Cô Gái Vô Danh Trên Sông Seine

Lượt đọc: 2662 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
6 Nhà văn nơi những kẻ điên

Kẻ điên và nhà văn là những người thấy vực thẳm sẽ nhảy xuống.

Honoré de BALZAC

1.

“Thưa quý khách, máy bay sắp hạ cánh, xin quý khách trở về chỗ ngồi và thắt chặt dây an toàn. Vui lòng cất hành lý xách tay xuống dưới ghế phía trước hoặc trong ngăn hành lý phía trên. Không để hành lý hay đi lại gần khu vực cửa ra và lối thoát hiểm. Thành phố Nice hôm nay quang mây, nhiệt độ ngoài trời là 16°C.”

Tì trán vào cửa sổ máy bay, Roxane chưa thể ngồi thẳng dậy. Dù rất phấn khích trước cuộc điều tra nhưng cô đã mệt lử ngay khi máy bay vừa cất cánh và ngủ liền một mạch suốt chuyến bay. Lưng cô đau nhói. Cơn đau nửa đầu bắt đầu giần giật phía dưới hộp sọ. Cô bắt đầu khó chịu với bộ quần áo chưa thay từ hôm trước. Cô ngửi thấy mùi mồ hôi và có cảm giác chúng như đống ga giường ẩm mốc và nhàu nhĩ.

Cô bật lại điện thoại trước cả khi máy bay hạ cánh và thấy tin nhắn của trung tá Najib Messaoudi, thuộc Đơn vị Hiến binh về Nhận dạng Nạn nhân trong thảm họa, ông bảo cô liên hệ với mình. Passeron đã giữ lời và vào vai người đưa thư. Chỉ thông tin này cũng đủ làm cô mỉm cười. Được đà tiến tới, cô suýt định gọi luôn cho viên cảnh sát, nhưng cô kìm lại được, cảnh hỗn độn lúc xuống máy bay không phải hoàn cảnh thuận lợi cho một cuộc trao đổi nghiêm túc.

Ra tới sảnh đến, cô phân vân định thuê một chiếc ô tô nhưng rồi chuyển sang gọi taxi. Tiết trời ở Nice ấm áp, nhiệt độ như đương xuân và bầu trời mang màu xanh thăm thẳm. Roxane chờ xe ổn định tốc độ trên con đường ven biển rồi mới yêu cầu tài xế tắt radio và gọi cho Najib Messaoudi. Quyết định không tỏ thái độ thù nghịch với vị quân nhân, cô dè dặt mở lời.

– Cảm ơn ông đã dành chút thời gian cho tôi, thưa trung tá. Tôi sẽ không làm phiền ông lâu. Trong lúc thực hiện một cuộc điều tra, tôi có quan tâm đến vụ tai nạn của chuyến bay 229 và tôi muốn xác minh vài điểm với ông.

– Tôi nghe đây.

– Tôi đọc được rằng người ta đã vớt được gần hai phần ba thi thể nạn nhân.

– Đúng vậy, 121 trên 178 người.

– Cụ thể thì ai đã đưa các thi thể lên?

– Chúng tôi, lực lượng hiến binh, phối hợp với quân đội Bồ Đào Nha và Bộ Nội vụ Argentina. Chiến dịch kéo dài sáu tháng, nhưng phần lớn các thi thể được trục vớt thành hai đợt. Một đợt vào những ngày ngay sau sự cố và đợt còn lại khi chúng tôi tìm thấy khoang ngồi của máy bay, nhờ có tàu ngầm.

– Tình trạng các thi thể ra sao?

– Thực tế là khá nguyên vẹn. Nước lạnh và áp suất đã kìm hãm quá trình phân hủy. Khi chúng tôi đưa họ lên khỏi mặt nước mới là lúc bắt đầu có vấn đề.

– Do oxy hóa à?

– Đúng vậy. Khi thi thể vẫn ở dưới nước, quá trình chuyển hóa chất béo thành sáp mỡ vẫn diễn ra và ngăn thối rữa. Nhưng khi tiếp xúc với không khí, thi thể sẽ phân hủy rất nhanh.

Roxane hạ cửa kính. Taxi vừa đi qua trường đua ngựa Cagnes-sur-Mer. Thời tiết thật dễ chịu. Đắm mình trong không khí mùa hè, con đường khá thoáng đãng. Trời và biển hòa quyện trong buổi tân hôn của màu thiên thanh. Bầu không khí yên bình ấy khiến cô nhớ đến Riviera ngày trước và tương phản với nội dung cuộc nói chuyện nặng nề của viên cảnh sát.

– Sau đó thì sao, Roxane hỏi tiếp, các ông tiến hành xác nhận danh tính bằng cách nào?

– Chúng tôi có hai nhóm khác nhau làm việc đó. Một bộ phận khám nghiệm tử thi, thực hiện lấy mẫu xét nghiệm trên thi thể nạn nhân, và một bộ phận lấy thông tin người sống, họ sẽ liên lạc với gia đình các nạn nhân để thu thập càng nhiều thông tin về họ càng tốt, kể cả thông tin di truyền.

– Theo báo cảo của BEA, toàn bộ hành khách đều tử vong tại chỗ.

– Đúng vậy, Messaoudi tán thành, ở tốc độ ấy, máy bay bị vỡ vụn chỉ trong chớp mắt. Chúng tôi thấy được điều ấy trong lúc khám nghiệm vài thi thể: họ không chết do đuối nước mà vì đa chấn thương.

– Không có cơ may ai đó có thể sống sót sao?

– Không, tôi không thấy có cách nào cả.

Sau phần mào đầu, Roxane mạo hiểm đi thẳng vào vấn đề.

– Tôi sẽ không vòng vo nữa, thưa trung tá. Tôi đang tìm thông tin về một nạn nhân cụ thể: nữ nghệ sĩ dương cầm Milena Bergman.

– Cái đó thì cô phải gửi yêu cầu chính thức thôi. Tôi không nghĩ mình có thể cung cấp những thông tin ấy qua điện thoại.

– Làm thế thì thay đổi được gì ngoài việc làm mất thời gian của tôi?

– Quy định là vậy, thế thôi. Còn gì nữa không?

– Làm ơn, tôi không thể chịu nổi cái đống giấy tờ thủ tục làm phức tạp hóa cuộc sống của chúng ta nữa, ông thực sự không thể nói cho tôi chút gì sao?

Najib Messaoudi thở dài.

– Cô muốn biết gì đây, đại úy?

– Trước tiên là ngày thi thể của cô ta được vớt lên.

Cô nghe thấy tiếng nhấp chuột ở đầu dây bên kia, rồi tiếng gõ bàn phím máy tính.

– Ngày 21 tháng Tư năm 2020, vài ngày sau khi chúng tôi định vị được phần lớn nhất của khoang hành khách. Cô ta nằm trong số các nạn nhân kẹt lại trên ghế ngồi.

– Điều đó giúp việc nhận dạng cô ta dễ hơn phải không?

– Đúng vậy, chúng tôi có quá nhiều lựa chọn. Nói thật với cô là chúng tôi thực hiện nhận dạng hai bước. Đầu tiên là so sánh hai đoạn ADN, một mẫu lấy trên thi thể và một mẫu thu thập từ người thân của nạn nhân, sau đó nhờ vào phim X-quang toàn hàm được gia đình nạn nhân cung cấp. Chúng ta không thể mong đợi gì hơn nữa.

– Ông có ảnh chụp thi thể không?

– Có, nhưng đừng hy vọng tôi sẽ gửi chúng cho cô.

– Thi thể đã được trả lại cho gia đình cô ta rồi à?

– Như mọi thi thể khác được chúng tôi vớt lên.

– Ông có biết thi thể sau đó ra sao không?

Tiếng nhấp chuột lại vang lên.

– Milena Bergman đã được hỏa táng tại Dresden, Đức, ngày 18 tháng Năm vừa qua.

2.

Xe lúc này đang chạy trên đường tới mũi Antibes, hướng về phía bán đảo Îlette. Khung cảnh đẹp mê hồn cùng mùi thông tạo nên thứ hương thơm của những kỳ nghỉ mát. Chỉ còn thiếu khúc đồng ca của lũ ve để hoàn thiện bức tranh. Roxane vật lộn với những gì Messaoudi vừa nói: Milena Bergman đã chết. Khả năng cao là vậy. Cô ta đã được các chuyên gia giỏi nhất của lực lượng cảnh sát xác định danh tính và đã được hỏa táng. Vậy tại sao tóc của cô gái vô danh lại trùng khớp với cơ sở dữ liệu ADN được lưu ở Bộ Nội vụ? Cô thầm nhớ lại điều Botsaris đã nói: Fnaeg có dữ liệu của Milena Bergman bởi chín năm trước cô ta đã bị kết án vì tội trộm cắp ở một cửa hàng đồ hiệu. Có khi nào thời điểm đó người ta gặp sai sót trong quá trình lấy mẫu xét nghiệm gen không? Báo chí có đào lại vụ bắt giữ ấy không? Liệu có bức ảnh nào về vụ việc đó? Cô cần xác minh lại.

Chiếc taxi đến trước một cổng sắt cao có hai máy quay giám sát.

– Anh chắc chắn là chỗ này chứ?

– Trên GPS chỉ như vậy, tài xế đáp và chỉ vào màn hình: phòng khám Fitzgerald.

– Chờ tôi ở đây.

– Đồng hồ vẫn chạy đấy. Cô phải trả phí chờ.

Roxane bấm chuông, tự giới thiệu và chờ một lúc đến khi hai cánh cửa mở ra dẫn vào một công viên nhiều cây cối. Cô đi bộ vào một lối đi rải sỏi xuyên qua khu rừng thông dài một trăm năm mươi mét. Một căn nahf lớn kiểu tân cổ điển, như thể được xây vào thời Những năm điên rồ[1], mọc lên giữa những cây thông và bạch đàn.

Lúc này đang là thời điểm ngày ngắn nhất trong năm. Chỉ trong vài phút không khí đã chuyển mát. Mặt trời đã lặn, kẻ lên bầu trời những vệt sáng phớt hồng. Trong công viên, một số người vừa chơi bóng cửa xong, số khác đang chơi ném ky, số khác nữa thì đang ngồi trên băng ghế hút thuốc, mắt nhìn xa xăm. Thời gian trôi chậm lại, khung cảnh dường như phi thời gian, đâu đó ở giữa nhà dưỡng lão, vườn trẻ và trại cai nghiện. Không gì để lộ cho ta biết mình đang ở thời đại nào. Cứ như thể ta đang trở về một thế kỷ trước. Roxane nghĩ đến hình ảnh những khách sạn xa hoa bị trưng dụng thành bệnh viện quân y trong Thế chiến thứ nhất.

Như có linh tính mách bảo, thay vì vào tòa nhà, cô tiếp tục đi theo con đường nhỏ đến khi tới một mô đá cao dốc xuống biển. Đúng vào lúc ấy cô nhìn thấy anh ta, từ xa, ở tách biệt dưới một nơi như túp lều tranh, có hình dạng giống chòi hát. Cô tranh thủ thời gian quan sát anh ta một lúc trước khi bị phát hiện. Ngồi bên chiếc bàn ngoài trời, trước màn hình máy tính và chai vang trắng, Raphaël Batailley nhìn xa xăm, dán mắt về phía chân trời.

Ngay cả khi cô bắt đầu lại gần, dường như anh ta vẫn chưa nhận ra sự hiện diện của cô. Bên ngoài chiếc sơ mi trắng, anh ta mặc áo khoác len dày dặn màu xanh hải quân cùng kiểu với chiếc cô nhìn thấy lúc sáng trong căn nhà kính. Nhìn gần, ban đầu cô thấy anh ta có vẻ giống một quý tộc Anh quốc với mái tóc như đi ra từ tiểu thuyết của E. M. Forster. Rồi khía cạnh cảnh giác của anh ta khiến cô liên tưởng đến các tài tử điện ảnh: điểm cân bằng giữa nét phong lưu của Rupert Everett và những dằn vặt của Montgomery Clift.

– Anh đã uống khai vị cho bữa tối rồi hay đây chỉ là chai lai rai từ bữa trưa? cô hỏi.

Đó là tất cả những gì cô nghĩ được để bắt chuyện.

Nhà văn bất ngờ quay mái tóc dày và đôi mắt màu nhạt về phía cô, khó chịu vì bị làm phiền, như thể Roxane vừa chích vào anh một cú điện giật. Nữ cảnh sát vẫn sa lầy vào câu chuyện về rượu.

– Anh mời tôi một ly nhé?

Bị khiêu khích, anh ta đưa chai rượu đã mở nút cho cô - một chai Meursault Perrieres không còn mới lắm - và cô đánh liều uống một ngụm thẳng từ chai.

– Tôi là Roxane Montchrestien, cô nói trong lúc ngồi xuống chiếc ghế trống đối diện anh ta.

– Một cái tên tuyệt vời cho nữ chính tiểu thuyết, anh ta ngẫm nghĩ rồi tuyên bố.

– Cảm ơn vì lời khen.

– Cô mới đến đây à?

– Tôi không phải bệnh nhân.

– À, cô là y tá mới mà mọi người nói đến à? Tôi tưởng cô trẻ hơn cơ.

– Cũng không phải.

Vẫn giữ vẻ khó gần, anh ta cau mày và gãi bộ râu mới nhú. Ánh mắt anh ta ánh lên nghìn ngọn lửa như thể đang phê thuốc hay đang say. Hoặc cả hai.

– Ít nhất thì cô không phải phóng viên chứ? anh ta lo lắng nhìn cô chăm chú. Không, cô có vẻ không giống phóng viên.

– Thế tôi có giống cảnh sát không?

Không có ý làm mếch lòng Valentine, nhưng nhìn gần, cô thấy tay nhà văn cũng không “lý tưởng” đến mức đấy. Một vẻ thanh lịch đầy cẩu thả, cặp mắt mệt mỏi, nét quyến rũ đáng thất vọng. Batailley càng sa sầm hơn khi nhận ra Roxane đang mặc áo khoác của mình.

– Tại sao áo của tôi lại ở trên người cô? Cô tự tiện đến nhà tôi à?

Cô cắn môi vì nhận ra sơ suất của mình.

– Tôi sẽ giải thích cho anh.

– Tôi mong cô lèo lái cho tốt và hy vọng phía cảnh sát sẽ trả tiền luật sư cho cô.

Roxane tìm cách xoa dịu không khí.

– Tôi đến để báo cho anh một chuyện.

Roxane tháo chiếc đồng hồ đeo ở cổ tay và đặt nó lên bàn. Thoạt tiên, Raphaël Batailley nhìn nó với vẻ thờ ơ. Rồi anh lật nó lại để tìm dòng chữ.

– Cô tìm được cái này ở đâu?

– Nó là của anh, phải không?

– Phải, của tôi. Nhưng tôi đã tặng nó cho một người.

– Cho ai?

Batailley đưa tay lên vuốt tóc.

– Tôi có cảm giác cô đã biết rồi.

– Cho cô gái anh yêu, Milena Bergman. Anh có biết liệu cô ấy có đeo nó lúc qua đời không?

– Rõ ràng là không. Nó đã không được thế này nếu bị ngâm nước sáu tháng. Cô tìm được nó ở đâu?

– Hôm qua một người đã cố bán lại nó cho tiệm đồng hồ cổ trên đường Marbeuf.

– Ai vậy?

– Nhân viên an ninh của một bệnh xá tâm thần ở Paris.

– Anh ta trộm nó từ ai?

– Từ tay một nữ bệnh nhân của I3P.

– Người đó đã cướp được nó từ ai?

– Đó chính là điều tôi đang cố tìm hiểu.

Roxane có cảm giác Raphaël đang dần mất hứng thú, vì anh ta không thấy chuyện đồng hồ bị đánh cắp này liên quan gì đến mình.

– Được rồi, anh ta vừa nói vừa đeo chiếc đồng hồ vào cổ tay. Cảm ơn cô đã mang trả nó cho tôi. Tôi phải ký giấy tờ gì đó phải không? Nộp lời khai à?

3.

– Chờ đã, chuyện chưa hết đâu! Để tôi kể cho anh tuần tự các sự kiện đã.

– Được thôi, nhân lúc tôi đang có tâm trạng. Nhưng làm ơn nói nhanh.

– Cuối tuần trước, Đội Cảnh sát đường sông đã cứu được dưới sông Seine một cô gái sắp đuối nước ở khu vực gần cầu Pont-Neuf. Cô gái khỏa thân, vô cùng hoang mang và bị mất trí nhớ. Thứ duy nhất cô ta đeo trên người là chiếc đồng hồ này.

Raphaël day mạnh hai mí mắt, như thể nhờ hành động ấy anh ta có thể lấy lại bình tĩnh. Roxane nói tiếp.

– Qua phân tích ADN từ tóc của cô gái, chúng tôi đã tìm thấy ADN trùng khớp trong Cơ sở Dữ liệu Tự động Thông tin di truyền Quốc gia-Fnaeg.

– Tương ứng với ai?

– Với Milena Bergman.

Nhà văn lắc đầu.

– Tôi không hiểu vì sao ADN của Milena lại được lưu ở Fnaeg.

– Vì vụ trộm năm 2011.

Raphaël nhún vai nghi ngờ.

– Chắc hẳn có nhầm lẫn ở đâu đó.

Roxane đưa anh ta bản sao báo cáo giám định của Phòng Giám định Pháp y.

Batailley liếc mắt nhìn. Bức ảnh có vẻ làm anh ta tò mò nhưng không mảy may lung lay.

– Một bức ảnh đen trắng mờ tịt chẳng nói được gì.

Roxane chìa điện thoại cho anh ta xem một loạt ảnh chụp từ máy quay giám sát của I3P.

Lần này, các đoạn clip đã thu hút Raphaël. Gương mặt anh ta biến đổi: mắt mở to, miệng mím chặt, hàm nghiến lại.

– Đây là trò đùa hay sao?

– Tôi không biết phải giải thích thế nào, Roxane thú nhận. Theo anh, đó có phải cô ấy không?

– Không. Đó không thể là cô ấy được. Milena đã ở trên chuyến bay gặp tai nạn. Thi thể cô ấy đã được xác nhận. Đó là điều chắc chắn.

– Tôi muốn nhờ anh giúp tôi tìm ra cô gái này.

– Tìm ra cô ta là sao?

– Cô ta đã trốn thoát trên đường chuyển viện và từ đó không ai thấy cô ta nữa.

Raphaël nổi giận đẩy chiếc bàn sắt, đứng lên và căng thẳng đi vài bước trên mỏm đá. Cái bóng bồn chồn của anh ta hối hả phía ngược sáng. Đường chân trời rực sáng. Bóng những cây thông biển rung rinh trên bầu trời tựa viên hồ đào ngào đường.

– Taxi đang đợi sẵn ngoài cổng rồi. Hãy về Paris cùng tôi, cô vừa nói vừa tiến tới chỗ nhà văn, gần vách đá đổ xuống biển Địa Trung Hải.

Anh ta cao giọng, giơ ngón tay đe dọa cô.

– Không, tôi sẽ không theo cô vào cái trò điên rồ này đâu. Milena đã chết. Tôi đã chịu đựng đau khổ quá đủ rồi. Cô ấy còn đang mang thai đứa con của chúng tôi. Chuyện ấy khiến tôi...

Giọng anh ta vỡ vụn.

– Tôi không biết chuyện ấy, cô khẽ nói.

– Biến khỏi đây ngay.

– Tôi xin lỗi vì đã khơi lại những ký ức đau buồn của anh, nhưng...

– CÚT ĐI! anh hét lên.

Tiếng thét của nhà văn đã đánh động các hộ lý. Roxane quay đầu nhìn. Như bước ra từ Bay trên tổ chim cúc cu, hai gã mặc đồ trắng vừa lập tức nhận ra sự hiện diện của cô và nhanh chóng đi về phía họ. Thời gian hành động của cô bị rút ngắn. Hơn nữa Batailley cũng bắt đầu khiến cô thấy hơi sợ. Và đứng ngay gần vách đá như thế này chẳng tiện chút nào.

– Tôi phải nói với anh một chuyện nữa, Raphaël, và đáng buồn đây là một tin xấu.

Tiểu thuyết gia lại gần cô và giơ tay lên. Trong một khoảnh khắc, Roxane tưởng anh ta định tóm vai cô và quẳng xuống biển từ vách đá cao, nhưng anh ta chỉ xua xua tay giục cô nói.

– Bố anh đã gặp tai nạn nghiêm trọng sáng hôm qua. Ông ấy đang nằm viện.

– Gì cơ?

– Ông ấy bị ngã cầu thang ở văn phòng. Ông ấy đang hôn mê.

– Cô không thể nói chuyện này cho tôi sớm hơn à!

– Hãy về Paris cùng tôi, cô yêu cầu.

Chống hai tay lên hông, Raphaël Batailley nhăn mặt và lấy lại hơi như một cầu thủ bóng đá đứng dậy sau một pha truy cản hỏng.

– Cho tôi năm phút để chuẩn bị đồ đạc, anh ta nói và ra hiệu trấn an với các y tá đang lao về phía họ.

Trong lúc anh ta quay lại khu nhà của phòng khám, Roxane trình bày với hai người đàn ông đang vây hai bên và hộ tống cô sát sao ra tận cổng. Cô ngồi vào ghế sau taxi và bảo tài xế chờ thêm một lát. Tay nhà văn hơi có máu điên. Anh ta sẽ không dễ bị dắt mũi. Nhưng cô cần anh ta có mặt ở Paris để thúc đẩy tiến độ điều tra.

Cô xem tin nhắn trong lúc chờ Raphaël. Johan Moers đã cố gắng liên lạc. Cô liền gọi lại cho anh chàng.

– Nghe này, Roxane, tôi đã tự mình làm lại các mẫu phân tích bằng cách trích xuất các đoạn ADN khác trong mẫu tóc. Kết quả xét nghiệm vẫn giống sáng nay. Không có sai sót nào cả.

– Thế còn nước tiểu?

Nhà sinh học quả quyết đáp.

– Không thể trích được đoạn ADN nào hết.

– Tại sao?

– Đầu tiên là vì có rất ít ADN trong nước tiểu và nó còn suy biến rất nhanh, nhưng chủ yếu thì mẫu nước tiểu của cô đã bị ô nhiễm do các chất khử trùng có trong bồn cầu.

– Chết tiệt thật!

– Đúng, nói câu đó lúc này là chuẩn đấy, anh chàng đùa. Tuy nhiên, tôi có một thông tin có lẽ sẽ làm cô hứng thú.

– Nói luôn đi.

– Tôi đã làm vài phân tích khác để phòng hờ. Và có một kết quả khiến tôi tò mò.

– Tốt lắm, nói nhanh nào, Johan!

– Tôi tìm thấy trong nước tiểu dấu vết của hormon Beta-hCG.

– Tức là sao?

– Tức là cô gái đang mang thai, Moers đáp. Cô nàng vô danh trên sông Seine của cô đang có bầu.

Khi Roxane cúp máy, một suy nghĩ lướt qua đầu cô: Phòng Sự vụ Phi truyền thống không chỉ vừa được mở cửa trở lại, mà còn sắp lấy lại được vinh quang thuở xưa.

Chú thích:

[1]Les Anées folles trong tiếng Pháp, giai đoan từ năm 1920 đến 1929, đây là thời kỳ bùng nổ các hoạt động xã hội, văn hóa và nghệ thuật ở Pháp, tiệc tùng và hoan lạc trở thành tâm điểm để người ta quên đi nỗi kinh hoàng của Thế chiến thứ nhất.

« Lùi
Tiến »