Chúng tôi không có thời gian đợi câu trả lời. Tối hôm đó, lúc mười một giờ, Villa Jaune bị Gestapo bao vây.
Cô Marcelle dù bị tra tấn cũng không hé răng. Tuy nhiên, bọn Quốc xã trong khi khám xét nhà cô đã tìm ra phim âm bản làm giấy tờ giả cho chúng tôi.
Chúng tôi đã bị lật tẩy. Thậm chí không cần tụt quần chúng tôi xuống. Bọn Quốc xã chỉ cần mở hộ chiếu của chúng tôi để tìm ra kẻ giả mạo.
Trong vòng hai mươi phút, tất cả lủ trẻ Do Thái tại Villa Jaune đếu được gom vào một nhà ngủ.
Bọn Quốc xã vui mừng. Còn sợ hãi đè nặng lên chúng tôi. Tôi cảm thấy sợ đến mức không thể nghĩ được gì nữa. Không nhận thức được, tôi ngoan ngoãn nghe theo chúng.
“Đứng sát vào tường, tay giơ lên. Nhanh!”
Rudy luồn đến gần tôi nhưng điều này vẫn không làm tôi yên tâm: mắt anh mở trừng trừng, thất thần vì sợ hãi.
Cha Pons lao vào cuộc chiến.
“Thưa các ông, ta thấy thật khủng khiếp: ta không biết thân phận của chúng! Ta không hề ngờ rằng những đứa trẻ này là người Do Thái. Người ta dẫn chúng đến cho ta như những đứa trẻ Aryan, những người Aryan thực thụ. Ta đã bị lừa, người ta đã cười nhạo ta, người ta đã lợi dụng sự cả tin của ta.”
Dù không hiểu ngay thái độ của cha, tôi cũng không nghĩ cha cố gắng biện minh là mình vô tội để khỏi bị bắt.
Tên sếp của bọn Gestapo thô lỗ hỏi ông:
“Ai dẫn bọn trẻ tới cho cha?”
Cha Pons ngập ngừng. Mười giây chầm chậm trôi qua.
“Ta sẽ không nói dối ông: tất cả những đứa trẻ này đều do cô Marcelle, dược sĩ, dẫn đến.”
“Điều đó không làm cha ngạc nhiên à?”
“Cô ta thường xuyên gửi ta giữ trẻ mồ côi. Từ mười lăm năm nay. Trước cả thời chiến tranh cơ. Đó là một người tốt. Cô ấy liên kết với một nhóm tình nguyện viên giúp đỡ những đứa trẻ bất hạnh.”
“Thế ai trả tiền trọ học cho chúng?”
Mặt cha Pons thoáng biến sắc.
“Mỗi tháng đều có một phong bì gửi theo tên từng đứa trẻ đến chỗ chúng ta. Ông có thể kiểm tra bên kế toán.”
“Những chiếc phong bì này đến từ đâu?”
“Từ các nhà tài trợ... Còn từ ai nữa chứ? Có ghi rõ trong sổ của chúng ta đấy. Ông sẽ có thông tin đối chiếu.”
Bọn Quốc xã tin ông. Sếp của chúng nuốt nước bọt thèm muốn chỉ riêng với ý nghĩ sẽ được xem danh sách này. Biết vậy nên cha Pons tấn công không ngần ngại.
“Các ông sẽ đưa lũ trẻ đi đâu?”
“Vùng Malines.”
“Sau đó thì sao?”
“Không liên quan tới cha.”
“Đó có phải một chuyến đi dài không?”
“Chắc chắn rồi.”
“Vậy thì hãy để ta dọn đồ cho chúng, xếp va li cho chúng, cho chúng mặc quần áo, cho chúng cái gì đó để ăn dọc đường. Các con ơi, không thể đối xử với trẻ em theo cách này được. Nếu các con đưa con mình cho ta chăm sóc, liệu các con có chấp nhận ta để chúng ra đi như thế không?”
Tên chỉ huy có bàn tay mập mạp do dự. Cha Pons tấn công luôn vào kẽ hở:
“Ta biết là con không muốn làm điều xấu. Thôi nào, ta sẽ sắp xếp mọi thứ và sáng sớm mai con đến đón bọn chúng.”
Bị mắc vào chiếc bẫy tình cảm này, và cảm thấy phiền lòng trước vẻ ngây thơ của cha xứ, tên chỉ huy Gestapo muốn chứng minh mình không phải tên yêu tinh xấu xa.
“Đúng bảy giờ sáng mai, chúng sẽ sạch sẽ, mặc quần áo chỉnh tề, ăn uống đầy đủ, xếp hàng trong sân với đồ đạc của chúng,” cha Pons khẽ khàng xin. “Đừng làm ta buồn lòng. Ta chăm sóc chúng nhiều năm nay rồi: khi người ta giao một đứa trẻ cho ta, họ có thể hoàn toàn yên tâm.”
Tên chỉ huy Gestapo đang buồn ngủ, nhìn lướt qua ba mươi đứa trẻ mặc áo ngủ, chợt nhớ ra sẽ không có chiếc xe thùng nào trước sáng mai, nhún vai làu bàu:
“Đồng ý, tôi tin tưởng ở cha.”
“Con có thể tin ta. Cứ yên tâm đi đi.”
Đám người mặc đồ đen của Gestapo rời khỏi trường.
Khi bọn Quốc xã đã đi xa hẳn, cha quay lại phía chúng tôi.
“Nào các con, không được hét lên, không phải hoảng sợ: các con yên lặng đi lấy đồ đạc rồi mặc quẩn áo chỉnh tề vào. Sau đó các con sẽ đi trốn.”
Cả bọn chúng tôi thở phào nhẹ nhõm. Cha Pons đi gọi giám thị ở các khu nhà ngủ khác lại, độ năm giáo sĩ trẻ rồi nhốt họ vào cùng phòng với chúng tôi.
“Các con thân mến, cha cần các con.”
“Cha có thể tin chúng con.”
“Ta muốn các con nói dối.”
“Nhưng...”
“Các con cần phải nói dối. Nhân danh đức Kitô. Ngày mai, các con sẽ nói với bọn Gestapo là quân kháng chiến bí mật đã chiếm Villa sau khi bọn chúng rời đi. Các con hãy khẳng định là mình đá bị đánh đập. Ngoài ra, các con sẽ được tìm thấy trong tình trạng bị trói vào giường, như thế các con sẽ trắng tội. Các con có đồng ý để ta trói không?”
“Cha thậm chí có thể đánh chúng con ạ.”
“Cảm ơn các con. Chuyện đánh đập ta không phản đối nhưng các con phải tự làm.”
“Thế còn cha, cha sẽ ra sao ạ?”
“Ta không thể ở lại với các con được nữa. Ngày mai bọn Gestapo sẽ không còn tin ta. Cần phải cho chúng một thủ phạm. Vậy nên ta sẽ đi trốn với đám trẻ. Các con cứ đàng hoàng nói ta đã báo cho quân kháng chiến và họ đồng lõa với ta.”
Trong vài phút sau đó, một cảnh tượng khó tin nhất mà tôi từng được chứng kiến xảy ra: các giáo sĩ trẻ cẩn thận đấm nhau, nghiêm túc, chính xác, người thì đấm vào mũi, người vào môi, người vào mắt, ai cũng hỏi bạn mình xem đấm thế đã vừa chưa. Rồi cha Pons trói chặt họ vào chân giường và nhét giẻ vào miệng họ.
“Các con có thở được không?”
Các giáo sĩ trẻ gật đầu. Vài người mặt sưng húp, người thì mũi tóe máu, ai cũng rưng rưng.
“Cảm ơn các con của ta,” cha Pons nói. “Và để trụ được đến sáng mai, hãy nghĩ đến đấng Kitô.”
Nói đến đó, cha kiểm tra xem chúng tôi có mang đủ hành lý gọn nhẹ không, rồi hết sức trật tự, cha cho chúng tôi xuống cầu thang đi qua cửa sau.
“Chúng ta đi đâu đây?” Rudy thì thầm.
Dù là đứa duy nhất có chút ý niệm về chuyện này, tôi vẫn im lặng.
Chúng tôi đi qua khu vườn đến tận khoảnh rừng thưa. Ở đó, cha bảo chúng tôi dừng lại.
“Các con ơi, ta mặc kệ nếu các con cảm thấy có vẻ điên rồ nhưng chúng ta sẽ không đi xa hơn nữa!”
Ông nói kế hoạch của mình cho chúng tôi và suốt đêm chúng tôi thực hiện điều ấy.
Một nửa trong số chúng tôi tới trốn ở hầm nhà nguyện. Nửa còn lại - tôi ở trong nhóm ấy - trong những giờ tiếp theo xóa dấu vết thật và tạo dấu vết giả. Mặt đất ẩm ướt vì cơn mưa gần đây lún xuống sau mỗi bước chân phát ra những tiếng oàm oạp: không gì dễ dàng bằng việc để lại đó những dấu vết rõ ràng.
Nhóm chúng tôi đi qua khoảng rừng thưa và ra khỏi khu vườn qua cánh cửa hẹp. Sau đó, chúng tôi dùng gót giày giẫm lên lớp mùn tơi xốp, bẻ gãy vài cành cây, cố tình làm rơi vài món đồ, chúng tôi đi ngang qua cánh đồng ra tới tận bờ sông. Ở đó, cha Pons dẫn chúng tôi đến bến đò.
“Vậy đó, chúng sẽ tưởng có một chiếc thuyền đợi chúng ta ở đây... Bây giờ, chúng ta quay về, nhưng sẽ đi lùi các con ạ, để chúng nghĩ là chúng ta đông gấp đôi và tránh để lại dấu vết theo hướng ngược lại.”
Việc đi lùi trở lại rất chậm và khó nhọc; chúng tôi trượt ngã; cố gắng này đi đôi với nỗi sợ và cơn mệt. Trong khoảng rừng thưa, chúng tôi còn phải làm một việc khó hơn: xóa các vết chân dẫn về phía nhà nguyện đổ nát bằng cách quật cành cây xuống mặt đất ẩm.
Bình minh vừa rạng thì chúng tôi quay lại được chỗ các bạn đang ngủ ở phía cuối hầm. Cha Pons đóng cửa cẩn thận và dậy nắp hầm trên đầu chúng tôi lại, chỉ thắp một ngọn nến đã được che bớt sáng.
“Ngủ đi các con. Sáng nay không bắt buộc phải dậy.”
Không xa nơi tôi nằm vật xuống, cha đã dọn được một chỗ giữa đống sách vở mà ông xếp chồng xung quanh trông như một bức tường gạch. Khi ông nhìn thấy tôi, tôi hỏi:
“Con có thể vào phòng cha được không ạ?”
“Đến đây Joseph bé nhỏ.”
Tôi lăn đến chỗ ông và áp má mình vào đôi vai gầy của ông. Vừa tưởng tượng ra ánh nhìn trìu mến của ông dành cho mình thì tôi đã lăn ra ngủ.