Khi chúng tôi gặp nhau trong nhà thờ Do Thái bí mật, cha Pons cập nhật thông tin chiến sự cho tôi.
“Từ khi quân Đức sa lầy ở Nga và quân Mỹ tham chiến, cha nghĩ rằng Hitler sẽ thua. Nhưng với cái giá nào đây? Ở dây, bọn Quốc xã càng ngày càng căng thẳng, chúng điên cuồng truy tìm quân kháng chiến đến độ bất thường, năng lượng của sự tuyệt vọng. Cha rất sợ cho chúng ta, Joseph ạ, rất sợ.”
Ông cảm thấy một mối đe dọa lơ lửng trong không khí, như thể chó nhà cảm nhận được chó sói đang đến gần.
“Thôi nào cha, tất cả rồi sẽ qua. Chúng ta tiếp tục việc của mình nào.”
Với cha Pons cũng như với Rudy, tôi có xu hướng trở thành người bảo vệ. Tôi yêu họ đến mức để ngăn họ không lo lắng, tôi phô ra niềm lạc quan không gì lay chuyển được và khiến người ta phải yên tâm.
“Cha hãy nói cho con rõ hơn về sự khác biệt giữa người Công Giáo và người Do Thái đi ạ.”
“Người Do Thái và người Công Giáo cùng tin vào một vị Chúa trời, người đã đọc cho Moïse bảng đá khắc Luật. Nhưng người Do Thái không thừa nhận Jésus là đấng Cứu thế, là đặc sứ của chúa trời mà họ chờ đợi; họ chỉ coi đó là một nhà hiền triết Do Thái mà thôi. Con trở thành người Công Giáo khi con thừa nhận Jésus đúng là con của Chúa trời và trong Người, Chúa trời hiện thân, chết đi rồi phục sinh.”
“Như vậy với người Công Giáo, đó là chuyện trong quá khứ; với người Do Thái, đó là chuyện trong tương lai.”
“Đúng vậy Joseph. Người Công Giáo là những người tưởng nhớ và người Do Thái là những người còn hy vọng.”
“Như vậy, người Công Giáo là một người Do Thái đã ngưng chờ đợi phải không ạ?”
“Đúng. Và người Do Thái là một người Công Giáo trước khi có Jésus.”
Điều này làm tôi rất vui khi tưởng tượng minh là một “người Công Giáo trước khi có Jésus”. Giữa giáo lý Công Giáo và nhập môn bí mật vào kinh Torah, lịch sử thánh thần khiến tôi chú ý nhiều hơn là các cầu chuyện dành cho trẻ con mượn ở thư viện: nghe nó trần tục hơn, gần gũi hơn, cụ thể hơn. Nói gì thì nói, đó cũng là chuyện về tổ tiên của tôi, Moïse, Abraham, David, Jean-Baptiste hay Jésus! Trong mạch máu của tôi đang chảy dòng máu của một trong số họ. Hơn nữa, cuộc đời họ không hề nhạt nhẽo, không nhạt như cuộc đời tôi: họ bị đánh đập, họ đã hét lên, khóc lóc, hát ca, họ có nguy cơ đánh mất sự sống bất cứ lúc nào. Điều tôi không dám thổ lộ với cha Pons là tôi dã đưa ông vào chuyện này. Tôi không thể ngăn mình vẽ ra trong đầu hình ảnh Ponce Pilate, vị tổng trấn La Mã với tướng mạo của cha Pons, đang rửa tay: với tôi, chuyện cha Pons ở đó hết sức bình thường, trong kinh Phúc âm, đứng ngay cạnh Jésus, đứng giữa người Do Thái và những người Công Giáo tương lai, một người trung gian bối rối, một con người chính trực không biết chọn lựa.
Tôi có cảm giác cha Pons bị rối trước những điều cha buộc phải dạy cho tôi. Giống như nhiều người Công Giáo, trước đây, ông không biết nhiều về kinh Cựu ước và khi đọc cuốn kinh cũng như một số luận giải của các giáo sĩ Do Thái, ông thấy kinh ngạc.
“Joseph, có những ngày ta tự hỏi không biết mình là người Do Thái có tốt hơn không,” ông nói với tôi, mắt rực lên phấn khích.
“Không thưa cha, hãy vẫn là người Công Giáo, cha không hiểu mình may mắn đến thế nào đâu.”
“Do Thái giáo nhấn mạnh sự tôn trọng, Công Giáo thì chú trọng tình yêu. Vậy mà ta tự hỏi mình: chẳng phải sự tôn trọng mang tính nền tảng hơn tình yêu hay sao? Và cũng dễ thực hiện hơn... Yêu kẻ thù của mình như đức Jésus nói và chìa má còn lại ra, cha thấy điều đó thật đáng ngưỡng mộ nhưng không thể làm được. Nhất là vào lúc này. Con có chìa má con lại cho Hitler tát không?”
“Không bao giờ!”
“Cha cũng vậy! Đúng là ta không xứng được so sánh với đấng Kitô. Cả cuộc đời ta không đủ để học theo Người... Tuy nhiên, liệu tình yêu có phải một nghĩa vụ? Liệu người ta có thể ép buộc con tim mình không? Cha không nghĩ là được. Theo những giáo sĩ Do Thái có uy tín, sự tôn trọng còn cao hơn tình yêu. Nó là một nghĩa vụ liên tục không ngừng nghỉ. Điều này cha thấy là có thể. Ta có thể tôn trọng người ta không yêu thương hoặc người ta không quan tâm đến. Nhưng yêu thương họ ư? Vả lại, nếu ta đã tôn trọng họ rồi thì có còn nhất thiết phải yêu thương họ không? Thật khó, tình yêu ấy à, người ta không thể tạo ra, không thể kiểm soát nó cũng như không thể kéo dài nó. Trong khi sự tôn trọng...”
Ông gãi gãi cái đầu nhẵn bóng của mình.
“Ta tự hỏi liệu có phải chúng ta, người Công Giáo, cũng chỉ là những người Do Thái ủy mị hay không...”
Vậy đó, cuộc sống của tôi là như vậy, được điểm nhịp bằng những buổi học, những suy nghĩ cao quý về Kinh Thánh, nỗi sợ bọn Quốc xã, những cuộc tập kích của quân kháng chiến ngày càng nhiều và táo bạo hơn, những buổi chơi đùa với bạn bè và những cuộc dạo chơi cùng Rudy. Bom vẫn rơi trên vùng Chemlay nhưng các phi công Anh tránh khu Villa Jaune, chắc chắn là bởi nó cách xa nhà ga, đặc biệt nhất là vì cha Pons đã thận trọng cắm một lá cờ chữ thập đỏ trên cột thu lôi. Ngược lại, tôi rất thích cảnh báo động này: tôi không bao giờ chui xuống hầm trú ẩn với các bạn, trái lại, tôi cùng với Rudy ngắm nhìn cảnh tượng từ mái nhà. Những chiếc máy bay nhanh như sao xẹt của Không quân Hoàng gia Anh bay thấp đến mức chúng tôi có thể nhìn thấy cả phi công và ra hiệu thân thiện với họ.
Vào thời chiến, thói quen là điều nguy hiểm ghê gớm nhất. Đặc biệt là việc quá quen với nguy hiểm.
Vì ở Chemlay có hàng tá người bí mật phản đối sự chiếm đóng của Quốc xã, dần dà, họ đánh giá thấp chúng, thế nên tin đổ bộ ở Normandie đã làm chúng tôi phải trả giá đắt.
Khi biết quân đội Mỹ, đông đảo và được trang bị vũ khí hiện đại, vừa đặt chân lên châu Âu, chúng tôi vui mừng tột độ. Mặc dù phải im miệng nhưng nụ cười đã nở rộ trên mặt chúng tôi. Cha Pons đi lướt trên mặt đất, như Chúa Jésus đi trên mặt nước, niềm vui tỏa rạng trên mặt ông.
Chủ nhật đó, chúng tôi đang rối rít đi lễ, nóng lòng được chia sẻ tin mừng gần như tin chiến thắng này với dân làng, ít nhất là bằng ánh mắt. Tất cả học sinh tập hợp thành hàng trong sân sớm mười lăm phút.
Trên đường đi, những người nông dân ăn diện đẹp đẽ hân hoan nháy mắt với chúng tôi. Một bà còn cho tôi sô cô la. Một bà khác đặt vào tay tôi một trái cam. Một bà khác nữa thả vào túi tôi một miếng bánh.
“Tại sao lúc nào cũng là Joseph nhỉ?” Một đứa cùng lớp tôi cằn nhằn.
“Bình thường thôi! Nó là đứa đẹp nhất!” Rudy hét lên từ xa.
Điều này xảy đến thật đúng lúc: bụng tôi lúc nào cũng lép xẹp, vì rằng ở tuổi này tôi đang lớn như thổi.
Tôi rình tới lúc cả đoàn rồng rắn đi qua hiệu thuốc bởi tôi chắc chắn cô Marcelle, người đã cùng với cha Pons cứu và bảo vệ chừng ấy đứa trẻ, sẽ có vẻ mặt rạng rỡ. Có thể, vì vui mừng, cô ấy sẽ quẳng cho tôi vài cái kẹo chăng?
Thế nhưng, cửa kính hiệu thuốc đã bị cửa kéo bằng sắt che kín.
Nhóm chúng tôi tới quảng trường làng sớm và ở đó, tất cả mọi người, trẻ em cùng dân làng, đột ngột dừng lại trước cửa nhà thờ.
Từ phía hai cánh cửa mở to phát ra một dòng âm thanh như quân nhạc, từ giàn đàn ống chơi to hết cỡ. Tôi ngỡ ngàng nhận ra điệp khúc: La Brabançonne!
Đám đông ngẩn ngơ. Chơi bản La Brabançonne , quốc ca của chúng tôi, ngay trước mũi bọn Quốc xã, là sự xúc phạm cao độ. Điều này như nói với chúng: “Đi đi, cuốn xéo đi, các người đã thua rồi, các người chẳng còn là gì cả!”
Ai mà ngạo mạn đến vậy?
Những người đầu tiên nhìn thấy nhanh chóng thì thào với người khác: “Mẹ kiếp”! Cô Marcelle, tay lướt trên phím đàn, chân đạp pêđan, lần đầu tiên trong đời, bước vào một nhà thờ để nói với bọn Quốc xã rằng chúng sẽ thua trận.
Sung sướng, hào hứng, chúng tôi đứng xung quanh nhà thờ, như thể đang xem một tiết mục xiếc mạo hiểm xuất sắc. “Mẹ kiếp” chơi quá đỉnh, hay hơn cái người lờ đờ chơi đàn thường ngày. Dưới ngón tay cô, chiếc đàn kêu to như đội kèn đồng quê mùa, rực lên sắc đỏ và vàng, với tiếng thanh la chói tai và tiếng trống hùng tráng. Âm thanh tràn đến phía chúng tôi đầy mạnh mẽ, làm mặt đất và cửa kính các cửa hàng rung lên.
Đột nhiên, một tiếng phanh rít lên. Một chiếc ô tô đen phanh lại trước nhà thờ và bốn tên Quốc xã nhảy ra.
Bọn cảnh sát của Gestapo bắt giữ cô Marcelle, khi đó đã ngừng chơi nhưng bắt đầu chửi rủa chúng:
“Chúng mày hết đời rồi! Xong rồi! chúng mày có thể bắt tao nhưng điều đó chẳng thay đổi được gì! Bọn khốn! Bọn hèn! Bọn bất lực!”
Bọn Quốc xã ném cô lên xe không thương tiếc rồi đi khỏi.
Cha Pons, nhợt nhạt hơn bao giờ hết, làm dấu thánh. Tay tôi nắm chặt lại, tôi muốn chạy theo xe, giữ cô lại, đánh bọn khốn nạn ấy. Tôi nắm tay cha, một bàn tay lạnh giá.
“Cô ấy sẽ không nói gì đâu thưa cha. Con chắc chắn là cô ấy không nói gì.”
“Ta biết Joseph, ta biết. “Mẹ kiếp” là người dũng cảm nhất trong chúng ta. Nhưng chúng sẽ làm gì cô ấy đây?”