Không, không phải tất cả mọi chuyện đều kinh tởm như thế.
Davide đã ngồi lại trong xe, sau vô lăng. Mascaranti và Duca leo lên tầng ba; như thường lệ trong những tòa nhà kiểu này, thang máy thường không hoạt động, và đi lên mỗi tầng bạn đều có thể nghe thấy ít nhất một chiếc tivi đang mở có tiết mục ca sĩ Milva hát trong Milva Club, thậm chí có đến hai tivi cùng bật. Milva cũng đang hát ở tầng ba, nhưng tiếng nhạc nhỏ dần đến mức gần như im bặt sau khi họ rung chuông, sau đó cửa mở và chị gái của người tự tử, hoặc nạn nhân một vụ giết người, hoặc bất kể cô gái đó là ai – chị gái của Alberta Radelli, dè dặt mỉm cười với Mascaranti.
“Cảnh sát đây. Chúng tôi cần nói chuyện với cô.”
Cô ta lộ ra vẻ thường thấy của những người dân Ý thành thật khi nhìn thấy một cảnh sát, khuôn mặt đăm chiêu dần chuyển sang lo lắng. Cô ta hẳn đã có tật giật mình, bảo là không nhớ gì, nhưng họ đã phát hiện ra cô ta. Cách đây một năm cảnh sát đã đến đây hỏi về Alberta đáng thương rồi, vậy thì bây giờ có thể là chuyện gì nhỉ? Nếu cô ta là người Mỹ thì cô ta hẳn đã hỏi lại, “Tôi có thể giúp gì cho các anh?” bằng một giọng lịch sự nhưng không kém phần hốt hoảng, nhưng cô ta là một người miền Nam nước Ý, mới một năm trước từng gặp nguy cơ mất việc ở công ty điện thoại vì em gái đã tự tử và bị đưa lên báo, vậy nên cô ta không nói gì hết, thậm chí cả “Vâng”, chỉ cho họ vào nhà, vụng về chạy sang đầu kia căn phòng nhỏ xíu để tắt tivi đi, tiếng hát của Milva bị tắt hoàn toàn và quay cô ta lại nhìn họ: một gã cao lêu nghêu, trông khá khó chịu – đó là anh, Duca, tay còn lại lùn và vạm vỡ, trông thậm chí còn khó chịu hơn, và cô ta thậm chí không mời họ ngồi, cũng như không nói với họ rằng cảnh sát không được phép bước vào nhà dân sau hoàng hôn, bởi vì cô ta không rõ luật, và cũng chẳng có người dân nào biết đến điều đó, thậm chí nếu có biết thì cô ta cũng chẳng nói gì, câm như hến.
“Đây có phải là em gái cô không?” Duca đã lấy một bức ảnh 18x24 ra khỏi một chiếc cặp da nhỏ và giơ nó lên trước mặt cô ta, trong căn phòng nhỏ chỉ được chiếu sáng nhờ một cái đèn có chụp đèn bằng nhựa, chắc mua ở hệ thống cửa hàng Upim hoặc Standa, và đặt cạnh tivi.
Thỉnh thoảng cha anh lại kể cho anh về công việc của ông và mỗi lần như vậy ông đều bảo anh, khi kể về những ngày ông ở Sicily với đám mafia, rằng biện pháp duy nhất có hiệu quả ngay trong suốt từng ấy năm, dù với đám tội phạm hay người thành thật, với người tốt hay kẻ xấu, đều là một cú đấm vào mặt. Lũ người đó xảo trá lắm, đừng phí thời gian với chúng. Pháp y là chuyện khác và nó cũng hay, nhưng một lực lượng cảnh sát nói lời hay, chủ trương thuyết phục, chơi trò tâm lý, chỉ tạo ra thêm những kẻ xảo trá. Đầu tiên cứ đấm vào mặt chúng đã, rồi đặt câu hỏi, và con sẽ thấy, người ta sẽ có phản ứng tốt hơn với một cú đấm bởi vì kẻ đó nhận ra rằng khi cần thiết con có thể chơi theo kiểu của hắn ta. Và nếu người ăn đấm đó lại là một người thành thật thì đừng lo, đến cả những người thành thật cũng có thể gặp tai nạn.
Anh chưa bao giờ thích lý thuyết đó, thậm chí còn quả quyết rằng nó sai trái, nhưng giờ anh đã áp dụng nó. Bức ảnh mà anh cho người phụ nữ ấy xem là một trong những bức hình khiếm nhã nhất của cô em gái đã chết của cô ta. Nó cũng giống như một cú đả kích trực diện vậy.
Ngoài việc nhìn bức ảnh, Alessandra Radelli không có động thái gì hết, cô ta mặt không đỏ, cũng không trắng bệch đi, không òa khóc, thậm chí còn chẳng nói “ồ”. Không gì hết. Nhưng khuôn mặt cô ta bỗng chốc có vẻ co rúm lại.
“Đây có phải là em gái của cô không?” Anh hỏi lại lần nữa, giọng cao hơn.
“Đúng,” cô ta nói.
“Cô ngồi xuống đi.” Anh đã biết tường tận về cô ta, từ công ty điện thoại mà cô ta làm việc, từ chủ nhà – cô ta trả tiền thuê nhà đều đặn – và người chăm trẻ – cô ta không bao giờ tiếp đàn ông, kể cả hồi em gái cô ta còn sống ở đây, cũng không.
“Cô có biết gì về những bức ảnh này không?”
Cô ta lắc đầu, cảm giác như bắt đầu khó thở, có thể là do hơi nóng, căn phòng nhỏ xíu, hơi nóng hắt vào từ phía cửa sổ nhìn ra sân trong càng lúc càng hầm hập. Mascaranti đã tìm được công tắc đèn và bật cái thứ treo lủng lẳng trên trần nhà lên, hóa ra là một chiếc đèn mô phỏng theo kiểu đèn chùm.
“Em gái cô sống bằng nghề gì? Cô ấy có công việc gì không?”
Cô ta hiểu rất rõ ý của họ và bắt đầu trả lời, vẻ tương đối bình tĩnh, nhưng khuôn mặt của cô ta, khó mà giải thích được, lại đang co rúm lại so với khi họ mới đến. Tất nhiên là Alberta đã tìm ra được tên gọi công việc đó ngay lập tức, ngay khi cô ta từ Naples đến đây: nhân viên bán hàng.
“Ở đâu?”
Cô ta khai địa điểm với họ, một cửa hàng, dù khái niệm đó có vẻ hơi dung tục: nên nói là một “cửa hàng thời trang nam” ở đường Croce Rossa, nơi mà các thanh niên trai tráng bước vào, đi lên một cầu thang nhỏ trải thảm, vào trong một căn phòng nhỏ xíu được trang hoàng thanh nhã, số đo may áo sơ mi của anh ta sẽ được hai nữ nhân viên bán hàng trẻ trung ghi lại, hoặc nếu anh ta cần găng tay lái xe ô tô, cà vạt Pháp từ Carven, quần Mỹ chính gốc, hoặc bất kỳ thứ gì đó, hai nhân viên bán hàng, được một quý cô khác chỉ đạo sẽ luôn có mặt ở đó, và một trong hai cô nhân viên đó chính là Alberta Radelli.
“Cô ấy đã làm ở đó bao lâu?”
“Hai hay ba tháng gì đó,” cô ta không chắc lắm.
Mascaranti đang ghi chép lại mọi thông tin.
“Sau đó thì sao?”
“Em tôi đã bỏ việc.”
“Vì sao?”
Cô ta không nhớ rõ, có thể Alberta đã cãi cọ với nữ quản lý.
“Và sau đó?”
Từng nơi một, cô ta kể cho họ tất cả những chỗ mà em gái mình từng làm việc, những nơi mà cô ta biết, trong đó có cả công ty điện thoại. Mascaranti ghi chép lại toàn bộ và rồi tóm lược: trong một năm rưỡi ở Milan, Alberta Radelli đã làm việc tổng cộng gần mười một tháng, phần lớn thời gian làm nhân viên bán hàng. Nhiều hơn dự đoán của họ. Bảy tháng còn lại là các khoảng thời gian thất nghiệp xen kẽ.
“Nhưng con bé còn dạy học nữa, tôi đã kiếm rất nhiều lớp cho nó.” Các lớp học có tên như dạy số học, lịch sử và địa lý cho lũ học sinh nam.
“Cô ấy thu bao nhiêu tiền học phí một buổi?”
“Sáu trăm lia.”
Cũng ngang một với tiền công của việc dọn dẹp theo giờ nhưng ngoài các định kiến xã hội và hạ thấp giá trị văn hóa thì Alberta Radelli không thu hoạch được gì nhiều từ những buổi dạy này. Anh chẳng kiêng dè lật bức ảnh lại, thứ mà nãy giờ anh đã úp xuống để cho cô chị xem. “Cô nhận ra rằng em gái mình đã làm công việc gì đó không được hay ho cho lắm chứ,” nhìn ảnh mà xem, dường như anh muốn nói vậy, “và tôi không thể tin được rằng cô không hề biết gì về điều đó, chưa kể đến việc hai người sống cùng nhau.”
Cô ta gật đầu như muốn nói, có, cô ta biết một chút, và Mascaranti đã sẵn sàng ghi lại tất cả những gì sắp được nói ra. Thỉnh thoảng cô ta cũng hoài nghi, bởi vì đôi khi, kể cả khi em gái cô ta không làm việc, con bé vẫn đưa cô ta hai mươi hoặc ba mươi nghìn lia để giúp trả hóa đơn hàng tháng.
“Cô ấy có nói tiền từ đâu ra không?”
“Có lần con bé bảo tôi là nó đang dịch một cuốn sách tiếng Pháp và được ứng trước tiền.”
“Thế cô có tin không?”
Cô ta đau khổ lắc đầu. “Hẳn là không rồi.”
“Cô có bảo với cô ấy là cô không tin lời cô ấy không?”
Cô ta không nói hẳn ra với em gái là cô ta không tin: cô ta đã cố gắng tìm hiểu xem em gái mình có qua lại với ai không, cô ta đã thật sự nghĩ rằng em gái mình có người tình, có thể là một người đàn ông không được trẻ cho lắm, khá hào phóng, nhưng cô ta không cố gắng tìm hiểu kĩ, nếu không thì cô ta đã không nhận tiền. Theo một cách riêng vụng về, cô ta cũng thành thật.
“Vậy là cô không hề biết,” anh càng lúc càng cao giọng, “cô ta kiếm số tiền đó bằng cách mồi chài đàn ông, hoặc được họ gạ gẫm, mỗi lần một người khác nhau.”
Không, cô ta không biết, và cuối cùng toàn thân cô ta rung lên, nhưng không hề khóc, cả khuôn mặt cô ta run rẩy thấy rõ, vậy nhưng chẳng có giọt nước mắt nào rơi. “Chuyện gì đã xảy ra thế? Con bé đã chết một năm nay rồi, chúng tôi đã phải chịu đựng quá nhiều rồi, cha tôi và tôi, giờ các anh còn muốn tìm kiếm điều gì?”
Không dễ để giải thích điều họ đang tìm kiếm và anh cũng không định thử làm vậy, bởi vì ngay bản thân anh còn chẳng xác định được chính xác điều họ đang tìm kiếm, sự thật chăng, nếu anh không thấy riêng về ý tưởng sự thật thôi đã nực cười rồi. Sự thật là gì? Nó có tồn tại không?
“Được rồi, cô không hề biết gì về chuyện này hết,” anh nói, cất ảnh vào trong cặp da, “nhưng biết đâu cô có thể kể cho chúng tôi nghe một vài chuyện, có thể sẽ giúp ích cho chúng tôi. Em gái cô nhất định phải có bạn bè, người quen. Cô đã bao giờ gặp bất kỳ người bạn nào của cô ấy chưa? Cô ấy đã bao giờ nói với cô về bất kỳ ai chưa?”
Cô ta dần bình tĩnh lại, một cách khổ sở, vì run rẩy hay khóc lóc đều vô dụng, phỏng có ích gì! “Con bé luôn nói rằng nó chuẩn bị đi gặp bạn này bạn kia, nhưng tôi không thể nhớ tất cả và đằng nào thì nó cũng chỉ nhắc đến mỗi tên không mà thôi.”
Anh yêu cầu cô ta nói cho anh những gì cô ta nhớ, và Mascaranti ghi chép lại toàn bộ. Người bạn mà cô ta nhớ rõ nhất là một giáo viên. “Cô ta chưa tốt nghiệp nhưng Alberta đã gọi cô ta là giáo viên. Cô ta từng đến đây một lần để đón con bé.”
Anh đang thẩm vấn một cách cặn kẽ: kẻ đã bị thẩm vấn vô số lần bởi công tố viên ở tòa án và cả ở trong tù, giờ lại là người đặt câu hỏi và đó quả là một trải nghiệm thú vị. “Vậy là cô không nhớ tên, có đúng không, cô chỉ biết cô ta là giáo viên?”
Không, cô ta nói, cô ta nhớ tên người đó, Livia Ussaro: cô ta chắc đã viết lại trong cuốn sổ địa chỉ nhỏ.
“Cảm ơn cô,” anh nói, “tôi có thể xem cuốn sổ địa chỉ này không?”
Cô ta vào hành lang, lấy nó xuống khỏi móc treo bên cạnh điện thoại và đưa nó cho anh. Không nhìn vội, anh cất nó vào trong cặp cùng bức ảnh. “Tôi sẽ mang trả lại trong vài ngày tới.” Livia Ussaro nghe không giống một cái tên cho lắm, nó có thể là một biệt hiệu: cứ thử tìm kiếm một người phụ nữ tên là Livia Ussaro xem và chắc chắn bạn sẽ chẳng tìm được gì cả. Và anh đã mệt mỏi với việc Mascaranti cầm cuốn sổ bé tí, gọn lỏn trong bàn tay to đùng của anh ta, cái bút Biro cũng nhỏ xíu, cùng thực tế là anh ta đang ghi chép lại tất cả mọi thứ.
“Cô có nhớ một người bạn nào nữa không?”
“Con bé nhắc đến rất nhiều người. Con bé sẽ nói kiểu, Em đi gặp Maurilia đây, không thì sẽ có người gọi điện và nói, Luisa đây, có Alberta ở đó không? ”
Có phải cô ta đang đùa cợt với anh không, hay đây là bản tính ngây thơ sơ khởi của con người mà may mắn còn sót lại nơi cô ta, một sự ngây thơ lý tưởng chỉ có trong sách vở?
“Tôi còn nghĩ đến cả bạn là nam giới nữa,” anh nói, kiên nhẫn nhưng giọng điệu đã có chút bực mình.
“Không, không bao giờ có nam giới.”
Mascaranti cào cây bút bi Biro qua tóc: anh ta không phải đang cố nghĩ ngợi sâu xa gì hết, nhưng người phụ nữ này đã nói cụm từ không bao giờ có nam giới một cách khá nghiêm túc, quyết đoán, như rút ra từ tâm can, cô ta không hề cố gắng lừa gạt ai hết.
“Bức ảnh mà tôi cho cô xem gợi ý rằng em gái cô có thể đã có vài người bạn nam đấy. Bất kể cô ta đã làm gì thì giờ cô ta cũng đã chết rồi, việc che giấu điều đó chẳng có nghĩa lý gì hết, rốt cuộc thì chúng tôi cũng sẽ điều tra ra thôi. Hẳn phải có người đàn ông nào gọi điện cho em gái cô chứ, có thể là rất nhiều, và có vài người chắc đã báo tên. Hãy nói sự thật với tôi đi.”
“Không bao giờ có nam giới gọi điện cho nó,” cô ta trả lời ngay lập tức với vẻ thành tâm áy náy vì không thể giúp gì cho anh được.
Cô ta không nói dối. “Có thể lắm,” Mascaranti nói. “Có thể cô ta đã không để họ gọi tới đây vì không muốn chị gái mình nghi ngờ.”
Và vì đang ở đó rồi, họ tiếp tục vi phạm một quyền công dân khác của cô ta, là lục soát nhanh căn hộ.
“Em gái cô chắc đã phải để lại một số đồ dùng cá nhân ở đây. Chúng tôi muốn xem chúng.”
Không nhận thức được rằng hiến pháp cho mình quyền từ chối, cô ta dẫn họ tới một căn phòng ngủ trong căn hộ. Có hai cái giường nhỏ như cũi của lũ trẻ bốn tuổi lúc nào cũng ôm chặt gấu bông khi ngủ và thật vậy, trên ván đầu giường bằng gỗ sáng màu có hình vẽ gấu, chó, bướm và ốc sên với sừng dài ngoằng. “Nó ngủ ở đây với tôi, tôi để quần áo của nó trong tủ đồ, và mọi món đồ khác của nó nằm trong cái va li trên nóc tủ.”
Mascaranti kéo va li xuống, mở nó ra, và chuẩn bị ghi lại tất tần tật mọi thứ có bên trong nhưng Duca ngăn anh ta lại. “Bỏ đi, chẳng có gì ở đây hết.” Có một đống áo lót, quần lót và dây nịt tất, vài cái kẹp tóc, một cái máy sấy, một cuốn tiểu thuyết của Moravia, một cái bút mực, và một gói thuốc lá đã mở: Alpha, nhãn hiệu thuốc khá nặng đối với một cô gái trẻ.
“Chúng tôi đã xong.” Không, không phải tất cả đều bị lộn tùng phèo. Người chị gái bất hạnh của Alberta có thể yếu đuối và ngốc nghếch, nhưng cô ta không biết gì hết, cô ta không liên quan gì đến mấy trò phi pháp này. Nhưng khi ra đến hành lang, trước khi đi, Duca vẫn hỏi, “Cô đã bao giờ tìm hiểu lý do em gái mình tự tử chưa?”
Cô ta nói “chưa” với khuôn mặt giữ nguyên biểu cảm, nhưng sau đó mắt lại rơm rớm. “Tôi không biết, thời điểm họ gọi tôi tới nhà xác thật khủng khiếp, tôi đã hy vọng không phải là con bé. Buổi tối hôm trước nó còn nói chuyện về việc hai bọn tôi cùng nhau đi nghỉ mát, con bé còn nói muốn đi một nơi thật xa, ra nước ngoài. Nó rất vui vẻ và tôi đã gạt đi, tôi nói chúng tôi không đủ tiền để đi nước ngoài, chủ nhà vừa đòi khoản tiền trả góp mới nhất, năm mươi nghìn lia, nhưng con bé muốn đi du lịch, xa hết mức có thể, nó đã nói vậy.”
Vậy ra đó là lý do mà ngày hôm đó, cô ta đã nói với Davide, bên bờ sông êm đềm, rằng cô ta cần năm mươi nghìn lia, và cậu ta đã đưa số tiền đó cho cô ta: cho các chi phí, người dọn dẹp, cái thang máy không hoạt động, gas, khoản tiền mà chị gái cô ta phải trả. Nhưng vì sao cô ta lại tự tử, đấy là trong trường hợp cô ta tự tử; không ai biết, cô chị còn mù mờ hơn bất kỳ ai khác. Anh hài lòng ít nhất thì không có gì khuất tất ở đây. Anh cố gắng hết sức để nói lời xin lỗi, vì sự tàn nhẫn của mình. “Tôi xin lỗi nếu đã làm phiền cô vào buổi tối, nhưng cô đi làm cả ngày và chúng tôi không thể đến vào thời điểm nào khác,” nhưng nỗ lực tỏ ra hào hiệp của anh chẳng khác nào cố quá thành quá cố: Alessandra Radelli bắt đầu nức nở, và khi họ đi xuống cầu thang, họ vẫn nghe thấy tiếng rấm rứt ấy cho tới tận lúc cô ta ra đóng cửa lại.
Xuống dưới nhà, họ lên con xe Giulietta, và Davide vẫn lái xe, tài xế bất đắc dĩ của một biệt đội cảnh sát tự phong, băng qua cả thành phố. Họ xuống xe ở khách sạn Cavour, trụ sở của họ, như họ vẫn làm hàng tối.
“Một chai Frascati không ngọt, không lạnh,” anh gọi ngay khi họ vào hai căn phòng liền kề. Họ cởi áo khoác và nới lỏng cà vạt, trong khi Davide không hề cởi áo. Họ đang bước sang giai đoạn điều trị thứ hai: đổi độc tố. Davide có thể tha hồ uống rượu vang tùy ý muốn, kể cả loại rượu vang có hương vị tương đồng với whisky, nếu thực sự có, nhưng không bao giờ được động vào, dù chỉ một giọt, whisky, hay bất kỳ thứ rượu mạnh nào khác. Trong hai ngày, Davide đã chống chọi khá giỏi, chỉ có điều sự im lặng của cậu ta có xu hướng trầm trọng hơn.
Mascaranti là một viên chức nhà nước, anh ta cần phải viết báo cáo công việc mà họ đã thực hiện trong ngày hôm đó và kế hoạch những gì họ sẽ làm ngày hôm sau.
“Cô chị là ngõ cụt,” anh ta nói. “Cô ta không cung cấp thêm cho chúng ta bất kỳ một manh mối nào.”
“Tốt,” Duca nói. Anh thích uống Frascati như thế này, hơi ấm, dù Davide có vẻ không thích lắm. “Hiện giờ cứ tập trung vào cuốn sổ địa chỉ đi,” anh lấy nó ra khỏi cặp táp và đưa cho Mascaranti. “Cứ gọi cho tất cả các số có trong đó, và nếu bất kỳ ai nghe máy có bất kỳ liên hệ gì với Alberta Radelli hoặc quen biết cô ta thì hãy ghi chép lại và chúng ta sẽ tới gặp họ. Trừ người này,” anh cầm lại cuốn sổ và mở phần vần U ra, ghi chép lại số điện thoại và địa chỉ: Livia Ussaro. Ussaro giống như hussar. Một biệt hiệu hay ho: có khi cô ta còn mặc áo khoác có tua rua vàng. “Đi nghỉ đi, chúng ta sẽ bắt đầu lại vào sáng mai.” Anh đưa quyển sổ lại cho Mascaranti. “Nhớ là chúng ta phải trả nó lại ngay khi có thể.”
Chưa đến mười giờ, nhưng cả hai căn phòng đều im lìm, âm thanh áp chót là tiếng Mascaranti đóng cửa lại khi ra ngoài, và âm thanh cuối cùng là tiếng rượu Frascati ùng ục đổ vào ly khi Davide rót ra. Giờ thì chẳng còn tiếng động nào nữa, chắc chắn Davide sẽ không nói một lời và Duca thì không thích sự im lặng. Anh ra mở hai cửa sổ: việc đó có thể khiến hơi nóng tràn vào nhưng cũng sẽ đem theo chút ít thanh âm xe cộ từ quảng trường Cavour.
“Cậu có thích đóng vai cảnh sát không?” Sự im lặng của Davide khiến căn phòng vốn đã yên tĩnh càng thêm tĩnh lặng, nó khuấy lên một hoài nghi kỳ lạ là cậu ta chỉ hiện diện thân xác ở đây, cậu ta vẫn tiếp tục di chuyển, ăn, uống, nhưng như thể chỉ nhờ quán tính, còn thật ra đã chết.
Cậu ta không mỉm cười và dường như cần thời gian để trả lời trọng tâm câu hỏi. “Nhưng tôi đâu có làm gì.”
“Cậu đã lái xe, cậu đi theo chúng tôi trong các cuộc điều tra, cậu làm việc nhưng là chạy chỗ nọ chỗ kia. Trong ngành cảnh sát, tài xế là một người quan trọng.” Cậu ta như chẳng buồn để ý đến những gì anh nói. Cậu ta không chấp nhận trò chuyện hay trêu đùa: bất chấp mọi thiện ý của anh, rượu Frascati chẳng mang lại chút sinh khí nào, bằng một giọt whisky. Duca vẫn tiếp tục nói như thể đang ở một mình: “Tôi thật sự thích đóng vai cảnh sát. Cha tôi không thích việc tôi muốn nối nghiệp ông nhưng ông đã sai.” Tất nhiên, giờ thì anh càng không thể trở thành một cảnh sát đúng nghĩa, hơn bao giờ hết. Đặc biệt là trong một vụ như thế này. Ông Carrua đã nói khá rõ về vấn đề này: “Nếu cháu tìm được điều gì đó không thỏa đáng thì đừng e dè vạch trần nó, nhưng hãy làm một cách kín đáo, vì hai lý do, một là cháu không thể chính thức tham dự, không thì tất cả chúng ta sẽ gặp rắc rối, lý do còn lại là vì ngay khi đám phóng viên phát hiện ra rằng chúng ta đang quan tâm tới vụ án này, sẽ sản sinh ra một vụ Montesi khác. Nó hội tụ đầy đủ mọi yếu tố, ít nhất là trong trí tưởng tượng vốn thích thêm mắm giặm muối của vài nhà báo. Nếu đây là một vụ Montesi, nếu thật sự có những cái tên cốt cán liên đới, nếu có gì đó thối nát đằng sau tất cả những chuyện này thì cũng đừng sợ, như chú đã nói, nhưng trước khi làm ầm ĩ lên thì chúng ta cần bằng chứng, không thì chỉ bọn báo chí hưởng lợi và tất cả chấm dứt. Bí mật, đó là mệnh lệnh tối thượng.”
Bí mật. Nói cách khác, giống như tìm kiếm một thứ gì đó trong bóng tối. Đối với chị gái của Alberta Radelli, anh đã có thể đối phó một cách đường đường chính chính: chúng tôi là cảnh sát đây, trả lời câu hỏi của chúng tôi đi. Nhưng với những đối tượng khác, anh phải cẩn thận: chẳng hạn, viện cớ gì mà cảnh sát có thể thẩm vấn Livia Ussaro này, tròn một năm sau cái chết của Alberta, mà không công khai, không có nguy cơ bại lộ trước công chúng? Anh tìm một cái cớ, nhưng không thể tìm ra lí do gì đủ thuyết phục, trong khi chính bản thân anh cũng không thích những cái cớ nghe thôi đã thấy thật ngu ngốc.
Nhưng khao khát gặp Livia Ussaro đang lớn dần lên trong anh từng phút một, thậm chí càng thêm cồn cào khi anh cảm giác mình cô độc giữa căn phòng khách sạn xa hoa này, nơi có tất cả mọi thứ bạn cần để thấy thoải mái, tất cả những thứ đồ tinh xảo mà bạn hầu như chẳng bao giờ có trong nhà mình, nhưng thiếu một thứ mà ngay cả căn nhà tồi tàn nhất cũng sẽ có, một thứ mà bạn không thể định nghĩa và thậm chí có thể còn không tồn tại, nhưng tất cả mọi người đều cảm nhận được nó như thể nó thật sự tồn tại. Trong phòng khách sạn, bạn sẽ hành động khác so với cách bạn hành động trong nhà mình, bạn nhìn mọi thứ theo một cách khác, có lẽ thậm chí còn suy nghĩ kiểu khác. Vậy nên anh đã ra quyết định: trong mấy buổi tối ở khách sạn này, Davide có mặt nhưng không hẳn là hiện hữu vì lượng rượu ngày một giảm dần, khiến lòng anh nặng trĩu. “Ít nhất thì chúng ta có thể nói chuyện điện thoại tử tế,” anh nghĩ, hay dự đoán, như thể anh có thể nhìn trước tương lai.
Anh đứng dậy, ngồi xuống giường, cạnh bàn đầu giường, nơi có điện thoại. Anh nhờ tổng đài viên quay cho anh số của Livia Ussaro, sau đó thả ống nghe xuống và chờ đợi. Anh nhác thấy khuôn mặt quay nghiêng buồn bã của Davide, và trên bàn là chai Frascati đặt trên một cái khay bạc lớn, được bọc trong một chiếc khăn ăn hảo hạng một cách nghệ thuật. Thật ra lúc này đã muộn để gọi tới một số điện thoại riêng, một người mà anh thậm chí còn chẳng biết, và sau một năm Livia Ussaro có thể đã chuyển nhà, hoặc đã chết, hoặc di cư tới Úc: giờ đây, chuyện gì cũng có thể xảy ra lắm chứ!
“Tôi có thể nói chuyện với Livia không?” Anh nói ngay khi nghe thấy giọng một phụ nữ trung niên ở đầu dây bên kia.
“Tôi nên báo là ai gọi đây?”
“Duca,” anh nói một cách ngắn gọn. Đó là cách mọi người nói chuyện điện thoại với bạn bè.
“Duca à?” Người phụ nữ nói.
“Đúng thế, Duca.” Im lặng. Người phụ nữ đã bỏ điện thoại xuống và rời đi, giọng bà ta trước đó có vẻ không được tin tưởng lắm: Duca, nghe như công tước. Thực ra nếu có nghi ngờ thì bà ta cũng không phải là người duy nhất, hồi đi học anh thậm chí còn ẩu đả với lũ bạn tinh quái hơn của mình: “Thế tên anh trai mày là gì, Đại Công tước à, hay Siêu Công tước?” Câu trả lời luôn luôn là: “Tên là thế này này,” nói cách khác, một cú đá vào đầu gối hoặc cẳng chân. Cha anh đã dạy anh chiêu đó.
“Xin chào?” Hẳn là cô ta, giọng trầm nhưng khá nữ tính.
“Livia à?”
“Phải, là tôi đây, nhưng tôi xin lỗi, tôi không nhớ.”
Đó là cô ta, cô ta vẫn tồn tại, thật sự tồn tại. Mong muốn được nói chuyện với Livia Ussaro của anh đã thành hiện thực. “Tôi mới là người nên xin lỗi. Cô tất nhiên không thể nhớ ra tôi, vì chúng ta chưa từng gặp nhau.”
“Xin anh, anh có thể nhắc lại tên cho tôi được không?” Cô gái buông lời thờ ơ nhưng giọng điệu vẫn có chút nhiệt tình.
“Tất nhiên, nhưng cái tên đó sẽ chẳng có nghĩa gì với cô đâu. Tôi muốn nói chuyện với cô về một người mà cả hai ta đều biết.”
“Cho tôi biết tên anh, không thì tôi sẽ dập máy.”
Một thế giới với thật nhiều nhân viên công vụ mẫn cán mới ám ảnh làm sao, từ Mascaranti, người phải ghi lại tất cả mọi thứ, cho tới người phụ nữ này, cần phải nghe, phải biết một cái tên cụ thể dù cho nó chỉ có bốn đến năm âm tiết, một cái tên bất kỳ: anh có thể dễ dàng nói với cô ta rằng tên anh là Orazio Coclite, thế thì có gì khác biệt cơ chứ? “Tên tôi là Duca Lamberti, dù có nói ra thì cô cũng không biết tôi là ai. Nhưng cả hai ta đều cùng quen một người.”
Lần này cô ta cũng không để anh nói hết câu. “Chờ đã, tôi đã từng nghe thấy cái tên này. À phải, tất nhiên rồi, anh là một trong các thần tượng của tôi! Hồi đấy tôi đã rất ngây thơ, tôi từng có rất nhiều thần tượng, tôi không còn nhiều thần tượng nữa, nhưng anh vẫn là một trong số đó, chỉ có điều trong ký ức của tôi.”
Anh nhìn xuống mũi giày của mình, đôi giày, với bàn chân anh bên trong, là thực thể, và anh phải thuyết phục mình rằng anh thật sự đang trò chuyện với một người phụ nữ, và người đó và nói với anh rằng anh là thần tượng của cô ta. Về mặt nào? Vì lý do gì?
“Cách đây ba năm, trong phòng xử án tôi đã hét lên, ‘Không, không, không, không!’ khi quan tòa tuyên án, họ đã kéo tôi ra ngoài và nhốt tôi vào một căn phòng suốt hai tiếng đồng hồ, hỏi tôi là ai, vì cái gì, và tôi thì chỉ nói: ‘Thật đáng xấu hổ, xấu hổ gấp nghìn lần, họ đáng lẽ không nên kết án tù anh ấy,’ và họ đã trả lời, ‘Thưa cô, hãy giữ im lặng, không thì chúng tôi sẽ nhốt cô vào tù vì phá rối trật tự công cộng,’ và tôi đã khóc suốt quãng đường về nhà. Tôi đã tham dự toàn bộ phiên tòa, tôi đã bảo với tất cả mọi người là họ phải tuyên bố trắng án cho anh, anh không phạm tội gì hết, trên thực tế họ còn phải trao phần thưởng cho anh, tôi đã đấu khẩu với những người đứng ở hành lang bên ngoài phòng xử án đấy.”
Tất nhiên, cô ta đang nói quá nhiều, nhưng giọng nói trầm ấm của cô ta không khiến anh bực bội như tiếng líu ríu đinh tai của những phụ nữ khác. Bên cạnh đó, cô ta còn đang nói ra những điều mà anh chẳng bao giờ ngờ tới, những chuyện mà anh chẳng bao giờ có thể tưởng tượng rằng có người sẽ nói với anh như vậy, kể cả cha hay em gái anh cũng chưa bao giờ nói chuyện gì như thế. Anh là một thần tượng. Anh có một người hâm mộ. Có lẽ là người độc nhất.
“Vậy mà bây giờ tôi thậm chí còn không nhớ tên anh chứ! Tôi thật sự cảm thấy xấu hổ đấy, anh không thể hình dung ra tất cả những tranh luận của tôi về cái chết không đau đớn, tất cả mọi người đều phản đối việc đó, họ có nguyên tắc của họ, nguyên tắc trân trọng sinh mạng, nguyên tắc mặc váy dạ hội đi tới La Scala.”
“Tôi vô cùng biết ơn, Livia.”
“Ôi, tôi xin lỗi, thường thì tôi không nói nhiều như vậy, chỉ khi tôi nói chuyện với một người thông minh mới thế, vậy nên tôi rất vui vì có thể nói chuyện với anh; nhưng tôi chắc chắn phải có lí do anh mới gọi cho tôi chứ?”
“Đúng vậy, tôi muốn nói chuyện với cô về một người mà cô từng quen: Alberta Radelli.” Đầu dây bên kia đột ngột chìm vào im lặng. “Không phải ngay lúc này, rõ ràng là thế. Một ngày nào đó gần nhất, bất kỳ lúc nào cô thấy thích hợp.” Sự im lặng vẫn kéo dài, nhưng anh biết cô ta vẫn ở đó, anh có thể cảm nhận được sự hiện diện của cô ta, dù anh thậm chí còn không nghe thấy hơi thở của cô ta. “Chuyện đó vô cùng quan trọng với tôi, và tôi nghĩ cô sẽ giúp ích rất nhiều.”
Và cuối cùng, cô ta cũng lên tiếng, giọng vô cùng trầm, ấm, và đồng thời, không còn cái vẻ cao ngạo như của đám nhân viên nhà nước nữa, nhưng là một kiểu gì đó tương tự, đúng, như của một giáo sư, chính xác là từ đó. “Có rất nhiều chủ đề mà tôi không thích nói đến, và Alberta là chủ đề tôi không thích nhất. Và giống như mọi vấn đề mà tôi không thích, tôi muốn xử lý chúng ngay lập tức.”
“Ngay bây giờ à?”
“Ngay bây giờ.”
“Chúng ta có thể gặp ở đâu?”
“Ở trên đường Plinio này. Có một quán bar ngay gần căn hộ của tôi. Tôi chắc chắn mình sẽ nhận ra anh: ở phiên tòa tôi đã nhìn anh liên tục suốt vài tiếng đồng hồ. Bao lâu thì anh có thể tới được đó?”
“Mười phút.”
Cuộc sống như một chiếc hộp kỳ diệu, trong đó có tất thảy mọi thứ: từ thứ giẻ rách cho đến thứ đắt tiền, kẻ sát nhân và Livia Ussaro. Anh dập ống nghe, cảm thấy hơi đờ đẫn, như thể anh đã uống quá nhiều Frascati, và trên thực tế anh lại rót cho mình thêm nửa cốc nữa, nhìn Davide, kẻ lờ mờ như một chiếc bóng, tồn tại như không tồn tại, và có một phút giây yếu lòng.
“Tôi phải ra ngoài bây giờ, nhưng tôi sẽ sớm quay lại. Tôi biết là cậu không thích rượu vang cho lắm, tôi sẽ bảo họ đưa một chai whisky lên, để giúp cậu trụ vững với cô đơn và bóng đêm.” Anh thực lòng quan tâm tới cậu. “Hãy hành xử như một người đàn ông nhé, Davide: cậu càng uống ít bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu.” Sự nhượng bộ này là một sai lầm, cả về mặt y khoa lẫn tâm lý. Nhưng có như vậy thì anh vẫn phải mạo hiểm, hơn tất cả, anh không muốn Davide lén lút uống khi anh vắng mặt. Nếu cậu ta muốn uống thì cậu ta được phép tự do làm vậy, và cậu ta đã được Duca cho phép.
Anh ra ngoài. Giờ anh sẽ đi xem Livia Ussaro trông như thế nào. Không hiểu sao anh không thể hình dung ra cô ta, ý nghĩ duy nhất của anh là cô ta hẳn phải khá cao.