Ta không biết gì về cô... một người vô danh... trầm mình xuống sông Seine, một cô gái trẻ, cô nhắm mắt che đậy bí mật về mình... cớ sao cô làm vậy? Vì đói, vì tình... Ta có thể nghĩ những gì mình muốn...
Louis ARAGON
1.
Bị ánh sáng chói lòa đánh thức, Roxane mở mắt, chưa nhận ra ngay mình đang ở đâu: phía trên những mái nhà, ngay giữa bầu trời, lênh đênh trong ánh nắng phản chiếu từ mái lợp bằng kẽm, đồng và đá đen. Quấn mình trong tấm chăn họa tiết Scotland. Với chú mèo Siberia to béo co quắp dựa vào chân.
Cô đứng dậy, day day hai mí mắt và định thần lại. Căn phòng nóng hầm hập. Áo phông của cô đẫm mô hôi, tấm chăn dính vào chân. Cô hạ nhiệt độ của chiếc lò sưởi lầu rồi mới bật lại, nhưng đã hoạt động hết công suất suốt đêm. Điểm tích cực là thời tiết hôm nay tuyệt đẹp. Lần đầu tiên suốt nhiều tuần, Vua Mặt trời ban cho thủ đô ơn huệ có được sự xuất hiện của ngài.
Công chúa hạt đậu Roxane xoa bóp dọc gáy, vai và xuống tận sống lưng. Chiếc xô pha Chesterfield đẹp tuyệt nhưng không lý tưởng để làm giường nằm, nhất là khi bạn đã ngấp nghé tuổi tứ tuần.
Cùng Poutine quấn quýt dưới chân, cô xuống tầng hai nơi trước đó cô đã phát hiện một máy pha cà phê. Cô đổ đầy hạt khô vào đĩa để chú mèo ngừng kêu, đổ một bát nước cho nó rồi tìm ổ điện trên bàn bếp để cắm sạc điện thoại. Cô thấy hơi nôn nao, nhưng đã từng gặp tình trạng tệ hơn thế. Aumonier đã gửi cho cô bản báo cáo và địa chỉ của tay nhân viên an ninh đã để sổng cô gái vô danh kia: một tay Anthony Moraes nào đó sống ở phường Saint-Philippe-du-Roule. Nhưng quan trọng hơn cả, cô nhận được cuộc gọi nhỡ của Johan Moers, nhà sinh vật học ở Lille, người đã được Valentine mang mẫu tóc đến. Cô lập tức gọi lại cho anh.
– Tôi có kết quả rồi, Roxane.
– Đã có rồi ư? Tôi cứ lo mẫu vật bị nhiễm bẩn hoặc không đủ nang tóc.
– Gần đây chúng tôi đã tiến bộ kha khá trong việc phân tích tóc, kỹ thuật viên đáp. Tôi không trực tiếp làm mà là trợ lý của tôi, cậu ta đã tóm được vài ba nang tóc để trích xuất đủ vật chất di truyền. Tôi đang có kết quả ngay trước màn hình đây.
– Tuyệt vời. Tôi muốn anh gửi kết quả vào email cho trợ lý của tôi, trung úy Botsaris.
– Chắc là tôi có email của cậu ấy trong danh bạ rồi. Để tôi xem lại... Đúng thế, được rồi. Cô có biết trung bình một ngày mỗi người rụng mất năm mươi đến một trăm sợi tóc không?
– Không, nhưng nhờ anh mà tôi khởi đầu ngày mới với một tin tốt lành đấy.
– Nói đến tin tốt, tôi sẽ đến Paris vào tuần đầu tiên của tháng Một. Ta ăn chung một bữa nhé?
– Tất nhiên rồi.
– Lần nào cô cũng bảo thế rồi cuối cùng toàn hủy hẹn.
– Anh đánh giá cao cách nói của tôi quá đấy, Johan.
– Thành thật mà nói, cái tôi quan tâm đâu phải cách nói chuyện của cô...
– Chào nhé Johan.
Cô hài lòng ngắt máy. Cô đã dễ dàng vượt qua chướng ngại đầu tiên trong cuộc chạy vượt rào buổi sáng của mình. Sang bước hai: gọi điện cho Botsaris.
Cô chuẩn bị bấm số thì nghe thấy tiếng kẽo kẹt từ cửa ra vào. Vài giây sau, Valentine Diakité xuất hiện trong bếp với vẻ thanh lịch, tóc tai chải chuốt, tràn đầy năng lượng.
– Tôi tạt vù qua đây trước khi đến bệnh viện. Tôi không biết chị định ngủ ở đây đấy!
– Tôi cũng đâu biết, Roxane ấp úng, ngượng ngùng vì bị bắt gặp khi mới rời giường.
– Tôi mua bánh sừng bò đây, chị ăn không?
Roxane cảm ơn cô gái vì hôm trước đã đến Lille và tóm tắt cho cô nghe những thông tin thu thập được từ phía mình.
Cô nàng nghiên cứu sinh biến mất nhanh không kém lúc xuất hiện. Roxane ngồi bất động vài phút bên bàn bếp. Băn khoăn, mắc kẹt trong câu hỏi liệu cảnh tượng mình vừa trải qua có thực hay không. Cô cố gắng dứt khỏi hương nước hoa dai dẳng của Valentine - mùi hương ngọt ngào như mật, mùi gỗ vàng và gỗ cây đoạn - rồi hoàn hồn trở lại để bấm số gọi viên trợ lý.
– Chào Botsa.
– Roxane à? Chị khỏe không? Thật mừng khi chị gọi cho tôi.
– Cậu rảnh vài phút chứ?
– Tôi đang trên đường đi Nantes với Gibernet và một sĩ quan của Cục Trấn áp bạo lực gây cho con người. Chúng tôi phải kiểm tra một vấn đề trong vụ Claret-Tournier.
Roxane nhắm mắt. Từ tiếng ồn bên kia đầu dây, cô nhận ra tiếng rầm rầm của xe cộ và vài mẩu chuyện trò ầm ĩ. Thứ âm thanh thô ráp từ thực địa. Âm thanh của sự cấp bách và của adrenaline mà giờ đây cô không còn phải nghe.
– Sorbier đã kể cho tôi rồi, viên trung úy nói tiếp. Tôi đã định nhắn tin cho chị nhưng...
Cô cắt ngang lời Botsaris để nói thẳng vào mục đích:
– Đừng lo cho tôi. Cậu có thể giúp tôi một việc không?
– Nói xem là gì đã. Với chị thì tôi phải cảnh giác đấy.
– Johan Moers sẽ gửi qua email cho cậu một phiếu kết quả xét nghiệm ADN. Tôi muốn nhờ cậu đưa nó lên Cơ sở Dữ liệu Tự động Thông tin di truyền Quốc gia - Fnaeg.
– Roxane! Việc đó rất nguy hiểm đấy!
– Cậu hãy đưa nó lên theo một trình tự khác. Ta đã làm việc ấy vô số lần rồi mà.
Nhưng Botsaris vốn thận trọng quá mức nên không thể thừa nhận trên điện thoại là anh từng lạm quyền tra cứu trên Fnaeg.
– Xin chị đấy, đừng kéo tôi vào mấy chuyện...
– Tôi muốn xác nhận đúng một thứ thôi.
– Không phải hôm nay.
– Nó rất quan trọng đối với tôi.
– Chị chẳng bao giờ chịu thay đổi. Chán thật.
– Cảm ơn Botsa.
2.
Tắm xong, cô mặc lại quần áo của hôm trước và nhân ngày đẹp trời, cô quyết định đi bộ đến tận kè Saint-Bernard, nơi cô phải gặp một người trong đội thợ lặn đã vớt cô gái vô danh trong đêm thứ Bảy, rạng sáng Chủ nhật. Dưới ánh mặt trời, quãng đường đi thật dễ chịu: Saint-Germain, Odéon, trường Sorbonne rồi đến các bờ kè. Cái ẩm ướt đáng ghét của những tuần trước đã nhường chỗ cho bầu không khí se lạnh và khô ráo, và thời tiết đẹp đã thay đổi tất cả.
Trên đường đi, cô bắt đầu tìm kiếm thông tin bằng cách tiếp xúc với lối quản lý uể oải của cảnh sát quận 14. Vụ việc không tiến triển thêm chút nào. Hôm trước, họ đã phát thông báo tìm người và cử một ô tô đi tuần quanh phòng khám tâm thần Jules-Cotard, nhưng không phát hiện được gì đặc biệt. Phía đội Hình sự cũng tương tự: không có báo cáo nào về sự xuất hiện của cô gái vô danh trong các vụ việc có cảnh sát can thiệp đêm đó. Cuộc gọi cuối cùng dành cho nữ điều phối viên của Cục Quản lý Trật tự Công cộng và Giao thông, người đang đợi cô ở điểm hẹn.
Phía sau Vườn Bách thảo, Roxane suýt tan tành khi băng qua đường cao tốc, rồi cô lang thang vài phút trước khi tìm thấy lối dẫn xuống đường bờ sông. Trụ sở Đội Cảnh sát đường sông gồm bốn tòa nhà theo kiến trúc hình khối, hơi xấu, nằm bên kè Saint-Bernard, xung quanh là các thuyền phao, thuyền Zodiac và một tàu tuần tra. Nằm trên một bến nổi xây bằng xi măng, tổng thể trụ sở khiến người ta liên tưởng đến một công trình xây dựng mô đun, theo phong cách xây dựng của Algeco. Nhưng xung quanh lại có những cây tiêu huyền, liễu rủ và mận, rồi ánh sáng phản chiếu màu bạc chảy trôi trên sông Seine, thành ra nhìn toàn cảnh không ăn nhập cho lắm.
Trước lối vào tòa nhà chính, Louise Veyron hút thuốc cùng một anh chàng da ngăm cao to đang uống cà phê thẳng từ bình giữ nhiệt. Nữ điều phối viên giới thiệu.
– Thượng sĩ Bruno Jean-Baptiste, đại úy Roxane Montchrestien. Bruno là người phụ trách chiến dịch mà cô quan tâm.
Ba người bắt đầu cuộc trò chuyện với một chút căng thẳng. Thời gian gần đây, Đội Cảnh sát đường sông đang rơi vào khủng hoảng. Hai năm trước, cái chết của một nữ thợ lặn trong một buổi huấn luyện đã gây chấn động và khiến danh tiếng của đội bị hoen ố. Để vượt qua cú sốc, đội ngũ ưu tú này đã phải đổi cả bộ máy quản lý, nhưng vết thương vẫn chưa khép miệng. Các thợ lặn trong đội Chữa cháy Cứu hộ Paris, “đối thủ cạnh tranh” hàng đầu của họ, đã thay thế vị trí của đội trong lòng một số đơn vị truyền thông và trở thành những “thiên thần hộ mệnh mới của sông Seine”.
Roxane cố xoa dịu bầu không khí bằng cách nói thẳng vào vấn đề: cô chỉ đang muốn tìm ra danh tính của cô gái vô danh được đội vớt lên hai ngày trước.
– Anh còn nhớ vụ việc đó không?
– Tất nhiên rồi. Thứ Bảy tuần trước, đài dự báo thời tiết Météo-France đã đặt Paris vào mức báo động vàng, viên cảnh sát nhớ lại. Trong suốt hơn hai mươi tư giờ liền, trời mưa không ngớt và gió giật rất mạnh. Tòa thị chính còn phải ra quyết định đóng cửa các công viên từ 5 giờ chiều.
Jean-Baptiste phải cao gần hai mét. Nước da rám nắng, tóc đen vuốt ngược ra sau, vóc người rắn rỏi và giọng nói khá nhẹ nhàng, đối lập với vẻ bề ngoài.
– Chúng tôi nhận được cuộc gọi lúc 4 giờ 28, anh ta vừa nói vừa cụp mắt nhìn một tờ giấy chắc hẳn là báo cáo về vụ việc. Một người nào đó khẳng định đã nhìn thấy từ cửa sổ ai đó sắp chết đuối chỗ gần cầu Pont-Neuf.
– Cuộc gọi đó đến từ đâu?
– Thông thường, phần lớn mọi người gọi số 18 cho đội Cứu hỏa hoặc số 17 cho Cảnh sát-Cấp cứu, nhưng lần này thì không.
Viên thợ lặn hất cằm về phía tòa nhà.
– Người này gọi thẳng cho chúng tôi. Chắc anh ta tìm được số trên Internet. Cũng có trường hợp như thế, nhưng không mấy thường xuyên.
– Anh ta có để lại liên lạc không.
Jean-Baptiste đưa tờ giấy cho Roxane rồi cô chụp lại thông tin: Jean-Louis Candela, số 12, kè Louvre.
– Chúng tôi lập tức xuất phát với chiếc Cronos: một chiếc thuyền phao đáy cứng hai động cơ với công suất gấp đôi 150 mã lực.
– Các anh có bao nhiêu người?
– Ba người, như thường lệ: một chỉ huy, một lái thuyền và một nữ thợ lặn.
– Đó có phải một vụ khó không?
– Trời mưa tầm tã luôn khiến mọi thứ phức tạp hơn. Chưa kể đến gió giật cấp 9, nhưng kể cả khó khăn như vậy, chúng tôi cũng đã tới đó chỉ sau hai phút. Vào mùa đông, chúng tôi phải vắt chân lên cổ mà chạy vì những người tự tử và đám say rượu. Chìm dưới dòng nước và cái lạnh, cô có thể tiêu đời trong chưa đầy năm phút.
– Các anh có tìm ra cô gái ngay không?
– Có, đúng là cô ta sắp đuối nước, nhưng thợ lặn Myrielle đã dễ dàng đưa cô ta lên thuyền.
– Nhiệt độ nước sông tối đó là bao nhiêu?
– Năm hoặc sáu độ.
– Tình trạng cô gái lúc đó thế nào?
– À thì... giống như một người vừa trải qua khoảng thời gian vui vẻ khỏa thân dưới dòng nước lạnh năm, sáu độ. Toàn thân cô ta lạnh cóng, cô ta bị suy hô hấp nhẹ và sang chấn tâm lý.
Viên thợ lặn tạm ngừng và uống một ngụm cà phê lớn. Roxane lấy tay che mắt khỏi ánh mặt trời đang chiếu xuống sông Seine. Trời hiếm khi trong xanh như lúc này. Hai nhịp kim loại của cầu Sully nổi bật phía chân trời và, xa hơn, ta nhìn thấy mũi Tây của đảo Saint-Louis cùng hình bóng các tòa tháp của nhà thờ Đức Bà đang trong quá trình hồi phục.
– Anh là người chở cô ta đến bệnh viện à?
– Ban đầu, chúng tôi xác định đi về phía kè Conti, Jean- Baptiste giải thích. Khi chúng tôi đến nơi, các cảnh sát đồn Sainte-Geneviève, thuộc cảnh sát quận 5, đang ở đó. Họ được gọi đến vì có một thiết bị không người lái đang bay bên trên tòa Thượng viện. Thời buổi này đám máy móc đó đúng là tai họa. Ngày nào cũng có ít nhất một cảnh báo. Cảnh sát quận 5 không bắt được người điều khiển, nhưng họ đề nghị giúp đỡ chúng tôi. Bệnh viện Hôtel-Dieu ở ngay cạnh. Chúng tôi đưa cô gái lên kè Fleurs rồi họ chở cô ta đến Phòng Cấp cứu.
– Cô ta được trung chuyển qua Phòng Cấp cứu ư? Tôi tưởng cô ta được đưa thẳng đến Phòng Giám định Pháp y.
Viên thợ lặn cau mày.
– Nên đưa đi cấp cứu để tránh nguy cơ nhiễm khuẩn.
– Tôi cứ nghĩ nước sông bây giờ đỡ bẩn hơn trước rồi. Chẳng phải thị trưởng Hidalgo đã cam đoan là ta có thể thể bơi trên sông Seine trong kỳ Thế vận hội tới sao?
– Nước sông trước đây bẩn hơn, viên cảnh sát công nhận, nhưng giờ mức độ nhiễm khuẩn vẫn cao. Cô có thể dính phải đủ thứ ghê tởm, nhất là Escherichia coli, thứ vi khuẩn sẽ khiến cô bị tiêu chảy và nhiễm trùng đường tiết niệu. Còn nước tiểu và xác chuột trôi dưới sông có thể gây bệnh xoắn khuẩn vàng da nghiêm trọng.
– Kể cả khi người ta mới ở dưới nước vài phút sao?
– Vấn đề là các vết xăm trên người cô gái đó có vẻ còn mới. Việc ấy làm tăng đáng kể nguy cơ nhiễm trùng da.
Roxane nghĩ mình nghe nhầm vì tiếng ồn do mấy người thợ máy đang bận rộn quanh chiếc tàu kéo gây ra, át đi giọng của viên thợ lặn.
– Cô gái có hình xăm ư?
– Phải, ở quanh mắt cá chân.
Chuyện hình xăm này mở ra một hướng điều tra quan trọng. Catherine Aumonier không hề nhắc đến yếu tố này. Đám người ở I3P làm ăn thực sự vớ vẩn.
– Vì cô gái trần như nhộng nên khó mà không nhìn thấy mấy hình xăm. Nhưng thứ khiến tôi chú ý là những hình xăm đó có vẻ được xăm khá vội vàng.
– Chúng trông ra sao?
Jean-Baptiste nhắm mắt nhớ lại.
– Hình đầu tiên khá dễ nhìn: các lá thường xuân quấn quanh mắt cá chân. Hình còn lại mờ hơn. Nó làm tôi nghĩ đến họa tiết lông đốm, nhưng giống lông nai con hơn là lông báo, cô hình dung ra không? Tôi có thể thử vẽ chúng ra nếu cô muốn.
– Vậy thì tốt quá!
Louise Veyron, nãy giờ im lặng suốt cuộc trò chuyện, lấy một quyển sổ và một cây bút từ túi xách ra. Trong lúc viên thợ lặn vẽ, Roxane hỏi anh ta vài câu cuối cùng.
– Cô gái có đeo đồng hồ phải không?
– Đồng hồ và vòng tay.
Lại một chi tiết bị đám người I3P bỏ sót.
– Anh nghĩ tại sao cô ta rơi xuống sông? Bị đẩy xuống hay tự nhảy?
– Làm sao tôi biết được! Dù sao, trên người cô ta không có dấu vết hành hung rõ rệt.
Anh ta dành thời gian hoàn thiện bức vẽ rồi nói với giọng giễu cợt:
– Biết đâu cô ta xuất hiện ở đó nhờ phép thần kỳ nào đó. Kiểu như dòng sông đã đẩy cô ta ra từ trong lòng nó.
3.
Nửa giờ sau, Roxane gõ cửa một căn hộ nhỏ, trên đường Commandant-Rivière, phường Saint-Philippe-du-Roule.
– Cảnh sát đây!
Cô gái trẻ mở cửa cho cô đang chuẩn bị rời đi: cô ta mặc áo khoác cài cúc, thắt khăn quàng cổ và đeo túi chéo. Cô ta có vẻ giống người Slay, nước da nhợt nhạt, gương mặt thiếu sức sống dù đã trang điểm.
– Tôi là đại úy Montchrestien, tôi tìm Anthony Moraes.
– Tony vừa ra ngoài rồi, cô gái trả lời.
– Cô là ai?
– Bạn gái. À thì, nếu có thể gọi như vậy.
– Tôi có thể vào trong chứ?
– Không, cô vào làm gì?
Roxane liếc mắt nhìn qua khe cửa nơi vẫn còn tỏa ra hơi ấm ban đêm. Căn hộ có hai phòng ngủ đơn thông nhau. Rõ ràng tay nhân viên an ninh đó không ở đây.
– Moraes đang ở đâu?
– Quán cà phê ruột của anh ấy, tôi đoán thế.
– Là ở đâu?
– Quán La Cavalina, ở góc phố.
– Cô tên gì?
– Sao cô nói với tôi bằng giọng đó thế?
– Đừng làm trò. Tên?
– Stella Janacek.
– Được rồi, nghe rõ đây Stella: nếu trong vòng mười phút tới cô báo với bạn trai là tôi đến, thì đời cô sẽ rẽ sang một hướng vô cùng rắc rối đấy. Hiểu chứ?
Lời đe dọa có vẻ hiệu quả. Chí ít Roxane tin vậy khi thấy cái gật đầu của cô gái như ám chỉ: “Làm như tôi sẽ liều mạng vì tên đó ấy.”
Roxane lao xuống cầu thang ba bước một. Cô muốn bất ngờ tiếp cận tay nhân viên an ninh. Đến phố Faubourg-Saint-Honoré, cô dễ dàng tìm thấy quán đó. Nơi này nhìn sang trọng với mặt tiền màu đen, phần diềm mạ vàng và các lò sưởi bằng than sưởi ấm khoảng vỉa hè nhỏ được bao quanh bởi hàng cây giả. Cô quét mắt nhìn không gian bên ngoài nhưng không thấy Anthony Moraes, trước đó cô đã tìm được ảnh anh ta trên mạng xã hội. Đẩy cửa vào trong, cuối cùng cô cũng tìm ra anh ta đang ngồi ở bàn phía dưới vách kính, say sưa xem điện thoại di động.
– Chào Tony, cô vừa nói vừa ngồi xuống đối diện anh ta.
Tay nhân viên an ninh giật mình, tỏ vẻ kinh ngạc và nhét chiếc Samsung vào túi áo. Anh ta có vóc người nhỏ, khuôn mặt tròn, da vàng và cặp lông mày đen rậm giao nhau phía trên sống mũi.
– Cô là ai?
– Đại úy Montchrestien của BNRF.
– Tôi lại gây chuyện gì nữa à?
– Tôi muốn anh tóm tắt cho tôi chuyến đi đen đủi của anh hôm qua.
Moraes nhún vai.
– Tôi đã nói hết trong lúc thẩm vấn rồi.
– Không, anh chỉ mới trả lời vài ba câu hỏi để báo cáo vụ việc, đấy không phải thẩm vấn.
– Chẳng khác gì nhau: tôi đã nói sự thật. Không có chuyện tôi nhận trách nhiệm vụ đấy đâu. I3P thiếu nhân lực kinh niên rồi. Ai cũng biết thế! Lẽ ra bà Aumonier không nên để tôi vận chuyển bệnh nhân một mình.
– Anh nói đúng. Không ai ném đá anh hết. Chỉ cần anh giải thích cho tôi chuyện xảy ra thế nào.
Tay nhân viên an ninh thở dài và uống nốt cốc espresso trước khi bắt đầu kể lại với giọng qua quýt.
– Cotard là một phòng khám nhỏ, không có sân hay bãi đỗ xe. Tôi đỗ xe thành hàng hai trên đường Froidevaux. Rôi cô ta tẩu thoát lúc tôi mở cửa xe cứu thương. Vậy đấy.
– Y tá đã tiêm thuốc an thần cho cô ta.
– Phải, hai mũi Loxapac. Bình thường, ngần ấy thuốc lẽ ra phải đánh gục cô ta rồi. Vả lại, lúc trên đường, cô ta vẫn còn đờ người ra.
– Cô ta trốn thoát bằng cách nào?
– Cô ta đánh tôi một cú mạnh kinh hồn!
Đi đôi với lời nói, anh ta chỉ ngón trỏ vào vết thương sâu hoắm ở bên trái hàng lông mày gần như giao nhau của mình.
– Cô ta đánh anh thế nào?
– Một cú đá! Con khốn đó! anh ta cao giọng bực tức nói.
– Cô ta ăn mặc ra sao?
– Khi chuyển viện, chúng tôi thường trả bệnh nhân quần áo của họ, nhưng vì cô ta không có nên bệnh xá đã cho cô ta một bộ đồ ngủ, một áo phao và một đôi dép Crocs.
Roxane im lặng một lúc lâu rồi tung đòn gió bằng lá bài duy nhất cô có trong tay.
– Giả thuyết của tôi là anh đã cố lấy cắp đồng hồ của cô ta.
– Hả?
– Và cô ta đã đánh anh túi bụi để ngăn anh lại.
– Vớ vẩn.
Tony định đứng dậy, nhưng Roxane túm vai anh ta để ép anh ta ngồi xuống.
– Khi tôi đến, anh đang lướt Chrono24, một ứng dụng chuyên bán đồng hồ cũ.
– Thế thì sao? Có ai cấm đâu!
– Anh đang tìm cách bán lại chiếc đồng hồ trộm được.
– Xì, Tony thở hắt ra để gạt bỏ cáo buộc.
– Nghe đây, ta sẽ giải quyết đơn giản thôi, Tony: một cú điện của tôi và vị trí nhân viên an ninh của anh bay trong tích tắc. Với tội trộm cắp, anh sẽ có tiền án và không còn cơ hội làm trong nghề này nữa. Anh đã tự đặt mình vào tình huống vô cùng khó xử đấy.
– Khốn nạn thật!
– Đúng như anh nói.
Thu mình trong chiếc áo khoác, tay nhân viên an ninh khoanh tay và co ro ngồi lọt thỏm trên ghế.
– Cái đồng hồ đó, tôi không còn cầm nữa, anh ta nói bằng giọng giận dỗi. Nó đã được ký gửi ở một tiệm bán đồ cũ.
– Anh đừng phí thì giờ, anh...
– Tối qua tôi ký gửi nó ở một cửa hàng đồ cũ trên phố Marbeuf.
Roxane biết vài hàng trên phố đó.
– Cửa hàng nào: Romain Réa, MMC?
– Không, một hàng khác cạnh đó, tên là Thời gian tìm lại được.
– Như tên tiểu thuyết của Proust à?
– Gì cơ?
– Bỏ đi. Anh còn gì khác để nói với tôi không, Tony?
Moraes lắc đầu nguầy nguậy như một thằng nhóc cau có.
– Thế thì biến đi. Tôi muốn yên tĩnh uống cà phê.
4.
Để ăn mừng chiến thắng nhỏ này, Roxane gọi cho mình một cốc Double Espresso cùng bánh biscotti. Trong lúc chờ bữa sáng, cô tìm trên điện thoại giờ mở cửa của tiệm Thời gian tìm lại được. 11 giờ tiệm đồng hồ cũ mới mở cửa. Cô có nửa giờ rảnh rỗi. Cô không thể ngăn mình gõ tên Valentine Diakité trên Google tìm kiếm, nhưng có vẻ cô nàng nghiên cứu sinh thuộc nhóm người hiếm hoi ở độ tuổi ấy không có chút dấu vết tồn tại nào trên mạng. Cuối cùng cô gọi điện cho cô nàng. Valentine đang chờ dài cổ ở sảnh bệnh viện Pompidou để đợi tìm được một bác sĩ cho cô biết tin tức về Marc Batailley.
– Tôi có việc cho cô đây.
– Luôn sẵn sàng xuất phát!
– Tôi muốn nhờ cô gọi điện cho các thợ xăm có tiếng ở Paris để hỏi xem có ai trong số họ gần đây đã xăm cho vị khách nào đó hình dây thường xuân quanh hai mắt cá chân, và một hình họa tiết da hoặc lông đốm không.
– Tôi không chắc mình mường tượng được đúng.
– Tôi sẽ gửi cô hai bản phác qua tin nhắn.
– OK!
Trong lúc uống cà phê, Roxane gọi một loạt cú điện để xác định chủ tòa nhà số 12, kè Louvre. Cô liên lạc với ông ta và biết được rằng không có chủ hộ hay người thuê nào trong tòa nhà tên là Jean-Louis Candela. Như vậy, người đã báo cho Đội Cảnh sát đường sông đêm đó có thể đã dùng danh tính giả. Bản thân việc ấy không nói lên được gì mấy - vì bị bất ngờ, thậm chí người dân thường xuyên dùng tên giả hoặc từ chối tiết lộ danh tính khi liên lạc với cảnh sát. Theo trình tự thông thường, Roxane đã có thể yêu cầu dò ngược lại số điện thoại. Cô có thể tiến hành điều tra khu vực xung quanh, tập trung nguồn lực và soi lại toàn bộ máy quay giám sát quanh cầu Pont-Neuf. Nhưng cô không có đội ngũ lẫn thẩm quyền xử lý vụ này. Cuộc điều tra này không tồn tại. Đây vừa là cơ hội vừa là giới hạn điều tra của cô.
Cô đang thanh toán hóa đơn thì điện thoại rung lên. Gương mặt góc cạnh của Botsaris hiện trên màn hình.
– Roxane à? Tôi đã bảo Cruchy chuyển hồ sơ ADN của chị lên Fnaeg.
– Kết quả thế nào ?
– Nó trùng khớp với một phụ nữ tên Milena Bergman.
Bụng cô nhói lên vài cơn: cô đã trả được tên cho cô gái vô danh trên sông Seine.
– Một nữ nhạc công người Đức, Botsaris nói thêm.
Milena Bergman...
Cái tên không xa lạ với cô. Roxane đã thấy nó tối hôm trước ở tháp đồng hồ, trong lúc lục lọi bộ sưu tập đĩa nhạc cổ điển. Milena Bergman nằm trong dàn nghệ sĩ dương cầm có bản thu âm trong phòng của Marc Batailley!
– Cô ta bị lưu vào hồ sơ vì tội gì?
– Chuyện xưa lắm rồi. Tiền sử trộm túi xách Bulgari trong một cửa hiệu trên đại lộ Montaigne năm 2011. Thời đó, cô ta hơi có hội chứng ăn cắp vặt.
Roxane kết nối tai nghe không dây và mở trang web Wikipedia trên điện thoại trong lúc vẫn giữ liên lạc với viên trung úy. Bách khoa toàn thư trực tuyến này có hẳn một trang về nữ nghệ sĩ dương cầm. Không thèm đọc bài viết, cô nhìn bức ảnh cô gái vô danh: một cô gái trẻ tóc vàng để gợn sóng dài giống nàng Mélisande, giống trong phiếu giám định của Phòng Giám định Pháp y.
– Làm sao chị có được mẫu xét nghiệm ADN của cô gái này thế? Botsaris hỏi.
Nghe giọng đồng nghiệp, Roxane nhận ra anh đã cảm nhận được chuyện tồi tệ nào đó sắp xảy ra. Cô chọn cách nói cho anh sự thật.
– Hai ngày trước, cô ta đã được Đội Cảnh sát đường sông vớt lên từ sông Seine.
– Sao cơ?
– Có thể là một vụ tự tử. Họ chở cô ta đến I3P, nhưng sau đó cô ta đã mất tích trong lúc chuyển viện.
– Nếu đó đúng là cô ta thì tôi vô cùng kinh ngạc đấy, viên cảnh sát khẳng định.
– Tại sao?
Botsaris ngừng vài giây rồi nói:
– Vì Milena Bergman đã chết cách đây một năm.