Con Của Noé

Lượt đọc: 498 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11

Những ngày sau đó tôi ngủ ngon hơn một chút. Bởi từ khi đến đây, đêm nào tôi cũng sợ hãi. Trên giường sắt, nằm giữa mấy lớp chăn ga lạnh toát, dưới mái trần cao vút của nhà ngủ tập thể, bên dưới là cái đệm mỏng đến mức xương tôi đập cả vào phần lò xo kim loại trên giát giường, dù ở chung phòng với ba mươi đứa nữa và một giám thị, tôi thấy mình cô đơn hơn bao giờ hết. Tôi sợ mình ngủ thiếp đi, tôi thậm chí còn ngăn mình ngủ, và trong những lúc đấu tranh như thế, tôi cũng chẳng thích bản thân mình. Tệ hơn, nó làm tôi ghê tởm. Quả thật, tôi chỉ là một mảnh giẻ rách bẩn thỉu, một con rận, tệ hơn cả một đống phân bò. Tôi tự hành hạ mình, tự mắng mình, tự dành cho mình những hình phạt khủng khiếp. “Nếu ngủ thì mày phải mất viên bi đẹp nhất của mày, viên đá mã não đỏ cho thằng mày ghét nhất. Nào, mất cho thằng Fernand!” Tuy nhiên, bất chấp những lời đe dọa, tôi lại nhượng bộ lần nữa... Cẩn trọng cũng chẳng ích chi, sáng ra tôi thức dậy, hông dính bết xuống một vết nong nóng, âm ẩm, bốc mùi cỏ mới cắt nồng nặc mà ban đầu tôi còn thích tiếp xúc, tôi thậm chí còn sung sướng lăn trên đấy, thế rồi, thật khủng khiếp, tôi ý thức được rằng mình lại tè dầm thêm lần nữa! Tôi lại càng xấu hổ hơn vì từ nhiều năm nay tôi đã trở nên sạch sẽ. Vậy mà Villa Jaune lại khiến tôi thụt lùi, không hiểu tại sao.

Trong vài đêm, lúc chìm vào giấc ngủ, đầu đặt trên gối, có thể là nhờ nghĩ tới sự anh hùng của cha Pons, nên tôi có thể kiểm soát được bàng quang của mình.

Một chiều Chủ nhật, Rudy đi về phía tôi, vẻ đầy mưu mô.

“Tao đã có chìa khóa...”

“Của cái gì?”

“Chìa khóa nhà nguyện chứ còn gì nữa.”

“Chúng tôi sẽ có thể xác minh được hành động của vị anh hùng của mình.”

Vài phút sau, hết hơi nhưng hào hứng, chúng tôi thâm nhập được vào nhà nguyện.

Nó trống trơn.

Không ghế băng, không ghế cầu kinh, không bàn thờ. Không có gì ngoài mấy bức tường nham nhở. Sàn nhà đầy bụi. Mạng nhện khô cong, cứng đờ. Không có gì. Một tòa nhà cũ kỹ, không có gì đáng chú ý.

Chúng tôi không dám nhìn nhau, đứa này sợ phải nhận ra trong nỗi thất vọng của đứa kia nỗi thất vọng của chính mình.

“Trèo lèn tháp chuông xem. Nếu có máy phát thì nó phải ở trên cao.”

Chúng tôi chạy như bay lên cầu thang xoáy trôn ốc. Trên cao chỉ có vài đống phân chim bồ câu đợi chúng tôi.

“Thế là thế nào, không thể thế được!”

Rudy giậm chân. Giả thiết của anh đã sụp đổ. Cha xứ đã thoát khỏi chúng tôi. Chúng tôi không tìm ra được bí mật của ông.”

Với tôi chuyện còn tệ hơn, tôi không còn có thể tự thuyết phục mình rằng ông là một anh hùng.

“Chúng ta về thôi.”

Khi lại đi qua khoảnh rừng, bị giày vò bởi câu hỏi - cha xứ làm gì mỗi đêm giữa mấy bức tường trống trơn tối om này? -, chúng tôi không nói với nhau câu nào. Tôi đã quyết định: tôi sẽ không đợi thêm một ngày nào nữa mới đi khám phá câu trả lời, nhất là khi tôi có nguy cơ lại làm lụt tấm đệm của mình.

Đêm. Khung cảnh im lìm như chết. Lũ chim lặng tiếng.

Chín giờ rưỡi, tôi đã đứng canh ở cầu thang của Villa, chuẩn bị kỹ hơn lần trước, một cái khăn quấn quanh cổ, giày bọc ít vải dạ trộm được ở xưởng sửa chữa, để không gây ra tiếng động.

Bóng đen bước xuống cầu thang và tiến ra khu vườn nơi màn đêm xóa nhòa mọi hình dạng.

Đi đến nhà nguyện, tôi nhảy vào khoảnh rừng thưa rồi gõ mật hiệu lên cánh cửa gỗ.

Cánh cửa mở hé và không đợi có phản ứng gì, tôi lách vào trong.

“Cái gì thế này...”

Cha Pons không kịp nhận ra tôi, ông chỉ thấy một cái bóng nhỏ hơn thường lệ. Theo phản xạ, ông khóa trái cửa sau lưng tôi. Cả hai chúng tôi kẹt trong cảnh tranh tối tranh sáng, không nhìn ra đường nét hay thậm chí dáng người của đối phương.

“Ai vậy?” cha hét lên.

Phát hoảng vì đã liều lĩnh đến vậy, tôi không mở miệng được.

“Ai đấy?” cha lặp lại, lần này giọng đã trở nên đe dọa.

Tôi muốn chạy trốn. Một tiếng xoẹt vang lên và ánh sáng bùng lên. Mặt cha Pons xuất hiện sau một que diêm, biến dạng, nhăn nhó, lo lắng. Tôi lùi lại. Ngọn lửa sáp lại gần.

“Gì thế này? Con đấy à Joseph?”

“Vâng.”

“Sao con lại dám rời Villa?”

“Con muốn biết cha làm gì ở đây.”

Tôi nói liền một hơi những nghi ngờ của mình, chuyến theo dõi, các câu hỏi và cả chuyện nhà thờ trống trơn nữa.

“Con quay lại nhà ngủ ngay lập tức.”

“Không ạ.”

“Con phải nghe lời ta.”

“Không. Nếu cha không nói cho con là cha làm gì, con sẽ hét ầm lên và đồng phạm của cha sẽ biết là cha không giữ được bí mật.”

“Con đang tống tiền đấy Joseph.”

Đúng lúc đó, tiếng gõ cửa vang lên. Tôi im bặt. Cha Pons mở cửa, thò đầu ra ngoài, lấy cái bao vào sau vài lời thì thầm ngắn gọn.

Khi người giao hàng bí mật đi xa rồi, tôi kết luận:

“Cha thấy đấy. Con đã im lặng. Con ở phe cha, không phải chống lại cha.”

“Ta không tha thứ cho đám gián điệp Joseph ạ.”

Mây trôi đi, mặt trăng lộ ra chiếu ánh sáng xanh vào phòng, làm mặt chúng tôi xám xịt. Đột nhiên tôi thấy cha quá gầy, quá mảnh khảnh, một dấu hỏi vẽ bằng than trên vách tường, gần giống bức biếm họa người Do Thái độc ác mà bọn Quốc xã dán trên tường khu chúng tôi ở, ánh mắt căng lên vì lo lắng. Ông mỉm cười.

“Thôi nào, đến đây!”

Cầm tay tôi, ông dẫn tôi đến gian nhà bên trái nhà nguyện, ở đó ông nhấc một tấm thảm cũ cứng đơ vì bụi bẩn ra. Dưới đất có một vòng tròn xuất hiện. Cha nhấc lên. Một lối đi xuất hiện.

Cầu thang dẫn xuống lòng đất đen ngòm. Trên bậc đầu tiên để sẵn một cây đèn dầu. Cha châm đèn rồi bước chầm chậm xuống địa đạo, khoát tay bảo tôi đi theo.

“Bên dưới nền nhà thờ thì có gì hả Joseph?”

“Một căn hầm ạ?”

“Hầm trú ẩn.”

Chúng tôi xuống đến bậc thang cuối cùng. Mùi nấm tươi bốc lên từ lòng đất. Hơi thở của đất chăng?

“Thế có gì ở hầm trú ẩn của ta hả con?”

“Con không biết.”

“Một nhà thờ Do Thái.”

Cha châm vài ngọn nến lên và tôi nhìn thấy nhà thờ Do Thái bí mật mà cha đã thu xếp. Dưới một tấm màn làm bằng vải dày thêu, cha giấu một cuộn kinh Torah, một tấm da dài trên đó viết đầy những dòng chữ thiêng. Một bức ảnh Jérusalem có chỉ hướng để quỳ lạy, bởi lời cầu nguyện được chuyển đến Chúa qua thành phố này.

Sau lưng chúng tôi, những kệ giá chất đầy đồ.

“Đó là gì vậy ạ?”

“Bộ sưu tập của ta.”

Ông chỉ tay về phía những quyển sách kinh, những bài thơ bí ẩn, những lời ghi chú của các giáo sĩ, những giá nến bảy hoặc chín nhánh. Bên cạnh một chiếc máy hát là nhiều chồng đĩa đen nhánh.

“Đây là đĩa gì vậy ạ?”

“Những bản nhạc cầu nguyện, những bài hát tiếng Yiddish. Con có biết ai là nhà sưu tầm đầu tiên trong lịch sử nhân loại không Joseph bé nhỏ?”

“Không ạ!”

“Đó là Noé.”

“Con không quen.”

“Cách đây đã rất lâu, những trận mưa không ngớt cứ đổ xuống mặt đất. Nước đục thủng mái nhà, làm tường vỡ nứt, phá hủy những cây cầu, nước ngập đầy đường đi và khiến các con sông lớn, nhỏ tràn bờ. Nhiều trận lũ lớn cuốn trôi làng mạc, thành phố. Những người sống sót rút lên núi cao, ban đầu thì đó là chỗ trú ẩn an toàn, nhưng sau đó do sụt lở và ngấm nước, các vết nứt xuất hiện rồi núi lở từng mảng lớn. Có một người tên là Noé dự cảm rằng toàn bộ hành tinh của chúng ta sẽ ngập trong nước. Và thế là ông bắt đầu sưu tầm. Được các con trai và con gái của mình trợ giúp, ông sưu tầm từng cặp đực cái của các loài sinh vật trên trái đất, cáo đực và cáo cái, hổ đực và hổ cái, trĩ đực trĩ cái, một cặp nhện, đà điều, rắn... chỉ không sưu tầm các loài cá và sinh vật có vú sống dưới biển bởi chúng sẽ sinh sôi nảy nở nhiều khi đại dương ngày càng mở rộng. Cùng lúc đó, ông cũng đóng một con thuyền khổng lồ. Khi nước dâng đến chỗ ông, ông cho tất cả loài vật và những người còn sống sót lên thuyền. Thuyền của Noé đã lênh đênh nhiều tháng không biết đi đầu về đâu trên mặt đất đã biến thành biển cả mênh mông. Thế rồi mưa ngừng rơi. Nước rút dần. Ông Noé lo không thể tiếp tục nuôi sống mọi sinh vật trên tàu của mình. Ông thả một con chim bồ câu ra và con chim đã quay trở lại, ngậm trong mỏ một nhành lá ô liu tươi, dấu hiệu cho thấy cuối cùng đã có những chỏm núi vượt trên các ngọn sóng. Ông hiểu rằng mình đã thắng trong cuộc thách đố điên rồ: cứu được tất cả các tạo vật của Chúa.”

“Tại sao Chúa không tự cứu các tạo vật của mình? Người mặc kệ à? Hay lúc đó Người dang đi nghỉ?”

“Chúa chỉ tạo ra vũ trụ một lần. Người đã tạo ra linh tính và trí thông minh để chúng ta tự xoay xở mà không cần Người.”

“Ông Noé là hình mẫu của cha à?”

“Đúng. Giống như ông ấy, ta sưu tầm. Hồi còn nhỏ, ta sống ở Congo thuộc Bỉ, nơi cha ta là một công chức; người da trắng ở đó coi khinh người da đen và ta đã bắt đầu sưu tầm những đồ vật của người bản địa.

“Bộ sưu tập đó giờ ở đâu ạ?”

“Ở bảo tàng Namur. Ngày nay, nhờ có các họa sĩ, thứ đó lại thành mốt: người ta gọi là “nghệ thuật của người da đen”. Hiện ta đang sưu tầm hai thứ: đồ của người Digan và đồ của người Do Thái. Những thứ mà Hitler muốn loại bỏ.”

“Sao cha không giết quách Hitler đi thì chẳng sẽ tốt hơn?”

Không trả lời tôi, cha đưa tôi đến xem đống đồ đó.

“Tối nào ta cũng rút vào đây để nghiền ngẫm những cuốn sách Do Thái. Và ban ngày, ở văn phòng, ta học tiếng Hebrew. Ai mà biết được...”

“Ai mà biết được gì cơ ạ?”

“Nếu trận đại hồng thủy lại xảy ra, nếu trong vũ trụ này không còn người Do Thái nào nói được tiếng Hebrew, thì ta có thể dạy con. Và con sẽ dạy cho người khác.”

Tôi gật đầu. Với tôi, vào giờ muộn như thế này, với khung cảnh tuyệt vời của hầm trú ẩn, một cái hang Ali Baba rung rinh dưới ánh nến run rẩy, đây vừa là một trò chơi vừa là một thực tế. Tôi hăng hái nói, giọng sang sảng:

“Vậy thì cha là ông Noé còn con là con của cha!”

Xúc động, cha Pons quỳ xuống trước mặt tôi. Tôi nhận thấy ông muốn ôm tôi mà không dám. Cũng tốt.

“Chúng ta sẽ thỏa thuận như thế này nhé, con đồng ý không? Con, Joseph, con sẽ giả vờ là người Công Giáo còn ta, ta sẽ giả vờ là người Do Thái. Con sẽ đi lễ, học giáo lý, học câu chuyện về Jésus trong sách Tân ước còn ta, ta sẽ kể cho con nghe kinh Torah, kinh Michna, kinh Talmud và chúng ta sẽ cùng nhau vẽ những nét chữ Hebrew. Con có muốn không?”

“Đập tay nào!”

“Đây là bí mật của chúng ta, bí mật lớn nhất trong các bí mật. Ta và con có thể chết nếu phản bội bí mật này. Thề không nào?”

“Con xin thề.”

Tôi làm lại động tác tay ngoằn ngoèo mà Rudy đã dạy tôi để thể và tôi nhổ nước bọt xuống đất.

Từ đêm hôm đó, tôi được phép có một cuộc sống ngầm bên cha Pons. Tôi giấu Rudy các chuyến du hành ban đêm của mình và tìm cách để anh thắc mắc ít hơn về thái độ của cha Pons bằng cách đánh lạc hướng anh sang chị phụ bếp Rosa, cô gái mười sáu tuổi, xinh đẹp, tóc vàng, dáng người uể oải, giúp việc cho bà quản gia. Tôi quả quyết rằng chị thường nhìn Rudy mỗi khi anh không nhìn chị. Rudy rơi ngon ơ vào bẫy của tôi và trở nên bị ám ảnh bởi Rosa. Anh thích than thở về các mối tình ngoài tầm với của mình.

Trong thời gian này, tôi học tiếng Hebrew với hai mươi hai phụ âm và mười hai nguyên âm và nhất là, tôi nhìn ra dưới lớp vỏ ngoài chính thức, những giới luật thực sự cai quản nơi này. Bằng một thủ thuật về nội quy, cha Pons đã tìm ra cách để chúng tôi tôn trọng ngày shabbat: ngày thứ Bảy bắt buộc phải nghỉ ngơi. Chúng tôi chỉ có thể làm bài tập và học bài vào Chủ nhật, sau giờ kinh chiều.

“Với người Do Thái, một tuần bắt đầu vào ngày Chủ nhật còn người Công Giáo là thứ Hai.”

“Tại sao vậy ạ, thưa cha?”

“Kinh Thánh - thứ mà cả người Công Giáo và Do Thái đều phải đọc - kể rằng Chúa tạo ra thế giới trong sáu ngày và nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy. Chúng ta nên làm theo Người. Ngày thứ bảy đó, theo người Do Thái, là thứ Bảy. Sau này người Công Giáo, để cho khác với người Do Thái, những người không chịu công nhận Jésus như đấng Cứu thế, đã cho rằng ngày Chúa nghỉ ngơi là ngày chủ nhật.”

“Ai đúng ạ?”

“Có quan trọng gì?”

“Còn Chúa, Người không thể nói những gì Người nghĩ cho con người biết hay sao ạ?”

“Cái quan trọng không phải là Chúa nghĩ gì về con người mà là con người nghĩ gì về Chúa.”

“Vâầng... cái con thấy là, Chúa đã làm việc sáu ngày rồi từ đó, Người chẳng làm gì nữa!”

Cha Pons bật cười còn tôi thì bực mình. Lúc nào cũng vậy, tôi tìm cách giảm thiểu sự khác biệt giữa hai tôn giáo để gom lại làm một; lúc nào cũng vậy, cha ngăn tôi đơn giản hóa mọi chuyện.

“Joseph, con lúc nào cũng muốn biết một trong hai tôn giáo, cái nào đúng. Nhưng không có cái nào đúng cả! Tôn giáo không đúng không sai, nó chỉ đưa ra một cách sống.”

“Sao cha lại muốn con tôn trọng tôn giáo nếu chúng không đúng?”

“Nếu chỉ tôn trọng sự thật, thì con sẽ chẳng tôn trọng được mấy điều. 2 + 2 = 4, đó chính là đối tượng duy nhất cho sự tôn trọng của con. Ngoài cái đó ra, con sẽ đối mặt với những yếu tố không chắc chắn: tình cảm, chuẩn mực, giá trị, các chọn lựa, chừng ấy kết cấu mong manh và luôn biến đổi. Chẳng có gì chắc chắn hết. Sự tôn trọng không dành cho những cái được chứng nhận mà dành cho những thứ được đề xuất.”

Tháng Mười hai, cha Pons chơi bài lập lờ để chúng tôi vừa được tổ chức lễ Giáng sinh của người Công Giáo, vừa kỷ niệm lễ Do Thái Hanoukka, một chiêu mà chỉ bọn trẻ Do Thái mới đoán ra. Một mặt, chúng tôi kỷ niệm ngày chúa Jésus ra đời, trang trí máng cỏ cho làng và tham dự vào các nghi lễ. Mặt khác, chúng tôi phải làm cho một “xưởng nến” nơi chúng tôi học cách làm lõi nến, nấu chảy sáp, trang trí màu, đổ khuôn nến; buổi tối, chúng tôi thắp tác phẩm của mình lên và trưng ra cửa sổ; làm như vậy, đám trẻ Công Giáo được nhìn ngắm thành quả lao động của mình, còn chúng tôi, những đứa trẻ Do Thái có thể kín đáo thực hiện nghi lễ Hanoukka, lễ Ánh sáng, thời điểm để vui chơi và tặng quà, theo đó người ta phải bố thí và thắp nến vào lúc hoàng hôn. Chúng tôi, những đứa trẻ Do Thái... Có bao nhiêu đứa như chúng tôi ở Villa Jaune? Là những ai? Cha Pons là người duy nhất biết điều ấy. Khi tôi nghi ngờ bạn nào là người Do Thái, tôi không cho phép mình đi xa hơn. Nói dối và để người khác nói dối. Chính cách đó sẽ cứu sống chúng tôi.

Năm 1943, cảnh sát nhiều lần đến kiểm tra Villa Jaune. Mỗi lần kiểm tra căn cước một lứa tuổi. Giả hay thật, giấy tờ chúng tôi đều qua cả. Việc lục soát có hệ thống các ngăn tủ không đem lại điều gì. Không ai bị bắt.

Tuy nhiên, cha Pons lại lo lắng.

“Hiện tại thì chỉ là cảnh sát Bỉ, ta biết chúng, nếu không biết từng đứa thì cũng biết bố mẹ chúng; khi thấy ta, chúng không dám làm quá. Nhưng người ta nói là Gestapo thường tiến hành kiểm tra đột xuất...”

Tuy nhiên, sau mỗi lần báo động, cuộc sống trở lại bình thường. Đồ ăn của chúng tôi ít ỏi và chán ngắt, hạt dẻ, khoai tây, xúp củ cải loãng toẹt, tráng miệng là chút sữa bốc khói. Đám chúng tôi, đám học sinh nội trú thường phá tủ của mấy đứa vừa nhận được gói hàng do ông đưa thư mang đến; nhờ thế, có khi chúng tôi kiếm được một hộp bánh, hộp mứt, mật ong và phải ăn thật nhanh nếu không muốn bị ai khác trấn lột.

« Lùi
Tiến »