Grant nằm trên cái giường gấp cao trải ga trắng và nhìn chằm chằm lên trần nhà. Nhìn chằm chằm lên nó đầy căm ghét. Anh nhớ từng vết nứt li ti trên bề mặt sạch sẽ tinh tươm của nó. Anh đã mường tượng ra đủ thứ bản đồ từ cái trần nhà này rồi chu du thám hiểm: những dòng sông, những hòn đảo, những lục địa. Anh đã bày ra các trò đánh đố và khám phá vật thể ẩn giấu; những khuôn mặt, những con chim, những con cá. Anh đã làm những phép tính toán và ôn lại thời thơ ấu của mình; định lý, góc, hình tam giác. Quả thực chẳng còn điều gì khác anh có thể làm ngoài việc nhìn lên nó. Trông thôi đã thấy ghét.
Anh từng đề nghị Nàng Bé cho dịch cái giường đi một chút để anh có thể khám phá mảng trần nhà mới. Nhưng dường như việc di chuyển này sẽ phá hỏng tính cân xứng của căn phòng, mà trong bệnh viện, sự cân xứng xếp hạng ngay sau sự sạch sẽ và bỏ xa sự ngoan đạo [1] . Bất cứ điều gì xiên xẹo trong bệnh viện đều mang tính báng bổ. Tại sao anh lại không đọc sách? Cô hỏi. Tại sao anh không đọc mấy quyển tiểu thuyết đắt tiền mới cứng mà các bạn anh đua nhau mang tới đi.
“Quá nhiều người được sinh ra trên thế giới, quá nhiều từ được viết ra. Hàng triệu và hàng triệu từ tuôn ra từ báo chí mỗi phút. Một ý nghĩ thật khủng khiếp.”
“Ông có vẻ khó ở nhỉ,” Nàng Bé nói.
Nàng Bé là điều dưỡng Ingham. Nói công bằng thì đây là một cô gái cao một mét năm mươi bảy với tỷ lệ thân hình vừa vặn cân đối. Grant gọi cô này là Nàng Bé để tự an ủi vì bản thân phải nhất nhất nghe lời một bức tượng sứ Dresden tí xíu mà anh có thể dùng một bàn tay nhấc lên. Nghĩa là khi anh có thể đứng dậy được. Cô nàng không chỉ nhắc nhở anh được làm cái này không được làm cái nọ, mà còn dễ dàng đỡ cái thân thể cao hơn mét tám của anh một cách tỉnh bơ khiến Grant cảm thấy mất mặt. Có vẻ như trọng lượng chẳng có nghĩa lý gì với Nàng Bé. Cô giũ ga giường với điệu bộ duyên dáng dửng dưng như một nghệ sĩ biểu diễn trò xoay đĩa. Khi cô không có ca trực, người chăm sóc anh là Nàng Amazon, một nữ thần với đôi cánh tay giống cành cây sồi. Nàng Amazon là điều dưỡng Darroll, quê ở Gloucestershire, và cứ đến mỗi mùa hoa thủy tiên lại nổi bệnh nhớ nhà tha thiết. (Nàng Bé quê ở Lytham St Anne’s, và cô chẳng thèm bận tâm đến thứ hoa thủy tiên ngớ ngẩn nào hết.) Nàng điều dưỡng thứ hai này sở hữu đôi bàn tay to mềm mại và đôi mắt bò cái dịu dàng, cô ta luôn có vẻ hết sức thông cảm với bạn, song chỉ một chút gắng sức cũng khiến nàng thở sòng sọc như một cái máy hút đờm. Tựu trung, Grant thấy bị coi như một gánh nặng, thậm chí còn bẽ mặt hơn là bị cư xử như thể anh nhẹ tựa lông hồng.
Grant phải nằm bẹp trên giường, trở thành bệnh nhân cho Nàng Bé và Nàng Amazon chăm sóc vì anh ngã lộn cổ qua một cái cửa sập. Tất nhiên đây quả là sự mất mặt tột đỉnh; đem so sánh với nó thì tiếng thở hổn hển nặng nhọc của Nàng Amazon hay dăm ba lời trách móc của Nàng Bé chỉ đơn thuần là chuyện tất yếu. Ngã lộn cổ qua cái cửa sập là cực hạn của sự lố bịch, kệch cỡm, tầm thường, dị hợm. Anh biến mất khỏi hoạt động thanh tra thường lệ đúng lúc đang hối hả đuổi bén gót Benny Skoll, tuy Benny đã cắm đầu cắm cổ vòng qua góc ngoặt kế tiếp rồi đâm sầm vào Thượng sĩ Williams, nhưng anh chỉ thấy được an ủi tí ti trong một tình huống không thể chịu đựng nổi.
Giờ đây Benny sẽ bị “treo giò” ba năm, một điều khiến cho các nhà chức trách hết sức hài lòng, nhưng rồi Benny sẽ được giảm án do cải tạo tốt. Còn trong bệnh viện thì chẳng có đặc ân nào cho dù anh ngoan ngoãn chấp hành.
Grant thôi nhìn chằm chằm lên trần nhà, anh liếc sang chồng sách trên cái bàn đầu giường; chồng sách đắt tiền sặc sỡ mà Nàng Bé cứ ra rả hối thúc sự chú ý của anh. Cuốn sách ở trên cùng, với bức ảnh tuyệt đẹp của thành phố Valletta nhuốm màu hồng khó tin, là tường thuật hàng năm của Lavinia Fitch về nỗi khổ cực của một nữ nhân vật chính thánh thiện. Xét trên việc đưa hình ảnh Vịnh Cảng Lớn lên bìa sách, nàng Valarie hay Angela hay Cecile hay Denise được giới thiệu lần này chắc hẳn phải là vợ một lính thủy. Anh mở cuốn sách ra chỉ để đọc lời đề tặng thân mật mà Lavinia đã viết bên trong.
Mồ hôi và Luống cày là phiên bản Silas Weekley trần tục và quê mùa suốt bảy trăm trang. Ngay từ đoạn đầu tiên đã chẳng có mấy thay đổi so với cuốn sách trước đó: bà mẹ đang nằm ổ đứa thứ 11 ở tầng trên, ông bố nằm vật sau đứa thứ 9 ở tầng dưới, cậu con trai cả nằm lòng âm mưu dối gạt chính phủ trong chuồng bò, cô con gái đầu nằm bên anh người yêu trong nhà chứa cỏ khô, tất cả đám nhân vật còn lại nằm bẹp dí với nhau trong kho thóc. Mưa nhỏ giọt xuống từ mái rạ và phân gia súc bốc hơi lên từ đống rác. Silas không bao giờ quên nhắc tới bãi phân. Không phải lỗi của Silas nếu phân bốc hơi là thứ duy nhất dâng lên trong toàn bộ bức tranh. Nếu có thể khám phá ra thứ hơi nào đó bay từ trên xuống dưới, Silas hẳn đã đưa nó vào chưa biết chừng.
Bên dưới những bóng sáng tối tương phản gay gắt ở bìa sách của Silas là một câu chuyện tao nhã yêu đương vừa cầu kỳ kiểu Edward vừa vô nghĩa kiểu Baroque, với nhan đề Những chiếc chuông trên ngón chân nàng. Tại đây, Rupert Rouge thỏa chí bỡn cợt thói tật đồi bại và luôn khiến bạn phá lên cười trong ba trang đầu tiên. Đến sau trang ba, bạn nhận ra rằng Rupert đã học hỏi từ quý ngài bỡn cợt (nhưng tất nhiên không hề đồi bại) George Bernard Shaw, rằng cách dễ nhất để tỏ vẻ dí dỏm là sử dụng phương pháp rẻ tiền và tiện lợi: nghịch lý. Sau đó, bạn có thể thấy những câu đùa sắp sửa xuất hiện từ cách đó ba câu.
Cuốn sách với ánh chớp súng đỏ lòm chạy ngang nền bìa màu xanh lục sẫm là tác phẩm mới nhất của Oscar Oakley. Đám côn đồ lè nhè qua khóe miệng thứ tiếng Mỹ nhân tạo chẳng hề có sự hóm hỉnh lẫn cay độc như ngoài đời thực. Đám kiều nữ tóc vàng, những quầy bar mạ crom bóng nhoáng, những cuộc đuổi bắt chóng mặt. Quá sức nhảm nhí.
Vụ án chiếc mở hộp biến mất của John James Mark có ba lỗi nghiệp vụ trong hai chương đầu tiên, và ít nhất đã cho Grant năm phút thú vị trong khi anh soạn một lá thư tưởng tượng gửi đến tác giả cuốn sách.
Anh không nhớ nổi cuốn sách mỏng bìa xanh lơ ở dưới cùng của chồng sách là cuốn gì nữa. Thứ gì đó nghiêm túc và mang tính thống kê, anh nghĩ vậy. Về loài ruồi tse tse, hay tính lượng calo, hay tập tính tình dục, kiểu kiểu thế.
Thậm chí ngay cả trong cuốn sách đó, bạn cũng đoán trước được trang tiếp theo viết gì. Chẳng lẽ không một ai, không một ai trên toàn thế giới bao la này, thỉnh thoảng thay đổi cách viết lách của họ nữa hay sao? Chẳng lẽ tất cả mọi người ngày nay đều đổ xô theo công thức? Các tác giả ngày nay khư khư theo một khuôn mẫu mà độc giả của họ trông đợi. Công chúng nói về “một Silas Weekley mới” hay “một Lavinia Fitch mới” hệt như họ nói về “một loại gạch mới” hay “một loại lược mới”. Họ chẳng bao giờ nói “một cuốn sách mới của...” cho dù tác giả có là ai. Mối quan tâm của họ không phải nằm ở cuốn sách mà ở sự mới mẻ của nó. Họ biết quá rõ cuốn sách sẽ như thế nào.
Rời ánh mắt ngao ngán khỏi chồng sách thập cẩm, Grant nghĩ có lẽ cũng tốt nếu tất cả nhà in trên thế giới dừng hoạt động trong một thế hệ. Cần phải có một lệnh đình chỉ văn chương. Một siêu nhân nào đó cần phát minh ra loại tia cho phép dừng hoạt động của tất cả nhà in một cách đồng thời. Lúc đó người ta sẽ không gửi tới cho bạn cả một đống vớ vẩn điên khùng trong khi bạn phải nằm ngửa thẳng cẳng ra, và cái bức tượng sứ Meissen kẻ cả, bé một mẩu kia sẽ không trông đợi bạn đọc chúng.
Anh nghe thấy tiếng cánh cửa mở, nhưng không buồn nhúc nhích người để nhìn. Anh đã quay mặt vào tường, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng [2] .
Anh nghe thấy ai đó bước tới chỗ giường mình, và nhắm mắt lại để tránh nguy cơ phải trò chuyện. Lúc này anh chẳng cần nết dịu dàng của gái bắc lẫn sự bộc trực của gái nam [3] . Nhưng ngay lúc đó lại có chút cám dỗ thoang thoảng, một hơi thở đầy hoài niệm về tất cả những cánh đồng hoa ở Grasse, tìm đến trêu ghẹo hai lỗ mũi và lượn lờ trong óc anh. Anh tận hưởng nó và ngẫm nghĩ. Nàng Bé tỏa ra mùi phấn có hương oải hương, còn Nàng Amazon tỏa ra mùi xà phòng cùng iodoform. Thứ đang bồng bềnh thật đắt giá cận kề hai lỗ mũi anh là mùi của nước hoa Enclos số Năm. Chỉ có một người anh quen thường dùng Enclos số Năm. Marta Hallard.
Anh mở một mắt ra và nheo nheo nhìn lên cô. Rõ ràng cô đã cúi người xuống để xem liệu có phải anh đang ngủ hay không, và giờ đang đứng trong một bộ dạng lưỡng lự - nếu có điều gì đó Marta làm có thể được gọi là lưỡng lự - với sự chú ý hướng vào chồng sách mà tất cả rành rành đều còn mới nguyên ở trên bàn. Một bên cánh tay cô đang mang hai cuốn sách mới và trên cánh tay còn lại là một bó hoa tử đinh hương lớn màu trắng. Anh tự hỏi liệu có phải cô đã chọn hoa tử đinh hương trắng vì theo ý cô đây là thứ hoa phù hợp để đem tặng vào mùa đông (loại hoa này trang hoàng phòng trang điểm của cô tại nhà hát từ tháng Mười hai tới tháng Ba), hay cô đã chọn loại hoa này bởi nó không lạc lõng với tông đen-và-trắng sang trọng của cô. Cô đội một cái mũ mới và đeo chuỗi ngọc trai quen thuộc của mình; chuỗi ngọc trai từng giúp anh tái chinh phục cô. Trông cô rất xinh đẹp, đậm chất Paris, và tuyệt làm sao, không có chút hơi hướng bệnh viện nào.
“Em có đánh thức anh không vậy, Alan?”
“Không. Anh đâu có ngủ.”
“Em lại chở củi về rừng thì phải,” cô vừa nói vừa thả hai cuốn sách xuống bên cạnh những người anh em bị ghẻ lạnh của chúng. “Em hy vọng anh sẽ thấy mấy cuốn sách này thú vị hơn những gì anh có vẻ đã tìm trong đống kia. Chẳng lẽ anh thậm chí không thử một chút thứ khẩu vị thiếu niên từ Lavinia của chúng ta hay sao?”
“Anh chẳng thể đọc nổi bất cứ thứ gì.”
“Anh đau à?”
“Thống khổ cực độ. Nhưng không phải ở chân hay ở lưng anh.”
“Vậy thì là gì?”
“Thứ mà cô em họ Laura của anh gọi là ‘những cú châm kim của sự buồn tẻ’.”
“Alan tội nghiệp. Cô em họ Laura của anh thật chí lý.” Marta nhấc những bông thủy tiên ra khỏi cái lọ thủy tinh quá to với chúng, ném bó hoa vào thùng rác bằng một trong những động tác khéo léo nhất của mình, rồi cắm những bông tử đinh hương vào thế chỗ. “Người ta hẳn trông đợi sự buồn tẻ là một cảm xúc uể oải lớn lao, nhưng tất nhiên là không rồi. Nó là một thứ tủn mủn.”
“Nhỏ nhặt vô nghĩa. Tủn mủn vô nghĩa. Hệt như bị kim châm vậy.”
“Tại sao anh không tìm việc gì đó mà làm?”
“Để cải thiện thời gian huy hoàng?”
“Để cải thiện tâm trí. Chưa kể tới tâm hồn và tính tình của anh. Anh có thể tìm hiểu một môn nào đó như triết học, yoga hay thứ gì đó đại loại thế. Nhưng em đoán một cái đầu chuyên về phân tích không phải loại lý tưởng nhất để nghĩ tới những chuyện trừu tượng.”
“Anh quả là đã nghĩ tới chuyện trở lại với đại số. Anh cho rằng mình chưa bao giờ để tâm xứng đáng tới môn đại số ở trường. Nhưng anh đã nghĩ quá nhiều về hình học trên cái mảng trần nhà chết tiệt nên giờ cũng có chút ngán môn toán rồi.”
“Thế đấy, em chắc gợi ý các trò ghép hình với một người ở vị trí như anh chẳng ích gì rồi. Thế giải ô chữ thì sao? Em có thể kiếm cho anh một quyển sách giải ô chữ, nếu anh thích.”
“Vì Chúa, xin em đừng làm thế.”
“Phải rồi, anh có thể tạo ra ô chữ. Em có nghe nói việc tạo ra còn thú vị hơn cả giải ô chữ.”
“Có thể. Nhưng một quyển tự điển nặng lắm. Thêm nữa, anh luôn ghét phải tra cứu thứ gì đó trong một quyển sách tham chiếu.”
“Anh có chơi cờ vua không? Em chẳng nhớ nữa. Giải các thế cờ thì sao? Trắng đi trước và chiếu hết sau ba nước, hay gì đó tương tự.”
“Điều duy nhất ở cờ vua mà anh quan tâm là hình dáng các quân cờ.”
“Hình dáng?”
“Những món đồ thật giàu tính trang trí, quân mã, quân tốt rồi còn những quân khác nữa. Rất thanh lịch.”
“Tuyệt làm sao. Em đã có thể mang tới cho anh một bộ cờ để chơi. Được thôi, không cờ vua. Anh có thể thực hiện một cuộc điều tra về học thuật. Đó là một dạng toán. Tìm lời giải cho một vấn đề chưa được giải quyết.”
“Ý em là tội ác? Anh thuộc lòng các hồ sơ vụ án rồi. Và chẳng thể làm gì thêm nữa với bất cứ vụ nào. Chắc chắn là không với một người đang nằm thẳng cẳng thế này.”
“Em không có ý nói tới thứ gì đó trong các tập hồ sơ của Sở Cảnh sát. Em muốn nói tới một thứ - nói thế nào cho đúng nhỉ? Một thứ kinh điển. Một điều đã đánh đố thế giới qua nhiều thế hệ.”
“Chẳng hạn là gì nào?”
“Thì những lá thư trong tráp chẳng hạn.”
“Ôi, đừng có là chuyện về Mary Nữ vương Scotland đấy!”
“Sao không?” Marta hỏi. Cũng như mọi nữ diễn viên, cô nhìn nhận Mary Stuart qua những lớp màn trắng huyền ảo.
“Anh có thể quan tâm tới một người phụ nữ xấu xa, nhưng không bao giờ quan tâm tới một phụ nữ ngốc nghếch.”
“Ngốc nghếch?” Marta nói bằng giọng quãng trầm hay nhất cho vai Electra của cô.
“Rất ngốc nghếch.”
“Ôi, Alan, sao anh có thể chứ?”
“Nếu bà ta đội một kiểu mũ khác, chắc hẳn đã không ai buồn để ý tới bà ta. Chính cái mũ ấy mới quyến rũ người khác.”
“Anh nghĩ bà ấy sẽ yêu ít mãnh liệt hơn nếu đội một cái mũ vải che nắng chăng?”
“Bà ta chẳng bao giờ yêu mãnh liệt cả, dù có đội loại mũ mão nào đi nữa.”
Marta trông như đang phẫn nộ hết mức mà cả cuộc đời trải qua trên sân khấu cùng một giờ trang điểm cẩn thận cho phép cô.
“Sao anh nghĩ thế?”
“Mary Stuart cao một mét tám. Gần như tất cả phụ nữ cao quá khổ đều lạnh lùng. Hãy hỏi bất cứ bác sĩ nào xem!”
Trong khi nói ra điều này, anh thầm tự hỏi tại sao trong suốt những năm qua, kể từ lần đầu tiên Marta chọn anh làm người tháp tùng dự bị khi cô cần, anh chưa từng băn khoăn liệu thái độ bình thản với đàn ông của cô có liên quan gì tới chiều cao hay không. Nhưng Marta không rút ra bất cứ so sánh nào; tâm trí cô vẫn còn để cả vào bà hoàng ưa thích của mình.
“Ít nhất bà ấy là một người tuẫn đạo. Anh sẽ phải đồng ý với điều đó.”
“Tuẫn đạo cho cái gà?”
“Tôn giáo của bà ấy.”
“Thứ duy nhất vì nó mà bà ta phải chịu hành xác [4] là bệnh thấp khớp. Bà ta đã kết hôn với Darnley mà không xin phép chuẩn của Giáo hoàng, và cưới Bothwell theo nghi lễ Tin lành.”
“Anh chắc sắp sửa nói với em bà ấy không phải là một tù nhân!”
“Vấn đề của em là em nghĩ bà ta bị nhốt trong một căn phòng nhỏ trên đỉnh một tòa lâu đài, với cửa sổ lắp song sắt cùng một người hầu già trung thành chia sẻ những lời cầu nguyện cùng bà ta. Trên thực tế là bà ta có cả đội ngũ gia nhân riêng gồm sáu mươi người. Bà ta đã cay đắng than vãn chẳng khác gì một kẻ hành khất khi đội ngũ này bị giảm xuống chỉ còn ba mươi, và thiếu chút nữa đã chết vì sầu muộn khi đội ngũ này teo tóp chỉ còn hai nam thư kí, vài tỳ nữ, một thợ thêu cùng một hay hai người nấu bếp. Và Elizabeth phải móc tiền túi để trả tiền cho tất cả đám gia nhân đó. Nữ vương đã chi trả trong hai mươi năm, và trong hai mươi năm, Mary Stuart mang vương miện Scotland đi rao khắp châu Âu chào mời bất cứ ai sẵn lòng khơi mào một cuộc bạo loạn để đưa bà ta trở lại ngai vàng mà bà ta đã đánh mất; hoặc để bà ta lên ngồi thế trên ngai vàng của Elizabeth.”
Anh nhìn Marta và thấy cô đang mỉm cười.
“Giờ chúng đã dễ chịu hơn chút nào chưa?” Cô hỏi.
“Cái gì dễ chịu hơn kia?”
“Những vết kim châm.”
Anh bật cười.
“Có đấy. Trong cả một phút anh đã quên khuấy chúng. Chí ít thì đó cũng là một điều tốt đẹp có thể tính cho Mary Stuart!”
“Sao anh biết nhiều về Mary thế?”
“Anh đã viết một bài luận về bà ta vào năm cuối ở trường.”
“Và như em thấy, anh không thích bà ấy.”
“Không thích những gì anh tìm hiểu được về bà ta.”
“Thế nên anh không nghĩ bà ấy là một bi kịch.”
“Ồ, có chứ, rất bi kịch. Nhưng không bi kịch theo bất cứ cách nào mà mọi người thường nghĩ về bà ta. Bi kịch nằm ở chỗ bà ta sinh ra đã là một Nữ vương với vẻ ngoài của một bà vợ nhà quê. Đánh bại bà Tudor ở phố bên cạnh là chuyện vô hại và thú vị; nó có thể khiến em mê mải vô lối trong những thứ vặt vãnh, nhưng việc này chỉ ảnh hưởng tới một mình em thôi. Khi em áp dụng cùng cách ấy cho các vương quốc, kết quả sẽ thật tai hại. Nếu em sẵn sàng lôi một đất nước mười triệu người ra làm tốt thí để đánh bại một đối thủ Hoàng gia, thì kết cục em sẽ trở thành một kẻ thất bại cô độc.” Anh nghĩ ngợi một chút rồi tiếp: “Bà ta hẳn sẽ thành công khi làm hiệu trưởng trường nữ sinh.”
“Đồ quỷ!”
“Anh có ý tốt mà. Đội ngũ nhân viên hẳn sẽ thích bà ta, và tất cả các cô bé hẳn sẽ tôn thờ bà ta. Đó là điều anh muốn nói về mặt bi kịch của bà ta.”
“Được lắm. Vậy có vẻ sẽ không phải là những lá thư trong tráp. Còn gì nữa nhỉ? Người đàn ông đeo mặt nạ sắt.”
“Anh không nhớ nổi anh ta là ai, nhưng anh không thể quan tâm tới bất cứ kẻ nào bị che kín sau một tấm mặt nạ sắt. Anh không đời nào quan tâm tới bất kỳ ai trừ phi có thể thấy mặt tay đó.”
“À, phải. Em quên mất niềm đam mê với các khuôn mặt của anh. Nhà Borgia có những khuôn mặt tuyệt đẹp. Em nghĩ họ có thể cung cấp cho anh một vài bí mật nho nhỏ để anh thử sức nếu muốn tìm hiểu về họ. Hay còn có Perkin Warbeck nữa, tất nhiên. Giả mạo luôn đầy mê hoặc. Là anh ta hay không phải là anh ta? Một trò chơi thật đáng yêu. Cán cân không bao giờ có thể nghiêng hoàn toàn về bên này hay bên kia. Anh ấn nó xuống và nó lại ngóc lên, giống như một con lật đật vậy.”
Cửa phòng hé mở và khuôn mặt chất phác của bà Tinker xuất hiện trong khe cửa, trên đầu đội chiếc mũ còn chất phác hơn và đã quá quen thuộc. Bà Tinker đội chiếc mũ ấy suốt từ lần đầu tiên bà bắt đầu “giúp việc” cho Grant, và anh chẳng tài nào hình dung nổi bà đội một chiếc mũ khác. Anh biết bà quả thực còn có một chiếc mũ nữa, vì nó đi cùng với một bộ đồ mà bà thường gọi là “ưu tư” [5] . “Ưu tư” của bà là thứ cho những dịp hiếm hoi và ngoại lệ, theo cả hai nghĩa này, và chưa bao giờ xuất hiện tại số 19 phố Tenby Court. Cái mũ đó được đội với một ý thức mang tính nghi lễ, một khi được đội, cái mũ đóng vai trò thước đo để đánh giá các sự kiện. (“Bà có thích nó không, Tink? Nó diễn ra thế nào?” “Chẳng đáng để mặc Ưu tư của tôi vào.”) Bà đã đội cái mũ vào dịp hôn lễ của Công chúa Elizabeth, cũng như nhiều sự kiện Hoàng gia khác, và quả thực bà đã hiện diện cùng cái mũ trong hai giây chớp nhoáng của một đoạn phim thời sự quay cảnh Nữ công tước xứ Kent cắt băng khánh thành, nhưng với Grant đó chỉ là một phóng sự; một tiêu chí cho giá trị xã hội của một sự kiện. Một thứ đáng hay không đáng để diện Ưu tư.
“Tôi nghe nói cậu có khách,” bà Tinker nói. “Tôi đã định ra về rồi thì chợt nghĩ giọng nói nghe quen quá, và tôi tự nhủ: ‘Chỉ là cô Hallard thôi’, vậy là tôi vào.”
Người phụ nữ ôm theo mấy cái túi giấy và một bó hoa mao lương buộc chặt. Bà chào Marta như phụ nữ chào phụ nữ, bởi đã từng có thời là người lo phục trang cho diễn viên, thế nên bà không có chút kính ngưỡng thái quá nào dành cho các nữ thần của thế giới sân khấu, bà khinh khỉnh nhìn về phía bó hoa tử đinh hương xinh đẹp bừng nở dưới sự chăm sóc của Marta. Marta không thấy ánh mắt đó nhưng cô nhìn thấy bó hoa mao lương nhỏ và kiểm soát tình huống như thể đây là một màn kịch cô đã tập qua.
“Em đã lãng phí món tiền thù lao chết đói của mình mua hoa tử đinh hương cho anh, thế rồi bà Tinker làm em bẽ bàng với mấy bông hoa huệ đồng nội.”
“Hoa huệ?” Bà Tinker hoài nghi hỏi.
“Những bông hoa này đẹp đẽ không kém gì ngài Solomon ăn vận hoa lệ [6] . Những bông hoa chẳng làm khó nhọc cũng không kéo chỉ. [7] ”
Bà Tinker chỉ tới nhà thờ dự hôn lễ và lễ rửa tội, song bà thuộc về một thế hệ đã từng tới học các lớp giáo lý. Bà nhìn bó hoa nhỏ lộng lẫy đang nằm lọt thỏm trong chiếc găng tay của mình.
“Vậy sao, tôi chưa bao giờ biết đấy. Như thế cũng có ý nghĩa hơn, phải không nào? Tôi vẫn luôn hình dung chúng là những cây chân bê. Từng cánh đồng bạt ngàn cây chân bê. Cô biết mà, đắt kinh khủng, nhưng có chút u sầu. Vậy là đám hoa này có màu sắc sao? Tại sao họ không nói thế? Sao họ lại phải gọi là hoa huệ chứ!”
Cả hai tiếp tục trò chuyện về dịch thuật, cũng như chuyện Kinh Thánh có thể nhầm lẫn như thế nào (“Tôi vẫn luôn tự hỏi bánh mì trên mặt biển là gì”, bà Tinker nói) và khoảnh khắc khó xử khi nãy liền trôi qua.
Trong khi họ vẫn còn bận bịu với Kinh Thánh, Nàng Bé cầm theo lọ hoa bước vào. Grant nhận thấy những cái lọ này được dành để đựng những bông tử đinh hương trắng chứ không phải cho những bông mao lương. Chúng là cách tỏ lòng với Marta; một tấm giấy thông hành để kéo gần khoảng cách. Nhưng Marta chẳng bao giờ bận tâm tới những người phụ nữ khác trừ khi cô cần gì tức thời ở họ; sự tế nhị của cô với bà Tinker chỉ là kỹ năng; một phản xạ đã được tôi luyện. Thế nên Nàng Bé bị giáng xuống vai trò chức năng thay vì vai trò xã giao. Cô nhặt những bông thủy tiên bị bỏ ra từ chậu rửa lên và nhu mì cắm trở lại vào một cái lọ. Nàng Bé nhu mì là hình ảnh tuyệt mỹ nhất đem đến niềm vui cho đôi mắt Grant sau một thời gian dài.
“Được rồi,” Marta nói, sau khi đã cắm xong bó tử đinh hương và đặt thành quả ở chỗ anh có thể nhìn thấy, “em sẽ để bà Tinker bón cho anh ăn tất cả những món ngon lành từ mấy cái túi giấy kia. Bà Tinker thân mến, liệu có phải một trong mấy cái túi này đựng món bánh nướng ‘cúc áo anh độc thân’ không?”
Khuôn mặt bà Tinker bừng lên.
“Cô có thích dùng thử một, hai cái không? Bánh vừa mới ra lò.”
“À, tất nhiên sau đó tôi sẽ phải hành xác sám hối, những cái bánh nướng bé nhỏ ngọt ngào này đúng là án tử hình cho vòng eo, nhưng bà cho tôi xin một đôi thôi, tôi cho vào túi để ăn chiều tại nhà hát.”
Cô chọn hai cái bánh với vẻ cân nhắc đầy tâng bốc (“Tôi thích chúng sém chút chút ở bên rìa”), cho vào xắc tay rồi nói: “Tạm biệt anh nhé, Alan. Một, hai hôm nữa em sẽ ghé và dạy anh đan một cái tất. Theo tôi hiểu không có gì làm người ta thư giãn như đan cả. Phải vậy không, cô điều dưỡng?”
“À, vâng. Phải rồi, đúng thế. Rất nhiều nam bệnh nhân của tôi tập đan. Họ thấy cách này giúp thời gian trôi đi rất nhẹ nhàng.”
Ra tới cửa, Marta hôn gió anh một cái rồi đi về, theo sau là Nàng Bé đầy cung kính.
“Tôi sẽ ngạc nhiên nếu thứ hư hỏng này có thể khá hơn.” bà Tinker nói, bắt đầu mở các túi giấy ra. Không phải bà đang ám chỉ Marta.