.Sự tán thành của người khác là một chất kích thích mà đôi khi ta nên nghi ngờ.
Paul CÉZANNE
1.
Phố Assas, lối vào nhà Batailley khá khó đi. Để vào đến nơi, đầu tiên phải đi qua một cánh cửa sắt cũ mèm dẫn vào một lối đi hẹp. Con đường nhỏ chạy dọc khu vườn thực vật của khoa Dược Đại học Paris chừng hai mươi mét trước khi đâm vào khoảng sân xanh mát của khu chung cư. Nơi này được trồng nhiều hoa cỏ cây cối, mang lại chút không khí thôn dã hiếm hoi tại đất Paris. Roxane nhớ lại khu vườn của bà, nhận ra một hàng rào cây trúc đào, hai cây đoạn lá bạc lớn, một cây phong đỏ và cả một cây có lẽ là bạch quả đang rụng những chiếc lá màu hoàng ngọc tuyệt đẹp. Cuối cùng, đằng sau bức rèm làm nên từ những cây tiêu huyền cao vứt trụi lá, toàn bộ căn nhà kính hiện ra trước mắt cô.
Chủ tiệm đồng hồ không hề nói dối. The Glass House là một khối hình hộp khổng lồ trong suốt, được lồng vào một tòa nhà nhỏ ba tầng bằng gạch đỏ. Roxane đã đọc lúc tên taxi rằng tòa nhà thực chất được xây từ những năm 60 thế kỷ trước bởi một kiến trúc sư người Mỹ sống ở Paris, một ông William Glass nào đó, người vô cùng nổi tiếng nhờ các tác phẩm của mình. Quả vậy, Glass là một nhà lý luận bị ám ảnh với những đồ vật trong suốt. Thành tích nổi bật của ông phải kể đến một số dự án nổi tiếng như nhà hát bằng kính ở Copenhagen, trường kiến trúc Bilbao, trụ sở tập đoàn Green Cross ở New York...
Roxane đi một vòng quanh tòa nhà. Không một bóng người. Điểm hấp dẫn của ngôi nhà là ở sự đơn giản và trong sáng của các đường nét. Một kiến trúc trong mơ dành cho những người theo chủ nghĩa tối giản. Cấu trúc khung thép màu xám mờ đỡ một dãy kính thay cho tường. Kỳ lạ là khi đứng nhìn từ ngoài vườn, ta không thấy rõ bên trong ngôi nhà lắm. Bầu trời, những đám mây trôi, mặt trời, bóng các cành lá và cây cối tô điểm phản chiếu lên ngôi nhà như một trò thôi miên với chuyển động vô tận.
Khi đến gần tấm kính cường lực mờ được dùng làm cửa ra vào, Roxane nghe thấy tiếng lách cách và ngạc nhiên khi thấy tấm kính xoay ra. Hẳn là trong chùm chìa khóa cô lấy ở bệnh viện có một chiếc hoạt động như khóa điện tử, tự động mở cửa khi bạn đến gần.
Cô bước qua cửa và vào trong một căn hộ thông tầng kiểu gác xép. Cô chưa từng thấy cách bài trí như vậy bao giờ. Không có lấy một vách ngăn. Các món nội thất bằng gỗ mộc, thấp và dài dùng để phân chia không gian. Dù ở đâu ta cũng có thể nhìn xuyên suốt toàn bộ căn nhà. Thiết kế căn hộ nhìn thông 360 độ, cô vừa nghĩ vừa bước trên sàn gạch đỏ sờn cũ lát chéo, hệt như sàn gỗ xương cá bằng đất nung thực thụ.
Cô đến đây để tìm thứ gì? Chính cô cũng không rõ. Cô muốn thăm dò nơi này bởi chỗ ở thường phản chiếu tính cách của những người sống trong đó. Và hiện tại, cô có hứng thú với gia đình Batailley không kém gì với Milena Bergman. Hơn hết, cô muốn bấu víu vào cuộc điều tra này càng lâu càng tốt. Nó là chiếc phao cứu sinh trên cả mong đợi của cô. Sorbier, Botsaris và những người khác tưởng đã loại được cô ra khỏi công việc này, nhưng số phận - cái số phận khốn kiếp lúc nào cũng khiến cô bàng hoàng - vừa ném cô vào cuộc điều tra về một vụ án bất thường, bí ẩn mà thú vị.
Cô đi theo bước chân của cha con Batailley, dạo quanh căn nhà như đang ở nhà mình. Thoạt đầu nơi này làm cô nghĩ đến một bảo tàng tư nhân nhỏ. Giống như bố mình, tay nhà văn rất có gu. Các tác phẩm nghệ thuật - điêu khắc và hội họa - trú trong không gian căn nhà với một sự duyên dáng mà khắc khoải. Cô nhận ra bức tượng đồ sộ điển hình của nhà điêu khắc Bernar Venet: những vòng tròn méo mó bằng thép gỉ dường như xoắn lại không ngừng. Một bức quái thú Minotaur vẽ trên toan bằng sắt mạ kẽm và cả một bức thạch bản lớn của Hans Hartung với những nét gạch và cuộn xoắn trên nền chủ đạo màu xanh nửa đêm.
Nhưng tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời nhất vẫn là khung cảnh nhìn ra bên ngoài. Tầm nhìn mở ra thiên nhiên đem lại cảm giác cây cỏ thực vật cũng là một phần của ngôi nhà. Cảnh tượng ấy khiến Roxane tự đặt câu hỏi: tại sao tiểu thuyết gia kia lại không ngồi viết trong khung cảnh mê hoặc này?
Rải rác trên các bức tường và trong phòng sách là những bức ảnh của nữ nghệ sĩ dương cầm cùng nhà văn. Milena và Raphaël tại New York, Milena và Raphaël trên đường trượt tuyết ở Courchevel, Milena và Raphaël ở bờ biển Côte d’Azur, v.v. Tóc bay trong gió cùng nụ cười nở trên môi, đôi tình nhân công khai thể hiện tình yêu. Niềm hạnh phúc dường như là lớp vỏ bọc quá lố hay sặc mùi dàn dựng. Niềm hạnh phúc mà người ta thường khoe ra cho người khác thấy hơn là cho chính bản thân họ. Không, cô buộc phải thừa nhận, cô nói vậy là vì ghen tị. Roxane tự thấy xấu hổ khi rơi vào tâm trạng tầm thường ấy, bị ô uế bởi thứ cảm xúc thù hằn vì trước giờ cô chỉ trải qua những mối tình tồi tệ. Sự thật là Milena Bergman có một vẻ đẹp đặc biệt. Vượt trên mọi khuôn mẫu, mái tóc vàng của cô tỏa ra vầng hào quang từ bụi sao. Con người cô toát ra vẻ sầu muộn thanh khiết và nét duyên sâu kín. Sự thật là Roxane đơn giản chỉ đang ghen tị. Trong thâm tâm cô thừa nhận điều này và ngay sau đó cô cảm thấy đau buồn cho nữ nghệ sĩ cùng số phận bi thảm của cô ta.
Căn phòng lạnh như đá. Hệ thống sưởi có lẽ được đặt ngầm dưới sàn bởi nơi này không có lấy một máy sưởi, có thể là vì lý do thẩm mỹ. Dọc một bức tường thấp bằng đá có các đầu đốt của một lò sưởi bằng ga. Roxane nhấn công tắc và lập tức những ngọn lửa màu cam nối dài bắt đầu nhảy nhót lơ lửng trên thảm đá cuội màu trắng.
Những ngọn lửa quyến rũ níu cô lại gần lò sưởi. Trên một trong hai chiếc xô pha lounge đặt quanh lò sưởi, cô tìm thấy - bên dưới chiếc áo khoác len họa tiết ô vuông - cuốn tạp chí Week’nd mà Valentine đã kể với cô. Không nằm hẳn trong thể loại thông tin, phong cách sống hay con người, tên tạp chí được đặt theo kiểu tỏ ra cao cấp, đâu đó giữa tạp chí Vanity Fair và M, le magazine du Monde. Cuốn tạp chí đã mở sẵn ở bài viết tiết lộ mối quan hệ giữa Milena và Raphaël, một năm sau tai nạn của chuyến bay Buenos Aires-Paris.
Cô mặc chiếc áo len lên người cho vui, cũng như để khơi gợi sự hiện diện của Raphaël Batailley. Chiếc áo khoác tỏa hương nước hoa nhè nhẹ, kết hợp giữa mùi muối biển và cam đắng. Cô thả mình ngồi lọt thỏm trên xô pha và đọc lướt bài báo với niềm vui đơn thuần mà cô thường không cho phép mình có được ngay cả khi ngồi ở tiệm làm đầu.
Cô hiểu vì sao bài viết khiến Raphaël nổi giận, khơi lại nỗi đau của anh và biến tấn bi kịch sâu kín thành chủ đề của những câu chuyện ngồi lê đôi mách. Cô cũng hiểu vì sao Raphaël Batailley và Milena Bergman lại phải lòng nhau: hai nghệ sĩ nổi danh, nhưng kín tiếng, hoạt động nghệ thuật bên lề, cách xa những nhóm hội nghệ sĩ khác. Milena cũng không được ca tụng như các nghệ sĩ cùng thời khác, những người như Hélène Grimaud, Khatia Buniatishvili hay Vương Vũ Giai. Nhưng cô cũng không cố được như vậy. Cô từng nhắc đi nhắc lại không mệt mỏi rằng đam mê dành cho dương cầm không phải điều quan trọng nhất cuộc đời cô.
Hai câu hỏi lập tức hiện lên khi Roxane đọc trang tập chí. Tại sao đến lúc này bài viết mới được đăng? Và ai đã tuồn thông tin cho tên phóng viên - một gã Corentin Lelièvre nào đó - bằng cách cung cấp cho hắn những bức ảnh riêng tư và rất nhiều câu chuyện cá nhân bí mật của hai người họ. Một ý tưởng nảy ra trong đầu. Cô gõ tìm trên màn hình điện thoại và thông qua tòa soạn, cô đã liên lạc được với Lelièvre và nói chuyện với hắn. Vô cùng khó chịu và luôn cảnh giác, tay phóng viên tự xem mình như Bob Woodward[1]. Hắn làm khó cô, thậm chí còn dạy cô bài học về bí mật nguồn tin trước khi thẳng thừng dập máy.
Roxane hít một hơi thật sâu để giữ bình tĩnh, quyết tâm phải đạt được mục đích bằng cách khác. Nhân thể đang cầm điện thoại, cô gọi cho tiểu thuyết gia lần nữa. Thật ngạc nhiên. Một hồi chuông khẽ vang lên trong căn phòng. Nữ cảnh sát tìm xem âm thanh phát ra từ đâu và phát hiện chiếc iPhone của Raphaël trong ngăn kéo bàn làm việc bằng gỗ hồ đào, đặt bên cạnh hộ chiếu, chìa khóa ô tô, một tấm séc và thẻ từ của bãi đỗ xe André-Honnorat. Để phòng xa, cô thử mở khóa điện thoại lên nhưng nó liền tắt nguồn. Hết pin.
Thật kỳ quặc là Batailley ra ngoài mà không cầm điện thoại.
2.
Văn quấn chặt chiếc áo khoác len trên người, Roxane quay lại nằm dài trên chiếc xô pha gần lò sưởi. Cô nhắm mắt, tái hiện lần lượt những hình ảnh của vụ tai nạn máy bay. Nỗi sợ, những tiếng la hét, ý thức đột ngột về cái chết cận kề. Cô cần dò lại từ điểm bắt đầu: nhận dạng thi thể của Milena. Đó là cách duy nhất để tìm ra câu trả lời. Cô suy nghĩ vài phút về cách tiến hành tối ưu nhất. Nhưng rồi lạc vào mê cung của cơ quan cảnh sát. Bộ máy phức tạp ấy chỉ phản tác dụng và khiến người ta tê liệt. Việc tìm kiếm thông tin đơn giản nhất cũng vướng phải bộ máy quan liêu phi lý và ngột ngạt như trong tiểu thuyết của Kafka, sự đối đầu giữa các ban ngành và sức ì đặc trưng của nền hành chính Pháp.
Không nản chí, cô thầm điểm lại trong đầu danh sách các mối liên hệ mình có ở Viện Nghiên cứu Hình sự thuộc lực lượng hiến binh quốc gia. Cuối cùng cô chọn Bertrand Passeron làm điểm tiếp cận đầu tiên, ông là người cũ của Unic, Đơn vị Điều tra Hình sự Quốc gia. Cô không chắc ông có thể cung cấp những thông tin trực tiếp, nhưng có lẽ ông sẽ giúp cô làm trung gian với một đơn vị khác. Quan trọng là ông cũng khá có cảm tình với Roxane bởi họ từng có một thời gian ngắn đánh án cùng nhau trong vụ Dupont de Ligonnds, một trong những thất bại lớn nhất của BNRF.
– Chào Roxane, ông chào đón cô bằng giọng phấn khởi.
Passeron chắc còn vài tháng nữa thì về hưu và làm việc ở Paris từ đầu chí cuối, nhưng ông vẫn giữ cái giọng đặc sệt vùng Tây Nam.
Cô giải thích với ông rằng cô đang tìm thông tin về việc nhận dạng thi thể hành khách trên chuyến Buenos Aires-Paris.
– Ồ vụ đó à, U2I mới là cơ quan có thẩm quyền xử lý yêu cầu kiểu này.
Roxane mong chờ câu trả lời này. Đơn vị Điều tra và Nhận dạng U2I được thành lập từ gần ba mươi năm trước, khi xảy ra sự cố hàng không trên núi Sainte-Odile. Họ là những người được điều đi xử lý mọi vụ thảm họa - tai nạn hàng không, tai nạn giao thông nghiêm trọng, tấn công ở nước ngoài - có nạn nhân quốc tịch Pháp.
– Không biết ông có số liên lạc của người nào có thể cho tôi thông tin về việc nhận dạng thi thể không?
– Để xem đã. Chính xác thì cô đang tìm gì?
– Tôi muốn xác minh vài chi tiết.
– Tôi sẽ cố tìm người giúp cô, Passeron hứa. Cho tôi chút thời gian.
Roxane cúp máy, thầm nghĩ kế sách này không còn kéo dài được lâu nữa. Suốt những giờ qua, cô tìm được người giúp bởi họ đều nghĩ đang hợp tác với BNRF. Nhưng sớm muộn gì, tin tức cô bị khai trừ khỏi đội sẽ được truyền đi. Trong khi chờ đến lúc đó, cô có vài ngày tự do tiến hành một cuộc điều tra không cần giấy tờ hay bị gò bó gì hết. Và cô đã quyết tâm tận dụng điều ấy.
Một loạt tin nhắn SMS kéo cô ra khỏi dòng suy nghĩ. Valentine. Cô ta đã gọi cho hãng đĩa Deutsche Grammophon rồi đến công ty đại diện của Milena. Đúng như Roxane nghi ngờ, nữ nghệ sĩ dương cầm đó đương nhiên không có chị em sinh đôi, mà cũng chẳng có anh chị em nào nữa. Bố cô ta đã mất từ lâu. Bà mẹ tái giá và sống ở Dresden với một giáo viên về hưu.
Hãy gọi cho nhà xuất bản của Raphaël Batailley để xem họ có biết anh ta đang ở đâu không, cô nhắn cho Valentine.
Rồi cô nhắm mắt, tận hưởng hơi ấm và sự yên tĩnh trong căn phòng để trở lại dòng suy tư. Cô đã đúng khi gồng hết sức cho vụ này. Tuy vậy, cô vẫn thiếu điểm nhìn rộng hơn để nắm bắt toàn bộ những yếu tố liên quan đến vụ việc. Bối cảnh thì rộng mà cô lại không có đội ngũ cùng điều tra, cô cũng không thể một mình ôm đồm quá nhiều việc. Để tiến thêm, cô phải tập trung lại vào hai mục tiêu: xác định thân phận cô gái và tìm ra cô ta.
– Cô làm gì ở đây vậy?
Câu hỏi khiến cô giật nẩy người.
Cô mở mắt và đứng bật dậy. Một phụ nữ đứng trước mặt cô, tay thủ sẵn cái xô và cây lau nhà hơi nước. Người phụ nữ khoảng bốn mươi tuổi, mũm mĩm, mặc áo phông vàng và quần yếm màu lam sọc trắng. Chị ta có mái tóc tẩy trắng và đeo cặp kính mắt mèo dày cộp.
– Tôi là cảnh sát, thưa chị, Roxane vừa nói vừa lôi thẻ ngành ra.
– Cảnh sát thì có quyền ngồi ườn trên ghế xô pha đó à? Ai cho phép cô vào đây?
– Tôi đang thực hiện điều tra.
– Cô có lệnh khám nhà không?
Người phụ nữ này không phải kiểu dễ dãi. Roxane cố lậc ngược tình thế.
– Thế còn chị, chị là ai?
– Josefa Miglietti, người trông nhà. Tôi đến dọn dẹp vào thứ Ba hằng tuần.
Chị ta xoay cánh cửa chiếc tủ buýp phê bằng gỗ hồ đào đựng đồ lau chùi.
– Tôi tìm Raphaël Batailley để báo cho anh ta biết sáng hôm qua bố anh ta đã gặp một tai nạn rất nghiêm trọng.
– Thật sao? Josefa hỏi.
Nhìn chị ta có vẻ thực sự bất ngờ.
– Chị có biết anh ta đang ở đâu không?
– Tôi không gặp anh ấy ít nhất cũng hai tuần rồi.
Roxane chỉ vào bài viết trong tờ Week’nd.
– Thế còn người này, chị biết cô ta chứ?
– Cô nghệ sĩ dương cầm á? Milène-gì-đó?
– Phải, gần đây chị có thấy cô ta lảng vảng quanh đây không?
– Gần đây ư? Cô ấy mất từ một năm trước rồi! Cô đúng là chẳng biết tin tức gì nhỉ!
– Hoặc người nào đó giống cô ta? Roxane gợi ý.
Người phụ nữ lắc đầu.
– Lần duy nhất tôi nói chuyện với cô ấy là hơn một năm trước rồi. Cô ấy đến đây ở vài ngày.
– Chính xác là khi nào?
– Tôi không nhớ nữa. Chắc là mùa hè. Vào cái hồi mọi người tưởng ông Marc sắp chết vì bệnh ung thư phổi.
– Chị không thấy có gì đáng ngờ trong khu vực này trong khoảng hai ngày gần đây à? Roxane gặng hỏi.
– Ngoại trừ cô à?
– Tất nhiên, trừ tôi ra!
Josefa gãi đầu.
– Tuần trước một tay phóng viên đã cố phỏng vấn tôi hai lần.
– Hắn đến tận đây à?
Chị ta gật đầu.
– Hắn bảo mình tên là Constantin Lelièvre, hay cái gì đó kiểu vậy.
– Hắn muốn biết gì?
– Thật ra là gần giống cô. Hắn hỏi tôi vài câu về nữ nghệ sĩ kia.
Roxane lôi chiếc điện thoại đang rung trong túi ra. Tin nhắn mới từ Valentine: Tổng biên tập nhà xuất bản của RB khẳng định anh ấy đang ở London, nhưng bà ấy không biết chính xác chỗ ở.
– Nào, tránh ra, tôi còn phải làm việc! Josefa ra lệnh, làm bộ đẩy Roxane đi bằng tay cầm cây lau nhà.
Nữ cảnh sát không để chị ta phải nhắc lại lần hai. Batailey không ở London. Kể từ sau vụ Brexit, muốn sang Anh thì phải có hộ chiếu mà hộ chiếu của anh ta vẫn ở bàn làm việc. Bà tổng biên tập kia đã nói dối và cô sẽ ghé qua gặp bà ta. Đã đến lúc cô phải sút một cú đau điếng cho con thú ăn kiến quen thói bịa chuyện kia.
3.
Roxane kéo ống tay áo với hy vọng hão huyền là che chắn bàn tay khỏi nhiệt độ lạnh cóng. Vừa sải những bước dài, cô vừa thổi vào các đầu ngón tay nhằm sưởi ấm trong lúc những giọt nước mắt chảy ra vì lạnh lăn trên má cô. Để đến chỗ nhà xuất bản, Raphaël Batailley thật may mắn khi không phải đi xuyên qua cả Paris. Hơn nữa, quãng đường đi bộ cũng khá dễ chịu: vườn Grands-Explorateurs, đại lộ Observatoire, đại lộ Montparnasse. Và cuối cùng là con phố nhỏ Campagne-Première. Một trong những con phố yêu thích của Roxane ở thủ đô. Cô ùa vào con phố hệt như nắng và gió. Ở đây cũng vậy, nơi này không tránh khỏi sự tấn công của các công trình dang dở. Lần trước cô tới đây, con phố còn chưa bị tu sửa. Giữa các mặt tiền rêu phong nhiều màu sắc giờ đây trồi lên một tòa nhà xám xịt và tẻ nhạt được bọc một lớp lưới kim loại.
Sự xấu xí luôn chiến thắng...
Đó là quy luật tàn nhẫn và đáng buồn của thời đại. Vừa đi trên đường, cô vừa đắm chìm trong kỷ niệm. Dạo gần đây, cô ngày càng như vậy. Không hề báo trước, như thể một luồng nhiệt đột ngột, một chùm hồi ức bất chợt ập đến, xâm chiếm cô với độ chính xác như ma xui quỷ khiến. Cô bỗng nhớ lại tại đây, trên chính con đường này, một tối tháng Sáu năm 1997, cô ăn mừng tốt nghiệp phổ thông với hội bạn, vui mừng trước viễn cảnh tuyệt vời được tham gia khóa dự bị đại học ngành Văn học vào năm học tới.
Hôm đó là lễ hội Âm nhạc. Trời nóng. Phe cánh tả vừa thắng cử. Một nhóm baby rocker đang hát bài Champagne Supernova trước cửa khách sạn Istria. Cuộc đời với cô khi ấy thật phong phú, tràn trề hy vọng và cơ hội. Còn cuộc đời hiện giờ như một bức tường, một chuỗi rắc rối cần giải quyết, một loạt cú đánh cô phải chống đỡ mà không thể đáp trả lấy một lần. Cô đã từ bỏ mọi viễn cảnh cải thiện hay phát triển bản thân. Cô biết rõ mình đã lạc lối. Cô biết rằng thế giới đã hoàn toàn thay đổi và cô sẽ không bao giờ tìm được chỗ cho mình ở đây.
Roxane tới số nhà 13B, một tòa nhà ba tầng bằng gạch hồng, địa chỉ trụ sở nhà xuất bản Fantine de Vilatte. Cô bấm chuông rồi bước vào căn sảnh tối tăm chật chội dẫn ra một khoảng sân lát đá. Ở giữa sân có một đài phun nước bị dây thường xuân che lấp, xung quanh là vài xưởng nghệ sĩ nối tiếp nhau đã bị chuyển thành chỗ ở. Xưởng lớn nhất chính là trụ sở nhà xuất bản: một tòa nhà giống như nhà kính với những vách kính nhô bên trên các bàn làm việc.
– Tôi muốn nói chuyện với Fantine de Vilatte.
– Nếu chị không hẹn trước thì không thể gặp.
Cô gái trẻ ở lối vào trả lời với giọng ban ơn làm cô nổi cáu. Roxane rút thẻ ngành và đập mạnh lên mặt quầy bằng kính.
– Cảnh sát đây, cô gái. Giờ thì nhấc cái mông khỏi ghế rồi đi đi...
– Tôi là Fantine de Vilatte, một giọng nói vang lên sau lưng cô.
Bà tổng biên tập xuất hiện giữa một vệt nắng. Một phụ nữ khoảng sáu mươi tuổi thanh lịch, khoác tấm khăn san nhiều màu. Mái tóc màu vàng tro của bà ta cuộn thành một búi bện cầu kỳ, khiến bà ta trông như một nữ anh hùng thời Trung cổ.
– Đại úy Montchrestien của BNRF. Tôi đang tìm Raphaël Batailley để phục vụ điều tra.
– Và tôi có thể giúp gì cô?
– Chẳng hạn như cho tôi biết anh ta đang ở đâu.
Fantine siết chặt chiếc khăn lụa vuông quanh vai.
– Rapha đang ở London. Có lẽ là trong một khách sạn hay nhà thuê nào đó, nhưng tôi hoàn toàn không biết là ở đâu và tôi cũng không có cách nào biết được.
Roxane mong chờ câu trả lời này. Cô chìa ra thứ giấy tờ tùy thân tìm được trong nhà anh ta.
– Anh ta đã để hộ chiếu ở nhà, nên anh ta không thể ở London, tức là bà coi tôi như trò cười và tôi sắp tức điên lên đây.
Fantine de Vilatte đáp lại cô bằng nụ cười bình thản và ánh mắt trong trẻo, một cách cho thấy bà không hề mất bình tĩnh.
– Bố anh ta vừa gặp tai nạn nghiêm trọng, Roxane đưa thêm lý lẽ.
– Tôi thực sự không thể nói gì với cô. Giữa chúng tôi có cam kết tín nhiệm. Khi viết sách, Rapha muốn ở một mình. Cô biết định nghĩa về nhà văn mà Thomas Mann đã nói đấy: “nhà văn là người mà đối với anh ta, viết lách còn khó khăn hơn cả đối với những người khác”.
Roxane đổi nước đi khác.
– Bà biết nghệ sĩ dương cầm Milena Bergman chứ.
– Ừm... tôi biết tên, nhưng không quen biết cô ấy, bà tổng biên tập đáp kèm cái bĩu môi nhẹ.
– Thế mà đó lại là bạn gái anh chàng “Rapha” của bà. Anh ta chưa từng giới thiệu cô ta cho bà à?
– Không, cậu ấy chưa kể với tôi bao giờ.
– Kỳ quặc nhỉ?
– Không hề. Rapha kể với tôi về các nhân vật của cậu ấy. Với những tiểu thuyết gia như cậu ấy, sách còn quan trọng hơn cả cuộc sống.
“Sóch còn quon trọng hơn cỏ cuộc sống.” Fantine de Vilatte đúng là đối lập với Passeron: bà ta nói giọng nặng, nuốt âm và chuyển hết “a” thành “o”.
– Phải, dù sao đấy cũng chỉ là cách nói, Roxane nhận xét.
– Đúng, là cách nói, thưa cô, và chớ coi thường sức mạnh của lời nói.
Roxane thở dài. Mấy người này đúng là tự phụ.
– Với nhiều nghệ sĩ, Fantine nói tiếp, viết là một lối thoát. Đó là phép mầu của sự hư cấu: nó tạm thời đưa cô thoát khởi hiện thực. Nhưng tôi không định tranh luận với cô về chuyện này.
Vilatte là người bảo thủ và ưa màu mè. Tệ nhất là bà ta thực sự tin vào mấy lời tầm phào đó.
– Tôi nghĩ là bà chưa nắm rõ tình hình. Marc Bacailley đang thập tử nhất sinh trong bệnh viện. Điều gì có thể thanh minh cho việc bà không cho con trai ông ấy biết thông tin này chứ?
– Cô đang đặt tôi vào tình huống khó xử.
– Không, đúng ra, tôi đang đề xuất với bà một cách thoát khỏi tình huống đó. Hãy tin chắc rằng nếu người bố qua đời mà anh ta không được báo tin ông nhập viện, Raphaël sẽ không xuất bản cuốn sách nào ở chỗ bà nữa đâu.
Lập luận lần này có vẻ hiệu quả. Bà tổng biên tập im lặng hồi lâu rồi cuối cùng đành phải tiết lộ.
– Raphaël đang ở một phòng khám tâm thần, bà thì thầm nói.
Ngay từ đầu, Roxane đã ngờ đến một chuyện điên rồ nào đó, và cô đã không thất vọng.
– Anh ta bị giữ ở đâu?
– Không phải bị giữ. Cậu ấy tự nguyện ở đó.
– Bà nghĩ tôi là đồ ngu à?
– Đó là phòng khám Fitzgerald ở mũi Antibes. Mấy năm gần đây Rapha có thói quen viết sách ở đó.
– Vì sao?
– Vì cậu ấy thích khung cảnh, môi trường ở đó, gần các bệnh nhân tâm thần, những thứ ấy nảy sinh cám dỗ trong cậu, nuôi dưỡng và thôi thúc cậu ấy viết lách.
– Các vị làm việc với một đám tâm thần thực sự.
– Cô không hiểu được đâu.
– Đương nhiên là không. Cảnh sát chúng tôi quá ngốc mà...
Roxane tạm biệt Fantine de Vilatte và đi ra sân. Cô ngồi xuống một băng ghế bằng đá trắng gần đài phun nước và mở trình duyệt trên điện thoại. Cô vào trang web của Air France. Vào tầm thời gian này trong ngày, mỗi giờ đều có chuyến bay từ Orly đi Nice. Nếu đi nhanh, có lẽ cô sẽ bắt kịp chuyến khứ hồi lúc 2 giờ 15 chiều. Vụ án của cô đã đi đến nút thắt quan trọng. Hiện giờ, cô tin chắc nhiệm vụ truy tìm Milena Bergman của mình đã chuyển sang Raphaël Batailley. Và cô quyết định đi tìm anh ta.
Chú thích:
[1]Nhà báo Mỹ sinh năm 1943, nổi tiếng vì đã phanh phui vụ bê bối Watergale năm 1972, vụ việc khiến tổng thống Mỹ khi ấy là Richard Nixon phải từ chức vào năm 1974.