Ta diễn kịch bởi ta chưa bao giờ cảm thấy là chính mình và để rốt cuộc ta có thể là chính ta.
Louis JOUVET
ROXANE
1.
Trụ sở cảnh sát thành phố Nice.
Cửa sổ duy nhất của phòng thẩm vấn rung lên bần bật sau trận sấm chớp vang rền. Trời mưa suốt đêm. Cơn bão tận thế tấn công liên hoàn vào thành phố, nhấn chìm các con đường, xô bật các gốc cọ, lật tung các mái nhà. Đang là 7 giờ sáng, nhưng trời vẫn tối mịt. Nửa đêm hôm trước, khi Roxane tưởng mình sắp được thẩm vấn Amyas Langford thì tay diễn viên kêu đau bụng. Việc tạm giam hắn hoãn lại. Hắn lại được chuyển sang bệnh viện Archet và ở đó gần như cả đêm rồi mới được đưa về trụ sở cảnh sát.
Về phía cánh cảnh sát, sự căng thẳng tăng thêm một bậc. Dù họ đã tăng cường lùng sục các vùng phụ cận đường cao tốc và các trạm xăng, nhưng không ai có được bất cứ thông tin nào về sự biến mất của Garance de Karadec.
Nhờ tiếp thêm cafein, Roxane dành những giờ cuối cùng để dùi mài đống sách thần thoại. Khi ngày lên trong muộn màng và cơn mệt mỏi sắp sửa quật ngã cô, cánh cửa rốt cuộc cũng mở. Bị còng tay, gã người Anh được Serge Cabrera hộ tống vào phòng. Cái cổ thô to, dáng người lực lưỡng, tóc đen dài và xoăn, viên cảnh sát người Paris là một trong những nhân vật máu mặt của Sư đoàn Cảnh sát Tư pháp số 3, và anh ta xử sự như thể đây là nhà mình.
– Cô canh chừng hắn hộ tôi mười phút, hiểu chưa cô gà mái? Sau đó, hãy trả hắn lại cho chúng tôi, anh ta nói bằng giọng người chân đen[1].
Roxane im lặng nhìn gã thú vật. Cabrera tự tin với đôi bốt da đánh xi và áo sơ mi hồng nhạt mở cúc để lộ vùng ngực rậm rạp. Anh ta tì lên vai Langford để ép hắn ngồi xuống rồi cuối cùng nổi cáu.
– Làm gì thế, đồ gà mái? Muốn chụp hình tôi chắc? anh ta hỏi rồi rời khỏi phòng với vẻ mặt đần độn và chiếc đồng hồ dây xích.
Còn lại một mình với Amyas, Roxane đứng trước mặt hắn một lúc, gõ lên màn hình máy tính đặt trên mặt bàn sắt dài. Cảnh sát bên BRI đã tìm được nó trên ghế cạnh lái của chiếc Audi. Thay vì gửi nó cho đám kỹ thuật viên thể nào cũng mất nhiều ngày khám xét, đội điều tra đã chọn cách hợp lý hơn là giữ nó trong tay với hy vọng moi được mật khẩu từ gã người Anh trong thời gian tạm giam.
– Cô cũng mong tôi đưa mật khẩu cho cô à? Cô thực sự nghĩ làm thế sẽ giúp cô tìm lại cô gái đó ư?
Bằng đôi tay bị còng, gã diễn viên kéo cao chiếc áo khoác nhung tăm trên vai và dùng nó như áo choàng. Trên cúc áo hắn có móc một thứ kiểu khuy cài trông rất ghê tởm, nó khiến Roxane nghĩ đến con nhện của Louise Bourgeois[2] với phần thân teo tóp và những cái chân quái dị cắm thẳng đứng.
– Không, tôi chẳng quan tâm đến cái mật khẩu của anh, Roxane đáp. Tôi đang cố hiểu, thế thôi.
– Hiểu gì?
Amyas Langford có chất giọng lạ. Nhẹ nhàng nhưng pha khẩu âm Anh thiên nhiều về kiểu Đức. Đâu đó giữa giọng Jane Birkin và Christoph Waltz.
– Thật ra là tôi không hiểu vì sao anh làm chuyện này, cô vừa nói vừa đặt cuốn sách lên bàn rồi ngồi đối diện hắn.
Hắn lén nhìn nhan đề cuốn sách: Đại lễ Dionysus. Sự ra đời của sân khấu cổ điển Hy Lạp.
– Tôi sẽ để anh thoải mái, Amyas. Tôi biết anh có nhúng tay vào án mạng ở Avignon và Stratford. Tôi có bằng chứng buộc tội anh và dù anh đang ở Pháp nhưng tòa án sẽ xử phạt anh hai mươi năm tù giam. Trò chơi kết thúc.
– Yes, you’re right. Game is almost over[3], hắn đáp, chấp nhận định mệnh, rồi nói thêm: “nhưng tôi sẽ giữ phần hay nhất đến cuối”.
– Vậy là câu chuyện về tín ngưỡng thờ Dionysus tạo động cơ cho anh à?
Langford duỗi cánh tay ra trước, bẻ các khớp ngón tay. Mặt trong cổ tay trái của hắn có một hình xăm chữ gothic: Totus mundus agit histrionem. “Mọi người thảy đều là diễn viên.” Nói cách khác là: Cả thế gian là một sân khấu. Khẩu hiệu của Globe, nhà hát của Shakespeare. Vừa theo dõi ánh mắt của Roxane, hắn hỏi cô:
– Cô có thích kịch không?
– Không thích lắm, kịch cổ điển làm tôi buồn ngủ còn kịch hiện đại khiến tôi nghệt cả người. Cái thì quá dài, cái thì quá ngớ ngẩn.
Amyas cười tán thành.
– Thật tệ là cô nói không xa sự thật!
– Còn anh, anh thích gì ở kịch?
Trung thành theo thói quen từ đầu, hắn đáp lại bằng một câu hỏi khác.
– Cô có hài lòng với cuộc đời mình không? Với các mối quan hệ? Với công việc?
Roxane lắc đầu.
– Không hề. Cái nào cũng tồi tệ.
– Thế cô làm sao để xua tan tâm trạng khó chịu?
– Ừm... Thuốc an thần, thuốc lá, cocktail Caipirinha, vang Chardonnay...
Hai mắt Langford sáng lên như thể vừa làm một liều thuốc phiện.
– Còn tôi, điều làm tôi hạnh phúc chính là DIỄN KỊCH và DÀN DỰNG, bởi chúng cho phép cô tạo nên một thực tại song song. Đó chính là quyền năng thực sự của Dionysus: chỉ cho cô con đường xóa bỏ thực tại và giải phóng chính mình.
Cô lùi người lại tựa vào lưng ghế, mệt mỏi.
– Nhưng chính xác thì anh muốn giải phóng khỏi điều gì?
– Khỏi nhà nước, chính quyền, chủ nghĩa siêu tư bản và cái thế giới đang tha hóa chúng ta.
– Không độc đáo cho lắm, cái trò vấn đáp nho nhỏ kiểu mác xít của anh.
Cô bắt chước giọng Đức của hắn bằng cách nhại lại.
– Thế là để tự giải phóng khỏi nhà nước và chủ nghĩa siêu tư bản, nên anh giải trí bằng cách giết người? Hợp lý quá nhỉ!
Lần này, Langford giả vờ cười hòa nhã với cô.
– Cô biết nguồn gốc của từ “bi kịch” chứ ?
– Biết, tôi đọc được nó trong cuốn sách này lúc chờ anh. Tôi đã làm tốt bài tập về nhà của mình, thấy không? Bi kịch nghĩa đen là “bài ca con dê”.
Hắn gật đầu tán thưởng, vờ như ngạc nhiên.
– Chính xác. Nó ám chỉ con vật được đem đi hiến tế trong các nghi lễ thời Cổ đại, để tôn vinh Dionysus.
– Thứ lỗi cho, nhưng tôi không hiểu cắt tiết một con dê thì có ích lợi gì. Ngoài việc ăn.
– Đó là vật hiến tế tượng trưng. Giết con dê vào cuối buổi diễn, chính là phục hưng sân khấu. Làm sống lại sự ngây ngất của vở kịch, thần chú duy nhất xua tan những đau đớn trong cuộc sống chúng ta.
Roxane thở dài.
– Vậy tư tưởng điên rồ của anh là thế à? Mỗi năm anh làm một màn hiến tế nhỏ. Một vụ giết người để tôn vinh Dionysus, để phục hưng sân khấu....?
Tin rằng mình đang làm chủ cuộc chơi, Amyas vẫn giữ nguyên nụ cười. Rõ ràng hắn đang ở nơi hắn muốn, đúng hẹn với số phận. Và cảm giác ấy khiến Roxane khó chịu.
– Cô giết người bao giờ chưa? hắn đột nhiên hỏi.
– Chưa, nữ cảnh sát nói dối.
– Cô thực sự nên thử đi.
– Lúc nào đó tôi sẽ xem xét.
– Lấy mạng ai đó để mang đi làm lễ vật, there is nothing more exciting and regarding at the same time[4].
Roxane kéo dây khóa áo khoác lên. Trời lạnh thấu xương. Để dùng tạm vì không có hệ thống sưởi, người ta đã đặt một máy sưởi di động có từ đời tám hoánh, khạc ra thứ không khí chỉ hơi âm ấm. Trong ánh sáng xanh đen của ngày đang lên, cô chăm chú nhìn nụ cười cáo già của Amyas Langford. Từ lúc thẩm vấn hắn, cô chẳng biết thêm được gì. Đằng sau tấm gương một chiều, những kẻ tự xưng là “đồng nghiệp” hẳn đang coi thường cô lắm. Và họ cũng chẳng lầm. Hắn dắt mũi cô theo ý mình. Hắn đang diễn kịch, đang âm thầm trình diễn vở kịch của mình.
Nhưng cho khán giả nào?
Cô bám lấy ý tưởng về bối cảnh sân khấu ấy. Để diễn vai của mình, Amyas cần cả khán giả lẫn bạn diễn. Và vào thời điểm này của vở kịch, đó chính là cô, Roxane Montchrestien, người đối đáp với hắn. Gã người Anh bẻ khớp ngón tay bất chấp đang bị xích, hắn kéo các khớp như thể muốn bẻ gãy chúng, và Roxane lại nhìn thấy hình xăm. Cô biết rất rõ động tác này không phải tình cờ và cô là một phần của màn kịch. Cô biết rất rõ Langford đang cố thu hút sự chú ý của cô vào hình xăm. Để cô thầm nhủ: “Có phải đó là mật khẩu máy tính không?”
Cô biết rất rõ rằng suy luận như thế tức là cô để hắn thao túng. Cô chấp nhận bước lên sân khấu để đóng vai mà một kẻ khác viết sẵn cho mình. Cô biết rất rõ rằng Langford chỉ chờ có thế. Cô biết rõ là thế..., dẫu vậy cô vẫn làm.
Roxane tóm lấy chiếc MacBook màu bạc đặt ở đầu bàn. Trước ánh mắt hau háu của nghi phạm, cô gõ dòng chữ mà cô nghĩ là câu thần chú: Totus Mundus Agit Histrionem.
Thất bại.
TotusMundusAgitHistrionem.
Thất bại.
Cô thử lại bằng cách viết thường toàn bộ và cuối cùng máy tính cũng mở, nó lập tức kết nối Wi-Fi đã được cài đặt sẵn.
Cả toán cảnh sát nhào vào phòng cùng lúc để chạy đến trước chiếc máy. Thứ đầu tiên hiện trên màn hình là cửa sổ một phần mềm họp mặt trực tuyến. Nền tảng được cài sẵn cho phép hiển thị toàn bộ người tham gia. Vào giờ này, có mười người trong buổi họp trực tuyến. Năm nam, năm nữ. Mặc com lê, đeo cà vạt và váy đen ngắn. Cơ thể họ đều là người nhưng thân trên mỗi người lại mọc lên cái đầu ngựa có tai dựng đứng. Kiểu nhân mã đầu ngựa thân người. Sự hợp nhất giữa tư duy con người và xung năng động vật.
Khung cảnh gớm ghiếc khiến mọi ánh mắt sững lại. Sự im lặng tuyệt đối bao trùm căn phòng đến khi một viên cảnh sát nhận ra đèn báo nhỏ màu xanh lá vừa sáng.
– Chết tiệt... cái máy này đang quay chúng ta! Lũ khốn này nhìn thấy chúng ta! anh ta hét toáng trước khi Roxane gập màn hình xuống.
[1]
Pied-noir trong nguyên bản, chỉ người Pháp xuất thân châu Âu nhưng sống ở Nam Phi thời kỳ độc lập.
[2]
Một tác phẩm điêu khắc của nghệ sĩ Louise Burgeois.
[3]
Tiếng Anh trong nguyên bản, nghĩa là: Phải, cô nói đúng. Trò chơi sắp kết thúc rồi.
[4]
Tiếng Anh trong nguyên bản, nghĩa là: Không có gì vừa phấn khích liên hệ mật thiết hơn thế.
.
RAPHAËL
2.
Paris. Ngày Giáng sinh. 0 giờ 12.
Một tiếng còi báo động chọc thủng màn đêm tĩnh lặng. Âm thanh nặng nề và vang rộng. Đánh thức cả nửa khu phố. Loại còi hơi của cổ động viên bóng đá nhiệt thành. Tôi liếc mắt qua cửa sổ, e sợ “ông già Noel” hoặc một tay chân của hắn trở lại. Không một bóng người. Chắc là một nhóm tiệc tùng ăn no rửng mỡ lang thang trên đường Assas. Nhưng tiếng còi kêu dai dẳng và ở ngay gần. Chết tiệt...
Tôi gí mũi vào ô kính. Bên ngoài tối mịt. Ánh sáng trong nhà giảm xuống hết cỡ và phân nửa đèn chiếu ngoài trời chỉ phát sáng yếu ớt. Tiếng còi hụ lại vang lên làm tôi giật nẩy. Khốn kiếp...
Tôi vội chạy vào phòng làm việc của bố. Trong ngăn kéo, tôi vớ lấy khẩu MR 73. Tôi nhét sáu viên .38 Special, khoác áo măng tô và tiến vào màn đêm.
Cuối bãi cỏ, gần hàng rào tre, thứ gì đó đang nhấp nháy yếu ớt. Tôi bật đèn trên iPhone và thận trọng tiến lên. Đó là một thiết bị bay không người lái. Loại bốn cánh màu cam và đen, gắn một cái loa hẳn là thứ phát ra tiếng còi inh tai dựng tôi dậy. Tôi dừng lại hai phút quan sát nhưng thiết bị bay đó vẫn đứng im. Tôi định trở vào nhà thì nó bắt đầu chuyển động, đầu tiên bay thẳng lên rồi rẽ về hướng vườn thực vật khoa Dược. Thoạt tiên, tôi dõi mắt nhìn theo nó rồi, sau một hồi lưỡng lự, tôi chạy theo sau để không bị mất dấu.
Nó rời khỏi tầm mắt tôi một lúc, nhưng tôi lại tìm thấy nó ngoài đường, nằm trên vỉa hè trước ô tô của tôi. Không có ai xung quanh, nhưng rất có thể loại thiết bị này đã được lập trình sẵn. Chiếc Alpine không khóa. Tôi ngồi vào ghế lái. Quanh màn hình GPS có quấn một sợi dây thường xuân. Tôi mở màn hình lên. Ai đó đã thay tôi nhập một lộ trình.
Chính thế, nhảy vào miệng sói đi nào...
Nhưng vào lúc này, tôi còn lựa chọn nào khác? Còn gì quan trọng hơn việc tìm hiểu? Tôi kiểm tra túi áo xem có ví không rồi cài dây an toàn và đóng sập cửa. Tôi chẳng muốn nghĩ ngợi, cân đo lợi-hại, lập giả thuyết hay suy luận gì hết. Các bánh răng trong não tôi đã bị rít và hỏng. Tôi chỉ cần hiểu. Chỉ cần đi đến cùng câu chuyện này bất chấp nguy hiểm ra sao.
Tôi rời Paris theo cửa ô Orléans và buông mình đi như một cái xác sống, máy móc đi theo lộ trình hiển thị trên màn hình: cao tốc hướng Chartres rồi đi qua Perche. Đổ xăng ở Mans trước khi lại lên đường đi về hướng Laval rồi Vitré.
Ba rưỡi sáng. Dừng chân làm cốc cà phê ở Rennes. Tôi nhân lúc này gọi cho bác sĩ nội trú trực ở Pompidou, người đã cho tôi số điện thoại. Sức khỏe bố tôi không có chút tiến triển nào. Hôm sau họ phải phẫu thuật lần hai - lại một đốt sống nữa - nhưng có lẽ cũng chẳng giúp ông tỉnh lại ngay được.
Tôi tiếp tục đi về hướng vùng mũi Bretagne: Saint-Brieuc, Guingamp, Morlaix. Đêm Giáng sinh sắp trôi qua. Một chuyến đi vào đường hầm một chiều không có lối ra. Tôi lạc lối. Lạc trong suy nghĩ. Trong quá khứ của mình. Trong thứ từ nay có thể là cuộc đời tôi. Tôi nghĩ đến đứa bé trong bụng Garance de Karadec, (không) may mắn rất có thể là con tôi. Nghĩ đến cái bánh răng khủng khiếp mà tôi đã khởi động, từ năm mười tuổi, bằng những lời nói dối, cái bánh răng không dừng tàn phá mọi thứ nó đi qua.
Tôi đến đích khoảng 7 giờ sáng. Thiết bị GPS dẫn tôi đến tận bến tàu, hiện lên trong màn sương buổi sớm, đâu đó giữa Roscoff và Saint-Pol-de-Léon. Điểm đến thật kỳ quặc. Tôi gửi xe ở bãi đỗ trống không và tiến đến chỗ cầu tàu chìm dưới lớp sương dày đặc ma mị. Chân tôi tê rần như kiến bò, lưng và sườn đau nhức vì lái xe suốt sáu tiếng. Tôi lảo đảo vì mệt. Mấy ngày thiếu ngủ khiến suy nghĩ và tầm nhìn của tôi mờ mịt. Trong bối cảnh như tiểu thuyết trinh thám này, bao quanh bởi những dải nước màu mật mía trắng đục, tôi có cảm giác một sinh vật tai ác có thể thình lình trồi lên và nuốt chửng cả người tôi vào bụng.
3.
Ba tiếng còi hơi lại vang lên thông báo di chuyển, hệt như ba tiếng báo hiệu mở màn một vở kịch.
Bóng một người đàn ông bất ngờ xuất hiện từ lớp sương đặc như đậu hà lan nghiên. Một người tuổi lục tuần, thấp bé, săn chắc, đầu trọc, đội mũ gắn huy hiệu hải quan Pháp.
– Anh Batailley?
– Tôi đây.
– Xin tự giới thiệu: Fred Narracott. Sẵn sàng phục vụ anh.
Ông ta mặc quần đồng phục hải quan có may một dải màu đỏ dọc ống. Mặt ông ta đanh lại như mặt nạ, ngoại trừ một bên mắt bị lác và hấp háy không ngừng như một con côn trùng điên.
– Ông đang chờ tôi à?
Viên hải quan gãi cái cằm bít kín trong bộ râu rậm rạp ít được tỉa tót.
– Phải, tôi là thuyền trưởng của anh. Tôi là người sẽ chở anh ra đảo.
– Đảo nào?
– Đảo Karadec.
Tôi nhớ lại Garance có lần từng nhắc đến trước mặt tôi về hòn đảo tư nhân nhỏ thuộc sở hữu của gia đình cô ấy từ rất lâu về trước. Lãnh địa của dòng họ Karadec.
– Anh có muốn xem nó không? ông hỏi.
Tôi đi theo ông ta đến cuối bến tàu để xem “nó” mà ông nói là gì: một chiếc ca nô phao đáy cứng kiểu Zodiac dài bảy, tám mét với khung nhôm và viền phao căng phồng.
– Nhưng ai bảo ông chở tôi đến đó?
– Ờm, anh đấy!
– Tôi?
– Hôm kia, một người gọi cho tôi. Người đó xưng là Raphaël Batailley và bảo tôi anh ta muốn đặt thuyền để đi một chuyến ra đảo vào sáng ngày Giáng sinh. Đấy không phải anh à?
Nhận ra rằng có cố tìm hiểu thêm cũng chẳng ích gì, tôi quyết định không phản bác.
– Đảo đó có xa bờ biển không?
– Cách 3 tiếng 15 phút đi thuyền.
– Ôi sao cũng được. Ra biển vào thời tiết này liệu có an toàn không?
– Thời tiết làm sao? Hôm nay trời đẹp phết đấy chứ?
Cứ coi tôi là thằng ngốc đi...
– Hòn đảo thuộc về nhà Karadec phải không? Ông có biết họ còn sống trên đó không?
Viên hải quan phì cười.
– Chẳng còn ai đặt chân lên hòn đảo đó kể từ khi hai ông bà già nghiện rượu qua đời vào đầu những năm 2000. Hai người họ ham mê rượu chè lắm.
– Ở đó có gì vui không?
– Sự cô đơn, nếu anh thích nó. Nhưng chẳng giấu gì anh, đậu thuyền ở đó cũng không vui vẻ gì đâu.
Ông ta lấy từ túi áo ra nhánh cam thảo và bắt đầu tóp tép như thể đó là thuốc lá nhai.
– Nào, anh quyết định đi! Tôi còn có việc khác phải làm.
Tôi gật đầu và đồng ý đi theo ông ta lên chiếc ca nô động cơ kép. Narracott đưa tôi áo phao cứu hộ rồi ngồi xuống ghế đệm. Ông ta nổ máy và bật hai màn hình điều khiển. Bộ phận lái được đặt khá xa mũi thuyền. Tôi bèn ngồi cạnh cốp để đổ, núp càng sâu càng tốt sau tấm kính chắn gió bằng nhựa polycarbonate. Từ nhỏ tôi luôn bị say sóng kinh khủng và hẳn nhiên, tôi không mang theo thuốc chống say.
– Có rung lắc lắm không? tôi hỏi viên hải quan.
Narracott chỉnh lại mũ hải quan và đeo cặp kính lặn.
– Có chứ, chàng trai, xóc tung người đấy! ông nói rồi nổ máy.
.
ROXANE
4.
Không gian và thời gian như đóng băng một lúc lâu. Dù thoáng qua nhưng thật khủng khiếp, hình ảnh mười thân người đội mặt nạ ngựa khiến bầu không khí trở nên căng thẳng đến mức nghẹt thở. Toán cảnh sát đứng trước màn hình, tê liệt vì sợ hãi, sững người trước đội quân ác quỷ chui ra từ cái hộp của chúng. Amyas Langford tươi cười, hai mắt sáng rực, hắn đang thưởng thức cảnh tượng.
Một chùm sấm chớp chiếu rọi căn phòng và khiến ai nấy cử động trở lại.
– Đám người này là ai? Cabrera hỏi.
Câu hỏi không có lời giải đáp, dội lại giữa các bức tường của căn phòng lạnh giá. Điên tiết, anh chàng chân đen túm cổ Langford.
– Đám người này là ai? anh ta gào lên, lặp lại câu hỏi.
Nhưng tay cảnh sát càng lay mạnh, Amyas càng có vẻ sung sướng. Ai nấy đều hiểu rõ tương quan lực lượng đã thay đổi. Sorbier nhảy vào can để giúp viên đại úy của Sư đoàn Cảnh sát Tư pháp trấn tĩnh lại.
Lùi lại phía sau, trán tì vào cửa kính ròng ròng nước mưa của phòng thẩm vấn, Roxane nhìn các khe rãnh của tòa nhà mới tinh hào nhoáng không thể thoát nước mưa. Một hình ảnh ẩn dụ đẹp cho tình cảnh hiện tại của họ.
– Thì ra, đồ bị thịt ạ, các anh kém thông minh đi khi đứng ở bên kia hàng rào, gã người Anh nhận xét lúc Cabrera nới lỏng tay.
Giọng Đức của hắn hoàn toàn biến mất. Gã tắc kè hoa khoác lên mình lớp da mới để bắt đầu vòng đấu khác.
– Mày nói đến hàng rào nào, thằng khốn?
– Các anh đang đối mặt với BAN GIÁM KHẢO.
– Ở tòa hình sự, chính mày mới là người sắp đứng trước bồi thẩm đoàn[1], đồ đần. Và họ sẽ khiến mày vô cùng choáng váng.
Từ “ban giám khảo” lóe lên trong đầu Roxane. Cô rời ô cửa sổ để đi lấy cuốn sách trên bàn và tìm lại trang viết về việc tổ chức các lễ hội Dionysus thời Cổ đại mà cô đã đọc và ghi chú trên trực thăng.
Mọi chuyện bỗng sáng tỏ trong đầu cô. Thiết bị bay không người lái, máy quay lén, Gánh hát rong, mạng lưới tội phạm mà Le Hénaff phát hiện, sử thi về Dionysus, câu chuyện như trong tiểu thuyết của cô gái vô danh trên sông Seine, không khí kịch nghệ bao trùm suốt từ đầu cuộc điều tra... Óc suy luận trốn tiệt mấy ngày nay chợt bừng sáng trong cô như một tuyến đường hành hương. Mười kẻ đeo mặt nạ ngựa tạo thành ban giám khảo trực tuyến giống như thời Cổ đại.
– Đây là một cuộc đấu kịch, đúng không? cô lại gần Amyas và hỏi. Gánh hát rong của Dionysus là một trong ba đoàn kịch đối đầu nhau trước mắt ban giám khảo giống như các cuộc thi đấu của Đại lễ Dionysus.
Nụ cười của Amyas Langford càng mở rộng. Cuối cùng, Roxane cũng đưa ra câu trả lời hắn mong đợi.
Cứ cách vài giây, vài chiếc điện thoại lại rung bần bật, kéo theo một hành động nhanh chóng lây lan. Từng người một, toàn bộ cảnh sát trong phòng rút điện thoại ra. Mặt mày nhăn nhó, Sorbier nhìn màn hình hồi lâu rồi đưa Roxane xem. Tờ Người Paris đã tiếp tục cuộc điều tra và AFP tóm gọn trong phần tin nhanh với nhan đề: “Cô gái vô danh trên sông Seine có phải nghệ sĩ dương cầm Milena Bergman?” Bài báo có phần chậm trễ nhưng lại là tia sáng hấp dẫn để tin tức này tung hoành trên các phương tiện truyền thông. Được truyền đi khắp nơi, bản tin ban đầu bị đưa vào thùng đun nấu thông tin. Người người retweet hàng tỉ lần, họ bình luận, tam sao thất bản, tin tức kích động các mạng xã hội và trở nên phố biến khắp nơi.
Có thể thấy rõ tốc độ lan truyền nhanh như chớp này khiến các cảnh sát có mặt trong phòng kinh hãi. Hệ quả của việc phơi bày trước truyền thông chính là truy tìm đối tượng để đổ lỗi. Nếu cuộc điều tra thất bại, chẳng sớm thì muộn những người đứng đầu sẽ phải chịu trận. Và khi máy chém được lôi ra, người ta chẳng buồn tìm kiếm sự thật, tư duy hay sắc thái.
Roxane thấy mọi ánh mắt đổ dồn về phía mình. Các đồng nghiệp của cô đã buông xuôi. Choáng ngợp trước cuộc điều tra mà họ chẳng hiểu nổi đầu cua tai nheo. Vậy đấy, cô đã thắng. Hiện tại họ chẳng còn lựa chọn nào ngoài cách dựa dẫm vào cô. Thế rồi, tựa như nữ hoàng trong cung điện mùa đông, cô lặng nhìn họ với sự khinh bỉ tột cùng. Sorbier, người tống cổ cô năm ngày trước, tên béo Cabrera, kẻ tỏ vẻ sắp đột quỵ đến nơi, lũ ngốc của Sư đoàn Cảnh sát Tư pháp tả ngạn, đám quê mùa ở Côte d’Azur huênh hoang với cái giọng sặc mùi rượu Pastis.
Như thể tâm linh tương thông, bầy chuột lần lượt rời khỏi con tàu và chỉ còn mình cô mặt đối mặt lần cuối với Amyas Langford. Gã người Anh không bỏ lỡ bất cứ chi tiết nào của cảnh tượng và đang ngây ngất trước trận đấu giáp lá cà sắp nổ ra. Lần đầu tiên, hắn nói với cô bằng giọng thân thiết.
– Cô như một quả ớt nhỏ vậy, hắn thốt lên trong lúc cô ngồi xuống trước mặt hắn. Là quả ớt góp chút hương vị cho món ăn tôi dày công nấu nướng.
Cô suy nghĩ nhanh. Rõ ràng Langford cần cô và coi cô như một công cụ hữu ích cho màn cao trào của vở diễn tử thần. Tại sao? Một chi tiết trở lại trong ký ức cô.
– Thời Cổ đại, các lễ hội Dionysus kéo dài năm ngày, đúng không? Hôm nay là sáng thứ Sáu. Câu chuyện cô gái vô danh trên sông Seine thực sự bắt đầu từ thứ Hai, tức là...
– ... là sắp đến hồi kết. Quả là xuất sắc, thưa quý cô.
– Vậy giờ là lúc nổ pháo ăn mừng phải không?
– Có thể nói đó là cách diễn đạt hợp lý.
– Thế thì anh còn chờ gì? Nói đi.
– Chẳng phải nó đã bắt đầu rồi sao? Nếu tôi hiểu đúng, truyền thông toàn thế giới đang nói về chúng tôi...
– Phải, nhưng đó chỉ là vặt vãnh. Để thắng cuộc, anh cần một điều khác. Tái hiện màn hiến tế dê, đúng chứ?
– Cuối cùng cô cũng bắt đầu hiểu rồi. Để chiến thắng, phải tái hiện sự hy sinh tối cao.
– Khai sáng cho tôi đi.
Hắn nhăn mặt rồi thở phì phò bằng mũi như thể vừa hít một liều cocain vô hình. Mặt hắn cứng đờ như bị tật. Ta cảm nhận được ở hắn một cảm xúc mãnh liệt bị kìm hãm, sẵn sàng bùng nổ.
– Cô biết gì về trận chiến Salamis không?
Lại lần nữa, ký ức về những buổi dự bị đại học dâng lên trong trí nhớ cô, vô cùng chi tiết. 1997. Trường cấp ba Louis-le-Grand. Tiết Văn hóa Cổ đại của cô Casanova chiều thứ Ba từ 5 giờ đến 6 giờ. Câu trả lời bật ra từ miệng cô như thể cô đang trả bài.
– Một trong những trận thủy chiến giữa quân Hy Lạp và Ba Tư.
– Chiến tranh Hy Lạp-Ba Tư, hoan hô! Cô hiểu biết khá rộng đấy, quả là hiếm hoi trong ngành cảnh sát. Salamis là trận chiến quyết định. Không chỉ trong lịch sử Hy Lạp mà cả lịch sử nhân loại nữa. Cô biết tại sao không?
– Tôi mù tịt.
– Nhiều sử gia cho rằng nếu quân Ba Tư giành chiến thắng, sự phát triển của Hy Lạp cổ đại sẽ bị kìm hãm tới mức có thể ngăn cản nền văn hóa phương Tây lẫn thế giới nở rộ như những gì ta biết ngày nay. Hình dung mà xem: số phận nền văn minh của chúng ta bị ngưng lại chỉ sau một trận chiến!
Chỉ trong vài giây, nét mặt của Langford thay đổi. Ánh mắt chòng chọc, con ngươi giãn nở, điệu cười thú vật, cơ mặt và cơ cổ gồng lên như một con thú đang rình mồi.
– Trong trận chiến đó, hạm đội Hy Lạp do Themistocles chỉ huy chỉ có hai trăm tàu chiến chống lại hơn một nghìn tàu Ba Tư! Cuộc đối đầu có vẻ thua chắc. Để nâng cao sĩ khí toàn quân, vị tướng sĩ Hy Lạp quyết định hy sinh những tù binh chiến tranh quan trọng nhất và ra lệnh giết hại ba hoàng tử Ba Tư để tôn vinh thần Dionysus.
– Vậy đó chính là màn hiến tế tối cao? Ba vật hy sinh?
– Đúng thế, ba vụ giết người.
– Hãy đính chính lại nếu tôi nhầm, nhưng trong vụ này chưa ai bị giết mà.
Langford dường như cố gắng hít thở, hắn hồn hển. Hắn lấy hai tay ôm đầu, trán cúi gằm vài giây. Khi hắn ngẩng đầu lên, biểu cảm trên khuôn mặt còn khủng khiếp hơn nữa. Mặt hắn méo mó bất thường, đích thị là một chiếc mặt nạ tạo hình từ bột giấy. Lúc này lông mày hắn nhếch cao và mái tóc bù xù thành hai cái sừng nổi bật. Quỷ Beelzebub điên loạn thoát ra từ cái hộp. Hay Jack Nicholson trong vài cảnh phim The Shining.
– Chưa ai bị giết? A! A! A! Cô quên hơi nhanh bà mẹ đáng yêu bị cô nàng người Nhật đâm chết, để lại đứa con ba tháng tuổi mồ côi khốn khổ rồi. Và cô sẽ thấy khi truyền thông đánh giá vụ này cùng thất bại của đám cảnh sát không đủ năng lực ngăn chặn vụ việc!
– Anh vơ hết người chết về công mình dễ dàng quá nhỉ! Đó là một tổn thất liên đới mà anh không thể lường trước.
Mặt đầm đìa mồ hôi, hắn phản bác:
– Nhưng đó chính là tất thảy sức hấp dẫn của toàn thể sân khấu kịch và sự ngẫu hứng! Cô gieo hạt giống và ngắm nhìn cây cối nảy mầm.
– Còn án mạng thứ hai?
Điệu cười ranh mãnh của hắn biến dạng, hai ngọn lửa bùng lên hừng hực thế chỗ đôi mắt. Thân xác hắn bổ nhào vào điên loạn.
– Nạn nhân thứ hai chính là tôi.
– Anh ư?
– Tôi phải hy sinh chính mình, thấy không?
– Hiện tại tôi chỉ thấy một kẻ bị còng tay và bị hàng chục cảnh sát giám sát.
– Cô sẽ không thể giám sát tôi mãi được.
Khuôn mặt nhớn nhác, điệu cười nham nhở đáng sợ, răng hắn bắt đầu đánh lập cập như thể hắn bị co giật và rơi vào một cơn nhập định thần bí.
Bấy giờ, Roxane thấy sợ. Cô biết dáng vẻ điên loạn của hắn không phải diễn kịch. Cô đang rút khẩu Glock thì phát hiện động tĩnh trong căn phòng phía sau tấm gương.
– Nhìn cho kỹ đi, Langford dặn dò trong mê sảng.
Đột nhiên, hắn tự đập đầu vào cạnh bàn thẩm vấn bằng sắt với toàn bộ sức mạnh có thể. Cú đầu tiên làm vỡ xương mũi, khiến mũi hắn giập nát và máu mũi phun ròng ròng. Cú thứ hai chém ngang trán như thể một con dao phay cứa sâu vào da đến tận xương sọ.
Toán cảnh sát túa vào phòng, nhảy bổ vào Langford để giữ chặt hắn.
– Xe cứu thương, nhanh lên! Sorbier ra lệnh.
Mặt đầm đìa máu, Amyas vẫn điên cuồng đập răng lập cập.
– Tại sao tên khốn này lại làm thế? Cabrera hỏi trong lúc gã người Anh có vẻ bị khống chế.
Roxane chợt nhớ lại lời bà đạo diễn tuyển vai từng nói: “Vài năm trước, khi đóng vai chiến sĩ kháng chiến trong phim truyền hình về Thế chiến thứ hai, hắn đã đẩy độ chân thực đến mức tự cấy một cái răng rỗng với viên xyanua thật bên trong! Đấy là một chút về con người hắn...”
Khoảnh khắc ấy, cô đoán cái răng giả đã vỡ. Gương mặt Ayas giữ nguyên điệu nhếch mép điên cuồng trong lúc chất độc lan khắp cơ thể. Roxane nhào đến đẩy Cabrera ra và túm tóc tên diễn viên.
– Nạn nhân thứ ba là ai, Amyas?
Cô cúi người và áp tai lại gần miệng Langford, hy vọng nghe được lời trăng trối của hắn. Cô cảm thấy tóc mình bết dính vào nhau vì những vệt máu chảy dọc khuôn mặt của kẻ hấp hối. Cô cảm nhận được hơi thở nóng ran sặc mùi máu tanh của hắn đang cố nói gì đó.
Rồi cô bật dậy và đứng sững một hồi, cả người nổi da gà từ đầu đến chân. Hai ngày nay, cô những muốn tự thuyết phục rằng thời khắc huy hoàng của mình đã đến, rằng cuối cùng cô cũng có cuộc điều tra để đời và rằng cô sắp giải quyết được nó. Cuộc điều tra cô nóng lòng muốn có và sẽ đưa cuộc đời cô về đúng hướng. Nhưng lại một lần nữa, cô đã đi nhầm đường.
Cô mở lại máy tính. Đám người đầu ngựa đã biến mất từ lâu. Cô nhấn chuột để mở một cửa sổ được thu gọn dưới góc màn hình. Những hình ảnh được quay từ nhiều thiết bị bay không người lái hiện lên. Thoạt tiên, Roxane tưởng là một cảnh ở Hy Lạp, nhưng rồi cô nhận ra đó là hòn đảo ở Bretagne của dòng họ Karadec, trên bờ đảo có một con tàu đang cập bến.
Một làn sóng điện chạy dọc tủy sống. Vụ giết người thứ ba và cũng là cuối cùng sắp xảy ra. Và cô cách xa sân khấu gây án hơn nghìn cây số.
Chú thích:
[1]“Jury” trong nguyên bản tiếng Pháp, vừa có nghĩa là “ban giám khảo”, vừa có nghĩa là “bồi thẩm đoàn”.