám mươi viên sỏi, vậy nên anh ước lượng bằng mắt diện tích của đường lái xe vào nhà và lối mòn dẫn vào căn biệt thư trước mặt rồi kết luận rằng số sỏi trong tất cả các nẻo đường dẫn vào nhà, dù có vẻ vô hạn, cũng chỉ chứa một triệu sáu trăm nghìn viên sỏi, trên dưới mười phần trăm sai số.

Sau đó, bất chợt, có tiếng lạo xạo, và anh thoáng ngẩng đầu lên: một người đàn ông vừa ra khỏi dinh thự, đang tiến về phía anh qua con đường lớn nhất. Giờ ông ta đã xuất hiện, anh có thời gian chơi một trò chơi, vậy nên, ngồi trên ụ xi măng nhỏ dùng thay ghế băng, anh cúi xuống và bốc một nắm sỏi. Trò chơi đoán hai thứ: một, số sỏi là chẵn hay lẻ, và hai, con số đó cao hơn hay thấp hơn một con số chọn trước: hai mươi, chẳng hạn thế. Để thắng thì phải đoán đúng cả hai. Anh ước lượng số sỏi mình cầm trong tay là số chẵn, và nhỏ hơn hai mươi. Anh mở lòng bàn tay ra đếm: anh đã thắng, có mười tám viên sỏi.

“Xin lỗi vì đã bắt anh phải đợi, bác sĩ Lamberti.” Người đàn ông đứng ngang tầm với anh, giọng ông ta nghiêm túc và mệt mỏi, giọng của một người quyền lực đã kiệt sức. Khi đang ngồi khom người như thế này, Duca chỉ thấy đúng đôi chân của ông ta, đôi chân gầy gò trong chiếc quần ống côn – quần của đám thanh niên dù ông ta không còn trẻ nữa, như anh nhận thấy ngay khi đứng dậy để bắt bàn tay mà ông ta chìa ra. Ông ta tầm tuổi trung niên, nhỏ người nhưng quyền lực, đầu cạo gần sạch, râu cạo nhẵn thín, bàn tay cũng nhỏ nhưng rắn như thép.

“Chào buổi tối,” anh nói với vị vua nhỏ con. “Rất vui được gặp ông.” Trong tù anh đã học được rằng đừng nói nhiều hơn những gì cần thiết. Ở phiên tòa xét xử anh trong khi cháu gái của bà Maldrigati khóc than cho người dì bị giết hại, nhưng lại bỏ quên không đề cập tới hàng triệu đô cô ta thừa kế từ chính người dì ấy, anh đã muốn nói gì đó, nhưng luật sư biện hộ cho anh, với đôi mắt rơm rớm, đã thì thầm bên tai bảo rằng anh đừng nên nói một lời nào hết, không một lời nào; không thì anh sẽ nói sự thật, và nói thật là chết chắc; nói gì cũng được trừ sự thật trên tòa, trong buổi xét xử. Hay trong cuộc đời.

“Milan nóng lắm,” người đàn ông nhỏ con nói, và ngồi xuống cạnh anh trên băng ghế xi măng. “Ở Brianza này thì khác, lúc nào cũng mát mẻ. Anh có biết Brianza không?”

Chắc ông ta không gọi anh tới đây chỉ để tán gẫu về thời tiết Brianza, ông ta chỉ đang dẫn chuyện. “Có,” anh trả lời, “hồi còn nhỏ tôi hay đạp xe đến đây, Canzo, Asso, một cái hồ.”

“Đạp xe à,” người đàn ông nhỏ con nói. “Tôi cũng hay đạp xe đến đây hồi còn trẻ.”

Cuộc tán gẫu có vẻ đã kết thúc. Trong ánh hoàng hôn, khu vườn gần như đen kịt, một vài bóng đèn sáng lên trong dinh thự, một chiếc xe buýt đi qua con đường chính cách dinh thự khoảng hai mươi mét, tiếng còi rú của nó nghe như một đoạn nhạc của Wagner.

“Ngày nay việc đó đã trở nên lỗi thời,” người đàn ông nhỏ con tiếp tục câu chuyện, “mọi người đều hứng thú với mặt trời ở French Riviera hay ra đảo, trong khi ở Brianza này, chỉ cách Milan nửa tiếng lái xe, không khí cũng trong lành như ở Tahiti vậy. Tôi nghĩ là vì mọi người luôn muốn đi thật xa nơi họ ở. Chỗ nào mà quá gần thì chẳng còn thấy đẹp nữa. Con trai tôi coi dinh thự này là một loại nhà giam, bất kỳ lúc nào tôi bảo nó đến đây, nó cũng khó chịu như đi chịu tội. Có lẽ nó nói đúng: trời có thể mát mẻ hơn, nhưng cũng khá nhàm chán.” Trời đã sẩm tối, các ô cửa sổ sáng đèn trong dinh thự là nguồn sáng duy nhất. Bằng một giọng khác, người đàn ông nhỏ con nói, “Anh đã nghe nói vì sao tôi muốn gặp anh chưa, bác sĩ Lamberti?”

“Chưa,” Duca nói, anh không nghe ai nói gì cả. Dù vậy, anh đã biết người đàn ông có vẻ hết sức khiêm nhường, đơn giản này thật ra là ai: một trong năm hạt nhân, nói cách khác là một trong năm kỹ sư hàng đầu trong ngành chất dẻo, kỹ sư Pietro Auseri, cuối độ tuổi năm mươi, một người đàn ông có thể chế tạo mọi thứ từ bất cứ thứ gì; có một loại chất dẻo đặc biệt được đặt theo tên ông ta, Auserolo. Ông ta có ba bằng sáng chế, tài sản kếch sù, nhưng trên giấy tờ chính thức thì chỉ là kỹ sư tự do có một văn phòng cũ trên một con phố cổ ở Milan.

“Tôi tưởng họ nói cho anh biết rồi,” người đàn ông nhỏ con nói. Vẻ mệt mỏi đã biến mất khỏi giọng ông, chỉ còn lại vẻ uy quyền, rõ ràng là ông ta đã nói hết tất cả những gì phải nói về chủ đề thời tiết và du lịch.

“Tất cả những gì tôi nghe nói là ông có thể có việc cho tôi,” Duca nói. Giờ trời đã tối om, có thêm đèn trong dinh thự được bật lên, một dải ánh sáng lờ mờ kéo đến tận chỗ họ đang đứng.

“Phải, theo một cách nào đó thì đó cũng là một công việc,” ông Auseri nói. “Anh có phiền nếu chúng ta nói chuyện ở đây không? Con trai tôi đang ở trong nhà và tôi không muốn anh gặp nó sau khi chúng ta đã nói chuyện xong xuôi.”

“Tôi thì không thành vấn đề.” Anh thích người đàn ông trung niên nhỏ con này: ông ta không ngu ngốc. Suốt mấy năm qua, cả trong lẫn ngoài nhà tù, Duca đã gặp hàng tá những kẻ ngốc nghếch và gần như chỉ cần ngửi mùi anh cũng phân biệt được đám người đó, rõ từng chân tơ kẽ tóc.

“Anh là bác sĩ,” ông Auseri nói.

Anh không trả lời ngay lập tức, nhưng một lát sau, trong không gian tối om, tĩnh lặng ấy, sau một khoảng lặng dài. “Đã từng. Tôi chắc chắn ông cũng nghe nói rồi.”

“Chắc chắn rồi,” ông Auseri nói, “nhưng anh vẫn là một bác sĩ. Và đó chính là thứ tôi cần.”

Duca đếm số cửa sổ của dinh thự: có tám cái, bốn cái ở tầng trệt và bốn cái ở tầng hai. “Tôi không thể hành nghề được nữa. Tôi thậm chí không thể tiêm thuốc, là không được tiêm đấy! Ông không nghe nói à?”

“Tôi đã được kể tất cả mọi chuyện, nhưng điều đó không quan trọng.”

Tò mò thật. “Nếu ông cần một bác sĩ,” Duca nói, “và chọn một người đã bị tước giấy phép và thậm chí không thể kê đơn có aspirin, thì chuyện cũng khá quan trọng đấy.”

“Không,” ông ta nói, giọng lịch sự nhưng quyền uy như kẻ bề trên. Trong bóng tối, ông ta chìa ra một bao thuốc lá. “Anh có hút thuốc không?”

“Tôi thậm chí còn phải ở tù ba năm.” Anh lấy một điếu thuốc và ông Auseri châm lửa giùm anh. “Vì tội giết người.”

Mà đã thế thì chắc là cũng chẳng còn gì quan trọng thật.

“Con trai tôi nghiện rượu,” ông Auseri nói trong bóng tối, rồi hút thuốc. “Nó hiện đang ở trong căn phòng ngay tầng hai đằng kia, ô cửa sổ sáng đèn duy nhất trên tầng hai. Đó là phòng của nó. Hẳn nó đã làm cách nào đó giấu được vài chai whisky khỏi tôi, và giờ nó đang nốc đầy bụng trong khi chờ chúng ta.”

Theo giọng ông ta thì rõ ràng cậu con trai cũng chẳng quan trọng với ông ta cho lắm.

“Nó hai mươi hai tuổi,” ông Auseri nói, “cao hai mét và nặng, xem nào, chắc tầm chín mươi kí lô. Đến tận năm ngoái nó còn chưa khiến tôi lo lắng nhiều, chuyện duy nhất khiến tôi hơi rầu là nó không được sáng dạ cho lắm. Tôi không thể cho nó đi học đại học được, tôi chỉ gắng gượng cho nó qua hết cấp ba nhờ vào việc hối lộ các giáo viên mà thôi. Nó cũng rất rụt rè và dễ bảo. Nói thật nhé, nó chỉ là một cục thịt bự.”

Nói cách khác, cao và ngu. Giọng nói cay đắng của ông Auseri dường như phát ra từ hư vô và bằng cách nào đó được cụ thể hóa trong không khí tối tăm này.

“Tôi cũng không quá buồn với việc nó như thế,” ông Auseri nói. “Tôi không quan tâm tới niềm vui có được nếu có một thằng con thiên tài. Khi nó mười chín tuổi, tôi đã cho nó đi làm ở Montecatini. Nó đã qua mọi phòng ban, để có thể học tập; nó không học được nhiều nhưng vẫn tiếp tục cố gắng. Từ năm ngoái nó bắt đầu uống rượu. Mấy tháng đầu, nó đã giấu giếm cái thói đấy trót lọt, sau đó nó bắt đầu đi làm muộn, hoặc không thèm đi làm luôn, sau đó thì tôi phải giữ nó ở nhà vì nó bắt đầu mang rượu whisky đi làm, loại thân dẹt, cất trong túi. Anh vẫn nghe đấy chứ?”

À vẫn nghe chứ, trong tù anh đã học được cách lắng nghe, các bạn tù của anh đều có những câu chuyện dài để kể, tất nhiên toàn những điều dối trá, những câu chuyện về sự vô tội của họ, họ bị hủy hoại bởi đám phụ nữ, từng người trong số họ đều là Abel bị Cain giết hoặc Adam bị Eva làm cho sa ngã. Dẫu vậy, người kỹ sư này đang kể cho anh một kiểu chuyện khác, buồn hơn và có ý nghĩa hơn, và anh đang thật sự lắng nghe. “Tất nhiên,” anh trả lời.

“Tôi cần phải giải thích rất nhiều chuyện để anh có thể hiểu,” ông Auseri nói. Trong bóng tối, giọng ông ta không hề mất đi vẻ uy quyền mà thay vào đó càng trở nên cứng cỏi hơn. “Con trai tôi say xỉn ba lần một ngày. Đến bữa trưa là nó sẽ say ngật ngưỡng, nó không ăn gì và ngủ luôn. Đến chiều nó sẽ say lần hai, sau đó ngủ đến giờ ăn tối. Đến bữa tối nó sẽ ăn, nhưng bắt đầu say ở món thứ ba, và rồi chìm vào giấc ngủ ngay trên ghế. Đó là những gì nó làm trong phần lớn cả năm qua, trừ phi tôi dùng bạo lực với nó.”

Đối với một thanh niên hai mươi hai tuổi thì lối uống rượu này thật đáng lo. “Chắc là ông cũng đã thử rất nhiều cách để ngăn cậu ta uống rượu.” Anh vẫn chưa rõ ông ta muốn gì ở anh, nhưng anh đang cố gắng tỏ ra lịch sự. “Bắt cậu ta tránh xa mọi thằng chuốc rượu cậu ta chẳng hạn.”

“Con trai tôi không có người bạn nào cả,” ông Auseri nói. “Nó chưa từng có bạn, kể cả hồi tiểu học. Nó luôn ở một mình. Tôi đã góa vợ cách đây mười một năm nhưng dù công việc hết sức bận rộn, tôi chưa từng bỏ mặc nó cho gia sư. Tôi rất hiểu nó, nó chẳng bao giờ chơi tennis với bất cứ ai, không bao giờ đi bể bơi, đi tập gym, hay đi nhảy với bạn bè. Từ khi có xe ô tô, nó chỉ dùng xe để phóng trên đường cao tốc. Điều bình thường duy nhất ở nó là nó thích phóng nhanh. Một ngày nào đó nó sẽ tự giết mình, rồi thói nghiện rượu của nó cũng sẽ hết thôi.”

Duca cứ để ông vua nhỏ tiếp tục nói một cách cay đắng. Anh phải đợi một lúc lâu.

“Tôi đã làm rất nhiều chuyện để ngăn nó uống rượu.” Ông Auseri giờ đã rơi vào trạng thái mô tả, như đang liệt kê các hạng mục trong một bảng cân đối kế toán thảm hại. “Biện pháp đầu tiên là thuyết phục, nói chuyện với nó. Cả đời này tôi chưa từng biết một ai có thể bị lời lẽ thuyết phục, nhưng tôi vẫn phải thử. Các nhà tâm lý học nói rằng thanh niên cần được thuyết phục chứ không phải bị kiểm soát, nhưng mọi nỗ lực thuyết phục của tôi đều bị whisky đả bại. Tôi cứ nói, nó cứ uống. Sau đó tôi thử dùng biện pháp hạn chế. Không cho tiền, giám sát tối đa, tôi ở cùng nó suốt gần hai tuần, không bao giờ để nó lại một mình. Chúng tôi đã đến St. Moritz, chúng tôi dành vài tiếng đồng hồ ngắm thiên nga trên hồ, tay thì cầm ô, vì trời lúc nào cũng mưa, nhưng nó vẫn tìm được cách để uống rượu, nó uống vào buổi đêm, vì chúng tôi ngủ phòng riêng. Chắc là có người nào đó làm việc trong khách sạn đã mang cho nó thứ gì đó để uống mà tôi không biết, đến sáng dậy thì nó say bất tỉnh nhân sự.”

Thỉnh thoảng họ lại nhìn lên ô cửa sổ sáng đèn duy nhất ở tầng hai – phòng của kẻ nghiện rượu, dù tất cả những gì người ta có thể nhìn thấy là ánh đèn, thứ ánh sáng đung đưa trên trần nhà.

“Biện pháp thứ ba cũng không cho kết quả khả quan hơn,” ông Auseri nói. “Tôi là một kẻ cuồng tín với các biện pháp nhục hình. Đòn roi buộc một gã đàn ông phải nhanh nhẹn suy nghĩ về cách tốt nhất để tránh bị ăn đòn. Mỗi lần tôi phát hiện ra con trai tôi say là tôi lại đánh nó, một cách thô bạo. Con trai tôi kính trọng tôi, mà dù nó có cố gắng chống đối đi nữa thì tôi cũng sẽ nghiền nát nó. Sau các trừng phạt thể xác đó, con trai tôi sẽ khóc và cố gắng nói với tôi rằng đó không phải là lỗi của nó, nó thì không muốn uống rượu đâu nhưng không thể ngăn mình lại được. Một thời gian sau, tôi cũng bỏ biện pháp đó đi.”

“Ông đã thử biện pháp nào khác chưa?”

“Chưa. Tôi đã gọi cho một bác sĩ và nói chuyện này với ông ta, và ông ta bảo tôi rằng cách duy nhất là đưa con trai tôi đến trung tâm cai nghiện.”

Đúng là như thế, đến trung tâm cai nghiện, họ sẽ giúp chàng thanh niên ấy cai nghiện và rồi ngay khi ra ngoài, chắc cậu ta sẽ quay lại uống rượu ngay. Nhưng anh không nói điều đó ra: ông Auseri đã tự nói rồi.

“Tôi cũng đã nghĩ đến việc đưa nó vào một trung tâm cai nghiện, nhưng khi trở về chắc nó sẽ uống rượu trở lại thôi, ngay khi còn lại một mình là nó bắt đầu uống rượu. Nó cần bạn bè, nó cần phụ nữ.” Ông Auseri mời anh thêm một điếu thuốc nữa, châm điếu thuốc rồi họ bắt đầu phì phèo. Không khí vẫn nồm ẩm và giờ thì trời đã tối om, chỉ còn ánh sáng từ các ô cửa sổ ở cuối con đường lái xe vào nhà. “Đặc biệt là phụ nữ. Tôi chưa từng thấy nó quen bạn gái. Đừng hiểu nhầm ý tôi. Nó thích phụ nữ, nhìn cái cách nó nhìn phụ nữ là tôi biết, và tôi tin rằng nó thường qua lại với gái bán dâm. Nhưng nó quá nhút nhát nên không tìm được bạn gái. Tôi đã thấy nhiều đứa con gái theo đuổi nó, sau rốt thì nó cũng là một đứa khá hời, nhưng nó lại ngậm chặt mồm khi ở cạnh phụ nữ, đúng nghĩa đen là câm như hến. Nó chắc sẽ đem lại ấn tượng là người dị biệt. Nhưng điều đó không đúng. Nó đã hoàn thành trọn vẹn nghĩa vụ quân sự, dưới tư cách binh nhì chứ không phải sĩ quan bàn giấy. Hồi đầu, đồng đội còn trêu chọc nó, vì lúc nào nó cũng thui thủi một mình. Nó suýt đập vỡ đầu một đồng đội và làm gãy xương sườn của một người khác, sau đó chúng kính trọng nó và để nó yên. Con trai tôi rất bình thường, chỉ là nó giống mẹ. Bà ấy cũng như thế, không có bạn bè, hay thậm chí là người quen, bà ấy khá hạnh phúc khi ở nhà với tôi. Tôi chỉ tìm cách dụ bà ấy tới các buổi chiêu đãi hay tiệc tùng được vài lần. Khiếm khuyết cũng có thể được di truyền, trong khi các đức tính lại là gien lặn. Đó là một loại mất ổn định sinh học.”

Người đàn ông nhỏ con khí thế như một ông hoàng phẩy tay, không vui vẻ gì, nhưng trong bóng tối nó không hề có chút sinh khí, nó có vẻ mơ hồ và phát sáng như tế bào ngoại chất, thậm chí trong bóng tối mịt mùng ấy càng có vẻ thiểu não hơn.

“Và giờ tôi muốn thử thêm một lần cuối cùng,” ông Auseri nói, “cho nó ở cùng một người có thể vừa bầu bạn vừa là một bác sĩ được dùng mọi biện pháp mà anh ta muốn, để khiến nó ngừng uống rượu, được phép sử dụng biện pháp mạnh ngăn nó uống rượu từng phút từng giây, kể cả trong toilet. Tôi không quan tâm việc đó mất tới một năm hay lâu hơn, biện pháp người đó dùng là gì, người đó thậm chí có thể đánh đập nó tới chết cũng được, tôi thà thấy nó chết còn hơn thấy nó nghiện rượu.”

Vào tù bạn thật sự có thể trở nên thông minh, và lời nói trở thành thứ có rất nhiều hàm ý, cả lời bạn nói lẫn lời bạn được nghe. Ở ngoài, khi người ta được tự do nói những gì họ thích, việc nói và lắng nghe lời người khác nói đều bị lơ là, bị đánh giá thấp: người ta nói mà chẳng hiểu rõ người ta đang nói gì và lắng nghe mà không hiểu gì. Nhưng với ông Auseri thì không như vậy. Đó là lý do Duca thích ông ta, ngoài nỗi đau và sự cay đắng ẩn giấu đằng sau vẻ ngoài hống hách. Anh nói, “Ông muốn tôi trở thành người vừa là bạn vừa là bác sĩ đó, người giúp cậu ta bỏ rượu?”

“Đúng thế, ý tưởng ấy đến với tôi vào hôm qua. Sĩ quan Carrua là một người bạn của tôi, ông ấy biết hết mọi chuyện. Ngày hôm qua tôi đã phải tới Sở cảnh sát và ghé qua văn phòng của ông ấy. Ông ấy đã kể cho tôi nghe về anh và hỏi xem liệu tôi có thể giúp anh tìm một việc ở Montecatini không. Tất nhiên là tôi có thể tìm cho anh một công việc bàn giấy ở Montecatini nếu anh muốn, nhưng rồi tôi chợt nhận ra một người như anh có thể giúp tôi và con trai tôi.”

Tất nhiên, một người mới ra tù được ba ngày sẽ giúp đỡ tất cả mọi người, làm tất cả mọi việc, hát bất kể bài nào. Chắc chắn anh rất may khi là bạn của sĩ quan Carrua, chưa gì anh đã có rất nhiều việc để chọn rồi. Ông Carrua còn tìm được cho anh một vị trí bán dược phẩm, đó là công việc lý tưởng cho một bác sĩ đã bị tước giấy hành nghề, một va li chứa mẫu thử, một chiếc ô tô sơn chữ Ciba hoặc Farrmitalia trên cửa, lái vòng quanh khu vực, hẹn gặp các bác sĩ và dược sĩ: gần như còn tuyệt hơn cả việc làm bác sĩ. Hoặc nếu thích một công việc khác lạ hơn thì anh có thể chấp nhận đề nghị của kỹ sư Auseri và dồn tâm huyết cho cậu con trai nghiện rượu của ông ta, chữa bệnh cho cậu ta, giúp cậu ta thải độc, trở thành một người làm công tác xã hội. Hoặc nếu anh đã chán việc giải cứu xã hội thì anh có thể bảo đảm ông Auseri trao cho anh công việc ở Montecatini: một bàn giấy đâu đó trong một văn phòng gọn gàng, nơi anh có thể nuông chiều tính ích kỷ nông cạn của mình, tính trì trệ của một người không còn tin tưởng vào bất kỳ điều gì. Nhưng ngồi tù cũng khiến bạn trở nên nhạy cảm, dễ cáu. Và vì hiện giờ anh đang cáu kỉnh, anh nói một cách bình tĩnh, “Điều gì khiến ông nghĩ đến tôi? Bác sĩ nào mà chẳng chữa trị cho con trai ông được.”

“Tôi không nghĩ thế,” ông Auseri nói. Ông ta bắt đầu trở nên bực bội. “Tôi cần một người mà tôi có thể tin cậy tuyệt đối. Theo cách sĩ quan Carrua nói với tôi về anh thì tôi biết mình có thể tin được anh. Tôi có trực giác trong những chuyện như vậy. Lúc nãy, khi nhìn anh ngồi đây, với các viên sỏi trong tay, tôi biết là tôi có thể tin anh.”

Đó không phải là những lời chót lưỡi đầu môi, anh có thể nghe ra qua giọng của ông Auseri, và sự cáu kỉnh của anh cũng tan biến. Anh thích nói chuyện với một người đàn ông thực thụ sau khi đã phải nói chuyện với quá nhiều thằng ngốc: giám đốc phòng khám chuyên đội mũ len trùm đầu thích đùa những chuyện tục tĩu hồi anh còn hành nghề, luật sư bên nguyên lắc đầu mỗi lần đọc đến tên Duca trong biên bản kết luận trước tòa: “Tôi không hiểu vì sao mà bác sĩ Duca Lamberti” – lắc đầu – “có thể kể mãi một phiên bản sự kiện vô lý đến chừng ấy. Bác sĩ Duca Lamberti” – lắc đầu – “hoặc ngây ngô, hoặc láu cá hơn nhiều so với những gì anh ta thể hiện. Bác sĩ Duca Lamberti” – lại lắc đầu – sao lại có kẻ ngu ngốc đến như thế được nhỉ? Tuy nhiên, ông Auseri lại là một quý ông thực thụ, và anh thích nghe ông ta nói chuyện.

“Nhiều bác sĩ khác đều sẽ nhân cơ hội này mà khua chiêng múa trống tự quảng cáo cho bản thân,” ông Auseri nói. “Cho đến giờ chứng nghiện rượu của con trai tôi vẫn là một bí mật, chỉ có vài người bạn kín miệng biết được. Với những bác sĩ khác, nó lập tức trở thành chủ đề tán phét trong mọi căn phòng khách ở Milan. Nhưng anh sẽ không hé răng nửa lời, và tôi biết là nếu anh nhận lời làm việc này thì anh cũng sẽ lo liệu thỏa đáng đến cùng. Các bác sĩ khác chắc sẽ chán chỉ sau một tuần rồi bỏ thằng bé với cơ thể tọng đầy thuốc và dày đặc vết kim tiêm, và nó thì vẫn dính lấy rượu. Tôi không muốn nó phải uống và tiêm thuốc. Tôi muốn con trai tôi có một người bạn và một người giám hộ cứng rắn. Đây sẽ là nỗ lực cuối cùng của tôi. Nếu cuối cùng vẫn không có kết quả gì, chắc tôi sẽ bỏ mặc nó, sẽ đuổi nó đi và phủi tay hoàn toàn.”

Đến lượt anh. Mấy giờ rồi và họ đang ở đâu đây? Trong một vùng đất tối tăm ẩm ướt của Brianza, bên sườn đồi, trước mặt có một căn dinh thự dường như đang trượt xuống chỗ họ, trong dinh thự có một chàng trai đang bấu víu lấy chai whisky, đấy, chỗ đứng của họ đấy. “Tôi cần hỏi ông vài điều,” anh nói.

“Cứ tự nhiên,” ông Auseri nói.

“Ông bảo rằng con trai ông đã uống rượu như thế một năm nay. Trước đó cậu ta có uống rượu không? Hay cậu ta chỉ vừa mới bập vào?”

“Không, trước kia nó cũng uống rượu, nhưng không thường xuyên, nó chỉ say xỉn hai đến ba lần mỗi tháng thôi, không hơn không kém. Tôi không muốn nói xấu người mẹ quá cố của thằng bé, nhưng đó là một cái nết xấu mà nó thừa hưởng từ bà ấy.”

“Ông cũng vừa bảo với tôi rằng con trai ông không có bạn bè, không có bạn gái. Nghĩa là cậu ta thường uống rượu một mình, phải không?”

“Nó đang uống rượu một mình ngay lúc này đấy, trong phòng nó. Nhưng nó uống rượu một mình vì nó chẳng bao giờ có bạn bè. Nó cũng không muốn.”

“Ông cũng đã bảo rằng, không kể diện mạo, con trai ông là một thanh niên bình thường. Tôi sẵn sàng tin điều đó. Nhưng một thanh niên bình thường không vô duyên vô cớ say xỉn. Chắc có chuyện gì đó xảy ra mới khiến cậu ta uống nhiều rượu hơn trước kia chứ? Có thể cậu ta có quan hệ tình cảm với một người phụ nữ chẳng hạn. Trong phim, chẳng phải đàn ông vẫn thường uống rượu để quên đi các cuộc tình chẳng đi đến đâu đấy thôi.”

Ông Auseri khoát tay ngang mặt rồi xua xua trong không khí. “Đó cũng là điều tôi đã hỏi nó trong lúc dùng que cời lửa đánh nó. Chúng tôi có một lò sưởi trong căn hộ ở Milan, lò sưởi kiểu cũ có que cời lửa. Đánh que cời lửa lên mặt thì đau lắm và vì nó mới xảy ra gần đây thôi nên anh vẫn có thể nhìn thấy vết thương trên má nó. Tôi đã hỏi nó có phải là do phụ nữ không, hay nó đang nợ nần vì phải trả tiền phá thai cho một con bé vị thành niên, nó phủ nhận và tôi tin nó, vì nó vô dụng lắm, chẳng biết đường mà phạm sai lầm đâu.”

Cậu ta hẳn là một thanh niên kỳ lạ. “Tôi xin lỗi phải đi sâu hơn, thưa kỹ sư, giờ tôi đang nói với tư cách một bác sĩ, à một cựu bác sĩ, đương nhiên, một bác sĩ đã bị tước giấy phép hành nghề, lúc trước ông nói với tôi rằng về vấn đề phụ nữ thì, con trai ông không hề có bạn gái, cậu ta luôn tìm gái bán dâm. Mà thói quen đó dễ có khả năng cậu ta mắc một căn bệnh mà cậu ta tin là kinh khủng khiếp, và trong cơn bĩ cực, tự cho rằng mình là đồ rác rưởi, rồi bắt đầu uống rượu. Ngày nay giang mai không còn đáng sợ như hồi xưa nữa, nhưng vẫn là nỗi sỉ nhục, và một thanh niên mẫn cảm như con trai ông hẳn sẽ cảm thấy suy sụp.”

Trong bóng tối, ông Auseri nói, “Đó cũng chính là nghi ngờ đầu tiên của tôi, và bốn tháng trước tôi đã bắt nó đi khám. Nó đã được kiểm tra đầy đủ. Nó hoàn toàn khỏe mạnh, không hề có dấu hiệu lây nhiễm, kể cả chỗ dễ nhiễm bệnh nhất.”

Vậy là thậm chí nỗi sợ bệnh tật cũng không phải là thứ khiến chàng trai trẻ Auseri dính lấy rượu. “Thế con trai ông nói gì? Cậu ta có thanh minh gì không?”

“Con trai tôi thấy nhục nhã và tuyệt vọng. Nó nói không muốn uống rượu đâu nhưng không ngừng lại được. Cứ khi nào tôi đánh nó thì nó sẽ bảo với tôi là, ‘bố nói đúng, bố nói đúng,’ rồi khóc sướt mướt.”

Đã đến lúc Duca phải đưa ra quyết định rồi. “Ông đã nói gì với con trai ông về tôi chưa?”

“Chắc chắn.” Ông Auseri rất hay dùng từ đó, khi ông ta nói vậy thì có nghĩa là ông ta tuyệt đối tin chắc, không cần phí lời hơn. “Tôi đã nói với nó là có một bác sĩ mà tôi cực kỳ tin tưởng có thể sẽ đồng ý giúp nó, và nó đã hứa với tôi sẽ làm bất kỳ những gì anh muốn. Cho dù nó chưa hứa hẹn gì thì tôi vẫn sẽ bắt nó làm như vậy.”

Theo lẽ tự nhiên là vậy, hay thậm chí là: chắc chắn rồi. Anh nên làm gì đây? Đây không phải là một công việc, định sẵn là nó sẽ trở thành một mớ rối như tơ vò, nhưng suy nghĩ trở thành một người bán dược phẩm khiến anh quặn ruột dù chỉ mới nghĩ đến. Anh cố gắng giữ bình tĩnh, ngừng cáu kỉnh với bản thân. “Tôi không nghĩ ngăn con trai ông uống rượu là việc khó. Chỉ tầm một tháng thôi, cậu ta sẽ hoàn toàn không đụng tới một giọt nào. Việc khó, nếu không muốn nói là bất khả thi, là ngăn cậu ta quay lại với rượu ngay khi được tự do. Ở đây nghiện rượu chỉ là một triệu chứng, nếu không tìm ra nguyên nhân thì chúng ta lại trở về vạch xuất phát.”

“Cứ bắt đầu bằng cách khiến nó ngừng uống rượu đã, rồi chúng ta sẽ tính tiếp.”

“Được thôi. Tôi sẵn sàng rồi.” Đã đến lúc đi gặp đệ tử Lưu Linh này rồi.

“Cảm ơn anh.” Nhưng ông Auseri chưa đứng dậy, ông ta tìm thứ gì đó trong túi. “Nếu anh không phiền thì tôi muốn giao nó vào tay anh ngay lập tức, để tôi không cần phải xoay xở với nó nữa. Tôi đã giám sát nó một tháng nay và tôi kiệt sức rồi. Nhìn nó say từ sáng tới đêm phiền não lắm. Tôi đã viết một tấm séc cho anh và có cả một ít tiền mặt nữa, để giải quyết các khoản chi tiêu tới đây của anh. Tôi sẽ giao con trai tôi cho anh ngay bây giờ rồi đi thẳng về Milan, tôi phải có mặt ở Pavia trước sáu giờ sáng mai. Tôi đã xao nhãng công việc đủ lâu vì nó rồi. Cứ làm tất cả những gì anh muốn: anh được toàn quyền hành động.”

Trong bóng tối, anh không phân biệt được đâu là séc, đâu là tiền mặt, nó chỉ là một bó giấy nhỏ tương đối dày, và Duca cất chúng vào túi. Kỹ sư Auseri thừa hiểu chuyện một người vừa ra tù không có nhiều thứ để dựa dẫm.

“Đi nào.”

Họ bắt đầu leo lên đồi, đi về phía dinh thự. Khi vào trong nhà, một thanh niên có phần lảo đảo đứng phắt dậy khỏi chiếc ghế bành, nhưng vẫn xoay xở đứng vững được trên đôi bàn chân mà không bị nghiêng người. Phòng khách của dinh thự này nhỏ, quá nhỏ với cậu ta, khi có mặt cậu ta, nó chỉ như một căn nhà dành cho búp bê chứ không còn là một căn dinh thự đồ sộ nữa.

“Con trai tôi, Davide. Bác sĩ Duca Lamberti.”

« Lùi
Tiến »