Con Gái Của Thời Gian

Lượt đọc: 396 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14

Vậy là Grant vẫn chưa rời được khỏi giường khi Carradine lại tới, song anh đã có thể ngồi dậy.

“Ông không thể tưởng tượng được,” anh nói với Brent, “là bức tường phía đối diện trông ấn tượng thế nào, sau khi toàn phải nhìn trần nhà đâu. Cũng như thế giới trông bé nhỏ và kỳ dị ra sao khi ngồi dậy.”

Anh thấy xúc động trước sự vui mừng hiển nhiên của Carradine về tiến triển này, phải mất một lúc trước khi họ vào việc. Grant là người đã phải nói: “Nào, những người thừa kế nhà York sống ra sao dưới thời Henry Đệ Thất?”

“À, phải rồi,” chàng trai trẻ nói, lấy tập ghi chú quen thuộc của anh ta ra rồi kéo một cái ghế lại gần bằng cách móc ngón cái chân phải vào thanh ngang. Anh ngồi xuống ghế. “Tôi sẽ bắt đầu từ đâu nhỉ?”

“À, về Elizabeth chúng ta biết rồi. Henry cưới bà ta, và bà ta là Vương hậu nước Anh cho tới khi qua đời, rồi Henry ngỏ ý cầu hôn Juana Điên của Tây Ban Nha.”

“Phải. Bà ấy kết hôn với Henry vào mùa xuân năm 1486 - đúng hơn là vào tháng Giêng; năm tháng sau trận Bosworth - và bà ấy qua đời vào mùa xuân năm 1503.”

“Mười bảy năm. Elizabeth đáng thương. Với Henry, quãng thời gian này chắc hẳn giống bảy mươi năm. Ông ta là loại người thường được nhắc tới theo kiểu nói tránh là ‘không bị vợ xỏ mũi’. Chúng ta hãy tìm hiểu các thành viên khác của gia đình. Ý tôi là các con của Edward, số phận của hai cậu con trai không rõ. Chuyện gì đã xảy ra với Cecily?”

“Bà ấy kết hôn với ông chú nhiều tuổi của Henry, Tử tước Welles, và bị đưa đến sống ở Lincolnshire. Anne và Katherine, khi đó vẫn còn bé, đã được nhắm sẵn cho những đám trung thành của phe Lancaster khi đến tuổi thành hôn. Bridget, cô con gái út, trở thành nữ tu tại Dartford.”

“Đến đây thì cũng đủ bình thường. Tiếp theo là ai nhỉ? Con trai của George.”

“Phải. Bá tước xứ Warwick trẻ tuổi. Bị giam trọn đời trong tháp London, và bị hành quyết vì bị nghi âm mưu vượt ngục.”

“Xong. Còn con gái của George? Margaret.”

“Bà ấy trở thành Nữ bá tước xứ Salisbury. Cuộc hành quyết bà ấy theo lệnh Henry Đệ Bát dựa trên tội danh áp đặt có vẻ là ví dụ kinh điển của việc mượn pháp luật giết người.”

“Còn con trai của Elizabeth? ứng viên thừa kế còn lại?”

“John de la Pole. Ông ấy tới sống với bà cô mình ở Burgundy cho tới khi...”

“Sống với Margaret, chị gái Richard.”

“Phải. Ông ấy chết trong cuộc nổi dậy của Simnel. Nhưng ông ấy còn một người em trai không được ông đưa vào danh sách đó. Người em này bị Henry Đệ Bát hành quyết. Ông ta đã đầu hàng Henry Đệ Thất khi được cấp giấy thông hành an toàn, vì thế tôi đoán rằng Henry nghĩ tảng lờ nó đi có thể sẽ chấm dứt vận may của ông ta. Dù sao đi nữa ông ta cũng đã dùng gần hết giới hạn được phép. Henry Đệ Bát không mạo hiểm. Ông ấy không dừng lại ở John de la Pole. Còn có thêm bốn người nữa ông để sót trong bản danh sách. Exeter, Surrey, Buckingham và Montague. Nhà vua đã loại trừ tất cả họ.”

“Còn con trai Richard? John? Đứa con ngoài giá thú.”

“Henry Đệ Thất ban cho anh ta một khoản cấp dưỡng 20 bảng mỗi năm, song anh ta là người đầu tiên trong đám bị trừ khử.”

“Dựa trên tội danh nào?”

“Vì bị nghi vấn nhận một lời mời tới Ireland.”

“Ông đùa chắc?”

“Đâu có. Ireland là tâm điểm nổi loạn của phe trung thành với nhà York. Gia đình York rất được lòng dân Ireland, và nhận được một lời mời từ nơi đó cũng ngang với án tử trong mắt Henry. Cho dù tôi không nghĩ ra vì sao ngay cả Henry cũng bận tâm tới anh chàng John trẻ tuổi. Nhân thể, anh ta là ‘một cậu bé tích cực, thân thiện’, thỏa ước chung nói như vậy.”

“Tư cách ứng viên cho ngai vàng của anh ta còn hơn cả của Henry.” Grant nói đầy chua chát. “Anh ta là con trai ngoài giá thú duy nhất của một vị vua. Henry là chắt ngoại của một người con trai ngoài giá thú của một con trai thứ của một vị vua.”

Im lặng bao trùm một lúc.

Rồi Carradine lên tiếng phá vỡ im lặng: “Phải.”

“Phải về cái gì?”

“Về điều ông đang nghĩ.”

“Trông có vẻ là vậy phải không nào? Hai đứa trẻ là hai người duy nhất mất tích trong danh sách.”

Thêm một khoảng im lặng nữa.

“Tất cả đều là những vụ mượn tay pháp luật giết người,” Grant lên tiếng. “Những vụ sát nhân dưới hình thức thực thi pháp luật. Nhưng người ta không thể buộc tội tử hình với hai đứa trẻ.”

“Không,” Carradine đồng ý, rồi tiếp tục ngắm nhìn những con chim sẻ. “Không, việc trừ khử cần được làm theo một cách khác. Nói cho cùng, hai Tiểu vương tử là những nhân vật quan trọng.”

“Tối quan trọng.”

“Chúng ta bắt đầu thế nào đây?”

“Như chúng ta đã làm với việc kế vị của Richard. Tìm ra xem tất cả mọi người đã ở đâu và họ đã làm gì trong những tháng trị vì đầu tiên của Henry. Hay trong năm trị vì đầu tiên của ông ta. Sẽ có một sự gián đoạn trong quá trình ở đâu đó, như đã có gián đoạn trong quá trình chuẩn bị cho lễ đăng quang của Tiểu vương tử.”

“Đúng.”

“Ông có tìm ra được gì về Tyrrell không? Y là ai?”

“Có. Ông ta không hề như tôi đã hình dung. Tôi đã hình dung ông ta như một kẻ chỉ đâu đánh đó; ông không nghĩ vậy sao?”

“Có, tôi cho là mình đã nghĩ thế. Không phải sao?”

“Không. Ông ta là một nhân vật quan trọng. Ông ta là Huân tước James Tyrrell xứ Gipping. Ông ta đã ở trong nhiều - hội đồng, tôi đoán ông sẽ gọi chúng như vậy -dưới thời Edward Đệ Tứ. Và ông ta được phong Hiệp sĩ Banneret, cho dù đó là cái gì đi nữa, trong cuộc vây hãm Berwick. Và ông ta đã xoay xở tốt cho bản thân dưới thời Richard, cho dù tôi không thể tìm thấy bằng chứng ông ta có mặt ở trận Bosworth. Nhiều người đã đến quá muộn để tham dự trận đánh - ông biết không? - vì thế tôi không cho rằng việc này có gì đặc biệt. Dù thế nào đi nữa, ông ta không phải là tay ra luồn vào cúi như tôi vẫn luôn mường tượng.”

“Thú vị đấy. Ông ta xoay xở ra sao dưới thời Henry Đệ Thất?”

“À, đó là điều thực sự thú vị. Với một kẻ phụng sự gia tộc York tận tụy và thành công như thế, ông ta có vẻ khá phất dưới thời Henry. Henry phong ông ta làm Tổng binh Guisnes. Sau đó ông ta được phái đi làm sứ thần tại Rome. Ông ta là một trong những phái viên tham gia thương lượng Hiệp ước Etaples. Và Henry ban cho ông ta được hưởng thu nhập trọn đời từ một số vùng đất ở Wales, nhưng buộc ông ta phải đánh đổi lại bằng các thu nhập có giá trị tương đương từ hạt Guisnes - tôi không lý giải nổi tại sao.”

“Tôi biết,” Grant nói.

“Ông biết?”

“Ông có để ý thấy tất cả ân huệ và nhiệm vụ dành cho ông ta đều ở bên ngoài nước Anh không? Kể cả việc ban thưởng thu nhập từ lãnh địa.”

“Vâng, đúng thế thật. Và điều đó đem tới cho ông ý tưởng gì?”

“Lúc này thì chưa gì cả. Có lẽ Henry chỉ thấy Guisnes tốt hơn cho chứng viêm phế quản của ông ta. Có thể suy luận ra quá nhiều từ các biến cố lịch sử. Giống các vở kịch của Shakespeare, người ta có thể đưa ra gần như vô tận những cách luận giải. Tuần trăng mật này với Henry Đệ Thất kéo dài bao lâu?”

“Ồ, cũng lâu đấy. Mọi thứ phải nói là tuyệt hảo tới tận năm 1502.”

“Chuyện gì xảy ra vào năm 1502 vậy?”

“Henry nghe được tin Tyrrell đã sẵn sàng giúp một người trong đám người nhà York ở tháp London trốn sang Đức. Ông ta phái toàn bộ lực lượng đồn trú tại Calais tới vây lâu đài ở Guisnes. Như thế vẫn chưa đủ nhanh chóng với nhà vua, vậy là ông ta phái quan Tư Ấn của mình đi - ông biết chức này là gì chứ?”

Grant gật đầu.

“Phái quan Tư Ấn đi - người Anh các ông đã nằm mơ đâu ra tên gọi cho các chức quan thần tiên của mình vậy chứ - đề nghị cấp giấy thông hành an toàn cho Tyrrell nếu ông ta sẵn lòng lên một con tàu tại Calais và trao đổi với Thượng thư Tài chính.”

“Không cần nói cũng biết kết quả.”

“Tôi không cần nói, phải không nào? Ông ta kết thúc trong một hầm giam tại tháp London. Bị chém đầu ‘một cách gấp gáp và không xét xử’ vào ngày mùng 6 tháng Năm năm 1503.”

“Còn về lời thú tội của ông ta thì sao?”

“Chẳng có.”

“Cái gì?”

“Đừng nhìn tôi thế. Đâu phải trách nhiệm của tôi.”

“Nhưng tôi vẫn nghĩ Tyrrell đã thú tội về việc sát hại hai cậu bé.”

“Phải, theo một số nguồn thuật lại. Nhưng đó là những lời kể về một bản thú tội, không... không phải giấy trắng mực đen, nếu ông hiểu ý tôi muốn nói.”

“Ý ông là Henry không công bố bất cứ bản thú tội nào.”

“Không. Sử gia của nhà vua, Polydore Virgil, đã viết một bản tường thuật về việc vụ giết người được tiến hành ra sao. Sau khi Tyrrell đã chết.”

“Nhưng nếu Tyrrell thú tội là ông ta sát hại hai cậu bé theo lệnh Richard, thì tại sao ông ta lại không bị buộc tội và xét xử công khai về tội trạng này chứ?”

“Tôi không thể hình dung nổi.”

“Hãy để tôi tóm lược cho rõ. Không ai nghe nói gì về lời thú tội của Tyrrell cho tới khi Tyrrell đã chết.”

“Đúng thế.”

“Tyrrell thú tội rằng, vào năm 1483, gần hai mươi năm trước, ông ta đã từ Warwick vội vã tới London, lấy chìa khóa tháp London từ vị trưởng quan - tôi quên mất tên ông ta rồi...”

“Brackenbury. Huân tước Robert Brackenbury.”

“Phải. Lấy chìa khóa tháp London từ Huân tước Robert Brackenbury vào một buổi tối, sát hại hai cậu bé, trả lại chìa khóa, rồi về báo cáo với Richard. Ông ta đã thú tội như thế, và qua đó đặt dấu chấm hết cho một bí ẩn gây nhiều tranh cãi, ấy thế nhưng lại không có hành động công khai nào được thực hiện với ông ta.”

“Không gì hết.”

“Tôi không thích phải lên tòa với một câu chuyện như thế chút nào.”

“Bản thân tôi thậm chí sẽ không tính tới chuyện làm thế. Tôi chưa từng nghe chuyện gì vớ vẩn như vậy.”

“Chẳng lẽ thậm chí họ còn không triệu Brackenbury tới để xác nhận hay bác bỏ câu chuyện trao chìa khóa hay sao?”

“Brackenbury đã tử trận ở Bosworth.”

“Vậy là ông ta cũng đã chết thật tiện lợi rồi.” Grant nằm xuống và suy nghĩ về điều này. “Ông biết đấy, nếu Brackenbury đã chết tại Bosworth thì chúng ta có thêm một bằng chứng nhỏ nữa đứng về phía mình.”

“Như thế nào? Cái gỉ?”

“Nếu điều đó đã thực sự xảy ra; ý tôi là nếu chìa khóa đã được giao ra trong một đêm theo lệnh Richard, thì rất nhiều quan chức cao cấp tại tháp London hẳn đã biết chuyện. Thật khó hình dung là không có ai trong số họ sẵn sàng kể lại câu chuyện này với Henry khi ông ta chiếm tháp London. Nhất là nếu hai Tiểu vương tử mất tích. Brackenbury đã chết. Richard đã chết. Người kế tiếp trong cấp bậc chỉ huy tại tháp London hẳn đang được trông đợi sẽ trình ra hai cậu bé. Khi không thể trình ra hai Vương tử, ông ta chắc đã phải nói: “Một đêm, ngài Trưởng quan đã trao lại chìa khóa và kể từ hồi đó không ai thấy hai Tiểu vương tử nữa.” Chắc chắn đã phải có những lời chỉ trích dữ dội nhằm vào kẻ đã giao chìa khóa. Ông ta hẳn đã là nhân chứng số một trong vụ xử kết tội Richard, và đưa nhân chứng này ra hẳn đã là một thắng lợi vẻ vang cho Henry.”

“Không chỉ có thế, mà những người ở tháp London hẳn nhiên là biết quá rõ Tyrrell để không thể không nhận ra ông ta. Ở London nhỏ bé thời ấy, ông ta hẳn phải là một nhân vật khá nổi tiếng.”

“Phải. Nếu câu chuyện đó đúng, hẳn là Tyrrell đã bị xét xử và hành quyết công khai vì sát hại hai cậu bé vào năm 1485. Ông ta chẳng có ai để bảo vệ mình cả.” Carradine lấy thuốc lá ra. “Vậy là chúng ta biết rằng Henry hành quyết Tyrrell năm 1502, rồi sau đó công bố thông qua các sử gia dưới trướng ông ta rằng Tyrrell đã thú tội sát hại các Vương tử hai mươi năm trước.”

“Phải.”

“Và nhà vua đã không đưa ra lý do vì sao không xét xử Tyrrell về tội ác y đã thú nhận, bất cứ ở đâu, vào bất cứ thời điểm nào.”

“Không. Trong phạm vi tôi có thể tìm kiếm thì không. Ông ta luôn vòng vèo như một con cua vậy, ông biết đấy. Henry không bao giờ đi thẳng tới bất cứ điều gì, kể cả sát nhân. Điều đó cần được che đậy để trông có vẻ là việc khác. Ông ta đã đợi nhiều năm để tìm ra một cái cớ dựa trên luật pháp nào đó cho phép che đậy một vụ giết người. Ông ta có đầu óc như một cái mở nút chai vậy. Ông có biết hành động chính thức đầu tiên trong vai trò Henry Đệ Thất của ông ta là gì không?”

“Không.”

“Hành quyết một số người đã chiến đấu cho Richard tại Bosworth với tội danh phản nghịch. Và ông có biết ông ta đã làm thế nào để biến hành động đó thực sự thành phản nghịch trước pháp luật hay không? Bằng cách tính thời điểm bắt đầu trị vì của mình từ hôm trước ngày diễn ra trận Bosworth. Một bộ óc có khả năng nghĩ ra một mánh khóe thực tế sắc sảo cỡ đó thì có khả năng làm bất cứ điều gì.” Anh ta cầm lấy điếu thuốc Grant mời mình. “Nhưng ông ta đã không được như ý trong chuyện đó,” anh ta nói thêm, với niềm vui nghiêm chỉnh. “Ồ, không, ông ta đã không được như ý. Người Anh, Chúa ban phước cho họ, đã dứt khoát bác bỏ. Họ nói cho ông ta hay ông ta đã sai ở đâu.”

“Bằng cách nào?”

“Với phong cách Anh lịch thiệp, họ trình ra cho ông ta một Đạo luật Nghị viện viết rằng không ai phụng sự vị Đương kim Quân chủ của vương quốc vào cùng thời điểm có thể bị kết tội phản nghịch hay phải chịu tịch biên tài sản hoặc cầm tù, và họ đã khiến ông ta phải nhất trí với nó. Sự lịch thiệp kiên quyết đó quả là đậm chất Anh một cách khủng khiếp. Không la hét ngoài phố hay ném đá vì họ không thích trò lừa đảo cỏn con của ông ta. Chỉ một Đạo luật nho nhỏ lịch thiệp phải chăng để ông ta phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Tôi cược là Henry ngấm ngầm căm tức đạo luật đó lắm. À, tôi phải đi đây. Đúng là rất mừng được thấy ông ngồi dậy và viết. Tôi thấy chúng ta sẽ sớm thực hiện được chuyến đi tới Greenwich đó thôi. Có gì tại Greenwich vậy?”

“Vài công trình kiến trúc rất tinh tế và một dải sông đục bùn rất đẹp.”

“Chỉ thế thôi sao?”

“Và vài tửu quán rất hay.”

“Chúng ta sẽ đi Greenwich.”

Khi anh chàng trẻ tuổi đã về, Grant nằm xuống giường và hút hết điếu thuốc này tới điếu khác trong khi ngẫm nghĩ về câu chuyện những người thừa kế của nhà York từng sống phong lưu dưới thời Richard Đệ Tam rồi xuống mồ dưới thời Henry Đệ Thất.

Một số người trong họ có thể đã “chuốc lấy tội đó”. Nói cho cùng, bản báo cáo của Carradine là một bản tóm tắt; ai vô tội, ai mắc tội, ai đồng lõa. Nhưng rõ ràng việc tính mạng của tất cả những ai đứng chắn giữa nhà Tudor và ngai vàng bị cắt ngắn một cách dễ dàng như thế chắc chắn là một sự trùng hợp quá ngẫu nhiên.

Không mấy hào hứng, anh đưa mắt nhìn quyển sách anh chàng Carradine trẻ tuổi đã mang tới cho mình. Quyển sách mang tên Cuộc đời và thời trị vì của Richard Đệ Tam; tác giả là James Gairdner. Carradine đã cam đoan với anh rằng anh sẽ thấy Tiến sĩ Gairdner đáng thời gian bỏ ra để đọc. Theo Brent, Tiến sĩ Gairdner là “một tiếng reo”.

Với Grant, quyển sách không có vẻ đặc biệt thú vị, nhưng bất cứ điều gì về Richard đều tốt hơn thứ gì đó về một người khác, vì thế anh bắt đầu lướt qua nó, không mấy chốc bắt đầu hiểu ngụ ý của Brent khi anh chàng nói vị Tiến sĩ là một “tiếng reo”. Tiến sĩ Gairdner nhất quyết tin Richard là một kẻ sát nhân, song vì ông này là một tác giả trung thực, có học thức, và không thiên vị theo góc nhìn của chính ông ta, vị Tiến sĩ đã không giấu giếm các thực tế. Màn trình diễn của Tiến sĩ Gairdner cố gắng xoay xở để khớp các biến cố thực tế vào giả thuyết của ông ta là màn thể dục thú vị nhất mà đã lâu rồi Grant mới được trải nghiệm.

Tiến sĩ Gairdner thừa nhận rằng không có bất hợp lý rõ rệt nào về sự sáng suốt của Richard, sự rộng lượng, dũng cảm, năng lực, sức hấp dẫn, thu phục nhân tâm, cũng như lòng tin ông tạo ra ngay cả ở những kẻ thù bị đánh bại của mình; thế rồi đồng thời thuật lại việc Richard xúc phạm mẹ mình một cách xấu xa và sát hại hai đứa trẻ yếu đuối. Truyền thống nói vậy, vị Tiến sĩ đáng kính viết, và nghiêm trang thuật lại cái truyền thống khủng khiếp đó cũng như tin tưởng vào nó. Theo vị Tiến sĩ, không có nét ti tiện hay hèn hạ nào trong tính cách Richard - nhưng ông ta là một kẻ sát hại những đứa trẻ vô tội. Ngay cả kẻ thù của Richard cũng tin tưởng vào công lý của ông - nhưng ông đã sát hại những đứa cháu ruột của mình. Sự liêm chính của Richard là đáng kể -song ông ta đã giết người vì lợi ích.

Trong vai trò một nghệ sĩ uốn dẻo, Tiến sĩ Gairdner đúng là kỳ quan nguyên bản của sự uốn éo không xương. Hơn bao giờ hết, Grant tự hỏi các sử gia suy nghĩ bằng phần nào trong bộ óc của họ. Chắc chắn họ đi tới các kết luận của mình không phải bằng bất cứ quá trình suy luận nào đã biết với những kẻ trần tục đoản mệnh bình thường. Không ở đâu trong những trang sách hư cấu hay phi hư cấu, và chắc chắn không ở đâu trong đời thực, anh từng gặp bất cứ người nào có chút tương đồng dù rất xa xăm với Richard của Tiến sĩ Gairdner hay Elizabeth Woodville của Oliphant.

Có lẽ cũng có sự đúng đắn trong giả thuyết của Laura, rằng bản chất con người khó mà từ bỏ những niềm tin đã tiếp nhận từ trước. Có một sự chống đối nội tại mơ hồ, và sự tức giận, với việc lật ngược một thực tế được chấp nhận. Chắc chắn Tiến sĩ Gairdner đã lê bước như một đứa trẻ hoảng sợ, theo bàn tay đang lôi ông ta tới điều không tránh khỏi.

Grant biết quá rõ việc có những người dễ gây thiện cảm hết sức chính trực đã phạm tội giết người. Nhưng không phải loại hành vi giết người đó và không phải do loại lý do đó. Loại người Tiến sĩ Gairdner đã vẽ nên trong quyển Cuộc đời và lịch sử của Richard Đệ Tam sẽ chỉ giết người khi chính đời tư của ông ta bị đảo lộn bởi một chấn động ghê gớm nào đó. Ông ta có thể giết vợ mình vì sự không chung thủy đột ngột bị phát hiện, có lẽ vậy. Hay giết người hùn vốn cùng đã vì bí mật đầu cơ mà hủy hoại công ty của họ và tương lai của các con ông ta. Hành động giết người ông ta gây ra, dù là gì đi nữa, sẽ là kết quả của cảm xúc dữ dội, không bao giờ được lên kế hoạch trước: và sẽ không bao giờ là một hành vi giết người hèn hạ.

Người ta không thể nói: Bởi vì Richard sở hữu phẩm chất này và phẩm chất kia, thế nên ông ta không thể giết người. Nhưng người ta có thể nói: Bởi vì Richard sở hữu những phẩm chất này, thế nên ông ta không thể âm mưu giết người.

Việc ám hại hai Tiểu vương tử đó hẳn đã là một vụ giết người ngu ngốc; và Richard là một người có trí tuệ đáng chú ý. Hành động đó hèn hạ đến mức không lời nào diễn tả nổi; trong khi ông ta là một người rất chính trực. Hành động đó thật tàn nhẫn; trong khi Richard đáng chú ý vì sự nhiệt tâm của mình.

Người ta có thể duyệt qua danh sách các phẩm chất được thừa nhận của ông ta, và thấy rằng khi xét riêng mỗi phẩm chất đó, khiến việc ông ta dự phần vào vụ giết người là khó khăn cực độ. Gộp lại cùng nhau, chúng tạo thành một bức tường không thể vượt qua, vươn cao tới tận cõi tưởng tượng.

« Lùi
Tiến »