Con Gái Của Thời Gian

Lượt đọc: 392 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13

Carradine đi khỏi chưa được hai mươi phút thì Marta xuất hiện, lễ mễ mang theo nào hoa, nào sách, nào kẹo cùng lời thăm hỏi. Cô thấy Grant đang đắm chìm trong thế kỷ 15 qua phiên bản được Huân tước Cuthbert Oliphant thuật lại. Anh chào cô với thái độ lơ đãng mà cô không quen.

“Nếu hai con trai của em bị gã em chồng sát hại, liệu em có nhận một khoản cấp dưỡng hậu hĩnh từ hắn hay không?”

“Em coi đây là một câu hỏi tu từ,” Marta nói trong khi để bó hoa của cô xuống và nhìn quanh xem cái nào trong số những cái lọ hoa đều đã được sử dụng sẽ hợp với chúng nhất.

“Thành thật mà nói, anh nghĩ các sử gia đều điên cả lượt. Hãy nghe đoạn này xem:

“Cách xử sự của Thái hậu thật khó lý giải; dường như khó nói chắc là do bà sợ bị kéo ra khỏi nơi ẩn trú bằng vũ lực, hay chỉ đơn thuần là bà mệt mỏi với sự tồn tại hiu quạnh của mình tại Westminster, và đã quyết định dàn hòa với kẻ giết các con trai mình chỉ vì sự lãnh đạm nhẫn tâm.”

“Lạy Chúa nhân từ!” Marta nói, dừng lại với một bàn tay đang cầm cái lọ hoa bằng gốm Delft, còn bàn tay kia cầm một cái lọ bằng thủy tinh hình trụ, và nhìn anh trong phỏng đoán ngỡ ngàng.

“Em có tin các sử gia thực sự lắng nghe những gì họ đang nói không?”

“Vị Thái hậu đang được nói tới là ai vậy?”

“Elizabeth Woodville. Vợ của Edward Đệ Tứ.”

“À, phải rồi. Em từng có lần đóng vai bà ta. Đó là một cảnh ngắn. Trong một vở kịch về Warwick Kẻ Buôn Vua.”

“Tất nhiên anh chỉ là một cảnh sát,” Grant nói. “Có lẽ anh chưa bao giờ đặt chân vào đúng nhóm người. Có lẽ anh đã chỉ gặp qua toàn người dễ mến. Người ta cần phải đi đâu để gặp một người phụ nữ thân thiết với kẻ đã sát hại hai con trai của mình chứ?”

“Hy Lạp, em cho là vậy,” Marta nói. “Hy Lạp cổ đại.”

“Thậm chí ngay cả ở đó anh cũng không thể nhớ ra được một ví dụ.”

“Hay có lẽ là một nhà thương điên. Ở Elizabeth Woodville có dấu hiệu ngớ ngẩn nào không?”

“Không ai từng nhận ra. Và bà ta đã làm Vương hậu trong chừng hai mươi năm.”

“Tất nhiên chuyện này tức cười, em hy vọng anh thấy điều đó,” Marta nói trong khi tiếp tục cắm hoa. “Không có chút bi kịch nào. ‘Phải, tôi biết ông ta giết Edward và cậu nhóc Richard, nhưng ông ta thực sự là một người khá dễ mến và thật quá khổ cho bệnh thấp khớp của tôi khi phải sống trong những căn phòng chỉ có ánh sáng chiếu vào từ hướng bắc.’”

Grant bật cười, và tâm trạng anh vui vẻ trở lại.

“Phải, tất nhiên rồi. Đó là đỉnh cao của sự lố bịch. Nó thuộc về văn chương bình dân vô tình chứ không phải lịch sử nghiêm túc. Đó là lý do các sử gia khiến anh ngạc nhiên. Họ dường như chẳng có chút năng lực nào trong đánh giá sự khả thi của bất cứ tình huống nào. Họ nhìn lịch sử như một bộ phim đèn chiếu; với những nhân vật hai chiều trên một phông nền hậu cảnh đằng xa.”

“Có lẽ khi anh đang lục tìm các bộ hồ sơ tả tơi, anh không có thời gian tìm hiểu về con người. Em không nói tới các nhân vật trong hồ sơ, mà chỉ Con Người chung chung thôi. Máu và thịt. Và cách họ phản ứng trước các tình huống.”

“Em đã diễn bà ta thế nào?” Grant hỏi, nhớ ra rằng hiểu động cơ chính là nghề của Marta.

“Diễn ai cơ?”

“Người phụ nữ ra khỏi Thánh điện và đánh bạn với kẻ đã sát hại các con mình để đổi lấy bảy trăm merk mỗi năm cùng quyền được tới dự các bữa tiệc tại Cung điện.”

“Em không thể. Không có người phụ nữ nào như thế bên ngoài các vở kịch của Euripides hay một trại giáo dưỡng. Người ta chỉ có thể diễn bà ta trong tình trạng tả tơi. Bây giờ, khi em nghĩ tới chuyện đó, bà ta hẳn sẽ là một trò hài hước rất hay. Một màn giễu nhại bi kịch thi vị. Kiểu thơ không vần. Lúc nào đó em cần thử nó. Cho một suất diễn từ thiện ban ngày chẳng hạn. Em hy vọng anh không ghét mimosa. Kể cũng lạ khi em đã quen anh lâu đến vậy mà biết ít đến thế về những gì anh thích và không thích. Ai đã sáng tác ra chuyện người phụ nữ trở thành bạn của kẻ đã sát hại các con trai bà ta vậy?”

“Không ai sáng tác cả. Elizabeth Woodville đã rời khỏi Thánh điện, và đã nhận một khoản cấp dưỡng từ Richard. Khoản cấp dưỡng không chỉ được phê chuẩn, nó còn được chi trả. Các con gái của bà ta tới dự những bữa tiệc ở cung điện và bà ta viết thư cho con trai - người con trai từ cuộc hôn nhân thứ nhất - bảo anh này từ Pháp về nước làm lành với Richard. Gợi ý duy nhất của Oliphant về lý do cho việc này là bà ta hoặc sợ hãi bị lôi ra khỏi Thánh điện (em đã bao giờ biết bất cứ ai bị lôi ra khỏi Thánh điện chưa? Kẻ làm vậy sẽ bị rút phép thông công - và Richard là một con chiên rất ngoan đạo của Giáo Hội) hoặc bà ta chán ngán cuộc sống trong tu viện.”

“Vậy giả thuyết của anh cho một việc lạ lùng như vậy là gì?”

“Lời giải thích hiển nhiên là hai cậu bé vẫn còn sống và mạnh khỏe. Chưa từng có ai phát ngôn điều ngược lại vào lúc đó.”

Marta ngắm nghía lọ mimosa. “Phải, tất nhiên rồi. Anh đã nói là không có lời buộc tội nào trong Chỉ dụ luận tội đó. Ý em là sau khi Richard chết.” Đôi mắt cô di chuyển từ những bông mimosa sang bức chân dung trên bàn rồi sang Grant. “Vậy anh nghĩ, anh thực sự nghĩ một cách nghiêm túc, như một cảnh sát, là Richard không có gì liên can tới cái chết của hai cậu bé.”

“Anh chắc chắn hai cậu bé còn sống và khỏe mạnh khi Henry chiếm tháp London lúc ông ta tới London. Không điều gì có thể giải thích được vì sao Henry lãng quên việc biến nó này thành một vụ tai tiếng nếu hai Tiểu vương tử mất tích. Em có thể nghĩ tới điều gì không?”

“Không. Không, đương nhiên là không. Điều đó thật khó giải thích. Em vẫn luôn coi việc đã có một tai tiếng khủng khiếp về chuyện đó là điều đương nhiên. Rằng đó hẳn sẽ là một trong những lời buộc tội chính chống lại Richard. Anh và chú cừu lông xù của em có vẻ đã có một quãng thời gian thú vị với lịch sử. Khi gợi ý một cuộc điều tra nho nhỏ để giết thời gian và chấm dứt những cú kim châm, em không hề nghĩ mình đang góp phần viết lại lịch sử. Điều này khiến em nhớ Atlanta Shergold đang cầm súng đi lùng anh đấy.”

“Lùng anh? Anh chưa bao giờ gặp cô ta.”

“Dẫu vậy cô ấy vẫn đang tìm anh với một khẩu súng trên tay. Cô ấy nói thái độ Brent dành cho Bảo tàng Anh đã trở thành thái độ của một con nghiện với ma túy của hắn. Cô ấy không thể lôi cậu ta ra khỏi đó được nữa. Nếu cô ấy lôi phần xác của anh chàng rời khỏi đó, anh ta lại dành thời gian trở lại đó bằng phần hồn; kết quả là với anh chàng, có vẻ cô ấy không còn tồn tại nữa. Cậu ta thậm chí đã thôi ngồi qua cả buổi diễn vở Ra biển trong một cái bát. Anh có hay gặp cậu ta không?”

“Cậu ta vừa ở đây vài phút trước khi em tới. Nhưng anh không trông đợi sẽ có tin mới từ cậu ấy trong vài ngày tới.”

Nhưng anh đã lầm về việc này.

Ngay trước giờ ăn tối, người gác cổng xuất hiện cầm theo một bức điện tín.

Grant luồn ngón tay cái vào trong cái phong bì có sẵn hồ đỏm dáng của bưu cục và lấy ra hai tờ điện tín. Bức điện do Brent gửi.

Địa ngục quỷ quái một chuyện tệ hại đã xảy ra (chấm) ông biết bản biên niên bằng tiếng Latinh tôi đã nói tới (chấm) bản biên niên được viết bởi người tu sĩ ở Tu viện Croyland (chấm) thế đấy tôi vừa đọc nó và lời đồn ở trong đó về việc hai cậu bé đã chết (chấm) văn bản này được viết trước khi Richard chết vậy là chúng ta chìm nghỉm rồi phải không nào nhất là tôi càng chìm nghỉm và quyển sách hay ho đó của tôi sẽ chẳng bao giờ được viết (chấm) liệu bất cứ ai cũng được tự tử trong dòng sông của các ông hay nó chỉ dành riêng cho người Anh thôi (chấm) Brent

Trong sự im lặng, giọng nói của người gác cổng cất lên: “Điện đã được trả cả tiền hồi đáp, thưa ông. Ông có muốn gửi điện trả lời không?”

“Cái gì? Ồ. Không. Không phải lập tức. Tôi sẽ gửi xuống ngay thôi.”

“Được thôi, thưa ông,” người gác cổng nói trong khi kính nể nhìn hai tờ điện tín - trong gia đình của người gác cổng, một bức điện tín chỉ gọn trong một tờ - ông ta ra ngoài, lần này không ư ử hát nữa.

Grant cân nhắc tin được chuyển tới bằng liên lạc điện tín với sự xa xỉ kiểu bên kia Đại Tây Dương. Anh đọc lại bức điện.

“Croyland,” anh nói, ngẫm nghĩ. Tại sao cái tên này lại làm nảy ra điều gì đó? Cho tới giờ chưa từng có ai nhắc tới Croyland trong vụ này. Carradine mới chỉ nói về một cuốn biên niên của tu sĩ ở đâu đó.

Trong cuộc đời cảnh sát của mình, anh đã quá thường xuyên phải đối diện với một việc có vẻ phá hủy hoàn toàn hướng điều tra của vụ án như đang phải lo sợ lúc này. Anh phản ứng như hẳn sẽ phản ứng trong một cuộc điều tra nghiệp vụ. Anh lấy riêng sự việc nho nhỏ phiền toái này ra và xem xét nó. Một cách bình tĩnh. Không cảm xúc. vắng bóng hoàn toàn sự lo lắng cuống cuồng của anh bạn Carradine tội nghiệp.

“Croyland,” anh nhắc lại. Croyland nằm đâu đó ở Cambridgeshire. Hay đó là Norfolk nhỉ? Đâu đó tại vùng biên giới ở đó, trên vùng đất bằng phẳng.

Nàng Bé bước vào mang theo bữa tối của anh, và đặt cái đĩa đáy bằng trông giống một cái bát xuống nơi anh có thể lấy đồ ăn từ nó dễ dàng thuận tiện, nhưng anh không để ý đến cô ta.

“Ông có thể dễ dàng lấy bánh pudding từ chỗ đó chứ?” Cô điều dưỡng hỏi. Và vì anh không trả lời nên cô nhắc lại: “Ông Grant, ông có thể lấy được bánh pudding hay không nếu tôi để nó trên cạnh bàn đằng kia?”

“Ely!” Anh thốt lên với cô.

“Cái gì?”

“Ely,” anh nói; thật nhẹ nhàng, lên trần nhà.

“Ông Grant, ông thấy không khỏe sao?”

Anh ý thức được khuôn mặt đã dặm phấn tươm tất và đầy quan ngại của Nàng Bé khi nó chen vào giữa anh và những vết nứt quen thuộc.

“Tôi ổn cả, ổn cả. Tôi chưa từng bao giờ thấy khỏe hơn thế trong đời mình. Đợi một lát, một cô gái tử tế đây rồi, cô sẽ mang một bức điện xuống dưới cho tôi. Hãy đưa tôi tập giấy viết. Tôi không thể với được nó khi cái món pudding gạo kinh khủng kia chắn giữa.”

Cô điều dưỡng đưa cho anh tập giấy viết cùng cây bút chì, và anh viết lên tờ ghi nội dung điện trả lời đã thanh toán trước:

Ông có thể tìm cho tôi một tin đồn tương tự tại Pháp vào cùng thời điểm không (dấu hỏi) Grant

Sau đó, anh ăn bữa tối của mình thật ngon miệng, và nằm xuống chuẩn bị ngủ một giấc thật sâu. Anh đang bồng bềnh trong trạng thái lơ lửng dịu ngọt lưng chừng chặng đường tới vô thức thì ý thức được rằng một người đang cúi xuống xem xét mình. Anh mở mắt ra xem đó là ai, và nhìn thẳng vào đôi đồng tử màu nâu đầy lo lắng mong mỏi của Nàng Amazon, trông càng lớn hơn và giống đôi mắt của một cô bò cái hơn bao giờ hết trong ánh đèn dìu dịu. Cô gái đang cầm trong tay một chiếc phong bì vàng.

“Tôi không biết phải làm gì nữa,” cô nói. “Tôi không muốn quấy rầy ông, thế nhưng tôi cũng không biết liệu nó có quan trọng hay không. Ông biết đấy, một bức điện. Người ta chẳng bao giờ nói chắc được. Và nếu ông không nhận được nó đêm nay thì có nghĩa là cả mười hai giờ chậm trễ. Điều dưỡng Ingham đã về nghỉ, thế nên sẽ không còn ai để hỏi cho tới khi điều dưỡng Briggs tới lúc 10 giờ. Tôi hy vọng mình đã không đánh thức ông dậy. Nhưng ông vẫn chưa ngủ đúng không nào?”

Grant trấn an rằng cô đã làm đúng và cô điều dưỡng buông ra một tiếng thở dài thiếu chút nữa đã thổi lật bức chân dung Richard. Cô đứng bên trong khi anh đọc bức điện, với thái độ sẵn sàng hỗ trợ anh trong trường hợp có bất cứ tin xấu nào trong đó. Với Nàng Amazon, mọi bức điện tín đều mang tới chuyện chẳng lành.

Bức điện do Carradine gửi.

Điện viết:

Ý ông là muốn nhắc lại muốn phải có một lời buộc tội nữa - nhắc lại một lời buộc tội nữa (dấu hỏi) Brent

Grant cầm lấy tờ viết điện trả lời đã được trả tiền sẵn và viết: “Phải. Tốt nhất là ở Pháp.”

Rồi anh nói với Nàng Amazon: “Tôi nghĩ cô có thể tắt đèn rồi. Tôi sẽ ngủ tới tận sáng mai.”

Anh chìm vào giấc ngủ trong khi tự hỏi bao lâu nữa anh sẽ gặp lại Carradine, và khả năng không thể tìm được tin đồn thứ hai anh trông đợi đến thế sẽ lớn tới mức nào.

Nhưng chẳng bao lâu sau, Carradine đã lại xuất hiện với khuôn mặt trông hệt như kẻ chết trôi. Kỳ thực, anh ta dường như kỳ quặc một cách lạ lùng. Chiếc áo khoác của anh ta như thể không phải là một thứ phụ kiện mà đã trở thành một món trang phục nhiều hơn. Khuôn mặt anh ta sáng bừng khi nhìn Grant.

“Ông Grant, ông quả là một kỳ quan. Họ có nhiều người như ông ở Sở Scotland Yard không vậy? Hay ông là loại đặc biệt?”

Grant nhìn anh ta gần như kinh ngạc. “Đừng nói với tôi là ông đã tìm được một manh mối ở Pháp nhé!”

“Chẳng phải ông muốn tôi làm thế sao?”

“Đúng. Nhưng tôi gần như không dám hy vọng. Cơ hội có vẻ quá mong manh. Vậy tin đồn tại Pháp xuất hiện dưới hình thức nào? Một tập biên niên? Một lá thư?”

“Không. Một thứ đáng kinh ngạc hơn nhiều. Một thứ thực sự đáng lo ngại hơn nhiều. Dường như quan Chưởng ấn nước Pháp, trong một bài phát biểu trước Nghị viện tại Tours, đã nói về tin đồn. Thực ra ông ta đã thao thao bất tuyệt về nó. Tài hùng biện của ông ta lại là chút an ủi tôi có thể tìm được trong tình thế hiện tại.”

“Tại sao?”

“À, với tôi thái độ ấy giống một Thượng nghị sĩ đang gấp gáp phản đối ai đó vừa đưa ra một đề xuất mà cử tri của ông ta tại bang nhà hẳn sẽ không thích. Chính trị hơn là quốc sự, nếu ông muốn biết ý tôi.”

“Ông đáng lẽ nên tới làm ở Sở Cảnh sát London, Brent. Vị Chưởng ấn đã nói gì?”

“À, ông ta nói bằng tiếng Pháp mà tiếng Pháp của tôi thì không giỏi lắm, thế nên có lẽ tốt hơn ông nên tự đọc.”

Anh ta chìa ra một tờ giấy ghi đầy nét chữ viết tay trẻ con của mình, và Grant đọc:

“Tôi mong các vị hãy nhìn vào những biến cố đã xảy ra ở đất nước này sau khi vua Edward băng hà. Hãy xem các con của vị vua quá cố, đã trưởng thành và mạnh mẽ, bị sát hại mà không bị trừng phạt, và vương miện bị chuyển giao cho kẻ sát nhân nhờ sự ưa thích của dân chúng.”

“Đất nước này!” Grant nói. “Sau đó ông ta mặc sức tuôn ra những lời chống lại nước Anh. Ông ta thậm chí còn ngụ ý rằng hai cậu bé bị ‘sát hại’ với sự ưng thuận của dân chúng Anh. Chúng ta đang bị coi như một giống man rợ.”

“Phải. Ý tôi chính là thế. Đó là một nghị sĩ đang cố ghi một điểm. Kỳ thực, quan Nhiếp chính nước Pháp đã phái một sứ thần tới gặp Richard cũng vào năm đó -chừng sáu tháng sau - như vậy nhiều khả năng họ đã phát giác ra tin đồn không đúng. Richard đã ký một giấy thông hành an toàn cho sứ đoàn. Nhà vua hẳn không đời nào làm thế nếu người Pháp lúc ấy vẫn đang nhục mạ ông ta là một kẻ sát nhân ghê tởm.”

“Không. Ông có thể cho tôi biết thời điểm của hai sự phỉ báng này chứ?”

“Hẳn rồi. Tôi có chúng ở đây. Tu sĩ ở Croyland viết về các biến cố vào cuối mùa hè năm 1483. Ông này viết rằng có tin đồn cho hay hai cậu bé đã bị sát hại song không ai biết như thế nào, còn lời cáo buộc tệ hại tại phiên họp Nghị viện diễn ra vào tháng Một năm 1484.”

“Hoàn hảo,” Grant nói.

“Tại sao ông lại muốn có một bằng chứng nữa về tin đồn?”

“Như một đối chứng. Ông có biết Croyland ở đâu không?”

“Có. Ở hạt Fen.”

“Ở hạt Fen. Gần Ely. Và Morton đã ẩn náu ở chính hạt Fen sau khi thoát khỏi lời buộc tội của Buckingham.”

“Morton! Phải, tất nhiên rồi.”

“Nếu Morton là kẻ loan tin, vậy thì chắc chắn phải có một cuộc loan tin nữa xảy ra trên Lục địa khi ông ta tới đó. Morton trốn khỏi Anh vào mùa thu năm 1483, và tin đồn lập tức xuất hiện vào tháng Một năm 1484. Croyland là một nơi rất hẻo lánh, thật ngẫu nhiên, nó hẳn sẽ là địa điểm lý tưởng cho một Giám mục đào tẩu ẩn mình cho tới khi ông ta có thể thu xếp được phương tiện trốn ra nước ngoài.”

“Morton!” Carradine lại nói, như thể đảo đi đảo lại cái họ này trên lưỡi anh ta. “Bất cứ lúc nào có trò bịp bợm trong chuyện này, ta lại đụng phải Morton.”

“Vậy là ông cũng đã nhận ra điều đó.”

“Ông ta chính là tâm điểm của âm mưu ám sát trước khi Richard có thể đăng quang, ông ta đứng đằng sau cuộc bạo loạn chống lại Richard sau khi nhà vua đăng quang, dấu vết của ông ta để lại khi trốn tới lục địa cũng dính nhớt như dấu vết của một con ốc sên - với phá hoại lật đổ.”

“À, phần ốc sên chỉ là suy đoán thôi. Nó sẽ không đứng vững trước tòa. Nhưng không có gì để ngờ vực về các hoạt động của ông ta một khi thoát qua được eo biển. Ông ta bắt tay vào hoạt động phá hoại toàn thời gian. Ông ta và một người bạn có tên Christopher Urswick là những người làm việc tích cực vì lợi ích của Henry; ‘gửi những lá thư riêng tư và những người đưa thư mặc áo choàng’ tới Anh để khuấy động sự thù địch với Richard.”

“Thật sao? Tôi không biết nhiều bằng ông về những gì có thể đứng vững trước tòa và những gì không thể, nhưng với tôi dường như vết bò của con ốc sên đó là một suy đoán hoàn toàn có thể được chấp nhận - nếu ông cho phép tôi. Tôi không cho rằng Morton đợi tới khi ông ta ở bên kia biển mới bắt đầu công cuộc phá hoại của mình.”

“Không. Không, tất nhiên ông ta đã không đợi. Richard phải bị loại trừ, đó là chuyện sinh tử với Morton. Trừ khi Richard ra đi, sự nghiệp của John Morton coi như chấm dứt. Ông ta đã bị gạt bỏ. Thậm chí từ lúc này sẽ không có chức vị nào cho ông ta. Sẽ chẳng có gì hết. Ông ta sẽ bị tước sạch các nguồn thu nhập và chỉ còn trơ lại cái áo thụng tu sĩ. Ông ta, John Morton. Người đã từng sắp chạm tay vào chức Tổng giám mục. Nhưng nếu ông ta có thể giúp Henry Tudor lên ngai vàng, thì rất có thể ông ta vẫn còn khả năng trở thành không chỉ là Tổng giám mục xứ Canterbury mà ngoài ra còn là một Hồng y. Ồ, phải; điều tối quan trọng sống còn đến cực độ với Morton là Richard không giữ được quyền trị vì nước Anh.”

“À,” Brent nói, “ông ta đúng là người hợp với nhiệm vụ phá hoại. Tôi nghĩ ông ta không biết liêm sỉ là gì. Một tin đồn đại nho nhỏ như sát hại trẻ con hẳn chỉ là trò vặt với ông ta.”

“Tất nhiên, vẫn luôn tồn tại khả năng khó xảy ra là ông ta tin vào chuyện đó,” Grant nói, thói quen đánh giá các chứng cứ giành phần thắng ngay cả trước ác cảm của anh dành cho Morton.

“Tin rằng hai cậu bé bị sát hại?”

“Phải. Có thể đó là hư cấu của một người khác. Nói cho cùng, trong vương quốc hẳn là đầy ắp các câu chuyện bịa đặt từ phe Lancaster, một phần chỉ thuần túy là ác cảm, một phần là tuyên truyền. Ông ta có khi chỉ vớ lấy câu chuyện mới nhất gặp được.”

“Hừm! Tôi cho rằng ông ta sẽ không vô can trong việc dọn đường vụ sát hại hai thiếu niên này trong tương lai,” Brent gay gắt nói.

Grant bật cười, “về điều đó thì tôi cũng thế,” anh nói. “Ông còn tìm được gì nữa từ vị tu sĩ ở Croyland của ông?”

“Cũng có cả chút an ủi nữa. Sau khi tôi viết bức điện tín hốt hoảng gửi cho ông, tôi phát hiện ra rằng vị tu sĩ này không thể được coi như Phúc âm. Ông ta chỉ chép lại những tin đồn lọt tới tai mình từ thế giới bên ngoài. Chẳng hạn, ông ta viết rằng Richard có một lễ đăng quang thứ hai tại York; và tất nhiên việc đó không đúng. Nếu ông ta có thể sai về một sự kiện lớn mà ai cũng biết như lễ đăng quang thì ông ta không đáng tin cậy trong vai trò người tường thuật. Nhưng nhân tiện nói luôn, ông ta có biết về Titulus Regius. Ông ta ghi lại toàn bộ nội dung của nó, bao gồm cả tiểu thư Eleanor.”

“Thú vị đấy. Ngay cả một tu sĩ ở Croyland cũng đã biết Edward được cho là đã kết hôn với ai.”

“Phải. More thánh thiện hẳn đã nằm mơ ra Elizabeth Lucy sau đó khá lâu.”

“Chưa kể tới câu chuyện không thể tả bằng lời cho rằng Richard giành lấy ngai vàng dựa trên việc phỉ báng danh dự mẹ mình.”

“Cái gì?”

“More kể rằng Richard đã lệnh tuyên cáo một bài thuyết giảng nói rằng Edward và George là con trai của mẹ ông ta với một người cha khác, và rằng ông ta, Richard, là con trai chính thức duy nhất, bởi thế ông ta là người thừa kế đích thực duy nhất.”

“More thánh thiện đã có thể nghĩ ra một điều gì đó thuyết phục hơn,” anh chàng Carradine trẻ tuổi khô khan nói.

“Phải. Nhất là khi Richard lại đang sống tại nhà mẹ ông ta vào thời điểm đưa ra phỉ báng!”

“Đúng thế. Tôi quên mất chi tiết đó. Tôi không có một bộ óc cảnh sát đúng nghĩa. Những gì ông nói về việc Morton là kẻ loan tin đồn thật hợp lý. Nhưng dẫu thế, hãy giả sử tin đồn đã xuất phát từ nơi khác.”

“Tất nhiên điều đó có thể. Nhưng tôi sẵn sàng mang năm chục ra cược với ông đổi lấy bất cứ mức cược nào là không phải thế. Tôi chưa từng có khoảnh khắc nào tin rằng có lời đồn lan rộng về chuyện hai cậu bé mất tích.”

“Tại sao không?”

“Vì một lý do mà tôi cho là không thể trả lời. Nếu có bất cứ tâm trạng bất ổn rộng rãi nào, có bất cứ tin đồn hay hành động phá hoại hiển nhiên nào, Richard hẳn đã lập tức có động thái chặn đứng chúng. Sau đó, khi có tin đồn lan truyền rằng ông ta đang cầu hôn cháu gái Elizabeth của mình - chị cả của hai cậu bé - ông ta đã lao bổ vào nó như một con chim ưng. Không chỉ gửi thư tới nhiều thành phố nhằm bác bỏ tin đồn với lời lẽ không chút mơ hồ, mà Richard còn rất tức giận (và hiển nhiên rất coi trọng việc để mình không bị vu khống) đến mức nhà vua cho triệu tập các quan chức của London tới một đại sảnh rộng nhất ông ta có thể tìm được (để ông ta có thể gặp đồng thời tất cả họ) và nói trực diện với họ những gì ông ta nghĩ về việc này.”

“Phải. Tất nhiên ông có lý. Richard chắc hẳn đã phản bác công khai tin đồn nếu nó lan rộng. Nói cho cùng, đây là một tin đồn kinh khủng hơn nhiều so với tin ông ta sắp cưới cháu gái mình.”

“Đúng thế; thực ra vào thời ấy người ta có thể có được miễn trừ để kết hôn với cháu gái mình. Theo những gì tôi biết thì có lẽ ngay cả thời nay vẫn có thể. Đó không phải là lĩnh vực công tác của tôi tại Sở. Điều chắc chắn là nếu Richard đi xa tới như vậy trong việc phản bác tin đồn về cuộc hôn nhân thì chắc chắn ông ta sẽ còn quyết liệt hơn nhiều để chặn đứng tin đồn sát nhân, nếu nó tồn tại. Kết luận là cực kỳ chắc chắn: không có tin đồn lan rộng nào về sự mất tích hay hãm hại liên quan tới hai Tiểu vương tử.”

“Chỉ là một chút nhỏ giọt giữa Fens và nước Pháp.”

“Chỉ là một chút nhỏ giọt giữa Fens và nước Pháp. Không gì trên bức tranh toàn cảnh thể hiện bất cứ lo lắng nào về hai cậu bé. Ý tôi là: trong cuộc điều tra của cảnh sát, người ta tìm kiếm bất cứ sự bất thường nào trong cách hành xử của các nghi can trong một tội ác. Tại sao X, người luôn đi xem phim vào tối thứ Năm, lại quyết định không đi vào tối đó chứ không phải các tối khác? Tại sao Y nhận một khoản trả lại chỉ bằng nửa bình thường và thật khác thường lại không dùng nó? Giống như tình huống này. Nhưng trong quãng thời gian ngắn kể từ khi Richard kế vị tới khi ông ta chết, tất cả mọi người xử sự khá bình thường. Người mẹ của các cậu bé rời khỏi Thánh điện và làm lành với Richard. Các Công chúa trở lại cuộc sống cung đình. Các Vương tử nhiều khả năng vẫn tiếp tục chuyện học hành bị gián đoạn bởi cái chết của phụ vương. Những người em họ trẻ tuổi có một vị trí trong Hội đồng và vai trò đủ quan trọng để thành phố York phải trình thư lên họ. Toàn bộ cảnh này thật bình thường, yên ả, tất cả mọi người bận rộn với hoạt động bình thường của họ, và không dấu hiệu gì ở bất cứ đâu cho thấy một cuộc ám sát ngoạn mục và không cần thiết vừa diễn ra trong Hoàng gia.”

“Có vẻ như rốt cuộc tôi vẫn có thể viết quyển sách đó, ông Grant ạ.”

“Chắc chắn ông sẽ viết nó. Ông không chỉ có Richard để cứu vớt khỏi sự vu khống; ông cần xóa đi cho Elizabeth Woodville lời buộc tội đã bỏ qua việc các con trai bà bị sát hại vì bảy trăm merk một năm cùng các đặc quyền.”

“Tất nhiên tôi không thể viết một quyển sách và để nó lơ lửng giữa trời như vậy được. Tôi sẽ cần phải có ít nhất một giả thuyết về số phận hai đứa trẻ.”

“Ông sẽ có.”

Ánh mắt hiền hòa của Carradine rời khỏi những đám mây nhỏ trắng xốp như len lơ lửng trên sông Thames và chăm chú nhìn Grant với một câu hỏi trong đó.

“Tại sao ông lại dùng giọng đó?” Anh ta hỏi. “Tại sao trông ông có vẻ chắc như bắp vậy?”

“À, tôi đã suy luận tuần tự theo những hướng điều tra của cảnh sát. Trong những ngày trống rỗng khi tôi chờ ông quay lại.”

“Hướng điều tra của cảnh sát?”

“Phải. Ai hưởng lợi, và tất cả những lý do đó. Chúng ta đã khám phá ra rằng việc hai cậu bé chết đi sẽ chẳng đem lại chút lợi ích dù chỉ bằng cái móng tay cho Richard. Vậy là chúng ta tiếp tục tìm quanh để xem ai sẽ thủ lợi trong trường hợp đó. Và đây chính là lúc Titulus Regius xuất hiện.”

“Titulus Regius thì có liên quan gì với việc giết người?”

“Henry Đệ Thất cưới chị cả của hai cậu bé - Elizabeth.”

“Đúng thế.”

“Để vỗ yên những người ủng hộ nhà York với việc chiếm ngai vàng của ông ta.”

“Đúng thế.”

“Bằng cách bác bỏ Titulus Regius, ông ta khiến Công chúa trở lại chính danh.”

“Hẳn rồi.”

“Nhưng bằng việc làm các con của Edward Đệ Tứ trở lại chính danh, ông ta tự động biến hai cậu bé trở thành người đứng trước Công chúa trong hàng thừa kế ngai vàng. Trên thực tế, bằng cách bác bỏ Titulus Regius, ông ta biến đứa lớn trong hai cậu bé trở thành vua Anh.”

Carradine khẽ tặc lưỡi. Đôi mắt đằng sau cặp mắt kính gọng sừng của anh ta đang sáng lên háo hức.

“Thế nên,” Grant nói, “tôi đề xuất chúng ta tiến hành điều tra theo những hướng đó.”

“Đương nhiên. Ông muốn những gì?”

“Tôi muốn biết nhiều hơn về lời thú tội đó của Tyrrell. Nhưng trước tiên, và trên hết, tôi muốn biết những người có liên quan đã hành động ra sao. Điều gì đã xảy đến với họ; không phải những gì bất cứ ai kể về bất cứ ai khác. Đúng như chúng ta đã làm trong chuyện kế vị của Richard sau cái chết bất ngờ của Edward.”

“Được. Ông muốn biết gì?”

“Tôi muốn biết số phận của tất cả những người thừa kế nhà York đã được Richard để sống thoải mái và phát tài như vậy. Từng người trong họ. Ông có thể làm việc đó giúp tôi không?”

“Đương nhiên. Chuyện nhỏ ấy mà.”

“Và tôi muốn biết nhiều hơn về Tyrrell. Ý tôi là về bản thân con người ông ta. Ông ta là ai, và ông ta đã làm gì.”

“Tôi sẽ làm việc đó.” Carradine đứng dậy với bộ dạng vào-việc-thôi rõ ràng tới mức trong giây lát Grant đã nghĩ anh ta sắp sửa cài khuy áo khoác của mình lại. “Ông Grant, tôi rất biết ơn ông vì tất cả những... những...”

“Niềm vui và trò chơi này?”

“Khi ông có thể đi lại được tôi sẽ... tôi sẽ... tôi sẽ đưa ông đi vòng quanh tháp London.”

“Hãy là một chuyến tới Greenwich rồi trở về bằng thuyền. Người xứ đảo chúng tôi có một đam mê với đường thủy.”

“Các bác sĩ dự kiến mất bao lâu nữa ông có thể rời giường, ông có biết không?”

“Có lẽ tôi sẽ đứng dậy được trước khi ông trở lại đem theo tin về những người thừa kế và Tyrrell.”

« Lùi
Tiến »