Con Gái Của Thời Gian

Lượt đọc: 379 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

Nhưng hai ngày sau, khi Marta trở lại, thứ cô mang theo không phải que đan và len. Cô lướt vào nhẹ nhàng như làn gió, thật duyên dáng với chiếc mũ Cossack được đội một cách hờ hững ngang tàng, việc này hẳn đã làm cô mất vài phút trước tấm gương ngay sau bữa trưa.

“Em không ở lại đâu, anh yêu. Em đang trên đường tới nhà hát. Hôm nay có suất diễn ban ngày, xin Chúa hãy giúp em. Những khay trà và những gã khờ. Tất cả bọn em vẫn phải bước lên cái sân khấu kinh khủng kia khi các dòng thoại đã trở nên vô nghĩa với bọn em. Em không nghĩ vở kịch này sẽ có cơ thành công. Nó sẽ giống những vở kịch ở New York được trình diễn ròng rã trong cả thập niên thay vì mỗi năm. Thật quá kinh khủng. Chẳng thể nào giữ tâm trí tập trung vào vai diễn được. Geoffrey đã khô queo giữa màn hai tối qua. Đôi mắt anh ta gần như trồi ra khỏi đầu. Trong khoảnh khắc, thậm chí em đã nghĩ anh ta bị đột quỵ. Sau đó anh ta nói là mình chẳng nhớ nổi bất cứ việc gì diễn ra từ lúc anh ta ra sân khấu cho tới thời điểm anh ta bừng tỉnh và nhận ra mình đang ở giữa màn kịch.”

“Ý em là mất trí nhớ tạm thời?”

“Không. Ồ, không. Chỉ là như một cái máy thôi. Đọc thoại, diễn xuất và đồng thời nghĩ tới chuyện khác.”

“Nếu tất cả những lời kể lại đều đúng thì chuyện đó chẳng phải điều gì khác thường với các diễn viên.”

“Ồ, trong giới hạn chừng mực thì không. Johnny Garson có thể nói với anh trong nhà có bao nhiêu giấy khi anh ta nức nở trút sầu muộn từ trái tim mình ra trong lòng ai đó. Nhưng chuyện ấy khác hẳn việc “mất hồn” trong suốt nửa màn. Anh có thể tưởng tượng nổi Geoffrey đã đuổi con trai mình khỏi nhà, cãi cọ với nhân tình, buộc tội vợ tằng tịu với người bạn thân nhất của anh ta mà chẳng có chút ý thức nào về tất cả những việc đó không?”

“Vậy anh ta đã ý thức được gì?”

“Anh ta nói đã quyết định nhượng lại căn hộ ở Park Lane của mình cho Dolly Dacre và mua ngôi nhà thời Charles II ở Richmond mà nhà Latimer đang rao bán vì anh ta giành được vai Tổng trấn đó. Anh ta đã nghĩ tới tình trạng thiếu phòng tắm và quyết định rằng căn phòng nhỏ trên lầu với bình phong giấy Trung Hoa thế kỷ 18 sẽ là một phòng tắm rất tốt. Họ sẽ mang tấm bình phong giấy đẹp đẽ đi và dùng nó để trang trí căn phòng nhỏ buồn tẻ ở tầng dưới, đằng sau nhà. Căn phòng nhỏ buồn tẻ đó đầy những tấm ván lát thời Victoria. Anh ta cũng kiểm tra lại hệ thống thoát nước, băn khoăn không rõ liệu mình có đủ tiền để gỡ hết gạch men cũ đi mà thay mới, và cân nhắc xem trong bếp đang có dụng cụ nấu nướng nào. Anh ta vừa mới quyết định nhổ bỏ bụi cây ngoài cổng thì nhận ra mình đang nói dở dang một câu thoại, đối diện với em trên sân khấu, trước chín trăm tám mươi bảy khán giả có mặt. Anh có tưởng tượng nổi hai mắt anh ta lồi ra không. Em thấy anh đã cố đọc ít nhất một trong những quyển sách em đã mang tới cho anh, nếu lấy bìa sách có nếp gập là một tiêu chí.”

“Phải. Quyển sách về núi. Quả là một bất ngờ thú vị. Anh nằm hàng giờ nhìn các bức ảnh. Không gì khiến người ta có cảm ngộ sâu sắc nhanh như một ngọn núi.”

“Em thấy các ngôi sao còn hơn thế.”

“Ồ, không. Các ngôi sao chỉ khiến người ta bị đẩy xuống vị thế của một con a-míp. Các ngôi sao đoạt mất chút vết tích tự hào cuối cùng, tia tự tin cuối cùng khỏi một con người. Nhưng một ngọn núi tuyết phủ là một mốc tham chiếu tốt vừa cỡ. Anh nằm nhìn đỉnh Everest và cảm ơn Chúa rằng anh đã không leo lên những sườn núi đó. Giường bệnh viện là một nơi trú ẩn ấm áp, thư thái và an toàn khi so sánh với chúng, và Nàng Bé cũng như Nàng Amazon là hai trong số những thành tựu cao nhất của văn minh.”

“À, được lắm, thêm ảnh nữa cho anh đây.”

Marta xoay ngược cái phong bì cỡ quarto [8] cô đang cầm và đổ một tập các tờ giấy rời lên ngực anh.

“Cái gì thế?”

“Những khuôn mặt,” Marta vui vẻ nói. “Hàng tá khuôn mặt dành cho anh. Đàn ông, phụ nữ, và trẻ con. Đủ loại, đủ bối cảnh, đủ kích cỡ.”

Anh cầm một tờ lên khỏi ngực mình và nhìn vào nó. Đây là bản in khắc của một bức chân dung vẽ vào thế kỷ 15. Một phụ nữ.

“Ai đây?”

“Lucrezia Borgia. Bà ta không phải một kẻ khờ nhỉ?”

“Có lẽ thế, nhưng em đang ngụ ý là có bí ẩn nào đó về bà ta đấy à?”

“Ồ, phải. Chưa từng có ai khẳng định được liệu bà ta bị lợi dụng hay là tòng phạm của anh trai mình.”

Anh bỏ qua Lucrezia và cầm tờ giấy thứ hai lên. Đây là chân dung của một cậu bé con mặc trang phục thời cuối thế kỷ 18, bên dưới bức tranh có in một từ bằng chữ cái hoa mờ mờ: Louis XVII.

“Giờ là một bí ẩn đẹp đẽ cho anh đây,” Marta nói. “Thái tử Pháp. Liệu cậu bé đã trốn thoát hay chết trong cảnh giam cầm?”

“Em kiếm đâu ra tất cả những thứ này thế?”

“Em đã lôi cổ James ra khỏi cái xó của anh ta ở bảo tàng Victoria và Albert, rồi bắt anh ta phải dẫn em tới một tiệm in. Em biết anh ta thể nào cũng biết về những thứ kiểu đó, và em biết chắc chẳng có thứ gì làm anh ta bận tâm tại V và A. hết.”

Thật đúng chất Marta khi coi việc một viên chức dân sự sẵn sàng rời vị trí làm việc để mò tới lục lọi trong các tiệm in để làm vui lòng cô như chuyện đương nhiên, bởi anh chàng này tình cờ lại là một nhà viết kịch và một người có uy tín về hiểu biết tranh chân dung.

Anh cầm lên một ảnh chụp lại một bức chân dung thời Elizabeth. Một người đàn ông mặc trang phục bằng nhung đính những viên ngọc trai. Anh lật mặt sau để xem nhân vật này là ai và biết được ông ta là Bá tước xứ Leicester.

“Vậy ra đây là chàng Robin của Elizabeth,” anh nói. “Anh nghĩ mình chưa từng thấy qua chân dung của ông ta trước đây.”

Marta nhìn xuống khuôn mặt béo tốt đầy nam tính và nói: “Lần đầu tiên em cảm thấy một trong những bi kịch chính của lịch sử là những họa sĩ tài năng nhất lại vẽ chân dung ta khi ta đã qua thời đẹp đẽ nhất. Robin chắc hẳn từng là một người đàn ông khá tuấn tú. Người ta nói Henry VIII thật cuốn hút khi còn thanh niên, nhưng giờ thì ông ấy thế nào? Một thứ chân dung trên lá bài. Ngày nay, chúng ta biết Tennyson từng thế nào trước khi ông ấy nuôi bộ râu kinh khủng đó. Em phải chạy thôi. Em muộn rồi đây này. Em đã ăn trưa tại Blague, và có quá nhiều người đến bắt chuyện làm em không thể chuồn sớm như đã định.”

“Anh hy vọng là em đã gây ấn tượng với bà chủ tiệc.” Grant nói, đồng thời liếc nhìn cái mũ.

“Ồ, vâng. Bà ấy hiểu biết về những cái mũ. Bà ấy nhìn qua một lần và nói: ‘Tôi đoán là Jacques Tous.’”

“Là bà ấy!” Grant ngạc nhiên thốt lên.

“Phải. Madeleine March. Và em mới là người mời bà ấy ăn trưa. Đừng có vẻ quá ngạc nhiên vậy chứ: như thế chẳng lịch thiệp chút nào. Nếu anh nhất thiết muốn biết, thì em đang hy vọng bà ấy viết cho em vở kịch về Phu nhân Blessington. Nhưng có quá nhiều người tạt qua tạt lại tới mức em chẳng có cơ hội để tạo được chút ấn tượng nào cho bà ấy. Tuy nhiên, em đã đãi bà ấy một bữa tuyệt hảo. Chuyện này làm em nhớ Tony Bittmaker lúc ấy đang đãi một nhóm bảy người. Những chai magnum tuôn như suối. Anh có thể hình dung anh ta làm thế nào mà sống sót được không?”

“Không mảy may.” Grant nói, và cô bật cười rồi ra về.

Anh im lặng trở lại với chàng Robin của Elizabeth. Có bí ẩn nào về Robin đây nhỉ?

Ồ, có chứ. Amy Robsart, đương nhiên rồi.

À, anh chẳng có hứng thú với Amy Robsart. Anh không quan tâm cô ta đã ngã cầu thang như thế nào, hay tại sao.

Nhưng anh đã trải qua một buổi chiều thật thú vị với những khuôn mặt còn lại. Từ rất lâu trước khi gia nhập đội cảnh sát, anh đã có sở thích với những khuôn mặt. Trong những năm anh làm việc tại Sở cảnh sát London, sở thích ấy đã chứng tỏ nó vừa là một thú vui cá nhân vừa là một lợi thế trong nghề nghiệp. Có lần, lúc mới vào nghề, anh cùng sĩ quan phụ trách của mình ghé vào tham dự một cuộc nhận diện. Đó không phải vụ án anh phụ trách, cả hai người họ đều có mặt ở đó vì việc khác, song họ đã nán lại ở đằng sau và quan sát trong khi một người đàn ông và một phụ nữ, từng người một, đi dọc trước hàng mười hai người đàn ông không được cho biết danh tính, tìm kiếm người mà họ hy vọng sẽ nhận ra.

“Ai là anh chàng đó, cậu biết không?” Viên sĩ quan thì thầm hỏi anh.

“Tôi không biết,” Grant nói, “nhưng tôi có thể đoán.”

“Cậu có thể? Vậy cậu đoán là ai?”

“Người thứ ba từ trái sang.”

“Hành vi phạm tội là gì nhỉ?”

“Tôi không biết. Chẳng biết chút gì về vụ này cả.”

Sếp của anh đã dành cho anh một cái nhìn thú vị. Nhưng khi cả người đàn ông lẫn người phụ nữ đều không thể nhận diện được ai rồi ra về và hàng người vỡ ra thành một nhóm người vừa rôm rả trò chuyện vừa kéo cổ áo, chỉnh cà vạt để chuẩn bị trở lại đường phố cùng thế giới thường ngày sau khi bị triệu tập để tới hỗ trợ cho pháp luật, người duy nhất không nhúc nhích là người đàn ông thứ ba từ trái sang. Người đàn ông thứ ba từ trái sang chờ đợi nhân viên áp giải mình đầy cam chịu rồi bị đưa trở về buồng giam.

“Ái chà!” Viên sĩ quan phụ trách đã nói. “Xác suất đúng một trên mười hai, và cậu đoán được. Cừ đấy. Cậu này đã chọn trúng phóc gã của anh từ đám người,” ông này giải thích với vị Thanh tra sở tại.

“Anh có biết gã đó không?” Vị thanh tra hỏi, có chút ngạc nhiên. “Theo những gì chúng tôi biết, gã này chưa bao giờ có rắc rối gì với pháp luật trước đây cả.”

“Không, tôi chưa từng thấy anh ta trước đây. Tôi thậm chí còn không biết hành vi phạm tội là gì.”

“Vậy điều gì khiến anh chọn hắn?”

Grant do dự, lần đầu tiên anh phân tích quá trình lựa chọn của mình. Đó không phải là một suy luận. Anh không bảo: “Khuôn mặt người đàn ông đó có tính chất này hay tính chất kia, do đó anh ta là kẻ bị cáo buộc.” Lựa chọn của anh gần như trực giác; lý do nằm ẩn trong tiềm thức của anh. Cuối cùng, sau khi đã lục tìm trong tiềm thức mình, anh buột miệng: “Anh ta là người duy nhất trong mười hai người không có nếp nhăn nào trên khuôn mặt.”

Họ bật cười khi nghe thế. Nhưng một khi đã đưa tất cả ra ánh sáng, Grant nhìn thấy rõ cách trực giác của mình đã hoạt động và nhận ra lập luận đằng sau nó. “Nghe có vẻ ngớ ngẩn, nhưng không hề,” anh nói. “Người trưởng thành mà không có nếp nhăn trên khuôn mặt chỉ có thể là gã ngốc.”

“Freeman không phải gã ngốc, tôi có thể cam đoan điều đó,” vị thanh tra chen vào. “Một gã lừa đảo rất ranh mãnh, hãy tin tôi.”

“Ý tôi không phải vậy. Tôi muốn nói một gã ngốc là kẻ vô trách nhiệm. Mười hai người tham gia cuộc nhận diện đó đều đã ngoài ba mươi rồi, nhưng chỉ có một người mang khuôn mặt vô trách nhiệm. Vậy là tôi lập tức chọn hắn.”

Sau đó ở Sở đã lưu hành một lời đùa cợt nhẹ nhàng rằng Grant có thể “liếc mắt là nhận trúng phóc bọn chúng”. Ông Phó giám đốc Sở từng có lần nói bỡn: “Đừng nói với tôi rằng anh tin có một thứ kiểu như khuôn mặt tội phạm đấy, ông thanh tra.”

Nhưng Grant đã nói không, anh không có ý đơn giản như vậy. “Nếu chỉ có một loại tội thôi, thưa ngài, thì có thể lắm; nhưng các hành vi phạm tội cũng đa dạng như bản chất con người vậy, nếu một cảnh sát bắt đầu phân loại những khuôn mặt, anh ta sẽ gặp rắc rối to. Ta có thể nói chung chung về nhân dạng của những phụ nữ tai tiếng bằng cách tản bộ xuống phố Bond vào bất cứ ngày nào lúc từ 5 tới 6 giờ, ấy thế nhưng người phụ nữ tai tiếng nhất ở London trông lại hệt như một vị thánh lạnh lùng.”

“Gần đây thì không thánh thiện đến thế đâu; dạo này cô ta uống quá nhiều,” ông Phó giám đốc Sở đã nói vậy, chỉ thoáng qua là biết Grant ám chỉ ai, rồi lái cuộc trò chuyện sau đó sang chủ đề khác.

Nhưng mối quan tâm tới những khuôn mặt của Grant vẫn còn đó và mở rộng cho tới khi nó trở thành một nghiên cứu có ý thức. Một nghiên cứu dựa trên các hồ sơ vụ án và những so sánh. Như anh đã nói, không thể đưa ra bất cứ hệ thống phân loại nào cho các khuôn mặt, nhưng có thể đánh giá tính cách của từng khuôn mặt cá thể. Chẳng hạn, một cuốn sách về một phiên tòa nổi tiếng, trong đó ảnh chụp các nhân vật chủ chốt của phiên tòa được trưng ra thu hút sự quan tâm của công chúng, không bao giờ có chút nghi ngờ nào về vấn đề đâu là bị cáo và đâu là thẩm phán. Đôi khi, có thể nhầm một thành viên luật sư đoàn là kẻ trên ghế bị cáo dựa trên vẻ bề ngoài - nói cho cùng luật sư đoàn chỉ là một lát cắt của nhân loại, cũng bị cám dỗ bởi đam mê và tham lam như phần còn lại của thế giới, nhưng một thẩm phán có một phẩm chất đặc biệt: sự vô tư chính trực và vẻ độc lập. Bởi thế, ngay cả khi vắng bóng bộ tóc giả, người ta cũng không thể nhầm được giữa vị thẩm phán và kẻ trên ghế bị cáo, nhân vật chẳng hề có sự vô tư chính trực ấy.

Bản thân anh chàng James của Marta, sau khi bị lôi ra khỏi cái xó của mình, rõ ràng đã rất hào hứng, và một bộ sưu tập thú vị những kẻ phạm tội hay nạn nhân của họ đã mua vui cho Grant tới tận lúc Nàng Bé mang trà tới cho anh. Trong khi sắp xếp các bức ảnh gọn ghẽ lại để cất chúng vào ngăn kéo, bàn tay anh chợt chạm vào một bức ảnh đã trượt khỏi ngực anh và nằm yên cả buổi chiều trên tấm ga trải giường không được để ý tới. Anh cầm nó lên xem.

Đó là chân dung một người đàn ông đội mũ nhung cùng chiếc áo chẽn có những đường xẻ kiểu thời cuối thế kỷ 15. Một người đàn ông chừng ba mươi lăm hay ba mươi sáu tuổi, khuôn mặt gầy được cạo nhẵn nhụi. Ông ta mang một vòng cổ áo nạm đá quý lộng lẫy, đeo một chiếc nhẫn ở ngón út tay phải. Nhưng người đàn ông không nhìn vào chiếc nhẫn. Ông ta đang nhìn ra khoảng không phía trước mình.

Trong tất cả những bức chân dung Grant đã xem qua chiều nay, đây là bức cá biệt nhất. Như thể họa sĩ đã nỗ lực đưa lên tấm toan một thứ mà tài năng của ông ta không đủ để thể hiện qua sơn dầu. Biểu cảm của đôi mắt - biểu cảm thu hút sự chú ý và mang tính cá thể nhất - đã đánh bại ông ta. Cả khuôn miệng cũng vậy: người họa sĩ đã không biết làm cách nào để làm cho đôi môi vừa mỏng vừa rộng như thế trông có vẻ ưu tư, vậy là khuôn miệng bức chân dung cứng đờ và thất bại. Điều họa sĩ thành công hơn cả là cấu trúc xương của khuôn mặt: hai gò má gồ lên mạnh mẽ, hai phần hõm xuống bên dưới chúng, cái cằm quá to cho sức mạnh.

Grant dừng lại khi sắp sửa lật tờ ảnh để suy xét khuôn mặt thêm chút nữa. Một quan tòa chăng? Một người lính? Hay một ông hoàng? Ai đó quen với trách nhiệm lớn lao, và có trách nhiệm với quyền lực của mình. Một người quá tận tâm. Một kẻ luôn lo lắng; có lẽ là một kẻ cầu toàn. Một người thoáng về đại thể, nhưng rất tỉ mẩn về tiểu tiết. Một ứng cử viên cho bệnh loét dạ dày. Cũng là người đã phải chịu nhiều ốm đau khi còn là một đứa trẻ. Người đàn ông này mang biểu cảm không thể truyền đạt, không thể mô tả mà những giày vò thời thơ ấu để lại đằng sau; ít tích cực hơn biểu cảm trên một khuôn mặt chán nản, nhưng cùng mức độ vô phương giải thoát. Điều này họa sĩ đã hiểu và chuyển tải được bằng sơn dầu. Hai mí mắt dưới hơi phồng, như của một đứa trẻ ngủ quá nhiều; rồi nước da; nước da của một ông lão trên một khuôn mặt trẻ trung.

Anh lật mặt sau tờ ảnh để tìm chú dẫn.

Trên mặt sau có in: Richard Đệ Tam. Từ bức chân dung tại Phòng trưng bày Chân dung Quốc gia. Họa sĩ khuyết danh.

Richard Đệ Tam.

Vậy ra là nhân vật này. Richard Đệ Tam. Gã Gù. Con quái vật trong các câu chuyện dọa trẻ con. Kẻ hủy diệt những người vô tội. Đồng nghĩa với sự xấu xa.

Anh lật tờ ảnh trở lại và tiếp tục nhìn bức chân dung. Có phải đó là điều họa sĩ đã cố thể hiện khi vẽ đôi mắt đó không? Liệu có phải điều anh ta đã trông thấy trong đôi mắt đó là ánh mắt của một người đàn ông bị ám ảnh?

Anh nằm nhìn hồi lâu vào khuôn mặt; vào đôi mắt khác thường đó. Đó là hai con mắt hẹp dài, nằm sát dưới đôi lông mày; đôi lông mày hơi dịch vào nhau trong cái cau mày lo lắng cẩn thận thái quá. Thoạt nhìn qua, đôi mắt này có vẻ đang nhìn chằm chằm; nhưng khi nhìn kỹ, người ta nhận ra kỳ thực chúng đang thu mình lại, gần như tâm bất tại.

Khi Nàng Bé trở lại để mang cái khay của anh đi, anh vẫn đang nhìn chăm chăm vào bức chân dung. Đã nhiều năm nay anh không bắt gặp khuôn mặt nào thế này. Nó khiến La Gioconda trông chẳng khác gì một tờ áp phích.

Nàng Bé nhìn tách trà vẫn rỗng không của anh, đưa một bàn tay thành thạo áp vào thành ấm trà chỉ còn hơi âm ấm và bĩu môi. Cô tỏ ý rằng mình còn việc quan trọng khác để làm hơn chuyện mang các khay trà tới để rồi anh dửng dưng.

Anh chìa bức chân dung về phía nàng điều dưỡng.

“Cô nghĩ sao về nó? Nếu người đàn ông này là bệnh nhân, thì lời chẩn đoán cô sẽ đưa ra là gì?”

“Gan,” cô nói một cách quả quyết, rồi mang cái khay bước đi với những cú dậm gót thật mạnh hàm ý phản đối, sự cám dỗ tỏa ra từ bộ đồ hồ bột trắng bóc và những lọn tóc vàng óng lượn sóng.

Nhưng vị bác sĩ ngoại khoa dễ mến và thoải mái, bước vào cùng lúc nàng điều dưỡng đi ra, lại có quan điểm khác. Ông này nhìn vào bức chân dung như được đề nghị, rồi nói sau một lát xem xét chăm chú:

“Bệnh bại liệt.”

“Bại liệt trẻ em sao?” Grant nói; và đột nhiên nhớ ra Richard Đệ Tam có một cánh tay bị teo.

“Ai thế?” Vị bác sĩ ngoại khoa hỏi.

“ Richard Đệ Tam.”

“Thật sao? Thú vị đấy.”

“Bác sĩ có biết ông ấy có một cánh tay bị teo không?”

“Thế à? Tôi không nhớ chuyện đó. Tôi nghĩ ông ấy là một người gù lưng.”

“Đúng vậy.”

“Thứ tôi thực sự nhớ là ông ấy được sinh ra với đủ cả hai hàm răng và ăn ếch sống. À, chẩn đoán của tôi dường như chính xác lạ thường.”

“Một cách kỳ lạ. Cái gì khiến bác sĩ chẩn bệnh bại liệt vậy?”

“Bây giờ, khi ông yêu cầu khẳng định, thì tôi cũng không rõ nữa, chỉ đơn thuần là dáng vẻ khuôn mặt, tôi đoán vậy. Đó là biểu cảm thường thấy trên khuôn mặt một đứa trẻ bị liệt. Nếu ông ấy sinh ra đã bị gù lưng thì đấy là nguyên nhân cho bộ mặt này chứ không phải bệnh bại liệt. Tôi thấy họa sĩ đã bỏ cái bướu gù đi.”

“Phải. Các họa sĩ cung đình cần phải biết phép lịch sự. Phải tới tận thời Cromwell, những người ngồi làm mẫu mới yêu cầu vẽ ‘kể cả những cái mụn cơm’”.

“Nếu ông hỏi tôi,” ông bác sĩ ngoại khoa nói, lơ đãng xem xét thanh nẹp chân của Grant, “Cromwell đã bắt đầu phong cách tự ngược phù phiếm mà tất cả chúng ta ngày nay đều đang chịu khổ vì nó. ‘Ta là một người giản dị; chớ có làm trò vớ vẩn gì với ta.’ Và không kiểu cách, lịch lãm, hay hào phóng cũng không.” Ông ta véo ngón chân cái của Grant với sự quan tâm thuần túy chuyên môn. “Đó là một căn bệnh đang bùng phát. Một thứ trụy lạc khủng khiếp. Tôi hiểu rằng ở một vài vùng của xứ này, cũng như trong đời sống chính trị của một con người, họ cần phải tới một số khu vực bầu cử với đủ cà vạt và áo vét chỉnh tề. Đó là tỏ vẻ chỉn chu. Lý tưởng là trông như một người cùng hội cùng thuyền. Cái đó trông có vẻ rất tốt đấy,” ông bác sĩ nói thêm, ám chỉ ngón chân cái của Grant, rồi tự trở lại bức chân dung nằm trên tấm ga giường.

“Thật thú vị,” ông ta nói, “về chuyện bại liệt ấy. Có thể đó thực sự là bại liệt, nó lý giải cho cánh tay bị teo.” Vị bác sĩ tiếp tục ngắm nhìn bức hình, không có động thái nào định rời đi. “Dù sao cũng thật thú vị. Chân dung của một kẻ sát nhân. Ông nói sao, ông ta khớp với loại người đó chứ?”

“Không có cái gọi là kiểu người sát nhân. Người ta giết người vì quá nhiều lý do khác nhau. Nhưng tôi không thể nhớ bất kỳ kẻ sát nhân nào, dù là trong trải nghiệm của chính mình hay trong các hồ sơ vụ án lại giống với ông ta.”

“Tất nhiên ông ấy là kẻ hung ác trong tầng lớp của mình, phải không nào? Ông ta hẳn không biết đến ý nghĩa của áy náy.”

“Không.”

“Tôi từng có lần xem Olivier diễn vai ông ấy. Đó quả là màn trình diễn choáng ngợp nhất của sự xấu xa thuần chất. Luôn bên bờ vực chống chếnh muốn rơi sang lố bịch, nhưng không bao giờ rơi vào tình trạng đó.”

“Khi tôi đưa cho ông xem bức chân dung,” Grant nói, “trước khi ông biết người này là ai, ông có nghĩ tới sự xấu xa không?”

“Không,” vị bác sĩ ngoại khoa nói, “không, tôi đã nghĩ tới bệnh tật.”

“Thật lạ phải không nào? Tôi cũng không nghĩ tới sự xấu xa. Và giờ khi tôi đã biết người này là ai, khi tôi đã đọc được cái tên ở mặt sau tấm ảnh, tôi không thể nghĩ gì khác về người này ngoài sự xấu xa.”

“Tôi đoán sự xấu xa, cũng như vẻ đẹp, nằm ở mắt người nhìn. Được rồi, lần tới tôi sẽ tới thăm bệnh vào cuối tuần. Lúc này ông không cảm thấy đau ở đâu cả chứ?”

Và ông bác sĩ rời đi, cũng dễ mến và thoải mái như khi đến.

Chỉ sau khi đã săm soi tỉ mỉ bức chân dung (anh thấy khó chịu vì đã nhầm một trong những kẻ sát nhân trứ danh nhất từ cổ chí kim thành một vị thẩm phán; di chuyển một đối tượng từ ghế bị cáo lên ghế quan tòa quả là một sự vô lý tột cùng), Grant mới nhận ra bức chân dung đã được dùng để cung cấp một đầu mối điều tra.

Có gì bí ẩn về Richard Đệ Tam nhỉ?

Thế rồi anh nhớ ra. Richard đã sát hại hai cháu trai mình, nhưng không ai rõ bằng cách nào. Hai cậu bé chỉ đơn giản là biến mất. Nếu anh nhớ đúng, hai cậu bé đã biến mất khi Richard không có mặt tại London. Richard đã sai ai đó thực thi tội ác. Nhưng bí ẩn về số phận thực sự của hai đứa trẻ chưa bao giờ được giải quyết. Hai bộ hài cốt đã được tìm thấy - bên dưới một cầu thang nào đó thì phải - dưới thời Charles Đệ Nhị, và đã được chôn cất. Người ta đương nhiên coi hai bộ hài cốt này là di thể của các Tiểu vương tử, song chưa từng có bất cứ điều gì được chứng minh.

Một người được giáo dục tốt sẽ thật bàng hoàng khi nhận ra lịch sử còn đọng lại ít ỏi đến mức nào. Tất cả những gì anh biết về Richard Đệ Tam là ông này là em trai Edward Đệ Tứ. Edward là một người tóc vàng, cao một mét tám với khuôn mặt khá ấn tượng và cách hành xử còn ấn tượng hơn với phụ nữ; còn Richard là một gã gù đã soán ngôi Vương tử thiếu niên kế vị sau khi anh trai gã qua đời, rồi mưu sát người thừa kế và cậu em trai để tránh cho mình khỏi gặp thêm rắc rối. Anh cũng biết Richard đã chết trong trận Bosworth khi đang hét lớn đòi một con ngựa, và ông ta là người cuối cùng trong dòng dõi của mình. Thành viên cuối cùng của nhà Plantagenet.

Mọi cậu học trò đều lật qua trang cuối cùng về Richard Đệ Tam trong tâm trạng nhẹ nhõm, bởi vì đến đây rốt cuộc Chiến tranh Hoa hồng đã chấm dứt và họ có thể chuyển sang nhà Tudor, những nhân vật chán ngắt nhưng dễ theo dõi.

Khi Nàng Bé tới xếp dọn gọn gàng cho anh chuẩn bị đi ngủ, Grant nói: “Không biết cô có cuốn sách lịch sử nào không nhỉ?”

“Một cuốn sách lịch sử? Không. Tôi biết làm gì với một cuốn sách lịch sử chứ.” Đây không phải là một câu hỏi, thế nên Grant không thử đưa ra một câu trả lời. Việc anh im lặng có vẻ làm cô điều dưỡng bực bội.

“Nếu ông thực sự muốn một cuốn sách lịch sử,” cô nói sau một lát, “ông có thể hỏi điều dưỡng Darroll khi cô ấy mang bữa tối vào cho ông. Cô ấy có tất cả sách giáo khoa để trên một cái giá trong phòng mình, rất có thể trong số đó có một cuốn sách lịch sử.”

Thật đúng là Nàng Amazon khi giữ sách giáo khoa của mình như thế! Anh thầm nghĩ. Cô này vẫn còn nhớ trường học như cô nhớ Gloucestershire mỗi lần hoa thủy tiên vàng nở. Khi cô điều dưỡng nặng nhọc bước vào phòng mang theo bánh pudding pho mát và đại hoàng chưng đường, anh nhìn cô với một sự khoan dung hầu như là nhân từ. Cô gái không còn là một cô nàng bự con thở sòng sọc như cái máy hút đờm mà trở thành một người ban phát niềm vui đầy tiềm năng.

Ồ vâng, tôi có một cuốn sách lịch sử, cô điều dưỡng nói. Kỳ thực, cô nghĩ có lẽ mình có hai cuốn. Cô gái giữ lại tất cả sách giáo khoa vì cô rất yêu thích trường học.

Câu hỏi liệu cô còn giữ cả những con búp bê của mình hay không đã chòi lên tới đầu lưỡi Grant, song anh kìm lại kịp thời.

“Tất nhiên, tôi yêu thích lịch sử,” cô gái nói. “Đó là môn học ưa thích của tôi. Richard Sư tử tâm là anh hùng của tôi.”

“Một kẻ thô lỗ không thể chấp nhận được,” Grant nói.

“Ồ, không!” Cô điều dưỡng thốt lên, có vẻ bị tổn thương.

“Một gã cường giáp,” Grant nói không chút nương nhẹ. “Bay tới bay lui trên mặt đất như một quả pháo hoa xịt. Cô sắp hết ca làm rồi chứ?”

“Khi nào tôi dọn xong những cái khay này.”

“Cô có thể tìm cuốn sách đó cho tôi tối nay không?”

“Lý ra ông phải chuẩn bị đi ngủ chứ không phải thức đọc sách lịch sử.”

“Tôi có thể hoặc đọc một chút lịch sử hoặc thay vì thế nhìn chằm chằm lên trần nhà. Cô sẽ mang cuốn sách tới cho tôi chứ?”

“Tôi không nghĩ mình có thể đi tới tận khu nhà dành cho điều dưỡng rồi trở lại đây tối nay với Sư tử tâm cho một người thô lỗ.”

“Được rồi,” anh nói. “Tôi không phải loại người tử vì đạo. Về cá nhân tôi mà nói, Sư tử tâm là hình mẫu của tinh thần thượng võ, là hiệp sĩ không biết sợ và không thể chê trách, một chủ soái không khiếm khuyết và ba lần được nhận huân chương Phụng sự Xuất sắc. Giờ cô sẽ về lấy cuốn sách cho tôi chứ?”

“Có vẻ ông đang rất cần đọc chút ít lịch sử,” cô điều dưỡng nói, trong khi vuốt phẳng phiu một góc ga trải giường bị gập chéo bằng bàn tay to bản đáng ngưỡng mộ. “Vậy tôi sẽ mang cho ông cuốn sách khi tôi đi ngang qua. Dù sao tôi cũng ra ngoài đi xem phim.”

Gần một tiếng trôi qua cô mới xuất hiện trở lại, thật đường bệ trong một chiếc áo khoác lông lạc đà. Đèn trong phòng đã được tắt và cô điều dưỡng xuất hiện trong quầng sáng cây đèn đọc sách của anh như một nàng tiên thiện lành.

“Tôi cứ hy vọng ông đã ngủ,” cô gái nói. “Tôi nghĩ ông không nên bắt đầu đọc những thứ này tối nay.”

“Nếu có thứ gì giúp tôi dễ ngủ nhất,” anh nói, “thì đó hẳn là một cuốn sách lịch sử Anh. Bởi vậy cô có thể nắm tay lương tâm thanh thản đi được rồi.”

“Tôi sẽ đi với điều dưỡng Burrows.”

“Thì vẫn có thể nắm tay nhau mà.”

“Tôi không thể kiên nhẫn nổi với anh,” cô gái nói thật kiên nhẫn rồi khuất trở lại vào bóng tối.

Cô đã mang tới hai cuốn sách.

Một cuốn thuộc loại sách lịch sử được gọi là Kể chuyện Lịch sử. Cuốn sách này có quan hệ với lịch sử cũng giống như mối quan hệ giữa Các câu chuyện về Kinh Thánh với bản thân Kinh Thánh. Canute trách cứ các triều thần bên bờ biển, Alfred làm cháy những chiếc bánh, Raleigh trải áo khoác cho Elizabeth, Nelson từ biệt Hardy trong khoang trên tàu Victory, tất cả bằng thứ chữ in cỡ to rõ ràng đẹp đẽ, mỗi tiểu đoạn là một câu. Với mỗi câu chuyện có một hình minh họa chiếm trọn một trang sách.

Có điều gì đó đáng tò mò trong việc Nàng Amazon nâng niu thứ văn chương trẻ con này. Anh chuyển sang trang để trắng ở đầu sách xem có tên cô ở đó không. Trên trang này viết:

Ella Darroll,

Năm III,

Trường trung học Newbridge

Newbridge,

Gloucestershire.

Anh

Châu Âu,

Thế giới

Vũ trụ.

Bao quanh là một bộ sưu tập đẹp mắt những ô màu.

Có phải mọi đứa trẻ đều làm thế không, anh tự hỏi? Viết tên chúng ra như thế, rồi dành thời gian trong lớp dán bóc các ô màu. Anh chắc chắn đã từng làm. Và hình ảnh những ô vuông mang các màu sắc nguyên thủy rực rỡ này đã đưa ký ức thời thơ ấu trở về mạnh hơn bất cứ điều gì từng làm được trong nhiều năm qua. Anh đã quên mất sự phấn khích mà những ô màu đem lại. Khoảnh khắc hài lòng tuyệt diệu khi ta bắt đầu bóc lớp giấy nền và thấy ô màu hiện ra hoàn hảo. Thế giới người lớn chứa đựng rất ít những sự hưởng thụ như thế. Gần cảm giác ấy nhất có lẽ là một cú đánh golf hoàn hảo. Hay khoảnh khắc ta cảm thấy dây câu của mình căng ra và ta biết cá đã cắn câu.

Cuốn sách nhỏ làm anh thích tới mức anh thư thả đọc qua toàn bộ nó. Trang trọng đọc từng câu chuyện trẻ con. Nói cho cùng, đây chính là lịch sử mà mỗi người lớn nhớ. Đây là những gì lưu lại trong tâm trí họ khi trọng tải những con tàu và trọng lượng những khẩu pháo, thuế tàu, kinh phụng vụ của Laud, âm mưu Rye House, Đạo luật Giải thể, cùng tất cả chuỗi dài hỗn độn những cuộc ly giáo và rối loạn, hiệp định và bội ước đều đã phai mờ trong ý thức của họ.

Khi anh đọc tới câu chuyện về Richard Đệ Tam, nó mang tên “Các Vương tử trong tháp London”, và dường như cô bé Ella đã thấy mấy vị Vương tử này là một thay thế tồi cho Sư tử tâm, vì cô bé đã dùng bút chì tô kín trong lòng tất cả các chữ cái “o” nhỏ xíu suốt câu chuyện. Hai cậu thiếu niên tóc vàng chơi với nhau dưới luồng ánh sáng chiếu xuống từ ô cửa sổ có song sắt trong bức tranh minh họa kèm theo câu chuyện, mỗi cậu được tặng một cặp mắt kính lạc thời đại, và ở mặt giấy để trắng đằng sau bức tranh minh họa, ai đó đã chơi cờ ca rô. Với cô bé Ella mà nói, các vị Vương tử này thật vô vị.

Ấy thế nhưng đây là một câu chuyện nhỏ có sức cuốn hút. Đủ rùng rợn để khiến bất cứ trái tim trẻ con nào cũng thích thú. Những đứa cháu ngây thơ; ông chú độc ác. Những nguyên liệu cổ điển trong một câu chuyện đơn giản một cách cổ điển.

Nó cũng có một bài học đạo đức. Một câu chuyện cảnh giác hoàn hảo.

Nhưng nhà vua không được lợi lộc gì từ hành vi độc ác này. Người dân Anh đã bàng hoàng trước sự tàn bạo máu lạnh của ông ta và quyết không thể chấp nhận ông ta làm vua lâu hơn nữa. Họ mời một người anh em họ xa của Richard là Henry Tudor, lúc ấy đang sống ở Pháp, về nước và tôn lên làm vua thay cho ông ta. Richard chết một cách dũng cảm trong trận đánh xảy ra sau đó, nhưng nhà vua đã làm cái tên của mình bị căm ghét trên khắp cả nước và nhiều người đã từ bỏ ông ta để chiến đấu ở phe đối thủ.

À, thật gọn ghẽ nhưng không cầu kỳ. Tường thuật ở mức giản lược nhất.

Anh quay sang cuốn sách thứ hai.

Cuốn sách thứ hai chính là sách giáo khoa Lịch sử. Hai nghìn năm lịch sử nước Anh được phân chia gọn gàng thành từng giai đoạn để dễ tham khảo. Như thường lệ, các giai đoạn này là các đời quân chủ trị vì. Chẳng lạ khi người ta gắn một nhân vật vào một đời quân chủ, quên khuấy đi chuyện nhân vật đó đã biết và sống dưới thời những vị quân chủ khác. Người ta nhét họ vào từng ô một cách tự động như nhét vào những ô cửa chuồng bồ câu. Pepys: Charles Đệ Nhị. Shakespeare: Elizabeth. Marlborough: Nữ vương Anne. Chưa từng có ai nghĩ tới chuyện một người đã từng thấy Nữ vương Elizabeth cũng có thể từng thấy George Đệ Nhất. Người ta đã quen thuộc với ý nghĩ về thời trị vì đó từ khi còn thơ ấu.

Tuy nhiên, chuyện này quả thực cũng đơn giản hóa mọi sự, khi bạn chỉ đơn thuần là một viên cảnh sát với một bên chân bị thương và cột sống bị chấn động, săn lùng thông tin về những nhân vật Hoàng gia quá cố đã ra đi từ lâu để tránh cho bản thân khỏi phát rồ.

Anh ngạc nhiên khi biết thời gian trị vì của Richard Đệ Tam ngắn đến vậy. Biến mình trở thành một trong những vị quân chủ được biết đến nhiều nhất trong suốt hai nghìn năm lịch sử nước Anh, nhưng chỉ có vỏn vẹn hai năm ở ngôi vị đó, hiển nhiên cho thấy một tính cách mạnh mẽ. Nếu như Richard không được lòng mọi người, thì chí ít là ông ta cũng đã ảnh hưởng đến họ.

Cuốn sách lịch sử cũng miêu tả tính cách của ông ta.

Richard là một người có năng lực xuất chúng, nhưng cũng khá là bất chấp thủ đoạn. Ông ta táo bạo đòi ngôi vua dựa trên cái cớ lố bịch rằng cuộc hôn nhân giữa anh trai mình và Elizabeth Woodville là bất hợp pháp và những đứa trẻ sinh ra trong cuộc hôn nhân đó là không chính danh. Ông ta được một số ít dân chúng e sợ mà chấp nhận, bắt đầu thời trị vì của mình bằng việc khuếch trương thế lực về phương Nam, nơi vị vua mới được hoan nghênh. Tuy nhiên, trong khi công cuộc Nam tiến đang triển khai, hai vị Vương tử nhỏ tuổi lúc đó đang ở trong tháp London biến mất và có tin đồn là đã bị sát hại. Tiếp theo là một cuộc bạo loạn nghiêm trọng, được Richard dập tắt bằng bạo lực. Để lấy lại ít nhiều nhân tâm bị mất, nhà vua đã nhóm họp một Nghị viện để thông qua những đạo luật hữu ích hủy bỏ Thuế Từ thiện, Thuế Duy trì và Thuế Làm mướn [9] .

Nhưng rồi một cuộc bạo động thứ hai bùng phát. Lần này dưới hình thức một cuộc xâm lược với binh lính Pháp, cầm đầu là thủ lĩnh Henry Tudor nhà Lancaster. Ông này giao chiến với Richard tại Bosworth, gần Leicester, nơi sự phản trắc của nhà Stanley đã giúp Henry giành phần thắng. Richard tử trận sau khi chiến đấu dũng cảm, để lại sau lưng một cái tên chẳng ít tai tiếng hơn cái tên của Hoàng tử John là bao.

Mà Thuế Từ thiện, Thuế Duy trì và Thuế Làm mướn là những cái quái gì chứ?

Và làm thế nào người Anh lại thích để lính Pháp định đoạt việc kế vị ngai vàng cho họ vậy chứ?

Nhưng, tất nhiên rồi, vào thời Cuộc chiến Hoa hồng, Pháp vẫn còn là một dạng lãnh thổ liền kề của Anh; một quốc gia ít xa lạ với người Anh hơn Ireland. Một người Anh vào thế kỷ 15 tới Pháp là chuyện thường tình; nhưng chỉ tới Ireland với thái độ bất bình.

Anh nằm và nghĩ về nước Anh đó. Nước Anh nơi các cuộc Chiến tranh Hoa hồng đã diễn ra. Một nước Anh xanh, thật xanh; không có lấy một ống khói nào từ Cumberland tới Cornwall. Một nước Anh sơ khai, với những khu rừng lớn đầy mồi săn, những đầm lầy mênh mông đầy chim hoang dã. Một nước Anh cứ vài dặm lại có một cụm nhỏ những công trình dân cư giống nhau, lặp lại vô tận: lâu đài, nhà thờ, và những nếp nhà nông thôn; tu viện, nhà thờ, và những nếp nhà nông thôn; điền trang, nhà thờ, và những nếp nhà nông thôn. Những dải đất canh tác bao quanh cụm nhà cửa, bên ngoài chúng là rừng xanh. Mảng màu xanh không gián đoạn. Những con đường hằn sâu vệt bánh xe nối liền từng cụm dân cư, ngập bùn lầy lội vào mùa đông và bụi trắng xóa vào mùa hè; được trang hoàng bởi những bông hồng dại hay đỏ rực những chùm quả táo gai khi các mùa đến rồi đi.

Trong ba mươi năm, trên miền đất xanh rì chưa chen chúc dân cư này, các cuộc Chiến tranh Hoa hồng đã diễn ra. Nhưng nó giống một cuộc đòi nợ máu hơn là một cuộc chiến tranh. Một mối thù giữa Montague và Capulet; chẳng mấy bận tâm với giới bình dân nước Anh. Không ai đẩy cửa nhà bạn để hỏi bạn theo phe York hay Lancaster hay tống bạn vào một trại tập trung nếu câu trả lời của bạn không phù hợp. Đây là một cuộc chiến quy mô nhỏ; gần như một cuộc quyết đấu cá nhân. Họ giao chiến ở bãi cỏ nhà bạn, biến bếp nhà bạn thành trạm cứu thương, rồi sau đó rời tới nơi này hay nơi kia để đánh một trận ở chỗ khác nữa, rồi vài tuần sau bạn sẽ được nghe kể về những gì đã diễn ra trong trận đánh đó, bạn sẽ có một cuộc om sòm trong gia đình về kết quả vì vợ bạn nhiều khả năng ủng hộ phe Lancaster còn bạn có lẽ ủng hộ phe York, tất cả giống như việc cổ vũ các đội bóng kình địch thì đúng hơn. Không ai hành hạ bạn vì bạn là một kẻ ủng hộ Lancaster hay York, cũng như bạn chẳng bao giờ bị ngược đãi vì là một người hâm mộ Arsenal hay là một cổ động viên của Chelsea.

Anh vẫn còn đang nghĩ về nước Anh xanh ngắt đó cho đến khi chìm vào giấc ngủ.

Và anh vẫn chẳng biết gì thêm về hai vị Vương tử nhỏ tuổi cũng như số phận của họ.

« Lùi
Tiến »