Con Của Noé

Lượt đọc: 512 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 21

Tôi viết xong câu chuyện này bên sân hiên đầy bóng mát, trước một vườn ô liu sum suê. Thay vì ngủ trưa giống như các bạn mình, tôi không chạy trốn cái nóng bởi ánh nắng đưa niềm vui của nó vào tim tôi.

Năm mươi năm đã trôi qua từ khi những sự kiện ấy xảy ra. Cuối cùng, tôi đã làm lễ bar-mitsva, tôi kế tục việc kinh doanh của bố và tôi không cải sang đạo Công Giáo. Tôi say mê học về tôn giáo của cha mẹ mình và truyền lại cho con cái. Nhưng Chúa không đến như đã hẹn...

Chưa bao giờ, trong suốt cuộc đời người Do Thái sùng đạo rồi Do Thái hờ hững của tôi, tôi gặp lại vị Chúa mà tôi đã cảm nhận được vào thời thơ ấu của mình trong cái nhà thờ nhỏ ở vùng quê đó, giữa những ô cửa kính mầu nhiệm, những thiên thần đeo tràng hoa cùng tiếng ầm ù của giàn đàn ống, vị Chúa nhân từ ấy bay trên những bó hoa ly, những ngọn lửa êm ái, trên mùi gỗ được đánh xi và ngắm những đứa trẻ được che giấu cùng những người dân làng đồng lõa.

Tôi thường xuyên đến thăm cha Pons. Lần đầu tôi quay lại Chemlay năm 1948, khi đó, chính quyền xã đã đặt tên cho một con phố là Cô Marcelle, người không bao giờ quay lại từ khi bị đi đày. Tất cả chúng tôi đều có mặt ở đó, những đứa trẻ mà cô đã tiếp nhận, nuôi dưỡng, làm giấy tờ giả cho. Trước khi giật tấm vải che tên phố dành cho cô xuống, ông xã trưởng đọc bài diễn văn dài về người nữ dược sĩ, nêu cả tên ông bố vốn là một sĩ quan, anh hùng của cuộc chiến trước, ở giữa những khóm hoa là hai bức ảnh của họ. Tôi nhìn chằm chằm vào ảnh chân dung của “Mẹ kiếp” và ông đại tá: cùng một khuôn mặt, chính xác là giống nhau như đúc, xấu khủng khiếp như nhau, chỉ khác mỗi điểm là người quân nhân thì có thêm râu. Ba giáo sĩ Do Thái thực thụ long trọng tưởng niệm và tôn vinh lòng can đảm của người đã cho đi cuộc sống của mình; tiếp theo đó cha Pons dẫn mọi người đi xem bộ sưu tập trước đây của ông.

Khi tôi cưới Barbara, cha đã có dịp tới một nhà thờ Do Thái thực sự; ông khoan khoái theo dõi kỹ tiến trình của buổi lễ. Sau đó, ông thường xuyên đến chơi nhà chúng tôi vào những dịp lễ Kippour, Rosh ha-Shana hay dịp sinh nhật các con tôi. Trong khi đó, tôi thường thích đến Chemlay để chui xuống hầm dưới nhà nguyện cùng ông, ở đó sự lộn xộn hài hòa làm người ta thấy thoải mái. Suốt ba mươi năm, ông thường xuyên thông báo với tôi:

“Cha bắt đầu một bộ sưu tập mới.”

Chắc chắn là không có gì tương tự với cuộc Đại đồ sát và các nỗi đau không thể so sánh với nhau, nhưng mỗi khi một dân tộc nào đó trên Trái Đất bị đe dọa bởi sự điên cuồng của một dân tộc khác, cha Pons lại bắt đầu lưu giữ những vật dụng là minh chứng của một tâm hồn bị đe dọa. Chừng đó để nói rằng ông đã thu thập được một khối lượng lớn các vật dụng linh tinh trên chiếc thuyền Noé của mình: có bộ sưu tập về người Da đỏ, một bộ sưu tập đồ Việt Nam, một bộ sưu tập đồ của các vị Tăng lữ Tây Tạng.

Nhờ đọc báo, cuối cùng tôi cũng đoán ra được lần tới gặp nhau, cha Pons có thể sẽ nói:

“Cha bắt đầu một bộ sưu tập mới.”

Rudy và tôi vẫn giữ mối quan hệ bè bạn. Chúng tôi đóng góp vào việc xây dựng Israel. Tôi tặng tiền còn anh thì đến ở đó. Cả nghìn lần, cha Pons tuyên bố rằng ông hạnh phúc khi nhìn thấy tiếng Hebrew, ngôn ngữ thiêng liêng ấy, được phục sinh.

Ở Jérusalem, Viện Yad Vashem quyết định trao danh hiệu “Người dân ngoại công chính” cho những người, trong thời gian Quốc xã chiếm đóng và khủng bố, là hiện thân cho điều tốt đẹp nhất của nhân loại khi cứu những người Do Thái, bất chấp nguy hiểm đến tính mạng. Cha Pons đã nhận danh hiệu này vào năm 1983.

Ông không bao giờ biết điều ấy, ông vừa qua đời. Chắc chắn bản tính khiêm tốn của ông không thích nghi lễ mà chúng tôi, Rudy và tôi, dự định tổ chức; chắc chắn ông sẽ phản đối rằng người ta không phải cảm ơn ông và rằng ông chỉ làm bổn phận của mình khi nghe theo tiếng nói của con tim. Trên thực tế, chính là với chúng tôi, các con của ông, mà một ngày hội như thế mang lại nhiều niềm vui nhất.

Sáng nay, Rudy và tôi sục sạo trên khắp các con đường mòn trong khu rừng mang tên ông ở Israel. “Rừng cha Pons” gồm hai trăm bảy mươi mốt cái cây, tượng trưng cho hai trăm bảy mươi mốt đứa trẻ mà ông đã cứu sống.

Giờ đây những cây con mọc lên dưới gốc cây gỗ lớn.

“Xem này Rudy, sắp có nhiều cây hơn này, như thế thì chẳng còn ý nghĩa gì...”

“Bình thường thôi Joseph. Chú có bao nhiêu con? Bốn. Và bao nhiêu cháu? Năm. Khi cứu chú, cha Pons đã cứu chín người. Đối với anh là mười hai. Rồi thế hệ sau đến nữa, số lượng sẽ mãi tăng lên không ngừng. Tính tới vài thế kỷ nữa, số người cha cứu được sẽ lên đến hàng triệu.”

“Như Noé nhỉ.”

“Chú có nhớ kinh Cựu ước không hả đồ ngoại đạo? Chú làm anh ngạc nhiên quá...”

Không khác gì khi xưa, Rudy và tôi khác nhau về mọi chuyện. Càng khác nhau chừng nào chúng tôi càng yêu mến nhau chừng ấy. Chúng tôi có thể cãi nhau rất hăng rồi vẫn ôm hôn nhau và chúc nhau ngủ ngon. Mỗi lần đến đây, trong trang trại của anh ở Palestine, hay anh đến thăm tôi ở Bỉ, chúng tôi lại nói nhiều về Israel. Tôi ủng hộ quốc gia trẻ này nhưng tôi không ủng hộ bất cứ hành động nào của họ, ngược với Rudy, người ủng hộ nhiệt thành và tán đồng mọi hành động của chế độ, ngay cả những hành động bạo lực nhất.

“Cuối cùng Rudy ạ, lòng hướng về Israel không đồng nghĩa với việc tán đồng mọi thứ Israel quyết định. Cần phải hòa bình với người Palestine. Họ cũng có quyền sống ở đây như anh. Đây cũng là mảnh đất của họ. Họ đã sống ở đây trước khi người ta thành lập Israel. Chính sự đọa đày mà dân tộc ta đã phải chịu trong lịch sử lẽ ra phải khiến chúng ta nói với họ những lời mà chính chúng ta, chúng ta đã chờ đợi từ bao thế kỷ nay...”

“Nhưng còn sự an toàn của chúng ta...”

“Hòa bình, Rudy ạ, hòa bình là thứ mà cha Pons đã dạy chúng ta mong muốn.”

“Đừng có ngây thơ, Joseph. Cách tốt nhất để đạt được hòa bình, thường là chiến tranh.”

“Em không đồng ý. Anh càng chất chồng thù hận giữa hai bên, thì càng ít cơ hội cho hòa bình.”

Lúc nãy, trên đường quay lại đồn điển ô liu, chúng tôi đi ngang qua một ngôi nhà của người Palestine vừa bị xích sắt của một chiếc xe tăng phá hủy. Đồ đạc chỏng chơ, vương vãi trong đám bụi bay lên trời. Hai nhóm trẻ con đang đánh nhau rất hăng giữa đống đổ nát.

Tôi ra hiệu cho anh dừng chiếc xe Jeep lại.

“Chuyện gì vậy?”

“Chúng ta trả đũa,” anh trả lời tôi. “Có một người Palestine tấn công tự sát tối qua. Ba nạn nhân. Chúng ta cần phải hành động.”

Không trả lời anh, tôi xuống xe và bước đi trên đống đổ nát.

Hai nhóm trẻ đối nghịch, đám con trai Do Thái và Palestine đang ném đá vào nhau. Ném trượt, một đứa cầm một thanh rầm lao về phía đối thủ gần nhất và phang thằng kia. Bọn kia cũng ngay lập tức trả đũa. Chỉ trong một loáng, bọn trẻ hai phía đã lấy các thanh rầm phang nhau chí tử.

Tôi nhảy về phía chúng, hét to.

Chúng có sợ không? Chúng có tranh thủ sự đánh lạc hướng này để kết thúc cuộc ẩu đả? Chúng chạy tán loạn.

Rudy chầm chậm đi về phía tôi, bình thản.

Tôi cúi xuống và nhìn thấy mấy thứ đồ mà bọn trẻ làm rơi. Tôi nhặt một chiếc mủ kippa và một cái khăn choàng ca rô Palestine. Tôi đút một cái vào túi bên phải của mình và cái kia vào túi bên trái.

“Chú làm gì vậy?” Rudy hỏi tôi.

“Em bắt đầu một bộ sưu tập.”

« Lùi
Tiến »