- Mông Cổ là giống người thế nào?
- Thành tích chiến đấu của quân Mông Cổ
- Cuộc xâm lăng thứ nhất của quân Mông Cổ
1- Mông Cổ là giống người thế nào?
Để hiểu công cuộc chông xâm lăng của dân tộc chúng ta khắc khổ, gian lao và phải hy
sinh đến bậc nào cho tới cái kết quả của nó có đáng gọi là rực rỡ oanh liệt bậc nhất suốt thế kỷ XIII – không phải riêng trong lịch sử Việt Nam mà cả trong lịch sử thế giời thuở đó – chúng tôi thấy cần phải trình bày qua nguồn gốc và những chiến công anh dũng phi thường của người Mông Cổ.
Dân số Mông Cổ có gần 3 triệu, đa số là dân du mục. Nhà cửa của họ là những túp lều quây tròn bằng da thú trên nóc có lỗ thông hơi. Thực phẩm của họ gồm có sữa, thịt cừu, pho mát. Những người nghèo ăn cả đến xác những thú vật chết từ lâu. Người Mông Cổ không thích làm việc, mỗi năm làm việc chừng một tháng mà thôi. Y phục thường bằng da thú và lông cừu. Từ đời Đường (618 – 904) ở khoảng thượng lưu Hắc long giang (Amour) suốt một giải Tây Bắc tỉnh Hắc Long giang rải rác về phía Bắc Xa. Thần Hàn thuộc miền Bắc nước Trung Hoa, diện tích vào khoảng 3 triệu cây số vuông giống người này đã sinh trưởng trong trạng thái các bộ lạc kiếm ăn bằng nghề chài lưới, săn bắn như nhiều dân tộc khác về cổ thời. Và tương đối với các dân tộc Á Châu bấy giờ, họ là đám người hậu tiến nhất. Họ rất hung tợn và hiếu chiến, có tài đặc biệt là bắn cung, cưỡi ngựa nên tổ chức kỵ binh của họ có thể nói là rất lợi hại. Họ sắp đặt cơ nào đội ấy rất có thứ tự, sành việc tổ chức và huấn luyện quân đội giàu mưu chước, kinh nghiêm và chuyện vận binh sĩ hết sức mau lẹ.
Đối với kẻ địch, họ áp dụng nguyên tác: hàng thì đãi có độ lượng, chống thì tàn sát tới ngọn cỏ lá cây.
Đối với cấp trên, họ hoàn toàn phục tùng, chỉ biết có một thứ luật: luật của lĩnh tụ. Được lệnh tiến, dù tiến để mà chết. Như vậy thì nghề chinh chiến của họ lại hơn cả các dân tộc tiền tiến đời bấy giờ. Đó là một điều trái ngược hẳn.
Tổ tiên của họ là giống Hung Nô. Tài nguyên của họ là những bầy súc vật mà họ đưa chăn nuôi ở những miền đồng cỏ xa xôi. Đời sống họ rất cực khổ vất vả vì khi nóng thì nóng, thiêu đốt cả cỏ cây, giết hại cả súc vật (38 độ 2) khi lạnh thì buốt đến xương tủy, người và vật chịu không nổi (45 độ 5 dưới 0 độ). Họ không biết nghề nông, không biết viết chữ, rất tin tưởng khoa phù thủy. Phật giáo được coi gần như tôn giáo chính của Mông Cổ. Họ theo đạo Phật nhưng không hiểu nổi triết lý của Phật giáo nên chỉ là những kẻ mê tín không hơn không kém. Binh chế của Mông Cổ tổ chức như sau đây:
1) Bộ trong gồm các quân Túc Vệ.
2) Bộ ngoài là các quân Trấn thủ.
Quân túc vệ chia làm quân Khiếp tiết, theo tiếng Mông Cổ có ý nghĩa là những kẻ được nhiều ân sủng của Thiên tử, tức là thân binh của nhà vua và quân các vệ: Tả, hữu, trung, tiền, hậu và Đường Ngột vệ, Quý Xích Vệ, Vũ Vệ; Tả, Hữu, Đô úy vệ… Quân các vệ thì Thân quân chỉ huy sứ cầm đầu cùng với các quân Trấn thủ đều thuộc quyền Khu mật viện. Quân Khiếp tiết và các vệ tuy đều là quân Túc vệ hợp lại gọi là thân quân nhưng nhiệm vụ khác nhau: Khiếp tiết dùng vào việc bảo vệ Thiên tử, là thân quân trong các thân quân. Quân túc vệ chuyên việc giữ hoành thành, kinh sư, phòng thủ việc doanh thiện và việc đồn điền…Đội quân này cũng có khi dùng vào việc viễn chinh.
Quân Trấn thủ: các bộ thì lập Vạn hộ phủ, các huyện thì lập Thiên hộ sở đều thuộc Khu mật viện, tùy chỗ quan trọng, hiểm yếu mà chia đi chiếm đóng. Đại khái các nơi biên cương then chốt thì có thân vương, tông thất cầm quyền. Tỷ dụ: Hà Lạc và Sơn Đông thì có quân bản tộc Mông Cổ trấn thủ. Từ Giang, Hoài trở xuống Nam Hải có Hán binh và quân tân phụ là những quân lính người Trung Quốc được tuyển mộ sau khi diệt được nhà Kim.
Lối đánh của Mông Cổ là khi lâm trận, đạo kỵ binh lưu động của họ tiến nhanh như chớp nhoáng rồi biến mất để lại xuất hiện ngay liền đó sau lưng địch khiến đối phương bị điên đảo, trở mình không kịp, bị rối loạn cả chiến lược, chiến thuật.
2 – Thành Tích Chiến Đấu Của Quân Mông Cổ
Đây những thành tích vĩ đại của Đế quốc Mông Cổ!
Năm 1206, Thiết Mộc Chân sau này tự hiệu là Thành Cát Tư Hãn (Gengis Khan) tức năm thứ hai đời Lý Cao Tông, năm Trị Bình Long Ứng, đã đánh bại quân đội Thổ Nhĩ Kỳ vì đã muốn giành nhau đất Mông Cổ với ông ta. Sau đó chúa Mông Cổ quay binh về Trung Quốc.
Lúc này Trung Quốc chia làm ba khu vực thuộc quyền ba vương triều: Hoa bắc do nhà Kim dòng dõi Man Châu chiếm giữ, kinh đô đóng ở Bắc Kinh; Hoa Nam thuộc nhà Tống, kinh đô tọa lạc ở Hàng Châu, Tây Bắc nằm dưới quyền nước Tây Hạ. Cuộc chiến tranh ở đây vô cùng khốc liệt: Mông Cổ phải mất hai năm mới vượt được Vạn Lý Trường Thành và năm 1213, Mông Cổ vào phong tảo Bắc Kinh. Năm 1215 thành này bị thất thủ, lửa cháy ngất trời luôn một tháng không ngớt. Chín năm sau du khách qua vùng này còn thấy đầy dấu tích của hoang tàn và cái đống xương khô của muôn ngàn tử sĩ.
Thắng Kim xong, Thành Cát Tư Hãn quay sang Tây phương tấn công Tân Cương và Ba Tư.
Cuộc viễn chinh kéo dài 5 năm. Chiếm được đâu, Mông Cổ giết choc, phá hủy sạch tới đó, thực hiện đúng câu: “Nơi nào ngựa Mông Cổ đi qua, cỏ cây cũng hết sống” của chúa Attila bảy thế kỷ trước cũng dòng giống Mông Cổ (Pháp gọi là Les Huns).
Tại Hung Gia Lợi, giáo chủ và giai cấp phong kiến xung đột với nhau vừa tạm yên thì Mông Cổ như trận cuồng phong ào tới. Vua Bela tử trận năm 1241 ở Pest. Từ Breslau đến Cracovie máu người Hung chảy như nước suối. Mông Cổ hoành hành xong liền bỏ đi, sau khi 500 ngàn quân dân Hung chất không còn một mống.
Đầu thế kỷ thứ XIII, Hồi quốc đang thịnh đạt và là đế quốc khá lớn gồm Ba Tư, Tiểu Á Tế Á và Cận Đông, bề ngang kéo dài từ Ấn Độ đến Bagdad, dọc từ bờ biển Aral tới vịnh Ba Tư.
Mông Cổ tới, bốn chục vạn binh của Mohamed tan tành và kinh đô cũng ra tro bụi. Đế quốc Hồi tan vỡ từ thuở ấy.
Tháng chạp năm 1237 tới tháng năm 1238 bốn phần năm lĩnh thổ Nga Xô cũng lọt vào tay Mông Cổ. Các quốc gia Tây Âu nghe tin này cũng vô cùng khủng khiếp coi như ngày tận thế đã tới. Giáo hoàng Innocent IV và vua thánh Louis nước Pháp cử người sang cầu hòa với Mông Cổ.
Về phía Á Đông, trong khoảng thời gian đánh Đông dẹp Tây thì mua Thu năm 1226, Tây Hạ cũng bị lâm vào cảnh núi xương sông máu với đoàn quân kiêu hùng của Thành Cát Tư Hãn trong hạ tuần tháng 8 năm sau, Tây Hạ đầu hàng và bị sáp nhập vào đế quốc Mông Cổ từ đó.
Trong khi chinh phục Tây Hạ thì chúa Mông Cổ mất, con là A Loa Đài (Ogotai) lên thay tức là Nguyên Thái Tông. Nguyên Thái Tông không sống lau (3 năm sau) Nguyên Định Tông kế nghiệp cũng yểu vong. Ngôi vua truyền sang chi khác. Em con nhà chú là Mông Kha (Mong ké) được tôn lập, tức là Nguyên Hiến Tông.
Hiến Tông phái hai em là Hạt Lô (Houlagen) đi kinh lý Ba Tư và Hốt Tất Liệt xuống đánh nhà Nam Tống. Trong khi Mông Tống đánh nhau thì Hiến Tông qua đời. Hốt Tất Liệt trở về lên xưng là Nguyên Thế Tổ, lấy quốc hiệu là Nguyên. Xong việc này, Hốt Tất Liệt lại tiếp tục Nam chinh và diệt được nhà Tống. Trung Quốc giờ phút này hoàn toàn mất về nhà Nguyên. Tới năm 1280, nhà Nguyên hoàn thành sự nghiệp đế quốc. Xét ra về diện tích đê quốc này gần già nửa phần thế giới làm chủ được 40 quốc gia từ Á qua Âu. Thật là một đế quốc lớn nhất tư fkhi có loài người và lịch sử. Thành tích của Mông Cổ làm mờ cả sự nghiệp của Á Lịch Sơn và Nã Phá Luân trước và sau.
3 – Cuộc Xâm Lăng Thứ Nhất Của Mông Cổ
Khi Mông Kha còn sống, Hốt Tất Liệt đem quân sang đánh Tống có sai một đạo quân đi đánh nước Đại Lý (thuộc tỉnh Vân Nam) tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hợp Thai (Wouleangotai) sai sứ sang bảo vua Trần Thái Tông thần phục về Mông Cổ.
Vua và dân Việt Nam đã có những cử chỉ gì?
Trần Thái Tông không những phản đối yêu sách của Mông Cổ lại còn giam sứ Mông Cổ lại. Biết rằng Mông CỔ thế nào cũng có phản ứng. Thái Tông liền phái Trần Quốc Tuấn động binh trấn giữ các nơi về miền Bắc là nơi cổng ngõ của chúng ta đối với Trung Quốc (năm Đinh Tị 1257).
Mông Cổ theo đường Vân Nam tiến xuống sông Thao, Hưng Hóa và Thăng Long. Quân số của họ có 2000 ấy là chưa kể đạo quân của Á Châu là con vua Nguyên đi hậu tập và tiếp viện. Ngoài ra đạo quân Ô Lạp Cáp Đạt tức là Ngột Lương Hợp Thai tiến sang nội địa Việt Nam định vào đánh phá thành Thăng Long.
Cuộc gặp gỡ của hai quân có lẽ đã xảy ra trên một quãng sông Thao, hoặc tại Hưng Hóa hoặc từ Hưng Hóa về tới Sơn Tây. Chỗ này sử không chép rõ, chỉ biết rằng đối với ta quân Mông Cổ khi đó rất mạnh. Trần Quốc Tuấn chống không nổi phải lui về Sơn Tây. Vua Thái Tông cũng ngự giá thân chinh rồi cùng thoái lui về đóng ở sông Cầu. Ở nơi đây quân ta núng thế lại bị dồn về Đông Bộ Đầu (phía Đông sông Nhị Hà thuộc địa hạt huyện Thượng Phúc). Tình thế lại bi quan thêm, vua Thái Tông phải bỏ thành Thăng Long về giữ ở sông Thiên Mạc (huyện Đông An tỉnh Hưng Yên).
Thành Thăng Long bỏ ngỏ. Quân Mông Cổ vào thấy ba người sứ của họ còn bị trói giam ở trong ngục. Khi cởi trói thì một người chết, chúng giận hết sức, liền tàn sát hết cả nhân dân trong thành không trừ người già và con trẻ. Một sự xúc động tràn ngập tâm hồn đa số nhân vật của Trần triều. Vua Thái Tông ngự thuyền đi hỏi ý kiến Thái Úy Trần Nhật Hiệu. Trần Nhật Hiệu cầm sào vạch xuống nước chữ “Nhập Tống”. Đến lượt Thái Sư Trần Thủ Độ. Thái Tông thấy cả một sự cương quyết.
- Đầu tôi chưa rơi xuống đất thì xin bệ hạ đừng lo! Đó là câu trả lời của Thủ Độ và ta phải nhận rằng lời khẳng khái này đã quyết định chiến tình thuở ấy và cả vận mệnh cùng danh dự dân tộc chúng ta nữa. (Nhất ngôn hung quốc, nhất ngôn tang quốc là vậy).
Được ít lâu quân Mông Cổ mỏi mệt vì không chịu được thủy thổ. Quân ta dò xét được tình trạng này mới mở cuộc tấn công. Thái Tông tiến quân lên đánh giặc ở Đông Bộ Đầu. Giặc chạy lên trại Qui Hóa bị thổ dân ở đây chận đánh rất là điêu đứng. Tinh thần của giặc bị khủng hoảng vì thấy khí thế của Nam quân mạnh mẽ và đã chiến thắng họ ở nhiều nơi. Giặc lại do đường cũ theo dọc sông Thao rút về Tàu, tinh thần mỏi mệt không còn sức đánh nhau và cướp phá dân gian nữa. Dân gian gọi chúng là giặc Phật.
Mùa xuân năm Mậu Ngọ (1258) vua Thái Tông nhường ngôi cho con là Thái tử Trần Khoán (Việt Nam Sử Lược chép là Hoảng) lấy hiệu là Thánh Tông. Ngài lên làm Thái Thượng Hoàng đế cùng trông coi việc nước.
Thái Tông trị vì được 33 năm. Làm Thái Thượng Hoàng được 19 năm thì mất, thọ 60 tuổi.
II -TRẦN THÁNH TÔNG (1258 – 1278)
- Việc mở mang chính trị
- Việc ngoại giao với Mông Cổ
1 – Việc Chính Trị
Vua Thánh Tông lên ngôi xong liền đổi niên hiệu là Thiệu Long. Ngài là một ông vua nhân hậu, hòa ái đối với mọi người từ trong ra đến ngoài.
Ngài quan niệm “thiên hạ là của ông cha để lại an hem cùng hưởng” do đó trong nội cung khi ăn uống vui đùa không có phân tôn ti, trật tự.
Ngài ở ngôi 21 năm, nước nhà được yên trị. Việc học được mở mang. Hoàng đệ là Trần Ích Tắc có tiếng là người trí thức trong nước được cử ra mở học đường để rèn luyện nhân tài cho quốc gia. Mạc Đĩnh Chi là danh nho nước ta sau này cũng do trường của Hoàng triều lập ra.
Ngài lại cho Lê Văn Hưu tiếp tục biên soạn sách sử ký. Họ Lê làm được bộ Đại Việt sử gồm 30 quyển, chép các việc từ đời nhà Triệu đến đời Lý Mạt. Việc biên tập của bộ sử này bắt đầu từ đời vua Thái Tông đến nămThâm Thân (1272) đời Thánh Tông mới xong. Vua Thánh Tông còn khuyến khích các vương hầu họp các dân nghèo để khẩn hoang. Các điền trang có kể từ bây giờ.
2 – Việc Ngoại Giao Với Mông Cổ
Mông Cổ tuy thua nhưng vẫn không dứt ý muốn chinh phục nước ta. Trong giai đoạn này họ đã hạ được nhà Tống tức thôn tính được toàn bộ Trung Quốc, ít lâu sau cho sứ sang đòi vua nước ta sang chầu Bắc Kinh (là kinh đô của Nguyên chủ bấy giờ). An Nam Chí Lược (quyển 4) và Toàn Thư (quyển 5) dựa vào tài liệu Nguyên Sử (quyển 9) về đoạn này viết:
Mùa hạ năm Mậu Ngọ (1258) Mông Cổ sai Nột Loạt Đan sang dụ vua Trần Thánh Tông như sau: “Xưa ta sai sứ sang thông hiếu, các ngươi mê man không tỉnh nên năm ngoái ra phải xuất quân (1257). Quốc chủ các ngươi phải chạy dài nơi đồng nội, ta lại sai hai sứ giả đi chiêu an cho về nước (hai sứ giả này đều bị ta giam giữ ở trong ngục, đến khi thả ra thì một người chết) các ngươi lại dám trói cả sứ giả của ta.
“Nay ta đặc biệt sai người đến mở lòng dụ bảo: Nếu các người thề xin một lòng nội phụ thì quốc chủ phải thân hành sang đây. Ví bằng vẫn còn không chịu thì cứ bảo rõ cho ta biết”.
Vua Trần Thánh Tông hỏi: “Nếu tiểu quốc thành tâm thờ đại quốc thì được đối đãi thế nào?”
Theo Việt Nam Sử Lược vua Thái Tông sai Lê Phụ Trần sang sứ xin ba năm tiến cống một lần. Tình thế đôi bên dĩ nhiên phải gay go vì Mông Cổ ỷ vào sức mạnh có thừa, mà Trần triều thì giàu tin tưởng vào tinh thần anh dũng và nhất trí của dân tộc, huống hồ quân Nam vừa thắng quân Bắc. Việc giao hiếu vẫn chưa được xác định. Mông Cổ sai sứ sang yêu sách hết điều này đến điều nọ, vua ta cứ lần lữa không chịu nhất là việc sang chầu Nguyên chủ, sau câu chuyện ngã ngũ ở chỗ nước Nam chỉ chịu sứ tiến cống ba năm một lần mà thôi, kể tử nằm Quý Hợi (1263). Điều kiện của việc tiến công là;
1) Nộp nho sĩ, thầy thuốc, các người thông âm dương bói toán – thủ công mỗi hạng 3 người (kỹ thuật gia).
2) Về đồ vật phải nộp sừng tê, ngà voi, đồi mồi, vàng bạc, chu sa, dầu tô hợp, quang hương, đàn hương, trầm hương, trân châu, bông trắng, đĩa, chén và các vật lạ.
Thật là cả một sự khôn ngoan! Mông Cổ đòi các nhân vật cốt để biết về mỗi ngành dân trí của người Nam tiến đến bậc nào. Sau đó họ muốn tìm hiểu nước ta có những sản vật gì quý báu. Họ nghiên cứu các điều này để tùy tiện thi hành dần chương trình xâm lăng và bóc lột của họ.
Mông Cổ đặt quan Đạt Lỗ Hoa Xích tức là quan Chưởng Ấn để giám trị các châu quận của nước Nam trong khi chưa cướp được hẳn chính quyền của vương triều bản xứ. Vua chúa nhà Trần cũng hiểu rõ cái manh tâm của Nguyên chủ nên chịu nhận quan Đạt Lỗ Hoa Xích của họ trong khi cần hòa hoãn tình thế.
Trong giai đoạn hòa hiếu khá dài này, Trần triều lợi dụng yếu tố thời gian để tập binh luyện mã, xây dựng cho cuộc tranh đấu một nền tảng vững chắc trên thực tế, biết rằng sớm muộn cuộc xâm lăng của Bắc phương cũng lại tái diễn. Sự nhận xét đó đã căn cứ vào chỗ người Mông Cổ đã tung hoành từ Á qua Âu, làm bá chú hai phần ba thế giới có lẽ nào chịu đấu dịu mãi với một nhược tiểu dân tộc phương Nam nhất là dân tộc này xưa kia đã nằm dưới quyền thống trị của giống Hán mà họ vừa mới khắc phục được. Cuộc áp bức bằng quân lực năm Đinh Tị (1257) đã không thành công, nhưng trên 20 năm Mông Cổ được Trần triều thần phục, chịu nhận quan Giám Trị nên Mông Cổ nghĩ cứ lấy uy thế mà lấn dần, kết cục vẫn đi tới được kết quả mong muốn thfi cần gì phải dùng binh đao, huống hồ binh đao đã rõ rệt vô hiệu lực. Con tính của họ như vậy cũng hợp lý lắm. Trái lại họ không ngờ rằng Trần triều hay dân tộc Việt Nam thuở đó đã chỉ quan niệm việc thần phục nhà Nguyên là một kế sách hòa hoãn với kẻ mạnh, một chiến lược lùi để tiến trong khi thực lực chưa sung mãn. Quả vậy, dưới triều Lý dân tộc Việt Nam độc lập trên hai thế kỷ, sau cuộc thắng trận của Lý Thường Kiệt, gươm đao lâu ngày không mó đến. Qua tới các vua Cao Tông, Huệ Tông, tổ chức kinh tế quân sự, xã hội lại sao nhãng, Trần triều mới bột khởi, đâu đã đủ sức chịu nổi một cuộc trường chiến với một dân tộc hùng cường nhất Thế giời bấy giờ. Cái chước lùi để tiến của Trần triều rõ rệt là một thủ đoạn rất khôn ngoan của các nhà chính trị đời bấy giờ. Trần Thủ Độ và Trần Quốc Tuấn là hai linh hồn của cuộc kháng chiến, là cột trụ của cuộc chống Nguyên quả đã nhìn thời cuộc rất sát và đã nhọc lòng xây dựng lực lượng dân tộc về ba điểm trên đây. Ba điểm này nếu không phát triển đều thì chỉ còn nước cúi đầu nghe lệnh của kẻ mạnh. Rồi việc binh chế của Trần Triều tổ chức và canh cải như thế nào trên đây chúng đã rõ.
Cuộc xô xát giữa đôi bên ra sao?
Ba năm sau tức là năm Bính Dần (1266) thế ngoại giao bắt đầu gay go giữa đôi bên cùng một nhịp. Năm đó sứ Mông Cổ qua Việt Nam. Trần Thánh Tông yêu cầu bãi bỏ việc đòi nho sĩ, thầy bói và các thợ khéo. Tháng chạp phái đoàn Dương An Dưỡng và Vũ Hoàn đưa sang Nguyên triều ba tờ biểu xin bãi bỏ các vấn đề này: Tờ thứ nhất nói về việc cống phương vật. Tờ thứ hai nói về việc tuyển cống nhân tài. Riêng tờ thứ ba xin cứ để Nột Loát Đan làm “Đại Lỗ Cát Tề” ở nước Nam. (Đại Lỗ Cát Tề tức là Đạt Lỗ Hoa Xích theo Mông Cổ nghĩa là quan trưởng giữ quyền hành chính và quân sự. Hồi đó lực lượng của ta chưa dồi dào nên phải tạm nhận khoản này).
Mông Cổ bằng lòng nhưng khoảng tháng 10 năm sau (Đinh Mão tức 1267), Nguyên chủ lại đưa ra những điều kiện nặng nề gồm 6 việc dưới đây:
1) Quân trưởng phải sang chầu.
2) Phải gửi con em nhà vua sang làm con tin
3) Biên số dân
4) Nộp phú thuế
5) Chịu quân dịch
6) Đặt quan Đạt Lỗ Cát Tề như cũ.
Các điều yêu sách của Mông Cổ trước sau đều bị khước từ khéo léo, bề ngoài có sự nhũn nhặn mà bề trong có sự cứng rắn, rút cục vẫn đưa Mông Cổ đến chỗ bất mãn.
1) Tháng một năm Đinh Mão (1267) Mông Cổ đòi trao trả hai tên lái buôn người Hồi hoạt để xét hỏi về việc Tây Vực.
Trần triều trả lời: “một người là Y Tôn chết đã lâu, một người là Bà Bà sau cũng vì ốm đã chết rồi”.
2) Đối với việc yêu sách nộp voi, ta thoái thác: “…Cứ theo Hòa Lâm, Cát Nhã, Bệ hạ (chỉ vua Nguyên) muốn cần dùng vài con voi lớn, những giống thú ấy mình mẩy xù xụ to lắm, đi chậm chạp không bằng ngựa của thượng quốc, xin sẽ dâng cống chuyến sau…”
3) Tháng một năm Canh Ngọ (1270) Mông Cổ bắt bẻ vua Trần Thánh Tông tiếp chiếu không chịu lạy, không đãi sứ theo lễ vương nhân.
Vua Trần Thái Tông trả lời qua Trung thư sảnh nhà Nguyên: “Bản quốc được thiên triều phong vương tước há không phải là vương nhân sao? Sứ giả của Thiên triều lại xưng mình là “vương nhân” đứng ngang với bản quốc thì e làm nhục phong thể triều đình, huống chi bản quốc trước đã tiếp chiếu chỉ bảo cứ để nguyên tục cũ. (Tháng chạp năm Canh Thân (1260) Mông Cổ do chính sách mềm dẻo đã đưa chiếu thư nói: Đối với quan liêu sĩ thứ trong nước phàm mũ áo, điển lễ, phong tục nhất nhất cứ để nguyên vẹn…) Hễ khi tiếpđược chiếu lệnh thì để yên nơi chính diện, còn mình lui lánh ở chỗ nhà riêng, đó là điển lễ cũ của bản quốc!
“Còn việc đòi voi như có nói trong tờ Dụ gởi sang trước đây, bản quốc sợ trái Ý chỉ nên cứ nấn ná chưa dám thưa thực duyên cớ: Quản voi không nỡ lìa nhà thì sia đi là một chuyện khó.
“Tờ dụ lại đòi nho sĩ, thầy thuốc và thợ thuyền. Nhưng khi bồi thần là lũ Lê Trọng Đà vào bệ kiến, tấc gang gần bóng sáng oai nghiêm không thấy ban chiếu dụ bảo gì cả. Huống chi năm Trung Thống thứ tư đã được miễn rồi. Nay lại nói đến xiết bao sợ hãi lạ lùng! Vậy xin Các hạ nghĩ lại cho…”
Năm Tân Mùi (1271) Hốt Tất Liệt cho sứ qua dụ vua Thánh Tông sang chầu. Vua Thánh Tông cáo bệnh không đi.
Năm sau vua Nguyên cho sứ sang tìm cột đồng Mã Viện. Trần triều đáp: cột đồng ấy lâu ngày mất rồi.
Năm Ất Hợi (1275) các cạnh góc ngoại giao của nước ta đưa ra dần. Tháng giêng năm ấy (1275) vua Thánh Tông gửi sang Mông Cổ bài biểu sau đây:
“Dẫu được ba năm một lần cống, sứ bộ qua lại đổi thay đi về mệt nhọc chưa được ngày nào nghỉ ngơi. Đến như Đạt Lỗ Cát Tề do thiền triều cử sang nước tôi thì lúc về há chịu về không? Huống chi kẻ được sang đây làm gì cũng cậy thế, việc gì lớn nhỏ cũng lấn lướt đè nén nước nhỏ này. Ngài là Thiên Tử dẫu sáng suốt ngang mặt trời, vì mặt trăng nhưng đâu dễ soi tới đáy chậu úp?
“Vả Đạt Lỗ Cát Tề chỉ đáng thi hành với những nước “xấu xí nhỏ mọn” nơi mọi rợ ở biên giới, lẽ nào tôi đã được liệt phong vào bậc vương, đứng làm phên dậu một phương mà lại còn lập Đạt Lỗ Cát Tề cai quản thì há chẳng bị các nước chư hầu cười ư? Vì sợ mà phải cống, sao bằng trong lòng vui phục mà tự cống? (Dịch theo nguyên văn chữ Hán).
Theo Trần Trọng Kim về khoản này, vua Thánh Tông xin đổi Đạt Lỗ Cát Tề làm chức Dẫn Tiến Sứ nghĩa là coi việc kiểm điểm đồ tiến cống, như vậy không có quyền gì nữa đối với nước ta. Vua Nguyên không chịu và biết rằng dựng mưu không xong lại xoay về giải pháp võ lực. Họ cho quan lại ở biên giới thăm dò địa thế nước ta, và về phần nước ta cũng có sự phòng bị.
Năm Đinh Sửu (1277) Thái Thượng Hoàng mất ở Thiên Trường phủ (làng Tức Mặc). Năm sau vua Thánh Tông nhường ngôi cho Thái Tử Khâm rồi trở về ở Thiên Trường. Thánh Tông trị vì được 21 năm, làm Thái Thượng Hoàng được 13 năm, thọ 51 tuổi.
III. TRẦN NHÂN TÔNG (1279 – 1293)
MÔNG CỔ GÂY HẤN LẦN THỨ HAI
- Việc ngoại giao tan vỡ
- Quyết chiến giữa Việt Nam và Mông Cổ
- Mông Cổ tấn công trên các mặt trận
1 – Việc Ngoại Giao Tan Vỡ
Thái Tử Trần Khâm thay vua Thánh Tông lên ngôi tức là Trần Nhân Tông. Guồng máy chính trị và quân sự thuở đó vẫn quay đều nhờ ở Thái Thượng Hoàng và các quan triều thần nhiều người có tài trí. Trong nước tinh thần dân tộc vẫn được nhất trí. Mọi vấn đề dân sinh được ổn định và sinh lực quốc gia mỗi ngày một dồi dào do đó chúng ta mới có thể chống đỡ được ngoại xâm hai phen nữa sau này còn đáng sợ hơn cuộc gây hấn lần thứ nhất vào năm Đinh Tị (1257).
Ngoài sự Mông Cổ luôn luôn qua lại hạch sách dưới đời vua Nhân Tông, giặc Lào thường sang quấy nhiễu ở các miền lân cận. Sau này yên hẳn với Mông Cổ vua Nhân Tông đã có phen ngự giá đi đánh Lào (1290).
Như trên đã nói, sau chín năm nhịn nhục từ 1266 đến 1275 dân tộc chúng ta đã bắt đầu có thực lực thì Trần triều bắt đầu tấn công Mông Cổ mỗi ngày một mạnh thêm về mặt ngoại giao.Yêu sách của họ bị khước từ hầu hết. Chúng ta đã dùng nhiều “lý sự” trong các biểu chương gửi qua triều Nguyên, gần như để chọc giận họ, tuy nhiên liều thuốc đắng ấy vẫn có bọc đường.
Về văn học, dân ta bấy giờ cũng tấn tới nhiều, cứ xem bài hịch của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và nhiều thi văn của Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão…sau này trong cuộc chống Nguyên thì rõ. Những nhà văn học của chúng ta lĩnh hội được khá nhiều tinh hoa của văn học Trung Quốc nên trong thi văn lời lẽ chải chuốt, tinh thần cứng rắn. Chữ Nôm ra đời, thơ Hàn luật rất thịnh hành (kể từ Hàn Thuyên, thơ Nôm thịnh phát nên gọi là thơ Hàn Luật vì Thuyên đã đặt ra khuôn phép, luật lệ hoặc có nhiều sáng kiến về môn này) tuy công văn, tờ sức vẫn còn dùng chữ Hán.
Năm Quí Tị (1293) vua Nhân Tông truyền ngôi cho Thái Tử Thuyên rồi về nghỉ ở Thiên Trường là nơi yên dưỡng của các vua chúa họ Trần bấy giờ.
Vua Nhân Tông trị vì được 14 năm, nhường ngôi được 13 năm, thọ được 51 tuổi.
Tháng chạp năm Mậu Dần (1278) Mông Cổ cử bọn Sài Xuân (có sách phiên âm lầm là Sài Thung) sang hạch hỏi về 6 khoản đã đưa ra hồi tháng 10 năm Đinh Mão (1267) mà nhà Tràn chưa tuân theo.
Sài Xuân có thái đọ kiêu ngạo, Trần triều có thái độ cứng rắn nên cuộc gặp gỡ không đi tới một kết quả nào tốt đẹp. Nhất là về khoản vua nước ta phải sang chầu vua nhà Nguyên thì nhà Trần từ chối hẳn.
Tháng một năm Kỷ Mão (1279) sứ ta là Trịnh Quốc Toản sang Tàu bị giữ lại tại nhà hội đồng. Bọn Sài Xuân bốn người cùng một sứ giả của ta là Đỗ Quốc Kế đem chiếu sang dụ lần nữa: Nếu nhà vua không sang chầu được, phải đúc người vàng thay thân mình, lấy hai hạt ngọc trai làm hai con mắt, ngoài ra phải tuyển nho sĩ, phương kỹ, tử đệ thợ thuyền mỗi hạng hai người để thay nhân dân. Bằng không chỉ có chiến tranh mới giải quyết được vấn đề.
Năm Canh Thìn (1280) vua Trần Nhân Tông cử chú họ là Trần Di Ái (tức Trần Ái), Lê Tuân và Lê Mục sang thay mình. Nguyên chủ không chịu lại lập Di Ái làm An Nam Quốc Vương, đổi nước ta là An Nam Tuyên Úy ty, đặt quan liêu sang giám trị các châu, huyện (Tân Tị 1281).
Năm Nhâm Ngọ (1282) Sài Xuân làm An nam Tuyên Úy sứ đô nguyên súy đem 1000 quân hộ tống Di Ái về nước đưa chiếu thư dụ mọi người trong tông tộc nhà Trần và quan lại trong nước.
Cuộc ngoại giao từ đấy tan vỡ.
Trần triều cương quyết lấy gươm đao chống lại Mông Cổ. Quân đội được lệnh đánh bọn Sài Xuân ở gần Nam Quan. Sài Xuân bị bắn mù một mắt chạy trốn về Tàu, cái triều đình bù nhìn kể từ Di Ái trở xuống đều bị bắt và phải tội đồ, sung làm lính.
Tháng bảy năm sau (năm quí Mùi 1283) vua Trần Nhân Tông lại đưa thư sang đòi sứ giả của ta bị Nguyên giữ lại mấy năm trước (Trinh Quốc Toán và vị quan họ Phạm tước Minh Tự, qua Bắc Triều từ năm Kỷ Mão 1279). Mông Cổ nhượng bộ.
Tháng mười năm ấy, sứ Nguyên Đào Bỉnh Trực đem tỉ thư (quốc thư có đóng dấu ngọc tỉ) sang dụ ta giúp binh lương và cho mượn đường để đánh Chiêm hành. Sự thật đấy chỉ là mưu mô để tấn công vào nước ta một cách bất ngờ.
Trần triều vẫn tiếp tục chước ngoại giao vì việc binh đao đối với ta chỉ là chuyện vạn bất đắc dĩ. Trung lương Đại phu Đinh Khắc Thiệu và Trung đại phu Nguyễn Đạo Học đem phương vật theo sứ Nguyên là Triệu Chử sang giao thiệp với Mông Cổ. Trung phụng đại phu Phạm Chí Thành và Triều thỉnh lang Đỗ Bảo Trực đến Sảnh thu xếp mọi việc và đưa thư do vua Trần Thánh Tông đứng lên, cho chức Bình Chương để từ chối việc nài ép ta giúp binh lương kể trên.
2 – Huyết Chiến giữa Việt Nam và Mông Cổ
Từ khi Sài Xuân bị thương chạy về, thái độ Trần triều mỗi ngày thêm cứng rắn khiến Nguyên chủ hết sức giận dữ. Việc mượn đường và giúp lương đi đánh Chiêm Thành lại bị khước từ khéo léo đã quyết định cuộc xâm lăng thứ hai của Mông Cổ.
Tháng tám năm Nhâm Ngọ (1282) niên hiệu Thiệu Bảo thứ tư đời vua Trần Nhân Tông, biên thần giữ Lạng Sơn là Lương Uất sai ruổi ngựa trạm về báo: Nguyên chủ sai con là Thoát Hoan phong làm Trấn Nam vương cùng Hữu thừa Toa Đô, Tả thừa Lưu Thâm, Tham chính A Lý và Ô Mã Nhi lót miệng bằng việc đi đánh Chiêm Thành, đòi ta cho mượn đường, góp quân lính, cùng lương thảo (tháng 10 năm Nhâm Ngọ).
Hội Nghị Bình Than
Tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1282) Trần triều trước tình thế cấp bách và nghiêm trọng, triêu tập các vương hầu và bá quan văn võ bên sông Bình Than (thuộc huyện Quế Dương, tỉnh Bắc Ninh, chỗ sông Đuống nối với với Sông Thái Bình). Nơi họp có tính cách bí mật vì cần tránh tai mắt của bọn gián điệp đối phương. Hội nghị này là hội nghị để thăm dò ý kiến của các vương hầu, tướng lĩnh.
Các quan có người bàn không nên nghịch ý Mông Cổ nghĩa là cho mượn đường và giúp lương. Có người bàn nên đem quý vật sang Cống để cầu hoãn binh. Duy chỉ có Trần Quốc Tuấn và Trần Khánh Dư chủ chiến và xin đem quân giữ các nơi hiểm yếu. Xin nhắc Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư là tay tướng tài trước đó đã được khen thưởng trong cuộc kháng chiến Nguyên năm Đinh Tị (1257) sau phạm tội bị lột chức ra làm nghề bàn than ở Chí Linh, Hải Dương. Lúc này ông lại được mời ra dự bàn và giữ chức Phó đô tướng quân.
Một chuyện đáng chú ý trong cuộc hội nghị tại Bình Than là Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản cũng dự vào số người theo hầu vua nhưng vì ít tuổi nên không được dự bàn. Quốc Toản lấy làm bực tức tay cầm quả cam bóp nát lúc nào không biết. Khi trở về Quốc Toản họp gia no được hơn 1000 người, tự sắm chiến thuyền kéo cờ đánh giặc.
Cuộc chiến đấu đã quyết định vào tháng 10 năm sau (Quí Mùi 1283), sau đó Trần Nhân Tông thân chinh đốc xuất các vương hầu huy động toàn thể quân đội thủy lục được tất cả 20 vạn mở cuộc tập trận. Trần Quốc Tuấn được tấn phong làm Quốc công Tiết chế thống lĩnh lực lượng quân sự toàn quốc, tung ra lời hịch đầu tiên kêu gọi tinh thần ái quốc và kỷ luật của các tướng sĩ vào tháng 8 năm sau (Giáp Thân 1284). Rồi một cuộc duyệt quân vĩ đại đã khai diễn Đông Bộ Đầu tức là bến Đông Tân, trên sông Cái nay gọi là Hồng Hà (thuộc huyện Thượng Phúc tỉnh Hà Đông). Rồi quân đội của ta chia đóng các nơi cổ họng và then chốt của các miền biên giới, chẳng hạn: Lạng Sơn và đường thủy bộ từ Vân Nam vượt qua Lào Kay, Phú Thọ đổ xuống. Miền Hải DƯơng thì bến Vạn Kiếp cũng có sự phòng ngự. Miền trong là Thanh Nghệ xét địch quân có thể đổ bộ ở đây để tiến ra Bắc…Đây là mấy con đường chính. Quả nhiên Nguyên quân sau này đã dùng cả mấy đường kể trên.[1]
Việc binh tiến mạnh nhưng việc ngoại giao vẫn tiếp tục để hòa hoãn tình thế và nghiên cứu thái độ của địch. Sứ ta là Trần Phủ lên đường tới Hành sảnh Kinh Hồ bên Nguyên hồi tháng một, tháng Chạp (Giáp Thân – 1284) xin hoãn binh.
Hội Nghị Diên Hồng
Cuộc xâm lăng thứ hai của Mông Cổ mở vào ngày 21 tháng chạp năm Giáp Thân (1284) tức là ngày quân Mông Cổ thực sự xuất thân toàn bộ qua giày đạp nước ta. Lần này họ huy động tới 50 vạn binh sĩ đặt dưới quyền các danh tướng như: Tả Thừa Lý Hằng, Bình Chương A Thích, Bình Chương A Lý Hải Nha, Tổng chỉ huy của Mông Cổ là Thái Tử Thoát Hoan. Phụ tá của Thoát Hoan có hai Thượng tướng Ô Mã Nhi và Toa Đô. Các lực lượn của quân Nguyên bấy giờ đều hội tại Hồ Quảng chia làm hai đạo: Lục quân tiến vào Lạng Sơn do Thoát Hoan điều động, Thủy quân xuất phát tự Quảng Châu theo Toa Đô vượt biển tới Chiêm Thành.
Đáng để ý một điều là vấn đề tấn công vào Việt Nam của Mông Cổ đã quyết định từ năm Nhâm Ngọ (1282) sau khi Sài Xuân bị bắn mù mắt chạy về mà hai năm sau quân Nguyên mới thực hiện. Họ chậm động binh là vì Trần triều khéo trì hoãn bằng ngoại giao để có đủ thì giờ lo liệu mọi vấn đề quân sự chăng? Hoặc về phần Mông Cổ, họ phải tích cực chuẩn bị vì biết dân Việt ta là một dân tộc có một quá khứ anh dũng?
Khi nghe tin đại quân Mông Cổ họp ở Hồ Quảng sắp sang, vua Nhân Tông còn cố gắng điều đình một phen nữa nhưng thất bại.
Tháng chạp năm Giáp Thân (1284) Thượng Hoàng (vua Thánh Tông) cho triệu các bô lão tới điện Diên Hồng để trưng cầu dân ý cùng hỏi mưu chước. Các bô lão đều đồng thanh xin đánh.
Thế là qua hai hội nghị, toàn quốc đã nhất trí kháng địch.
Quân bảo hộ của Thoát Hoan đến cửa Nam Quan thì ngừng lại. Thoát Hoan phái Bá Tổng A Lý mang thư qua nói: “Bản súy chỉ nhờ đường Nam Quốc qua đánh Chiêm Thành, chứ không có bụng gì đâu mà ngại. Nên mở cửa cho bản súy đi và đến đâu chỉ nhờ giúp ít nhiều lương thảo, khi phá xong Chiêm Thành sẽ có trọng tạ. Nhược bằng kháng cự thiên binh, bản súy sẽ không dong tình, bờ cõi sẽ tan hoang, lúc đó coshoois cũng đã muộn”.
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn nổi giận đuổi sứ Nguyên, chia quân chẹn ngay hai địa điểm cổng ngõ là Khả Li và Lộc Châu thuộc Lạng Sơn.
Cuộc tiến binh của nhà Nguyên gồm có:
1) Tây đạo là cánh quân do bốn Vạn hộ Ly La Hợp Đáp Nhi (dựa vào tài liệu An Nam Chí Lược nhưng chưa rõ tên một hay hai người) Chiêu Thảo A Thâm do huyện Khưu Ôn (thuộc Lạng Sơn) đột nhập vào đất Việt.
2) Đông đạo do bọn Khiếp Tiết Tản Lược Nhi, Vạn Hộ Lý Bang Hiến vượt nú Khưu Cấp (An Nam Chí Lược chép là Cấp Lĩnh, Cương Mục chú thích là phố Kỳ Lừa thuộc Ôn Châu tỉnh Lạng Sơn) tràn sang. Đại binh của Thoát Hoan nối theo.
3) Quân của Toa Đô tiến vào Chiêm Thành do thủy đạo (trên đã nói).
Xem đường tiến quân của Mông Cổ thì mặt trận phía Bắc quan trọng hơn cả. Đại quân của Trần Hưng Đạo Vương phải hoạt động kịch liệt ở đây. Giặc không tiến được ở núi Khưu Cấp phải qua ải Khả Lợi (hay Khả Lý) kéo xuống. Cánh quân Đông đạo của Tản Lược Nhi lúc này vượt được ải Khả Lợi liền tiến xuống ải Nữ Nhi. Tại chốn này gián điệp của ta là Đỗ Vĩ bị chúng bắt được và chém chết.
Hưng Đạo Vương chống nhau với Thoát Hoan ở ải Nội Bàng, ngày 27 tháng chạp năm Giáp Thân (1284). Thế giặc mạnh quá, ngài phải chạy về đóng ở Vạn Kiếp để chuẩn bị cuộc phản công và truy kích vào khoảng mùa hè năm sau (Ất Dậu 1285). Thủy quân của ngài đóng ở Bái Tân (Bái Tân là thượng lưu sông Lục Nam). Còn Thượng tướng Trần Quang Khải đóng quân ở Nghệ An đề phòng quân Toa Đô. Viên đại tướng này phụ trách mặt trện Tây Nam.
Chiến lược Mông Cổ bấy giờ là dùng thế gọng kìm xiết chặt quân Nam vào giữa và với số quân 50 vạn họ hy vọng phong tỏa Việt quân một cách dễ dàng từ Nam ra Bắc.
Quân Nam Rút Lui Theo Kế Hoạch
Tại trận tuyến Lạng Sơn buổi đầu quân Nguyên bị ngừng lại do sự cản trở của Việt quân, sau hai ba trận không thắng bại. Ít lâu sau Khả Lợi và Lộc Châu thất thủ, Việt quân phải rút về Chi Lăng. Hưng Đạo Vương cùng các gia tướng là Dã Tượng và Yết Kiêu chuyển quân về Bái Tân để ra Vạn Kiếp xét không giữ nổi mặt trận Lạng Sơn lâu hơn nữa và đã thấy bất lợi rõ rệt.
Vua Nhân Tông được tin Hưng Đạo Vương lui quân khỏi Lạng Sơn liền xuống chiếc thuyền nhỏ ra Hải Đông (tức là Hải Dương), triệu Hưng Đạo Vương đến. Nhân Tông nói: Thế giặc lớn như vậy chống với nó e dân sự sẽ tàn hại hay là hàng chúng nó để cứu lấy dân?”.
Hưng Đạo Vương khảng khái trả lời: “Bệ hạ vì lòng thương dân mà nghĩ như vậy nhưng Tốn Miếu và Xã tắc thì sao? Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu tôi đi trước đã!”.
Nhà vua được lời cương quyết và trung liệt ấy lại vững lòng.
Ở các nơi hậu tuyến, từ kinh thành đến các miền thôn dã triều đình đã ra lệnh “bỏ vườn không nhà trống”. Nhiều nơi bị phá hủy sạch (theo Nguyên sử).
Khắp các nơi đều treo bảng cấm hàng giặc: “Phàm các quận, huyện trong nước, hễ giặc đến thì phải liều chết, cố đánh. Nếu sức địch không nổi thì cho phép trốn ẩn vào rừng núi chớ không được hàng”.
Hội Nghị Quân Sự Ở Vạn Kiếp
Hội nghị này được nhóm họp để chỉnh bị lại hàng ngũ sau những kinh nghiệp về địch ở măt trận Lạng Sơn. Quân các lộ, các xứ tập hợp lại và chiêu mộ thêm vẫn được đủ 20 vạn do các vương hầu đưa đến Vạn Kiếp để tùy quyền điều động của Hưng Đạo Vương. Đây là các binh lính ở các xứ Bàng Hà, Na Sầm, Trà Hương, An Sinh, Long Nhãn và các lộ Hải Đông, Vân Trà, Bà Điểm của Hưng Vũ Vương, Minh HIền Vương Uất, Hưng Nhượng Vương Tảng và Hưng Trí Vương Nghiễm. Trong các quân dân các lộ những người khỏe mạnh được lựa chọn làm tiên phong. Thế lực quân ta lại nổi to. Đáng chú ý ngoài quân đội bấy giờ chỉ mới lấy ở các miền duyên hải và các lộ Đông Nam, còn quân đội từ Thanh Hóa trở vào chưa phải tuyển đến.
Ta nhận thấy Hưng Đạo Vương và Trần triều đã áp dụng một phương thức kháng Nguyên rất khéo léo và bình tĩnh. Trần triều hiểu rằng quân số của Mông Cổ tới 50 vạn, nhưng ta không cần huy động một quân số ngang với quân số của địch. Lý do thứ nhất là nước ta nhỏ, quân nhu, lương thực không đủ cung cấp cho một lực lượng quân sự quá rộng lớn. Lý do thứ hai ta thi hành một cuộc trường kỳ kháng chiến thì không cần động binh quá nhiều ngay. Trong cuộc trường chiến này, Nam quân hết sức tránh cuộc xung đột với địch nơi nào địch xuất phát nhiều năng lực và quân số. Ta chỉ tấn công địch ở nơi nào địch quân cô, thế yếu, hoàn cảnh bất lợi và có thể chiến thắng được chắc chắn và dễ dàng. Phương lược này có khoa học hay không ta coi những kết quả mà Trần triều thâu hoạch được ở dưới đây sẽ hiểu.
Nhận thức rõ ràng chiến pháp và tình thế của địch, Hưng Đạo Vương cho lưu hành luôn lúc đó cuốn Binh thư yếu lược do Ngài soạn ra để các tướng sĩ áp dụng ngay trong các cuộc giao tranh. Nguyên tắc của cuốn Binh thư yếu lược đó đại khái như trên đây tất nhiên còn nhiều chi tiết nữa rất tinh vi và thực tế.
Ngài lại đưa ra một bản hịch để hiệu triệu tướng sĩ nhân dân chống nạn xâm lăng.
Bài hịch này đã được Cử nhân Nguyễn Văn Bình dịch ra theo thể thơ song thất lục bát dưới đây:
Xưa Kỷ Tín liều thân chịu chết,
Cứu Hán Vương thoát khỏi Hoàng Dương.
Do Vu cháu Sở Chiêu Vương,
Giơ lưng đỡ giáo tìm đường cứu vua.
Kìa Dự Nhượng thuở xưa người Tấn,
Từng nuốt than lận đận phục thù.
Kìa Thân Khoát một Tể phu,
Chặt tay theo nạn với vua nước Tề.
Quan nhỏ như Uất Trì, Kính Đức,
Giúp Thái Tông khỏi bước trùng vi.
Cảo Khanh quan ở biên thùy,
Già mồm chửi giặc không hề tiếc thân.
Bậc nghĩa sĩ trung thần từ trước,
Từng diệt thân cứu nước có nhiều.
Những người kia nếu chẳng liều,
Chết xuông như đám nữ lưu xó nhà.
Còn danh tiếng đâu mà chép lại,
Cùng kiền khôn truyền mãi không ngần.
Các ngươi dòng dõi vũ thần,
Xưa nay nào có hiểu văn nghĩa gì.
Nghe câu chuyện bán nghi bán tín,
Sự muôn năm nhắc đến chi vay?
Này ta hãy nói cho hay,
Thử xem Tống, Thát truyện này ra sao?
Vương Công Kiên người nào thế vậy?
Tướng Nguyễn Văn Lập ấy người nào?
Điếu Ngư thằng bé tèo teo,
Chống quân Mông Cổ ồn ào trăm muôn.
Khiến quân Tống thắng luôn mấy trận,
Đến bây giờ dân vẫn hàm ân.
Ngột Lang là tướng đốc quân,
Với tỳ tướng Xích là nhân phẩm nào?
Ngoài muôn dặm quản bao nước độc,
Trong mấy ngày phá rốc quân Nam.
Lòng vua Thát Đát đã cam,
Đến nay lừng lẫy tiếng thơm nhường nào!
Ta với ngươi sinh vào đời loạn,
Vừa gặp cơn vận hạn gian nan.
Sứ Nguyên lai vãng bao lần,
Mọi nơi đường sá muôn vàn nôn nao.
Triều đình bị cú diều soi mói,
Tể tướng thì lang sói rẻ khinh.
Mượn oai Hốt Liệt tranh giành,
Lấy bao của báu chưa đành lòng tham!
Cậy thế chúa Vân Nam nạt nã,
Đòi bạc vàng hết cả kho ta.
Thịt nuôi hùm đói mãi a?
Sao cho thoát khỏi lo xa sau này?
Ta đây những hàng ngày quên bữa,
Lúc đêm thâu ngồi dựa gối kiêu.
Giọt châu tầm tã tuôn trào,
Như nung gan sắt, như bào lòng son!
Chí những muốn moi gan lấy tiết,
Lòng những toan xé thịt vằm da.
Dù thân dầu với cỏ hoa,
Dù là ngựa bọc thân đà cũng vui.
Các ngươi vốn là người môn thuộc,
Được trông nom mọi việc binh cơ.
Áo không, ta cởi áo cho,
Cơm không, ta sẻ cơm cho no lòng.
Quan nhỏ thì ta phong chức cả,
Lộc ít thì ta trả lương thêm.
Đi sông, ta cấp cho thuyền,
Đi đường, ta cũng lệnh truyền ngựa đi.
Cho cầm quân an nguy cùng lối,
Cho nằm yên, vui nói cùng hàng.
So Vương Kiên với Ngột Lang,
Đãi chư tỳ tướng, mọi đường kém chi.
Nếu vua nhục, người thì chẳng đoái,
Mà nước nguy, ngươi lại làm ngơ.
Đứng hầu tướng giặc không dơ?
Nghe ca thết sứ vẫn trơ tráo ngồi.
Khi gà gọi, khi thời cờ bạc,
Cuộc vui chơi gỡ gạc đủ trò.
Ruộng vườn mưu sự ấm no,
Vợ con vui thú riêng cho một mình.
Ham lập nghiệp quên tình nhà, nước,
Mải đi săn, nhác việc ngăn, ngừa.
Rượu chè hôm sớm say sưa,
Hát hay đàn ngọt sớm trưa thỏa lòng.
Đúng lúc có quân Mông Thát tới,
Cựa gà không chọc nổi áo da.
Những nghề cờ bạc tinh ma,
Phải đâu kế hoạch của nhà cầm quân?
Ruộng nương nào đủ phần chuộc mạng?
Vợ con nào đủ cáng quân nhu?
Của đâu chuộc được đầu thù?
Chó săn đâu đủ sức khua giặc trời.
Rượu ngon khó làm mồi bả giặc.
Hát hay không làm điếc tai thù.
Bấy giờ chẳng sót lắm ru?
Vua tôi ta bị trói gô một đàn!
Tước ấp ta bị tan nát cả
Bổng lộc ngươi cũng chẳng còn gì.
Gia đình ta bị đuổi đi,
Vợ ngươi cũng đến khi nhục nhằn.
Tông xã ta, địch quân xéo di,
Phần mộ ngươi cũng bị quật lên.
Đời ta khổ nhục liên miên,
Cái tên nhơ nhuốc lưu truyền mãi sau!
Nhà các ngươi cũng đều mang tiếng,
Không khỏi làm những tướng bị thua,
Các ngươi đang lúc bấy giờ,
Muốn mong vui thích như xưa được nào?
Lời ta nhủ thấp cao ngươi nhớ,
Phải coi nằm trên lửa là nguy.
Kiềng canh đưa cũng thổi xùy,
Luyện quân sĩ tốt tập nghề đao cung.
Khiến ai nấy nức lòng mạnh mẽ,
Sức Bàng Mông, Hậu Nghệ cũng ham.
Bên đầu Hốt Liệt cho cam,
Phơi luôn thịt chúa Vân Nam bên đường.
Tước ấp ta chăn thường ấm chỗ,
Bổng lộc ngươi hưởng có trọn đời.
Gia đình ta được yên vui,
Vợ con ngươi cũng no đời trăm năm.
Tông miếu ta nghìn năm hương lửa,
Tổ tiên ngươi muôn thuở cương thường.
Ta đây phỉ chí bồng tang,
Các ngươi dường cũng vẻ vang vô cùng.
Huy hiệu ta tôn sùng mãi mãi,
Tính danh ngươi ghi nhớ sử xanh.
Bấy giờ vui thú linh đình,
Các ngươi dầu muốn buồn tênh được nào?
Này binh pháp soạn theo đời trước,
Là “Binh thư yếu lược” ban ra.
Các ngươi theo đúng sách ta,
Ấy là thần, chủ một nhà từ xưa.
Nếu bỏ sách thờ ơ lời dạy,
Ấy kẻ thù đã mấy đời nay.
Tại sao mà lại thế vầy?
Là thù không đội trời này được chung.
Nếu các ngươi lòng không biết hổ,
Không coi điều “sát Lỗ” la fcaanf.
Lại không vâng dạy luyện quân,
Ấy là quay giáo, bó thân ra hàng.
Giặc yên rồi còn mang tiếng mãi,
Mặt mũi nào đứng với cao dầy?
Muốn ngươi hiểu rõ lòng đây,
Vậy nên thảo bức hịch này cho nghe.
3 – Mông Cổ Tấn Công Trên Các Mặt Trận
Ngày mồng 6 tháng giêng năm Ất Dậu (1285) Ô Mã Nhi dẫn quân đánh vào căn cứ của ta ở Vạn Kiếp và núi Phả Lại. Quân ta thua chạy. Chiến trường cách Vạn Kiếp 10 dậm.
Phòng tuyến mạn Đông BẮc của chúng ta bị đổ, quân Mông Cổ từ Lạng Sơn chuyển xuống và từ miền bể kéo vào như gió bão.
Ngày mông 9 tháng giêng, một trận đại chiến đã khai diễn ở Bài Than (theo An Nam Chí Lược, nay không rõ Bài Than ở đâu. Hoàng Thúc Trâm cho có lẽ làng Bình Than, huyện Quế Dương, tỉnh Bắc Ninh). Vua Trần thân đốc chiến trong trận nay và dàn một số quân tới 10 vạn.
Ngày 12 tháng giêng, giặc đến Kinh Bắc (Bắc Ninh) tàn phá các vùng Võ Ninh, Gia Lâm, Đông Ngạn rồi đóng tại Đông Bộ Đầu trong khi đại quân của nhà Trần dựng trại ở mé Nam ngạn sông Cái (Nhị Hà) để án ngữ. Tại đây giặc bắt được quân ta thấy trên cánh tay có chữ Sát Thái cả giận giết hại rất nhiều. Tính ra từ bến Vạn Kiếp giặc tiến đến gần sát thành Thăng Long chỉ có một tuần lễ, đủ hiểu thế giặc rất mạnh, huống hồ giặc Mông Cổ vốn quen áp dụng lối đánh nhanh như chớp ngoáng mặc dầu quân ta kháng cự cũng ráo riết.
Để đối phó với quân ta đóng giữ ở phía Nam ngạn sông Nhị Hà, Thoát Hoan cho đại bác bắn tới tấp. Quân ta bỏ chạy. Mông Cỏ bắc cầu phao chuyển quân qua sông rồi kéo tới tận chân thành Thăng Long hạ trại. Chiến thuyền của chúng ta bị lọt vào tay giặc. Nguyên súy Ô Mã Nhi, Chiêu thảo Nạp Hải và Trấn Thủ Tôn Lâm Đức cho phá hủy hết.
Trong dịp này Trần triều cử Đỗ Khắc Chung đi sứ để dò hư thực của giặc. Quân giặc đem chữ Sát Thát ra truy vấn. Ô Mã Nhi nói: Đại quân từ xa tới đây, nước ngươi sao không trở giáo, cùng nhau đến yết kiến, lại dám nghịch mệnh ta. Châu chấu đã xe rồi đây sẽ ra sao?”
Khắc Chung trả lời: “Hiền tướng không theo cái chước của Hàn Tín đi bình nước Yên, đóng quân ở đầu biên giới trước hãy đem thư. Nếu không thấy thông hiếu thì mới là lỗi chứ? Nay lại bức bách nhau, muông túng thì cắn, chim cùng thì mổ, huống chi con người!
Mã Nhi dọa: “Đại quân mượn đường đi đánh Chiêm Thành, Quốc vương nếu đến yết kiến thì bờ cõi được yên, một mảy tóc ta cũng không phạm. Nếu cứ mê man không tỉnh thì chỉ trong chốc lát núi sông sẽ thành đất bằng, vua tôi sẽ ra cỏ mục…”
Khắc Chung đối đáp cứng cát không chịu khuất. Khi về đến trại bên ta vào giờ Mão ngày 13 tháng giêng. Giặc đuổi theo đánh nhau với quân ta (Toàn thư quyển 5, tờ 45b-46b, Cương Mục quyển 7, tờ 33a-34b).
Ngày 13 tháng giêng, vua Trần giữ sông Cái không nổi phải rút lui theo dọc sông về phía Nam dựng lũy bằng gỗ chống lại. Vua Trần lại cho Nguyễn Hiệu đi xin hòa. Thoát Hoan không nghe rồi cho bắc cầu phao tiến qua sông vào thành. Thành Thăng Long thất thủ. Quân Nguyên mở tiệc tại hoàng cung, một đạo đuổi theo quân Việt (Cương Mục quyển 7 tờ 35a).
Mặt Trận Đông Nam
Hưng Đạo Vương chuyển quân chủ lực về Thiên Trường rồi rước xa giá đi Hải Dương. Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải lĩnh nhiệm vụ chặn Toa Đô tại Nghệ An. Trần Bình Trọng ở lại giữ Thiên Trường, Chương Hiến hầu Trần Kiệt cùng bọn Lê Tắc và vài vạn quân giữ Thanh Hóa. Tại trận tuyến này giặc cũng rất mạnh.
Bên hàng ngũ Mông Cổ có Đại Vương Giảo Kỳ, Hữu thừa Toa Đô, Tả thừa Đường Cổ Đời, Chính Hắc Đính từ Chiêm Thành tiến quân ra phủ Bố Chính (Quảng Bình ngày nay), Ô Mã Nhi ở ngoài bể đánh vào hợp thành hai lực lượng thủy bộ uy hiếp mặt trận Đông Nam. Tình thế quân ta ở đây rất là điêu đứng. Có điều đáng chú ý là từ Chiêm Thành ra tới Nghệ An, quân đội của Chiêm và của ta gần như có sự đoàn kết để cùng chống Mông Cổ. Cuộc đoàn kết này là lần thứ nhất và cũng là lần cuối cùng trong lịch sử Việt – Chiêm. Được ít ngày tại Nghệ An, Trần Quang Khải không chống nổi áp lực thủy bộ của giặc phải lùi ra mạn ngoài. Ngày mồng một tháng hai năm Ất Dậu (1285) bọn Trần Kiện, Lê Tắc cùng gia quyến và quân bản bộ hàng giặc.
Ngày mồng 2 tháng hai, Giảo Kỳ phá quân ta ở bên kinh Vệ Bố (thuộc Thanh Hóa) sau khi quân kỵ của họ lội được qua kinh. Tướng của ta là Đinh Xa và Nguyễn Tất Dũng tử trận.
Ngày mồng 3 tháng hai, Thoát Hoan đánh được đạo quân của vua Trần ở Đại Hoàng giang. Bọn Văn Nghĩa hầu Trần Tú Viên và Văn Chiêu hầu Trần Văn Lộng đem cả nhà đi theo giặc.
Ngày mồng 6 tháng hai, Giảo Kỳ thống xuất bọn Trần Kiện đánh quân ta ở bến đò Phú Tân. Ở đây quân của ta do Trần Quang Khải ở Nghệ An rút ra cũng tan vỡ, bị giặc chém mất hơn một nghìn người.
Để hòa hoãn trong khi tình thế quá cấp bách và đen tối, vua Trần Nhân Tông sai Trung Hiếu hầu Trần Dương và quan hầu cận Đào Kiện đưa quốc muội là An Tư công chúa cho Thoát Hoan. Thoát Hoan phái Thiên hộ họ Ngải đến nói:
- Đã xin hòa thì chính nhà vua phải tới thương nghị.
Vua Trần không nghe một là vì e giặc có mưu gian hai là chỉ cốt hoãn binh nhất thời mà thôi.
Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng đóng ở Thiên Trường, ngày 21 tháng giêng năm Ất Dậu (1285) nghe thấy giặc đến bãi Than Mạc (tức Thiên Mạc ở bên sông Cái thuộc Hưng Yên) liền đem binh ra đánh bị giặc vây bắt được. Ông tuyệt thực và nhất định chết. Thoát Hoan biết ông là một danh tướng muốn trọng dụng nên hết sức vỗ về.
Thoát Hoan hỏi ông: Có muốn làm Vương đất Bắc không?
Ông quắc mắt quát: Ta thà làm quỉ nước Nam, chứ không thèm làm Vương đất Bắc. Ta bị bắt thì chỉ có chết, đừng hỏi lôi thôi!”
Thoát Hoan biết không thể đánh đổ lòng trung liệt của ông đành cho đem chém. Tin này tới Trần triều ai nấy đều động lòng thương tiếc.
Mồng 9 tháng ba, bọn Giảo Kỳ và Đường Cổ Đới đem chu sư (thuyền chiến) đuổi theo, bổ vây ráo riết ở cửa Tam Trĩ suýt bắt được hai vua Trần lúc này đa xdunfg thuyền nhỏ do tướng Nguyễn Cường hộ vệ chạy lên phía nguồn Tam Trĩ (Đây là xã Tam Trĩ, châu Tiên Yên, tỉnh Quảng Yên) còn thuyền ngự bơi ra miền Ngọc Sơn thuộc châu Vạn Ninh tỉnh Quảng Yên có ý đánh lừa giặc. Quân Nguyên do thám biết thuyền ra Ngọc Sơn là thuyền giả liền đuổi theo đường sông Tam Trĩ. Hưng Đạo Vương phải hộ vệ hai vua lên bộ đến làng Thủy Chú rồi lạitìm đường ra sông Nam Triệu (tức Bạch Đằng Giang thuộc Hải Dương) vượt qua cửa bể Đại Bàng (thuộc huyện Nghi Dương) rồi vào Thanh Hóa. Trong cuộc rượt theo hai vua Trần, giặc bắt được vàng lụa và một số thanh niên nam nữ tông thất nhà Trần.
Ngày 15 tháng ba, bọn Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc (con thứ của vua Trần Thái Tông, vẫn ngầm có ý cướp ngôi, từng viết thư bí mật giao thông với giặc Nguyên do khách buôn ở Vân Đồn chuyển giao, yêu cầu Nguyên chủ đem quân sang. Sau này Mông Cổ bại trận, tắc xấu hổ ở lại đất Nguyên rồi chết ở bên đó) cùng lũ Phạm Cự Địa, Lê Diễm và Trịnh Long đem gia quyến đi hàng giặc.[2]
Toa Đô thắng trận dễ dàng từ Nghệ An ra Thanh Hóa mở cuộc chiêu an ở đây. Từ vùng Thanh Nghệ ra suốt khắp các miền Trung Châu và dọc vịnh Bắc Việt thế giặc rất to, chỗ nào đồn ải của quân Nguyên cũng san sát. Thành Thăng Long cùng các trọng trấn đều có cờ Mông Cổ bay phấp phới. Do sự tàn phá của giặc, tình cảnh các miền thôn quê của ta xơ xác, tiêu điều không bút nào tả xiết. Vua tôi nhà Trần đêm ngày lo sợ, duy một người vẫn vững tinh thần chiến đấu, vẫn tin tưởng ở tương lai, đó là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Rồi con người sắt đá ấy đã biết truyền cái hùng khí không phải của một đại tướng mà của cả dân tộc Việt Nam vào đám ba quân, giữa lúc ngọn cờ đang ngơ ngác.
Cuộc Tổng Phản Công Của Việt Nam
Từ tháng tư khí hậu của miền Bắc Việt trở nên gay gắt dưới ánh nắng sém da bỏng thịt, lại có những trận mưa bất thường đổ xuống phát tiết những khí độc nặng nền, oi ả khiến quân giặc ốm đau tật bệnh chết hại rất nhiều. Quân ta mặc dầu có nhiều phen đụng chạm với giặc nhưng theo thượng lệnh không được ham chiến, nhất là thế giặc đang rất mạnh và sung mãn về đủ phương diện.
Chiến sự diễn hành từ cuối năm Thân đến bấy giờ đã ngót năm tháng. Nhờ những sự lui quân có trật tự, có phương pháp theo một kế hoạch đã nghiên cứu kỹ càng, quân chủ lực của chúng ta vẫn được nguyên vẹn.
Dưới sức nóng “cháy mây hun đá” cuộc phản công bắt đầu. Về phía Nguyên quân, Toa Đoa và Ô Mã Nhi điều khiển hai đội thủy lục phụ trách mặt trận miền Nam, trèo non lặn suối, vượt bao nhiêu chặng đường gập gềnh từ châu Ô Châu Lý (Thuận Hóa ngày nay) qua Hoan Châu (Nghệ An) ra tới Ái Châu (Thanh Hóa) vô cùng gian lao vất vả. Giai đoạn đầu như trên đã nói, Trần quang Khải phải rút khỏi chiến tuyến Nghệ An chuyển quân ra các mạn ngoài, chiếm đóng các nơi hiểm yếu nhưng tại đây từ cuối tháng 4 năm Ất Dậu hai bên giằng co và cũng có khi lui, khi tiến. Toa Đô đánh mãi không xong, lương thực cạn dần liền cùng Ô Mã Nhi xuống thuyền vượt bể ra Bắc.
Đến đây ta thấy ở mặt trận miền Nam của Nguyên quân bắt đầu nao núng vì đại quân của Toa Đô không thể từ Thanh Hóa bằng đường bộ tiến ra Bắc hợp với Thoát Hoan. Quân của Trần Quang Khải giữ vững cứ điểm, giặc phải dùng thủy đạo. Tin này được cấp báo lên vua Nhân Tông. Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật được cử làm tướng, Hoài văn Hầu Trần Quốc Toản làm phó cùng tướng quân Nguyễn Khoái đem 5 vạn quân đón bọn Toa Đô ở Tây Kết. Riêng Trần Nhật Duật chờ giặc ở bến Hàm Tử thuộc huyện Đông An, tỉnh Hưng Yên và tạn một vào địa phương ở Hải Dương xét quân Nguyên phải đổ bộ.
Vì hiểu rõ tình trạng quân Nguyên mỏi mệt, cạn lương thực, ốm đau nhiều do lam sơn chướng khí quân ta đánh rất hăng. Trong hàng ngũ của ta lại có bọn Triệu Trung tướng nhà Tống lánh nạn sang đây xin tòng chinh, mặc áo đen cung như ở bên nước họ xưa kia càng làm cho địch hoảng sợ tưởng nhà Tống đã khôi phục được nước Tàu cho quân sang hỗ trợ nước Nam. Giặc thua to, bị giết rất nhiều. Toa Đô mang tàn binh chạy ra đóng ở cửa bể Thiên Trường.
Hai vua Trần và Hưng Đạo Vương lúc này đang đóng bộ tham mưu tại Thanh Hóa. Trần Nhật Duật báo tin thắng trận. Hưng Đạo Vương bàn nên lợi dụng tinh thần đang hăng hái của quân sĩ và sự túng quẫn của địch, đánh mạnh vào Thăng Long.
Mặt trận miền Nam tạm yên vì Nguyên quân bỏ ra Bắc hết, Thượng tướng Trần Quang Khải từ Nghệ An ra xin và được phụ trách việc khôi phục kinh thành. Trần Nhật Duật được lệnh chận đường liên lạc giữa Toa Đô với Thoát Hoan.
Ngày mồng 3 tháng năm, hai vua Trần thắng trận ở phủ Trường Yên (Ninh Bình) giết được rất nhiều quân giặc.
Quân Ta Thu Phục Được Thăng Long
Lúc này lục quân của Thoát Hoan đóng ở thành Thăng Long. Thủy quân tụ tập tại bến Chương Dương (Xã Chương Dương, huyện Thượng Phúc tỉnh Hà Đông). Cuộc bại trận của Toa Đô vẫn chưa đến tai Thoát Hoan và về phần Toa Đô cũng không liên lạc gì của Đại bản doanh Mông Cổ.
Trần Quang Khải, Trần Quốc Tuấn và Phạm Ngũ Lã cùng Trần Thông, Nguyễn Khả Lập và Nguyễn Truyền hợp quân các lộ từ Thanh Hóa vượt biển vòng ra đánh thủy quân Mông Cổ ở đây. Thế quân ta hăng quá, địch phải bỏ chạy. Quân ta đổ bộ đuổi quân Nguyên về tới thành Thăng Long (tính đường đi thẳng từ Thường Tín tới Hà Nội là trên 20 cây số) trong lúc này quân ta đã chia làm hai cánh: một đánh vào mặt trước, một đánh vào mặt sau. Cuộc bố trí và hành binh được mau lẹ nhờ chỗ Chương Dương với Thăng Long không xa nhau là bao nhiêu. Thoát Hoan thấy thủy quân của mình thua, chạy tới liền đem quan bản bộ ra trợ chiến. Quân ta cnafg đánh càng hăng, quân Nguyên phải bỏ thành vượt qua sông Nhị Hà chạy sang đóng ở Kinh Bắc (Bắc Ninh). Việc khắc phục thành Thăng Long tức là việc thắng trận Chương Dương đã xảy ra vào thượng tuần tháng 5 năm ấy. Hai vua Trần trở về kinh đô ngày mồng 6 tháng sau (theo Hoàng Thúc Trâm trong cuốn Trần Hưng Đạo).
Trần Quang Khải dẫn quân vào thành, mở tiệc khao thưởng quân sĩ rất vui vẻ. Giữa tiệc rượu, Quang Khải cao hứng ngâm bài tứ nguyệt dưới đây:
Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan
Thái bình nghi nỗ lực
Vạn cổ thử giang san.
Dịch nôm:
Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân Hồ
Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy ngàn thu
Được tin thắng trận ngoài Thăng Long, Thượng Hoàng và Nhân Tông cất binh mã ra đóng ở Trường Yên (Ninh Bình).
Trận Tây Kết
Trong giai đoạn thứ hai của chiến tranh quân Toa Đô sau khi đã bại trận ở Hàm Tử quan chạy về Thiên Trường, thế mỗi ngày một quẫn và xa quân đội của Thoát Hoan tới 200 dậm. Việc trao đổi tin tức bị quân ta kiểm soát ráo riết nên hai cánh quân Nam Bắc của Mông Cổ bị gián đoạn liên lạc. Ngày 17 tháng 5, Toa Đô dùng đường thủy tiến ra Thiên Mạc mục đích hội quân với Thoát Hoan để tiếp ứng cho nhau và mở một mặt trận mới, không ngờ Thoát Hoan đã chạy qua Kinh Bắc.
Đến đây Toa Đô thấy quân nhà Trần đóng khắp mọi nơi không sao tiến được phải lùi về Tây Kết (một làng ở gần bờ sông Hồng Hà, ngày nay không còn dấu tích, có lẽ vì chỗ này bị nạn sông lở chăng!)
Sau hai trận đại thắng ở Chương Dương và Hàm Tử thấy lòng quân phấn chấn, Hưng Đạo Vương hạ lệnh phong tỏa các đường giao thông gắt gao hơn bao giờ hết. Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải đảm nhận việc này. Còn Ngài thì tự lĩnh đại quân đánh thẳng vào lực lượng của Toa Đô trước. Chiến thuật của Ngài ở đây là vừa tấn công địch dùng vừa dùng kế phục kích để dồn bắt chủ tướng.
Trong giai đoạn này, sức quân ta trội rõ rệt, quân Nguyên không chống nổi phải bỏ cuộc thủy chiến chạy lên bộ tính thoát ra biển, nhưng tới sau một dãy núi thì bị quân ta bao vây. Tại đây, Toa Đô trúng tên tử trận. Giặc chết và bị thương rất nhiều. Đầu Toa Đô bị cắt đưa về nộp vua Trần Nhân Tông. Trận Tây Kết xảy ra ngày 20 tháng 5, Ô Mã Nhi và Vạn Hộ Lưu Khuê đem tàn quân tất tưởi trốn vào Thanh Hóa, sau bị đuổi sát quá phải xuống một chiếc thuyền nhỏ mới thoát được về Tàu. Hai vua Trần rượt theo chỉ còn bắt được hơn năm vạn binh sĩ. Cũng trong hôm ấy, tại bến Đại Mang, Tổng quản Mông Cổ là Trương Hiến ra hàng. Thuyền chiến và khí giới của địch thu được rất nhiều.
Khi thủ cấp Toa Đô được đệ trình lên vua Nhân Tông, nhà vua ngậm ngùi nói: Làm bầy tôi nên như người này! Rồi ngày cởi áo ngự phủ vào đầu Toa Đô và cho quan làm lễ mai tang tử tế. Đây là một cử chỉ tỏ sự tôn trọng một dũng tướng hết lòng vì Chúa, có ý khuyến khích mọi người. Vài hôm sau, đầu Toa Đô được bí mật tẩm dầu đem bêu để trưng uy thế của quân đội và thúc dục ba quân hoàn tất cuộc chiến thắng. (Toàn thư quyển 5, tờ 49b -50a).
Trận Vạn Kiếp
Quân Nguyên, trong giai đoạn này, liên tiếp thua trận ở khắp mọi nơi, phần không chịu được bệnh tật do mùa hè phát ra. Thoát Hoan sinh chán nản và quyết định lui binh, nhất là được tin có hai thượng tướng Toa Đô và Ô Mã Nhi, một đã tử trận và một đã chạy thẳng về Tàu.
Bên Trần triều dò xét được tình trạng này, liền chia quân đón các ngả xét địch phải rút binh qua. Tới đây, việc tấn công quân Nguyên hoàn toàn bằng chiến thuật phục kích và truy kích. Dĩ nhiên địch chỉ có hai đường: đường thủy thì phải rút ra bến Vạn Kiếp rồi theo đường bể mà về. Đường bộ địch phải lần theo đường rừng núi về Châu Tư Minh. Lúc này, địch từ Kinh Bắc đã chạy qua Bắc Giang.
Hưng Đạo Vương truyền Nguyễn Khoái, Phạm Ngũ Lão dẫn 3 vạn quân phục trong rừng sậy bên sông Vạn Kiếp. Hai con của Ngài là Hưng Võ Vương Nghiễn và Hưng Hiếu Vương Uy, dẫn 3 vạn quân từ Hải Dương tiến ra Quảng Yên đề phòng địch rút lui qua lối này về châu Tư Minh. Còn Ngài đem đại quân đuổi theo bọn Thoát Hoan đóng ở Bắc Giang đang chạy ra bến Vạn Kiếp. Ở đây phục binh của ta ùa ra. Địch mất hẳn một nửa quân đội, một phần làm mồi cho cá. Lý Hằng đi đoạn hậu, cố hộ vệ Thoát Hoan chạy về châu Tư Minh (Quảng Tây), bị trúng tên thuốc độc vào đầu gối bên tả, chết ngay tại trận. Bên ta thiệt một tướng là Trần Thiều (Theo Toàn Thư quyển 5 và An Nam Chí Lược quyển 4).
Thoát Hoan, A Bát Xích, Phàn Tiếp cố đánh tháo quân giữa một hoàn cảnh vô cùng nguy ngập. Tỳ tướng là Lý Quán thu nhặt được 5 vạn tàn binh, dấu Thoát Hoan vào một chiếc ống đồng để lên xe bắt quân ra sức kéo chạy. Sắp tới biên giới châu Tư Minh, họ lại gặp phải bộ đội của Hưng Võ Vương Nghiễn và Hưng Hiếu Vương Uy. Lý Quán tử trận, chỉ còn có Thoát Hoan, A Bát Xích và Phàn Tiếp chạy thoát được về Tàu.
Cuộc xâm lăng của Mông Cổ kỳ thứ hai này lại thất bại thảm thương, thật không ai có thể tưởng tượng được. Năm chục vạn quân và hàng ngàn dũng tướng mới ngày nào hùng hổ tiến qua biên giới cua ta mạnh như song vỗ bờ, rút cuộc một phần lớn đã bỏ xương trên đất Việt, tiêu ma hoàn toàn danh dự của đoàn quân không hề biết đến nhục chiến bại từ Á qua Âu đầu thế kỷ thứ XIII.
CUỘC TẤN CÔNG CỦA MÔNG CỔ LẦN THỨ BA
Bọn Thoát Hoan và đám tàn binh trở về Tàu đem tin bại trận lại cho Nguyên chủ. Nguyên chủ giận lắm, muốn chém hết bọn tướng lĩnh Nam chinh, các đình thần cản ngăn mãi mới thôi.
Bấy giờ, tại triều Nguyên có việc đem quân đi đánh Nhật Bản. Nguyên chủ liền đình ngay việc này lại để dốc toàn lực chuẩn bị cuộc phục thù. Nguyên triều truyền lệnh động binh ở ba tỉnh Giang Hoài, Giang Tây, Hồ quảng, luyện tập ráo riết, định đến tháng tám thì theo đường châu Khâm, châu Liêm sang nước ta.
Quan tỉnh Hồ Nam là Tuyên Kha dâng cớ can, lấy lý do quân sĩ vừa đi trận xa trở về còn ốm đau mệt nhọc nhiều, phải nghỉ ngơi ít lâu rồi hãy định việc xuất chinh.
Vua Nguyên nghe lời cho hoãn lại vài tháng, Trần Ích Tắc theo Thoát Hoan về Tàu được ra ở tại Ngạc Châu.
Tin quân Nguyên sửa soạn cuộc phục thù đến tai vua Trần Nhân Tông (tháng 6 năm Bính Tuất 1286). Nhà vua hỏi Hưng Đạo Vương: “Thế giặc lần này hẳn lớn hơn trước vì chúng cần báo cái thù bại trận, ta nên đối phó với chúng bằng cách nào?
Hưng Đạo Vương tâu: “Nước ta thái bình đã lâu, nhân dân không biết đến việc binh cho nên khi quân Nguyên năm trước vào lấn cướp còn có kẻ trốn tránh, có kẻ hàng giặc. Nay nhờ oai linh của Tổ tông và thần võ của Bệ hạ, quân giặc đều bị quét sạch. Nay nếu chúng lại kéo sang thì nhân dân và binh sĩ của ta đã quen việc chiến trận, trái lại giặc từ xa đến phần thì mỏi mệt, phần thì chột dạ vì cuộc bại vong của bọn Toa Đô, Lý Hằng, Lý Quán, chắc không còn đầu óc để chiến đấu. Như vậy tôi tin rằng thế nào cũng phá được giặc và lần này chắc là nhàn hơn trước”.
Sau cuộc thảo luận, các vương hầu, tông thất được lệnh điều bát quân đội, kiểm soát quân số và chế tạo võ khí, chiến thuyền vào tháng 10 năm Bính Tuất (1286).
Mùa xuân, tháng hai năm Đinh Hợi (1287), Thoát Hoan làm Đại Nguyên súy, A Bát Xích làm Hành tỉnh Tả thừa, Áo Lỗ Xích làm Bình chương Chính sự, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp làm Tham tri Chính sự dẫn 30 vạn quân sang ta gồm có Mông Cổ quân, Hán quân là quân lính tuyển ở Vân Nam và quân của ba tỉnh Giang Tây, Giang Hoài, Hồ Quảng cùng Lê binh ở bốn châu ngoài bể là: Nhai, Quỳnh, Đạm, Vạn, thuộc tỉnh Quảng Đông, riêng Lê binh có 1 vạn 5 ngàn người, vốn là dân duyên hải rất thạo thủy chiến.
Chuyến này, nhà Nguyên lót miệng bằng việc đưa Trần Ích Tắc về làm vua nước Nam. (Theo Hoàng Thúc Trâm trong cuốn “Trần Hưng Đạo”, Mông Cổ xuất binh từ mồng 3 tháng 9 năm Đinh Hợi (1287), khởi hành từ Hồ Bắc). Ngày 28 tháng 10, quân Nguyên đến Lai Tân chia ra từng đạo:
- Đại quân của Thoát Hoan đi đường Khâm Châu, Liêm Châu đến châu Tư Minh. Bọn Trương Ngọc, Lưu Khuê dẫn vài vạn quân, năm trăm thuyền chiến, bảy mươi thuyền vận tải, chuyên chở lương thực khí giới. Từ Khâm Châu tiến phát.
- Trịnh Bằng Phi, Áo Lỗ Xích, mỗi người dẫn một vạn quân đi đường bộ.
- Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp lĩnh thủy quân dùng đường biển vào nước ta.
- Vạn Hộ Trương Văn Hổ tải 17 vạn thạch lương theo đường bể.
Tin tức từ biên thùy tới tấp báo về Thăng Long. Các quan xin tuyển thêm binh, Hưng Đạo Vương bình tĩnh nói: “Quân cốt giỏi chớ không cốt nhiều. Bồ Kiên có trăm vạn quân mà ích lợi gì đâu!”
Ngài phân phối quân đội đi các nơi như sau:
- Trần Nhật Duật, Nguyễn Khoái, đem 3 vạn quân đón giặc ở Lạng Sơn.
- Trần Quốc Toản, Lê Phụ Trần, đem 3 vạn quân giữ Nghệ An.
- Quân của Ngài đóng ở Quảng Yên trên ngọn Phú Sơn. (Ba lần có cuộc kháng Nguyên, đại quân của Hưng Đạo Vương đều đóng ở Vạn Kiếp tức là địa phương Quảng Yên, để tiện việc điều động quân đội đi các nơi. Căn cứ này có thể coi như trung tâm điểm của quân lực Việt Nam, rất thuận tiện về giao thông thủy bộ).
- Tại biên thùy Việt Hoa đối chiếu với châu Tư Minh, Hưng Đạo Vương cho đặt ba đồn: Sa, Từ, Trúc, biết rằng lục quân của Thoát Hoan thế nào cũng xâm nhập địa phận cổng ngõ này.
- Tại sông Đại Than (Hải Dương) quân Nam cũng có đề phòng.
Cuộc va chạm giữa hai quân xảy ra ngày 11 tháng một, đoàn chiến thuyền của Nguyên tới Vạn Ninh (Móng Cái). Tướng ta là Nhân Đức hầu TrầnĐa mai phục ở Lạng Sơn (một núi giáp miền Móng Cái) định đánh chèn phía sau giặc. Giặc biết được tin này, ngay đêm ấy xuất toàn đội vây quân ta. Gần sáng, quân ta bị đánh lui. Vài trăm quân bị chết đuối và thuyền bị bắt vài chục chiếc.
Ô Mã Nhi thừa thắng tiến nhanh, không nhìn lại thuyền lương sau chưa kịp, vì vậy đoàn hộ tống bị nghẽn.
Lục quân của Nguyên đến Lộc Châu ngày 23 tháng một năm Đinh Hợi (1287), lại chia ra như sau:
- Hữu thừa Trịnh Bằng Phi và Tham chính Xách La Đáp Nhi do ải Chi Lăng kéo xuống.
- Thoát Hoan dẫn đại quân do ải Khả Lợi tràn vào, sau đạo binh tiên phong của A Bát Xích.
- Hữu thừa Ai Lỗ từ Vân Nam tiến quân đến Tam Đái giang. Ngày 24 tháng 1 năm ấy. Cấm quân của ta giữ cửa Linh Kinh. Hưng Đức hầu Quán thắng trận ở đây bằng tên thuốc độc: giặc chết và bị thương rất nhiều phải lui đóng ở cửa Vũ Cao.
Ngày 28, Phán thử thượng vị Nhân Đức hầu Tuyên dẫn thủy quân đánh quân Nguyên ở eo Dạ Mỗ. Giặc chết đuối ở đây khá nhiều. Bốn mươi tên giặc, thuyền, ngựa, chiến cụ tịch thu được đều đem dâng lên vua Trần (Toàn thư quyển 5, tờ 51 a –b).
Mồng 3 tháng chạp, quân Mông Cổ đến Tứ Thập Nguyên. Lúc này vì thuyền lương của giặc bị nghẽn, Thoát Hoan phải sai Ô Mã Nhi đốc thúc quân lính cướp bóc dân gian để dùng.
Ngày 16, Minh Tự Nguyễn Thức chỉ huy Thánh Dực Dũng nghĩa quân kéo đến hợp với Hưng Đạo Vương để giữ cửa biển Đại Than (thuộc Gia Bình, tỉnh Bắc Nam lưu thông được ra biển).
Trong những ngày đầu, cũng như lần trước, quân Mông Cổ rất mạnh và hăng hái, quân ta phải lui về Vạn Kiếp. Thoát Hoan chiếm núi Phả Lại và Chí Linh, rồi phái Trịnh Bằng Phi đem 2 vạn binh tấn công vào Vạn Kiếp. Mặt khác, Thoát Hoan cử Ô Mã Nhi và A Bát Xích dẫn một cách quân từ sông ục Đầu đánh xuống sông Hồng Hà, mục đích chiếm kinh thành Thăng Long.
Ngày 23 tháng chạp, quân của Tham Chính Phàn Tiếp theo Thoát Hoan đánh Bắc Giang. Quân ta ngăn sông chống giữ không lại. Thủy quân Mông Cổ vào được sông Cái, quân ta rút lui.
Mặt trận miền Dông hoàn toàn do địch kiểm soát. Giờ đây, giặc tiến vào các vùng đồng bằng.
Ngày 28 tháng chạp, bọn phản quốc Lê Tắc cũng theo gót giặc Mông Cổ quay sang nhưng đi sau vì phải lưu lạc ở châu Tư Minh. Lê Tắc dẫn bọn Sảnh đô sự Hầu Sư Đạt, Vạn hộ họ Đạt, Thiên hộ họ Tiêu đem 5000 binh từ châu Từ Minh lục tục tiến theo đại quân Thoát Hoan.
Chúng phá ải Nội Bàng (thuộc Lạng Sơn) tiến chiếm sông Bằng (thuộc địa phận Cao Bằng) ngảnh lưng về phía nước ta mà bày trận.
Quân ta chống trả mãnh liệt; tên thuốc độc bắn như mưa, lửa cháy ngất trời. Đến canh năm, giặc thua và tan vỡ. Hầu Sư Đạt tử trận. Quân địch bị lạc đường và bị vây hãm. Lê Tắc dẫn các tướng Nguyên chạy vì hắn thuộc đường. Con Trần Ích Tắc là Trần Dục lên 9 tuổi được hắn cắp trên mình ngựa. Bấy giờ, quân còn độ 60 tên, bọn Tắc liều chết chạy được về Tàu, suýt chết nhiều lần. Mỗi ngày họ phải chạy đến vài trăm dậm, từ nửa đêm đến mờ sáng mới về tới ải Châu Chiên là đất nhà Nguyên.
Ngày 29 tháng chạp, A Bát Xích theo dọc bờ phía Đông sông Cái phá cửa Hàm Tử. Vua Trần lui giữ ải Hải Thị nhưng rồi cũng bị đánh lui.
Ngày 30 tháng chạp, trước khi mở mặt trận đồng bằng, Thoát Hoan sai Hữu thừa Trịnh Bằng Phi, Tả thừa A Lý và Lưu Giang đem hai vạn quân đánh Vạn Kiếp lấy làm căn cứ. Ở đay lực lượng của đại quân Hưng Đạo Vương đã rút gần hết để về giữ Thanh Long. Giặc đắp rào lũy bằng cây gỗ ở hai núi Phả Lại và Chí Linh, đặt đồn ải và chứa lương thực. Hai làng Bàng Hà và Bà Điểm hàng giặc.
Trong lúc này, A Bát Xích và Ô Mã Nhi đang hợp binh vượt sông Cái tiến vào Thăng Long. Hưng Đạo Vương chống trả kịch liệt, trong khi đó xa giá tạm lánh về Hà Nam. Ô Mã Nhi đuổi gấp hai vua Trần, Thượng Hoàng và Nhân Tông xuống thuyền chạy ra bể đi vào Thanh Hóa. Theo không kịp, Ô Mã Nhi đem quân quay lại phủ Long Hưng, biết ở đây có Chiêu Lăng là lăng tổ nhà Trần, cho khai quật nhưng không xâm phạm đến tử cung (quan tài nhà vua làm bằng gỗ tử, gọi là tử cung) rồi do đường biển, Ô Mã Nhi đi đón thuyền lương của Trương Văn Hổ.
Mồng 4 tháng giêng năm Mậu Tí (1288), Thoát Hoan lui về căn cứ ở Bắc Giang và Hải Dương (Vạn Kiếp – Chí Linh – Phả Lại) sau cuộc tấn công vô hiệu vào Thăng Long. Hưng Đạo Vương tiến quân và đặt doanh trại trông thẳng về chiến thuyền của giặc. Thấy quân Nguyên rút, hai vua Trần lại ra Bắc. Mồng 8 tháng giêng địch thua lớn ở cửa Đại Bàng (huyện Nghi Dương tỉnh Hải Dương). Địch chết đuối rất nhiều, ta bắt được 300 tiểu thuyền.
Trận Vân Đồn
Mặt trận đồng bằng không đem lại những kết quả mong muốn, lương thực lại sắp cạn, thuyền lương do Trương Văn Hổ áp tải vẫn chưa thấy đâu, Thoát Hoan liền hạ lệnh cho Ô Mã Nhi cấp tốc đi tìm. Ô Mã Nhi tiến ra tới Vân Đồn thì gặp phải sự cản trở của Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư. Vì tình thế lương thực nguy kịch đến nơi, Ô Mã Nhi phải cố đánh. Quân của Trần Khánh Dư bị bại, thuyền quân Nguyên vì vậy được thẳng tiến ra bể.
Nghe thủy quân Vân Đồn bị bại, Thượng Hoàng cho đòi Khánh Dư về trị tội. Khi sứ đến, Khánh Dư đang tính cuộc phục thù, đoán rằng Ô Mã Nhi đi rồi tất thuyền lương phải tới sau, Khánh Dư xin hoãn vài hôm để lấy công chuộc tội. Quả nhiên, ngày 11 tháng giêng năm Mậu Tí (1288), thuyền lương của Văn Hổ tới. Lúc này gặp được Trương Văn Hổ, Ô Mã Nhi quay trở về giữ việc dẹp đường. Ô Mã Nhi nghi quân ở Vân Đồn vừa bại ắt không còn gì khó khăn, cứ việc ruổi thẳng. Khánh Dư lặng lẽ để Ô Mã Nhi đi qua, cho thuyền lương từ từ tiến vào cửa Lục (Lục Thủy Dương là cửa biển gần Hòn Gay ở Đông Nam huyện Hoành Bồ tỉnh Quảng Yên). Tại đây thuyền lương mắc cạn. Quân ta phục sẵn ùa ra đánh, thuyền của địch bị đắm gần hết. Ta tịch thu và phá được rất nhiều quân lương khí giới của họ. Riêng Trương Văn Hổ chạy thoát về Quỳnh Châu (Quảng Đông) bằng một chiếc thuyền nhỏ.[3]
Khánh Dư đưa tin thắng trận và việc cướp phá được thuyền lương của giặc về báo tiệp được xá tội. Thượng Hoàng bàn với Hưng Đạo Vương thả một số tù binh về để Thoát Hoan và binh sĩ Mông tuyệt vọng. Đây là một đòn rất nặng đánh vào tinh thần của địch. Đúng như lời xét đoán, quân Nguyên nghe nói lương thảo khí giới bị phá hủy, ai nấy đều xôn xao và muốn trở về hết. Ý chí chiến đấu của họ sụp đổ trông thấy.
Còn Ô Mã Nhi ở Ải Vân Đồn trở về, chờ mãi không thấy thuyền lương liền đánh phá ở trại An Hưng rồi đóng giữ Vạn Kiếp.
Trận Bạch Đằng
Trần triều đến giờ phút này đã hiểu rõ ưu thế của mình và sự cùng quẫn của giặc. Sau trận cửa Lục, giặc thiếu ăn, đêm đến lại bị đột kích phá đồn. Quân giặc thiếu ăn, thiếu ngủ, không còn thiết gì nữa ngoài việc chia nhau đi cướp bóc dân chúng. Thần Nở tổng quản là Giải Nhược Ngu bàn với Thoát Hoan: “Quân ta ở đây thành trì không có, khí trời nóng nực, các chỗ hiểm yếu đều mất, kho tàng cạn sạch, chi bằng hãy rút quân về rồi sẽ liệu kế khác”. Thoát Hoan thấy quân ta mạnh cũng nản nói: “Đất thì nóng nực, khí trời ẩm thấp, lương thiếu quân mệt…” Tướng hiệu trong thủy quân bàn nên phá hủy thuyền bè rồi cùng nhau kéo bộ mà về. Thoát Hoan toan nghe những tả hữu cản ngăn nên việc này bỏ đi. Sau đó Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp được lệnh dẫn thủy quân theo đường Bạch Đằng Giang, còn Trịnh Bằng Phi và Trương Quán làm hậu tập để hộ vệ cho y chạy theo đường bộ.
Trong lúc giặc lúng túng thì quân ta được Hưng Đạo Vương phân phối đi mai phục các ngả.
Mặt bộ, ngài cho đào các hầm hố đánh bẫy ngựa, quân phục kính, truy kích có nhiệm vụ cắt đường, phá cầu cống ở những lối giặc phải chạy qua.
Mặt thủy, ngài cho đóng các cọc sắt ở thượng lưu sông Bạch Đằng trên phủ bè cỏ để đợi giặc (kế này được dùng đầu tiên do quân Ngô Quyền phá quân Nam Hán) Nguyễn Khoái phục binh ở đây chờ nước thủy triều lên thì ra khiêu chiến, dụ giặc qua chỗ đóng cọc, chờ khi nước thủy triều rút quay lại phản công.
Phạm Ngũ Lão và Nguyễn Chế Nghĩa phục kích ở cửa ải Nội Bàng (thuộc Lạng Sơn). Việc bố trí xong, Hưng Đạo Vương hô quân sĩ trỏ xuống Hóa Giang cùng thề: “Trận này không phá được giặc thề không trở lại khúc sông này nữa!”
Sau lời quyết liệt này, quân ta kéo thẳng tới sông Bạch Đằng. Ngày mồng tháng ba, chu sư Mông Cổ rút đến Chúc Động. Quân ta đổ ra công kích bị tướng giặc Lưu Khuê đánh lui bắt được của ta 20 chiếc thuyền. Ngày hôm sau Ô Mã Nhi cùng tới nơi. Hai bên xô xát. Quân ta giả thua bỏ chạy. Giặc tung hết lực lượng đuổi theo. Bấy giờ, con nước rút xuống mau chóng. Nguyễn Khoái nhử giặc đi khỏi chỗ đóng cọc một quãng xa, rồi quay thuyền trở lại đánh kịch liệt. Quân của Hưng Đạo Vương tiếp đến. Giặc thấy ta mạnh quá rút lui tới khúc sông có cọc. Thuyền giặc mắc cọc chìm đắm hết. Trước thế nguy cập, Ô Mã Nhi phải cầm đầu toán tinh binh, ra nghênh chiến. Ngay lúc này, hai vua Trần cũng đến tung quân ngũ doanh ra bốn mặt. Ô Mã Nhi thấy nguy liền thu nhặt binh thyền chạy nhưng không kịp. Quân Nguyên chết vô kể, mặt sông đỏ ngầu máu giặc. Bốn trăm thuyền của địch bị ta tịch thu. Nội minh tự Đỗ Hành bắt được Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp và Tích Lệ Cơ Ngọc đem đến dâng Trần Thánh Tông. Ngài cho cùng ngồi, ôn tồn nói chuyện, niềm nở rót rượu mời uống. (Toàn thư quyển 5, tờ 54b).
Việc Truy Kích Thoát Hoan
Thoát Hoan nghe tin thủy quân tan vỡ hết, vội cùng bọn Trịnh Bằng Phi, A Bát Xích, Áo Lỗ Xích, Trương Quan và Trương Ngọc dùng đường bộ cấp tốc tháo lui. Đến cửa Nội Bàng, Phạm Ngũ Lão đổ ra đánh. Vạn hộ Trương quán với ba nghìn quân cố sống chết đánh để mở lối cho Thoát Hoan qua cửa ải. Trong dịp này, Trương Quán tử trận. Giặc nghe nói quân ta đông như kiến từ ải Nữ Nhi đến núi Khưu Cấp và Đằng Giang trên một trăm dặm,c àng hoảng sợ. Phía sau lại có quân đội đuổi theo. Thoát Hoan vội vàng sai A Bát Xích, Trương Ngọc mở đường, còn Áo Lỗ Xích đi đoạn hậu.
Quân ta chiếm đóng trên núi cao bắn tên thuốc độc xuống như mưa rào. Trương Ngọc và A Bát Xích chết tại trận, xác tướng sĩ bên Nguyên chết ngổn ngang, chất thành đống.
Trịnh Bằng Phi hết lòng hộ vệ Thoát Hoan lại nhờ Châu mục Châu Tư Minh là Hoàng Kiện dẫn đi đường tắt, Thoát Hoan mới thoát về được tới châu Tư Minh. Áo Lỗ Xích nhặt nhạnh được ít tàn quân cũng về được tới Yên Kinh ít ngày sau.
Quân ta toàn thắng, Hưng Đạo Vương hội các tướng rước xa giá về kinh sư. Tới Long Hưng, bọn tướng Nguyên là Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ, Cơ Ngọc, Sầm Đoan… phải vào lễ hiến phù ở Chiêu Lăng.
Nhận thấy giang san sau ngày going tố lại được vui tươi, Thượng Hoàng có làm hai câu thơ để làm kỷ niệm:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện Kim âu
Dịch nôm:
Xã tắc hai phen bon ngựa đá,
Non sông muôn thuở vững âu vàng.
Cuộc Giảng Hòa
Nhà Nguyên dù thua trận luôn bap hen liền trong khoảng 30 năm, nhưng uy thế trong ngoài còn mạnh lắm. Đối với họ, dù sao nước ta cũng chỉ là một tiểu quốc; chiến tranh liên miên chỉ hại cho nguyên khí dân tộc. Tránh voi không xấu mặt, Trần triều nghĩ vậy nên tháng 10 năm Mậu Tí (1288), sai quan Đỗ Thiên Thu sang sứ xin cống hiến như trước.
Nhà Nguyên tuy rất căm giận vì cái nhục bại trận, những cũng đã nản về cuộc xâm lược nước Nam nên đành chấp nhận cuộ thông hiếu. Nhưng trong cuộc giao thiếp mấy năm sau chiến tranh, Nguyên chủ vẫn có ý buộc ta mội điều là vua Trần phải sang chầu rồi phái Thượng thư Trương Lập Đạo qua An Nam về việc này. Vua Nhân Tông lấy cớ đang có tang không đi và sai quan là Nguyễn Đại Pháp thay mặt xin khất sang năm sẽ tuân lệnh. Năm sau, nhà Nguyên không thấy vua Trần sang, lại cử Lễ bộ Thượng thư Lương Tằng sang giục.
Nhân tông cũng không đi, lại sai Đào Tử Kỳ đưa đồ vật sang cống. Nguyên triều giận lắm, giam Đào Tử Kỳ ở Giang Lăng rồi cử Lưu Quốc kiệt và các tướng sửa soạn binh lương. Trần Ích Tắc được đi theo và sẽ hội ở Tràng Sa. Giữa lúc này Nguyên Thế Tổ (Hốt Tất Liệt) mất. Nguyên Thánh Tông lên ngôi bãi việc binh và sứ giả An Nam được thả về. Từ đó nhà Nguyên không gây sự với nước ta nữa.
Tháng hai năm Kỷ Sửu, niên hiệu Trung Hưng thứ năm (1289) Trần triều cử Tòng Nghĩa Lang Nguyễn Thịnh trao trả tù binh Tích Lệ Cơ Ngọc được về trước. Phàn Tiếp phải bệnh chết được hỏa tang. Hai vợ lớn nhỏ được cấp ngựa đem nắm tro tàn của hắn về nước. Các đầu mục khác cũng được lên đường. Duy Ô Mã Nhi, trong mấy chuyến qua đây có nhiều hành động hung tàn, bạo ngược khiến người nước ta ai nấy đều vô cùng ta thán. Chẳng những y cướp của, giết người, đốt pha làng mạc, y còn khai quật cả lăng tẩm của vua Trần Thái Tông ở Long Hưng (nay ở làng Thái Dương, huyện Hưng Nhân tỉnh Thái Bình). Nhưng nói cho phải, việc phá phách này giữa người cùng giống còn thường xảy ra huống hồ giữa hai địch quốc; y còn cố lùng bắt hết sức ráo riết vua Trần Nhân Tông và Thượng Hoàng. Trong Quốc thư hồi tháng 10 năm Mậu Tí (1288), vua Nhân Tong đã bộc lộ lòng hờn giận viên tướng này với Nguyên chủ. Nhân Tông viết: “Tham chính nói với người bắn tín cho tôi biết rằng “ngươi (chỉ vua Nhân Tông) lên trời thì ta (Ô Mã Nhi) cũng lên trời, ngươi trốn xuống nước thì ta cũng lội xuống nước ngươi trốn lên núi thì ta cũng trèo lên núi. Rồi trăm khoanh hủy nhục, không sao nói siết!” (Nam sử tạp biên, quyển 2 tờ 19b – 20a). Sau đó, Nhân Tông theo mật kế của Hưng Đạo Vương hạ lệnh kết liễu đời viên tướng đại ác đó. “Hại người, người hại”.
Nội thủ gia Hoàng Tá Tôn được cử tiễn Ô Mã Nhi về đường bể nhưng ngầm sai một vài thủy thủ có biệt tài lội nước đang đêm đục thuyền: Ô Mã Nhi chết đuối.
Việc này khiến cuộc giao thiệp giữa Nguyên và ta một thời rất gay go. Tháng ba năm Kỷ Sửu (1289) vua Trần phải gửi cho vua Chí Nguyên bên Mông Cổ một bức thơ để biện bạch.
Sau nhà Nguyên cũng đành bỏ việc này không căn vặn nữa (Cương Mục quyển 8, tờ 11a-b).
Tháng tư năm Kỷ Sửu (1289) tức là sáu năm chiến tranh Trần triều đem các công tội của các vương hầu tướng lĩnh và dân thứ ra xét xử theo nguyên tắc dưới đây:
- Các vương hầu lập được công trạng đều được tăng trật, các tướng sĩ khác họ nếu có công to được đổi quốc tính (nhập vào họ nhà vua). Nguyễn Khoái được phong tước hầu, ăn lộc một làng (làng Khoái Lộ tức phủ Khoái Châu bây giờ). Phạm Ngũ Lão được phong Quản Thánh dực quân. Các tù trưởng Mán, Mường có công cũng được phong hầu. Triều đình lại cho vẽ tranh các tướng trên đây để treo trong gác công thần và ghi lý lịch cùng công lao của họ vào một cuốn sách gọi là Trung Hưng thực lực.
Còn với những kẻ hàng giặc, làm tay sai cho giặc có bằng cớ rõ rệt thì xử tử hay phạt lưu (trường hợp bọn Trần Kiện, Trần Văn Lộng tuy đã chết, con cháu phải đổi ra họ Mai. Trần Ích Tắc vì tình cận thân nên nhà vua không nỡ tước họ nhưng phải gọi là Ả Trần, nghĩa là nhút nhát như đàn bà).
Ngoài ra khi giặc Nguyên thua chạy, quân ta có bắt được một tráp biểu hàng của các quan. Xét ra khi quân Nguyên đang mạnh, quan lại nhiều kẻ hai lòng đã làm giấy tờ giao thông với giặc. Thượng Hoàng mở lượng khoan hồng cho đốt cả tráp đi. Các quan dân cũng được tha thứ, duy dân hai làng Băng Hà và Bà Điểm phải đồ làm lính mãi mãi (Trường hợp hai làng này nặng nề bởi họ đã vì mối tử thù của họ Lý mà theo giặc).
Xong việc định công luận tội, Thượng Hoàng về phủ Thiên Trường và mất vào tháng 5 năm Canh Dần (1290). Vua Nhân Tông sai sứ sang Tàu cáo tang và xin phong.
Chiến Pháp Của Trần Hưng Đạo
Chúng tôi xin kể lại vài nguyên tắc tổng quát trong chiến pháp của Hưng Đạo Vương mà chúng ta không những thấy nó sâu sắc về mặt chiến thuật, chiến lược còn có giá trị đặc biệt cả về chính trị nữa. Với Hưng Đạo Vương, nghệ thuật đnáh giặc là một chuyện, người làm tướng còn phải là nhà chính trị lỗi lạc. Và chính trị phải dựa vào chính sách thân dân cùng tinh thần dân chủ.
Ngày 20 tháng tám năm Canh Tí (1300) Hưng Đạo Vương mất. Trước khi lâm chung, vua Anh Tông đến bên giường bệnh của ngài vừa để thăm viếng, vừa có ý vấn kế. Vua Anh Tông hỏi: “Rủi khi Đại Vương khuất núi đi rồi, giặc Bắc lại sang, thì đối phó như thế nào?”
Ngài đáp; xưa Triệu Vũ Đế lập quốc, vua Hán cất quân sang đánh. Triệu Vũ Đế cho dân đốt phá sạch quang đồng nội không để quân địch cướp bóc lương thảo rồi đem đại binh ra châu Liêm, châu Khâm, đánh Tràng Sa, dùng đoản binh đánh úp như sau: đó là một thời. (Hưng Đạo Vương lầm ở chỗ này: Triệu Đà đóng đô ở Phiên Ngung, đem binh đánh thẳng Tràng Sa, có lẽ Ngài nghĩ rằng Vũ Vương đóng đô ở nước ta).
“Đời Đinh, đời Lê lựa dùng được người hiền lương. Bấy giờ bên Bắc đang mỏi mệt, suy yếu, còn bên Nam thì mới mẻ hùng cường, trên dưới đồng một ý, lòng dân không chia rẽ đắp thành Bình Lỗ mà phá được Tống; đó là một thời.
“Nhà Lý dựng nghiệp, quân Tống nhòm ngó bờ cõi, Lý Triều dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm Liêm, tiến đến Mai Lĩnh: đó là có thế làm được.
“Trước đây Toa Đô, Ô Mã Nhi vây ta bốn mặt. Chúng ta vua tôi đồng tâm, anh em hòa thuận, cả nước hợp sức chúng mới bị bắt: đó là lòng trời xui nên.
“Đại khái kẻ kia cậy trường trận, ta có đoản binh: lấy đoản chế trường, đó là thói trường của binh pháp. Quân địch ầm ầm tràn đến như lửa, như gió, thế ấy dễ trị. Nếu nó dùng chước tầm ăn lá dâu, không cần mau thắng, không cướp bóc lương dân thì ta phải lựa dùng lương tướng, xem tình hình mà liệu quyền biến như đánh cờ vậy. Nhưng phải tùy từng lúc mà chiến đấu cốt có binh tướng thân tín như tình cha con thì mới dùng được. Và phải nới lỏng sức dân để làm cái chước rễ sâu gốc vững. Đó là phương sách giữ nước hay hơn cả (Toàn thư quyển 6, tờ 8b-9b; Cương Mục quyển 8, tờ 31a-32a).
Coi qua mấy nguyên tắc trên, ta thấy Hưng Đạo Vương đã nghiên cứu rất kỹ lịch sử chiến tranh từ thượng cổ giữa Bắc phương và chúng ta. Những cuộc kháng chiến bằng lối dĩ đoản chế trường đã áp dụng nhiều lần kể từ Tây Âu Việt chống quân Tần, Triệu Vũ Đế đánh Hán, Triệu Quang Phục tập kích quân Lương ở Dạ Trạch…Trong các cuộc chiến tranh này các danh tướng trên đây đã khéo sử dụng các đặc điểm và ưu điểm địa phương nên thâu lượm được mọi thắng lợi. Các danh tướng đời sau này cũng có nhiều người làm nên sự nghiệp rực rỡ trong cuộc chống xâm lăng không mấy ai bỏ qua các phương pháp hiệu lực đó.
III. TRẦN ANH TÔNG (1293 – 1314)
Nhà Trần kể từ vua Thái Tông đến Anh Tông là một giai đoạn cường thịnh nhất. Vua thời đáng liệt vào hạng Thánh, bề tôi vào bậc Thần nên đã lập được những sự nghiệp bất hủ trong sử xnah. Sử gia Trần Trọng Kim chia đời Trần làm ba thời kỳ để đánh dấu tính cách đặc biệt của mỗi thời kỳ thật là xác đáng.
a) Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ hết sức oanh liệt và có nhiều việc khó khăn.
b) Thời kỳ thứ hai là thời kỳ thái bình yên trị tuy thỉnh thoảng cũng có các cuộc phiến động ở nơi biên viễn.
c) Thời kỳ thứ ba là thời kỳ họ Trần xuống dốc dần để tới chỗ cáo chung sứ mệnh Lịch sử.
Thay vua Nhân Tông là Thái Tử Trần Thuyên tức vua Anh Tông. Anh Tông khác với các tiên đế ở chỗ tính tình phóng túng và tuy ra cầm vận mệnh quốc gia giữa lúc trẻ tuổi, nhưng nhà vua có điểm khả quan là có tinh thần cấp tiến, biết bài trừ các điều dị đoan hủ bại.
Có những đêm Ngài lẻn ra ngoài hoàng cung để chơi phiếm, mọt đôi khi bị kẻ vô lại chạm đến. Ngài lại hay uống rượu. Một hôm Thượng Hoàng Nhân Tông từ Thiên Trường về kinh. Các quan đều có mặt ở nơi đón tiếp. duy chỉ thiếu có nhà vua. Lúc này Ngài đang say nằm ngủ không ai dám đánh thức. Thượng Hoàng giận lắm liền truyền xa giá lập tức trở về Thiên Trường và hạ lệnh cho các quan phải về đấy để bàn việc. Anh Tông tỉnh giấc biết tin sợ quá vội vàng chạy theo. Ra khỏi cung Ngài gặp Đoàn Nhữ Hài khi đó còn là một học trò Ngài mượn Nhữ Hài làm ngay bài biểu tạ tội rồi cùng Như Hài ngày đêm về tới Thiên Trường. Thượng Hoàng xem biểu xong quở trách một hồi rồi tha tội cho Anh Tông. Trở về kinh, Đoàn Nhữ Hài được phong làm Ngự Sử trung tán và từ đấy vua Anh Tông không uống rượu nữa.
Theo cổ tục các vua An Nam đều lấy chàm vẽ rồng vào đùi. Vua Anh Tông không chịu theo phong tục đó. Thượng Hoàng có lần dục nhà Vua: “Người nước ta vẫn vẽ mình để nhớ lấy gốc, nhà vua phải theo tục ấy mới được”. Bề ngoài vua Anh Tông vâng lệnh nhưng rồi Thượng Hoàng bận việc quên đi, Ngài cũng lờ luôn không cho vẽ nữa. Từ đấy về sau các vua chúa của ta cho việc bãi bỏ cổ tục vẽ mình của vua Anh Tông là hợp lý nên phong tục này không còn nữa.
Vua Anh Tông đau nặng, Hoàng Hậu cho mời thầy tăng cầu đảo làm lễ xem việc sinh tử của Ngài. Nhà vua cự tuyệt nói: “Thầy tăng đã chết đâu mà biết được việc chết”.
Vua Anh Tông ham vẽ. Ngài làm được tập Thủy Vân tùy bút, khi sắp mất Ngài cho đốt đi. Tóm lại vua Anh Tông là một ông vua có hiếu và thông minh, nhờ vậy việc triều đình thời đó được tốt đẹp. Phép nước được nghiêm trang, việc văn học mở rộng, dân chúng được no yên, thật là một thời thịnh đạt. Các đại thần đều là những người trung chính như Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn…
Dưới đời Anh Tông mấy việc quan trọng đã xảy ra: Thượng Tướng Trần Quang Khải, người anh hùng trong trận Chương Dương mất năm Giáp Ngọ (1294). Hưng Đạo Vương tạ thế ngày 20 -8 năm Canh Tý (1300). Về phía Tây Nam, nước ta bị giặc Lào thường hay quấy nhiễu ở hai địa phận lân cận là Thanh Hóa và Nghệ An. Vua Anh Tông mấy lần tự đem quân đi đánh dẹp. Quân Lào rút về nhưng lợi dụng được thế rừng núi hiểm trở, ẩn nấp dễ dàng nên luôn xuất hiện, quan quân về thì họ lại sang cướp phá mặc dầu có lần họ bị giết hại rất nhiều. Sau đến Phạm Ngũ Lão xuất binh, Thanh – Nghệ mới được yên ổn trở lại.
Với Chiêm Thành, từ khi nhà Trần dấy nghiệp không có động dụng đến binh đao. Vua Nhân Tông sau khi đánh dẹp giặc Lào trở về liền đi tu tại chùa Võ Lâm (chùa này lấy tên làng Võ Lâm là nơi dựng chùa thuộc phủ Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình) sau về Yên Tử Sơn (Quảng Yên).
Năm Tân Sửu (1301) Ngài qua Chiêm Thành du lịch gặp Chiêm Vương và Chế Mân. Ngài hứa gả Huyền Trân công chúa. Sauk hi ngài trở về, Chế Mân cho sứ mang vàng bạc và các quý vật sang cống cùng xin cưới. Triều đình nhiều người không tán thành cuộc tình duyên Việt-Chiêm này. Chế Mân phải dâng hai Châu Ổ và Lý (Địa Lý và Bố Chính) để làm lễ cưới, bấy giờ vua Anh Tông và triều đình mới quyết định. Tháng 6 năm Bính Ngọ (1306) Huyền Trân lên đường.
Năm sau Trần triều thu nhận hai châu này đặt tên mới là Hóa Châu và Thuận Châu, Đoàn Nhữ Hài được cử vào việc thiết lập guồng máy cai trị ở đây. Huyền Trân công chúa cùng Chế Mân xum họp chưa được một năm thì Chế Mân tạ thế. Theo tục Chiêm Thành, vua mất, các phi hậu phải lên đàn hỏa chết theo.
Anh Tông được tin liền phái Trần Khắc Chung mượn tiếng sang viếng thăm rồi lập kế đưa được Huyền Trân về nước. Việc này có lẽ đã gây mối bất bình trong lòng người Chiêm nên Chế Chí lên kế nghiệp Chế Mân ít lâu thì có sự bãi bỏ lời giao ước cũ. Rồi người Chiêm đã dùng võ lực cướp lại đất đai dùng làm lễ cưới Huyền Trân công chúa khi xưa. Trần triều phản ứng liền: vua Anh Tông cùng Huệ Võ Vương Trần Quốc Chân và Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư kéo ba đạo quân tới đất Chiêm. Nước Chiêm thua trận, quốc vương bị bắt đem về An Nam. Vua Anh Tông cử em Chế Chí là Chế Đà A Bà lên thay.
Chế Chí bị giam lỏng ở Gia Lâm và được phong làm Hiếu Thuận Vương chẳng bao lất thì mất. Vua cho hỏa tang và từ đó mối thù Việt-Chiêm càng ngày càng lớn.
Năm Mậu Thân (1308) Nhân Tông mất ở chùa Yên Tử. Sáu năm sau Anh Tông lên làm Thái Thượng Hoàng về nghỉ ngơi ở Thiên Trường, đến năm Canh Thân (1320) thì qua đời. Thái Tử Mạnh lên ngôi năm Giáp Dần (1314).
Vua Anh Tông trị vì được 21 năm thọ 54 tuổi.
Việc gả Huyền Trân Công Chúa Cho Chiêm Vương
Về việc gả Huyền Trân công chúa cho Chế Mân tới khi người đẹp trở về đất Việt, các thi nhân và văn gia đời sau đã viết nên nhiều giai thoại. Các giai thoại này rất được truyền tụng. Xin kể ra đây một bài Đường luật của Hoàng Thái Xuyên về cuộc bang giao Việt – Chiêm thuở ấy.
Đổi chác xưa nay khéo nực cười,
Vốn đà chẳng mất lại thêm lời.
Hai châu Ô Lý vuông nghìn dặm,
Một gái Huyền Trân đáng mấy mươi.
Lòng đỏ khen ai lo việc nước,
Môi son phải giống mãi trên đời.
Châu đi rồi lại châu về đó,
Ngơ ngẩn nhìn nhau một lũ Hời.
Và cũng do nguồn cảm hứng này, bài ca Nam Bình ra đời đến nay còn du dương giữa cung đàn nhịp phách bên bờ sông Hương. Tác giả đã dùng lối văn tự sự tả nỗi lòng bi đát của nàng rất là tế nhị.
Nước non ngàn dậm ra đi, mối tình chi.
Mượn màu son phấn, đều nợ Ô-ly,
Đắng cay vì, đương độ xuân thì
Số lao đao hay là nợ duyên gì?
Má hồng da tuyết, quyết liều như hoa tàn trăng khuyết,
Vàng lộn với chì,
Khúc lý tao cớ sao mà mường tượng Nghê thường!
Thấy chim hồng nhạn bay đi, tình tha thiết.
Bóng dương hoa quỳ
Nhắn một lời Mân quân, nay chuyện mà như nguyện,
Đặng vài phân, vì lợi cho dân,
Tình đem lại mà cân.
Đắng cay trăm phần…
Ngoài ra thời nhân có câu ca dao rất chua chát, thương xót cảnh “ngọc lầm cát bụi, vàng lộn với chì”:
Tiếc thay cây quế giữa rừng
Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo.
Về việc vua Nhân Tông Thượng Hoàng và triều đình của Ngài quyết định gả Huyền Trân cho Chế Mân, ta thấy rõ rệt việc hôn nhân này đã vì lý do chính trị hơn là bởi Trần triều muốn lấy hai châu Ô, Lý để mở rộng cương thổ nước ta. Khi Thượng Hoàng hứa gả Huyền Trần thì chỉ là vấn đề thắt chặt tình thân thiện Việt – Chiêm, đâu có đả động đến việc đem ả thuyền quyên đổi lấy hai châu Địa Lý và Bố Chính? Sự thực vua Nhân Tông thấy Chiêm Thành cho đến thời đó là một dân tộc hiếu chiến và cũng hùng cường. Không kể từ đầu thế kỷ thứ nhất họ từng đem quân quấy nhiễu nước ta. Trong hai lần chót quân Mông Cổ xâm lăng Việt Nam, một lần Chiêm a tòng với Mông Cổ đánh thốc vào hậu tuyến của quân ta, một lần Chiêm Thành hợp với ta chống lại Toa Đô, vậy Chiêm có thể là một điều lợi hay hại. Gả công chúa cho Chiêm Vương, vua chúa nhà Đông A không ngoài ý dùng Chiêm làm phên dậu và bớt thêm một kẻ địch luôn luôn rình ở kẽ nách không phải là không nguy hiểm. Đó là chính sách Nam Thùy. Nhà Lý trước đây muốn bành trước về Tả Giang đã gả nhiều công chúa cho các Châu Mục ở thượng du Bắc việt, Trần triều gả Huyền Trần lại được làm mẫu quốc Chiêm Thành thì lại càng nên lắm. Còn chuyện đòi hai châu Ô – Lý chỉ là nhân dịp tốt để mở rộng cương vực chớ không phải là vấn đề chính.
Duy việc Trần Khắc Chung lập mưu đưa Huyền Trần trở về nước sau khi Chiêm Vương qua đời, muốn sao ta cũng phải nhận là một việc bất tín với Chiêm Thành thì phản ứng của nước Chiêm là lẽ dĩ nhiên và chính đáng. Chỉ tiếc cho họ vì hèn yếu nên phản ứng đó chỉ đưa thêm lại sự bất lợi.
Còn về thi ca trong dịp này ta nhận thấy dân tộc ta đối với Chiêm quốc có một sự kiêu hãnh rõ rệt, một sự kiêu hãnh thường có giữa kẻ lớn đối với kẻ nhỏ, cũng như thái độ của Bắc triều đối với các tiểu quốc, chẳng vậy trong các bài thi cả trên đây đã có những câu:
“Ngơ ngẩn nhìn nhau một lũ Hời”
…
“Vàng lộn với chì”
…
“Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo
…
Đã mất người mất của lại còn bị khinh bỉ, người Chiêm vì được nghe lời ca dao hay các bài thơ, bài ca trên đây không khỏi có sự buồn tủi. Còn người Việt đã thắng một canh bạc không lương thiện lắm lại còn ra bộ não nùng xót xa…Cuộc bang giao Việt – Chiêm trong giai đoạn này quả là một thiên bi hài kịch. Duy có một người để nói một điều gì, đó là Huyền Trân công chúa bởi nàng đã là một nạn nhân của một tấn tuồng chính trị.
IV. TRẦN MINH TÔNG (1314 – 1329)
Thái Tử Mạnh lên ngôi lấy hiệu là Minh Tông. Với Minh Tông hùng khí của họ Đông A không còn nữa, từ năm Đại Khánh (1314) đến năm Đại Trị (1358) là năm Minh Tông qua đời. Trong khoảng thời gian này các danh thần như Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn cũng lần lượt mất cả. Sự tiến bộ của dân tộc ngưng hẳn lại, không có một việc gì mở mang đặc sắc, vua quan chỉ lo hưởng cuộc thái bình của tiền nhân để lại. Tuy vậy, khi Minh Tông ở ngôi, nước còn được yên ổn và chưa đáng bi quan lắm. Về phía Bắc mặc dầu có một vài sự lôi thôi trong việc phân chia địa giới với Trung Quốc nhưng sau cũng đi đến chỗ ổn thỏa. Về phía Nam từ ngày Chế Chí bỏ xương trên đất Đại Việt, người Chiêm rất căm giận thường có những cuộc quấy rối ở các nơi kế cận của ta. Năm Mậu Ngọ (1318) đại quân của Huệ Vũ Vương Trần Quốc Chân và tướng quân Phạm Ngũ Lão tấn công vào đất Hời. Chiêm Vương Chế Năng bại trận bỏ thành chạy trốn.
Việc chính trị không có gì mới lạ hay đặc biệt, duy năm Ất Mão (1215) triều đình cấm mọi việc tranh tụng trong dân chúng cùng họ. Năm sau có việc xét định lại cấp bậc các quan văn võ. Năm Quí Hợi (1323) có mở khoa thi Thái Học Sinh (Người trúng khoa thi này ngang với chức tiến sĩ các triều sau). Cùng năm ấy triều đình chính thức cấm binh sĩ vẽ mình, từ đấy về sau này bị bãi bỏ hẳn.
Một việc không hay xẩy ra dưới đời vua Minh Tông, đó là chuyện giết oan Huệ võ Vương Trần Quốc Chân, một lão tướng từng lập được nhiều chiến công từ thời kháng Nguyên cho đến các vụ chinhphạt Chiêm Thành sau này.
Trần Quốc Chân là thân sinh của Hoàng Hậu. Hoàng Hậu lâu không sinh hoàng nam. Triều thần bấy giờ chia ra làm nhiều phe. Phe muốn làm giảm bớt thế lực của Huệ Vũ Vương xin lập hoàng tử Vượng con bà phi lên làm Thái Tử do Văn Hiến Hầu Trần Khắc Chung cầm đầu. Phe Huệ Võ Vương xin chờ Hoàng Hậu có thai rồi mới bàn đến việc lập ngôi thái tử.
Để hạ địch thủ, phe Văn Hiến Hầu dùng một độc kế: mua chuộc tên Trần Nhạc đày tớ của Huệ Võ Vương bằng 100 lạng vàng. Trần Nhạc tố cáo Huệ Võ Vương mưu phản. Kết quả, Huệ Võ Vương bị đem giam vào chùa Tư Phúc. Được Minh Tông nghe, Trần Khắc Chung đề nghị cấm luôn việc tiếp tế cơm nước cho Huệ Võ Vương, có ý để Huệ Võ Vương chết đói lấy cớ rằng bắt hổ thì dễ tha hổ thì khó.
Hoàng hậu đến thăm cha, biết mưu gian của bọn Trần Khắc Chung mặc áo ướt vào ngục rồi cởi áo này cho cha vắt lấy nước uống. Vị lão tướng uống xong rồi chết.
Sau này vì chuyện ghen tuông với vợ lẽ, vợ cả Trần Nhạc đi tố cáo mưu gian kể trên, bấy giờ triều đinh và dân gian mới hiểu nỗi oan của người quá cố.
Bình luận về Minh Tông, sử thần trước đây cho Ngài là một ông vua nhân hậu, thương dân yêu nước nhưng thiếu sự sáng suốt nên đã mắc vào nhiều việc sai lầm lớn lao và cũng do đó triều Trần đi gấp tới chỗ suy vong.
Minh Tông ở ngôi đến năm Ất Tị (1329) thì Thái Tử Vượng thay Ngài, để Ngài lên làm Thái Thượng Hoàng theo thủ tục.
VI. TRẦN HIẾN TÔNG (1329 – 1341)
Vua Hiến Tông lên làm vua mới 10 tuổi và ở ngôi 13 năm. Có thể coi triều đại của Hiến Tông gần như không có gì đáng kể trên thực tế, vì mọi việc định đoạt đều ở tay Minh Tông Thượng Hoàng cả.
Trong giai đoạn này xảy ra hai việc xâm phạm bờ cõi:
Giặc Ngưu Hống và Giặc Lào
Vua Hiến Tống lên ngôi chưa được bao lâu thì dân Mường Ngưu Hống ở mạn sông Đà nổi loạn. Thượng Hoàng đem quân đi đánh dẹp. Người Ngưu Hống ở trại Chiêm Chiêu đưa thư đến trá hàng, bề khác đạo quân của triều đình từ Thanh Hóa tiến ra bị chúng phục kích ở giữa đường rừng núi nên đạo quân này phải thua chạy. Sau đại quân đánh dữ dội nhiều nơi, thanh lừng lẫy, giặc Ngưu Hống phải rút cả vào các vùng lâm lũng. Giặc tuy thua nhưng vẫn không trừ dứt được. Sau này đến năm Đinh Sửu (1337) Hưng Hiếu Vương chém được tù trưởng của họ ở trại Trịnh Kỳ, giặc Ngưu Hống mới chịu yên hẳn.
Giữa khi quân Ngưu Hống quấy rối miền sông Đà thì giặc Lào cũng phá phác ở mạn Thanh Nghệ. Năm Giáp Tuất (1384) Minh Tông Thượng Hoàng lại phải xuất chinh. Ông Nguyễn Trung Ngạn làm Phát Vận Sứ được cử vào Thanh Hóa trước để lo vấn đề lương thực còn đại quân tiên sau. Uy thế nhà Trần còn mạnh nên khi đại quân vào tới Kiềm Châu (thuộc huyện Tương dương, Nghệ An) giặc bỏ chạy hết.
Ông Nguyễn Trung Ngạn được cử làm bài bia trên núi để kỷ niệm chiến công. Bài bia này chữ to bằng bàn tay khắc sâu một tấc đến nay vẫn còn và dịch nôm ra như sau:
“Chương Nghiêu Văn Triết Thái Thượng Hoàng và vua thứ sau đời nhà Trần, nước Hoàng Việt chịu mệnh trời nhất thống cõi trung hạ, trong đất ngoài bể đâu cũng thần phục. Nước Ai Lao nhỏ mọn kia dám ngạch vương hóa; cuối mùa thua năm Ất Hợi, vua thân dem sáu quân đi tuần cõi Tây, thế tử nước Chiêm Thành, nước Chân Lạp, nước Tiêm La và tù trưởng các đạo Quì, Cầm, Xa, Lạc, tù trưởng rợ Bồn Man mới phụ và các bộ Mán Thanh Xa đều mang phương vật tranh nhau đón rước. Chỉ có tên nghịch Bổng cứ giữ mê tối, sợ phải tội chưa lại chầu ngay. Cuối mùa đông vua đóng quân ở cánh đồng Cự, thuộc châu Mật sai các tướng và quân rợ Mọi vào tận nước, nghịch Bổng theo gió chạy trốn. Vua mới xuống chiếu lui quân. Bấy giờ là ngày tháng chạp nhuận năm Ất Hợi niên hiệu Khai Hữu thứ 7, khắc vào đá”.
Cứ như lời bia, việc dẹp giặc Lào bấy giờ có vẻ hống hách lắm, nhưng sự thực đại quân chưa ra khỏi đất loạn, tình trạng lại rối ren như cũ. Còn nói các thế tử Chân Lạp, Tiêm La,…qua chầu cũng chỉ do cách hành văn trang trọng trong một bài bia ký mà thôi. Thuở đó ảnh hưởng của dân tộc chúng ta chưa lan tới hai nước này.
Qua năm sau, Thượng Hoàng lại đem quân đi đánh giặc Lào vì giặc lại sang cướp phá ở ấp Nam Nhung (thuộc huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An). Kinh Lược Sứ tỉnh Nghệ An Đoàn Nhữ Hài được cử làm đô đốc chư quân có ý khinh thị quân giặc nên kém sự đề phòng. Quân của ông qua sông Tiết La thuộc ấp Nam Nhung thì bị sương mù. Quân phục binh của giặc ùa ra đánh ta trong ta bất ngờ; quan quân chạy xuống sông chết đuối rất nhiều. Chủ tướng họ Đoàn cũng bị vùi xác dưới nước.
Xét ra từ vua Anh Tông đến Nhân Tông sau này tới Minh Tông, cứ năm ba năm lại một lần, các vùng biên cảnh Tây Nam nước ta bị giặc Lào nhũng nhiễu. Giặc Lào chỉ cướp phá các miền này và không dám đi xa hơn vì không đủ lực lượng như Chiêm Thành, ngoài ra giặc biết rằng lìa khỏi miền rừng núi chúng mất lợi thế và sẽ bị tiêu diệt. Quan quân củata đánh Lào chỉ cốt ngăn ngừa sự phá phách của chúng chớ không có ý định chiếm đất do một lẽ rất dễ hiểu: xứ Lào nhiều lam sơn chướng khí, đường đi toàn qua các nơi sơn cước gập ghềnh khó khăn cho việc tiếp vận. Giặc Lào vì vậy không bao giờ trừ tiệt được và qua nhiều triều đại đã làm cho các vua quan của t hao người tốn của không phải là ít. Nếu như các vua ta có ý mở mang về Tây Nam thì rừng núi Chiêm Thành còn chế ngự được huống hồ xứ Lào. Có điều này làm cho chúng ta ngày nay phải ngạc nhiên hay khó hiểu là các triều đại xưa kia luôn luôn bị nạn phá phách ở các vùng biên giới vậy mà không thiết lập những cơ cấu phòng thủ vững vàng ở các nơi này. Phải chi chúng ta có những bộ đội trú phòng đứng đắn, mạnh mẽ và có các viên tổng binh hay trấn thủ chuyên môn về biên viễn thì đâu đến nỗi các vua phải luôn luôn xuất chinh, binh tướng phải mỏi gối chồn chân trên những quảng đường sơn xuyên ngàn dậm. Kìa như các châu Địa Lý, Bố Chính, Chiêm nhường cho ta nay có đi, mai dằng lại thì đủ rõ. Bởi vấn đề này thuở đó không được đặt ra, chính quyền của các vương triều lại chỉ thu hẹp ở miền Trung Châu Bắc Việt, nên chúng ta chẳng phải chỉ bị cái nạn hao tổn tiền tài, sinh mạng vì các việc động binh mà vua chúa, tướng súy lại còn có khi tiêu mà cả danh dự của dân tộc bên sườn núi các hạt Thuận Châu, Hóa Châu nữa (trường hợp Đoàn Nhữ Hài, vua Duệ Tông chẳng hạn). Thiết lập các bộ đội trú phòng là một sự tổn phí cho công quỹ của triều đình chăng?Theo thiển ý điều này chẳng đúng. Từ Thanh Nghệ qua Thuận Hóa thiếu gì đất mới rừng hoàng để khai khẩn, các vùng duyên hải lại là những kho ngư lợi vô tận. Chứng cớ sau này có cuộc Trịnh Nguyễn phân tranh, nạn nhân mãn ở vùng Trung Châu sông Nghi bành trướng, tiền nhân của ta mới nghĩ đến mọi vấn đề phương Nam và đã áp dụng mọi biện pháp thích nghi. Việc này đã đưa lại những kết quả thế nào chúng ta đã thấy và đứng trước các kết quả tốt đẹp (kết quả của cuộc Nam Tiến) ta càng tiếc các tiền triều không lo tính sớm các vấn đề phương Nam mà vấn đề biên cảnh tất nhiên phải giải quyết cùng một nhịp để đến nỗi thế kỷ này qua thế kỷ khác dân tộc phải chịu bao nhiêu vất vả, nhọc nhằng do sự quấy phá của giặc…
Mọi việc đáng chú ý ngay từ đời Minh Tông đến Hiến Tông đã có nạn đói khổ trong dân chúng. Các nhà cầm quyền không thi hành được điều gì tốt đẹp về kinh tế và xã hội tuy có việc phát thuốc Hồng Ngọc Sương Hoàn trị bách bệnh cho nhân dân, cấp tiền gạo co người nghèo, lập Tào Thương tức kho thóc thu của dân dể dùng vào việc phát chẩn năm Khai Hựu thứ 8 (1336), theo lời đề nghị của Nguyễn Trung Ngạn.
Hiến Tông làm vua đến năm Tân Tị (1341) thì mất, ở ngôi được 13 năm, thọ được 23 tuổi.
VII. TRẦN DỤ TÔNG (1341 – 1369)
- Việc chính trị
- Việc giao thiệp tới nước Tàu
- Việc giao thiệp với Chiêm Thành
- Việc Dương Nhật Lễ
Vua Hiến Tông không có người kế tự. Minh Tông Thượng Hoàng cử người em tên là Hạo lên thay tức là vua Dụ Tông. Trong khoảng các năm Thiệu Phong (1341 – 1357), Thượng Hoàng còn sống vẫn còn cầm cương nẩy mực cho triều đình, việc dân nước chưa đến nỗi quá đồi tệ. Dầu vậy mấy năm mất mùa đã xảy ra khiến dân tình đã đau khổ lại đau khổ thêm nữa. Triều đình không có cơ cấu hay tổ chức nào có hiệu lực để đề phòng tai nạn cho nhân dân, bởi vậy lâm đến việc thủy tai, hạn hán dân chúng không còn trông cậy vào đâu hết. Sinh lực quốc gia mòn mỏi dần. Từ năm Đại Trị (1358), Thượng Hoàng qua đời, các lương thần như tướng Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn cũng chết đi, Trần triều bắt đầu xuống dốc rõ rệt. Nạn gian thần lan rộng chốn cung đình, việc triều chính đổ nát không ai tha thiết. Một người cố vãn tình thế, gây lại kỷ cương trật tự là ông Chu Văn An, một đại nho và một danh thần còn sót lại đã dân sớ xin chém bảy tên quyền thần nhưng không được nhà vua chấp thuận. Ông liền cáo quan về ẩn dật ở núi Chí Linh. Bài sớ thất trảm của ông đáng kể là di tích của sĩ khí, sĩ phong thuở ấy.
1 – Việc Chính Trị
Vua Dụ Tông ham rượu chè ăn chơi, dâm dật, xây cung điện, đào hồ, đắp núi. Triều đường là một cái song bạc công khai, quán rượu thường xuyên, hay một sân khấu ngày đêm náo nhiệt. Nguyên khi đánh được giặc Nguyên có bắt được một tên hát bội là Lý Nguyên Cát. Tên này được ở lại nước ta làm trùm dạy múa hát. Từ đấy ta có nghề hát bội và nghề này chẳng bao lâu lan tràn khắp nước ta. Các vương hầu công chúa phải đặt các vở tuồng để giúp vui, vua quant hi nhau rượu chè be bét.Người nào uống nổi trăm thăng được thưởng hai trật. Các nhà giàu ở Đình Bảng (Bắc Ninh) và Nga Đình (Sơn Tây) được mời vào kinh dự cuộc đen đỏ. Có tiếng bạc tới 300 đồng vàng. Hơn nữa người ta còn xâm phạm vào quyền lợi kinh tế của nhân dân. Các quan hầu của vua chúa chiếm cả bãi sông Tô Lịch là đất giồng rau của dân nghèo. Nơi này từ đấy mang tên là phường Vườn Rau. Cung nhân cũng làm quạt đem bán lấy lợi. Các quan chức cũng đổ xô chiếm hết nguồn sống của đại chúng gây nên một tình thế xã hội rất eo hẹp quẫn bách. Các hiền tài ngao ngán không ai chịu xuất đầu lộ diện.
Cái hậu quả của nền chính trị bại hoại này đã phát sinh ra nhiều mối loạn trong nước: Ngô Bệ dấy loạn ở mạn Hải Dương, các đám giặc cỏ khác cũng nổi lên ở nhiều nơi cướp phá dân chúng. Nạn đói kém, rối ren liên miên năm này qua năm nọ, gần như một tình trạng thường xuyên báo hiệu ngày tàn của một triều đại.
Nội tình quốc gia thê thảm đến thế thật là hết chỗ nói.
2 – Việc Giao Thiệp Với Nước Tàu
Trong giai đoạn này bên Trung Quốc nhà Nguyên cũng suy vong. Bọn Trần Hữu Lượng, Trương Sĩ Thành, Chu Nguyên Chương khởi binh lật đổ nhà Nguyên. Chu dấy nghiệp ở đất Từ Châu (tỉnh An Huy) cướp được thành Kim Lăng và mười lăm năm sau nhà Nguyên bị dứt hẳn.
Năm Mậu Thân (1368) Chu Nguyên Chương tức Minh Thái Tổ thống nhất thiên hạ Trung Quốc, dựng nên nhà Minh. Vì phải lo sửa sang và chỉnh đốn nhiều việc nên Minh triều chưa kịp có một ý định thôn tính nước ta ngoài chuyện phái sứ sang dụ. Lễ Bộ Thị Lang Đào Văn Đích được cử đi tiến công. Đó là một sự may mắn đặc biệt. Ví như lúc này Trần triều phải đương đầu với một cuộc xâm lăng của Bắc phương, kết quả sẽ như thế nào ta không cần phải tưởng tượng.
3 – Việc Giao Thiệp Với Chiêm Thành
Trong thời kỳ nước ta bạc nhược Chiêm Vương Chế A Nam qua đời. Con là Chế Mộ và rể là Bồ Đề tranh nhau ngôi vua. Dân Chiêm theo Bồ Đề. Năm Nhâm Thìn (1352), Chế Mộ chạy sang Đại Việt yeu cầu giúp đỡ.
Năm sau (Quý Tị, 1353) vua Dụ Tông cho quân đưa Chế Mộ về nước. Quan quân tới Cổ Lũy (thuộc Quảng Nghĩa) thì bị quân của Bồ Đề đánh bại phải bỏ chạy. Chế Mộ thất vọng chẳng bao lâu thì chết. Từ đấy Chiêm khinh thường thực lực của ta nên hay đem quân quấy phá biên giới.
Năm Đinh Vị (1367), đoàn quân viễn chinh của Trần triều do Trần Thế Hưng và Đỗ Tử Bình lĩnh đạo qua Chiêm Thành bị quân Chiêm phục kích. Chiêm bắt được Trần Thế Hưng, còn Đỗ Tử Bình phải lui quân. (Đỗ Tử Bình là tay đại nịnh thần dưới triều Dụ Tông).
Trong khoảng 13 năm hai lần thua trận, nước ta mất hết phong thể và uy tín từ tron g ra tới ngoài. Vua tôi vẫn ham chơi không hề lo đến việc khôi phục và hoán cải tình thế. Trái lại lúc này dân Chiêm trở nên mạnh dưới chinh sự sángsuốt của Chế Bồng Nga là một ông vua anh hùng, có tài chiến trận, giỏi việc trị nước. Năm Mậu Thân (1368) người Chiêm đời ta trả lại đất Hóa Châu (tức Châu Địa Lý, Bố Chính và ma Linh mất về ta dưới đời Lý năm 1103). Một mặt họ xúc tiến chính trị nội bộ, một mặt họ thao luyện gắt gao binh đội. Quân Chiêm phải chịu tập tành ngày đêm cho quen với sự khó nhọc. Họ đặc biệt lợi dụng ưu thế tượng trận, nghĩa là dùng voi để mờ đường cho cuộc tấn công. Nếu tấn công không lợi thì họ là dùng voi để đoạn hậu tức là ngắn lối tiến của đối phương. Chiến pháp này có hiệu quả tốt đẹp nên sau này mấy phen người Chiêm tha hồ kéo nhau đến làm mưa nắng trên bờ cõi Việt Nam.
4 – Việc Dương Nhật Lễ
Năm Kỷ Dậu (1369), Dụ Tông qua đời vì dâm dật quá nên không con. Triều đình định lập Cung Định Vương Phủ là anh vua Dụ Tông lên làm vua, bị bà Huệ Từ Thái Hậu phản đối nhất định lập con nuôi của Cung Túc Vương là Dương Nhật Lễ (Thế là bỏ họ Trần mà lập họ khác).
Trước đây có người phường tuồng Dương Khương, diễn trò “Quả đào tiên” cho vợ thủ vai Tây Vương Mẫu. Vợ Dương Khương bấy giờ đang có mang hai tháng khéo điểm phấn son nên rất ưa nhìn. Cung Túc Vương Dục là con vua Minh Tông mê quá liền cướp lấy làm vợ đẻ ra Nhật Lễ. Dụ Tông mất đi để di chiếu cho Nhật Lễ nối ngôi. (Có lẽ Dụ Tông mê cậu bé như mê mẹ!).
Nhật Lễ lên làm vua được ngót hai năm (1369 – 1370) cũng dâm dật, cũng yến ẩm suốt đem ngày, lại có ý đổi lại họ cũ họ Dương, giết Thái Hậu và Cung Tĩnh vương Trác. Cung Định Vương phủ và Cung Tuyên vương Kính cùng các tông thất phải chạy ra ngoài đem quân về giết được Nhật Lễ (theo Việt Nam Sử Lược Cung Định vương Phủ sợ bị hại vì tính khí nhu nhược lại không có ý cạnh tranh nên bỏ trốn lên mạn Đà Giang).
Sau cuộc rối ren này Cung Định vương Phủ về làm vua tức là Nghệ Tông.
VIII. TRẦN NGHỆ TÔNG (1370 – 1372)
Trong khi Nghệ Tông lên làm vua thì mẹ Nhật Lễ trốn qua Chiêm dụ quân Chiêm về phá thành Thăng Long. Nội tình của Trần triều thế nào đều lọt cả vào tai mắt người Chiêm. Từ trước tới nay Chế Bồng Nga chỉ đợi một cơ hội thuận tiện là kéo đại quân vào đất Việt. Cơ hội đó có người cáo tỏ, quân Chiêm liền dùng thủy đạo đột nhập cửa Đại An, kéo qua sống Hoàng Giang rồi tiến thẳng vào Thủ Đô Thăng Long. Sức cản trở của quân ta rất là yếu vì bao năm không ai luyện binh tập mã, việc canh phòng lại biếng nhác nên giặc như đi vào chỗ không người. Chúng đốt phá cung điện, cướp sạch bạc vàng châu báu, bắt đàn bà, con gái đem về nước.
Giữa lúc kinh thành đổ nát tơi bời, vua Nghệ Tông lánh mình sang làng Đông Ngạn (nay là Đình Bảng, tỉnh Bắc Ninh). Trước cảnh thảm bại này người dân Việt nhớ lại cái quá khứ oanh liệt của các tiền triều bao nhiêu (kể từ nhà Lý) càng chán nản phẫn uất với tình trạng hiện tại thuở ấy bấy nhiêu. Cảnh thảm bại đó dĩ nhiên đưa lại cho mọi tầng lớp nhân dân một ý muốn chung là sự thay đổi hoàn toàn tình trạng xã hội Việt Nam trên các địa diểm để tìm một lối thoát. Điều kiện chủ quan (tình hình nội tại) và điều kiện khách quan (việc xâm nhập của giặc Chiêm ở ngoài vào) sẵn sang dọn đường cho sự thay đổi đó.
Từ đây xã hội Việt Nam đi dần sang con đường rẽ của Lịch sử, dù muốn hay không, và cái động lực mạnh nhất đã làm sụp đổ Trần triều –một dòng họ ngự trị dân tộc Việt nam suốt 175 năm – đó là sự đồi bại của nền kinh tế trong nước.
Quả vậy, từ đời vua Thái Tông đến cuối thế kỷ thứ XIII xã hội Việt Nam được no cơm, ấm áo, nhân dân được sống vui vẻ, đầy đủ nên giặc Mông Cổ ba phen vàocõi ta đã đánh bật họ ra một cách oanh liệt. Lời hịch của Hưng Đạo Vương đã nhắc đến thú cờ bạc, đàn hát, chọi gà, thú săn bắn, thú ruộng vườn rõ đời sống của nhân dân bấy giờ quả có tốt đẹp.
Trái lại từ đời Dụ Tông vua quan bất tài, bất lực, lại ăn chơi đàng điếm, xa xỉ, giai cấp phong kiến đốn mạt đến nỗi đẽo gọt cả quyền lợi lặt vặt của dân chúng. Bên ngoài giặc Chiêm hàng năm sang đánh phá, cướp của giết người, càng làm cho cái ngai vàng của họ Trần thêm nghiêm ngửa và nhân dân điêu đứng thêm.
Tình trạng này không thể tránh được một cuộc đảo lộn chẳng do họ này thì cũng do họ khác. Giữa triều đường bấy giờ Hồ Quý Ly có tài ba trội hơn mọi người tất nhiên được tin dùng, lại thêm địa vị của ông là Hoàng thân quốc thích nữa. Rồi ông bước lên sân khấu chính trị nước nhà giữa một thời thế vô cùng phức tạp: Tầng lớp lãnh đạo thì chỉ nhìn vào quyền lợi, địa vị riêng tư, sau này đối với ngoại không phân biệt được đâu là thù, là bạn, lẽ thuận lẽ nghịch, dân chúng thì đối phó, mất hết tin tưởng vào các nhà cầm quyền, như con thuyền không lái, bồng bềnh ngoài khơi như chẳng còn biết đến bờ bến. Thật là não nề, thật là bi đát!
Tiểu Sử Của Hồ Quý Ly
Dòng họ Hồ đối với lịch sử Việt Nam chỉ mới nổi tiếng từ khi có Hồ Quý Ly xuất đầu lộ diện. Ông Chu Thiên, có lẽ là sử gia nghiên cứu về họ Hồ kỹ càng nhất phát biểu một ý kiến ngờ vực về lý lịch của họ HỒ mà Khâm Định Việt Sử Thông Giám (Cương Mục quyển 10) đã nêu ra bởi thiếu tài liệu xác thực để chứng nghiệm, phần có thể lý lịch của họ Hồ đã bị xuyên tạc do những kỳ thị hẹp hòi của các nhà làm sử trước:
Theo Khâm Định Việt Sử, Hồ Quý Ly là cháu bốn đời của Hồ Liêm. Ông Tổ của họ Hồ là Hồ Hưng Dật người tỉnh Chiết Giang bên Tàu về đời Ngũ Quý (907 – 959), trôi dạt sang Việt Nam, làm quan và lập ấp ở làng Bèo Đột phủ Diễn Châu (nay thuộc huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An). Đến đời Hồ Liêm những người họ Hồ dời qua làng Đại Lai thuộc tỉnh Thanh Hóa. Quý Ly làm con nuôi Lê Huấn vì vậy đổi họ là Lê Quý Ly. Như vậy đến nay chưa tìm được một căn cứ nào rõ rệt để hiểu biết sự di truyền về sinh lý của dòng máu đã kết tinh thành những đức tính lỗi lạc và cương quyết của nhà chính trị đó. Quý Ly sau này chiếm được ngôi của nhà Trần lấy lại họ cũ (Hồ), đổi tên nước là Đại Ngu tuyên bố rằng họ Hồ thuộc dòng dõi vua Nghiêu Thuấn ngày xưa.
Quý Ly có là người Tàu hay không, ta không cần biết, nhưng điều rõ rệt là Quý Ly đáng kể là một nhân vật lịch sử không tầm thường.
Lại xét các người chung quanh Quý Ly bên nội cũng như bên ngoại đều rất thông minh, xuất chúng. Tỉ dụ Gia Từ Hoàng Hậu (em họ Quý Ly, vợ vua Duệ Tông. Sử chép: Vua Duệ Tông đi đánh Chiêm không trở về, bà gọt đầu đi tu. Vua Nghệ Tông lập con bà lên ngôi (Đế Nghiễn) Bà cố xin bãi việc này không được, sụt sùi khóc nói với những người xung quanh: “Con ta ít phúc không gánh nổi việc lớn lại đến mang họa vào mình mà thôi. Tiên quan ta xa vắng cõi trần, ta chỉ muốn chết theo, nữa là phải ở lại nhìn con mình lâm vào cảnh bi thảm…”Quả nhiên sau này Đế Nghiễn bị hại.[4]
Sách Nam Ông Mộng Lục của Lê Trừng (tức là Hồ Nguyên Trừng con cả Hồ Quý Ly) in trong tập Hàm Phân Lâu Bí Cấp xuất bản ở bên Tàu chép bà tổ Hồ Quý Ly là con Nguyên Thánh Huấn, một nhà văn học trứ danh dưới đời Trần Thánh Tông và Nhân Tông. Tháng chạp năm Bão Phũ thứ hai (1274), Nguyên Thánh Huấn được cùng Nguyễn Sĩ Cố làm Nội Thị Học Sĩ đọc sách với thái tử Khâm (tức Nhân Tông) dưới quyền phụ giáo của thiếu sứ Lê Phụ Trần, sau làm đến chức Trung Thư Thị Lang nổi tiếng văn thơ, được người đời bấy giờ gọi là Nam Phương Thi Tổ. Quý Ly lại có hai cô lấy vua Minh Tông là con gái của quan Thái Y Phán Phạm Công Bân rất giỏi nghề thuốc và công minh chính trực.
Tóm lại, những căn cứ cận lai cho ta biết Hồ Quý Ly đã sinh ra ở những dòng máu cao quý và những yếu tố này đủ tạo nên Quý Ly thành một nhân vật lịch sử có những cá tính hết sức đặc biệt.
IX. TRẦN DUỆ TÔNG (1372 – 1377)
Năm Nhâm Tí (1372) vua Nghệ Tông truyefn ngôi cho Thái Tử Kính lên làm Thái Thượng Hoàng. Thái Tử Kính tức là vua Duệ Tông lấy Lê Thị làm Hoàng Hậu (Lê Thị là em họ Lê Quý Ly).
Duệ Tông không nhu nhược như Nghệ Tông nhưng việc triều chính vẫn do Thượng Hoàng quyết đoán. Thuở ấy Chiêm Thành thường đem quân sang quấy nhiễu. Vua Duệ Tông liền cho huy động binh mã mở cuộc Nam Chinh. Ngài hạ chiếu luyện tập quân đội, sửa soạn chiến thuyền, đặt thêm quân hiệu, Quý Ly được cử làm Tham Mưu quân sự. Hoan Châu được đổi làm Nghệ An, Diễn Châu làm Diễn Châu Lộ, Lâm Bình Phủ làm Tây Bình Phủ. Dân chúng được lệnh sửa sang đường từ Thanh Hóa vào đến huyện Hà Hòa (tức huyện Kỳ Anh ngày nay).
Năm Bính Thìn (1376) quân Chiêm lại sang phá Hóa Châu. Mặc dầu đình thần cản ngăn, Duệ Tông quyết định cử binh đi chinh phạt. Quân dân Thanh Hóa, Nghệ An phải tải 5 vạn thạch lương vào Hóa Châu và trước khi đoàn quân Nam Chinh lên đường có mở một cuộc duyệt binh tại Bạch Hạc dưới quyền chủ tọa của Thượng Hoàng.
Cuộc chiến tranh này đáng lẽ không có vì tuy thỉnh thoảng có sự quấy nhiễu nhưng Chiêm Thành vẫn còn e ngại lực lượng của dân Việt. Ngay bấy giờ dưới quyền Chế Bồng Nga mặc dầu Chiêm hùng mạnh hơn bao giờ hết Chiêm vẫn phải tiến công Trần triều. Năm ấy họ Chế đem cống 15 mâm vàng. Trấn Thủ Hóa Châu là Đỗ Tử Bình (một tên đại gian nịnh) lấy đi rồi dâng sớ về triều xin cử đại binh đi đánh Chiêm để trừng phạt về tội vô lễ. Lời sớ của Đỗ Tử Bình đã quyết định cuộc chiến tranh mà nhà Trần đã chuẩn bị. Quý Ly vận tải lương thực đến cửa bể Di Luân (thuộc huyện Bình Chính, Quảng Bình) và tự lĩnh 12 vạn quân thủy bộ cùng tiến. Binh đội ngừng lại tại cửa Nhật Lệ (làng Đồng Hới, huyện Phước Lộc, Quảng Bình) một tháng để luyện tập.
Năm sau là năm Đinh Tỵ (1377), quân Việt tiến vào cửa Thị Nại (Quy Nhơn) phá được đồn Thạch Kiều, động Kỳ Mang rồi tiến đến trước thành Đồ Bàn. Chế Bồng Nga lập kế trá hàng cho nói dối rằng toàn thể quân Chiêm đã rút hết, thành bỏ không. Đại Tướng Đỗ Lễ can Duệ Tông dừng đem quân vào thành. Duệ Tông không nghe rồi quân ta tiến vào chiếm thành liền bị bao vây đánh bốn mặt. Mặc dầu quân ta đông đảo nhưng địch bố trí sẵn, nắm trước được thế hiểm nên ta thu to. Duệ Tông tử trận, binh đội tổn hại mười phần đến bảy tám.
Đỗ Tử Bình điều khiển hậu quân không dám tiếp cứu. Quý Ly cũng bỏ chạy. Sau trận này Đỗ Tử Bình bị giáng xuống làm lính.
X. TRẦN PHẾ ĐẾ (1377 – 1388)
- Việc giao thiệp với nhà Minh
- Chiêm Thành phá Thăng Long
- Âm mưu trừ Quý Ly thất bại
Duệ Tông mất rồi, Thượng Hoàng Nghệ Tông lập con của Duệ Tông là Nghiễn (Hiển) lên nối ngôi, tức là vua Phế Đế.
Tình thế nước ta lúc này thật đáng buồn: nhân dân thì đói khổ, triều đình thì nhút nhát, quân đội thì suy nhược, mỗi lần giặc Chiêm đến là mỗi lần cuộc khủng hoàng tinh thần lan tràn khắp nước. Nhà vua phải đem của đi chôn dấu ở núi Kiện Khê huyện Thanh Liêm (Hà Nam) các quan khoanh tay nhìn thời cuộc. Trông vào đâu? Triều đình không còn tin đến binh lực của mình phải cầu cứu đến lũ tăng nhân là bọn Đại Nạn thiền sư để chống nhau với giặc Chiêm (Trách gì sau này thầy chùa Phạm Sư Ôn chẳng nổi loạn!)
Việc bảo vệ đất nước đã bất lực rõ rệt, người dân đã cực khổ lầm than lại còn bị chồng chất thuế má nặng nề lên đầu lên cổ. Để cứu cái tình trạng tài chính nguy ngập vì công khố sạch trơn cả gạo thóc, tiền bạc lưu hành trong dân chúng cũng cạn sạch, Đỗ Tử Bình đề nghị bắt mỗi xuất đinh bất kể còn sống hay đã chết mỗi năm phải đóng ba quan tiền thuế (Thuế thân sinh ra từ đấy). Dĩ nhiên vô kế khả thi, triều đình phải chấp thuận.
Tóm lại, bộ máy cai trị bị tê liệt, nền kinh tế thương mại bị ngưng trệ, lực lượng quốc gia tan rã, vận mệnh dân tộc rất là nguy khốn. Đây là một thời vô trách nhiệm, vô trật tự. Đẳng cấp phong kiến, quan liêu đến lúc suy vi mà giai cấp nho sĩ, trí thức cũng tỏ ra ươn hèn, đáng lẽ họ phải đóng trọn vẹn vai phù nguy, cứu khổ, vẫn đắm mình trong cái vũng từ chương, cử nghiệp, họ không nhìn thấy sự nguy khốn của xứ sở. Rồi đây ta sẽ nhận thấy cái thái độ bị động và ngu tối ấy đã đưa nước Việt đến đau…
1 – Việc Giao Thiệp Với Nhà Minh
Trước năm Giáp Tí (1384) nhà Minh đã yên vị trên toàn cõi Trung Quốc bắt đầu dòm ngó nước ta. Họ thường cho sứ bộ qua lại nay yêu sách thứ này, mai đòi hỏi thứ kia không ngoài mục đích sửa soạn việc xâm lăng là điều thường lệ của các đế quốc Bắc phương từ trước đến giờ.
Năm Giáp Tí, nhà Minh đòi ta nộp 5.000 thạch lương cung cấp cho binh đội của họ tại Vân Nam. Năm sau ta lại phải đưa sang Kim Lăng 20 tăng nhân, gỗ quý và lương thảo. Triều đình nhất nhất tuân theo, không hề bàn luận đến cái nạn mất nước sờ sờ trước mắt.
Một hôm Thượng Hoàng Nghệ Tông đến thăm nhà chí sĩ Trần Nguyên Đán. Nguyên Đán là một vị tông thất vào bậc cố lão, thấy quốc chính rã rời rút về ở ẩn. Trong khi bàn việc nước, Nguyên Đán tâu: Xin Bệ hạ thờ nhà Minh như cha, coi Chiêm Thành như con, quốc gia mới có thể yên ổn mà hạ thần có chết cũng được ngậm cười nơi suối vàng…”
Thấy Quý Ly giữ ưu thế trong triều, Nguyên Đán kết thông gia với Quý Ly để san sẻ miếng đỉnh chung. Qua lời nói và việc làm của Trần Nguyên Đán ta thấy rõ cái tinh thần bạc nhược của giai cấp lĩnh đạo đời Trần mạt. Không còn ai tính chuyện khôi phục tình thế, tập hợp lại mọi lực lượng quốc gia để giữ vững bờ cõi, mà chỉ có những ý tưởng thoái bại cùng cầu an và chỉ tính chuyện con lưng vái lạy người ngoài để kéo dài cái kiếp sống thừa.
2 – Chiêm Thành Đả Phá Thăng Long
Năm Đinh Tỵ (1377) vua Duệ Tông ngã gục trước thành Đồ Bàn, Việt quân đại bại. Việc này làm tổn hại vô cùng uy thế của nước ta. Thắng được quân ta tại nội địa, người Chiêm không bỏ lỡ cơ hội ta đang suy bĩ, ngay tháng sau đem đại quân ra đánh Thăng Long. Triều đình cho quân giữ cửa Đại An (Hưng Yên). Giặc dò biết liền vượt qua cửa Thần Phù (sông Chính Đại, huyện Yên Mô, Ninh Bình) rồi cứ thế rầm rộ tiến vào Thăng Long. Quân ta không giữ nổi: giặc thỏa chí cướp phá.
Tháng 5 năm Mậu Ngọ (1378) quân Chiêm lại tấn công Nghệ An, theo sông Đại Hoàng vào đánh kinh thành lần nữa.
Năm Canh Thân )1380) họ lại quấy nhiễu hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An. Nghệ Tông cử Lê Quý Ly lĩnh thủy quân và Đỗ Tử Bình[5] dẫn lục quân vào chặn đánh quân Chiêm đang hoành hành ở đây. (Ngu Giang, huyện Hoằng Hóa thuộc Thanh Hóa) Lê Quý Ly giữ vững được phòng tuyến và đuổi được giặc.
Năm Nhâm Tuất (1382) Quý Ly cùng tướng Đa Phương lại xuất quân đối phó với quân Chiêm tại Thanh Hóa. Quân nhà Trần giữ bến Thần Đầu (Ninh Bình). Quân Chiêm không có đường tiến sâu vào đất ta như mọi lần, rồi bị đuổi ra khỏi đất Nghệ An.
Sau trận Ngu Giang và Thần Đầu, quân thế của ta bắt đầu vững cho nên ngay năm sau Thượng Hoàng lại cử Quý Ly đi chinh phạt Chiêm Thành. Cuộc xuất binh này bất lợi. Thủy quân vào tới cửa Nương Loan (bây giờ là huyện Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh) thì bị bão. Nhiều chiến thuyền bị đánh vỡ và đắm. Quân ta lại phải rút về. Việc này vào tháng giêng, thì tháng sau cùng năm Chế Bồng Nga lại cử binh bắc tiến, theo đường núi sấn vào đóng ở Quảng Oai. Tướng của ta là Mật Ôn giữ châu Tam Kỳ thuộc hạt Quốc Oai (Sơn Tây) bị Chiêm bắt mất. Địa điểm quan trọng này lọt vào tay giặc, Thượng Hoàng cùng Đế Nghiễn phải chạy sang Đông Ngạn (Bắc Ninh) giao việc giữ Kinh Thành cho tướng quân Đa Phương, tình cảnh thật là thảm hại.
3 – Âm Mưu Trừ Quý Ly Thất Bại
Tháng 8 năm Mậu Thìn, (Xương Phù thứ mười hai 1388), nhân có sao chổi hiện ở phương Tây, Đế Nghiễn đã lâu khó chịu về việc Thượng Hoàng tin dùng Quý Ly bàn với quan Thái Úy Thúc Ngạc (là con Thượng Hoàng Nghệ Tông, anh họ của Đế Nghiễn) và bọn Ngự Sử đại phu Lê Á Phụ, tướng quân Nguyễn Khoái, Nguyễn Văn Nghê, Nguyễn Khá, Nguyễn Bát Sách, Lê Lạc, học sinh Lưu Trường…mưu trừ Quý Ly. Nhữ Mai chầu học trong cung để lộ tin này ra ngoài. Quý Ly hoảng sợ bàn với thủ túc là Nguyễn Đa Phương và Phạm Cự Luận. Đa Phương khuyên quý Ly chạy ra ngoài núi Đại Lai (huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa) để lánh mình đã. Cự Luận nói:
- Một khi đã ra ngoài thì khó bề sống sót!
Quý Ly càng luống cuống nói:
- Hay là ta tự tận còn hơn để lọt vào tay người!
Cự Luận tiếp:
- Năm trước nhà vua đã giết Quang Phục Đại Vương Húc (con Thượng Hoàng Nghệ Tông) Thượng Hoàng hẳn còn căm, nay vua lại nghe lũ tiểu nhân sát hại công thần. Đại nhân nên vào ngay, tâu bày lợi hại rằng: Xưa nay chưa có ai bán con nuôi cháu. Chỉ có chuyện bán cháu nuôi con, đó là lời ca dao từ xưa đến nay. Xong việc thì xin lập Chiêu Đinh là tiện hơn cả (Chiêu Định tên là Ngang con vua Nghệ Tông). Quý Ly nghe theo vào mật tấu Thượng Hoàng và được như ý. Mấy hôm sau Nghệ Tông nói thác là sắp tuần du ngoài An Ninh (Hải Dương) sai vời Đế Nghiễn vào. Đế Nghiễn tới, Nghệ Tông truyền giam vào chùa Từ Phúc.
Sau Thượng Hoàng xuống chiếu như sau:
“Trước kia Duệ Tông đi đánh Chiêm không trở về, dùng con nối ngôi cha là theo đạo xưa nay. Nhưng quan gia từ khi lên ngôi chưa hết tính trẻ con, giữ đức thông thường, thân với lũ tiểu nhân Lê Á Phụ, Lê Dữ Nghị mưu hãm công thần làm lung lay xã tắc nên giáng xuống làm Minh Đức Đại Vương. Mà nước nhà không thể không vua, vậy nước Chiêu Định Vương Ngang nối mối lớn. Bá cáo trong ngoài đều cho nghe biết”.
Lúc giải Đế Nghiễn đi, bọn Nguyễn Khoái, Lê Lạc và đồng bọn muốn đem quân vào cướp vua, nhưng Đế Nghiễn viết hai chữ “giải giáp” và khuyên mọi người đừng trái mệnh Thượng Hoàng. Một lúc sau Đế Nghiễn bị đem xuống phủ Thái Đường thắt cổ chết. Bọn Nguyễn Khoái bị đày ra ngoài biên ải.
Ngoài ra những kẻ dự cuộc âm mưu, nhất là các tôn thấy như Trần Nguyên Diệu (em ruột Đế Nghiễn), Trần Nguyên Đĩnh (con anh ruột của Nghệ Tông là Cung Tĩnh Vương Trác) và Thiếu Bảo Trần Tông (Nguyên viện trưởng Lạc Kha thư viện ở cung Bảo Hà trên núi Phật Tích Bắc Ninh) đều bỏ chạy qua Chiêm Thành rồi đem quân về đánh lại. Tại Hoàng Giang bọn này bị Trần Khát Chân đánh bại. Nguyên Diệu bị giết, Nguyên Đĩnh, Trần Tông bị Quý Ly hạ lệnh bắt, liền đâm đầu xuống bể, còn dư đảng là Trần Thiêm Bình chạy qua Lào (Luang Prabang) sau này dẫn đường cho quân Minh sang chinh phục nước ta.
Còn một nhân vật trong phe phản động khó diệt trừ hơn cả là Thúc Ngạc bởi Thúc Ngạc là con vua Nghệ Tông. Quý Ly phải áp dụng một phương pháp khéo léo hơn. Trước khi Đế Nghiễn bị bỏ, Quý Ly vờ nói xin đề nghị Thúc Ngạc lên thay. Thúc Ngạc không nhận, nhân đó Quý Ly tâu với Nghệ Tông:
- Quan Thái Úy (tức Thúc Ngạc) từ ngôi vua là người có đức lớn xin gia phong cho xứng.
Nghệ Tông liền phong cho Thúc Ngạc làm Trang Định Vương. Ngạc nghe chuyện, biết quỷ kế của Quý Ly lấy làm sợ hãi. Quỷ kế đó là nâng cao kẻ địch để tỏ sự công bằng vì quyền lợi quốc gia rồi sau này sẽ hạch tội sẽ không có vẻ là vì tư thù. Quả vậy sau này Ngạc bị Quý Ly dèm pha luôn, liền bỏ trốn ra Vạn Ninh (Hải Ninh thuộc Móng Cái). Quý Ly xin Thượng Hoàng cho Ninh Vệ tướng quân Nguyễn Nhân Liệt đuổi theo triệu về, Quý Ly ngầm sai Nhân Liệt đánh chết Ngạc rồi về man tấu Ngạc kháng mệnh và đánh sứ giả nên bị chúng giết chết. Nghệ Tông giận lắm, truy giáng Ngạc xuống làm Man Vương.
XI. TRẦN THUẬN TÔNG (1388 – 1398)
- Chế Bồng Nga tử trận
- Cuộc cánh mạng của Hồ Quý Ly
Đế Nghiễn chết rồi, Thượng Hoàng lập con út của mình là Chiêu Đình Vương lên ngôi tức là vua Thuận Tông.
Lúc này các phần tử trọng yếu trong triều và ngoài quân đội đều ngã cả về Quý Ly hoặc hết thảy đều là tay chân của họ Hồ. Giặc dã nổi lên khắp lên. Tại Thanh Hóa Nguyễn Thành tự xưng là Linh Đức Đại Vương tung hoành ở miền Lương Giang. Nguyễn Kị xưng Lỗ Vương chiếm cứ Nông Cống.
Đáng chú ý hơn cả là bọn Phạm Sư Ôn, một tăng nhân lĩnh đạo đám thầy chùa chiêu tập được vài vạn quân vô lại nổi lên ở Quốc Oai (Sơn Tây), tháng chạp năm Kỷ Tỵ, hiệu Quang Thái thứ hai (1389) Phạm Sư Ôn có nhiều pháp thuật tiếm xưng Hoàng Đế phong Nguyễn Mai, Nguyễn Khả Hành làm Hành Khiển (tể tướng) chia quân ra làm ba vệ: vệ quân Thần Kỳ, vệ Dũng Đấu và Vô Hạn đem quân hùng hổ tấn công vào kinh đô.
Việc loạn của Phạm Sư Ôn lúc đầu rất có thanh thế và đã nhằm vào lúc vô cùng nghiêm trọng, nghĩa là giặc Chiêm đang uy hiếp quân ta ở Hoàng Giang gần sát kinh thành. Nghệ Tông Thượng Hoàng và Thuận Tông phải lánh mình sang Bắc Giang. Sư Ôn vào đóng ở kinh đô trong ba ngày sau lại lui về Nộn Châu (thuộc Quốc Oai).
Đối phó với quân Chiêm, Đô Tướng Trần Khát Chân đang xuất toàn lực chống đỡ mặt trận Hoàng Giang, vậy mà phải theo lệnh Quý Ly chia một phần binh đội do Tả Thánh Dực tướng quân Hoàng Phụng Thế cầm đầu do sông Miệt Giang (khúc sông nổi Hoàng Giang và Hát Giang) về dẹp Phạm Sư Ôn giữa lúc họ Hoàng đang cầm cự với tướng Chiêm là La Khải. Phụng Thế khai lòng sông cho tuyền tiến lên đánh úp được quân giặc. Bị đánh và bao vây bất ngờ Sư Ôn, Khả Hành và Nguyễn Mại bị bắt rồi bị giết cả.
Cuộc nổi loạn này cáo chung thì cái oai quyền của nhà chùa đối với dân chúng và các nhà cầm quyền cũng không còn mảy may nào nữa.
1 – Chế Bồng Nga tử trận
Trên đây đã có nói vụ loạn Phạm Sư Ôn nổ bùng ra đồng thời với việc quân Chiêm tấn công vào nước ta từ Thanh Hóa trở ra. Giai đoạn đầu quân Chiêm giữ được ưu thế. Quân của QuýLy đóng ở Cổ Võ đóng cọc ngăn sông, giữ được 20 ngày. Giặc giả vờ rút quân nhưng bên trong thì cho thi hành kế phục binh. Quý Ly đem hết quân thủy bộ đuổi theo bị giặc ùa ra đánh phá, giết được quân ta rất nhiều. Quý Ly chạy về Kinh, tì tướng là Nguyễn Đa Phương và Phạm Khả Vĩnh ở lại chống nhau với quân Chiêm ở Ngu Giang nhưng thấy thế giặc mạnh giả tảng dàn thuyền chiến để đánh nhưng đến đêm rủ nhau rút lui hết.
Qua tháng một, giặc lại uy hiếp ở mạn Hoàng Giang. Đô tướng quân Trần Khát Chân được cử đi chống nhau với giặc. Vua tôi cùng khóc giữa lúc quân tiến lên đường. Khát Chân đến Hoàng Giang không tìm được căn cứ thuận tiện liền xuống đóng ở Hải Triều (thuộc địa phận Hưng Nhân tỉnh Thái Bình).
Tháng giêng năm Canh Ngọ (1390) Chế Bồng Nga dẫn hơn 100 chiến thuyền tiến lại gần địa điểm của ta để dò xét trận thế. Một tên đầy tớ của họ Chế vì bị tội, trốn sang bên ta chỉ rõ thuyền của Chế đang đứng thị sát. Khát Chân liền tập trung hỏa lực bắn vòa thuyền của Chế Bồng Nga. Chiêm Vương trúng đạn bị chết, quân ta ùa ra đánh. Quân Chiêm bỏ chạy hết. Đầu Chế Bồng Nga được cắt đem về dâng vua. Thượng Hoàng tự ví mình như Hán Cao Tổ thay đầu Hạng Vũ.
Tướng Chiêm La Khải đem xác Chế Bồng Nga hỏa tang rồi thu quân về nước chiếm ngôi vua. Hai người con của Chế Bồng Nga chạy sang hàng nhà Trần được phong tước hầu.
Tháng chạp năm Giáp Tuất (1394) Thượng Hoàng Nghệ Tông qua đời, tính ra Ngài trị vì được 3 năm, làm Thượng Hoàng 27 năm, thọ 74 tuổi.
Phê bình Nghệ Tông tác giả Việt Nam Sử Lược viết:
“Nghệ Tông là một ông vua rất tầm thường: chí khí đã không có, trí lực cũng kém hèn, để cho kẻ gian thần lừa đảo, giết hại cả con cháu họ hàng, xa bỏ kẻ trung thần, nghĩa sĩ; cứ yêu dùng một Quý Ly cho nhiều quyền thế đến nỗi làm xiêu đổ cơ nghiệp nhà Trần.
Dầu rằng đến khi vận nước đã suy, không có điều này cũng có điều nọ tựa hồ người đã già không phải bệnh nọ thì cũng mặc bệnh kia, nhưng cứ sự thực mà xét cũng vì vua Nghệ Tông cho nên cơ nghiệp nhà Trần mới mất về tay Quý Ly, mà cũng vì sự rối loạn ấy cho nên giặc Minh mới có cớ mà sang cướp phá nước Nam trong 20 năm trời”.
Lời phê bình này chỉ căn cứ vào những việc đã xảy ra theo điều tai nghe mắt thấy và có thể áp dụng vào trường hợp của bất cứ một ôn vua nào khi mọt vương triều đến lúc suy mạt; đại khái mấy ông vua cuối cùng của nhà Lý, cũng như mấy vị hoàng đế chót của nhà Trần cho tới sau này con cháu của vua Lê Thái Tổ đều cũng vì những chỗ bất tài, bất lực mà mất ngôi. Định luật của lịch sử cũng như công lệ của Tạo Vật không ra ngoài nguyên tắc “Ưu thắng liệt bại”, như vậy thiết tưởng việc phê bình những ông vua bất lực không khỏi là làm một sự nhàm thường vô vị. Một vấn đề cần phải suy xét là cơ cấu của nền quân chủ Việt Nam về phương diện tổ chức và điều hành cùng mọi ảnh hưởng và mối tương quan của nó với đời sống của nhân dân qua lịch trình tiến hóa của dân tộc, chúng tôi sẽ xin bàn tới trong những trang dưới đây rồi do đó chúng ta sẽ thấy vì sao những ông vua cuối cùng của hầu hết các vương triều đã là nạn nhân của các chuyện đa đoan, bi thảm.
2 – Cuộc Cách Mạng Của Hồ Quý Ly
Hồ Quý Ly xuất thân chỉ là Chỉ Hậu Chánh Trưởng, một chức quan hầu trong cung điện, tháng 5 năm Tân Hợi (Thiệu Khánh thứ hai – 1371) dưới đời Nghệ Tông. Bước tiến trên hoạn lộ của họ Hồ đã nhanh như gió, chẳng bao lâu Quý Ly được thăng tới chức Đại Sứ Khu Mật và được kết duyên với em gái vua là Huy Ninh Công Chúa, vợ góa của tông thất Trần Nhân Vinh.
Tháng chín năm ấy Quý Ly được cử đi vỗ yên dân Nghệ An và được gia phong Trung Tuyên Quốc Thượng Hầu.
Tháng giêng năm Ất Mão (Long Khánh thứ ba – 1375) Duệ Tông cử Quý Ly kiêm chức Tham Mưu quân sự được toàn quyền định đoạt các việc quân và xếp đặt các thứ vị về võ, chỉ huy từ các tông thất trở xuống.
Năm Bính Thìn (1376) tháng chạp, cùng Duệ Tông đi đánh Chiêm, Quý Ly đảm nhận việc đôn đốc lộ Nghệ An, phủ Tân Bình, các châu Thuận Hóa, vận lương thực cho quân đội đến cửa bể Di Luân (thuộc Quảng Bình).
Tháng giêng năm Kỷ Mùi (năm Xương Phù thứ ba – 1379) dưới đời vua Đế Nghiễn (Hiễn) Quý Ly thăng chức Tư Không kiêm Khu Mật Đại Sứ.
Tháng hai năm Canh Thân (1380) Chiêm Thành cướp phá mấy tỉnh đường trong, Quý Ly lĩnh thủy quân, Đỗ Tử Bình lĩnh lục quân đi dẹp. Quý Ly đại thắng quân Chiêm ở Ngu Giang (phân lưu sông Mã nay thuộc phủ Hoàng Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Đỗ Tử Bình cáo ốm trả binh quyền. Quý Ly giữ luôn cả lục quân với danh hiệu Đô Thống Chế đạo Hải Tây.
Tháng ba năm Đinh Mão (1387), Quý Ly thăng chức Đồng Bình Chương Sự (tể tướng) được Nghệ Tông ban cho cờ kiếm đề hai câu: “Văn võ toàn tài, quân thần đồng đức”.
Tháng hai năm Giáp Tuất (năm Quang Thái thứ bảy – 1394) dưới đời vua Thuận Tông, Thượng Hoàng Nghệ Tông cho vẽ tranh Tứ Phụ ca tụng Quý Ly (Tranh Tứ Phụ vẽ bốn người hiền đời xưa có tài đức giúp vua giúp nước là Chu Công giúp vua Thành Vương nhà Chu, Hoắc Quang giúp vua Chiêu Đế nhà Hán, Gia Cát Lượng giúp vua Hậu Chúa nhà Thục Hán, và Tô Hiến Thành giúp vua Cao Tông nhà Lý).
Tháng hai năm Ất Hợi (Quang Thái thứ tám – 1395) đời Thuận Tông, Quý Ly lên chức cao hơn hết trong triều đình là Nhập Nội Phụ Chính Thái Sư Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, tước Tuyên Trung Vệ Quốc Đại Vương.
Tháng ba năm Mậu Dần (Quang Thái thứ mười một – 1398) Quý Ly tự xưng là Khâm Đức Hưng Liệt Đại Vương Quốc Tổ Nhiếp Chính.
Xét cái niên biểu trên đây, Quý Ly tiến nhanh không thể nói được và cũng không hề bao giờ bị giáng trong 27 năm, được Nghệ Tông và các vua nhà Trần trọng dụng mặc dầu gặp nhiều lực lượng phản động rất mạnh mấy phen định lật nhào họ Hồ trên cái thang danh vọng.
Ta hãy kiểm điểm những công việc Quý Ly đã làm để có một ý niệm xác đáng về nhà chính trị đó.
Cải Cách Chính Trị
Họ Hồ vừa bước chân vào trường chính trị đã để ý ngay tới việc cải cách quốc gia trên mọi địa điểm. Có xét kỹ chương trình cải cách của họ Hồ từ 1374, mới hiểu tình trạng nước ta vô cùng khó khăn và nguy quẫn vào cuối thế kỷ thứ XIV. Và cũng nhân đó ta mới thấy họ Hồ trong 27 năm quyền khuynh thiên hạ đã không hẳn được ngồi yên để hưởng công danh phú quý. Sự thật họ Hồ đã làm việc rất nhiều và có thiện chí đưa nước nhà đến chỗ hùng mạnh; nhất là họ Hồ có con mắt tinh đời trước cái nạn cường lân, ngoại địch khi có đang đe dọa trước mắt. Chỉ tiếc rằng trong 27 năm họ Hồ cầm chính quyền gặp nhiều trở lực nên các việc cải cách đã có nhiều phen bị ngưng trệ và sau khi lên ngôi tuy nhà Hồ vẫn xúc tiến các cuộc cách mạng quốc gia nhưng chưa được bao năm thì bị sụp đổ.
Đối với xã hội Việt Nam, một xã hội hoàn toàn nông nghiệp, xã thôn là nền tảng. Chế độ và tổ chức xã thôn xuất hiện từ đời Trần có đầy đủ nguyên tắc dân chủ vì xã thôn có những quy lệ riêng do các phong tục, tập quán được nhân dân tôn trọng, cấu tạo. Nó là ý dân ở từng địa phương một Nó đã gây nên một chế độ tiểu quốc gia trong một quốc gia và đã xây dựng được nền tự trị của nó về kinh tế, chính trị cũng như văn hóa. Câu “phép vua thua lệ làng” đủ tỏ cái uy tín của xã thôn đối với nhân dân Việt Nam, cũng như đối với các nha đương đạo, nhất là các xã thôn (đại tiểu, tư xã, đại tư xã, tiểu tư xã) lại do các quan từ lục phẩm trở lên là những người có học cầm cương nảy mực. Xã thôn có nhiều uy quyền nên đã phát triển được mọi sáng kiến mà vì đó nhiều tục lệ của xã thôn được các nhà đương đạo mặc nhiên công nhận.
Nhưng từ đời Nghệ Tông chế độ xã thôn cũng vì hoàn cảnh chung đời bấy giờ mà sinh ra nhiều sự đồi tệ. Quý Ly bỏ các ty xã, đặt chức quản giáp cũ thay thế, để việc cai trị bớt tính cách phân quyền và tránh cho nhân dân nhiều điều phiền phức.
Vừa lên chức Khu Mật Đại Sứ, Quý Ly đã đi kinh lý toàn hạt Nghệ An xem xét tình dân, rồi tháng 8 năm sau xin chiếu bắt các lộ làm sổ trướng tịch.
Tháng tư năm Đinh Sửu (Quang Thái thứ 10 – 1397) triều Thuận Tông, Quý Ly đổi các lộ ra trấn:
- Thanh Hóa đổi ra Thanh Đô trấn.
- Quốc Oai đổi ra Quảng Oai trấn.
- Đà Giang đổi ra Thiên Hưng trấn.
- Nghệ An đổi ra Tân An trấn.
- Trường An đổi ra Thiên Quantrấn.
- Diễn Châu đổi ra Vọng Giang trấn.
- Lạng Sơn phủ đổi ra Lạng Sơn trấn.
- Tân Bình phủ đổi ra Tân Bình trấn.
Cai trị các trấn vẫn là các An Phủ Chánh Phó Sứ. Phủ đặt chánh phó Trấn Phủ Sứ. Châu đặt Thông Phán, Thiêm Phán; Huyện đặt Lệnh Úy, Chủ Bạ. Lộ coi phủ, phủ coi châu, châu coi huyện. Lộ nào cũng phải lập sổ sách về việc đinh, điền, tiền, thóc, kiện tụng. Cuối năm phải đệ trình về Kinh để xét lại.
Tháng ba năm Canh Thìn (Kiến Tân thứ ba – 1400) đời Thiếu Đế (lúc này họ Hồ đã thay họ Trần) Quý Ly đặt chức Liêm Phòng Sứ ở mỗi lộ bí mật kiểm soát hành vi của các quan lại và dân tình không khác gì chức thanh tra chính trị và hành chính trị ngày nay. (Nhân đây cần phải nhắc rằng Quý Ly rất nghiêm đối với những kẻ vi phạm luật pháp và thượng lệnh. Tỷ dụ: Trong trận Ngu Giang, Quý Ly phái Thần Vũ tướng quân Nguyễn Kim Ngao, Thị Vệ tướng quân Đỗ Dã Kha tiến đánh giặc Chiêm. Kim Ngao thấy giặc mạnh quay thuyền trở lại. Tức thì Quý Ly cho chém đầu Kim Ngao để nghiêm quân luật trước sĩ tốt. Trận ấy quân ta thắng Chế Bồng Nga và từ đó Quý Ly chiếm cả quyền Thống Chế Binh Vụ của Đổ Tử Bình).
Trước năm Binh Tí (1396) theo đề nghị của Vương Như Chu, Quý Ly cho chỉnh đón lại phẩm phục của các quan:
Về áo:
Nhất phẩm mặc áo tím
Nhị phẩm mặc áo đỏ tươi
Tam phẩm mặc áo hồng
Tứ phẩm mặc áo lục
Ngũ, lục, thất phẩm mặc áo sắc biếc
Bát, cửu phẩm mặc áo sắc xanh
Về mũ:
Các quan văn từ lục phẩm trở lên đội mũ Cao Sơn. Võ từ lục phẩm lên đội mũ Triết Sung. Tông thất đội mũ Phương Thắng đen. Chức cao mà không có tước phong đội mũ Giốc Đinh. Thất phẩm đội mũ Thái Cổ. Tòng Thất phẩm đội mũ Tân Hoa; Vương Hầu đội mũ Viên Du, Ngự Sử Đài đội mũ Khước Phi (chưa khảo rõ được hình thức các thứ mũ). Do chỗ cải cáh này ta hiểu về phẩm phục trước đời Quý Ly chưa có thứ tự. Việc này tuy không quan trọng nhưng tỏ rằng Quý Ly không những chỉ lo các việc lớn mà còn nghĩ đến cả việc nhỏ.
Cải Cách Quân Sự
Ngay từ tháng 8 năm Quý Sửu (Long Khánh nguyên niên – 1374), Quý Ly đã cho sửa đổi lại việc quân,d dóng nhiều chiến thuyền và tuyển mộ trai tráng chia làm ba hạng sung vào quân địch. Để tránh việc ẩn lậu, Quý Ly cho làm sổ hộ tịch ghi tên những người từ 2 tuổi trở lên. Số người có thể động viên (từ 15 tuổi đến 60) hơn gấp mấy phần lúc trước.
Cũng ngày này năm sau đặt thêm quân hiệu: trước kia quân Túc Vệ chia ra làm bốn Thiên, bốn Thánh, bốn Thần nay đặt thêm các quân Uy Tiệp, Bảo Tiêp, Long Dực, Thần Dực, Điện Hậu phân biệt bằng các màu sắc trên trán như sau:
Quân Túc Vệ trán vẽ đen, quân mới tuyển trán nhuộm tím. Thanh Hóa, Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa đặt quân hiệu riêng.
Tháng giêng năm Mậu Ngọ (Xương Phù thứ hai – 1378) những người khỏe mạnh, am hiểu võ nghệ được lựa làm Vệ sĩ giám đốc việc quân. Trần Ngoạn được cử làm quản quân Thiên Đình, Bùi Hấp quản quân Thiên Uy, Hoàng Phụng Thế quản quân Thánh Dực, Trần Thế Đăng quản quân Thần Dực, Bùi Bá Ngang quản quân Thần Sách, Nguyễn Kim Ngao quản quân Thần Vũ, Trần Trung Hiếu quản quân Bảo Tiệp, Trần Bang quản quân Thị Vệ, Nguyễn Văn Nghê quản quân Thiết Giáp, Nguyễn Hộ Lê quản quân Thiết Liêm, Nguyễn Khánh Dư quản quân Thiết Hộ, Trần Quốc Hưng quản quân Ô Đồ.
Quý Ly lại đặt thêm chức Đô Đốc, Đô Hộ, Đô Thống, Tổng Quản, Thái Thú bên cạnh các Anh Phủ Chánh Phó Sứ các lộ, các phủ. Hồi đó con trai Hồ Quý Ly là Hồ Hán Thương lĩnh chức Đông Đô Đô Hộ Phủ; Thái Bảo Trần Nguyên Hãng lĩnh Bắc GIang Đô Thống Phủ; Trần Nguyên Trữ lĩnh Tam Giang Đô Thống phủ, Thiếu Bảo Vương Nhữ Chu cọi mọi việc quân dân Thiên Trường phủ; Hành Khiển, Hà Đức Lân kiêm Thái Thú Tân An phủ.
Dưới đời Hồ Hán Thương, Nam Bắc phân ra làm 12 vệ. Đông Tây phân làm 8 vệ. Mỗi vệ có 18 đội. Mỗi đội có 18 người. Đại quân có 30 đội. Trung quân có 20 đội. Mỗi doanh có 15 đội. Mỗi đoàn có 10 đội. Còn những Cấm vệ thì chỉ có 5 đội do một đại tướng thống lĩnh. Tổng số quân đời bấy giờ có chừng 10 vạn.
Về thủy quân để đề phòng các ngã sông và các cửa bể. Quý Ly hạ lệnh choc ác địa phương đóng cọc gỗ để chặn đường tiến của giặc và cho sửa lại các chiến thuyền theo lối mới gọi là thuyền Cổ Lâu, thứ thuyền lớn đóng bằng sắt ở trên ở sàn đi, ở dưới cứ hai người chèo cho chống một dầm, rất tiện việc chiến đấu (1405 – 1406).
Đặt ra bốn kho quân khí tức là xưởng công binh, tuyển các thợ giỏi để chế tạo khí giới.
Đáng để ý, Quý Ly rất lưu tâm từ lâu đến việc mở mang quân đội để bành trướng thế lực của mình và để đề phòng việc ngoại xâm. Quý Ly hiểu rõ nhà Minh thế nào cũng có dịch động binh qua đất Việt dù chính sách ngoại giao của Trần triều thuở đó rất mềm dẻo. Tới khi nắm được hết quyền hành trong tay (1400) Quý Ly thiết tập ráo riết chế độ quân sự khắp nước, biết rằng việc bang giao với Minh triều, sớm muộn sẽ đứt đoạn, chẳng vậy ông thường tỏ lòng thắc mắc với quần thần: “Làm thế nào có nổi trăm vạn quân để chống nhau với giặc Bắc?”
Xét các cuộc va chạm với Chàm dưới toàn thịnh của họ, ta phải công bằng mà nhận rằng năm Canh Thân (Xương Phù thứ tư – 1380), Chế Bồng Nga phải bỏ chạy, và năm Canh Ngọ (Quang Thái thứ ba – 1390) họ Chế phải bỏ mạng trên dòng Hoàng Giang là nhờ ở sự cải cách binh bị và quân kỷ sắt thép của họ Hồ.
Cải Cách Kinh Tế
Các nhà trí thức khảo duyệt hành động của các nhân vật lịch sử đều nhận rằng những cải cách kinh tế và văn hóa của Hồ Quý Ly là một điều xuất sắc đặc biệt nhất từ xưa đến nay. Lời khen người đó có đúng chăng?
Thuở đó nhà chính trị họ Hồ đã đứng trước một xã hội Việt Nam đầy đói khổ, một chính phủ với kho tàng rỗng tếch, cuộc khủng hoảng tinh thần và vật chất lan tràn từ triều đường ra tới các nơi dân dã. Bằng cách gì nhà chính trị đó xoay đổi lại thời cục?
Để cứu nạn đói, vì nạn đói sinh ra loạn ly, chính sách quyên thóc được thi hành. Ai có thóc cúng cho Nhà nước thì được phong tước tùy theo chỗ hằng tâm, hằng sản nhiều ít. Năm Kỷ Mão (Long Khánh thứ ba – 1370) có Chiếu bắt buộc các nhà giàu ở các Lộ phải nộp thóc cho Nhà nước đổi lấy tước phẩm.
Để tập trung các tài nguyên quốc gia vào tay chính phủ, Quý Ly cho phát hành tiền giấy vào năm Đinh Sửu (1397) điều chưa hề có ở nước ta từ thượng cổ đến bấy giờ. Tiền giấy tiện lợi cho việc lưu thông và việc thương mại thế nào ai nấy đều biết và ta cũng nên nhớ rằng các tư gia thuở xưa sợ loạn ly hay có thói tích trữ và chôn dấu tiền bạc. Việc đó rất có ảnh hưởng cho nền kinh tế quốc gia đối với bất cứ thời nào. Tiền giấy có 7 hạng:
- Giấy vẽ rêu bể ăn: 10 đồng tiền
- Giấy vẽ song nước ăn: 30 đồng tiền
- Giấy vẽ đám mây ăn: 1 tiền
- Giấy vẽ con rùa ăn: 2 tiền
- Giấy vẽ con lân ăn: 3 tiền
- Giấy vẽ con phượng ăn: 5 tiền
- Giấy vẽ con rồng ăn: 1 quan
Ai làm tiền giấy giả phải tội tử hình, tịch thu tài sản. Ai có một quan tiền thực được đổi lấy một quan hai tiền giấy. Tiền đồng phải đem nộp kho đổi lấy tiền giấy. Người nào dấu diếm và mang tiêu sẽ phải tội như người làm tiền giấy giả vậy.
Đồng thời với việc phát hành tiền giấy, Quý Ly ban hành các đồ đo lường (Cân, thước, đấu, thưng) để dân gian có độ mực nhất định trong việc buôn bán. Chức Giám Thị được đặt ra để kiểm soát việc buôn bán và các điều luật thương mại, cấm nhân dân tự ý tăng giá hàng và đóng cửa hàng, mục đích tránh nạn đầu cơ, tích trữ và giữ giá trị cho tiền giấy của Nhà nước.
Năm Nhâm Thìn (1401), có lập ra một thứ thuế đánh vào các thuyền buôn. Thuyền buôn chia ra làm ba hạng: hạng nhất phải nộp mỗi chiếc 5 quan, hạng nhì 4 quan, hạng ba 3 quan.
Việc buôn bán hồi đó bắt đầu phát đạt mặc dầu dân chúng vẫn chuyên về nông nghiệp. Năm Mậu Dần (1398) Quý Ly hạ lệnh đo đạt lại ruộng đất, hạn cho các quan lại địa phương phải chu tất việc này trong 5 năm vì nhiều ruộng đất có sự ẩn lậu. Các quan lộ, phủ, châu, huyện phải sức cho các điền chủ khai rõ số ruộng đất mình có rồi biên họ tên vào một cái thẻ cắm trên thuở ruộng. Một Hội đồng gồm cá quan địa phương thân hành đến tận nơi kiểm soát và đo lại rồi lập thành điền bạ. Thuở ruộng nào không có người khai sẽ lấy làm công điền (Việc này tiếc thay chưa làm xong thì nhà Hồ đã mất). Do việc đạc điền, Nhà nước thây được thêm tiền thuế và có thêm một số ruộng công để chẩn cấp cho dân nghèo.
Cải Cách Xã Hội
Trong chương trình cải cách xã hội, Quý Ly còn đi mạnh hơn nữa. Đó là việc phân chia lại điền địa vào năm Đinh Sửu (1397), là năm QUý Ly đã leo lên tới bực chót của cái thang danh vọng. Xét ra, nếu Quý Ly không nắm được ưu thế tuyệt đối về quyền hành thì khó lòng mà thi hành được sáng kiến này.
Có lẽ ông đã nhận thấy chế độ tư hữu tài sản của Trần triều bành trướng quá mạnh đang ảnh hưởng tai hại cho đời sống của dân tộc, do nhân khẩu mỗi ngày tăng gia mội nhiều thêm, không có cách gì dẹp yên các mầm loạn hơn là cách hạn chế tư sản để cứu vãn cơm áo của đại chúng. Họ Trần trước đây đã khai sinh ra chế độ Nô, Tỳ, Hoành, là một chế độ nông nô dùng vào việc đắp đê, ngăn nước mặn ngoài biển để mở ruộng lập thành trang trại. Những trang trại đó đã vì mồ hôi nước mắt của dân nghèo mà có thì nay trả lại cho dân nghèo để họ có kế sinh nhai. Nay theo tân sách, trừ các bậc đại vương và trưởng Công chúa, không ai được cấy quá 10 mẫu ruộng. Số ruộng thừa phải nộp cho Nhà nước. Ngoài ra, ai có tội hay bị giáng truất đều được lấy ruộng để chuộc tội, đủ hiểu chính sách cải cách điền địa được áp dụng mọi phương tiện thích nghi và rất rộng rãi.
Đi đôi với việc trên, việc sưu thuế cũng được sửa đổi lại. Mỗi mẫu tư điền theo chế độ cũ (thuế đinh có từ đời Trần) phải nộp 3 thăng thóc. Mỗi mẫu dân nộp từ 7 quan đến 9 quan. Thuế đinh mỗi xuất nhất luật phải nộp 3 quan (theo đề nghị của Đổ Tử Bình được thi hành từ năm Mậu Ngọ, Xương Phù thứ hai – 1378)
Năm Nhâm Ngọ (1402), họ Hồ định lại: ruộng tư điền mỗi mẫu phải nộp 5 thưng. Ruộng dâu chia làm 3 hạng: hạng nhất đóng 5 quan, hạng nhì 4 quan, hạng ba 3 quan. Thuế thân tùy theo hoàn cảnh riêng của mỗi người. Hạng vô sản và cô nhi, quả phụ được miễn. Hạng có 5 sào, phải nộp 5 tiền giấy. Hạng có từ 6 sào đến 1 mẫu, phải nộp 1 quan tiền giấy. Hạng có 1 mẫu 1 sào đến 1 mẫu 5 sào, nộp 1 quan 5 tiền giấy. Hạng có 1 mẫu 6 sào đến 2 mẫu phải nộp 2 quan tiền giấy. Hạng có 2 mẫu 1 sào đến 2 mẫu 5 sào đều phải nộp 2 quan 6 tiền giấy. Hạng có 2 mẫu 6 sào trở lên nộp 3 quan tiền giấy.
Riêng việc sửa đổi về sưu thuế này không có lợi mấy cho dân, trái lại dân chúng phải đóng góp nặng hơn trước. Theo chế độ cũ đã thi hành đến năm Mậu Ngọ (1378), thuế thân vẫn tính theo số ruộng: ai có một hai mẫu ruộng mỗi năm phải đóng 1 quan tiền. Ai có ba bốn mẫu phải đóng 2 quan. Ai có 5 mẫu trở lên phải đóng 3 quan. Nhưng tổng quát mà nói chế độ mới vẫn có lợi cho dân hơn chế độ cũ. Có lẽ từ năm Mậu Ngọ (1378) đến năm Nhâm Ngọ (1402), việc áp dụng đề nghị của Đỗ Tử Bình đã gây nhiều ác cảm trong dân chúng nên Quý Ly có ý cải cách để thu phục lại nhân tâm.
Cùng theo một đường lối với việc cải cách điền địa, Quý Ly hạn chế cả việc dùng dân nghèo làm nô lệ. Ông đã không dung việc lạm quyền của giai cấp phong kiến, quý tộc, quan liêu, chia tay nhau tài sản quốc gia, lẽ tất nhiên ông phải bài trừ nối việc bóc lột sức lao động của đám dân cùng đường, lỡ bước trở nên tôi mọi.
Xưa kia, các vương tôn, tông thất được thu dụng rất nhiều đầy tớ, nay mỗi nhà quý tộc chỉ được một số tùy theo phẩm trật. Số thừa phải trả lại cho Nhà nước. Đầy tớ được phân biệt bằng các dấu trên trán:
- Đầy tớ của Nhà nước vẽ hỏa châu. Đầy tớ của Công Chúa vẽ dương đương. Đầy tớ của nhà đại vương có một khoanh đỏ. Đầy tớ của các quan nhất, nhị phẩm có một khoanh đen. Từ tam phẩm trở xuống 2 khoanh đen.
Việc hạn nô này còn có một ý định sâu sắc về chính trị nữa là giảm bớt thế lực của các quý tộc trung thành với hộ Trần hay là đám tông thất có quyền lợi sinh tử với vương triều.
Cứu vãn vấn đề dân sinh và nạn nhân mãn ở Trung Châu sông Nhị bấy giờ đang rất nguy ngập bằng cách chia lại ruộng đất, họ Hồ có lẽ chưa thỏa ý, vì cung nhường chưa đủ cho cầu, nên họ Hồ lại di chuyển những dân cùng vào làm ăn các miền đất đai mà chúa Chiêm là Ba Đích Lại thua trận năm Nhâm Ngọ (1402), phải dâng cho nước ta: đất Chiêm Động và Cổ Lũy. Quý Ly chia hai nơi này ra làm 4 châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, đặt lộ Thăng-Hoa để chi phối bốn châu. Chỗ giáp giới đất Chiêm thì đặt ra trấn Tây Ninh. Nguyễn Cảnh Chân được làm An Phủ Sứ lộ Thăng Hoa.
Dân nghèo được tổ chức thành đoàn như quân đội, đưa cả vợ con đi theo, chia nhau chiếm hữu cá nơi đất mới để khẩn hoang và lập nghiệp. Họ phải thích ở trên cánh tay tên châu mình trú ngụ. Vấn đề trâu bò cũng được giải quyết: Ai nộp cho Nhà Nước trâu bò để cấp cho di dân đều được ban phẩm tước.
Năm Quý Mùi (1403), Quý Ly lập Quảng Tế Thự (tức là bệnh viện của chính phủ ngày nay) để chữa bệnh cho mọi người. Nguyễn Đại Năng là một thầy chuyên môn về khao châm cứu được cử ra trông nom.
Để giải quyết nạn đói sau những vụ giặc giã, lụt lội, hạn hán, Quý Ly cho lập ở mỗi lộ một kho thóc gọi là kho Thương Bình (theo kiểu kho của quan lại Tư Nông đời Hán Tuyên Đế, 73 – 49 trước Công Lịch), lấy tiền công mua thóc lúc giá hạ rồi bán rẻ cho dân lúc khó khăn hoặc đem chẩn cứu cho dân cùng. Hơn nữa, triều đình còn sức các lộ quan kiểm điểm số thóc của các đại điền chủ rồi đứng ra bán cho dân, dĩ nhiên Nhà nước định một giá hợp với hoàn cảnh của các người túng thiếu.
Ngoài ra, ở các miền bể, triều đình cho đắp đê ngăn cản nước mặn để lấy thêm ruộng đất do dân và khai thác các bến, các sông vùng Thanh Hóa, Nghệ An cho sự chuyên chở, buôn bán thêm phần thuận tiện.
Cải Cách Văn Hóa
Nho giáo và tư tưởng của các hiền giả Trung Quốc từ Lý qua Trần được dân ta hết sức suy tôn. Chữ Nho giữ một ưu thế đặc biệt trong văn học và các giấy tờ hành chánh. Chữ Nôm dưới đời Trần mới chỉ được dùng trong các thi ca mà thôi.
Cờ đến tay, Quý Ly vốn có tinh thần cải cách và óc độc lập, tự tin liền đề cao vai trò của văn chương quốc âm và dám lật nhào cả những lý thuyết bất khả xâm phạm qua bao nhiêu thế kỷ của các thánh hiền Trung Quốc.
Năm Đinh Mão (Xương Phù thứ mười một, 1387), được Thượng Hoàng Nghệ Tông ban cờ kiếm, Quý Ly làm một bài thơ Nôm để tạ ơn. Năm Kỷ Hợi, Quang Thái thứ mười tám – 1394, Quý Ly dịch thiên Vô Dật trong Kinh Thi là thiên chép lời của Chu Công ra quốc âm để dạy vua Thuận Tông. Năm Đinh Sửu (1396), Quý Ly dịch xong pho Kinh Thi dạy các nữ quan, hậu phi và cung nữ. Ông bỏ bài tựa của Chu Hy ở đầu sách rồi đề bài soạn ra sách Minh Đạo (đề sáng tỏ đạo Nho) dâng lên Nghệ Tông năm Nhâm Thân (Quang Thái thứ năm 1392), đáng kể là một cuốn sách phê bình triết học đầu tiên ở nước ta sau này, gồm 14 thiên khen Chu Công hơn Khổng Tử, tôn Chu Công làm bậc tiên thánh, Khổng Tử làm Tiên Sư và nêu 4 chỗ đáng ngờ:
a) Khổng Tử đến chơi nhà hàng Nam Tử.
b) Khổng Tử hết lương ở nước Trần.
c) Và d) Công Sơn Phất Nhiễu, Phất Bạt với Khổng Tử, Khổng Tử muốn đi.
Cũng trong sách này, Quý Ly kết tội Hàn Dũ, một danh sĩ đời Đường, đã bài Phật rất kịch liệt là “Đạo Nho” (nhà nho ăn trộm) và cho rằng các hiền giả đời Tống (như Chu Mậu Phúc hiệu Liêm Khê, Trình Hiếu, Trình Di, Dương Thì, Lý Duyên Niên, La Trọng Tố, Chu Tử (tức Chu Hy hiệu Hối Am) có học rộng nhưng tài thường, không có tinh thần thực tế, chỉ chuyên nghề cắp lột văn chương tư tưởng.
Ông Chu Thiên cho rằng chiếc roi mà họ Hồ đã quật vào mặt các nhà hiền giả kể trên có điều oan uổng vì họ Hồ quá thiên về thực hành mà quên mất điều trọng là hoàn cảnh thực tại chi phối các hiền giả đó. Muốn sao, ta cũng phụ họ Hồ có một tinh thần độc lập, chịu suy xét, dám tự tin, dám hoài nghi, không a dua hót bậy, nịnh sằng như đám nho sĩ trước và sau đấy chẳng riêng gì ở Việt Nam. Nếu trong tư tưởng giới của ta hay của Trung Quốc có nhiều nhân vật lỗi lạc như họ Hồ, có lẽ văn minh, học thuật Á Đông còn rạng rõ hơn nữa.
Năm Đinh Sửu (1387), Quý Ly cũng sửa đổi việc học hành. Ông lại bỏ lối kén nhân tài bằng khoa cử mà bằng lối tuyển cử.
Họ Hồ đặt ra ngạch học quan, xét việc học chỉ có tổ chức ở kinh thành, mà ở các châu, huyện thì hoàn toàn thiếu sót. Ông sức cho các lộ Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Đông, mỗi phủ, châu, phải đặt một viên học quan lo việc giáo hoán thanh niên. Nhà nước trích hoa lợi ruộng công cung cấp một phần vào việc học hành, đèn sách, một phần làm lễ sóc theo tỉ lệ: phủ, châu lớn 15 mẫu, phủ, châu vừa 12 mẫu, phủ, châu nhỏ 10 mẫu. Các lộ quan phải liên lạc mật thiết với các học quan để xúc tiến việc giáo dục. Mỗi năm phải kén người giỏi tiến Kinh để vua thân ra bài thi và tuyển lựa làm quan.
Nhưng đến năm 1397, tức năm Quang Thái thứ 9, có lẽ việc tuyển cử không thuận tiện nên Quý Ly đành trở lại lối thi cử dưới đây. Trước đó việc thi không có định thể, nay Quý Ly định làm tứ trường văn thể mà bỏ phép Ám Tả: trường đệ nhất làm bài Kinh Nghĩa có đủ mấy đoạn: phá đề, tiếp ngu, tiểu giảng, nguyên đề, đại giảng, triết kết, hạn từ 500 chữ trở lên. Trường đệ tam ra chiếu, chế, biểu (chiếu dùng thể văn đời Hán, chế biểu dùng lối văn tứ lục đời Đường). Trương đệ tứ thi văn sách, hỏi kinh sử hay thời vụ, hạn 1000 chữ trở lên. Ngoài ra, cứ thi Hương năm trước thì thi Hội năm sau. Các thí sinh trúng tuyển còn phải qua một kỳ văn sách nữa do chính nhà vua ra đầu đề để định trên dưới.
Đến năm Giáp Thân (1040), là khi nhà Hồ đã ra đời, việc thi lại sửa đổi nữa. Họ Hồ đặt thêm một trường nữa để thi viết và làm toán pháp. Đó là kỳ chung kết. Những người đã đỗ Hương Thí, sang năm phải qua bộ Lễ thi lại, có đỗ mới được tuyển dụng rồi năm sau nữa mới thi Hội. Vượt được kỳ thi này mới được là Thái Học Sinh. Những người đỗ Hương Thi được miên phu phen, tạp dịch, năm sau phải thi lại ở bộ Lễ nếu trúng tuyển được bổ chức quan nhỏ. Việc cải cách về thi cử này, có lẽ đã phỏng theo lề lối của nhà Nguyên…
Đứng trước những việc cải cách trên đây, ai đọc sử hay nghiên cứu Lịch sử nước nhà đều nhận thấy Hồ Quý Ly là một nhân vật có kỳ tài, có óc thông minh thực tế phi thường, có đức tính cương quyết và nhẫn nại.
Trên khắp mọi địa hạt, không những ông có nhiều sáng kiến, ông lại có một tinh thần cấp tiến mạnh mẽ, hướng về đại chúng nó làm ông xa hẳn những người đương thời, nhất là giới quý tộc, phong kiến đã vì những việc cải cách trên đây mà căm thù ông kịch liệt.
Cuộc Đảo Chính Của Hồ Quý Ly
Tháng giêng năm Đinh Sửu (Quang Thái thứ mười 1397) Quý Ly cho khởi công việc xây thành Tây Đô ở động Yên Tôn (nay còn dấu vết ở huyện Vĩnh Lộc, tục gọi là Tây Giai), lập miếu xã, mở mang phố phường rồi thiên cả triều đình vào kinh đô mới. Các dân hạt Từ Liêm, Nam Sách phải vận tải gạch, ngói, gỗ, lại, đến Tây Đô.
Việc thiên đô này cần cho sự thoán đoạt được dễ dàng, có lẽ vì Tây Đô địa thế hiểm trở, tiện đường hành quân lui tới theo dọc Trường Sơn hoặc muốn dễ xa dư luận sĩ phu Bắc Hà lòng còn quyến luyến họ cũ, lại có thể dễ đề phòng họa xâm lăng của nhà Minh nữa bởi Thăng Long ở giữa đồng bằng không lợi cho cuộc kháng chiến với giặc mạnh. Ngay tháng 10 năm ấy, nhân vua Thuận Tông ngự giá yết lăng ở An Sinh (Đông Triều), Quý Ly cho lệnh dong thuyền thẳng vào sông Đại Lai. Giờ đó làm thế nào cho việc thay bậc đổi ngôi được êm dịu, nhất là lời thề cùng vua Nghệ Tông tháng tư năm Giáp Tuất (1394) còn văng vẳng[6].
Quý Ly liền lợi dụng đạo sĩ Nguyễn Khánh vào cung thuyết vua Thuận Tông nên đi tu tiên để lánh việc đời đầy hệ lụy. Vua Thuận Tông nghe theo, truyền ngôi cho Hoàng Thái Tử Án, sau lời Chiếu ban hành vào tháng ba năm Mậu Dần (1398) đại ý như sau:
“Trẫm sớm hâm mộ trận gió huyền, không có lòng ở chốn nhà vàng, đức bạc mà giữ ngôi cao, khó lòng kham nổi. Huống chi bệnh tim thường cứ phát luôn có hai phương hại đến tông xã và chính trị. Lời thề buổi trước, quỷ thần đều đã nghe thấy nên nay nhường ngôi để nối lâu dài nền lớn. Hoàng Thái Tử Án lên ngôi vua, có Phụ Chính Thái Sư Lê Quý Ly lấy địa vị Quốc tổ nhiếp chính. Trẫm tư làm Thái Thượng Nguyên Quân Hoàng Đế, ăn chay ở cung Bảo Thanh, cho thỏa lời nguyền thuở trước”.
Thái Tử Án bấy giờ mới lên ba.
Rồi Thuận Tông cũng không ra ở cung Bảo Thanh nữa, ngài dời ra ở Ngọc Thanh Quan, thuộc huyện Đông Triều, tỉnh Hải DƯơng. Tháng tư năm sau (1399) nội tẩm học sinh là Nguyễn Cẩn được Quý Ly sai ra giết. Thấy Nguyễn Cẩn có cử chỉ khác thường, Thuận Tông chột dạ hỏi:
- Mày ra chầu ta có ý định gì?
Nguyễn Cẩn không nỡ nói ra điều y phải làm và cũng không đành lòng rat ay. Quý Ly liền đưa thư ra cho Cẩn nói:
“ Nguyên Quân không chết, mày sẽ chết thay”, Cẩn phải dâng thuốc độc. Thuận Tông uống cũng vẫn không chết. Sau đến Xạ Kỵ tướng quân Phạm Khả Vĩnh đến thắt cổ Thuận Tông mới xong.
Nhà Trần đến đây là hết, sau 175 năm ở ngôi với 12 đời vua.
Chú thích:
[1] Việc phân phối trách nhiệm quân vụ như sau đây:
- Trần Bình Trọng đóng đồn trên sông Bình Than.
- Trần Khánh Dư giữ mặt Vân Đồn (Quảng Yên)
- Trần Hưng Đạo đóng đại quân ở Vạn Kiếp (Hải Dương) để tiếp sức cho cả hai mặt thủy bộ đi khắp nơi.
[2] Trong khi Ô Mã Nhi ngoài bể tiến vào để hợp lực với Toa Đô ở Nghệ An đánh ra, Trần Quang Khải phải bỏ mặt trận Nghệ An. Trấn thủ Nghệ An là thân vương Trần Kiện đem cả nhà ra hàng Toa Đôv à được đưa về Yên Kinh. Hưng Đạo Vương cho người đi đường tắt đuổi bắt Trần Kiện đến Lạng Sơn thì bị quan quân đuổi kịp bắn chết. Người nhà là Lê Tức cướp được thây đem chôn ở gò Ôn Khẩu (Lạng Sơn) rồi trốn qua đất Nguyên. Sau Lê Tắc ở Tàu viết bộ sử An Nam Chí Lược hiện giờ còn ở bên Tàu và Nhật. Quyển sử này có luận điệu hoàn toàn Việt gian. Đáng tiếc y cũng như Trần Ích Tắc là những danh nho đời bấy giờ.
[3] Theo Cương Mục quyển 8, tờ 4a-5b, thì thuyền lương của giặc bị cướp phá ở cửa Lục. Còn Toàn Thư quyển 5, tờ 54a-b nói Trương Văn Hổ bị hại ở Bặc Đằng.
[4] Có sách chép là Đế Hiển
[5] Đỗ Tử Bình lại được phục chức cũ
[6] Nghệ Tông vào năm tháng cuối cùng cũng có ý lo Quý Ly cướp ngôi, sai thợ vẽ tranh tứ phụ tỏ ý ca ngợi và mong Quý Ly giúp dòng họ mình như Chu Công, Hoắc Quang, Gia Cát Lượng và Tô Hiến Thành. Tháng tư năm Quang Thái thứ bảy, lễ hội thề xong, Nghệ Tông báo Quý Ly: Bình Chương là họ thân, việc lớn nhỏ của nước nhà đều được ủy hết. Nay nước đang suy nhược, trẫm lại già yếu nếu quan gia có thể giúp được thì giúp, bằng tầm thường ngu tối thì Khanh tự làm lấy!
Quý Ly cởi mũ, dập đầu khóc tạ, chỉ lên trời thề:
- Hạ thần không hết lòng giúp vua nước xin trời chu bất diệt!... Xin bệ hạ soi xét lòng thần, chớ quá lo xa vậy