- Giai đoạn đen tối
- Giai đoạn tươi sáng
- Cuộc tổng phản công giặc Minh
- Trận Tuy Động
- Việt quân phong tỏa Đông Đô
- Trận Chi Lăng
- Cuộc hòa giải
1 – Giai đoạn đen tối
Nhà Hậu Trần quật khởi từ năm 1407 đến năm 1413 thì hoàn toàn thất bại. Dân Việt Nam như thua cay một ván cờ, thua cay vì không phải không đủ tư cách chơi ván cờ với Bắc phương, nhưng vì kẻ thay mặt toàn dân ra chơi ván cờ quốc sự ấy quả thật bất tài, bất trí. Nhưng vì cuộc tranh đấu để dành quyền sống của dân tộc, đất đai của tổ tiên từ ngàn năm đã có tính cách cổ truyền, nên mỗi lần thất bại, mọi tầng lớp nhân dân lại đoàn kết chặt chẽ để khôi phục độc lập.
Từ nhà Hổ đổ, nhà Hậu Trần ngã quỵ, nhân dân Việt Nam không hề ngừng tranh đấu để quân xâm lăng thiết lập dễ dàng các cơ cấu hành chính quân sự trên lĩnh thổ nước nhà, nên 5 năm sau, một nông gia làng Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên, phủ Thiếu Hóa, đã bước ra lĩnh đạo cuộc giải phóng dân tộc, rửa cái nhục bại trận của con cháu nhà Trần. Nhân dân đã hưởng ứng với lời hịch khởi nghĩa của người anh hùng áo vải đó, trong khi đẳng cấp quan liêu, trí thức thử thời nằm im như thóc. Hoặc giả nhân dân không còn tin tưởng gì nữa ở nơi họ vì một số xu mị thời thế chạy theo địch, một số đã tỏ ra bất tài bất lực trong cuộc đấu tranh. Lần này người được chọn mặt gởi vàng là ông Lê Lợi và các đồng chí, phần lớn chỉ là những con người thảo dã. Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trong giai đoạn này so sánh với các cuộc chiến tranh trước đây, có tính cách thuần túy nhân dân hơn cả, vì khi khởi nghĩa các lĩnh tụ đa số là tuyệt đối là nông dân. Lúc này đẳng cấp phong kiến đã rút gần hết vào hậu trường sân khấu.
Ông Lê Lợi là nhân vật thế nào thời bấy giờ?
Lúc thiếu thời, ông đã trông thấy cái cảnh quốc phá gia vong như các sĩ phu khác giữa buổi ấy là lúc nhà Hồ sụp đổ, giặc Minh hiếp đáp đồng bào nên tuy là dòng dõi nhà hào trưởng giàu có, ông đã nuôi chí lớn, không muốn khoanh tay nhìn dân tộc chết dần chết mòn và phải sống cái sống nhục nhã của người dân mất nước. Ngoài kinh sử, ông nghiên cứu cả binh thư trận pháp để ứng dụng cái sở năng của mình vào việc cứu quốc sau này. Ông dùng tiền bạc dư dật trong nhà để thu phục nhân tâm, kết nạp hiền sĩ khắp nơi nên nổi tiếng Mạnh Thường Quân một phương. Bọn quan Tàu thấy ông được nhân dân yêu mến chuộng cho người đến dụ, có khi dùng uy thế để dọa nạt nhưng ông nhất định chối từ.
Ông thường nói với những người thân tín rằng: “Đại trượng phu sinh ra ở đời để phò nguy cứu khổ, lưu tiếng lại nghìn năm, chớ đâu để làm tôi tớ người ta!” Một mặt ông chuẩn bị thóc gạo, tiền bạc chờ ngày dùng đến.
Ngày đêm, ông cùng một số đồng chí là Lê văn An, Lê Văn Linh, Trịnh Khả, Bùi Quốc Hưng, Nguyễn Xí, Lê Sát, Lý Triện, Trịnh Lỗi, Lê Ngân, Đinh Lễ (rồi sau có Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn[1], cùng nhau bàn mưu tính kế trong rừng núi miền Lam Sơn.
Cuối năm Đinh Dậu (1417) binh lương khí giới đầy đủ; ông chọn ngày khởi binh vào sơ tuần tháng giêng năm Mậu Tuất (1418). Vì cuộc bại trận của nhà Hồ và nhà Hậu Trần, lòng người còn hoang mang, Nguyễn Trãi phải lợi dụng lòng mê tín của nhân dân như Trần Thắng cuối đời Tần (Trần Thắng viết ba chữ Trần Thắng Vương vào mảnh lụa, giấu vào bụng cá. Quân sĩ mổ cá thấy cho là trời đã định nên tin theo Thắng, nhưng sau Thắng cũng thất bại), ông cho nhúng bút vào mật viết lên nhiều lá cây trong rừng tám chữ: Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần, sau đó kiến theo đường mật ăn thủng lá thành hình 8 chữ kể trên. Nhân dân cho là điềm thần dị, đồn đại rất nhiều nên người ta theo mỗi ngày một đông.
Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa xưng là Bình Định Vương, phong cho Nguyễn Trãi chức Hàn Lâm Thừa Chỉ Học Sĩ, ngày đêm ở trong quân trướng bàn tính mọi việc và làm các văn thư, từ lệnh.
Lực lượng của ta và của Tàu lúc bấy giờ chênh lệch nhau nhiều lắm. Tàu có tới 10 vạn quân đóng ở khắp nơi xung yếu. Quân của Vương có độ vài nghìn nên cuộc chiến đấu rất là gian lao.
Bấy giờ đại bản doanh miền Nam của Minh do Mã Kỳ và Lý Bân cầm đầu đóng đô ở Tây Đô (Thanh Hóa), nghe tin Lam Sơn nổi quân cách mạng liền đem quân đến đánh. Vì thực lực còn mỏng manh, Vương phải dùng thế du kích và phục binh cũng có nhiều khi thắng lợi. Có lần Vương đóng quân ở Lạc Thủy (Cẩm Thủy, phủ Quảng Hóa) để nhử giặc đến. Cùng năm ấy có trận đánh Lý Bân ở Mường Một. Đã có phen Vương thua phải bỏ cả vợ con cho giặc bắt, để rút lui về núi Chí Linh.
Tháng tư và tháng năm Kỷ Hợi (1419) Vương tấn công đồn chính và đồn Nga Lạc (thuộc huyện Nga Sơn, Thanh Hóa giết được tướng Minh là Nguyễn Sao nhưng thế vẫn yếu, nên lại rút về núi Chí Linh là vị trí chiến lược và nơi thủ hiểm duy nahats của Vươnglúc bấy giờ. (Chí Linh là một ngọn núi thuộc tỉnh Thanh Hóa). Có một lần giặc đem nhiều binh đội đến vây Chí Linh, tình cảnh của Vương rất là nguy khốn. Lê Lai đóng vai Kỷ Tín (Kỷ Tín ngày trước chịu chết cho Hán Cao Tổ)[2] mặc áo ngự bào giả làm Lê Lợi cưỡi voi ra đánh nhau với giặc để cho giặc bắt. Quân giặc tưởng Lê Lai là Bình Định Vương giết đi, rồi yên chí lui quân về Tây Đô.
Sau khi kế sách này thành công, Vương thu tàn quân qua đóng ở Lư Sơn (phía Tây châu Quảng Hóa) và cho người sang cầu cứu Ai Lao. Trong năm ấy, nhiều người Việt như tri phủ Phan Liêu ở Nghệ An, Trịnh Công Chứng ở Hà Đông, Lê Hành, Nguyễn Đặc ở Khoái Châu, Nguyễn Da Cấu, Trần Nhuệ ở Hoàng Giang, Lê Ngã ở Thủy Dương cũng nổi lên chống nhau với quân Minh.
Hồi tháng 10 năm Canh Tí (1420), Vương đóng quân ở làng Thôi tính xuống phá giặc ở Tây Đô thì Lý Bân dẫn đại binh đến, bị đại quân của ta đánh thua liển xiểng ở Thi Lang. Vương tiến đóng Lội Giang là một vùng thuộc huyện Cẩm Thủy bên sông Mã và Ba Lậm. Giặc Minh phải đặt quân giữ Nga Lạc và Quan Du để đề phòng Tây Đô.
Tháng một năm Tân Sửu (1421), quân Minh không còn dám coi thường lực lượng của Bình Định Vương. Mấy vạn tinh binh của tướng Minh là Trần Trí chuyển đến Ba Lậm hẹn cùng quân Lào hai mặt đành ập lại. Quân ta theo lệnh của Vương nhân giặc ở xa kéo đến còn mỏi mệt liền mở cuộc tấn công vào ban đêm. Giặc bị hại mất hơn một ngàn người. Trần Trí tức lắm sáng hôm sau xuất toàn lực giao chiến với quân tam nhưng bị quân ta đã sắp sẵn thế phục binh và đánh kịch liệt quá phải thoái lui. Trong lúc này, ba vạn quân Lào giả xưng sang giúp quân ta nửa đêm kéo tới. Bình Định Vương không ngờ có sự dối trá nên mất một tướng là Lê Thạch bị tên của giặc bắn chết. Tuy vậy quân ta vẫn giữ vững được trận tuyến và mọi căn cứ, quân Lào phải rút lui về.
Năm sau (Nhâm Dần 1422) từ đồn Ba Lậm, quân ta tiến đánh đồn Quan Gia bị liên quân Minh – Lào đánh lối giọng kìm không cầm cự được phải chạy về giữ đồn Khôi Sách. Giặc thắng thế đuổi theo bao vây bốn mặt rất nguy kịch. Vương bàn với tướng sĩ liều chết mở một đường xương máu rút về Chí Linh.
Xét ra trước sau Bình Định Vương chạy về Chí Linh ba lần sau những phen thất trận. Với lần thứ ba này, quân sĩ hao tổn nhiều, lương thực cạn sạch. Hai tháng liền binh sĩ phải ăn rau, ăn cỏ, làm thịt cả ngựa, voi, tinh thần kiệt quệ. Để khôi phục lại nguyên lực, Vương bất đắc dĩ phải sai Lê Trân xin hòa với giặc. Quân Minh ưng thuận vì xét đánh không lợi và có ý chiêu dụ dần. Vương đem quân về Lam Sơn, một thời bọn Trần Trí, Sơn Thọ thường cho người đem biếu Vương trâu ngựa, cá mắm cùng thóc lúa. Vương lấy vàng bạc cho Lê Trân đem tạ. Nhưng sau có sự ngờ vực, giặc giữ Lê Trân lại. Vương đem quân về Lư Sơn, từ đấy đôi bên tuyệt giao.
Năm Giáp Thìn quân đội ta đã dư sức, lương thực dồi dào, Thiếu úy Lê Chích đưa ra vấn đề đánh Nghệ An để mở rộng khu vực và lấy chỗ nương tựa ở vùng núi hiểm trở của địa phương, sau đó sẽ tiến đánh Đông Đô. Vương đồng ý liền cho đánh đồn Ba Cang do Lương Nhữ Hốt làm trấn thủ (Lương Nhữ Hốt xưa là tướng nhà Trần sau hàng quân Minh). Hốt bỏ chạy. Quân ta đánh tiếp đồn Trà Long đi lên núi Bố Liệp thì nghe đại quân của Trần Trí, Phương Chính kéo tới. Vương cho quân mai phục các địa điểm chém được tướng giặc là Trần Tùng và 2000 quân địch, bắt được 100 con ngựa. Bọn Trần Trí bỏ chạy thì đồn Trà Long bị uy hiếp. Tri phủ Cầm Bành chờ viện binh không thấy sau phải mở cửa đồn xin hàng.
2 – Giai Đoạn Tươi sáng (Mặt Trận Miền Nam)
Bấy giờ Hoàng Phúc đã về Tàu, Trần Hạp sang thay nhận thấy tình thế nghiêm trọng liền tau về Minh Đế. Cho đến giờ phút đo quan nhà Minh vẫn coi thường quân khởi nghĩa nên không thông tin về Bắc triều. Minh Đế xuống chiếu quở trách bọn Trần Trí đòi phải dẹp ngay cho xong “quân nghịch”.
Trần Trí phải huy động toàn bộ thủy lực giao chiến cùng Vương trên trận tuyến từ huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh) đến mạn thượng du Khả Lưu ở Bắc Ngạn sông Lam Giang. Ở đây quân ta dùng thế nghi binh. Ban ngày Vương cho kéo cờ đánh trống, đêm đốt lửa, còn các nẻo đường quân giặc tiến qua thì có phục binh chờ sẵn. Quân giặc bất ngờ đi vào trận địa bốn mặt quân ta đánh ấp tới. Minh mất hai tướng: Chu Kiệt bị bắt và Hoàng Thành bị chém. Trần Trí lui quân và giữ thành Nghệ An. Thành này năm sau (Ất Tị 1425) bị quân ta vây trùng trùng điệp điệp. Thanh thế của Vương lúc bấy giờ lừng lẫy, đi đến đâu cũng được nhân dân đón rước náo nhiệt và đem trâu bò, thóc gạo, cung đốn vui vẻ. Vương nghiêm quân lệnh không cho quân lính phạm vào tài sản của dân chúng trừ những thứu gì thuộc về giặc Minh. Nhiều phủ, huyện ra quy thuận và xin tình nguyện đem quân đánh thành Nghệ An (tỉ dụ tri phủ Ngọc Ma là Cầm Quý giữ phủ Trấn Định). Nghệ An lúc bấy giờ là điểm chính của cuộc tấn công cho Nam Quân.
Toàn cõi Nghệ An chẳng bao lâu thuộc về ảnh hưởng của Nam Quân, bọn Trần Trí cố chết giữ lấy thành đợi viện binh tới. Sau có Lý An ở Đông Quan đem quân do đường bể vào cứu, họp với quân trong thành đổ ra cùng đánh. Quân Minh bị nhử đến sông Độ Gia bị quân ta đánh tan. Trần Trí chạy thoát về Đông Quan còn Lý an vào đóng trong thành lại bị vây như trước.
Nguyễn Trãi bàn nên đem quân đi đánh các nơi khác còn hơn tập trung toàn lực bao vây thành Nghệ An, vì vậy Vương hạ lệnh cho Tư Không Đinh Lễ đem một đạo binh ra phía Bắc đánh chiếm Diễn Châu, Tư Đồ Trần Nguyên Hãn, Thượng Tướng Lê Nỗ, chấp lệnh Lê Da Bồ đem hơn 1000 quân tấn công phía Nam lấy Tân Bình (Quảng Bình, Quảng Trị) Thuận Hóa (Thừa Thiên, Quảng Nam).
Tại Diễn Châu, Đô Ty của giặc là Trương Hùng từ Đông Quan kéo 300 chiếc thuyền lương vào, bị Đinh Lễ đón đánh. Thiên HỘ Tưởng và 300 quân tử trận; Hùng bỏ chạy được. Quân ta cướp được các thuyền lương và đuổi giặc ra tới Tây Đô. Nghe tin Đinh Lễ thắng, Bình Định Vương phái thêm 2000 tinh binh cùng Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lý Triện và Bùi Bị hợp với Lễ đánh Tây Đô. Tại đây giặc và ta kịch chiến, quân ta chém được hơn 500 tên và bắt được rất nhiều tù binh. Sau đó ta vây chặt Tây Đô như Nghệ An.
Đạo quân của Trần Nguyên Hãn và Lê Nỗ tới sông Bố Chính thì gặp giặc. Bọn Hãn tiến, dùng chỗ hiểm đặt phục binh ở mặt sau. Hãn giả thua chạy. Tướng giặc là Nhậm Năng thúc quân đuổi riết đến chỗ có phục binh thì Hãn quay lại mở cuộc tấn công các ngả. Giặc tranh nhau chạy trốn, lăn xuống sông chết rất nhiều. Giữa lúc này Vương cho Lê Ngân, Lê Bôi, Lê Văn An dẫn thủy quân và 70 chiếc thuyền dùng đường bể vào tăng cường cho đạo quân đánh Tân Bình. Quân ta đuổi quân địch vào tới Tân Bình, Thuận Hóa, thế mạnh như chẻ tre, giặc không sao chống đỡ nổi.
Thế là từ Tây Đô trở vào Nam, quân ta làm chủ, trừ mấy thành lẻ tẻ. Ở đây, ta mộ thêm được mấy vạn binh sĩ nữa để đưa ra mặt trận miền Bắc. Từ đấy quân ta mỗi ngày một mạnh, tinh thần quân dân lên rất cao, các tướng tôn Vương lên làm “Đại Thiên Hành Hóa” nghĩa là thay trời làm việc để tăng thêm uy tín với nhân dân.
3 – Cuộc Tổng Phản Công Giặc Minh (Mặt Trận Miền Bắc)
Ban trinh sát của ta lúc này biết rõ giặc tập trung hầu hết các đại tướng ở hai nơi quan trọng là Nghệ An và Đông Đô, còn cá đồn ải khác lực lượng của giặc rất mong manh. Vương liền tiến quân ra Bắc Việt lập một trận tuyến theo đường vòng cánh cung đánh vào các miền Thiên Quan, Quảng Oai, Quốc Oai, Gia Hưng, Quy Hóa, Đà Giang, Tam Đái, Tuyên Quang là những căn cứ giáp Thượng Du về hai phía Tây Bắc. Trận tuyến này do Khu Mật Đại Sứ Phạm Văn Khảo, Thái Úy Lý Triện phụ trách đón viện binh của giặc từ Vân Nam kéo xuống do đường thủy hay đường bộ.
Một trận tuyến thứ hai kéo từ Khoái Giang, Bắc GIang, Lạng Giang, Thiên Trường, Kiến Xương, Tân Hưng, Ninh Giang do Lưu Nhân Chú và Bùi Bị điều khiển phòng viện binh từ Lưỡng Quảng tiến sang và chiếm đánh miền Đông Nam Trung Châu xứ Bắc. Thêm vào lực lượng Đông Nam có Đinh Lễ và Nguyễn Xí cũng đem một đạo quân ra tiếp theo đánh thốc lên.
Tại Tây Bắc, Lý Triện lấy được Quốc Oai và Tam Đoái rồi đánh xuống Đông Quan. Trần Trí đem quân ra đóng Ninh Kiều và Ứng Thiên, (theo Trần Trọng Kim các nơi này chắc là vùng huyện Từ Liêm, Thanh Oai, về quãng sông Nhuệ và sông Đáy) có lẽ để tránh sự uy hiếp và phong tỏa thành Đông Quan nhưng bị thua trận, phải rút về đóng phía Tây sông Ninh Giang khúc trên sông Đáy.
Tháng chín hơn một vạn niên binh Vân Nam kéo sang dưới quyền tiết chế của Vương An Lão. Lý Triện bàn với Phan Văn Xảo đem mộ ngàn quân đón đánh ở Tam Giang (Việt Trì). Giặc bị giết và chết đuối ở đây rất nhiều. Còn Lý Triện và Đỗ Bí theo riết Trần Trí, cố ý không cho hai cánh quân mới cũ của giặc hợp nhất. Trần Trí lại bại trận một phen nữa, bị đuổi đến làng Nhân Mạc mất một tướng là Lý Vi Lạng và chết hơn 1.000 binh.
Hai cánh quân của ta thắng trận xong tập hợp làm một, trở lại bao vây Đông Quan. Giặc thấy thế mỗi ngày một nguy ở ngoài Bắc nên Trần Trí phải gửi thư gọi Phương Chính ở Nghệ An ra, gần như phải hy sinh mặt trận miền Nam để cứu lấy căn bản. Phương Chính được tin Đông Quan nguy ngập liền để Thái Phúc giữ thành Nghệ An, vội xuống thuyền theo đường bể ra Bắc.
Từ giai đoạn này trở đi, chiến thuật, chiến lược của Việt quân thay đổi hẳn vì lực lượng và quân số của ta có thể dồi dào như của địch. Tại cá địa điểm sơn cước dĩ nhiên ta vẫn phải lợi dụng các nơi hiểm trở để phục binh đón giặc, còn các miền đồng bằng ta mở các trận địa chiến đại quy mô, do thế ta mới bao vây được giặc ở Đông Đô, Tây Đô và Nghệ An là các căn cứ quan trọng và mạnh mẽ nhất của đối phương. Lương thực cũng sung mãn vì bóng cờ “Đại Thiên Hành Hóa” tới đâu nhân dân các miền quê tự ý hợp nhau cung đốn trâu bò, rượu thịt, vừa để quân đội dùng, vừa để khao thưởng các trận đại thắng. Thật bõ lúc có lần hai tháng phải đào củ ráy, cắt măng vầu và giết voi, ngựa để nuôi sống nhau trong những ngày đen tối ở Chí Linh.
Phương Chính vừa xuống thuyền ra Bắc thì Vương cho Lê Ngân, Lê Văn An, Lê Bôi, Lê Thận, Lê Văn Linh, ở lại tiếp tục vây chặt thành Nghệ An, còn ngài đem quân theo đường bộ đuổi cấp Phương Chính. Ra đến Thanh Hóa, ngài cho đánh Tây Đô nhưng giặc cố thủ nên đánh không được, quân ta đến đóng ở Lội Giang.
4 – Trận Tuy Động
Tháng 11, Minh Đế phái Chinh Di tướng quân Vương Thông và Tham tướng Mã Anh đem 5 vạn quân sang cứu Đông Quan. Trần Trí và Phương Chính bị lột hết chức tước, đặt dưới quyền sử dụng của các tướng mới. Tới nơi, Vương Thông tập hợp cả quân cũ và mới được 10 vạn, cùng ta quyết chiến một trận lớn.
Trận thế của quân Minh liền sắp đặt như sau:
a) Vương Thông dàn quân ở bến Cổ Sở (thuộc huyện Thạch Thất, phủ Quốc Oai Sơn Tây).
b) Phương Chính đóng ở Sa Thôi (thuộc huyện Từ Liêm)
c) Mã Kỳ đóng ở Thanh Oai (bên bờ Nhuệ Giang). Các dồn ải đặt liên tiếp nhau dài hơn 10 dặm để tiện việc thống nhất hiệu lệnh và tương trợ.
Bên ta, Lý Triện và Đỗ Bí đem quân và voi đến Ninh Kiều phục ở Cổ Lãm nhử Mã Kỳ tới. Mã Kỳ đến cầu Tam La chỗ giáp giới huyện Thanh Oai và Từ Liêm thì bị phục binh của ta đánh, nhiều kẻ phải chạy xuống đồng lầy và bị chém tới hơn 1000 người. Quân ta đuổi theo tới làng Nhân Mục bắt được 500 tên, riêng mã Kỳ một người một ngựa trốn thoát.
Lý Triện thừa thắng đánh luôn tới cứ điểm của Phương Chính. Phương Chính thấy mã Kỳ bại cũng không dám chống với quân ta cùng Mã Kỳ về hợp với Vương Thông vẫn đóng nguyên vẹn ở bến Cổ Sở. Tại đây, đại quân của Vương Thông sắp đặt kế phục binh chờ quân ta đến tấn công. Quả nhiên Lý Triện tới. Quân Minh giả thua nhử quân Việt đến thế trận có cắm chông sắt của họ. Tại đây, voi bị chông chênh tiến lên được, quân mai phục của giặc đổ ra, Lý Triện thua chạy về giữ Cao Bộ (huyện Thanh Trì) và gọi quân của Đinh Lễ và Nguyễn Xí đến. Ngay đêm ấy, 2000 viện quân và 2 con voi đến hợp với quân Lý Triện chia ra phục ở Tuy Động thuộc huyện Mỹ Lương và Chúc Động thuộc huyện Chương Đức, phía Đông sông Đáy chỗ ngã ba thá. Ở đây, ta bắt được do thám của giặc, biết Vương Thông đã chuyển lực lượng đến Ninh Kiều và có một đạo quân đang lén đánh vào mặt sau quân Lý Triện. Họ chỉ chờ có tiếng súng hiệu là hai bên đánh lối gọng kìm vào quân ta.
Biết được mưu giặc, bên ta định luôn kế hoạch và phân phối lực lượng theo chiến lược lừa giặc vào tròng. Đinh Lễ cho người bắn súng, quân giặc liền tiến vào chiến trường Tuy Động. Ở đây, trời đang mưa đường lầy lội. Quân ta bốn mặt đánh ập lại. Thượng thư Trần Hạp và nội quan Lý Lương bị chém. Quân Minh xéo lên nhau và nhảy cả xuống sông nghẽn cả dòng nước.
Giặc chết ở đây tới 5 vạn người và bị bắt sống hơn một vạn cùng rất nhiều khí giới, đồ đạc. Trận Tuy Động đáng kể là một trận lớn nhất từ ngày có cuộc chiến tranh giải phóng. Trận này xảy ra hồi tháng 10 năm Bính Ngọ (1426). Xét về quân số của đôi bên trong trận Tuy Động, ta thấy có điều đáng hoài nghi. Nói rằng quân Vương Thông chết tới 5 vạn và bị bắt hơn 1 vạn mà quân của Đinh Lễ, Lý Triện chỉ mấy nghìn mà thắng được như thế có khác nào lấy tay xua đám ruồi nhặng. Quân Minh đâu lại hèn quá như vậy! Con sông Đáy về hạt Chương Mỹ là con sông nhỏ dẫu có ngập xác chết cũng chẳng chứa đựng tới 5 vạn người trên một khúc, vì chiến trường Tuy Động chỉ loanh quanh trong khu vực huyện Chương Mỹ. Cổ sử của ta (Việt sử) ắt có điều thiên vị mà nói ngoa như vậy. Đã đành rằng trong trận này có đại tướng xuất binh và là một trận mà địch quân lớn, quân số của giặc nhiều hơn quân ta gấp năm, bảy mà thôi và giặc đã đại bại nên sau đó phải rút cả vào thành Đông Quan.
5 – Việt Quân Phong Tỏa Đông Đô
Bình Định Vương đang đóng ở Lội Giang (Thanh Hóa) thì được tin mặt trận miền Bắc của ta thắng thế. Xét cần giải quyết mặt trận này để kết liễu chiến tranh, vì lực lượng của địch mười phần đã suy nhược tới sau bảy và ta đã thu phục được gần hết các đất đai trong nước, Vương liền tiến đại quân ra Bắc.
Tới nơi, việc phân phối quân đội thủy bộ được dễ dàng vì địch đã rút hết binh đội vào thành Đông Quan.
Bùi Bị đem một vạn bộ binh bí mật đóng ở Tây Dương Kiều. Quân của Vương hạ trại ngay ở gần thành Đông Quan. Thủy quân của giặc tan rã, các chiến thuyền từ Hát Giang thuận dòng sông Nhị tới đóng ở bến Đông Bộ Đầu.
Từ khi Bình Định Vương có mặt tại trận tuyến Bắc Việt, nhân tài hào kiệt ra đsn chào và nô nức theo đi đánh giặc, Vương tùy theo khả năng của mọi người mà giao phó trách nhiệm.
Bấy giờ các tướng Minh ở nơi xa thấy Đông Đô lâm vào cảnh cơ nguy và nền đô hộ của không có tương lai nên nhiều kẻ chán nản mở cửa thành xin quy phục theo lời chiêu hàng của Nguyễn Trãi. Bình Định Vương xét có thể lập được guồng máy chính quyền để tăng cường tinh thần chiến đấu và lòng tin cậy của nhân dân trong giai đoạn chót, nên chia ngay Bắc Việt ra làm bốn đạo:
1) Tây đạo gồm trấn Tam Giang, Tuyên Quang, Hưng Hóa.
2) Đông đạo gồm trấn Thượng Hồng, Hạ Hồng, Thượng Sách, Hạ Sách và lộ An Bang.
3) Bắc đạo gồm trấn Bắc Giang và Thái Nguyên.
4) Nam đạo gồm Khoái Châu, Lý Nhân, Tân Hưng, Kiến Xương, Thiên Trường.
Đối với Vương Thông và các tướng lĩnh trong thành Đông Đô, Bình Định Vương cùng quan Hàn Lâm Thừa Chỉ Nguyễn Trãi xét họ đường đường là những quân nhân có tên tuổi của Bắc triều, không thể dùng từ lệnh chiêu hàng, mà cần bàn cuộc giảng hòa bằng lời thư khéo léo, mềm mỏng để giữ thể diện cho họ rút về nước là hơn, khỏi kéo dài chiến tranh và bớt sự hao tổn tài sản, tính mạng nhân dân. Nguyễn Trãi liền viết thư cho Vương Thông, cương nhu đủ giọng, cởi buộc đủ các lẽ. Có khi họ Nguyễn không từ miệng cọp vào thành Đông Quan và nhiều thành khác, lấy lẽ lợi hại chiêu dụ các tướng của địch.
Thái độ của Vương Thông và đồng bọn thế nào?
Bên trong, các tướng lĩnh Minh từ Vương Thông, Sơn Thọ trở xuống đều nhận thấy tình thế lúc này của họ là tuyệt vọng, cũng muốn có cuộc bãi binh nhưng lại thắc mắc về cái nhục chiến bại. Rồi sau họ cũng thuận việc giảng hòa và lục tờ chiếu của vua Minhniên hiệu Vĩnh Lạc (1407), nói về việc khôi phục họ Trần để cùng họ VƯơng lo liệu cuộc đình chiến. Bấy giờ, có người tên là Hồ Ông xưng là cháu ba đời của vua Nghệ Tông, trốn ở Ngọc Ma, Vương cho đón về đổi tên là Trần Cao, lập lên làm vua, Vương xưng là Vệ Quốc công. Sau đó, Vương làm sớ lên Miên Đế xin tôn lập Trần Cao làm Quốc Vương nước Nam và đính ước với Vương Thông gọi quân các nơi về họp ở Đông Đô để sửa soạn việc hồi hương. Công chuyện nhường như ổn thỏa thì bọn Việt gian phản đối. Chúng khéo nhắc chuyện bãi chiến xưa kia giữa binh đội nhà Nguyên với các tướng nhà Trần đã xảy ra một việc thiếu thành thực khi Ô Mã Nhi về Tàu, Hưng Đạo Vương cho gia nhân ngầm đục thuyền khiến Ô Mã Nhi phải bỏ mạng trên Bạch Đằng Giang. Bọn Vương Thông bấy giờ đang bị khủng hoảng tinh thần liền nghe bọn họ (Trần Phong, Lương Nhữ Hốt…) Sở dĩ mấy kẻ Việt gian đó phá cuộc giảng hòa bởi chúng không những sợ mất địa vị lại còn lo nguy đến tính mạng của chúng cùng vợ con. Vương Thông vì thế sinh ra gian dối, bên ngoài mềm mỏng với Bình Định Vương, bên trong ngầm sai người về Tàu xin viện quân của Minh triều vừa cầu cứu cả Cố Hưng Tô, trấn thủ Quảng Tây. Hồi tháng 6 năm Đinh Tị (1427), đạo quân Quảng Tây tới cửa ải Pha Lũy (có lẽ thuộc Lạng Sơn) bị các tướng của ta là Lê Lưu, Lê Bôi đánh tan khiến họ Vương đành thúc thủ chờ viện binh chính thức.
Trong giai đoạn này, Việt quân khắp mọi nơi đều giữ thế công và quân Minh giữ thế thủ vì không đủ tinh thần mở các trận đại quy mô nữa. Bình Định Vương vừa đánh vừa tung hịch đi khắp nơi để chiêu hàng những trấn thành còn đang nằm trong tình thế chờ đợi. Đầu năm Đinh Tị (1427), bọn Thái Phúc và Tiết Tụ giữ thành Nghệ An và Diễn Châu mở cửa xin hàng.
Bình Định Vương tiến đóng đại bản doanh ở Bồ Đề, một căn cứ ở phía Bắc sông Nhị để chỉ huy việc công phá thành Đông Quan. Trịnh Khả đánh cửa Đông, Đinh Lễ đánh cửa Nam, Lê Cúc đánh cửa Tây, Lý Triện phá cửa Bắc.
Trong lúc quân Minh suy nhược, ta mất hai đại tướng vì khinh địch. Lý Triện giữ Từ Liêm không đề phòng cẩn thận bị quân của Phương Chính đánh lén tử trận. Đinh Lễ, Nguyễn Xí trốn thoát, còn Đinh Lễ bị giết.
Một mặt vây đánh ráo riết thành Đông Quan, mọt mặt Vương thiết quân luật để giữ trật tự trong quân dân như sau:
- Cấm tả đạo (chuyện ma quỷ để lừa dối dân chúng).
- Những dân bị loạn ly phải siêu tán được trở về nguyên quán làm ăn như cũ.
- Vợ con và thân nhân của những ai làm việc với giặc được phép lấy tiền để chuộc tội.
- Tù binh được đưa về Thiên Trường, Lý Nhân, Kiến Xương, Tân Hưng, nuôi nấng tử tế.
Đối với dân thì như vậy, còn đối với các phần tử của chính quyền có ba điều răn này:
- Cấm lừng khừng
- Cấm khi mạn
- Cấm gian dâm
Các tướng sĩ phải theo 10 điều quân kỷ dưới đây;
1) Trong quân không được làm điều huyên náo.
2) Tránh những tin đồn nhảm làm hoang mang lòng người.
3) Lâm trận thấy cờ phất, trống giục thì phải tiến.
4) Thấy kéo cờ dừng chân thì ngừng bước.
5) Nghe chiêng đánh hồi quân thì phải lui.
6) Giữ nghiêm hàng ngũ.
7) Phải lo việ quân trước việc gia đình.
8) Cấm ăn cắp hối lọ của dân đinh phải đi lính và làm sổ sách mập mờ.
9) Phải công bằng trong việc xét công trạng binh đội.
10) Tránh việc gian dâm, trộm cắp.
Tướng sĩ nào phạm vào một trong 10 điều răn này cũng đủ bị tội chém.
Nhờ có quân lệnh nghiêm ngặt như vậy nên dân chúng rất có cảm tình với quân kháng chiến và nhiệt liệt tham gia cuộc tranh đấu.
6 – Trận Chi Lăng
Tin Vương Thông thua trận Tuy Động, Trần Hạp bỏ mạng, đại quân hao tổn rất nhiều đã chấn động cả triều Minh. Vua Minh liền phái Chinh Lự phó tướng quân An viễn Hầu Liễu Thăng, Tham tướng Bảo Định Bá Lương Minh, Đô Đốc Thôi Tụ, Binh Bộ Thượng Thư Lý Khánh, Công Bộ Thượng Thư Hoàng Phúc, Thổ Quan Hữu Bố Chính sứ Quảng Tây tiến vào Việt Nam. Một đạo khác do Chinh Nam tướng quân kiêm Quốc Công Mộc Thạnh, Tham Tướng Hưng An Bá Từ Hạnh, Tây Ninh Bá Đàm Trung điều động gồm 5 vạn lính và 1 vạn con ngựa đồng thời sang tiếp viện cho lực lượng của Vương Thông đang bị vây hãm ở Đông Đô. Quân Liễu Thăng tràn vào cửa Pha Lũy (Nam Quan), quân Mộc Thạnh vượt qua cửa Lê Hoa, tương truyền thuộc Tuyên Quang.
Tin viện binh đến đã được mang ra thảo luận rất sôi nổi.
Trái với ý kiến của nhiều tướng lĩnh, Bình Định Vương cho rằng nhân dịp này đem hết sức mạnh để lấy Đông Đô là hạ sách mà đánh tan quân cứu viện được thì tất nhiên Đông Đô không đánh cũng phải hàng. Như vậy là bắn một mũi tên được hai con chim.
Việc này được mọi người hoan nghênh, Vương liền hạ lệnh cho dân chúng các vùng Lạng Giang, Bắc Giang, Tam Đái, Tuyên Quang, Tuy Hoa tản cư, áp dụng kế thanh dã (vườn không nhà trống). Các cứ điểm được sắp đặt kỹ càng để đợi viện quân của đối phương, và quân giặc đến thì đánh ngay, bởi chnsg vượt dặm trong ít ngày tới nơi phải mệt nhọc, quân ta được nhàn nhã sung sức tất có hy vọng chiến thắng dễ dàng.
Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Linh, Lê Thụ lĩnh 1 vạn tinh binh và 5 con voi phục ở ải Chi Lăng chờ quân Liễu Thăng, Phạm Văn Xảo, Lê Khả, Lê Trung, Lê Lý chia quân các nơi chặn giặc.
Tướng giữ ải Nam Quan (Phá Lũy) là Lê Lựu (V.N. Sử Lược chép là Trần Lựu) thấy giặc vừa đông vừa mạnh tự lượng không chống nổi rút về Ai Lưu. Giặc tiến đánh AI Lưu, Lê Lựu rút về Chi Lăng. Giặc tiến đánh Chi Lăng thì gặp phục binh của ta. Lê Lựu ra khiêu chiến nhử giặc đuổi theo. Nghe tiếng pháo hiệu nổ, biết Liễu Thăng và quân bản bộ đã vào đúng trận thế, các tướng Lê Sát, Lưu Nhân Chú hô quân mai phục bổ vây chặt chẽ. Giặc hoảng hốt chen nhau, dầy xéo nhau mà chết, Liễu Thăng cùng 100 quân kỵ chạy đến chỗ bùn lầy thì không tiến được nữa, bị chém ở núi Mã Yên. Trận này khởi từ ngày 18 tháng 9 đến ngày 20 thì kết liễu, chủ tướng chết cùng hơn một vạn binh sĩ. Đạo quân tiếp ứng ba vạn người của Lê Lý vừa kịp đến, nhân cái đà thắng trận ùa vây đánh quân Minh chém được Lương Minh ngày 25. Lý Khánh lâm bước nguy kịch ba hôm sau cũng tự sát trong đám loạn quân. Còn lại Hoàng Phúc, Thôi Tụ, đem tàn quân chạy về thành Xương Giang (thành này xây ở xã Thọ Xương phủ Lạng Giang). Nửa đường họ bị quân Lê Sát đuổi kịp đánh cho tơi bời. Thôi Tụ liều chết chạy được tới thành Xương Giang thì thành này đã treo cờ Việt quân. Chiếm được thành này là tướng Trần Nguyên Hãn. Thôi Tụ đành phải rút lui ra ngoài đồng lập trại và đắp lũy để chống giữ.
Lúc này trời mưa bão, giặc không tiến được. Đêm tối Thôi Tụ cho bắn sung làm hiệu để quân trong hai thành Đông Quan và Chí Linh tới cứu, không biết hai nơi này cũng đang lâm nguy. Bình Định Vương chia quân chặn hết các địa điểm thủy bộ từ cửa ải Mã Yên, Chi Lăng và Pha Lũy. Trần Nguyên Hãn được đặc ủy chẹn đường vận lương của giặc. Thôi Tụ, Hoàng Thúc biết tiến thoái đều không có lỗi, xin hòa nhưng ngầm di binh đến thành Chí Linh. Vương biết mưu gian, cho Lê Vân, Lê Ý xông vào chém được hàng vạn thủ cấp, bắt sống được Thôi Tụ và Hoàng Phúc cùng rất nhiều tù binh. Thế là đạo quân Liễu Thăng chưa vào tới miền đồng bằng Bắc Việt đã bị cái cảnh trúc chẻ ngói tan vô cùng bi đát.
Mộc Thanh đem quân đến cửa Lê Hoa gặp cá tướng Phạm Văn Xảo, Lê Khả. Theo mật lệnh của Vương, các tướng bố trí quân mai phục nhưng không được vội giao chiến vì Mộc Thạnh là các lão tướng có kinh nghiệm chiến trường, không hành quân một cách xốc nổi hẳn còn chờ xem sự thành bại của Liễu Thăng rồi mới hành động. Khi diệt được đạo quân của Liễu Thăng, vương cho dẫn một viên chỉ huy, ba viên Thiê Hộ trong số tù binh cùng sắc thứ ấn tín của Liễu Thăng đưa đến hành doanh của Mộc Thạnh. Được rõ sự thật, Mộc Thạnh hết sức kinh hoàng bỏ chạy, bị các tướng Xảo, Khả đuổi đánh và cũng khá tan nốt đạo quân này ở ngòi Lĩnh Thủy. Hơn một vạn quân Minh bị giết ngoài những kẻ bị ngã xuống khe ngòi bỏ chạy không kể xiết. Mộc Thạnh một người một ngựa trốn thoát.
7 – Quân Minh Xin Hòa Giải
Tới giai đoạn này viện quân của Minh triều bị đại bại, tinh thần của đối phương ở nhiều trấn thành xã xuống rất mạnh. Nhiều tướng lĩnh Minh xin quy phục, chỉ còn 5 thành: Tây Đô, Cổ Lộng (nền cũ của thành này còn ở làng Bình Cách, huyện Ý Yên, tình Nam Định), Đông Quan và Chí Linh vẫn chưa xao xuyến lắm.
Đáng lẽ quân ta tổng tấn công các thành đó trong lúc quân dân của chúng ta đang thừa hăng hái, Bình Định Vương sai viên Thông Sự Đặng Hiếu Lộc dẫn Thôi Tự, Hoàng Phúc và một số tù binh cùng quả ấn song hổ và cờ kiếm, sổ sách đưa vòa thành Đông quan. Trước đây bọn Vương Thông thấy quan ta phô những khí giới bắt được trong lúc hạ thành Xương Giang và tuy nghe thấy viện quân thua to nhưng vẫn còn phân vân, nay được thấy hiển nhiên tình trạng của Hoàng Phúc, Thôi Tụ thì tuyệt vọng và hoảng sợ hết sức. Bên ngoài chúng thấy Việt quân dựng đồn thắp lũy dự định công phá, lại càng mất mật.
Mưu thuật này đạt được đúng kết quả mong muốn là đánh một đòn nặng vào tâm lý địch giữa lúc họ đang khủng hoảng tinh thần. Biết tình thế hoàn toàn đổ vỡ, Vương Thông, Sơn Thọ cử phái viên là Thiên Hộ họ Hạ đến đại bản doanh của Bình Định Vương đề nghị thành thực cầu hòa và xin mở đường cho chúng lui binh về nước.
Tướng sĩ và nhân dân không tán thành cuộc hòa giải vì lòng người còn căm giận sự tàn bạo trước đây của giặc Minh.
Dư luận còn đang phân vân, Nguyễn Trãi bàn:
- Giặc Minh tàn bạo nhân dịp này giết hết chúng đi là phải, nhưng phải nghĩ nước mình là nước nhỏ, nước chúng lớn gấp mấy chục lần thì xung đột với chúng chỉ là sự bất bắc dĩ. Nếu mối thù ngày một thêm sâu, giặc mất thể diện lại kéo binh sang nữa thì cuộc chiến tranh biết bao giờ mới dứt được. Sao bằng chấp thuận cuộc hòa hiếu để tạo phúc cho sinh linh hai nước. Thả Vương Thong và đồng bọn về, hẳn chúng không còn lòng nào trở sang nữa. Xem như bài biểu dấu trong thỏi sáp của y gửi về Minh triều có câu: “Xin thôi đừng vì miếng đất hẻo lánh một phương mà làm nhọc nhằn quân lính đi xa muôn dặm. Bây giờ muốn đánh lại phải huy động đại quân như buổi ra đi, đại tướng phải sau bảy người vào hạng Trương Phụ. Nhưng dù lấy lại được thì sự giữ sau này cũng vẫn khó lòng…”
Vương gật đầu khen phải, nói:
“Phục thù báo oán là cái thường tình của mọi người, nhưng bản tâm người nhân không muốn có việc giết người bao giờ, huống hồ người ta đã hàng mà giết thì không hay. Thỏa cái giận một lúc mà đeo cái tiếng muôn đời giết kẻ đầu hàng, sao bằng cho muôn vạn người cùng sống để tránh cuộc chiến tranh cho đời sau, lại còn được tiếng thơm lưu truyền sử xanh mãi mãi…”
Qua câu nói trên đây của Bình Định Vương Lê Lợi, ta thấy rằng người xưa cũng quan niệm giết kẻ đã hạ khí giới là nhỏ mọn, tầm thường, đối với đạo đức còn là điều bất nhân nữa. Ngoài ra, các nhà chính trị thuở đó cũng đã rõ sức mình sức người, nên trước đời bấy giờ cho tới sau này, tiền nhân ta luôn luôn có thái độ dè dặt, khiêm nhượng mỗi khi đuổi xong kẻ thù. Thái độ này quả là khôn ngoan lắm vậy.
Sau việc bàn luận này, Vương cho lập đàn thề ở phía Nam thành Đông Quan hẹn đến tháng chạp thì quân Minh phải về nước. Còn với dân chúng, Vương tuyên lời cáo dụ cho biết chiến tranh đã kết liễu và nền độc lập của nước ta đã khôi phục xong.
Các tướng lĩnh Minh còn lại ở các thành khi ấy là:
Tại Đông Quan có Vương Thông, Mã Anh, Lý An, Trần Trí, Sơn Thọ, Mã Kỳ, Phương Chính. Tại Tây Đô có Hà Trung. Tại Chí Linh có Cao Tường.
Họ phải nộp lại cho quân ta bọn người Nam lĩnh quan chức của nhà Minh cùng những binh dân bắt hiếp phải theo. Chúng ta sửa đường xá, cấp phát thuyền bè cho bọn họ tùy tiện hai đường thủy bộ để hồi hương.
Số tù binh cùng hành binh và vợ con của chúng có tới 10 vạn người cũng được trao trả cho họ. Xem con số này, ta phải rùng mình về cái nạn ăn bám, cái nạn đục khoét của bọn giặc Minh và thê tử, thân nhân của chúng trong mười năm cắm sào trên đất nước ta.
Theo Trúc Khê trong cuốn “Nguyễn Trãi”, số người Tàu vừa quân vừa dân được hồi hương là 30 vạn. Theo Trần Trọng Kim, Bình Định Vương giao cho Mã Anh 2 vạn tù binh và cho Phương Chính, Hoàng Phúc, Sơn Thọ 500 chiếc thuyền cùng lương thảo đầy đủ để trở về bằng thủy đạo, Vương Thông lĩnh bộ binh đi sau và được tiễn biệt rất hậu.
Theo sự suy cứu của chúng tôi, con số của hai ông đưa ra có lẽ không sát sự thực. Số tù binh và hàng binh có thể tới hai ba vạn, tàn quân trong tay Vương Thông ít nhất cũng còn một hai vạn, tàn quân trong tay Vương Thông ít nhất cùng còn một hai vạn, quân của bọn Hoàng Phúc, Thôi Tụ mang sang nước ta chuyến cuối cùng dầu bị chết nhiều cũng còn vài vạn, cộng với cá viên chức hành chính và vợ con của họ ở ngót 500 nha môn và nhân dân theo chúng sang bên này làm ăn hoặc báo hại phải trên 10 vạn. Vậy theo con số của Trúc khê e quá sự thật, của Trần Trọng Kim thì ít quá. Cứ xem trong thời Tây thuộc, kiều dân Pháp kể cả binh đội thường trú thời bình còn tới 50 ngàn. Với bọn người Minh trong thời chiến tranh và do sự gần gữi hai nước Việt Hoa, con số có thể lên tới gấp đôi, gấp ba.
8 – Việc Cầu Phong
Về việc cầu phong, các nhà lãnh đạo thuở đó, như trên đã nói, đã cố tránh sự thất thể diện cho Minh triều nên đã đưa Trần Cao ra làm bung xung cho hợp với tinh thần tờ chiếu của vua Minh niên hiệu Vĩnh Lạc (1407). Minh Tuyên Tông, do lời báo cáo của bọn quan lại và tướng ta ở An Nam về, cũng hiểu rõ địa vị của Trần Cao chỉ là một bù nhìn, nhưng vì thất trận và cũng thiệt hại quá nhiều binh mã nên đành chấp thuận việc cầu phong êm chuyện, nhất là quần thần đều tán thành cuộc bãi chiến với phương Nam.
Lễ Bộ Thị Lang là Lý Kỳ sang tuyên chiếu phong Trần Cao làm An Nam Quốc Vương và bãi tòa Bố Chính.
Tháng chạp năm Đinh Tị, bọn Vương Thông thất thểu về đến Long Châu. Thấy tình trạng của binh tướng không sao gắng gượng được nữa, Minh Đế đành ban sắc dụ trả nước An Nam và khuyên giữ theo lệ triều cống khoảng năm Hồng Vũ[3] xưa.
Về phương diện tài liệu, chúng tôi thấy cần chép bài chiếu xin cầu phong, đại lược như sau:
“Khi vua Thái Tổ Cao Hoàng Đế mới lên ngôi, tổ tiên tôi là Nhật Khuê vào triều cống trước hết, bấy giờ Ngài có ban thưởng và phong tước vương. Từ đó nàh tôi vẫn nối đời giữ bờ cõi, không bỏ thiếu lễ triều cống bao giờ.
Mới rồi, nhân họ Hồ thoán nghịch, vua Thái Tông văn Hoàng Đế đem quan sang hỏi tội. Sauk hi đã dẹp yên rồi, ngài có hạ chiếu tìm con cháu họ Trần để giữ lấy dòng dõi cúng tế. Bấy giờ quan Tổng Binh Trương Phụ tìm chưa được khắp, đã xin đặt làm quận huyện.
Nguyên tôi lúc trước vì trong nước có loạn, chạy trôn qua xứ Lão Qua, cũng là tìm chốn yên thân mà thôi, không ngờ người trong nước vẫn quen thói mọi, nhớ đến ân trạch nhà tôi thuở trước lại cố ý ép tôi phải về, bất đắc dĩ tôi cũng phải theo.
Dẫu rằng trong khi vội vàng, bị người trong nước cố ép, nhưng cũng là cái tội tôi không biết liệu xử. Mới đây tôi đã có xin lỗi trước hàng quân, nhưng không ai chịu nghe, bấy giờ người nước tôi sợ phải tai vạ, liền đem nhau ra phòng bị các cửa ải, cũng là một kế giữ mình.
Ngờ đâu quan quan xa xôi mới đến thấy voi sợ hãi, tức khắc vỡ tan. Việc đã như vậy, dầu bở sự bất đắc dĩ của người trong nước cũng là lỗi của tôi. Nhưng bao nhiêu binh mã bắt được đều được thu dưỡng tử tế, khong dám xâm phạm một chút nào.
Dám xin Hoàng Thượng ngày nay lại theo như lời chiếu của vua Thái Tông Văn Hoàng Đế tìm lấy con cháu họ Trần, nghĩ đến cái lòng thành triều cống trước nhất của tổ tiên tôi ngày xưa mà xá cái tội to như gò núi ấy không bắt phải phạt nặng bằng búa rìu, khiến cho tôi được nối nghiệp ở xứ Nam, để giữ chức triều cống.
Tôi đã sai người thân tín mang tờ biểu tạ và đưa trả ấn tín, nhân mã tới chốn kinh sư, nay lại xin đệ tâu những danh số ấy.”
Ngoài tờ biểu này, sứ bộ là các ông Lê Thiếu Đĩnh, Lê Quang Cảnh, Lê Đức Huy, còn dâng các phương vật sau đây:
1) Hai người vàng để thay mình;
2) Một lư hương bằng bạc;
3) Mội đôi bình hoa bằng bạc;
4) Ba chục tấm lượt;
5) Mười bốn đôi ngà voi;
6) Mười hai bình hương trầm;
7) Hai vạn nén hương duyến;
8) Hai mươi bốn cây hương trầm;
(ngoài ra còn nộp hai cái dấu đài ngân, đôi hổ phù của Chinh Lự phó tướng quân, cùng sổ quân đã bị bắt).
Giặc đã ra khỏi bờ cõi, công cuộc giải phóng dân tộc đến đây là thành công trọn vẹn. Bình Định Vương cử ông Nguyễn Trãi làm bài tuyên cáo quốc dân tức là bài Bình Ngô Đại Cáo. Bài Bình Ngô Đại Cáo là một áng danh văn chính trị được ghi vào văn học sử nước nhà, chẳng những người đồng thời của Ức Trai tiên sinh phải khâm phục mà đến ngày nay cũng được coi là một tác phẩm bất hủ. Trúc Khê dịch ra văn quốc âm như sau:
Thay trời làm việc, Hoàng Thượng dạy rằng:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước vì khử bạo
Nước Đại Việt ta
Nền văn hiến cũ
Non nước bờ cõi đã khác,
Bắc Nam phong tục vẫn riêng.
Cơ đồ gây dựng trải Triệu, Đinh, Lý, Trần,
Đế bá tranh hùng cùng Hán, Đường, Nguyên, Tống
Tuy mạnh yếu từng khi có khác,
Nhưng hào kiệt chẳng thuở nào không.
Cho nên:
Lưu cung tham công mà phải thua,
Triệu Tiết muốn lớn càng mau mất.
Toa Đô đã bị bắt ở cửa Hàm Tử,
Ô Mã phải chết ở sông Bạch Đằng.
Xét lại việc xưa,
Hãy còn chứng rõ
Gần đây, nhân:
Họ Hồ ngang ngược,
Lòng người căm hờn,
Quân Minh thừa dịp hại dân,
Đảng ngụy manh lòng đem bán nước.
Hơ lũ đầu đen trên lửa bỏng
Đẩy phường con đỏ xuống hang sâu.
Dối trời hại dân, gian xảo dù muôn nghìn lối;
Gây binh nhóm loạn, tàn hại trải hai mươi năm,
Nhân nghĩa vứt đi hoài, vũ trụ tưởng chừng muốn sập;
Thuế má vét cho đẫy, núi khe sạch nhẵn như chùi.
Kẻ bị ép xuống khơi mò ngọc, cá nuốt song vùi.
Bẫy dân cạm đặt khắp nơi nơi,
Vét vật lưới chăng từng chốn chốn.
Dẫu loài sâu bọ cỏ cây, khôn bề rảnh sống;
Đến kẻ góa bụa, cùng khổ khó nỗi an thân
Máu mỡ dân chúng, nay xây mai dựng.
Chốn châu Lý nặng nề sưu dịch;
Trong xóm làng quạn vắng cửi canh.
Múc cạn nước Đông Hải dễ mà rửa sạch thanh nhơ;
Đẵn hết trúc Nam Sơn, chẳng đủ biên ghi tội ác.
Thần, người đều căm giận;
Trời đất chẳng dong tha.
Ta, phát tích tự núi Lam Sơn,
Náu hình trong nơi hoang dã.
Trước thù lớn làm ngơ không thể,
Cùng giặc già chung sống được sao!
Đau lòng não ruột đã ngoài mười niên,
Nếm mật nằm gai, phải đâu một buổi!
Quên ăn, bỏ ngủ, dùi mài các sách lược thao;
Xét xưa nghiệm nay, suy cứu mọi lẽ hung phế!
Đồ hồi chính định,
Thức ngủ không quên.
Giữa khi quân nghĩa nổi lên,
Chính lúc thế giặc đang mạnh
Buồn nỗi nhân tài còn ít ỏi,
Tuấn kiệt còn vắng thưa.
Chạy chọt sau trước không đủ người,
Trù hoạch mưu mô còn thiếu kẻ.
Chỉ vì lòng dân cứu dân không nguôi nửa khắc;
Cho nên xe đãi hiền dành sẵn một bên.
Nhưng đợi người, người vẫn xa xăm
Mà việc mình mình càng nóng sốt.
Giận tặc đồ chưa trừ khử được,
Buồn quốc bộ vẫn truân khiển hoài,
Linh son hương cạn đến hàng tuần;
Khôi huyện quân không còn một toán.
Bởi trời muốn thử ta để trao nhiệm vụ,
Nên ta càng gắng chí để chống gian nan
Tu tập các đám lưu dân, tay vác cần câu ra đánh giặc;
Gắn bó một lòng phụ tử, rượu hòa nước lã để khao quân.
Lấy yếu chống mạnh hoặc đánh lúc bất ngờ,
Lấy ít địch nhiều, hoặc dùng quân mai phục
Rút lại thì lấy đại nghĩa mà thắng được hung tàn;
Lấy chí nhân mà đè được cường bạo.
Dải bồ tát sấm ran chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ, ngót bay.
Sĩ khí nhân thế càng tăng thêm,
Quân thanh nhân thế càng lừng lẫy.
Một bọn Trần Trí, Sơn Thọ, nghe hơi mà bở vía;
Mấy gã Lý An, Phương Chính nhịn thở cầu thoát thân;
Thừa thắng ruổi dài, Tây kinh đã thu phục.
Thuận đường thẳng tiến Đông Đô lại lấy về.
Máu Ninh Kiều lênh láng thành sông, tanh trôi muôn dặm.
Tây Tốt Động (Chúc Động) ngổn ngang đầy nội, như để nghìn năm.
Trần Hiệp (Hạp) là tâm phúc của giặc đã phải bêu đầu;
Lý Lương là sâu mọt dân ta lại liền bỏ mạng.
Vương Thông nhảy vào chữa cháy mà càng cháy,
Mã Anh xông đến gỡ nguy mà càng nguy.
Bó tay đợi chết họ đã quẫn cùng;
Không đánh tự tan, ta dùng mưu thuật.
Vẫn tưởng chúng phải thay lòng đổi ý;
Không ngờ họ còn giở chuyện bày trò.
VÌ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác;
Tham công danh một buổi, để cười cho tất cả nhân gian.
Do đó thằng nhãi Tuyên Đức (vua Minh) nối giáo không ngừng
Khéo sai thằng Liễu Thăng đem dầu chữa cháy,
Đinh Mùi tháng chín, Liễu Thăng dẫn binh từ Khâu Ôn tiến đến;
Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam kéo sang,
Ta đã đặt phục binh đánh cho giập đầu;
Sau lại đặt kỵ binh, chẹn cho đứt cuối.
Ngày mười tám, Liễu Thăng bị đánh, sa cơ ở Chi Lăng;
Ngày hai mươi, Liễu Thăng bị thua bỏ mạng ở gò Yên Ngựa (Mã Yên)
Ngày hai mươi tám, Thượng Thư Lý Khánh cùng kế phải quyên sinh.
Ta đưa mũi nhọn rạch phăng,
Họ quay đầu giáo đánh lộn;
Kế đó bốn mặt thêm quân để vây bọc;
Định đến trung tuần tháng mười sẽ diệt trừ.
Bèn tuyển những đội quân gấu hùm,
Và sai những bầy tôi nanh vuốt.
Voi uống khiến nước sông với cạn,
Gươm mài nên đá núi thủng mòn.
Một trần mà ngạc mổ kình phanh,
Hai trận mà chim tan, thú giãn.
Tổ kiến lớn phá toang đê núng,
Trận gió to rung trút lá khô.
Đô Đốc Thôi Tụ quỳ gối xin thương.
Thượng Thư Hoàng Phúc cúi đầu chịu trói.
Lương Sơn, Lạng Giang, thây chết nằm bề bộn;
Xương Giang, Bình Than, máu đỏ nhuộm lênh lang.
Gió mây đến nỗi bàng hoàng,
Nhật nguyệt ra chiều ảm đạm,
Quân Vân Nam bị ta chẹn ở Lê Hoa, hồ đồ sợ bón mà trước tự vỡ mật;
Quân Mộc Thạnh bị ta phá ở Cần Trạm, dầy đạp lẫn nhau mà chạy lấy thoát thân
Lãnh câu máy chảy đầy sông, nước vang tiếng rú;
Đan xá thây trồng khắp nội, cỏ đẫm màu hoen.
Cứu binh hai đạo đã vơ tan tành;
Cùng khấu các thành đều cởi giáp hàng phục.
Tướng giặc bị cùm, van vi họ đã xin cho toàn mạng;
Thần võ chẳng giết, khoan hồng ta cũng mở lượng hiếu sinh.
Bọn Tham Chính Phương Chính, Nội Quan Mã Kỳ,
Trước được cấp năm trăm chiếc thuyền, đã vượt bể mà vẫn hồn kinh phách tán;
Lũ Tổng Binh Vương Thông, Tham Chính Mã Anh,
Lại được cấp mấy nghìn cỗ ngựa, đã về nước mà còn mặt xám mày xanh.
Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng,
Ta thấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế đã xâu xa nhiều lắm,
Cũng là xưa nay chưa nghe thấy bao giờ.
Xã tắc từ đây sẽ vững yên,
Non sông từ đây sẽ đổi mới.
Càn khôn đã bỉ mà lại thái,
Nhật nguyệt đã mờ mà lại trong.
Đặng mở nền bình trị muôn năm,
Đặng rửa vết thẹn thùng nghìn thuở?
Âu cũng do trời đất tổ tông linh thiêng,
Đã lặng thầm giúp vì mới được thế
Ôi! Ba quân rong ruổi, hoàn thành công đại định.
Mừng nay bốn bể thăng bình, bá cáo lời duy tân từ đó,
Bảo khắp tiên hạ, ai nấy đều hay.
NHÀ HẬU LÊ
1) Lê Thái Tổ
2) Lê Thái Tông
3) Lê Nhân Tông
4) Lê Thánh Tông
5) Lê Hiến Tông
6) Lê Túc Tông
7) Lê Uy Mục
8) Lê Tương Dực
9) Lê Chiêu Tông
10) Lê Cung Hoàng
I - Lê Thái Tổ (1428 – 1433)
Trước đây, vì vấn đề thể diện của nhà Mnh, Bình Định Vương phải đưa Trần Cao ra cho hợp lý “phù Trần diệt Hồ” mà bọn Trương Phụ đã tung ra trong lời hịch. Nay việc chiến tranh đã yên, nếu Trần Cao đóng vai nguyên thủ, tình thế sẽ ngang trái bởi quốc dân quan niệm vị cộng chủ của quốc gia phải là người có công ơn với đất nước và có tài đức khả dĩ để chế phục nhân tâm.Trần Cao biết địa vị mình sẽ là điều khó xử cho quốc dân nên bỏ trốn vào châu Ngọc Ma (phủ Trấn Ninh), sau bị bắt và phải uống thuốc độc mà chết.
Bình Định Vương lên ngôi năm Mậu Thân (1428), đặt quốc hiệu là Đại Việt.
Ngài cho sứ sang tàu cầu phong nhưng nhà Minh không nghe đòi phải kiếm người khác thuộc dòng nhà Trần để lập làm vua. Hai ba lần biểu qua sứ lại, các phụ lão nước Nam vẫn khai họ Trần không còn ai nữa, sau vua Minh phải thuận.
Nước ta cứ ba năm phải cống nhà Minh một lần và lần nào cũng phải đúc hai người bằng vàng gọi là “Đại thân kim nhân” để thế mạng cho Liễu Thăng và Lương Minh là 2 viên đại tướng đem viện quân sang bị ta đánh bại và tử trận. Âu cũng là một cách bòn rút của triều Minh khi họ phải gặt nước mắt rời bỏ mảnh đất phương Nam béo bở này. Nước ta nhỏ mà các lân quốc Đông Nam Á cũng chỉ là những tiểu dân tộc không thể hợp thành được một sức mạnh để chống lại Trung Quốc, đành thi hành câu “tránh voi chẳng hổ mặt” miễn là họ đừng phạm vào chủ quyền của nước ta. Việc thần phục chỉ là một chuyện hình thức mà thôi. Các triều đại trước đã áp dụng mánh lới ngoại giao này, các triều đại sau cũng không thể làm khác được.
Vua Thái Tổ phong thưởng cho các công thân, đó là việc tất nhiên phải làm trước. Đứng đầu quan văn là Nguyễn Trãi, đứng đầu võ quan là Lê Văn. Các đại thần có Trần Nguyên Hãn làm Tả Tướng Quốc, Phạm Văn Xảo giữ chức Thái Úy.
Công thần chia ra làm ba bậc để hưởng tước. Bậc nhất được hưởng tước Thượng Trí Tự. Bậc nhì được tước Đại Trí Tự. Bậc ba được Trí Tự.
1 – Học Chính
Vua Thái Tổ cho đặt trường Quốc Tử Giám ở kinh đô, lấy các thanh niên con các quan và con thường dân tuấn tú vào học tập (theo Trung Quốc thời cổ). Ở các phủ, các lộ cũng mở các trường để thông việc học khắp dân gian. Ngài cho lập Minh Kinh khoa buộc các quan văn võ tứ phẩm trở xuống phải thi về kinh sử và các môn võ. Có lẽ đây là một khoa thi có tính cách bổ túc, bởi trong thời kháng chiến chưa có sự đào luyện nhân tài. Ở các lộ cũng mở khoa Minh Kinh để các người ẩn dật ứng thí và xuất đầu lộ diện.
Những tăng nhân (Phật Lão) cũng phải khảo hạch. Ai hỏng thì phải hoàn tục.
Năm Thuận Thiên thứ hai (1429), triều đình mở khoa thi Hoành Từ ở nơi dinh cũ Bồ Đề. Thượng Thư Lê Văn Linh làm Đề Điệu, quan Thừa Chỉ Nguyễn Trãi làm Giám Thị. Trong những đầu bài ra cho sĩ tử khoa này, có bài thơ “Chân cho chính trực” và bài hịch Thiên hạ cần vương, lấy đỗ 6 người là Mạc Thiên Tích, Đào Công Soạn, Trịnh Thuấn Du, Phan Phù Tiên…
2 – Luật Pháp
Vua Thái Tổ cho thi hành hình luật nhà Đường. Có 5 thứ hình phạt: tội xuy, tội trượng, tội đồ, tội lưu và tội tử.
1) Tội xuy, chia ra 5 hạng từ 10 roi đến 50 roi.
2) Tội trượng cũng vậy, từ 60 đến 100 trượng.
3) Tội đồ có ba hạng: đồ làm dịch đinh, làm lính chuồng voi, làm lính đồn điền.
4) Tội lưu có ba hạng: lưu đi châu gần là vào Nghệ An, đi xa là vào tới châu Bố Chính – đi ngoại châu là tới Tân Bình.
5) Tội tử có ba bậc: tội thắt cổ và chém, tội chém bêu đầu, tội lăng trì.
Trong hình luật còn có việc Bát Nghị, tức là tám trường hợp giảm khinh cho các công thần và quốc thích. Ai được vào hạng bắt nghị thì Hình Quan phải tâu lên để vua xét lại.
Những cựu thần hay công thần từ ngũ phẩm trở lên nếu phạm tội đồ hay tội lưu thì được tha. Con cháu của các người ấy phạm tội thì được giảm. Quan viên và quân dân lỡ phạm tội lưu thì được chuộc. Những người già 80 tuổi trở lên, những con trẻ từ 10 tuổi trở xuống hay có tật nguyền cứ theo thứ tự được khoan giảm, kẻ phạm tội mà ra tự thú cũng được ân giảm. Trong nước bấy giờ có nhiều kẻ du đãng, ham cờ bạc rượu chè, bỏ việc làm ăn, để sửa đổi phong hóa các nhà đương đạo tỏ ra rất nghiêm khắc. Kẻ đánh bạc phải chặt ngón tay tới ba phân. Kẻ đánh cờ phải chặt ngón tay một phân. Không có lý do xác đáng họp nhau rượu chè phải đánh 100 trượng. Người chứa kẻ ăn uống cũng phải chịu trách nhiệm và chịu hình phạt nhẹ hơn.
Luật pháp của đời Hậu Lê kể ra có phần khắt khe nhưng có lẽ các nhà cầm quyền thấy nước nhà bị bại hoại lâu năm cần phục hung nhanh chóng nên phải khắc nghiệt với những kẻ lười biếng hoặc ham những việc đàng điếm, xa xí. Sử chép sự nghiêm khắc này có đem lại nhiều kết quả về thực hành. Để hiểu thêm chính sách kiệm cần của vua Lê Thái Tổ, xin nhắc rằng thấy dân nước nghèo nàn, công quỹ không dồi dào, nhà vua hạ chiếu cấm các quan không được bày các lễ nghi khánh hạ tưng bừng ở điện đình, không được tham nhũng và trễ biếng. Vua quan còn tự hạn chế những điều xa xỉ, tất nhiên luật pháp không dung sự đàng điếm phóng túng ở nơi dân dã.
3 – Hành Chính
Nước ta chia làm bốn đạo (Đông – Tây – Nam – Bắc, gồm toàn thể các tỉnh từ trung châu đến các vùng thượng du Bắc Việt), ngay khi vua Thái Tổ ra bình định Đông Đô.Nay toàn cõi Việt Nam gió yên song lặng, triều đình lập thêm một đạo nữa gọi là Hải Tây đạo. Hải Tây đạo có các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Tân Bình và Thuận Hóa tức Cửu Chân và Nhật Nam xưa kia.
Đứng đầu mỗi đạo có một quan Hành Khiển (cũng như chức Tổng Đốc) trông nom kiểm soát mọi việc quân sự chính trị. Các cơ cấu hành chính hương thôn chia ra ba bậc: đại tư xã có trên một trăm người, đặt ba xã quan cai trị; trung xã có trên 50 người đặt hai xã quan; tiểu xã có trên 10 người trở lên đặt một xã quan.
4 – Cải Cách Điền Địa
Dân ta là một dân chuyên sống về nông nghiệp, có rất ít công nghệ và thương mại. Ai không có đất cày thì rất khó khăn về cách sống. Trong thời kháng chiến nhiều người lẩn tránh việc quân nên mua bán được nhiều ruộng nương, trái lại những người phải tòng quân khi mãn chiến trở về thường tấc đất cắm dùi không có. Muốn lập lại thế quân bình trong dân chúng về phương diện kinh tế và xã hội, Thái Tổ định ra phép quân điền. Nhờ sáng kiến này, Nhà nước có một số ruộng và đất công (công điền, công thổ), chia cho mọi người từ quan đại thần (để thưởng công lao giúp nước lúc nguy vòng) đến các người già yếu, cô quả ( để nâng đỡ những người cùng quẫn). Phép quân điền nay đã đưa lại cho nước ta một chế độ tư hữu tài sản và được duy trì cho đến ngày nay.
5 – Binh Chế
Khi còn cần dùng binh đội để đánh giặc Minh quân số của vua Thái Tổ từ cuộc tổng phản công ở Đông Đô là 25 vạn người. Quân Minh rút lui, triều đình cho giải ngũ 15 vạn về quê làm ăn, còn giữ lại 10 vạn đóng giữ các nơi. Số lính này lại chia ra làm 5 phiên, một phiên ở lại lưu dịch, bốn phiên kia cho về làm ruộng rồi cứ luân chuyển để thay đổi nhau.
6 – Việc Giết Công Thần
Vua Lê Thái Tổ làm vua được 6 năm thì mất, thọ 49 tuổi, đã để lại nhiều công ơn cho đất nước, do sự nghiệp giải phóng dân tộc, phá tan ách xâm lăng.Mưu trí tài ba của Ngài thật không có chỗ nào đáng chê trách, duy trong thời Ngài trị vì, Ngài đã nghe lời dèm pha mà giết oan hai ông Phạm Văn Xảo và Trần Nguyên Hãn là hai người đã lập được nhiều công lớn (Ông Nguyễn Trãi cũng đã có phen bị hạ ngục); thật là đáng tiếc!
Sử gia cận đaiạ Trần Trọng Kim viết đến đây đã than cho những người xấu số ấy như sau:
“Nghĩ mà buồn thay cho mấy người công thần đời xưa chỉ lầm vì hai chữ công danh mà đem tấm lòng son sắt đi phù tá quân vương trong lúc nguy nan, mong được chút hiển vinh để cho thỏa cái chí trượng phu ở đời, ngờ đâu chim bay đã hết, cung tốt cất đi, thỏ lanh chết rồi, chó săn phải giết; đến khi công việc xong rồi thì không những là một thân mình cũng không được trọn vẹn mà cả họ hàng thường cũng vạ lây. Thế mới biết chỉ có Trương Tử Phòng nhà Hán là người kiến cơ hơn cả!”
Đây là một ý kiến có phần xác đáng nhưng không khỏi là một tư tưởng tiêu cực.
Theo thiển ý của chúng tôi, việc giết hại công thần là điều đáng trách và cùng đáng buồn cho chuyện đời, khi gian lao nguy hiểm thì có nhau mà lúc vinh hoa phú quý lại là lúc xa nhau, ngờ nhau để một ngày kia sát phạt lẫn nhau. Từ vạn cổ, nhân sự thường như vậy và cũng khó bề nói lẽ dại khôn. Người trượng phu xuất thế, há chỉ vì hai chữ công danh, nước loạn dân tàn há có thể điềm nhiên tọa thị? Rồi sự nghiệp có hai phần: phần tranh đấu cho nước non buổi loạn ly và phần trị bình lúc song yên bể lặng. Nhân tài một quốc gia không thể đầu hôm, sớm mai mà nảy nở được, nếu ai cũng theo Trương Tử Phòng sau khi trị loạn rồi thì tịch cốc tòng tiên, vậy sứ mệnh trị bình để ai gánh vác? Ngoài ra, các danh thần lương tướng sau việc dẹp loạn, yên dân cũng còn nhiều hoài bão giúp nhà giúp nước thêm nữa, đâu có thể nửa đường dứt gánh cho đành. Vậy thì nhiệm vụ con người ta đến đâu phải làm tới đó, kể chi đến điều hay dở rủi may, sẽ xảy đến cho mình sau này. Đã tự nhận là đấng trượng phu thì phải quan niệm sự đời khác người một chút. Nhà văn hào Alfred de Vigny, trong bài “La mort du loup”, đã viết mấy câu thơ này đáng kể về tư tưởng hy sinh, khắc kỷ, như luận ý trên đây:
“Gémir, pleurer, prier est également lâche!
Fais énergiquement ta longue et lourde tâche,
Dans la voie où le sort a voulu t’appeler,
Púi après, comme moi, souffre et meurs sans parler”
(Kêu cầu, than, khóc đều là hèn nhát; hãy cương quyets làm nhiệm vụ dài lâu và nặng nề của mình trên con đường mà số mệnh đã gọi. Rồi sau, như ta, hay chịu đau khổ và chết đi không thèm hé miệng.)
II - LÊ THÁI TÔNG (1434 – 1442)
Vua Thái Tông lên ngôi mới mười một tuổi. Lê Sát được cử làm quan Phụ Chính, mọi việc triều chính đều do ông quyết định.
Ông xuất thân là một võ tướng, vì có công trong thời đánh đuổi giặc Minh nên được phong đến Đại Tư Đồ. Vì ít học nên khi giữ địa vị lớn ông hay lạm quyền và có tính kiêu ngạo. Một số triều thần không chịu khuất phục ông đều bị hãm hại.
Được ít lâu, vua Thái Tông tuy còn ít tuổi nhưng thông minh, dần dà việc triều chính nhà vua nắm giữ lấy. Ngài giết Lê Sát để thâu lại quyền binh, nhưng sau vì không có người phụ tá đắc lực can ngăn nên ngài đắm say tửu sắc và thiếu nhiều đức tính của một bậc đế vương.
Ta hẳn nhớ những người tay chân của vua Thái Tổ hầu hết là những võ tướng thiếu học. Có một số người có học là những văn quan nhưng lại ở chức nhỏ vì đến sau, trừ Nguyễn Trãi là một nhà văn học uyên bác, ngay tiên sinh tuy địa vị lớn nhưng do tính ngay thẳng thường bị số đông dèm pha mà không được tin dùng lắm. So sánh với hai tiền triều Lý, Trần buổi đầu thì triều Hậu Lê kém hiền tài rõ rệt.
Dưới đời vua Thái Tông, thiên hạ thường bị nhiều tai trời, ách nước, hạn hán, sâu hoàng trùng cắn lúa phá hại mùa màng, dân gian bị đói khổ. Tại vài miền sơn cước có đôi ba đám giặc Mường, Mán nổi loạn, có khi nhà vua phải thân chinh, có khi cho các quan đi đánh dẹp. Còn các lân bang như Xiêm La, Ai Lao, Chiêm Thành, nhờ uy thế của vua Thái Tổ nên vẫn có sự giao hảo và tiến cống.
Việc thi cử được chỉnh đốn lại như sau; 5 năm một lần thi Hương, 6 năm một lần thi Hội. Phép thi thì kỳ đệ nhất làm một bài kinh nghĩa, bốn bài tứ thư nghĩa (giải thích các điều trong tứ thư) mỗi bài phải từ 300 chữ trở lên; kỳ đệ nhị làm bài chiếu, chế, biểu; kỳ đệ tam làm bài phú, kỳ đệ tứ làm bài văn sách từ một ngàn chữ trở lên.
Năm Nhâm Tuất (1442), mở khoa thi Tiến Sĩ (đời Trần có khoa thi Thái Học Sinh tức là khoa thi Tiến Sĩ đời Hậu Lê). Các ông nghè là những người đỗ tiến sĩ được ghi tên vào bia đá để khuyến khích nhân tài về văn học. Bia tiến sĩ được đặt ở Văn Miếu là nơi thờ Khổng Phu Tử, ông tổ Nho Giáo có từ thủa đó.
Việc tiền tệ cũng có sửa đổi: cứ 60 đồng là một tiền, lụa thì cứ dài 30 thước, rộng một thước 5 tấc (một thước của ta tương đương 40cm) là một tấm; vải thì dài 24 thước hoặc 22 là một tấm, giấy thì 100 tờ là một tập.
Cái Án Lệ Chi Viên
Mùa thu tháng 7 năm Nhâm Tuất (năm Đại Bảo thứ ba 1442), vua Thái Tông ngự giá đi Đông Tuần đến duyệt binh ở thành Chí Linh là nơi cách Côn Sơn không xa. Nguyễn Trãi một thời đã cáo quan về trí sĩ ở đấy, bởi nhìn thấy trong triều thưa vắng người trung chính, bè đảng quyền thần Lê Sát ngồi đầy, vả thù nhà nhục nước đã trả xong nên ông xin về để tránh những tai vạ bất ưng có thể vương vào mình. Về Côn Sơn, ông lấy gió trăng, thơ văn, sách vở làm bạn quên lãng sự đời, nhưng chẳng bao lâu lại bị vua Thái Tông vời ra trao cho chức Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu, Nhập Nội Hành Khiển, Môn Hạ Tỉnh, Giám Thị Đại Phu, Hàn Lâm Viện Thừa Chỉ Học Sĩ coi việc tam quân và kiêm việc quân dân bạ tịch, từ tụng ở hai đạo Tây Bắc, ông lại phải về triều cung chức, cũng hy vọng mang cái sở học đền đáp ơn trên và phụng sự dân tộc.
Được tin Thái Tông về Chí Linh, Nguyễn Trãi đón rước xa giá về Côn Sơn. Theo Việt Nam Sử Lược vua Thái Tông gặp Thị Lộ là thiếp yêu của quan Hành Khiểm rất có tài sắc ở đây, rồi nhà vua cho nàng theo giá về kinh thành. Điều này xét ra không đúng. Trúc Khê tác giả cuốn “Nguyễn Trãi” viết: “Thị Lộ đã được gần vua khá lâu trước cuộc duyệt binh ở Chí Linh. Nàng được vời vào cung giữ việc dạy các cung nhân với chức Lễ Nghi Học Sĩ. Rồi nhà vua đã say mê nàng. Nguyễn Trãi tuy biết việc này nhưng chỉ đành bấm bụng và Thị Lộ cũng không thể có một thái độ nào khác là thụ động mối tình vương giả ấy. Nàng được lệnh về Côn Sơn để cùng Nguyễn Trãi lo việc đón tiếp sau đó nàng theo giá hoàn cung với nhà vua cùng một lúc”[4].
Ngày mồng 4 tháng 8, ngự đạo về đến huyện Gia Định (nay là Gia Bình, thuộc tỉnh Bắc Ninh) gặp trời tối phải nghỉ lại ở Lệ Chi Viên (làng Đại Lai) là một trại trồng vải, xưa kia là chốn ly cung của các triều Lý, Trần. Đêm hôm ấy, nhành hoa thược dược được thấm nhuần cơn thụy vũ, rồi rạng ngày mồng 5, Thị Lộ trong màn ngự nhảy ra kêu thất thanh.
Vua Thái Tông lạnh dần. Ngự Y dùng đủ mọi phương để cứu mà vẫn vô hiệu. Nửa đêm mồng 6, xa giá về đến kinh sư mới khua chuông báo cho thần dân biết hung tín. Ai nấy đều hết sức xôn xao. Sự thật vua Thái Tông mất chỉ vì trải một đêm tửu sắc qua đô rồi cảm nhiễm sương gió.
Cái chết đột ngột của ông vua 20 tuổi, không ốm, không đau trong tay một người đàn bà, và người đàn bà đó là thiếp yêu của một vị trọng thần, quả là một điều đáng nghi ngờ. Trong triều đình, vì không a dua với bọn tiểu nhân, Nguyễn Trãi lại giữ địa vị lớn đã từng bị nhiều sự ghét ghen hiềm khích, thì đây là một dịp tốt để họ rửa hờn báo oán và tranh giành ảnh hưởng. Về phía bọn quan liêu như vậy đã là mối nguy lớn, về phía Hoàng Gia, cái chết của Thái Tông càng tai hại hơn cho họ Nguyễn. Nguyên bà phi Nguyễn Thị Ánh, người làng Bố Vệ, huyện Đông Sơn, xứ Thanh Hóa, sau buổi tiến cung chầu hầu vua Thái Tông đã sinh được Hoàng Tử Bang Cơ hồi tháng 6 năm Đại Bảo thứ hai (1411), và tháng 11 năm ấy Hoàng Tử Bang Cơ được lập làm Thái Tử sau khi Thái Tử Nghi Dân bị truất vì bà mẹ có tội. Trong giai đoạn này Thị Lộ vào làm Lễ Nghi nữ học sĩ. Rồi nàng đã chiếm được lòng yêu của ông vua đa tình, hiếu sắc.
Ngoài chuyện ghen ghét nhau ở chốn phòng khuê, lại còn việc bà Tiệp Dư Ngô Thị Ngọc Giao, người làng Đông Bàng, huyện An Định, tỉnh Thanh Hóa, sinh quý tử làm bà lo ngại cho địa vị của mình và của con. Ngô Diệp Tư bị cáo dính líu với Huệ Phi (con gái Đô Đốc Lê Ngân) về việc mời thầy mo làm bùa để cầu được vua yêu, nhân thế Huệ Phi bị giáng xuống làm Tư Dung, Tiệp Du bị xử phát lưu, được Nguyễn Trãi xui Thị Lộ lĩnh thu giam, có ý bảo toàn cho mẹ con Ngô thị. Thái Tông bằng lòng truyền giao cho nàng đem giữ Ngô Tiệp Dư ở chùa Hoa Văn. Mùa thu năm Đại Bảo thứ ba, Tiệp Dư sinh ra Hoàng Tử Tư Thành, Thị Lộ xui bà đem con trốn đi.
Về Thị Lộ, còn một điều nữa cần biết. Khi vua Thái Tông tin yêu, nàng từng bàn luận cùng vua nhiều việc, cũng có thể vì thế mà làm mất lòng nhiều người nữa.
Ở vào hoàn cảnh từ cung cấm ra tới triều đường, nhiều kẻ ghét ghen như thế thì Ức Trai tiên sinh và Thị Lộ tránh sao cho khỏi cái thảm họa chu di.
Thị Lộ và Nguyễn Trãi bị bắt giam liền.
Ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất (1442), niên hiệu Đại Bảo thứ ba, lịch sử nhà Hậu Lê đã chép một cái án phản quốc của mọt vị đại công thần, anh hùng dân tộc, bi thảm và bất công hơn cả cái án Hàn Bành (hàn Tín và Bành Việt) đời Hán Cao Tổ.
Trước Nguyễn Trãi có cái chết vô lý của Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo, sau họ Nguyễn trong những kẻ đã nằm gai nếm mật cùng người hào kiệt đất Lam Sơn lại thêm một số nữa…Họ chết một cách thảm khốc, cũng do tay một người đàn bà và bọn tiểu nhân, mà nguyên nhân vẫn không ngoài những mối lợi riêng tây. (Theo Chu Thiên, bà Tuyên Từ Thái Hậu sợ con bà Ngô Diệp Tư ứng vào điềm lành sẽ giành được ngôi con mình vừa được lập làm Thái Tử, bà sẽ mất quyền nên khi vua Thái Tông băng hà, bà liền mưu với các đại thần Nguyễn Xý, Lê Khả, Lê Khắc Phục, nhân cái chết bất thình lình của vua Thái Tông mà giết luôn ông Nguyễn Trãi, sợ ông cản trở việc tôn lập vị vua còn bế ngửa, sau này bà giết luôn đến cả bọn Khả và Phục, e bọn này có lúc hồi tâm trở lại làm lung lay địa vị của bà).
Người đời sau đọc lịch sử, viết lịch sử, nhớ đến huân nghiệp vĩ đại của Nguyễn tiên sinh và các bạn đồng chí không khỏi có sự ngao ngán cho công lý thời phong kiến.
III. LÊ NHÂN TÔNG (1443 – 1459)
Vua Thái Tông làm vua được chín năm, thọ được 20 tuổi, Hoàng Tử Bang Cơ lên nối ngôi hãy còn ăm ngữa (chưa đầy hai tuổi). Bà Từ Tuyên Thái Hậu rủ rèm dự chính. Phụ tá của Thái Hậu là các vị đại thần Lê Khả, Lê Khắc Phục, Nguyễn Xý.
Trong những năm bà Tuyên Tử cầm quyền, có mấy việc quan trọng là đặt ra mười bốn điều hộ luật về tư điền, sửa đổi chương trình khoa sử (bỏ thi ám tả và thi kinh nghĩa, chỉ có thi viết và thi tính), đào sông Bình Lỗ (theo Khâm Định Việt Sử thì sông Bình Lỗ chảy từ Thái Nguyên về đến Phù Lỗ, một địa hạt thuộc tỉnh Phúc Yên, có lẽ là sông Cà Lồ chăng), để tiện việc vận tải và giao thông trong nước.
Bà Thái Hậu lại làm thêm việc giết hại công thần nữa, sau khi mưu với Lê Khả, Lê Khắc Phục, Nguyễn Xý, giết Nguyễn Trãi như trên đã nói.
Lần này đến lượt chính bọn Lê Khả, Lê Khắc Phục (theo Chu Thiên trong cuốn Lê Thánh Tông là Trịnh Khả, Trinh Khắc Phục là nạn nhân của bà, việc chém giết này cũng đã gây mối dư luận rất sôi nổi trong nước.
Năm Quý Dậu (1453), Nhân Tông mới bắt đầu tham chính. Có lẽ ngài đã nghe được những lời chỉ trích của nhân dân về việc sát hại công thần nên ngài cho truy tặng những người đã quá cố và cấp ruộng quan điền cho con cháu các ông Nguyễn Trãi, Lê Sát, Lê Ngân, Lê Khắc Phục.
Phan Phù Tiên được ủy soạn bộ Quốc Sử từ đời Trần Sơ cho đến hết thời Minh thuộc được tất cả 10 quyển.
Trước đây các vương hầu và các quan văn võ ăn bổng lộc bằng thuế 50 hộ hay là 100 hộ (nhà) tùy theo phẩm trật.
Bên ngoài, Chiêm Vương Bí Cai thường đem quân quấy rối Hóa Châu. Quân ta nhiều lần vào chinh phục nhưng vẫn không sao dứt. Năm Bính Dần (1446), các ông Lê Thụ, Lê Khả được triều đình cử đem quân điếu phạt Chiêm Thành, chiếm được thành Chà Bàn, bắt được Bí Cai cùng các phi tần đem về Thăng Long. Cháu vua Bồ Đề là Ma Kha Qui Lai được triều đình lập lên thay Bí Cai.
Chiến công năm Bính Dần đã có ảnh hưởng lớn ra ngoài biên giới nên năm Mậu Thìn (1448), xứ Bồn Man xin quy phục nước ta. Từ đó Bồn Man được đổi tên là châu Quy Hợp. Châu này gồm các thung lũng, đồi núi ở phía Đông Nam giáp Nghệ An, Quảng Bình, phía Tây Bắc giáp Thanh Hóa, Hưng Hóa.
Trong 16 năm (1443 – 1459), tuy chính sự không có gì đặc sắc nhưng dân được làm ăn dễ chịu, và Nhân Tông hẳn cũng là một ông vua hiền. Giữa khi thuận buồn xuôi gió, bỗng xảy ra cuộc thí nghịch của Lạng Sơn Vương Nghi Dân vào năm Kỷ Mão (1459).
Nghi Dân mưu với bọn Phạm Đồn, Phan Ban, Trần Lang và Điện tiền Chỉ Huy Sứ Lê Đắc Ninh, nửa đêm bắc thang đột nhập vào hoàng thành nơi cửa Đông, nhảy vào cung đâm chết vua Nhân Tông. Thị Hậu Phó Chưởng là Đào Biểu chống lại quân phiến loạn cũng bị giết.
Sáng hôm sau Nghi Dân cho giết cả bà Tuyên Từ Hoàng Thái Hậu rồi tự lập làm vua, đổi niên hiệu là Thiên Hưng, cho sứ sang Tàu cầu phong. (Nghi Dân là con cả vua Thái Tông, anh Cung Khắc Vương Khắc Xương, vua Nhân Tông Bang Cơ và vua Thánh Tông Tư Thành).
Phản Ứng Của Triều Đình
Cuộc đảo chánh xong xuôi được 8 tháng thì giữa triều Lê lại sinh biến, có lẽ nếu Nghi Dân đừng nghe lời xiểm nịnh và giết các cựu thần, khéo vỗ về nhân tâm thì chưa dễ bị phản ứng của các triều thần. Cái chết oan uổng của nhiều quan lại đã gây trong tâm hồn những kẻ còn lại một cuộc khủng hoàng và đưa đẩy họ qua phía phản động, dầu họ muốn hay không. Đây là một vấn đề tự vệ. Họ hợp được với nhau, vì vậy họ thành một sức mạnh.Nhưng do việc này, ta thấy đầu óc của giới quan liêu thuở đó hèn yếu, nhút nhát, thiếu đoàn kết, đáng lẽ họ phải có ngay sức mạnh kể trên để trả thù cho ông vua mà hàng ngày họ thề thốt trung thành.
Tháng sáu năm Canh Thìn (1460), đến lượt Thái Bảo Á Quận Hầu Đinh Liệt, Nguyễn Xí, Nhập Nội Đại Kiểm Lê Vĩnh Trường, Xạ Kỵ Vệ Úy Tổng Tri Lê Niệm, Ngự Tiền Trung Quân Tổng Tri Lê Khoái, Ngự Tiền Hậu Quận Tổng Tri Trịnh Văn Lê, Bắc Đạo Thiêm Tri Trịnh Đạc, Điện Tiền Đô Chỉ Huy Sứ Nguyễn Đức Trung với con là Thiết Độ tả Quân Đại Đội Trưởng Nguyễn Yên, Điện Tiền Tư Chỉ Huy Sứ Lê Yên. Lê Giai, âm mưu với nhau đóng cửa thành mở cuộc bạo động. Lê Nhân Thuần chém Trần Lang, quân thủ túc ùa vào giết bọn Phạm Đồn, Phan Ban ngay giữa Nghị Sự Đường. Còn Lê Đắc Ninh và hơn trăm dư đảng cũng bị hạ sát nốt.
Việc này thành tựu, các đại thần tuyên bố phế bỏ Lạng Sơn Vương Nghi Dân, giáng xuống tước Lê Đức Hầu (lấy ý khuyên theo đạo đức). Nhưng sau đó, Lê Lăng bưng mâm lụa trao cho Nghi Dân bắt tự thắt cổ. Về vấn đề lập vua mới, đa số đề nghị lập Bình Nguyên, tức Gia Vương Tư Thành, (tước này của Nghi Dân phong cho Tư Thành trước đây khi vừa lên ngôi xong), căn cứ vào chỗ Ngài thông minh tài đức, duy Lê Lăng đòi lập Cung Vương, nhưng Cung Vương vốn không ưa công danh phú quý, lại thấy cái ngôi cao vị cả thường gây ra nhiều tai họa nên hết sức khước từ, các quan đành đem xe giá đến Tây Diện để mời Gia Vương.
IV. LÊ THÁNH TÔNG (1460 – 1497)
- Việc chính trị - Tổ chức hương thôn – Việc đinh – Cấp hành chính – Các địa hạt hành chính – Quan chế - Thuế đinh – Thuế điền thổ - Nông nghiệp – Luật pháp bảo vệ dân quyền – Quyền lợi xã hội – Tổ chức võ bị - Các võ công dưới đời Hồng Đức – Trận đánh Bồn Man và Lão Qua – Văn trị của nước ta dưới đời Hồng Đức
Ngày mồng 8 tháng sáu năm ấy, vua Thánh Tông lên ngôi tức vị ở điện Tường Quang. Ngài đổi niên là Quang Thuận, vẫn nhún nhường cho đến năm Quang Thuận thứ tám mới xưng trẫm và Hoàng Thượng chế cáo.
Ngày mồng mười có lễ phát tang của vua Nhân Tông và bà Tuyên Từ Hoàng Thái Hậu cùng truy tặng Đào Biểu chức Thị Hậu Chánh Trưởng, trật tòng lục phẩm.
Cuộc đảo chính tháng sáu kết liễu,tháng 10 có việc định công thưởng tước các công thần Trung Hưng và cấp ruộng công thần thế nghiệp từ 100 mẫu đến 350 mẫu.
1 – Việc Chính Trị Của Vua Thánh Tông
Xã hội Việt Nam vào đầu Lê triều về phương diện tổ chức đã có quy củ và trình độ sinh hoạt của dân chúng đã lên tới mức khả quan. Những sự lộn xộn dưới đời Trần mạt, qua thời Minh thuộc và trong giai đoạn kháng chiến đều đã được san phẳng hết. Trước vấn đề này ta phải nhớ đến công lao của Nguyễn Trãi, người đã luôn luôn hoạt động và tranh đấu cho quyền lợi nhân dân. Đã nhiều lần giữa triều đường, ông bài xích bọn Lê Sát, khi đó làm Tể Tướng lấy lòng vua bày ra nhiều thứ thuế khóa. Ông đã mua thù chuốc oán vì dân, vì nước. Để đền bù cho ông, cũng có thời sự trung thực và lòng ái quốc của ông đã thắng, nên đời Lê Sơ đã để lại được nhiều ân nghĩa trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Ngoài ra nhờ phép quân điền của triều đình, mọi người dân nhứt là các cùng dân đều có ruộng đất để sinh nhai, công nghệ trong nước được phát đạt, nghề khắc gỗ in sách thịnh hành giúp rất nhiều trong việc truyền bá tư tưởng học thuật (việc này do quan Thám Hoa Hồng Liên là Lương Như Mộc dạy bảo), cửa Vân Đồn, Lục Đầu và các cửa sông có nhiều thuyền bè buôn bán ra vào tấp nập.
2 – Tổ Chức Hương Thôn
Cơ cấu cai trị ở các hạ tầng nhân dân là hương thôn vẫn theo các đời Lý, Trần, tuy có thay đổi về hình thức và danh từ, nhưng nguyên tắc vẫn không khác. Xã quan bây giờ đổi ra Xã Trưởng và hạn định mỗi xã được cử ba người gọi là xã chính, xã sử, xã tư; xã nhỏ cử hai hai người xã sử, xã tư; các viên chức này là những đại diện của nhân dân về trí thức và hạnh kiểm. Khi dân bầu xong, họ còn phải được quan trên phúc hạch lại (năm Quang Thuận thứ ba, điều lệ thi hành về việc bầu xã trưởng như sau: hội đồng toàn dân lựa chọn hoặc lấy người coa niên, hoặc giám sinh, sinh đồ mà học nghiệp chưa thành đạt, hoặc phần tử thuộc lương gia tử đệ từ ba mươi tuổi trở lên. Bầu sai nguyên tắc sẽ phải tội). Nếu cần thêm người giúp việc thì cho phép lấy thôn trưởng. Để tránh bè đảng, ở một làng người nào đã ra làm xã trưởng thì người cùng họ với xã trưởng không được ra giữ thêm chức xã trưởng thứ hai.
Các xã được ấn định như sau: một trăm nhà là xã nhỏ. Hai trăm nhà là xã lớn. Nếu xã nào thêm đính thì đổi bậc theo hệ thống và nguyên tắc tổ chức kể trên. Khi có sự đổi thay này, ruộng đấy cũng được chia lại.
Xem đơn vị hành chính đời Lê Sơ, nhỏ nhất mà được gần 100 nhà, thì đủ biết nhân khẩu của nước ta từ giai đoạn này đã tiến rõ rệt. Trước đây, dưới thời Minh thuộc và dưới các tiền triều chỉ mới có lập ra Lý có 110 hộ (mỗi hộ là một nhà). Còn các cấp xã về thời Trần Sơ, dân số là bao nhiêu ở mỗi cấp không thấy các cổ sử ghi chép. Theo sự kê cứu gần đây của một vài học giả, dân số toàn quốc đời Lê Sơ đã có tới 6,7 triệu.
3 – Việc Đinh
Dưới đời Lý có lập sổ Tướng Tịch ghi tất cả số dân trong làng gồm các quan văn võ, binh lính, hoàng nam, lão hạng và phế nhân. Đời Trần có Đơn Sổ tức là sổ này. Hồi Minh thuộc có Hoàng Sách.
Đến đời vua Lê Thánh Tông, ngài lập sổ Hộ Tịch cứ 3 năm xem lại một lần gọi là Tiêu Điển, 6 năm duyệt lại gọi là Đại Điển. Sổ Hộ Tịch chia ra sáu hạng:
1) Tráng hạng là những người chọn để làm lính.
2) Quân hạng là những nông dân có đủ tư cách để động viên.
3) Dân hạng là những người dân ở nhà đóng sưu thuế và chịu tan dịch.
4) Lão hạng là những người già từ sáu mươi tuổi trở lên.
5) Cố hạng là những người vô sản đi làm mướn.
6) Cùng hạng là những người vô sản và vô nghề nghiệp.
Nhà nào có ba đinh thì cắt vào hàng tráng, một vào hàng quân, một vào nhà dân. Nhà có sáu đinh: hai tráng, một quân, ba dân. Những người phiêu bạt không được ghi tên vào sổ Bạ, những người kiều cư cũng phải có tên tuổi trong Bạ. Các quan phủ, huyện, phải duyệt các sổ bộ trước khi đệ về Kinh để chuyển sang các sổ của Bộ.
4 – Cấp Hành Chính
Một chức Tổng Kỳ được đặt ra như Chánh Tổng ngày nay có nhiệm vụ liên lạc các xã với nhau ngoài các cấp duwois dùng vào việc cai trị nhân dân.
Trên có các chức Huyện Thừa, Tri Châu, Tri Phủ, Đồng Trị. Các chức này thuộc triều đình bổ dụng.
5 – Các Địa Hạt Hành Chính
Vua Thái Tổ trước kia chia nước ra làm năm đạo (Nam, Bắc, Đông, Tây và Trung Đô). Dạo có chức Hành Khiển là chức quan cao nhất, có lẽ như chức Tổng Đốc gần đây. Đạo chia ra Lộ, đứng đầu có chức An Phủ Sứ và trấn có chức Trấn Phủ Sứ như chức Tuần Phủ hay Quản Đạo. (Tuần Phủ là quan đầu tỉnh Trung Châu. Quản Đạo là quan đầu tỉnh Thượng Du).
Đến vua Thánh Tông, nước ta được chia làm 12 đạo:
1) Thanh Hóa
2) Nghệ An
3) Thuận Hóa
4) Thiên TRường
5) Nam sách
6) Quốc Oai
7) Bắc Giang
8) An Bang (Quảng Yên)
9) Hưng Hóa
10) Tuyên Quang
11) Thái Nguyên
12) Lạng Sơn
Mỗi đạo có ba Ty: Đô, Thừa, Hiến.
Đô có hai viên: chính, phó Đô Tổng Binh coi việc quân. Thừa có Thừa Chính: chánh, phó sứ coi việc cai trị. Hiến có hai viên HIến Sát: chánh, phó coi việc Tư Pháp. Lại có chức Giám Sát Ngự Sử xét công việc các đạo, như chức Thanh Tra Hành Chính và chính trị đời nay.
Năm Quang Thuận thứ 10 (1469), Thánh Tông cho vẽ lại bản đồ nước ta đổi tên 12 đạo ra làm 12 Thừa Tuyên. Mỗi Thừa Tuyên có số phủ huyện như sau:
- Thanh Hóa, có 12 phủ, 16 huyện, 4 châu.
- Nghệ An, có 8 phủ, 18 huyện, 2 châu.
- Thuận Hóa, có 2 phủ, 7 huyện, 4 châu.
- Nam Sách đổi ra Hải Dương, có 4 phủ, 18 huyện.
- Thiên Trường đổi ra Sơn Nam, có 14 phủ, 42 huyện.
- Quốc Oai đổi ra Sơn Tây, có 6 phủ, 24 huyện.
- Bắc Giang đổi ra Kinh Bắc, có 4 phủ, 19 huyện.
- An Bang, có 1 phủ, 3 huyện, 4 châu.
- Hưng Hóa có 3 phủ, 4 huyện, 17 châu.
- Lạng Sơn có 1 huyện, 7 châu.
- Thái Nguyên đổi ra Ninh Sóc, có 3 phủ, 8 huyện, 7 châu.
- Trung Đô đổi là phủ Phụng Thiên, có 2 huyện.
Tháng sau năm Hồng Đức thứ hai, ta chiếm được của Chiêm Thành từ Thuận Hóa trở vào đặt thêm được Thừa Tuyên, Quảng Nam, gồm 3 phủ, 9 huyện.
Đến năm Hồng Đức thứ 21 lại sửa bản đồ thêm lần nữa và đổi Thừa Tuyên ra xứ.
6 – Quan Chế
Đây là các cấp bộ tối cao tại triều đình. Đến đời vua Thánh Tông cũng có sự chỉnh đốn. Trước đây, quan chức đặt theo triều Trần, có Tả, Hữu Tướng Quốc rồi đến Lễ Bộ, Lại Bộ, Nội Các Viện, Trung Thư, Hoàng Môn. Qua thời Nghi Dân đặt ra 6 bộ và 6 khoa (Lại, Bộ, Lễ, Binh, Công, HÌnh). Nay ngài bỏ Nội Các Viện, Tả, Hữu Tướng Quốc, lập ra Hàn Lâm Viện và đặt thêm 6 tự (Đại Lý Tự, Thái Thường Tự, Quang Lộc Tự, Thái Học Tự, Hồng Lô Tự, Thượng Bảo Tự) và chức Đông Các Đại Học Sĩ để bổ dụng văn thần cùng ban thêm tước tam Thái (Thái Sư, Thái Phó, Thái Bảo), tam Thiếu (Thiếu sư, Thiếu Phó, Thiếu Bảo) để thưởng các vị trọng thần có công lớn. Các quan ở 6 bộ có: Thượng Thư, Tả Hữu Thị Lang, Lang Trung Viện Ngoại Lang, Tư Vụ. Các quan ở 6 khoa có: Đô Cấp Sự Trung, Cấp Sự Trung, Lang Trung. Các quan 6 Tự có: Tự Khanh, Thiếu Khanh, Tự Thùa. Ngoài ra còn các quan chức coi về học vụ, binh vụ, các tòng quân, tân quan.
Theo tờ Dụ “Hiệu Định Quan Chế”, ngày 26 tháng chín năm Hồng Đức thứ hai (1471), tổng số quan chức văn võ nội ngoại toàn quốc có tới 5370 và chia ra như sau:
A- Quan trong văn võ và cả tổng quản có 2755 vị:
1) Văn quan 899 vị.
2) Võ quan 1910 vị.
3) Tòng quan 446 vị.
B – Quan ngoài, văn võ mọi chức có 2615 vị:
1) Văn quan 926 vị.
2) Võ quan 857 vị.
3) Tòng quan 41 vị.
4) Tập chức 791 vị.
Xét tinh thần lời Dụ kể trên thì việc đặt các quan lại theo nguyên tắc phân quyền và nguyên đới trách nhiệm. Tỉ dụ Lại Bộ cắt bổ nhân viên không hợp khả năng thì Lại Khoa được phép bác bỏ. Lễ Bộ nghi chế sai bậc, Lê Khoa được phép đàn tấu: Hình Khoa luận công việc của Hình Bộ trái phải nhẹ nặng…Nhà vua lại rất nghiêm ngặt đối với những phần tử thiếu sự liêm khiết, do đó điều 138 Hình Luật đời Hồng Đức đỉnh rằng:
“Ăn lễ làm trái phép thì phạt từ 1 quan đến 10 quan và bị bãi chức, từ 10 đến 19 quan bị đày; từ 20 quan trở lên chém. Các người được Bát Nghị ăn lễ từ 1 quan đến 9 quan phạt 50 quan; từ 20 quan trở lên, phải tội đồ làm phu. Của hối lộ bỏ vào kho một phần, một phần trao trả bản chủ”
Kẻ ăn hối lộ có tội mà kẻ hối lộ quan lại cũng phải bị trừng phạt. Kẻ nào đi lo việc cho người khác cũng phải tội, nhưng nhẹ hơn sự chủ; lễ vật đều sung sông.
Lại đáng chú ý một điều: vua Thánh Tông đặt thêm quan mà ngân sách quốc gia không tăng, vì lương bổng của các quan ít hơn trước. Ngoài số lương, các quan được tiền phụ cấp chức vụ khi đi kinh lý và tiền gạo cung mừng của dân khi nhậm chức. (Xin coi Việt Sử Tân Biên quyển 2 trang 538).
Xét ra số lương bổng của các quan ít ỏi như vậy do giá sinh hoạt đời xưa có lẻ không cao, phần cổ nhân có đức tiết kiệm, ngoài ra các quan từ tứ phẩm trở lên còn có phần ruộng ở làng; các quan tuổi từ 65 được xin về hưu trí, nhưng người làm nha lại có thể xin về từ 60 tuổi.
- Xin coi vấn đề thuế khóa dưới đây:
7 – Thuế Đinh
Trừ những lão nhiêu 60 tuổi trở lên, Hoàng Đinh là những người vị thành niên (dưới 18 tuổi), những người thuộc vào tráng (hạng tòng quân) cùng những người phế tật, mỗi người dân phải nộp thuế đồng niên là 8 tiền. Đối với thuế đinh đời Trần đánh vào ruộng (ai có một hai mẫu đóng 1 quan; 3,4 mẫu đóng 2 quan và theo tỷ lệ mà tăng lên, trừ cùng đinh khoog phải nộp thuế). Đời vua Hiển Tông mỗi xuất đóng 1 quan 2 tiền, đời vua Thần Tông (1649 – 1662) mỗi xuất đinh không phục dịch việc quan phải đóng 3 quan năm tiền như thế thì đinh sưu đời Hồng Đức nhẹ hơn nhiều.
8 – Thuế Điền Thổ
Chia ra làm ba hạng:
A) Nhất đẳng điền: mỗi mẫu đồng niên phải nộp 60 thưng thóc (10 thưng là một đấu) và tiền 6 quan.
B) Nhị đẳng điền: mỗi mẫu đồng niên phải nộp 40 thưng và 4 quan.
C) Tam đẳng điền: mỗi mẫu phải nộp 20 thưng và tiền 3 quan.
Ruộng bãi trồng dâu cũng chia làm ba hạng, thuế nhẹ hơn hoặc nộp bằng tơ hay bằng tiền. Ruộng tư điền không phải nộp thuế.
Thổ trạch là đất để ở có hạn định như sau: Quan viên được 80 thước (5 sào 5 thước). quân dân chức sắc được 50 thước (3 sào 5 thước) không phải chịu thuế, còn ngoài diện tích hạn định phải nộp theo thuế ruộng.
Nếu so sánh với thuế của các tiền triều, chế độ thuế lệ dưới đời Lê Thánh Tông có sự dè dặt, các nhà cầm quyền ắt đã tiết kiệm nhiều lắm để khỏi phiền dân. Ngoài ra sử chép: kho tàng thuở đó không được sung túc. Năm Quang Thuận đầu tiên tức là năm vua Thánh Tông vừa lên ngôi, tháng sau đã có ngay Chiếu yêu cầu quân dân nộp thóc cho nhà nước. AI hướng ứng được bổ đi làm chức toán quân. Tỉ dụ ai nộp 200 hộc được bổ quan chánh thất phẩm; nộp 150 hộc bổ tòng thất phẩm; 100 hộc bổ chánh bát phẩm, con cái đều được miễn quân dịch.
Nông Nghiệp
Vua Thánh Tông rất hiểu biết vấn đề dân sinh mà vấn đề dân sinh ở nước ta là một sứ nông nghiệp đều quy tựu xung quanh việc mở mang ruộng đất, canh cửu và đê điều.
Năm Quang Thuận thứ bảy, tháng 12 ngài hạ Chiếu bắt các quan phủ huyệ khuyến khích nhân dân cày cấy và trồng dâu nuôi tằm.
Tháng 8 năm Hồng Đức thứ 6 (1475), Ngài đặt hai ty Hà Đê trông nom việc đê điều, phòng lụt lội cho dân và mùa màng. Trong việc khuếch trương nông nghiệp cũng như việc bảo vệ đê điều có quan chuyên môn là Hề Đê Ty Sứ và Khuyến Nông Sứ. Trong nước bấy giờ có 53 ty Hà Đê và 53 ty Khuyến Nông. Ngoài ra, nhà nước lập ra 42 sở Đồn Điền khẩn hoang các miền thượng du đặt dưới quyền 13 quan Đồn Điền chánh sứ, 31 sở Tầm Lang, 18 sở Điền Mục kén chọn giống trứng tằm tốt, dạy dân việc nuôi tằm ươm tơ cho đúng phương pháp.
10 – Luật Pháp Bảo Vệ Dân Quyền
Luật pháp đời Lê phỏng theo luật pháp đời Chu Đường bên Trung Quốc, nhưng có sửa đổi lại nhiều.
Trừng trị những tội thường phạm có 5 bậc (Ngũ hình):
1) Suy hình, xử riêng đàn bà, đánh bằng roi từ 10 đến 50 roi.
2) Trượng hình, đánh bằng gậy đầu bịt đồng, xử riêng đàn ông từ 60 gậy đến 100 gậy.
3) Đồ hình, là tội đầy ba bậc:
a) Dịch đinh: phải làm phu hầu cơm nước trong quân, đàn bà làm vườn, nuôi tằm.
b) Tượng phương: đàn ông làm lính chuồng voi, đàn bà phải thổi cơm, đều bị thích hai chữ vào trán.
c) Đồ chủng diễn: đàn ông phải làm phu các đồn điền, đàn bà xay lúa giã gạo, bị thích vào trán bốn chữ, đeo một khóa chân.
4) Lưu hình là đầy đi xa có 3 bậc:
a) Lưu cận châu (nghệ An) bị phạt 90 gậy thích sáu chữ vào mặt, đeo một khóa chân.
b) Lưu ngoại châu (Bố chính) phạt 90 gậy, thích 8 chữ vào mặt, đeo hai khóa chân.
c) Lưu viễn châu (Quảng Nam) phạt 100 gậy, thích 10 chữ vào mặt, đeo 4 khóa chân.
5) Tử hình tội chết có 3 baach:
a) Giảo (thắt cổ).
b) Chém (bêu đầu).
c) Lăng Trì (tùng xẻo).
Luạt hình đời Hồng Đức cũng theo Chu Lệ, định ra Thập ác là:
1) Mưu phản: làm nguy xã tắc.
2) Mưu đại nghịch: phá hủy tông miếu.
3) Mưu bạn: phản ước theo giặc.
4) Ác nghịch: giết cha mẹ, chú, bác, cô, dì, anh chị, cha mẹ, chồng, ông bà,…
5) Bất đạo: giết cả một nhà 3 người.
6) Đại bất kính: tỏ ra vô thần, ở lầu vua, đi xe vua, lạm dụng nghi vệ Thiên Tử.
7) Bất hiếu: chửi cha mẹ, không để tang.
8) Bất mục: mưu sát hay đánh các người họ phải để tang 3 tháng và 5 tháng.
9) Bất nghĩa.
10) Nổi loạn: thông dâm với người cùng họ để tang 5 tháng, với vợ lẽ ông.
Các tội này đều xử vào tội tử hình cả.
Xét tỉ mỉ nội dung bộ Lê Triều Hình Luật tức là bộ luật đời Hồng Đức, các luật gia ngày nay rất cấp tiến, rất dân chủ và đã để một chấm son trong lịch sử tư pháp Việt Nam.
Quả vậy, ta thấy Lê triều bảo vệ triệt để quyền lợi và an ninh của nhân dân không bỏ rơi tầng lớp xã hội nào, nhưng cũng có vài trường hợp quá khắc nghiệt đối với luật pháp hiện hữu, trái lại cũng có trường hợp khinh giảm rất nhân đạo, đáng khen hơn đời bây giờ.
11- Quyền Lợi Xã Hội
Do mục đích tránh sự chênh lệnh quá đáng về tài sản, vua Thánh Tông đề phòng việc lạm quyền của quan liêu, quý tộc hay chiếm nhiều đất công nên ra luật lệ sau đây và thi hành ngay từ nơi kinh đô:
Vườn nhà ở kinh đô, quan Nhất phẩm được ba mẫu, Nhị Phẩm hai mẫu, Tam Phẩm một mẫu, Tứ Phẩm năm sào, Lục, Thất Phẩm hai sào, Bát, Cửu Phẩm, thường dân một sào. Ai lạm chiếm bị phạt trượng 50 gậy, biếm một tư. Đã có vườn ao rồi mà còn biệt lập nơi khác, tội tăng thêm một bậc, trừ những người có công được đặt tứ.
Ai chế bỏ tiền đồng nát, bán cao giá, tích trữ hàng hóa để đầu cơ đều bị tội và hàng hóa bị tịch thu. Những ai cậy thế hà hiếp người ta trong việc mua bán, tội cũng vậy.
Kẻ hống hách nhiễu dân để lấy của cũng coi như trộm thường, giảm một bậc. Tài chủ sợ quyền thế đem cho cũng tội như vậy, nếu của đó chưa lấy về trượng 60 gậy, biếm 3 tư.
Ngự trù (bếp nhà vua), bếp nhà quyền quý hà liễm mọi vật ở chợ, ức hiếp người bán, giám thị và người ở chợ cũng bị giải quan phạt tội đồ, gia chủ bị phạt. Giám thị a tòng không can thiệp, trượng biếm tùy theo nặng nhẹ. Người ngoài bắt được sẽ có thưởng.Lấy gian rau quá của người, trượng biếm. Các quan chức vị nể người nhà quyền quý không trình đều bị phạt.
Cấy ruộng quá hạn không nộp thóc, trượng 80 gậy. Tái phạm phải nộp thóc gấp đôi đền vào kho. Tái phạm lần nữa phần ruộng bị tịch thu. Ruộng công giao cho thì nhà nước thu về, còn ruộng khẩu phần lấy một nửa.
Kẻ nào nặc danh đầu thư để hai người (ném đá dấu tay) coi là quấy rối xã hội, nếu có ảnh hưởng đến quốc gia đại sự thì chém, việc thường thì lưu viễn châu, gia sản tịch biên. Người nào biết và tố cáo được thưởng nhiều, ít,tùy theo việc nặng nhẹ. Viết thư phỉ báng thời chính: lưu cận châu, nhẹ thì đầy làm lính chuồng voi.Nếu người giữ việc nhận thư không hủy lá thư đó để nhân dân biết mà truyền tụng, bị suy 50 roi, biếm một bậc.
Các quan nhận thư nặc danh đó lấy căn cứ để buộc tội người ta, gia thêm một bậc.
Các quan làm việc hình án kéo dài công việc, quá kỳ hạn mà không xong sẽ bị phạt. Quá 1 tháng: biếm, quá 3 tháng: bãi chức.
Các cường hào sợ tội, đón cướp sớ tấu giữa đường hay bắt giam người mang sớ tấu, đều bị lưu hay xử tử. Nếu sớ đó đã qua 4 cửa Hoàng Thành rồi mà việc này còn xảy ra, tội lại tăng lên một bậc.
Giả chúc thư, văn khế, trượng 80 gậy, đồ theo nặng, nhẹ.
Gả chồng cho con đã thành hôn cho người khác, đồ làm lính hầu cơm nước. Người lấy sau biết mà cứ lấy cũng bị tột đồ, nếu không biết, được miễn tội. Người con gái trả về cho chồng trước, người này không nhận nữa thì được đền lại sính lễ. Trai hỏi vợ, đã đưa sính lễ sau lại bỏ không lấy, phạt trượng 80 gậy và mất sính lễ.
Luật Hồng Đức cũng hết lòng bảo vệ phong hóa nữa nên đặt ra nhiều điều khoản để trừng trị những kẻ trừng trị những kẻ vi phạm. Thêm vào đó triều đình còn công bố 24 điều răn để đưa nhân dân đến chỗ lành mạnh và đạo đức.
12 – Tổ Chức Võ Bị
Quân số trước đây của vua Lê Thái Tổ có 10 vạn người chia ra 5 phiên, 1 ban ở lại gọi là lưu ban tập luyện và phòng vệ, bốn phiên kia được giải ngũ về tiếp tục nông nghiệp rồi cùng nhau lần lượt thay đổi. Binh sĩ lưu ban thuộc về năm đạo vệ quân dưới quyền vị Tổng Quản. Trên Tổng Quản có Đô Tổng và Đổng Tổng Quản, dưới có Chánh, Phó Đội Trưởng và Cửu Phẩm Ngũ Trưởng.
Tháng 7 năm Quang Thuận thứ tư (1463), năm Vệ Quân đổi ra 5 phủ Đô Đốc:
- Thanh Hóa, Nghệ An, thuộc Trung Quân Phủ.
- Nam Sách, An Bang (tức Quảng Yên) tức Đông Quân Phủ.
- Thiên Trường tức Nam Đinh, thuộc Nam Quân Phủ.
- Quốc Oai tức Sơn Tây, Hưng Hóa, thuộc Tây quân Phủ.
Ngoài ra 5 phủ này còn có Phụng Trực Quân gồm quân đội hai miền sơn cước Thái Nguyên và Tuyên Quang.
Mỗi phủ có 6 vệ. Mỗi vệ có 5 hay 6 sở. Mỗi sở có 400 người.
Phủ có Tả, Hữu Đô Đốc, Đô Đốc Đồng Tri, Đô Đốc Thiêm Trị.
Sở có Quản Lĩnh, Phó Quản Lĩnh, Chánh Võ Úy, Phó Võ Úy.
Sở chia ra làm nhiều ngũ. Mỗi ngủ có một Tổng Kỵ.
Vua Thánh Tông đổi Vệ Quân Tùy Thân Cục (tức Ngự Lâm Quân) ra làm hai Vệ Tả Hữu Võ Lâm Quân, kém con các quan từ lục phẩm đến tam phẩm sung vào các vệ ấy.
Năm Quang Thuận thứ tám (1467), Ngài đặt thêm ra hai đạo Nội, Ngoại Chư Quân. Nội quân có 66 ty, 51 vệ. Ngoại quân có 26 vệ. Mỗi ty có 100 người. Mỗi vệ có 5 sở, mỗi sở có 12 đội, mỗi đội có 20 người. Tính ra Nội quân có 51 vệ và 225 sở, 3060 đội, được tất cả 61.200 người cộng với 6.600 người ở 66 ty thành tổng số 67.800 người. Ngoại quân 26 vệ có 130 sở thành 1.560 đội, tổng số 31.200 người. Tất cả Nội, Ngoại gồm 9 vạn 9 nghìn người, cộng với số quân 5 phủ và quân Phụng Trực chừng 7 vạn là 16 vạn, thêm vào còn số quân trực vệ trong cung.
Ngoài ra, các quan Đô Đốc, Tổng Tri chăm giảng tập trận đồ cho sĩ tốt và đặt 31 điều quân lệnh để tập thủy chiến, 32 điều tập tượng trận, 27 điều tập mã trận, 42 điều tập bộ trận.
Từ năm Quang Thuận thứ tám, cứ 3 năm 1 lần có một kỳ khảo hạch về võ nghệ để kiểm soát lại việc học tập của quân đội. Ai tứ thắng được thưởng một chiếc áo và 1 quan 5 tiền; ai tam thắng được một chiếc áo. Nhị thắng 2 bình được 6 tiền. Ai nhất thắng được ba tiền, 4 bình thưởng 20 đồng, kẻ nào thua cũng bị phạt theo như vậy.
Nội, ngoại quân, quan từ ngũ phẩm trở lên thì bắn 5 phát, chém tay 4 phát, đánh mộc 1 phát, cũng có định cấp bậc để thưởng phạt.
Lại có luật chương quân chính gồm 43 điều mà đến quá nửa nếu vi phạm sẽ bị chém. Tỉ dụ: tiết lậu quân cơ, hậu quân lui không tiếp viện tiền quân, đặt điều quái gở dị đoan để mê hoặc binh sĩ, đào ngũ…
Vua Thánh Tông lại chú trọng cả đến quyền lợi của các quân lính. Những người thuộc quân hạng, tức là để dùng vào việc quân khi cần tới, được phần ruộng tốt, nộp thuế nhẹ, nên tháng 11 năm đầu Hồng Đức (1470), Ngài gọi ngay một lúc được thêm 26 vạn quân đi Nam chinh.
Tinh thần thượng vỡ thuở đó được lên cao do sự khuyến khích của triều đình nên có cả các vị quan văn xuất thân khoa bảng cũng xin đổi sang võ chức (Tiến Sĩ Phạm Phổ làm Chỉ Huy Sứ, Ngô Lôi, Lê Dũng làm Tổng Binh, Nghiêm Ích Khiêm làm Đô Chỉ Huy Sứ, Nguyễn Trinh làm đến Binh Bộ Thượng Thư…)
13 – Võ Công Dưới Đời Hồng Đức (Cuộc Nam Phạt Của Thánh Tông)
Trước kia, tướng nước Chiêm là Trà Duyệt, người ở Thi Nại, giết Quốc Vương là Bí Do rồi tự lập làm vua, sau truyền cho em là Trà Toàn, muốn học đòi Chế Bồng Nga nên đem quân cướp phá Hóa Châu của ta vòa năm Hồng Đức nguyên niên (1470). Quan Trần Thủ ở đây là Phạm Văn Hiện chống không nổi phải giữ thế thủ và cho phi báo về triều đình.
Ngày 6 tháng 10, nhà vua hạ lệnh kén hoàng đinh từ 15 tuổi trở lên được 26 vạn quân. Quân đội sắp lên đường, ngọn cờ Nam Chinh phấp phới bay thì bài chiếu Bình Chiêm được tuyên ra để báo cáo quốc quân lý do của cuộc chiến đấu và tình trạng Việt Chiêm qua bao nhiêu thế hệ.
Lan Quận Công Đinh Liệt, Kỵ Quân Công Lê Niệm lĩnh 10 vạn quân đi tiên phong. Ngày 18, đại quân tiến vào đất Chiêm. Ngày mồng 2 tháng giêng là ngày Tết Nguyên Đán, e quân sĩ chơi bời sinh nản, ngài mở cuộc thi thuyền và tập trận cùng sai thổ tù Thuận Hóa là Nguyễn Vũ vẽ bản đồ Chiêm Thành để rõ các nơi hiểm yếu. Các thổ tù, phiên tù các nơi cùng sứ thần Ai Lao là Quang Bình, trấn thủ là Đầu Nguyệt là Lạng Lê vào chầu và dâng hương vật.
Cuộc giao tranh bắt đầu ngày 5 tháng hai. Việt quân được phân phối như sau:
Ngày mồng sáu, Lê Hy Cát, Hoàng Nhân Thiện và tướng tiên phong Lê Thế, Trịnh Văn Sái đem 500 chiến thuyền và 3 vạn tinh binh, nửa đêm bí mật ra cửa bể Yểm Tọa chèo gấp vào cửa bể Sa Kỳ (nay ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) đắp lũy chắn đường rút lui của giặc.
Sáng ngày thứ 7, vua thân đem hơn 1000 chiếc thuyền và 7 vạn quân tiến vào cửa Tân Yên và Cửu Tọa (nay là Đại Yêm và Tiêu Yêm, thuộc Quảng Nam) trưng cờ Thiên Tử, dóng trống tiến vào trận địa, Bộ binh Đại Tướng Nguyễn Đức Trung cũng mật chuyển binh đội giữ các ngã đường sơn cước.
Về phần quân Chiêm, Quốc Vương và em là Trà Toàn cùng sáu vị đại thần đem 5000 quân và voi, lặng lẽ tiến đến gần đại doanh của vua Thánh Tông, có lẽ định đánh lén mặt sau nhưng thấy uy thế của quân ta hùng dũng mất ngay tinh thần, vội rút ngay về Chà Bàn, đến núi Mộ Tô thì gặp Tả Đô Đốc Lê Hy Cát. Giặc hoảng sợ chạy lên núi cao bị Lê Niệm thúc quân đánh tan và chém được một đại tướng hộ giá, tiến đến Mễ Cần giết được hơn 300 quân giặc và bắt được 60 tên. Trà Toàn thấy em bị đại bại, thất vọng, cho sứ sang xin hàng. Vua cho dừng quân nghỉ ngơi, sau thấy Trà Toàn có thái độ không minh bạch nên ngày 27, đại quân đánh vào thành Thi Nại. Ngày 29, quân ta xiết chặt ba vòng vây quanh thành Chà Bàn. Ở đây, Việt Chiêm kịch chiến. Chiêm bị hại tới 4 vạn quân, bắt sống tới 3 vạn, trong đó có Trà Bàn và cả Hoàng Gia.
Cuộc chiến tranh Nam Bắc đến đây chấm dứt. Ngày mồng 2, có chiếu sửa soạn ban sư về kinh.
Trà Toàn bị bắt, tướng là Bồ Tri Trì chạy vào Phan Lung (Phan Rang) tự xưng vương và cho sứ xin triều đình ta thừa nhận để tiếp tục tiến cống. Vua Thánh Tông ưng thuận. Em Trà Toàn là Trà Toại, trước đây thua chạy vào núi, cho người sang kêu với nhà Minh. Lê Niệm được cử đem 3 vạn quân, vào bắt sống được đem vào kinh sư. Do dụng ý chia rẽ nhân tâm để dân Chiêm yếu đi, vua Thánh Tông cắt Chiêm Quốc ra làm 3 bước, chia cho Bồ Tri Trì một phần năm đất cũ, còn bao nhiêu làm thành hai nước là Nam Phan và Hóa Anh trao cho Trà Toại và một thân vương. Còn đất Chà bàn, đất Đại Chiêm và Cổ Lũy là bờ cõi cũ của ta trước đây bị Chiêm lấy mất mới trao cho hàng tướng Ba Thái làm Tri Phủ Đại Chiêm; Da Thủy làm Thiêm Tri Phủ; Đổ Tử Xuân làm Tru Châu Cổ Lũy được quyền tiền trảm hậu tấu đối với quân phiến loạn.
Đầu tháng tư, quân Nam chinh về tới Nghệ An. Ngày 11 tháng tư, Trà toàn bấy lâu được ngự giá, vì buồn và xấu hổ nên sinh bệnh mà chết. Vua truyền chém đầu, dựng cờ trắng ở đầu thuyền đề mấy chữ: “Đầu Trà Toàn, vua nước Chiêm Thành” để phấn khởi tinh thần dân chúng.
Ngày 22, làm lễ dâng tù tại nhà Thái Miếu ở Lam Kinh (Thanh Hóa) rồi tiến về Thăng Long.
Tháng 6, vua hạ chiếu lấy những đất mới của Chiêm làm Thừa Tuyên Quảng Nam, đổi Đại Chiêm Cổ Lũy ra 2 huyện: Hà Đông, Y Giang cho thuộc phủ Thăng Hoa (nay thuộc Quảng Nam) đổi Châu Nghĩa Tư r aba huyện: Bình Sơn, Bình Giang, Mộ Hoa thành phủ Tư Nghĩa (nay đất Quảng Ngãi); chia Chà Bàn làm 3 huyện: Bồng Sơn, Phù Ly, tuy Viễn thành phủ Hoài Nhân (Quy Nhơn ngày nay) rồi tùy xa để lưu các tội nhân. Vua cho san (phá) cái đỉnh núi cao nhất ngoài bờ biển giáp địa giới nước Nam Ban (Phan Rang) để dựng cái bia làm giới hạn, gọi núi ấy là núi Thạch Bi (nay là dẫy núi giáp giới Phú Yên, Khánh Hòa chạy dài xuống bể thành mũi Varella).
Về việc Trà Toại cho sứ sang khiếu nại với nhà Minh, vua Minh có thư sang buộc vua ta trả lại đất Chiêm Thành; vua Thánh Tông lấy lời lẽ nhũn nhặn, khéo léo mà xóa bỏ chuyện này. Vua Minh cũng phải thôi, ngay mấy lần có việc khám xét địa giới Bắc Thủy, Minh triều cũng chỉ lấy làm lệ, việc hòa hảo giữa các quốc gia phải chăng tùy theo tỉ lệ sức mạnh?
14 – Trận Đánh Bồn Man và Lão Qua
Rợ Bồn Man (nay đất Trấn Ninh), và Lão Qua (nay là Luang Prabang) ở phía Tay nước ta tự ý xin lệ thuộc nước ta từ năm Mậu Thìn (1448), dưới đời vua Nhân Tông và đổi ra Quy Hợp. Địa phận của họ có nhiều núi rừng hiểm trở, đường giao thông gập ghềnh khó khăn, vì họ hay ỷ vào lợi thế sơn xuyên, thường đem quân vào quấy phá biên giới Việt Nam. Mỗi lần xâm phạm bờ cõi của ta, họ đều kiện kết với nhau. Năm Quang Thuận thứ 9, quan Tổng Binh Khuất Định cùng Đồng Tổng Binh Nghiêm Nhân Thọ, Tán Lý Quân Vụ Nguyễn Đồng phải đi đánh dẹp họ từ Long Động đến Mộc Châu (Mộc Châu thuộc tỉnh Hòa Bình, bấy giờ ở trong địa phận Hưng Hóa), gặp 300 tên giặc đánh tan được liền tiến thẳng đến Cấu Lộng trên sông Mã. Khuất Định hợp cả quân vệ Gia Hưng thuộc quyền quan Tổng Tri Lê Miễn tiến đến Kỳ Trúc, lại có quân hai châu Đồng, Việt và thổ binh mọi giúp sức chặn các đường xung yếu. Giặc thấy quân ta mạnh và có mặt khắp nơi, tan vỡ ngay. Khuất Đinh sai người lấy điều họa phúc khuyên bảo, chúng đều xin hàng phục.
Qua năm sau, quân Bồn Man lại noi theo vết cũ. Tháng ba, vua thân chinh đi dẹp nhưng đến bến Bình Nam, nhà vua thấy quân ta đã thắng trận nên trở về cung.
Mười năm sau tức là vào năm Kỷ Hợi, Hồng Đức thứ 10 (1479), ngày mồng 7 tháng sáu, vua lại hạ một bài chiếu rất dài kể tội Bồn Man. Có lẽ Ngài thấy không thể không dung tha được việc cướp phá luôn luôn của họ và coi họ như cái dằm trong xương nên lần này cương quyết trừ dứt cái nạn Bồn Man để bảo vệ nhân dân ở các miền biên giới phía Tây (Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An) đã bao nhiêu năm mất làm, mất ăn vì họ.
Thái Úy Sùng Quận Công Lê Thọ Vực, Phò Mã Đô Úy Thống Lĩnh Động, Bắc quân và nhiều Đô Đốc, Đại Tướng, được lệnh đem 20 vạn quân tinh nhuệ đi tiểu trừ.
Tháng 7, ngày 22, vua hạ chiếu thân chinh, kém 18 vạn quân đặt dưới quyền Đại Tướng Đô Đốc Lê Đình Ngạn, Lê Lộng, Lê Nhân Hiếu chia năm đạo đánh thẳng vòa Lão Qua. Quân Lão Qua vỡ tan ngay. Ngày 18 tháng 10, vua tới Phù Liệt đã nghe tin đại thắng và lúc này quân ta đã chiếm đóng được thủ phủ của Lão Qua, chiếm được nhiều quý vật. Vua Lão Qua trốn mất. Đại quân đến hạ lưu sông Kim Sa (có lẽ sông này chảy ở phía Bắc, qua tỉnh Tây Khương và Tứ Xuyên), giáp Miền Điện. Triều đình Miến Điện sợ quân ta tiến vào nước họ, vội đưa thư đến triều đình, quân ta mới rút về. Hạ tuần tháng 1, ngự giá trở về Kinh.
Mùa xuân năm sau, ta mở cuộc chinh phạt Bồn Man và cũng huy động tới 30 vạn binh sĩ. Ngoài tội xâm lăng bờ cõi, Bồn Man còn đáng ghét vì đã xui Lão Qua quấy phá nước ta. Đi đến nơi, quân Bồn Man tan vỡ ngay. Tù trưởng Bồn Man là Cầm Công sợ quá bỏ chạy rồi chết. Quân ta vào thành đốt phá, dân Bồn Man có chừng 9 vạn, sau vì chinh chiến và chết đói, còn độ vài ngàn người.
Vua Thánh Tông chia đất Bồn Man làm bảy huyện, đặt ra phủ Trấn Ninh và cho quan đến cai trị, nhưng ngài vẫn phong thân nhân của Cầm Công là Cầm Đồng làm Tuyên Úy Đại Sứ để trông nom thổ dân.
Xét các võ công trên đây, ta thấy đời Hồng Đức đã thanh toán được một cách khả quan vấn đề biên giới. Chiêm Thành, Lạo qua quấy rối nước ta từ đầu Thiên Chúa kỷ nguyên, hết đời nọ đến đời kia, gây nên hận thù truyền kiếp. Ta dầu muốn yên họ cũng không để ta yên, chỉ vì các dân tộc này ngu muội không tự lượng sức mình lại có tính hiếu chiến, thật là tự chuốc lấy cái vạ diệt vong, sau này họ lại có thói a tòng với các vương triều Trun Quốc đánh vào hậu tuyến của chúng ta mỗi khi Việt Nam giao tranh với Bắc Phương. Tỉ dụ trong cuộc chiến tranh giữa Mông Cổ với VIệt Nam hoặc trong thời Minh thuộc, đã có khi họ lĩnh việc “Bắc tiến”, có khi họ lừa dối sang giúp ta đánh quân Minh thì là lúc họ phản ta, vua Lê Thái Tổ trong những ngày tháng khởi nghĩa đầu tiên đã lao đao vì ngón độc thủ của họ (Lão Qua). Giờ đây, dân họ bị tiêu diệt, nước bị qua phân không phải là vô cớ và oan uổng.
Vua Lê Thánh Tông khi huy động đại quân mở cuộc Nam chinh đã tuyên cáo quốc dân “Rửa cái hổ của các tiền triều” tức là nhắc con dân Việt Nam cái thù truyền tử nhược tôn giữa ta với các man dân lân cận. Nếu chẳng cay nhau đến tột bực, có lẽ đâu quân lực toàn quốc nhót 30 vạn mà tung ra hết, thì ta hiểu triều đình của ta quyết liệt đến thế nào với Chiêm Thành, Lão Qua và Bồn Man. Lại xem việc cướp phá thành, đặt quận huyện thì rõ rệt nhà vua đã thực hiện câu không đội trời chung với các địch quốc dị chủng.
Sau mấy chiến công oanh liệt này, các nhà chép sử phải ghi rằng: cuối thế kỷ XV, đời Hồng Đức đã gỡ được cho dân tộc cái họa biên cảnh miền Tây, Nam. Ngoài những thắng lợi về chính trị, ta còn đoạt được thắng lợi về đất đai cùng kinh tế nữa. Từ đó, ta thu được nhiều thuế má, sản vật quý giá (yến sào, đồi mồi, ốc trai, sừng tê, sà cừ, tơ lụa, các tượng đá rất đẹp, voi…) Lại do sự xúc tiếp Việt Chiêm mật thiết hơn hết thảy bao giờ, ta cũng lượm được của họ ít nhiều điều hay về ca nhạc, kiến trúc, tập tục khoáng đạt khiến nền văn hóa của ta được phong phú thêm.
15 – Văn Trị Của Nước Ta Dưới Đời Hồng Đức
Trình độ văn học nước ta đến Lê triều đã tới mức khả quan. Nó bắt nguồn mạnh mẽ từ đời Tiền Lê, qua đời Hậu Lý. Trong mười thế kỷ Bắc thuộc, viện học mới kể là sơ khai, tuy ta đã có một số người văn tự. Từ Lý, nó đã có một cái gì là nền tảng, vì các khoa thi, việc tuyển trạch nhân tài đã đều đều, đến đời Trần thì văn học của ta có đà tiến. Nhờ có mấy thế kỷ độc lập liên tiếp, việc văn học không hề bị gián đoạn, cho đến cả thời Minh thuộc hai chục năm, việc học của dân ta cũng không ngừng lúc nào (các quan nhà Minh cũng đôn đốc mở các trường học khắp nước và trọng dụng nhân tài để giúp họ). Ngay cả khi vua Lê Thái Tổ đang kháng chiến tại Đông Đô (năm Bính Ngọ, 1427), ngài cũng có mở khoa thi. Trong khoa thi này, bọn ông Đào Công Soạn 26 người đỗ Giáp Đệ và 6 người đỗ Ất Bảng. Rồi cuộc bình định vừa xong, vua Thái Tổ mở luôn khoa Minh Kinh lấy các ông Trịnh Thuấn Du, Phan Phù Tiên, Nguyễn Thiên Túng, Võ Văn Trinh, Nguyễn Khắc Hiếu là những danh thần của hai triều sau này.
Năm Thuận Thiên thứ tư (1431), Thái Tổ mở khoa Hoành Tử, kén con cháu các quan, các thanh niên tài tuấn trong dân chúng vào làm học sinh thi cận, thị ngự tiền và giám sinh ở Quốc Tử Giám, sung làm sinh đồ các phủ. Khoa thi Tiến Sĩ thứ nhất đời Lê là khoa Nhâm Tuất năm Đại Bảo thứ ba, có tới 450 người ứng thí, có 33 người trúng cử, 3 vị nhất giáp tam khôi đều còn thanh niên cả, đáng kể nhất là Trạng Nguyên Nguyễn Trực 26 tuổi, Bảng Nhỡn Nguyễn Như Đỗ 19 tuổi, Thám Hoa Lương Như Học ngoài 30 tuổi, nổi danh cả ở Trung Quốc (Nguyễn Trực đi sứ được người Tàu cho đỗ Trạng Nguyên bên ấy). Với các khoa this au, số thí sinh càng nhiều thêm, rồi đến đời Thánh Tông, năm Quang Thuận thứ tư (1436), số cống sĩ lên đến 1400 người. Việc học thịnh đến như vậy là nhờ chỗ nhà Vua rất sùng thượng việc văn học. Ngài mở rộng nhà Thái Học, hàng năm tế đức Khổng Tử long trọng, đặt ba lớp Quốc Tử Giám, lấy thêm sinh viên lưu trú, làm kho bí thư để chứa các sách. Cách của Ngài cho kén nhân tài nhằm vào đức hạnh rồi mới đến văn học và do sự tuyển lựa trước của Hương Lý, thí sinh mới được đệ đơn thi.
Năm Nhâm Ngọ (1462), Quang Thuận thứ ba, Ngài định cứ ba năm một kỳ thi, năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội. Thi Hương thì cứ nhằm vòa những năm Ty, Mão, Ngọ, Dậu; Thi Hội vào những năm Sửu, Thìn, Mùi, Tuất. Trong nước, ngài đặt 12 trường thi Hương; 7 trường tại Sơn Nam, Phụng Thiên, Hải Dương, Kinh Bắc, Sơn Tây, Thanh Hóa, Nghệ An. Mỗi trường có 4 quan giám thí do Hàn Lâm Viện cử ra. Còn năm trường: Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thái Nguyên, Lạng Sơn, An Bang. Mỗi trường có hai quan giám thí do tòa Thừa và tòa Hiến ở đây cắt ra. Ngài ban tờ dụ “Khuyến Học” cho sĩ tư toàn quốc, lời lẽ đầy đủ của cha dạy con, thày bảo trò, thật là ân cần tha thiết, điều hơn lẽ thiệt chỉ rõ như ban ngày, nhờ vậy làn song văn học tràn khắp nơi Kinh kỳ ra ngoài dân dã. Số người tài cao học rộng mỗi ngày một nhiều. Năm Nhâm Ngọ (1462) cả 12 trường thi có tới 60000 người dự thì rõ việc học khả quan thế nào. Số cống sĩ khoa Tiến Sĩ Ất Mùi, Hồng Đức thứ sáu (1475) tăng lên gấp ba. Số người này trước kia không quá hai ba chục, từ đó lên tới 60 mỗi khoa.
Đỗ Trạng Nguyên tức là đệ nhất giáp tiến sĩ cận đệ, đệ nhất danh được hàm chánh lục phẩm. Bảng Nhỡn tùng lục phẩm. Thám Hóa chánh thất phẩm. Hoàng giáp tức nhị giáp tiến sĩ xuất thân, tòn thất phẩm. Tam giáp đồng tiền sĩ xuất thân hàm chánh bát phẩm.
Các tân khoa đầu tiên được Viện Hàn Lâm, sau theo phẩm trật được bổ Giám Sát Ngự Sử, Tri Phủ, Tri Huyện.
Để tỏ lòng tôn trọng nhân tài, vua Thánh Tông đãi yến các vị tân khoa ở vườn Quỳnh Lâm, ban mũ áo, cờ biền cho vinh quy. Ngài còn cho dựng bia ở nhà Thái Học mỗi khoa, trên có bài thuật quang cảnh khoa thi, nói ý tốt của nhà vua, dưới khắc tên và trú quán các vị tiến sĩ theo thứ tự hơn kém. Ngày 15 tháng tám năm Hồng Đức thứ 15, mười một chiếc bia tiến sĩ được dựng lên một lúc ở Văn Miếu thành Thăng Long, biểu dương tinh thần trọng học và hiếu học của dân tộc Việt Nam. Các ông nghè triều Lê kể từ khóa đầu tiên của bản triều là khóa Nhâm Tuất đều có tên trong các bia đó. Các khoa this au cũng được hưởng sự long trọng này, tiếc rằng các bia sau không dựng đúng ngày đó để việc kỷ niệm có ý nghĩa hơn đối với lịch sử khoa cử.
Thiết tưởng cũng nên chép ra đây ít lời khuyến cáo và khích lệ trong một vài tấm bia để tỏ lòng kỳ vọng của triều đình đối với kẻ sĩ:
Người học trò được khắc tên vào phiến đã này rất may mắn thay. Phải mong làm điều trung nghĩa. Danh và thực phải giống nhau, việc làm theo sự học để thành công nghiệp lớn lao rực rỡ khiến cho thiên hạ về sau mong theo tiếng tốt, hâm mộ đức hay, ngõ hầu trên không phụ lòng nhân của triều đình đã hết lòng nuôi dậy, dưới không uổng cái công uẩn xúc của mình khi bình sinh, thì cái phiến đá này khắc ra lâu đời không nát.
Nếu chỉ khoe văn chương bên ngoài mà thiếu đức hạnh ở trong, kiến thức học hành sai lạc, hạnh kiểm hỏng, danh giá hư thì chỉ làm phiến đá kia thêm vết. Ví như bất trung bất hiếu thì tên đục đi. Chẳng phải cái ý của triều đình mong cho sĩ quân tử như vậy; chẳng phải sĩ quân tử tự đãi mình như thế. Ôi, bé đi học, lớn ra làm cái chí cung kính chi dụng, người ta ai ai cũng có. Từ này về sau phàm là người học trò sinh ở đời này, dự vào lối học này nên để ý đến. (Trích bia khóa Đinh Mùi, Hồng Đức thứ 18 Thân Nhân Trung soạn).
Nếu xét tổng số Tiến Sĩ đời Lý Trần, (đời Trần gọi Tiến Sĩ là Thái Học Sinh), đến triều Thành Thái nhà Nguyễn vừa đây là 2335 vị, thì số Tiến Sĩ triều vua Thánh Tông chiếm quá 1/5, trong số 30 ông Trạng, Quang Thuận và Hồng Đức có tới 9 ông. Lại có điều đặc biệt nữa là cái vị khoa mục đều trẻ tuổi cả (Trạng Nguyên Vũ Kiệt đỗ năm 20 tuổi. Tiến Sĩ trẻ nhất là Nguyễn Nhân Thiệp, đỗ khóa Bính Tuất, mới 15 tuổi). Ngoài ra, triều đình còn lấy cả những người không đỗ đạt lớn nhưng có văn tài, đức vọng để giữ các trọng trách nữa, đủ hiểu quan niệmvề nhân tài thời Hồng Đức rộng rãi và thực tế biết chừng nào. (Bộ Công Vụ đời nay tưởng nên lưu ý đến việc này). Rồi do cái chính sách thiết tha chiêu hiền đãi sĩ ấy, do cái tinh thần sùng thượng đạo đức văn học cao tột bực, kẻ sĩ thời đó đã hết lòng trung quân ái quốc và sau này, vận Lê nghiêng ngửa có nhiều người đã dám sát thân để thành nhân vậy.
Chú thích:
[1] Theo Việt Nam Sử Lược, khi Bình Định Vương đã nổi lên ít lâu (1420) mới gặp Nguyễn Trãi ở Lộ Giang. Nguyễn Trãi dâng bài sách Bình Ngô rồi được dùng làm tham mưu.
[2] Lê Lai chết thay cho Lê Lợi, Lê Lợi hứa rằng sau này mình chết thì con cháu phải cúng giỗ Lê Lai trước. Ngày 22-8 nhuần năm Quý Sửu (1435) vua Lê Thái Tổ mất nên ngày 21 là ngày kỷ niệm Lê Lai. Sau này có câu: Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi là vì việc này.
[3] Niên hiệu của Minh Thái Tổ (1368 – 1398)
[4] Có sách chép lúc này họ Nguyễn đang đi kinh lý Bắc Đạo.