Cô Gái Vô Danh Trên Sông Seine

Lượt đọc: 2660 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
4 Nữ hành khách
trên chuyến bay af 229

Và sự tồn tại của loài người là tấn hài kịch buồn thảm do các vị thần tạo nên.

Serge FILIPPINI

1.

– Cô là cảnh sát phải không?

Thời gian tìm lại được là một cửa hàng nằm lọt thỏm trong góc giữa các biển hiệu cao cấp trên phố Marbeuf. Cách bài trí và không khí trong tiệm khiến người ta liên tưởng đến nội thất một cỗ xe sang trọng. Bước qua ngưỡng cửa, không gian tiệm được sắp đặt như một phòng khách nhỏ với những chiếc ghế bọc da sáng màu xếp xung quanh một chiếc bàn thấp bằng gỗ hồ đào. Tiếng máy sưởi chạy ro ro êm tai cùng mùi hương mới mẻ mang lại cảm giác thoải mái, mời gọi ta nán lại chiêm ngưỡng những chiếc đồng hồ đến từ các thương hiệu danh tiếng. Phía cuối phòng, sau quầy thanh toán bằng cẩm thạch màu lục, chủ tiệm đồng hồ có vẻ ngoài thật xứng với nơi này: ông mặc áo vest ôm sát, khăn tay cuốn biên cài ở túi ngực, cặp kính đồi mồi và áo gi lê họa tiết paisley có móc dây đồng hồ quả quýt.

– Tôi đang chờ cô đến, ông nói thay cho lời chào.

– Thật sao?

– Cô là cảnh sát và cô đến để nói với tôi về chiếc “Résonance”.

Roxane đặt chiếc thẻ ba màu lên mặt quầy.

– Chính xác, tôi là cảnh sát. Tôi muốn hỏi ông vài câu về chiếc đồng hồ được một gã tên là Anthony Moraes ký gửi ở đây tối qua.

– Nó chính là chiếc đồng hồ tôi vừa nói: chiếc Résonance.

Roxane cau mày. Với chiếc áo vest dài, đồng hồ quả quýt và tài ăn nói thảm hại, vị chủ tiệm làm cô nghĩ đến nhân vật Thỏ Trắng trong Alice ở xứ sở thần tiên. Và cô muốn cho ông vài cú bạt tai.

– Ngay khi cậu trai đó rời khỏi tiệm, tôi đã lập tức báo cho đồng nghiệp của cô ở đồn cảnh sát quận 8, ông cam đoan và mang ra trước mặt một hộp gỗ khảm nhỏ.

Bên trong là chiếc đồng hồ bằng bạch kim với vỏ độc đáo hình mai rùa.

– Tại sao ông gọi cảnh sát nhanh như vậy? Ông chắc chắn nó là đồ đánh cắp à?

– Chắc chắn.

Roxane dang hai tay.

– Tại sao vậy?

– Bởi chiếc đồng hồ này là độc nhất vô nhị và tôi chính là người đã bán cho chủ nhân của nó.

Roxane lắc lắc đầu. Mọi chuyện đang đi theo chiều hướng thú vị.

– Một ly cà phê nhé, quý cô? Xin lỗi: cà phê nhé, thưa đại úy?

– Được đấy. Đặc và không đường nhé.

Trong lúc Thỏ Trắng bận bịu với máy pha cà phê, Roxane xem xét chiếc đồng hồ ở cự ly gần hơn. Cô chưa từng thấy cái nào như vậy. Bên trong mặt đồng hồ lấp lánh ánh xà cừ màu da trời nhạt, hai mặt số phụ được làm đối xứng một cách hoàn hảo, như thể nhìn qua gương.

– Đó là điểm độc đáo của chiếc đồng hồ này, chủ tiệm giải thích. Nó có hai bánh xe cân bằng chuyển động đồng bộ.

– Để làm gì?

– Chẳng gì hết, ông cười. Đó chỉ là một thử thách khó nhằn cho người làm ra nó, và hơn hết, đó là một biểu tượng tuyệt vời.

– Biểu tượng cho cái gì?

– Chủ nhân đầu tiên của nó, họa sĩ John Lorentz, thấy trong chiếc đồng hồ hai quả tim chung nhịp đập.

Cô thích cách nói của ông, nó làm cô nhớ đến câu thơ của Aragon: “Ta đặt tim mình vào tay nàng/ Trái tim đôi mình chung nhịp đập.”

Ông chủ tiệm quay lại cùng chiếc khay bạc đựng hai tách cà phê bằng sứ.

– Sau khi Lorentz qua đời, chiếc đồng hồ được bán lại cho vợ của nhà văn Romain Ozorski, bà ấy muốn tặng nó cho chồng. Bà ấy chính là người đã cho khắc dòng chữ ở mặt sau.

Roxane lật chiếc đồng hồ lại và đọc: “You are at once both the quiet and the confusion of my heart.[1]”

– Câu trích từ một lá thư của Kafka gửi Felice Bauer. Thật tuyệt phải không?

Điều gì đó chợt lóe lên trong đầu Roxane. Bấy giờ, cô cũng thấy món đồ này thật cao quý và đầy chất thơ. Cô cũng muốn đeo nó lên và cảm nhận toàn thân chiếc đồng hồ đang đập trên cổ tay và truyền điện tới trái tim mình.

– Sau khi ly hôn, Ozorski muốn tống khứ chiếc đồng hồ, chủ tiệm nói tiếp, và chính tôi đã mua lại giúp một khách hàng của mình.

– Đó là ai?

– Bí mật nghề nghiệp.

Cô ngước mắt nhìn trời ngao ngán.

– Theo tôi biết, ông không phải thẩm phán, bác sĩ hay luật sư gì cả.

Thỏ Trắng chẳng thể phản kháng được lâu.

– Khách hàng của tôi là một người hâm mộ Ozorski: tiểu thuyết gia Raphaël Batailley.

Roxane đặt cốc xuống, ngỡ ngàng.

– Có liên quan gì đến cảnh sát trưởng Batailley không?

– Đương nhiên rồi, đó là con trai ông ấy. Cô chưa đọc sách của cậu ấy bao giờ à?

Cô lắc đầu. Con trai Batailley làm gì trong mớ rắc rối này vậy?

– Vậy là, chiếc đồng hồ này thuộc về Raphaël Batailley?

– Đúng thế. (Ông ta lấy điện thoại từ túi áo khoác ra.) Vả lại, tôi đã thử liên lạc lại với cậu ấy ngay tối qua. Cậu ấy không nghe máy, nhưng tôi đã để lại tin nhắn.

– Rồi anh ta có gọi lại không?

– Không.

Roxane ngoắc ngón trỏ bảo chủ tiệm đưa iPhone của ông ta cho cô. Cô thừa dịp ông ta có vẻ hợp tác để xem hóa đơn của Raphaël Batailley, trong đó có cả địa chỉ của anh ta: The Glass House, 77B, đường Assas, quận 6.

– The Glass House?

– Đúng như cái tên, đó là ngôi nhà bằng kính được một kiến trúc sư người Mỹ xây vào những năm 1960, sau đó được Batailley mua lại. Nghe chừng căn nhà đó đáng xem lắm.

Cô trở lại với chiếc đồng hồ mà cô đã luồn vào cổ tay.

– Một món trang sức như thế này giá bao nhiêu?

– Một gia tài nho nhỏ.

Cô lấy bức ảnh cô gái vô danh ra.

– Chiếc đồng hồ này bị lấy cắp từ cổ tay một cô gái trẻ được vớt lên dưới sông Seine vào đêm thứ Bảy rạng sáng Chủ nhật. Gương mặt cô ta có gợi cho ông điều gì không?

– Cô ta xinh đấy. Giống nàng Ophelia của Arthur Hughes.

– Nhưng ông chưa từng gặp cô ta?

Thỏ Trắng lắc đầu và chỉ vào chiếc đồng hồ.

– Nhớ trả nó lại cho tôi trước khi ra về.

– Không, tôi sẽ giữ nó. Hãy tin tưởng ở tôi trong việc trả chiếc đồng hồ về với chủ nhân của nó!

2.

Đến cầu Alma, Roxane lên một chuyến tàu nội vùng đưa cô đến ga Pont-du-Garigliano, nằm dưới chân bệnh viện Pompidou. Trên đường, cô nhân tiện gọi lại cho Johan Moers.

– Có vấn đề lớn với kết quả ADN của anh đây.

– Vấn đề gì ?

– Nó trùng khớp với hồ sơ của một phụ nữ đã chết, trong khi chỗ tóc đó là của một cô gái được vớt lên từ sông Seine hai ngày trước, còn sống.

– Nếu có lỗi thì đó không phải từ phía tôi, nhà khoa học liền chối.

– Dù gì thì cứ giải trình tự gen lại lần nữa đi, cô ra lệnh. Anh tự tay làm, chứ không phải trợ lý.

– OK, anh chàng thở dài.

– Và xem anh có tìm được gì khi phân tích nước tiểu không. Tôi đã bảo anh làm rồi mà.

Sau đó, trên trình duyệt điện thoại, cô nghiên cứu nhanh thông tin về Raphaël Batailley. Bốn mươi tuổi, khá điển trai, anh đã có cả một sự nghiệp khá dài. Batailley mắc chứng ám ảnh viết lách. Anh đã viết khoảng hai chục cuốn sách thuộc các thể loại khác hẳn nhau, từ trinh thám đến kinh dị và cả sách thiếu nhi. Là người khá kín đáo, anh có một nhóm độc giả trung thành hâm mộ mình, những người ủng hộ anh trong bất kỳ dự án nào. Nhờ sự ủng hộ nhiệt tình đó cùng khía cạnh viết văn đa dạng của mình, anh đã tạo được vị trí riêng trong bức tranh văn học, khác xa lối viết của đám trí thức Paris tự phụ coi mình là trung tâm và của những cỗ máy khổng lồ sản sinh những cuốn sách bán chạy. Tiểu thuyết mới nhất của anh tên là Sự nhút nhát của những người đứng đầu. Vì khá thích nhan đề sách, Roxane mua bản ebook và thầm hứa sẽ đọc nó sau.

Kiến trúc bệnh viện Pompidou trải rộng bên bờ sông Seine gần đường vành đai. Được xây trên kè André-Citroën, nơi đây là một công trình kiến trúc hình khối đồ sộ. Một tổ hợp không mấy hài hòa gồm khoảng mười tòa nhà bằng kính nối với nhau quanh một khoảng sân có mái cũng bằng kính. Một tòa nhà hiện đại có tuổi đời mới hai mươi năm nhưng đã đem lại cảm giác cũ kỹ và bẩn thỉu. Hợp với dáng vẻ mà thành phố này đang trở thành.

Roxane lang thang một lúc lâu ở sân trong rồi đi tìm phòng hồi sức tích cực. Thang máy đưa cô lên tầng hai, ở đó cô tìm được một hộ lý cho cô biết số phòng của Marc Batailley. Sau một mê cung hành lang chất đầy xe đẩy inox, cô đến trước cửa phòng số 18. Cô xác nhận trên tấm biển được ghim ghi tên bệnh nhân và liệt kê bệnh lý, cách điều trị cùng kết quả xét nghiệm của ông. Nhìn qua ô cửa kính, cô nhận ra Valentine đang lấy tay ra hiệu giục cô vào. Roxane căng thẳng đẩy cửa bước vào phòng.

Batailley may mắn được nằm ở phòng đơn - dù ở thời điểm cụ thể này, điều ấy chẳng được tích sự gì. Phải đặt nội khí quản, viên cảnh sát được đặt nằm sấp để dễ hô hấp hơn. Qua lớp ống truyền trong suốt mắc chằng chịt, vẻ ngoài của ông khớp với tưởng tượng của Roxane. Vóc dáng cao lớn, tóc hoa râm dày và bù xù, các nếp nhăn sâu, râu cả tuần không cạo. Xung quanh giường đặt một máy điện tâm đồ, một bộ truyền dịch và máy thở cung cấp oxy cho bệnh nhân như một chiếc phong cầm lúc nào cũng chỉ phát ra một nốt ì ạch và đơn điệu.

Ngồi bên cạnh ông, Valentine ngước đôi mắt ngấn lệ nhìn Roxane.

– Tôi đã gặp bác sĩ, cô ta thông báo với giọng run run. Tình trạng của ông ấy không tiến triển. Marc bị rách phổi và đa chấn thương ở não, xương sườn và cột sống.

Roxane kéo chiếc ghế tựa phía bên kia giường lại để ngồi cạnh cô sinh viên. Cô cố tìm một câu an ủi nhưng không thành và đành nói tiếp về cuộc điều tra.

– Cô có biết Milena Bergman không?

– Đương nhiên là có, Valentine vừa lau nước mắt vừa đáp. Đó là bạn gái của Raphaël, con trai Marc. Cô ấy đã qua đời trong một vụ rơi máy bay được mọi người bàn tán xôn xao.

Roxane nuốt nước bọt. Ngay khi cô bước chân vào dãy hành lang trắng xóa, mùi của bệnh viện đã bóp nghẹt cổ cô: thứ hỗn hợp âm ấm gai mũi của mùi dung dịch sát khuẩn, mùi thuốc men và mùi thức ăn ghê tởm.

– Sao chị lại hỏi tôi về cô ấy? Valentine hỏi.

– Bởi ADN mà cô mang đến cho Johan Moers trùng khớp với ADN của... Milena.

Valentine suýt nhảy dựng khỏi ghế. Sự kinh ngạc hiện rõ trên mặt cô ta.

– Thật ư? Sao có thể thế được?

– Chính xác, không thể như thế được.

Nữ cảnh sát nhìn đồng hồ “của mình” rồi nói tiếp:

– Milena, cô đã gặp trực tiếp cô ta bao giờ chưa?

– Chưa, cô ấy mất trước khi tôi gặp Marc, nhưng ông ấy từng kể cho tôi về Milena vài lần với vẻ tự hào. Cái chết của cô ấy đã khiến Raphaël suy sụp. Marc nói rằng anh ấy đã nhẹ nhõm nhiều khi sống cùng ông, rằng có lẽ anh ấy sợ những gì bản thân có thể làm khi bị cơn tuyệt vọng chi phối.

– Thế còn anh ta, nhà văn ấy, cô quen anh ta chứ?

– Có, anh ấy là một gã rất tuyệt. Tốt bụng, hài hước, thông minh. Đúng là mẫu người lý tưởng. Cô có thấy thế không?

Roxane phác một cử chỉ mơ hồ.

– Không phải gu của tôi lắm.

Chỉ cần nhắc đến Raphaël Batailley cũng đủ làm Valentine cười trở lại. Hai mắt cô ta sáng lấp lánh. Quả là một người hâm mộ đích thực.

– Mối tình lãng mạn với cô nghệ sĩ dương cầm đó bắt đầu khi nào? Valentine suy nghĩ một lúc.

– Tôi đoán là khoảng một năm trước vụ tai nạn. Có một bài về chuyện tình của họ trên tập chí Week’nd tháng trước. Bài đó khiến Raphaël tức tối lắm, bởi trước đó thông tin không được công bố.

– Ai là người tung tin gièm pha?

– Không ai biết cả.

Roxane đứng lên. Cô cảm thấy khó thở. Không gian bệnh viện luôn bóp nghẹt cô. Cô cảm thấy dường như cái chết đang rình rập khắp nơi cùng thứ âm thanh đáng sợ theo sau: tiếng bíp từ các máy đo nhịp tim, tiếng rung lắc của xe đẩy inox, tiếng những đôi giày cao su đi trên sàn nhà lát linoleum cũ kỹ. Và cả những bóng ma nực cười ám ảnh nơi đây với tấm áo khoác bằng giấy đã phai màu.

– Có một điều tôi không hiểu, cô nói tiếp. Con trai Batailley ấy, tại sao anh ta không ở đây? Tôi đã thử gọi cho anh ta khi tới đây, nhưng anh ta không bắt máy.

– Hẳn anh ấy còn không biết chuyện gì đã xảy ra với bố mình. Khi viết sách, anh ấy thường đi ở ẩn vài tuần, không ai biết anh ở đâu.

– Đúng là phong cách của nghệ sĩ, nữ cảnh sát thở dài.

– Chị đã đọc cuốn nào của anh ấy chưa?

Roxane lắc đầu.

– Tôi chỉ đọc sách của những tác giả đã mất.

– Đỉnh điểm của thói học đòi làm sang.

– Chính thời gian đã làm phép chọn lọc. Thế cô đã đọc chưa?

– Hầu hết. Tôi rất thích. Toàn bộ tiểu thuyết của anh ấy đều đề tặng người em gái đã mất năm lên bốn.

Roxane nhớ lại những gì Sorbier đã nói với mình.

– Tôi đã nghe sơ qua chuyện này.

– Marc là một cảnh sát huyền thoại, chị biết chứ?

– Phải phải, tôi biết: những năm 1990, Đội Hình sự Marseille, vụ sát nhân hàng loạt và cả giai thoại truyền miệng xoay quanh Gã làm vườn.

Valentine nhìn cô đầy khó chịu, quả là người gác đền cho Batailley huyền thoại.

– Marc từng kết hôn với một cựu vũ công của đoàn Ba lê Quốc gia Marseille. Họ đã mất cô con gái nhỏ trong một hoàn cảnh bi thảm.

– Hoàn cảnh kiểu gì?

– Một vụ việc thực sự kinh hoàng. (Cô ta chỉ vào người đang nằm bất động trên giường.) Tôi không muốn nói chuyện đó trước mặt ông ấy. Sau thảm kịch, vợ chồng họ chia tay và Batailley được chuyển lên Paris.

– Một gia đình tuyệt vời của những kẻ khùng.

– Chị đúng là không có trái tim.

– Phải, nhưng tôi đang rất muốn uống một cốc cà phê. Tôi muốn cô đi lấy cho tôi. Và tôi cũng muốn cô đừng xưng hô lịch sự với tôi nữa.

Roxane đến đây với một mục đích, nhưng cô cần ở một mình mới có thể hành động. Là người dễ tính nên Valentine đứng dậy và tìm tiền lẻ trong túi để cho vào máy bán hàng tự động.

– Chị uống cà phê thế nào?

– Đặc và không đường.

– Tôi biết ngay mà!

Cô sinh viên vừa rời khỏi phòng, Roxane lập tức lao đến chiếc tủ đồ duy nhất trong phòng. Bên trong là đồ dùng cá nhân của Marc Batailley: một chiếc quần jean, một đôi giày cao cổ, một áo sơ mi, một áo thun cổ tim, một đồng hồ Seiko UFO màu đỏ đen từ những năm 1970. Một chiếc áo khoác dài trùm mông bằng da đã sờn được treo trên mắc, bên trong có một chiếc ví, một điện thoại iPhone còn pin và một chùm chìa khóa. Roxane nhét chùm chìa khóa vào túi quần mình.

– Giờ người ta còn đi móc túi bệnh nhân cơ à?

Câu hỏi khiến cô giật nẩy mình. Một bác sĩ hồi sức vừa bước vào phòng, có lẽ là để cập nhật toa thuốc điều trị. Anh ta có vóc người mảnh khảnh, mái tóc đỏ rực cắt ngắn hai bên và đôi mắt nhỏ xíu màu lục, tròn như bi ve.

– Tôi lấy chìa khóa để về lấy quần áo sạch cho ông ấy, cô chối khéo.

– Phải rồi... Nhìn tình hình hiện tại, tôi không chắc ông ấy cần một bộ com lê chỉnh tề trong mấy ngày tới đầu.

– Ông ấy sẽ không như vậy cả đời chứ?

Vị bác sĩ chẳng thèm giữ ý.

– Cả cơ thể ông ấy nát bươm. Đội cấp cứu đã phải cẩn thận từng tí một. Với những chấn thương trên người như vậy, rất có thể ông ấy sẽ không qua khỏi.

Anh ta kiểm tra các chỉ số sinh tồn trên máy theo dõi, nồng độ oxy trong máu trên máy đo, gỡ rối đống ống truyền.

– Chiều nay, các bác sĩ sẽ cố gắng phẫu thuật một đốt sống cho ông ấy, anh ta thông báo. Ta sẽ xem cuộc phẫu thuật ra sao trước khi thử trồng cây trên trời.

Lúc rời đi, anh chàng tóc đỏ với nụ cười tàn ác đi ngang qua Valentine đang quay lại từ chỗ máy bán cà phê.

– Tôi nghĩ ra một chuyện, cô sinh viên nói trong lúc đưa một cốc cho Roxane. Liệu Milena có chị em sinh đôi không? Vậy thì có thể lý giải khả năng ADN trùng khớp, nhỉ?

– Không, không, quên chuyện đó đi. Trò anh em song sinh chỉ có trong truyện trinh thám thôi. Mà mấy cuốn hay thì không có đâu.

– Ít nhất chị cũng nên gọi vài cuộc rồi hẵng gạt bỏ giả thuyết đấy chứ, cô sinh viên phật lòng đáp trả.

– Cô cứ tập trung vào các thợ xăm đi đã. Dù vất vả nhưng còn có ích hơn.

– Tôi đã gọi mấy cuộc rồi, nhưng chẳng thu được gì cả. Hình dây thường xuân quấn không phổ biến lắm. Người ta thích vòng nguyệt quế hơn vì nó biểu tượng cho chiến thắng. Cũng không có ai từng nghe thấy họa tiết da hươu cả. Cùng lắm chỉ có hình đầu hươu, gợi sự thống trị hoặc tái sinh.

– Cứ tiếp tục đào sâu đi, Roxane yêu cầu trong lúc mở cửa phòng. Còn tôi sẽ cố đi tìm Raphaël Batailley.

3.

Chiếc taxi mắc kẹt trong dòng xe cộ trên đường Vaugirard. Tài xế bực bội chửi rủa “mấy làn đường cho xe đạp vô rích sự, “bọn sinh thái học đần độn” và bà thị trưởng Paris, người mà theo ông ta là đã “biến Kinh đô Ánh sáng thành Kinh đô Rác”. Kỳ bầu cử địa phương đã qua nhưng viên tài xế vẫn luôn trong trạng thái vận động bầu cử.

– Cô có biết hội chứng Paris không? ông liếc mắt nhìn Roxane qua kính chiếu hậu và hỏi.

Chẳng chờ cô trả lời, ông thể hiện ngay sự thông thái của mình.

– Đó là một dạng sốc tâm lý dữ dội ở một vài du khách khi đến thăm thủ đô nước Pháp. Người ta quảng cáo cho họ nào là Amélie Poulain, Emily in Paris và nét quyến rũ của đồi Montmartre, và rồi họ khám phá tuyến tàu nội vùng RER B tệ hại, bến cửa ô Chapelle hỗn loạn, tụ điểm buôn ma túy và những bồn tiểu lộ thiên của bà mợ Hidalgo.

Roxane không tài nào nhịn cười. Cô đeo tai nghe và lấy điện thoại mở bản thu mới nhất được hãng thu âm của Milena Bergman phát hành. Với nhan đề The Last Recording[2], album gồm bản thu buổi hòa nhạc của Bergman tại Teatro Colón, Buenos Aires, kết hợp với dàn nhạc Filarmónica. Hai ngày sau, nghệ sĩ dương cầm qua đời ở một trong những vụ tai nạn thương tâm nhất của ngành hàng không dân dụng Pháp.

Roxane đã tải vài bài viết từ nhiều trang báo khác nhau để làm mới lại ký ức. Cô căng mắt nhìn màn hình bé tẹo của chiếc iPhone, cố gắng nắm được nhiều thông tin nhất có thể.

Chuyến bay Air France 229 rơi xuống biển ngày 8 tháng Mười một năm 2019, kéo theo 178 người chết, trong đó có 10 thành viên phi hành đoàn.

Vụ tai nạn mới xảy ra gần đây, nhiều thủ tục pháp lý vẫn đang được tiến hành. Tại Pháp đã có hai cuộc điều tra chính được tổ chức: một cuộc điều tra về mặt “tư pháp” để xác định tội ngộ sát và cuộc điều tra còn lại về mặt “kỹ thuật” dưới sự bảo hộ của BEA, Phòng Điều tra và Phân tích.

Ngoài các báo cáo và biên bản giám định, mọi người đều đồng tình với một số sự kiện. Vào thời điểm mất tích, máy bay đang ở đâu đó trên vùng biển giữa Tenerife và Madeira. Máy bay rời Buenos Aires vào đầu giờ chiều và dự tính đến Paris khoảng 7 giờ sáng. Chuyến bay đó khá phức tạp: thời tiết xấu kèm theo nhiều cơn dông xuất hiện liên tục gây ra các vùng nhiễu động trên toàn bộ tuyến đường bay. Hôm đó, phần lớn các chuyến bay phải bay qua khu vực xảy ra tai nạn đã chọn cách bay vòng, nhưng cơ trưởng chuyến 229 lại không lựa chọn như vậy.

Sau vài giả thuyết điên rồ ban đầu - không tặc khủng bố, sét đánh vào máy bay gây chập điện toàn bộ, máy bay bị điều khiển từ xa - các báo cáo trung gian của BEA đã làm sáng tỏ vụ tai nạn theo cách hợp lý hơn. Khi bay qua vùng dông bão ở độ cao lớn, các thiết bị do thám trên máy bay bị đóng băng. Việc đóng băng các thiết bị đo lường đã làm rối loạn tức thời số liệu vận tốc hiển thị trong khoang lái và ngắt chế độ lái tự động.

Các báo cáo kín đáo nhắc đến “những phản ứng không phù hợp của các phi công” dẫn đến việc máy bay mất lực nâng và chệch ra khỏi đường bay. Nói nôm na thì người ta hiểu rằng các phi công đã hoàn toàn không kiểm soát được thảm kịch. Bản ghi âm từ chuyến bay khiến người ta lạnh sống lưng và cho thấy toàn bộ phi hành đoàn đều hoảng loạn và thiếu năng lực tự kiểm soát. Không một giây nào các phi công hiểu rõ được chuyện gì đang diễn ra.

Trung thực với chính mình, săn tin theo bầy, khoác lên người đức hạnh trong trắng, một số đơn vị truyền thông nhất định đã tung hàng loạt bài chỉ trích các thành viên trong phi hành đoàn, đào bới mọi ngóc ngách trong đời sống cá nhân của họ để lật tẩy “những bí mật nho nhỏ thảm hại”. Dưới vỏ bọc điều tra, tất cả đều bị phanh phui: ngoại tình, ly dị, bệnh tâm lý, dùng thuốc ngủ, thích tiệc tùng, thường xuyên lui tới các quán bar mại dâm ở khu Recoleta. Ai cũng có lý do để người ta phàn nàn. Dẫu những hành vi ấy có đáng ghét đến đâu thì sự thật vẫn ở đó: không ai trong ba phi công có thể xử lý sự cố máy bay mất thăng bằng và họ đã để nó rơi tự do đến khi gặp va chạm.

Ở những trang cuối của báo cáo, người ta gần như nhẹ nhõm khi biết được rằng có lẽ phần lớn hành khách không hề nhận ra máy bay đang trong tình hình nguy khốn. Khi đó đang là buổi đêm, nhiều người đã tháo dây an toàn.

Mọi chuyện xảy ra rất nhanh. Từ lúc máy bay mất thăng bằng đến thời điểm va chạm với mặt nước ở vận tốc cao là chưa đầy ba phút. Hành khách tử vong tại chỗ. Xác máy bay chìm xuống nhưng khu vực rơi không quá sâu, đủ để người ta tìm được hộp đen trong lúc chúng vẫn còn phát tín hiệu siêu âm cho phép định vị. Sau vài tháng, phần lớn các mảnh vụn máy bay đã được tìm thấy. Trong số 178 nạn nhân, người ta vớt và xác nhận được danh tính của 121 thi thể, tất cả đã được trả về cho gia đình.

Trong số đó có thi thể của Milena Bergman.

Chú thích:

[1]Tiếng Anh trong nguyên bản, nghĩa là: Người là sự tĩnh lặng lẫn nỗi rối bời trong tim ta.

[2]Tiếng Anh trong nguyên bản, nghĩa là: Bản thu âm cuối cùng.

« Lùi
Tiến »