Tối đó, Grant đã tắt đèn bên giường và lơ mơ chìm vào giấc ngủ thì một giọng nói trong tâm trí anh cất lên: “Nhưng Thomas More là Henry Đệ Bát.”
Điều này làm anh bừng tỉnh hẳn. Anh lại bật đèn lên.
Tất nhiên, tiếng nói đó không ngụ ý rằng Thomas More và Henry Đệ Bát là cùng một người, mà rằng trong chuyện gom các nhân vật vào các ngăn hộc theo quân chủ trị vì, Thomas More thuộc về thời của Henry Đệ Bát.
Grant nằm nhìn vào vùng sáng mà cây đèn của anh hắt lên trần và suy ngẫm. Nếu Thomas More là quan Chưởng ấn của Henry Đệ Bát, vậy thì ông này chắc chắn đã sống qua trọn thời kỳ trị vì kéo dài của Henry Đệ Thất cũng như thời trị vì của Richard Đệ Tam. Có điều gì không đúng ở đâu đó.
Anh với lấy quyển Lịch sử về Richard Đệ Tam của More. Quyển sách có lời nói đầu là tóm tắt về cuộc đời More mà anh đã chẳng mất công đọc. Lúc này anh giở lại phần này để tìm hiểu xem liệu More có thể vừa là sử gia viết về Richard Đệ Tam vừa là quan Chưởng ấn của Henry Đệ Bát hay không. More bao nhiêu tuổi khi Richard kế vị?
Ông ta mới năm tuổi.
Khi cảnh tượng đầy kịch tính tại Nghị viện diễn ra trong tháp London, Thomas More mới năm tuổi. Ông ta mới tám tuổi khi Richard tử trận ở Bosworth.
Mọi thứ trong quyển lịch sử này đều là nghe kể lại.
Và nếu có một cụm từ mà một cảnh sát căm ghét hơn hết thì đó là “nghe kể lại”. Đặc biệt khi áp dụng cho bằng chứng.
Anh cảm thấy ghê tởm tới mức quẳng quyển sách quý giá xuống sàn trước khi nhớ ra đó là tài sản của một Thư viện Cộng đồng, anh chỉ được tạm mượn nó và cũng chỉ trong mười bốn ngày mà thôi.
More chưa từng biết Richard Đệ Tam. Kỳ thực ông ta lớn lên dưới thời trị vì của triều Tudor. Quyển sách đó là Kinh Thánh cho toàn thế giới lịch sử về chủ đề Richard Đệ Tam - chính từ bản tường thuật này Holinshed đã chọn lấy tư liệu cho mình, và cũng từ nó Shakespeare đã viết nên vở kịch của ông, và ngoại trừ việc More tin tưởng những gì mình viết là thật, quyển sách cũng chẳng có giá trị hơn những gì anh lính đã nói [15] . Đó là thứ mà cô em họ Laura của anh vẫn gọi là “tuyết bám trên ủng họ”. Một biến cố “thực như Phúc âm” được một người khác chứ không phải người tường thuật nhìn thấy. Việc More có một đầu óc phê phán và sự chính trực đáng ngưỡng mộ không làm cho câu chuyện trở thành một bằng chứng chấp nhận được. Rất nhiều bộ óc đáng ngưỡng mộ về những mặt khác đã chấp nhận câu chuyện binh lính Nga tràn qua nước Anh. Grant đã tiếp xúc quá lâu với trí thông minh của con người để chấp nhận bản tường thuật của một người về bản tường thuật của một người khác về những gì người khác đó nhớ đã trông thấy hay được kể lại là sự thật.
Anh thấy ghê tởm.
Ngay khi có cơ hội đầu tiên, anh sẽ kiếm lấy một bản tường thuật đương thời đích thực về các sự kiện trong thời gian trị vì ngắn ngủi của Richard. Thư viện Cộng đồng có thể nhận lại sách của Huân tước Thomas More vào ngày mai và quỷ tha ma bắt mười bốn ngày của họ đi. Việc Huân tước Thomas là một người tuẫn đạo cũng như một Bộ óc Vĩ đại chẳng có nghĩa lý gì với anh, Alan Grant. Anh từng biết những Bộ óc Vĩ đại thiếu năng lực phê phán tới mức tin vào một câu chuyện hẳn sẽ khiến một kẻ bịp bợm phải đỏ mặt vì xấu hổ. Anh từng biết một nhà khoa học lớn bị một bà đồng mù chữ sống trong khu phố ổ chuột tại Plymouth thuyết phục rằng một mảnh vải mu xơ lin dùng để làm bơ là bà cô Sophia của ông ta. Anh biết một nhân vật cực kỳ uy tín về Trí tuệ Con người và sự Tiến hóa của nó đã bị một tên khốn không thuốc chữa lừa gạt bất chấp tất cả những gì ông có bởi ông “đã tự phán xét chứ không dựa trên những câu chuyện từ cảnh sát”. Về phần Alan Grant mà nói, chẳng có thứ gì thiếu tính phê phán hay ngu ngốc tột bậc cho bằng cái gọi là Bộ óc Vĩ đại. Và cũng về phần Alan Grant mà nói, Thomas More đã bị gạt ra, loại bỏ, xóa sạch; và anh, Alan Grant, lại bắt đầu từ con số không vào sáng mai.
Anh vẫn còn giận dữ một cách phi lý khi ngủ thiếp đi, và anh thức dậy đầy giận dữ.
“Cô có biết là Huân tước Thomas More của cô chẳng biết gì về Richard Đệ Tam cả hay không?” Anh nói với Nàng Amazon bằng giọng buộc tội ngay khi thân hình đồ sộ của cô này xuất hiện trên ngưỡng cửa.
Cô điều dưỡng trông có vẻ sững sờ, không phải vì tin anh báo mà với vẻ hung dữ của anh. Cô nhìn như thể sắp nước mắt vòng quanh nếu phải nghe thêm một từ cộc cằn nữa.
“Nhưng đương nhiên ông ấy biết!” Cô phản đối. “Ông ấy sống vào thời đó.”
“Ông ta mới tám tuổi khi Richard chết,” Grant nói không chút thương xót. “Tất cả những gì ông ta biết là những điều ông ta được nghe kể lại. Như tôi. Như cô. Như Will Rogers với những ký ức đáng kính. Chẳng hề có chút gì thiêng liêng trong câu chuyện sử của Huân tước Thomas More về Richard Đệ Tam cả. Đó là một bản chép đáng nguyền rủa những lời nghe lại và là một sự bịp bợm.”
“Sáng nay ông cảm thấy không khỏe phải không?” Cô điều dưỡng lo lắng hỏi. “Ông có nghĩ mình đang bị sốt không?”
“Tôi không biết gì về cơn sốt cả, nhưng huyết áp của tôi đang nhảy vọt đây.”
“Ôi, ôi trời,” cô gái thốt lên, hiểu câu nói theo nghĩa đen. “Ông đã hồi phục tốt thế cơ mà. Điều dưỡng Ingham sẽ rất buồn phiền. Cô ấy khoe mãi về việc ông phục hồi tốt.”
Việc Nàng Bé có thể lấy anh ra làm chủ đề để khoe quả là một ý tưởng mới mẻ với Grant, nhưng ý nghĩ này chẳng đem đến cho anh chút hài lòng nào. Anh quyết định sẽ lên một cơn sốt đích thực nếu anh có thể xoay sở được, chỉ để ghi bàn lật nhào Nàng Bé.
Nhưng cuộc ghé thăm buổi sáng của Marta khiến anh sao nhãng khỏi thí nghiệm về quyền năng của tinh thần trên vật chất này.
Marta có vẻ đang bận rộn lo cho sức khỏe tinh thần của anh cũng ngang với mức Nàng Bé lo lắng cho tiến triển về thể chất của anh. Cô đang hân hoan tưởng rằng chuyến ghé qua hàng in cùng James đã hiệu quả đến vậy.
“Vậy là anh đã quyết định chọn Perkin Warbeck rồi à?” Cô hỏi.
“Không. Không phải Warbeck. Hãy nói cho anh biết: điều gì khiến em mang tới cho anh một bức chân dung Richard Đệ Tam vậy? Chẳng có bí ẩn nào về Richard đúng không?”
“Không. Em đoán bọn em lấy nó như minh họa cho câu chuyện về Warbeck. Không, đợi một chút. Em nhớ rồi. James lật nó lên và nói: ‘Nếu anh ta phát cuồng với những khuôn mặt, thì có một khuôn mặt cho anh ta đây!’ Anh ấy nói: “Đây là kẻ sát nhân trứ danh nhất trong lịch sử, ấy thế nhưng khuôn mặt của ông ta theo đánh giá của tôi là khuôn mặt của một vị thánh.”
“Một vị thánh!” Grant nói; rồi nhớ ra điều gì đó. “Quá tận trung,” anh nói.
“Cái gì?”
“Không gì cả. Anh chỉ vừa nhớ lại những ấn tượng đầu tiên của anh về bức chân dung. Đó là cảm nhận của em và anh ta về nó sao: khuôn mặt của một vị thánh?”
Cô đưa mắt nhìn sang bức ảnh đang được dựng tựa vào chồng sách. “Em không nhìn thấy nó khi ngược sáng được,” cô nói, rồi cầm bức ảnh lên để xem kỹ hơn.
Anh đột nhiên nhớ ra rằng với Marta, cũng như với thượng sĩ Williams, những khuôn mặt là một vấn đề nghề nghiệp. Độ nghiêng của lông mày, hình dáng khuôn miệng, với Marta cũng là một bằng chứng về tính cách giống như với Williams. Quả thực cô đã trang điểm để tạo cho mình những khuôn mặt thích hợp với các vai cô diễn.
“Điều dưỡng Ingham nghĩ ông ấy là một người u sầu. Điều dưỡng Darrow nghĩ ông ấy là một nỗi kinh hoàng. Bác sĩ ngoại khoa của anh nghĩ ông ấy là một nạn nhân của bệnh bại liệt. Thượng sĩ Williams nghĩ ông ấy là một quan tòa bẩm sinh. Điều dưỡng trưởng nghĩ ông ấy là một tâm hồn bị dày vò.”
Marta không nói gì trong ít lâu. Rồi cô nói: “Thật lạ, anh biết đấy. Khi nhìn vào nó lần đầu tiên, anh nghĩ nó là một khuôn mặt ti tiện, đa nghi. Thậm chí là khó tính. Nhưng khi nhìn vào nó lâu hơn một chút, anh nhận ra khuôn mặt này không hề giống như vậy. Nó khá bình thản. Nó thực sự là một khuôn mặt khá hiền từ, có lẽ đó là ý James muốn nói khi bảo giống một vị thánh.”
“Không. Không, anh không nghĩ vậy. Ý anh ta là -tuân phục lương tâm.”
“Cho dù là gì đi nữa, thì nó cũng là một khuôn mặt, phải không nào! Không chỉ là một bộ sưu tập các bộ phận để nhìn, hít thở, và ăn. Một khuôn mặt tuyệt vời. Anh biết đó, chỉ với rất ít thay đổi thôi, nó đã có thể là chân dung của Lorenzo Huy Hoàng.”
“Em không định nói đây là Lorenzo và chúng ta đang hoàn toàn xem xét nhầm người đấy chứ?”
“Tất nhiên là không. Sao anh lại nghĩ thế?”
“Bởi vì không có gì trên khuôn mặt khớp với các biến cố lịch sử. Và các bức tranh đã từng bị xáo trộn trước đây rồi.”
“À, vâng, chắc chắn là thế. Nhưng bức chân dung kia của Richard thì ổn. Bản gốc - hay bản được cho là gốc đang nằm tại lâu đài Windsor. James nói với em vậy. Bức tranh nằm trong bản kiểm kê của Henry Đệ Bát, như vậy nó đã có mặt ở đó cũng phải bốn trăm năm rồi. Và có các bản sao ở Hatfield và Albury nữa.”
“Đó là Richard,” Grant nói với vẻ cam chịu. “Chỉ là anh không biết gì về những khuôn mặt. Em có quen ai ở BTA. không?”
“Ở Bảo tàng Anh ấy à?” Marta hỏi, sự chú ý của cô vẫn để cả vào bức chân dung. “Không, em không quen, ít nhất là lúc này em không nghĩ ra được ai cả. Em từng có lần đến đó để ngắm nghía mấy món đồ trang sức Ai Cập khi em đang diễn vai Cleopatra với Geoffrey - anh từng bao giờ thấy qua vai Antony của Geoffrey chưa? Nó dễ thương bậc nhất song nơi đó khiến em thấy hãi hơn. Một cái vựa thu nạp đủ mọi thời kỳ như thế. Nó làm em có cảm giác kiểu như các vì sao khiến người ta cảm nhận: nhỏ bé và không ý nghĩa gì. Anh muốn gì ở Bảo tàng Anh vậy?”
“Anh muốn vài thông tin về ghi chép lịch sử được viết lúc sinh thời của Richard Đệ Tam. Những tường thuật đương thời.”
“Vậy là Huân tước Thomas thánh thiện chẳng giúp ích được gì phải không?”
“Huân tước Thomas thánh thiện chẳng là gì cả ngoài một gã buôn chuyện già khú,” Grant nói thật cay nghiệt. Anh đã có một ác cảm dữ dội với quý ông More hết sức được ngưỡng mộ này.
“Ôi, Chúa ơi. Anh chàng dễ mến ở thư viện có vẻ cực kính cẩn với ông ấy. Phúc Âm về Richard Đệ Tam theo Thánh Thomas More, và vân vân.”
“Chẳng có Phúc Âm nào cả,” Grant cộc cằn nói. “Ông ta ngồi ở nước Anh thời Tudor viết lại những gì ai đó đã kể cho ông ta nghe về những biến cố xảy ra tại nước Anh thời Plantagenet, khi bản thân ông ta mới có năm tuổi.”
“Năm tuổi?”
“Phải.”
“Ôi, Chúa ơi. Không phải là sự thật đích thực.”
“Thậm chí còn không phải thông tin chính thống. Cứ nghĩ đến điều này, quyển sách quả là đáng tin cậy ngang lời mách nước của một gã cá cược thuê. Ông ta hoàn toàn ở sai phía của đường ray. Nếu ông ta là một thần tử của nhà Tudor thì ông ta ở phe đối lập khi xét về Richard Đệ Tam.”
“Phải. Phải, em đoán vậy. Anh muốn tìm ra điều gì về Richard đây, khi mà chẳng có bí ẩn nào để điều tra cả?”
“Anh muốn biết điều gì khiến ông ấy có động lực. Đó là một bí ẩn còn sâu thẳm hơn bất cứ điều gì anh từng gặp phải gần đây. Điều gì đã khiến ông ấy thay đổi gần như chỉ sau một đêm như vậy? Cho tới thời điểm xảy ra cái chết của người anh quá cố, ông ấy dường như hoàn toàn đáng ngưỡng mộ. Và tận tụy với anh trai mình.”
“Em đoán rằng danh vị tối cao hẳn luôn là một cám dỗ.”
“Ông ấy nhiếp chính cho tới khi cậu cháu trưởng thành, là Bảo hộ công của nước Anh. Với tiền sử trước đó của ông ấy, hoàn toàn có thể nghĩ như vậy với ông ấy thế là đủ. Quả thực, hẳn ai cũng sẽ nghĩ đó chính là vai trò thích hợp với ông ấy: người bảo trợ của cả con trai Edward và vương quốc.”
“Có lẽ đứa bé hỗn xược đến mức không thể chịu đựng nổi, và Richard nóng lòng muốn ‘trị’ cậu nhóc. Chẳng lạ hay sao khi chúng ta chưa bao giờ nghĩ về các nạn nhân là một ai khác ngoài vai trò là những người hoàn toàn vô tội. Như Joseph trong Kinh Thánh vậy. Em dám chắc kỳ thực anh ta là một anh chàng trẻ tuổi không nín nhịn được, và suốt một thời gian dài tích tụ đã thành giọt nước tràn ly. Có lẽ cậu Edward trẻ tuổi tự làm tự chịu thôi.”
“Có hai người đấy,” Grant nhắc nhở cô.
“Vâng, tất nhiên rồi. Tất nhiên là không có lời giải thích nào cả. Đó là sự man rợ tột cùng. Hai chú cừu bé nhỏ lông xù đáng thương! Ồ!”
“Ồ dành cho cái gì vậy?”
“Chỉ là em vừa nghĩ tới một điều. Những con cừu lông xù làm em nghĩ đến nó.”
“Cái gì thế?”
“Không, em sẽ không nói với anh để phòng nhỡ việc này không thành công. Em phải đi đây.”
“Em đã quyến rũ được Madeleine March đồng ý viết vở kịch rồi chứ?”
“À, kỳ thực bà ấy vẫn chưa chịu ký hợp đồng, nhưng em nghĩ bà ấy đã tin đó là một ý tưởng hay. Hẹn gặp lại, anh yêu. Em sẽ lại sớm ghé qua.”
Cô ra về, được Nàng Amazon mặt đỏ ửng hối hả đưa đi, và Grant không nhớ gì về những con cừu lông xù nữa cho tới khi con cừu lông xù thực sự xuất hiện trong phòng anh vào tối hôm sau. Con cừu lông xù đeo cặp kính gọng sừng, làm cho sự tương đồng càng được nhấn mạnh theo một cách kỳ dị thay vì làm giảm nó đi. Grant đang ngủ gà gật, bình yên với thế giới hơn mức anh có được trong thời gian trước; như cô Điều dưỡng trưởng đã chỉ ra, lịch sử là một cách hoàn hảo để có được một cảm nhận về phối cảnh. Tiếng gõ lên cửa phòng anh dè dặt tới mức anh ngỡ rằng mình tưởng tượng ra. Thường những cái gõ cửa ở bệnh viện không dè dặt. Song có điều gì đó đã khiến anh nói: “Mời vào!” và kia, trên ô cửa mở ra đích thị là chú cừu lông xù của Marta không lẫn đi đâu được nữa, khiến Grant phá lên cười thành tiếng trước khi anh kịp ngưng lại.
Chàng thanh niên trông có vẻ lúng túng, mỉm cười bối rối, đưa ngón tay trỏ dài gầy nhẳng chỉnh cặp kính trên mũi, hắng giọng và nói:
“Ông Grant phải không? Tôi là Carradine, Brent Carradine. Tôi hy vọng tôi đã không làm phiền khi ông đang nghỉ.”
“Không, không. Mời vào, ông Carradine. Tôi rất vui được gặp ông.”
“Marta - nghĩa là cô Hallard - bảo tôi tới. Cô ấy nói tôi có thể giúp ích ít nhiều cho ông.”
“Cô ấy đã nói thế sao? Ông ngồi xuống đi chứ. Ông sẽ thấy một cái ghế đằng kia, sau cánh cửa. Hãy mang nó lại đây.”
Vị khách là một cậu trai cao ráo, đầu trần, với mái tóc mềm lượn sóng phủ trên một vầng trán cao và một cái áo khoác vạt dài bằng vải tweed rộng quá khổ được khép vạt hờ hững quanh người anh ta mà không buộc dải đai hông theo kiểu Mỹ. Quả thực, anh chàng này hiển nhiên là người Mỹ. Anh ta mang chiếc ghế tới, ngồi xuống với chiếc áo khoác buông xuống xòa ra quanh mình như một chiếc hoàng bào và nhìn Grant với đôi mắt nâu hiền hòa, trong đó sự cuốn hút tỏa sáng đến mức đôi kính gọng sừng cũng không thể làm lu mờ được.
“Marta - nghĩa là cô Hallard - nói ông muốn tìm hiểu thứ gì đó.”
“Và ông là một người tìm kiếm thông tin?”
“Tôi đang làm nghiên cứu tại đây, ở London. Ý tôi là nghiên cứu lịch sử. Và cô ấy nói đại loại là ông đang muốn tìm thứ gì đó trong lĩnh vực này. Cô ấy biết tôi làm việc tại Bảo tàng Anh hầu hết các buổi sáng. Tôi rất sẵn lòng làm bất cứ điều gì có thể để giúp ông, thưa ông Grant.”
“Ông thật tử tế quá; thực sự rất tử tế. Ông đang làm việc về vấn đề gì vậy? Ý tôi là nghiên cứu của ông.”
“Cuộc nổi dậy của nông dân.”
“Ồ. Richard Đệ Nhị.”
“Vâng.”
“Ông có quan tâm tới các điều kiện xã hội không?”
Chàng trai đột nhiên cười hết cỡ theo cách chẳng sinh viên chút nào và nói: “Không, tôi quan tâm tới việc ở lại Anh.”
“Và ông không thể ở lại Anh mà không nghiên cứu?”
“Không dễ cho lắm. Tôi cần có một cái cớ. Bố tôi nghĩ tôi nên tham gia việc kinh doanh của gia đình. Đồ nội thất. Bán buôn đồ nội thất. Ông đặt hàng qua thư. Từ một quyển sách giới thiệu. Đừng hiểu nhầm tôi, ông Grant; đó là những món đồ nội thất rất tốt. Bền cực kỳ. Chỉ là tôi không tài nào có hứng được với những món đồ nội thất.”
“Và thế là ngoại trừ đi thám hiểm địa cực, Bảo tàng Anh là nơi ẩn náu tốt nhất ông có thể nghĩ tới.”
“À vâng, nó ấm cúng. Và tôi thực sự thích lịch sử. Tôi đã học chuyên ngành về nó. Và, thế đấy, thưa ông Grant, nếu ông thực sự muốn biết, tôi vừa phải theo Atlanta Shergold tới Anh. Cô ấy là cô nàng tóc vàng ngớ ngẩn trong vở kịch của Marta, ý tôi là cô Hallard. Ý tôi muốn nói cô ấy đóng vai cô nàng tóc vàng ngớ ngẩn. Còn Atlanta, cô ấy không hề ngớ ngẩn.”
“Quả thực là không. Thực sự là một cô gái trẻ đầy tài năng.”
“Ông đã thấy cô ấy rồi?”
“Tôi nghĩ không có ai ở London lại chưa từng thấy cô ấy.”
“Vâng, tôi nghĩ là không. Nó cứ diễn ra mãi, phải không nào. Chúng tôi - Atlanta và tôi - đã không nghĩ là vở kịch sẽ được công diễn lâu hơn vài tuần, thế nên chúng tôi chỉ vẫy tay chào tạm biệt nhau và nói: Hẹn gặp lại vào đầu tháng! Thế rồi khi chúng tôi nhận ra vở kịch sẽ còn tiếp tục được trình diễn chẳng biết tới bao giờ thì tôi đành phải tìm ra một cái cớ để tới Anh.”
“Chẳng phải Atlanta cũng đủ là cái cớ rồi sao?”
“Với bố tôi thì không! Gia đình tôi rất coi thường Atlanta, nhất là bố tôi. Khi gượng nhắc tới cô ấy, ông gọi cô ấy là ‘cái cô diễn viên trẻ người quen của con’. Ông thấy đấy, bố tôi là Carradine Đệ Tam, còn bố của Atlanta thì chỉ mới là Shergold Đệ Nhất. Kỳ thực là một cửa hàng tạp hóa nhỏ trên phố Main. Thành phần căn bản, nếu ông quan tâm. Và tất nhiên Atlanta đã không thực sự làm được nhiều tại Mỹ. Ý tôi là trên sân khấu. Đây là thành công lớn đầu tiên của cô ấy. Đó là lý do tại sao cô ấy đã không hề muốn chấm dứt hợp đồng và trở về nhà. Thực sự mà nói sẽ rất khó khăn nếu muốn cô ấy trở về nhà. Cô ấy nói chúng tôi đã chẳng bao giờ đánh giá cao cô ấy.”
“Vậy là ông bắt tay vào nghiên cứu.”
“Ông thấy đấy, tôi buộc phải nghĩ tới thứ gì đó tôi chỉ có thể làm ở London. Và tôi đã thực hiện một số nghiên cứu tại trường đại học. Vậy nên Bảo tàng Anh có vẻ hợp với tôi, theo cách các ông vẫn nói. Tôi có thể tìm được niềm vui cho bản thân mà vẫn cho bố tôi thấy là tôi đang thực sự làm việc, cả hai cùng lúc.”
“Phải. Đây quả là chứng cứ ngoại phạm tốt chẳng kém những gì tôi từng gặp qua. Nhân tiện, tại sao lại là Cuộc nổi dậy của nông dân?”
“À, đó là một thời kỳ thú vị. Và tôi nghĩ nó chắc sẽ khiến bố hài lòng.”
“Vậy bố ông quan tâm tới các cải cách xã hội sao?”
“Không, nhưng ông ấy ghét các vị vua.”
“Carradine Đệ Tam sao?”
“Vâng, thật buồn cười phải không? Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu bố tôi có một chiếc vương miện cất trong hộp két an toàn của ông ấy. Tôi dám cược ông ấy thỉnh thoảng lại lấy cái hộp ấy ra, lỉnh tới nhà ga Grand Central và đội thử nó trong phòng vệ sinh nam. Tôi sợ mình đang làm ông phát chán, thưa ông Grant; khi cứ nói mãi về chuyện của chính tôi như thế. Tôi không tới đây vì lý do này. Tôi tới để...”
“Cho dù ông tới vì cái gì đi nữa, ông cũng chính là mưa móc từ thiên đường nhỏ xuống. Vậy hãy thoải mái đi, nếu không phải ông đang vội.”
“Tôi chẳng bao giờ vội cả,” chàng trai nói rồi thôi không bắt tréo hai chân nữa mà duỗi thoải mái chúng ra trước mặt. Khi anh ta làm vậy, đôi bàn chân chàng trai, tọa lạc tại đầu tận cùng của cặp cẳng sếu của anh này, chạm vào cái bàn cạnh giường làm lay động bức chân dung Richard Đệ Tam khỏi vị trí chông chênh của nó, khiến tấm ảnh rơi xuống sàn.
“Ôi, thứ lỗi cho tôi! Tôi thật bất cẩn quá. Tôi vẫn chưa thực sự quen với độ dài đôi chân của mình. Chắc hẳn ông nghĩ một gã trai sẽ phải quen với sự phát triển của mình ở tuổi hai mươi hai rồi đúng không?” Anh ta nhặt tấm ảnh lên, cẩn thận dùng cổ tay áo lau sạch, rồi nhìn nó với vẻ quan tâm. “Richardus Đệ Tam. Ang. Rex.,” anh ta đọc to thành tiếng.
“Ông là người đầu tiên để tâm tới dòng chữ viết trong hậu cảnh đó,” Grant nói.
“À, tôi đoán dòng chữ không dễ thấy trừ khi ta nhìn thật kỹ vào bức tranh. Ông là người đầu tiên tôi gặp lại có ảnh để đầu giường là một ông vua đấy.”
“Ông ta lại chẳng đẹp đẽ gì.”
“Tôi không biết,” chàng trai chậm rãi nói. “Xét về những khuôn mặt thì đây không phải là một khuôn mặt xấu. Một giáo sư tại trường đại học của tôi trông khá giống vị vua này. Ông ấy sống nhờ muối bismuth và những ly sữa, bởi thế cả đời ông ấy nhìn luôn xanh xao, song ông ấy là người tử tế nhất có thể tưởng tượng ra được. Ông cần thông tin về Richard phải không?”
“Vâng. Không phải thứ gì quá thâm thúy hay khó khăn. Chỉ để biết đâu là tư liệu đương thời đáng tin cậy.”
“À, cái đó thì dễ thôi. Cũng cách không xa thời kỳ tôi nghiên cứu lắm. Thực ra, tác giả hiện đại có uy tín về Richard Đệ Nhị, Huân tước Cuthbert Oliphant đã bao phủ cả hai thời kỳ. Ông đã đọc Oliphant chưa?” Grant nói anh chưa đọc gì ngoài các sách giáo khoa và Huân tước Thomas More.
“More? Quan Chưởng ấn của Henry Đệ Bát?”
“Phải.”
“Tôi đoán đó là một bản biện hộ đặc biệt!”
“Theo như tôi đọc thì giống một tờ rơi tuyên truyền của đảng phái hơn,” Grant nói, lần đầu tiên nhận thức được đó là dư vị đọng lại trong miệng anh. Quyển sách đó đọc chẳng giống chút nào một bản tường thuật từ một chính khách; nó giống một tờ rơi phát ngoài đường của các đảng phái.
Không, đọc nó giống văn phong của một nhà báo viết chuyên mục. Một tay nhà báo viết chuyên mục nhặt thông tin từ đám gia nhân.
“Ông có biết gì về Richard Đệ Tam không?”
“Không gì ngoài việc ông ấy giết các cháu mình, rồi trao vương quốc của mình cho một con ngựa. Và ông ấy có hai người hầu được gọi là Mèo và Chuột.”
“Cái gì?”
“Ông biết đấy: “Mèo, Chuột và Chó Lovel của chúng ta, cai trị cả nước Anh dưới trướng một con Lợn.”
“Phải, tất nhiên rồi. Tôi đã quên chuyện đó. Ông có biết nó nghĩa là gì không?”
“Không, tôi chịu. Tôi không biết rõ lắm về thời kỳ đó. Sao ông lại trở nên quan tâm về Richard Đệ Tam vậy?”
“Marta gợi ý là tôi nên thực hiện một cuộc điều tra trên lý thuyết, vì tôi không thể tiến hành bất cứ điều tra thực tế nào trong một thời gian nữa. Và bởi vì tôi quan tâm tới những khuôn mặt, cô ấy đã mang đến cho tôi chân dung của tất cả các nhân vật chính. Ý tôi là nhân vật chính trong các bí ẩn cô ấy đề xuất. Richard được đưa vào ít nhiều một cách tình cờ, nhưng ông ấy đã chứng tỏ mình là bí ẩn lớn nhất trong cả đám.”
“Thật thế sao? Theo cách nào vậy?”
“Ông ấy là tác giả của tội ác đáng phẫn nộ nhất trong lịch sử, và ông ấy có khuôn mặt của một quan tòa vĩ đại; một nhà quản lý vĩ đại. Thêm nữa, theo mọi lời tường thuật, ông ấy là một người văn minh và sống đàng hoàng khác thường. Nhân tiện, ông ấy thực sự là một nhà cai trị tốt. Ông ấy cai quản miền bắc Anh và đã làm việc đó một cách xuất sắc. Ông ấy là một sĩ quan tham mưu cừ và là một chiến binh giỏi. Người ta cũng không chê trách gì về đời tư của ông ấy. Anh trai ông ấy, chắc có lẽ ông biết, là vị quân chủ dính dáng với nhiều phụ nữ nhất của chúng ta - chỉ sau mỗi Charles Đệ Nhị.”
“Edward Đệ Tứ. Vâng, tôi biết. Một hiện thân của vẻ đẹp nam tính cao một mét tám. Có lẽ Richard đã bị giày vò bởi một nỗi oán hận trước sự tương phản. Và điều đó góp phần vào việc ông ta sẵn sàng loại trừ hạt giống của anh trai mình.”
Đó là một điều Grant đã không nghĩ đến.
“Ông ngụ ý rằng Richard có một sự thù ghét được kìm nén với anh trai ông ấy?”
“Sao lại được kìm nén?”
“Vì ngay cả những kẻ phỉ báng ông ấy thậm tệ nhất cũng thừa nhận ông ấy tận tụy với Edward. Họ đã sát cánh bên nhau trong mọi việc kể từ lúc Richard mới mười hai hay mười ba. Người anh em trai còn lại chẳng ích gì cho bất cứ ai. George.”
“George là ai?”
“Công tước xứ Clarence.”
“Ồ. Ông ta! Thùng-rượu-malmsey Clarence.”
“Chính ông ta đấy. Vậy là chỉ có hai người họ thôi, ý tôi là Edward và Richard. Giữa họ là mười năm khoảng cách tuổi tác. Đúng sự chênh lệch thích hợp cho tôn thờ anh hùng.”
“Nếu tôi là một người gù,” anh chàng Carradine trẻ tuổi trầm ngâm nói, “hẳn tôi sẽ ghét một ông anh trai đoạt hết sự chú ý, những người đàn bà và địa vị vinh quang của tôi.”
“Có thể lắm,” Grant nói sau một khoảng im lặng. “Đó là lời giải thích hay nhất tôi gặp được cho tới giờ.”
“Ông biết đấy, nó có thể không hề lộ liễu. Thậm chí nó còn không phải là thứ ý thức được. Có thể nó chỉ khiến ông ấy sôi sục lên khi thấy cơ hội có được vương miện. Ông ấy có thể đã nói - ý tôi là dòng máu của ông ấy có thể đã nói: “Đây là cơ hội của ta! Bấy nhiêu năm nỗ lực, gánh vác và đứng lui lại sau một bước, và không nhận được lời cảm ơn nào. Đây là lúc ta đòi phần của mình. Đây là lúc ta thanh toán nợ nần.”
Grant nhận thấy hoàn toàn tình cờ Carradine đã sử dụng cùng những lời mô tả tưởng tượng về Richard như cô Payne-Ellis. Đứng lui lại sau một bước. Đó là cách nữ tiểu thuyết gia đã nhìn ông, đứng bên Margaret rắn rỏi tóc vàng và George trên bậc cấp của lâu đài Baynard dõi theo cha họ lên đường ra trận. Lui lại sau một bước, “như thường lệ”.
“Quả thực điều ông nói rất thú vị về việc Richard có vẻ là một người tử tế cho tới thời điểm diễn ra tội ác,” Carradine vừa nói vừa theo thói quen đặc trưng, anh dùng ngón tay trỏ dài đẩy một bên gọng kính bằng sừng lên. “Làm ông ấy giống một con người hơn. Phiên bản đó của Shakespeare về ông ấy chỉ là một biếm họa. Không phải một con người. Tôi sẽ rất vui lòng thực hiện bất cứ điều tra nào ông muốn, thưa ông Grant. Sẽ là một sự thay đổi thú vị khỏi các vị nông dân.”
“Mèo và Chuột thay vì John Ball và Wat Tyler.”
“Chính thế.”
“Ông thật tốt quá. Tôi sẽ rất vui mừng với bất cứ thứ gì ông có thể tìm ra được. Nhưng vào lúc này, tất cả những gì tôi mong mỏi là một bản tường thuật đương thời về các biến cố. Chúng chắc hẳn là những biến cố làm chấn động cả vương quốc. Tôi muốn đọc một bản tường thuật đương thời về chúng. Không phải những gì một người nghe kể lại về các biến cố đã xảy ra khi anh ta mới năm tuổi, ở một triều đại hoàn toàn khác.”
“Tôi sẽ tìm ra xem ai là sử gia đương thời. Có lẽ là Fabyan. Hay ông này là thời Henry Đệ Thất nhỉ? Dù thế nào tôi cũng sẽ tìm ra. Irong lúc chờ đợi có lẽ ông sẽ thích xem qua Oliphant một chút. Ông ấy là tác giả hiện đại có uy tín về thời kỳ đó, hay theo như tôi hiểu thì là vậy.”
Grant nói anh sẽ rất sẵn lòng đọc qua Huân tước Cuthbert.
“Tôi sẽ cầm theo sách của ông ấy khi ghé qua vào ngày mai - chắc tôi có thể gửi lại sách cho ông dưới văn phòng đúng không? Và ngay khi tôi tìm ra các tác giả đương thời, tôi sẽ tới báo tin. Như vậy ông thấy ổn chứ?”
Grant nói như thế thật hoàn hảo.
Anh chàng Carradine trẻ tuổi đột ngột trở nên ngượng ngập, khiến Grant nhớ tới con cừu lông xù mà anh đã gần như quên bẵng bởi sự quan tâm tới cách tiếp cận mới dành cho Richard này. Vị khách chào tạm biệt với giọng thì thào khe khẽ, rồi thong thả bước ra khỏi phòng, vạt của chiếc áo khoác dài bay phấp phới đằng sau.
Grant thầm nghĩ, chưa kể đến gia tài của nhà Carradine, Atlanta Shergold có vẻ đang đi đúng hướng.