Ta chẳng thể giải thoát khỏi một thứ bằng cách né tránh, mà phải vượt qua nó.
Cesare PAVESE
1.
Chiếc Zodiac hứng những đợt sóng ngầm khiến nó tròng trành lên xuống không ngừng. Ngồi trước bánh lái, tóp tép cọng cam thảo, Narracott thư thả lái thuyền. Ông ta thoải mái lênh đênh trên sóng còn tôi thì dặt dẹo. Hành trình ra đảo Karadec mãi chưa kết thúc. Trên vùng biển muôn trùng sóng gió này, mọi thứ đều khiến tôi nôn nao cùng khiếp sợ. Màn sương màu xà cừ dày đặc và ngột ngạt, bụi nước bắn lên vương mùi tảo biển hôi thối, những con sóng lạnh buốt đập vào thuyền không ngớt.
Để thêm phần tồi tệ, trời bắt đầu mưa. Chuyển động dập dềnh khiến dạ dày tôi cuộn lên. Hiểm nguy ở khắp nơi. Cứ mỗi đợt sóng dồi, tôi tưởng như một bàn tay đen ngòm trồi lên từ biển sâu sắp nuốt chửng chúng tôi. Co quắp ở băng ghế sau, tôi nắm chặt khung thuyền bằng sắt, nhắm mắt để cố thoát khỏi cơn ác mộng này. Tôi chỉ còn biết nghiến răng chờ cho cơn bão đi qua và để tâm trí trôi theo màn sương trắng sữa, chẳng thể chú tâm vào điều gì.
Tôi không biết hành trình còn kéo dài bao lâu, nhưng khi quyết tâm mở mắt, khung cảnh xung quanh đã đổi khác hoàn toàn.
Bị ánh sáng ban mai xuyên thủng, bức màn mây bắt đầu tan dần để lộ ra đảo Karadec. Tôi lấy tay che nắng để nhìn cho rõ. Hòn đảo lập tức làm tôi nghĩ đến bìa cuốn Hòn đảo đen của Hergé. Không thấy dải cát nào, chỉ có những tảng đá và một truông đất hình bán nguyệt rộng lớn bao quanh đỉnh núi, nơi mọc lên tòa tháp nhỏ kiên cố có kiến trúc thời Trung cổ.
– Thế nào, được đấy chứ? Narracott nói.
Chiếc Zodiac giảm tốc độ. Gió nổi lên và trời khá đẹp.
– Ta đậu thuyền ở bờ bên kia à?
Viên hải quan lắc đầu.
– Không. Đây là lối duy nhất vào đảo, ở bờ Nam, ông ta giải thích. Bờ đối diện còn dốc hơn.
Con thuyền dần tiến gần đảo, tôi mới hiểu việc cập bến sẽ ngặt nghèo lắm. Chẳng có chỗ nào để đậu thuyền trừ một mẩu đê khá ngắn cùng lan can bằng đá đã hỏng phân nửa.
Narracott chật vật. Gió mạnh và thất thường buộc ông ta phải liên tục điều chỉnh động cơ cân bằng mà không tài nào giữ con thuyền đứng yên được.
– Anh nhảy được không? ông ta hỏi tôi vì xét thấy mình không thể tiến thêm nữa.
Tôi lấy đà nhảy lên rồi ngã bổ nhào xuống mép đê xi măng. Tôi đứng dậy tiến vào bờ biển toàn sỏi và đá cuội.
– Well done, chàng trai! viên hải quan hô lên. And now, it’s up to you.[1]
Ông ta vẫy tay tạm biệt rồi nổ máy và biến mất khỏi tầm mắt tôi.
2.
Sau một đoạn đường trải dài toàn dương xỉ và kim tước, khung cảnh mang màu sắc Ireland: than bùn len lỏi trong các vỉa đá, vẽ nên những cột đá bazan của người khổng lồ leo lên tận lâu đài.
Hòn đảo phải cao chừng bốn chục mét so với mặt nước biển. Tôi leo “cầu thang” để rồi đứng trước một tòa tháp tứ giác với hai chòi canh. Một nơi vừa để ở lẫn phòng thủ giống các tower house tôi từng thấy ở Scotland. Nhưng dinh thự cổ của dòng họ Karadec đã tan hoang từ lâu. Một phần mái bị gió thổi tốc, các ô cửa sổ mất kính và chòi gác phía Nam nhìn như sắp sập đến nơi.
Đi vòng quanh tòa tháp, tôi nhìn thấy từ xa một lối mòn dẫn xuống phía bên kia đảo, xuyên qua đất đá cùng cây cối. Tôi men theo con đường đến một vỉa đá dẹt, nơi nhìn được toàn cảnh mặt khuất của hòn đảo. Narracott nói đúng. Nửa kia hòn đảo bị phủ dưới rừng cây đậu chổi, với các vách còn dốc đứng hơn, và cũng là thiên đường của chim ưng, bồ cắt cùng hải âu cổ rụt.
Tôi đi tiếp đến tận mũi phía Đông, nhưng nhanh chóng gặp phải sợi dây xích han gỉ ngăn trở tôi tiếp tục con đường mòn. Một tấm biển tráng men cũ rích cảnh báo: NGUY HIỂM CẤM VÀO.
– Chào Rapha!
Tôi quay ngoắt đầu vì nhận ra giọng em gái sau lưng.
– Chào Vera.
Ngày hôm đó, con bé khoảng bảy, tám tuổi, như những lần xuất hiện mấy tuần nay. Nó mặc quần soóc ka ki, áo phông màu vàng tươi và treo một bình nước nhỏ trên chiếc ba lô du lịch.
– Anh có vẻ mệt nhỉ, nó nói, đoạn dừng lại trước tấm biển.
– Đúng, anh không ngủ được mấy.
Nó nhìn tôi qua cặp kính râm hình trái tim và cau mày khi phát hiện vết thương trên mặt tôi.
– Ai làm thế?
– Anh bị ông già Noel tẩn.
– Rapha! Em thừa biết ông già Noel không tồn tại!
Bấy giờ mặt trời đã hoàn toàn ló dạng và bắt đầu leo lên bầu trời, chiếu sáng chân trời bằng thứ ánh nắng lúc mạnh lúc yếu vì phải chống chọi với những đám mây. Vera đến ngồi dưới hai cây mimosa rồi nhoẻn cười đưa tôi chai nước.
– Em có Banga[2] này! Anh khát không?
– Có chứ.
Tôi lại gần Vera và tu hai ngụm lớn, cảm thấy như được tưới tắm trong thứ nước ngọt mát lành của tuổi thơ. Rồi tôi ngồi cạnh con bé và nhìn nó cười, ngâm nga hát và đùa nghịch với làn gió quét qua hai đuôi sam.
Tôi đã gặp rất nhiều bác sĩ tâm lý, uống đủ loại thuốc, thực hiện các loại liệu pháp. Thế nhưng, không ngày nào tôi không nghĩ đến cái chết của em gái. Trong đó, tôi thấy hình ảnh Vera bị nhốt trong lò lửa bằng sắt đang gào khóc. Tôi chắc chắn con bé đã cầu cứu mình. Mỗi khi gặp khó, nó luôn nhờ tôi giúp. Khi bị xịt lốp xe đạp, khi mắc chân vào hàng rào lưới trong vườn. Nó gọi tôi và tôi giải quyết rắc rối cho nó. Với con bé, tôi là anh hùng. Và ấy là vị trí tôi ưa thích.
– Em đã nói là anh đâu làm gì được, nó nói như thể đọc được suy nghĩ của tôi.
Lần nào chúng tôi cũng nói đi nói lại một câu chuyện, gần như giống đến từng từ.
– Lẽ ra anh không được để em đi với mẹ. Lẽ ra anh không được viết lá thư nặc danh ấy.
Con bé nhún vai, bĩu môi cứng rắn nom rất kỳ cục.
– Lúc đó anh mười tuổi. Anh đâu được lựa chọn. Tự làm khổ mình vì chuyện đó chẳng ích gì.
– Thế tại sao em quay lại? Tại sao em không ra đi mãi mãi?
Con bé lảng tránh câu hỏi bằng cách làm mặt hề. Tôi gặng hỏi.
– Em sẽ không bao giờ rời đi phải không?
– Đúng vậy, Vera đáp.
– Tại sao?
– Vì anh không bao giờ để em đi.
Một giọt nước mắt đơn độc lăn trên má tôi và, trong vài phút, con bé và tôi đều không nói gì. Chúng tôi hài lòng chiêm ngưỡng khung cảnh cùng những đám mây trôi vội vã trên đầu. Chúng tôi thấy ổn. Gió rì rào giữa các nhành mimosa. Nắng thoắt ẩn thoắt hiện như thể Chúa đang chơi đùa với công tắc của chiếc đèn chụp khổng lồ. Chỉ trong vài giây, các tảng đá có thể chuyển từ trắng sang xám, từ vách đá ở Étretat sang vách ở Dunnet Head.
Tôi những mong khoảnh khắc này kéo dài mãi mãi, nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang bởi Vera đứng dậy và móc lại bình nước.
– Em phải đi đây.
– Đi đâu?
– Gặp bố, nó nói rồi đeo ba lô lên. Hai bố con đã hẹn gặp nhau ở bãi biển nhỏ cách đây không xa.
– Quanh đây đâu có bãi biển nào, Vera, mà bố cũng không ở đó. Bố đang ở Paris, trong bệnh viện.
– Không lâu nữa đâu.
Con bé buộc lại dây giày bị tuột và bước qua dây xích chắn ngang con đường.
– Chờ anh!
Tôi muốn đi theo con bé, nhưng tôi cảm thấy nó sắp rời khỏi tôi và chỉ tích tắc sau, nó biến mất.
3.
Paris. Bệnh viện Pompidou.
Sáng ngày Giáng sinh, 8 giờ 28.
– Bác sĩ, có vấn đề với bệnh nhân phòng 18.
– Marc Batailley? Có chuyện gì?
– Ta sắp mất ông ấy rồi.
– Không thể nào. Ông ấy vẫn hoàn toàn ổn định khi tôi qua khám mà!
– Thì, bây giờ không còn ổn nữa...
– Được rồi, tôi qua đây.
Tôi vẫn hôn mê nhưng tôi nghe thấy họ nói chuyện. Tôi cảm thấy họ đang tất bật quanh mình. Tôi thấy họ cố hồi sinh thân xác già nua của tôi. Xoa bóp tim. Máy theo dõi. Khử rung tim. Mọi phương pháp. Hai trăm Jun truyền qua miếng bít tết với hy vọng cổ máy khởi động trở lại! Nhưng chẳng ích gì. Tôi đang cất cánh. Tôi sắp rời đi. Tôi sẽ thoát khỏi cái bệnh viện tồi tệ này. Khỏi cuộc sống tàn tạ. Như bầy cá hồi hoang, tôi lội ngược dòng sông ánh sáng để chết ở đó. Adrenaline. Các ống Cordarone. Chẳng thể tiếp thêm sức lực hay hồi sức. Cục pin đã cạn. Chiếc xe không còn muốn đi đâu nữa. Tôi chẳng thể nhận lấy hay cho đi thứ gì. Để tôi yên! Để tôi yên!
– Bố ơi?
Tôi quay lại, nhưng không còn ở bệnh viện. Mặt trời chói chang. Gió mang theo hơi muối thổi vào mặt tôi, cát vàng óng.
– Bố!
– Vera...?
Tôi chưa bao giờ mơ thấy con bé. Từ khi mất con, để chắc chắn không gặp nó trong cơn ác mộng, tôi chỉ ngủ khi đã uống thuốc. Thà đầu óc mụ mẫm còn hơn đau đớn.
– Đến tắm nào bố. Biển đẹp hết sảy!
Khi tôi bước xuống làn nước cùng con bé, nó nhảy lên cổ tôi và tôi gặp lại nó qua những giọt nắng. Tôi khóc, tôi cười. Tôi dùng toàn bộ sức lực để bấu víu vào mùi hương, vào đôi mắt trong veo, vào tràng cười khúc khích của con bé.
Tôi biết lần này tôi sẽ không bao giờ để ai cướp nó khỏi mình.
4.
Đảo Karadec.
Từ khi tạm biệt Vera, tôi đi dọc vách đá theo con đường hẹp lõm xuống vì xói mòn. Khung cảnh rộng lớn thật choáng ngợp. Mặt biển lấp lánh, nhưng tiếng sóng dồi vang dọc vách đá nhắc nhở rằng nguy hiểm chết người có thể rình rập chỉ sau một bước chân hụt. Tại một khúc ngoặt, ánh nắng phản chiếu khiến tôi lóa mắt như thể bị ai đó bắn một tia thủy ngân vào mặt. Không nhìn được gì, tôi giơ hai tay lên tự vệ. Những vệt đen chập chờn trước mắt mờ dần và tôi phát hiện một khung cảnh phi thường. Cách đó vài trăm mét, người ta đã phục dựng một nhà hát cổ đại nhỏ, tựa vỏ sò khổng lồ nở ra trong đá.
Công trình này có từ khi nào? Vũ đài ngoài trời được xây trên sườn đồi dốc đổ xuống biển. Các bậc đá xây thành hình bán nguyệt bao quanh sân khấu, chính giữa sân chễm chệ pho tượng toàn thân của Dionysus. Xa hơn chút nữa, được đắp cao vài mét, là sân khấu được ghép hoàn toàn từ gỗ ván. Và đằng giữa sân, tôi nhận ra Garance de Karadec đang trùm một lớp da thú, bị trói chặt vào cái ghế làm từ cành cây thô sơ. Phơi mình ngoài gió như một nạn nhân hiến tế.
Tôi nhìn ngó xung quanh, nhưng không thấy một ai. Tôi rút khẩu MR 73 trong túi ra, lên đạn, và đi qua một dãy ghế để đến chỗ cô ấy.
– Garance!
Đúng lúc tôi trèo lên sân khấu bằng cầu thang bên hông, một dàn thiết bị bay không người lái xuất hiện trên đầu tôi. Bốn, năm rồi sáu thiết bị bay trang bị máy quay tuần hành trên bầu trời.
– Raphaël! Garance hét lên đầy hoảng loạn, bất chấp dải khăn buộc quanh mồm.
Tôi giúp cô ấy tháo giẻ bịt miệng và đống dây trói siết chặt hai tay cùng mắt cá chân. Tấm da thú cô ấy choàng lên người thực gớm ghiếc và hôi thối: một lớp lông thú thật với cái đầu dê.
– Kẻ nào đã trói em ở đây?
– Em sẽ giải thích sau. Ta phải đi thôi. Nhanh lên!
– Nhưng đi kiểu gì?
– Có một con thuyền đậu ở bến nổi, ngay sau đường mòn.
– Cẩn thận!
Đám thiết bị bay không người lái lượn lờ xung quanh chúng tôi chợt áp sát một cách nguy hiểm, bay thành những vòng tròn đồng tâm, như thể đã được lập trình để tấn công chúng tôi. Tôi chĩa khẩu súng về phía chúng hòng xua đuổi. Bàn tay đẫm mồ hôi, các ngón siết chặt cò, tôi cố bắn rơi một thiết bị. Hiển nhiên là bắn trược, tôi vốn là một người cả đời chưa từng đụng đến vũ khí. Garance đoạt khẩu súng từ tay tôi.
– Để em thử.
Như thể đã làm chuyện này cả đời, cô ấy lấy hai tay nắm chặt báng súng, quét nòng khẩu MR 73 lên trời rồi bắn hai phát đạn, làm nổ hai thiết bị bay. Bốn chiếc còn lại lập tức rút lui.
Hài lòng với chiến công của mình, cô ấy đứng bất động một lúc rồi mỉm cười trước ánh mặt trời. Ánh sáng mang đến sự điên rồ tột độ trong ánh mắt màu lục lam của cô ấy.
Vội vàng muốn rời đi, tôi đưa tay về phía Garance, nhưng cô ấy từ chối.
– Anh phải cảnh giác chứ, Raphaël.
– Cảnh giác với ai?
– Em.
Khi tôi còn đang ngơ ngác nhìn, Garance chĩa khẩu súng vào tôi và tức thì bắn một viên đạn trúng ngay trên đầu gối tôi.
5.
Tiếng thét của tôi hòa cùng tiếng súng nổ dội lại. Tôi bật ngã ra sau và ngồi đúng vào cái ghế bằng cành cây. Theo phản xạ, tôi đặt tay lên vết thương để xem xương bánh chè có còn nguyên vẹn không. Lực va chạm kinh hoàng tới nỗi tôi có cảm giác viên đạn làm đứt rời một phần chân mình.
– Tại sao?... tôi thì thầm.
Những giây đầu, tôi tưởng như toàn thân mất sạch cảm giác, rồi dần dần, các van thần kinh đau mở ra.
– Tại sao? Tại sao em làm vậy?
– Vì anh là nạn nhân thứ ba. Vật hiến tế thứ ba dâng thần Dionysus.
Tôi cố hiểu và lấy lại hơi thở. Một phần trong tôi cho rằng mình sẽ thuyết phục được cô ấy. Song phần còn lại bảo rằng tôi sẽ chỉ bị giết thật nhanh thôi.
– Garance, tỉnh táo lại đi. Chính Amyas đã kéo em vào chuyện này. Chính hắn đã nhồi nhét những thứ ngu xuẩn vào đầu em.
– Dĩ nhiên rồi, lỗi lúc nào cũng ở đàn ông. Còn phụ nữ chúng tôi chỉ là những nạn nhân bé bỏng khốn khổ của chế độ gia trưởng áp bức. Ha! Ha! Ha! Nhưng Amyas chỉ là một gã thảm hại theo chủ nghĩa vô chính phủ thôi, cô ấy nổi cáu. Một kẻ tầm thường làm theo những gì TÔI bảo.
Nụ cười nhường chỗ cho cơn thịnh nộ. Cô ấy cởi lớp da dê và mặc dưới lớp áo lố lăng ấy một chiếc váy tuyệt đẹp làm từ hàng trăm mảnh gương nhỏ phản chiếu trời và biển.
– Tất cả chuyện này thật vô nghĩa, Garance.
– Tự do là vô nghĩa ư?
– Tự do thì liên quan gì ở đây?
– Tự do chỉ có thể sinh ra từ men rượu, ma túy, huyễn tưởng, mộng mơ, kịch nghệ và giả dạng: tất thảy những gì có thể giúp ta tách khỏi vị trí mà người ngoài muốn gán cho ta. Anh có biết vào thời Elizabeth, tín đồ Thanh giáo gọi kịch là “ngôi nhà của quỷ” không? Họ nghĩ kịch cổ súy những thói hư tật xấu và sự trụy lạc, bởi nó đồi bại và vi phạm thuần phong mỹ tục.
Lúc này, cao tận trên trời, mặt trời tỏa xuống nghìn ngọn lửa. Đứng một mình trên sân khấu, Garance tuyên bố lý tưởng của mình như một nữ hoàng trong cung điện mùa hè. Tôi thở dốc đáp lại.
– Rất tiếc, nhưng anh chẳng thấy liên quan gì.
– Có chứ, anh thấy rõ là đằng khác, cô ấy đáp, gần như một bà mẹ. Vì anh và tôi giống nhau. Tôi biết điều ấy ngay từ lần đầu chúng ta gặp nhau. Chúng ta không thể chịu đựng nổi cuộc sống. Chúng ta đi tìm lối thoát ở mọi nơi để không chết vì sự thật trần trụi. Chúng ta chỉ có thể chấp nhận sự tồn tại của mình bằng cách cầu viện những phương thuốc tạm thời. Với anh, đó là viết văn và toàn bộ những lời dối trá anh kể bấy lâu nay với bố mình. Với tôi, đó là diễn kịch, là vô vàn những nhân cách, sự ngây ngất khi thao túng. Chúng ta không sống trong cuộc đời thực, Raphaël ạ. Chúng ta tiến hóa trong một “thực tại ảo” nơi ta tự tạo ra và cạnh tranh với cuộc sống thực. Anh có biết thuật ngữ này lần đầu được dùng đến để nói về kịch nghệ không?
Vui sướng và hạnh phúc, cô ta nhìn tôi hấp hối mà không có lấy chút đồng cảm hay cảm giác tội lỗi nào.
Tôi nghiến chặt răng. Cơn đau quá khủng khiếp. Tồi tệ hơn tất thảy những gì tôi từng trải qua cho tới giờ phút này. Tôi có cảm giác xương đùi mình đang vỡ vụn trong chân.
– Nếu... nếu tôi giống cô, tại... tại sao cô lại muốn giết tôi?
– Vì đó chính là bản chất của bi kịch, tình yêu ạ. Anh là người hùng chiến đấu trong vô vọng hòng thoát khỏi số phận.
– Còn cô, cô là ai?
– Tôi là người ban ơn tới giải phóng tâm hồn bị đè nén của anh. Và tôi là cánh tay đắc lực của số phận. Người giết anh để giúp anh được tái sinh.
– Tái sinh?...
Tôi dồn hết sức và, bằng nỗ lực cuối cùng, tôi cố gượng dậy và cướp lại khẩu súng. Nhưng cô ta dễ dàng né được và bắn thêm phát nữa trúng ngực tôi.
Hai tay bắt tréo, tôi ngã xuống giữa sân khấu trong lúc bốn thiết bị bay trang bị máy quay trở lại xoay tròn trên đầu để ghi lại khoảnh khắc cuối cùng của tôi.
6.
Nước mắt ấm và mặn chát chảy giữa đôi mắt khép hờ của tôi. Sau tấm lọc hơi mờ ấy, tôi thấy - hoặc đoán thấy - Garance de Karadec đang rời khỏi sàn diễn với nụ cười cuối cùng dành cho tôi. Rồi tầm nhìn của tôi gần như mờ đi hoàn toàn và tôi nhắm mắt.
Tôi nghe thấy tiếng biển khơi khẽ khàng dâng lên. Giọng cười nhạo báng của vị thần báo thù. Tôi vã mồ hôi, tôi thấy lạnh rồi lại nóng. Tôi cảm thấy các mạch máu căng tràn dòng máu ấm đang đập nơi cổ. Những hình ảnh và cảm giác êm dịu chiếm lấy tôi. Sự tươi mát của cây xanh, của những đám mây bạc, mặt trời khoan dung khải hoàn.
Rồi mọi thứ chao đảo như lộn ngược chiều và tôi chợt thấy mình ở nơi tràn ngập ánh sáng, chân trần đứng trên một bờ biển.
Cơ thể tôi nhẹ bẫng đến kỳ lạ, trút bỏ mọi đớn đau. Tôi trở lại tuổi lên mười! Tôi vui vẻ đi vài bước trên nền cát ẩm.
– Rapha!
Tôi quay đầu vì nhận ra giọng của em gái.
– Em biết chắc anh sẽ đến mà!
Vera và bố tôi ở đó.
Họ đang đợi tôi.
Chú thích:
[1]Tiếng Anh trong nguyên bản, nghĩa là: Làm tốt lầm [...] Và bây giờ là việc của anh.
[2]Một hãng nước ép cam đóng chai của Pháp.
.“Nhưng chúng ta sẽ cùng bước xuống phía mặt trời. Một thời khắc sẽ tới khi chúng ta thấy nhẹ bẫng, tươi vui và chân thật mặc mọi đớn đau. [...] chúng ta sẽ chạy trốn khỏi những quốc gia tăm tối kia, tôi sẽ lấy lại tất thảy sức lực và chúng ta sẽ là những đứa trẻ miền Nam da ngăm kháu khỉnh.”
Albert Camus viết cho Maria Casarès,
26 tháng Hai 1950
*
Tham khảo
Trang 7: Romain Gary, Lời hứa lúc bình minh, Gallimard, 1960;
trang 13: Georges Simenon, Người con, Presses de la Cité, 1957;
trang 31 (và trang 18): Buổi sáng của những pháp sư, Louis Pauwels, Jacques Bergier, Gallimard, 1960;
trang 33: Jules Supervielle, Đứa trẻ của biển cả, Librairie Gallimard, 1931;
trang 43: Harold Arlen, trong Phù thủy xứ Oz, 1939;
trang 51: Louis Aragon, Aurélien, Gallimard, 1944;
trang 65: Thời gian tìm lại được, Marcel Proust;
trang 71: Serge Filippini, Người trong lửa, Phébus, 1991;
trang 73: Louis Aragon, “Ta cùng đi ngủ”, Nàng Elsa điên, 1963;
trang 74: Franz Kafka, Thư gửi Felice Bauer;
trang 77: Sự nhút nhát của những người đứng đầu, Raphaël Batailley;
trang 86: “Những bí mật nho nhỏ thảm hại”, Những cây hồ đảo của Louis Auranche, André Malraux;
trang 89: Thư Paul Cézanne gửi Louis Aurenche, ngày 25 tháng Giêng 1904;
trang 103: Tristan, Thomas Mann; trang 107: được cho là của Honoré de Balzac, theo cuốn Thuyết vận động, 1851;
trang 125: Philip K. Dick, “Cách xây một vũ trụ để nó không sụp đổ sau hai ngày”, 1978
; trang 139: Donna Tartt, Bậc thầy ảo giác, tủ sách Feux Croisés, Plon, 1993;
trang 149: The Bacchae, Euripide;
trang 157: Boris Vian, Bài hát ru cho những chú gấu không ở kia, Fayard, 2001;
trang 167: Pierre Louÿs, Bài ca của Bilitis, Librairie de l’art indépendant, 1895;
trang 191: Francis Picabia, Chúa Jesus phóng khoáng, tủ sách Dada, NXB Au Sans Pareil, 1920;
trang 212: Marceline Desbordes-Valmore, “Những kẻ chia xa”, trong Các tác phẩm thi ca, tạp chí đại học Grenoble, 1973 [1839];
trang 219: Constantin Stanislavski (1863-1938);
trang 237: Philip Roth, Mục sư Hoa Kỳ, Gallimard, 1999;
trang 244: A! Ly vang trắng bé nhỏ, lời thoại của Jean Dréjac; trang 248: Đi tìm thời gian đã mất, Marcel Proust;
trang 253: Gérard de Nerval, “El Desdichado”, Chimera, trong Những cô gái lửa, 1854;
trang 257: Joyce Carol Oates, Cô gái tóc vàng, tủ sách La Cosmopolite, Stock, 2000;
trang 287: Sách vỡ lòng của Gilles Deleuze, phim tài liệu, với Claire Parnet, 1996;
trang 315: Paul Valéry, “Những bước chân”, Sự quyến rũ, Gallimard, 1922;
trang 321: Louis Jouvet, Chàng diễn viên thoát xác, tủ sách Champs, Flammarion, 2009;
trang 345: Cesare Pavese, Nghề sống, Gallimard, 1958;
trang 357: trong bản ghi chép của Nietzsche cho cuốn sách dang dở, Ý chí quyền lực;
trang 361: Albert Camus, Maria Casarès, Thư từ, 1944-1959, bức thư ngày 26 tháng Hai 1950, Gallimard, 2017.
Các nghệ sĩ và tác phẩm khác được nhắc đến
The Beatles, David Bowie, Marlon Brando, Peter Brook, Lewis Carroll, Nathan Fawles, E. M. Forster, Hergé, J.-M. G. Le Clézio, Marilyn Monroe, Romain Ozorski, Elvis Presley, William Shakespeare, Pierre Soulages, Charles Trenet, Oscar Wilde. Cảnh sát hay lưu manh, Geronimo Stilton, Cuộc chiến tại phố Hoa, Mặt tối của thiên đường, Nosferatu, A Clockwork Orange, Nỗi sợ bao trùm thành phố, Pif Gadget, Shining, Bay trên tổ chim cúc cu.
Quán Liberty Bar, Joan Moers và Valérie Janvier dĩ nhiên được lấy cảm hứng từ kỷ niệm về nhà văn Georges Simenon. Tương tự, tên Fred Narracott để tưởng nhớ Agatha Christie. Chiếc đồng hồ Résonance ngoài đời thực, nguồn cảm hứng cho đồng hồ trong tiểu thuyết (trang 72), là tác phẩm của François-Paul Journe. Trong số những địa điểm tại đó diễn ra câu chuyện, The Glass House được lấy từ những “Ngôi nhà kính” khác trên khắp thế giới, đặc biệt là ở Hoa Kỳ.