Ông Bollaert hiểu rõ rằng tôi không muốn dây dưa gì với ông ta nữa. Thế là ông ta vội vàng nài nỉ với chính phủ, để được tiếp tục, bằng cách nhắc lại, cách đây hai thảng, ông ta đã được ủy cho toàn quyền điều khiển công việc. Nội các Robert Schuman cuối cùng phải thỏa mãn điều khẩn cầu của ông, và ngày 21 tháng 2, trong một bản tuyên cáo, đã tái xác nhận tín nhiệm đối với viên Cao ủy này.
Trong trường hợp đó, cần phải quay trở lại vấn đề tại chỗ. Để gia đình lại Cannes, tôi đi Hong Kong vào ngày 5 tháng 3 và chỉ đến vào ngày 18… Tôi không muốn chứng tỏ sự hấp tấp, bởi có thể coi như một dấu hiệu lo lắng về thái độ của tôi. Tôi đi từng chặng nhỏ một, lợi dụng cuộc xuất du này, để nghỉ ngơi một tuần ở Le Caire.
Khi trở về, tôi đã có một cuộc hội kiến khá lâu với Ngô Đình Diệm. Ông này cương quyết giữ lập trường xa lánh với viên Cao ủy, khi mà vấn đề thể chế chưa được giải quyết. Ông ta cho rằng thời gian ở Pháp của tôi, không đem lại được dữ kiện nào mới lạ. Tuy nhiên, tôi đã thuyết phục ông ta là, để khỏi bị coi là thủ phạm muốn kéo dài chiến tranh, cần phải dẹp bỏ tự ái cá nhân đối với Cao ủy Bollaert, để tiếp tục trở lại với ông ta. Tôi liền bảo Diệm trở về Sài Gòn, để thăm dò các tay thân cận của Bollaert, nhất là để biết xem có thể thiết lập được một chính phủ trung ương. Ổng ta nhận lời và ngày 22 tháng ba, được chính Cao ủy Bollaert tiếp kiến.
Ngày 24-3-1948, Diệm trở lại Hong Kong, thất vọng ra mặt. Viên Cao ủy Pháp có lẽ tưởng tôi sẵn sàng nhượng bộ, theo lập trường của ông ta, nên tỏ ra cứng rắn hơn trước: Thỏa ước thể chế phải được áp dụng, không cần phải điều đình gì với chính phủ Việt Nam, dù là ai cũng mặc, bởi chỉ có một mình tôi là được coi như người có tư cách điều đình, và chỉ còn tôi là người duy nhất mà ông ta điều đình, còn ý kiến thành lập một qui chế tự trị thì không thể chấp nhận được. Theo Diệm, chúng tôi chỉ còn một cách: Đợi chờ, và để khẳng định thái độ cương quyết của mình, ông ta đề nghị lập một Uỷ ban nghiên cứu, mà người ta đoán được dễ dàng là chẳng đi đến đâu.
Đa số các nhà ái quốc ở Hong Kong lại không đồng quan điểm với Diệm. Nhiều vị khác lại cho rằng, trái lại, cần phải để cho các cơ quan Pháp có dịp hành động. Vì thế, ngày 25 tháng 3, Bác sĩ Lê Văn Hoạch tuyên bố:
- Sự thoái vị của Hoàng đế Bảo Đại là do áp lực của Việt Minh, và Việt Minh đã không tôn trọng các điều khoản liên hệ đến sự thoái ngôi này. Sự thoái vị đã không phải là một hành động tự ý, thì tất nhiên, nó bị coi như bất khả kháng, và phải được hủy bỏ. Trên công pháp, Bảo Đại vẫn là Hoàng đế. Nền quân chủ được phục hồi lập tức, không cần phải có Hội nghị Quốc gia Việt Nam nào cả.
Thật ra, sự giải thích hiện tình ấy không được đúng lắm. Nếu Việt Minh không thực hiện được những mục tiêu vì đâu mà tôi thoái vị, thì Việt Minh cũng không lợi dụng sự thoái ngôi này. Phần khác, tôi không quan tâm đến vấn đề phục hưng ngôi Vua, và sự trở về cầm quyền của tôi, theo hình thức này lại đặt tôi vào tư thế hạ phong đối với người Pháp, mà họ lại được lợi thế như thời trước. Sau nữa hình thức này không xứng đáng, và hại cho uy tín của tôi, điều làm giảm giá trị tinh thần của tôi, để mất mọi khả năng chỉ huy nhân dân Việt Nam trong những quyết định cần thiết.
Để cắt ngắn những lập trường mâu thuẫn ấy, tôi đề nghị tập họp một Hội nghị (7) vào ngày 26 tháng 3 (1948) ở Hong Kong khách sạn, để ra một thông cáo, thành lập một chính phủ trung ương lâm thời, không phải để điều đình về tương lai đất nước, mà để dùng làm “Tạm ước sống còn” với nước Pháp, có tầm trách nhiệm hạn chế, nhưng thực hiện được tức khắc, hầu giúp cho hai bên cơ hội hiểu biết nhau và thỏa hiệp bằng những sự việc cụ thể. Nó có thể thống nhất được các lực lượng quân sự võ trang hiện đang tản mát, và tổ chức được các cơ quan công quyền từ hành chánh đến chuyên môn trên bình diện quốc gia. Nó cũng có thể đặt ra được các Uỷ ban chuyên môn để sửa soạn đường lối thương thảo cuối cùng, và giúp tôi tìm được một thỏa hiệp nhất định với nước Pháp… Cuộc kháng chiến của Việt Nam nhằm vào mục tiêu áp lực cho cuộc thương thảo, do chính phủ kháng chiến hiện tại lãnh đạo, không có thể đưa đến thỏa hiệp nhất định, vì hoàn cảnh quốc tế không cổ lợi cho họ. Lập một chính phủ trung ương lâm thời, phù hợp với hoàn cảnh quốc tế là điều vừa hữu lý, vừa cần thiết.
Các vị có mặt, đều chấp nhận bản tuyên ngôn này, và cử Tướng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng tương lai cho chính phủ lâm thời đó.
Bản tuyên ngôn làm sôi nổi dư luận, và có giá trị ở chỗ là tôi vẫn muốn giữ mọi liên lạc với Pháp.
Tôi được biết, ít ngày sau đó, là bản này đã làm cho Cao ủy tức giận. Đứng trước một ngõ cụt mới, ông ta phải dùng đến thủ đoạn vốn là bản chất của ông ta. Ngày 27 tháng 3, ông ta cử sang Hong Kong người đại diện của đảng Xã hội ở Đông Dương là Louis Caput, mà cảm tình với Việt Minh đã rõ rệt, với sứ mạng tìm hiểu hiện tình của chính phủ Hồ Chí Minh, bên cạnh các tay mật vụ từ Tàu trở về, nhưng thực ra là để gieo rắc cạnh các chính khách quốc gia rằng tôi còn khó khăn, và tham lam hơn Việt Minh nhiều… Thủ đoạn gây hoang mang này kéo dài, từ Hong Kong đến Paris, nhưng cũng chẳng được ai hoan nghênh.
Để củng cố lợi điểm vừa đạt được trước hội nghị, tôi giao cho Bác sĩ Phan Huy Đán, ngày 12 tháng 4, đem đến cho Cao ủy một bức thư nhấn mạnh rằng, đề nghị về thể chế áp dụng chưa đủ để thỏa mãn nguyện vọng của dân chúng Việt Nam, mà cần phải tải rộng căn bản bàn cãi, và tôi chưa thể điều đình được do không được ai trao phó cho sứ mạng ấy và chỉ có một đường lốì duy nhất là qua sự thành lập một chính phủ trung ương lậm thời.
Ngày hôm sau, tôi cho Trần Văn Tuyên giải thích rõ ràng hơn, với các đại diện chính trị và tôn giáo là nếu chính phủ trung ương lâm thời được ủy nhiệm đàm phán về bản thông cáo, về thể chế thực hiện, thì tôi chịu trách nhiệm đàm phán về thỏa ước nhất định, nhưng nhiệm vụ của tôi chỉ đóng vai trò trung gian, hay điều giải viên hạn chế có vậy mà thôi, chỉ có nhân dân mới có quyền quyết định tự do với đầy đủ ý thức để thiết lập thể chế mà họ bằng lòng chấp nhận, sau khi trật tự và hòa bình được vãn hồi.
Ngày 24 tháng 4, tôi vời đến Hong Kong Thủ tướng Xuân, Phó thủ tướng Trần Văn Hữu, Bộ trưởng bộ Tư pháp Nguyễn Khắc Vệ, và Bác sĩ Hoạch. Dụng ý của tôi là giải tán vấn đề ly khai. Tôi muốn sát nhập hẳn các đồng bào người Nam bộ, tôi dành cho họ tự chọn lấy vị trí trong chính phủ tương lai. Họ đồng ý và chúng tôi quyết định đặt ra thể thức để thực hiện. Hai vị chủ tịch Hội đồng An dân ở Hà Nội và Huế, và vị Thủ tướng chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam đều từ chức nhất loạt, và lập tức sẽ thành lập chính phủ trung ương, do tôi tấn phong. Ngày 29 tháng 4, các nhà hữu trách ở Hong Kong đều đồng ý thể thức này.
Được báo về dự định trên, ông Bollaert sung sướng được trở lại cuộc đàm phán, cũng chấp nhận dự định thành lập chính phủ trung ương, tuy nhiên với điều kiện là tôi phải công khai tấn phong chính phủ này, đồng thời chấp nhận cùng ký với ông ta vào bản thể chế, mà không có sự thay đổi nhỏ nhoi nào. Dưới điều kiện ấy, ông ta cho tôi biết vào ngày 3 tháng 5 năm 1948, là ông cam đoan sẽ được chính phủ Pháp chấp thuận.
Nay chỉ còn đi đến việc thực hiện. Nhưng ai sẽ là thủ tướng chính phủ trung ương đây? Diệm được mời, lại từ chối không chịu ký vào bản thể chế, nên không nhận. Hoạch thì bị nhiều lãnh tụ quốc gia khác bàn tán, cũng từ chối nốt. Chỉ còn hai người có thể đảm trách được là Xuân và Hữu. Hữu nhường cho thượng cấp của mình. Vậy thì Xuân là thủ tướng đầu tiên của chính phủ này.
Tôi cũng không bất mãn gì về sự lựa chọn này. Tôi biết tham vọng của Xuân, và dụng ý của ông ta là muốn thỏa mộng riêng tư qua lực lượng thứ ba. Thế nhưng, nếu thành công thì quyền năng hạn chế của ông, lại đặt ông ra ngoài việc theo đuổi đàm phán, còn nếu thất bại, thì “lực lượng thứ ba” cũng mất hết ảnh hưởng.
Thật vậy, ngay lúc khởi đầu đã thấy khó khăn rồi. Sự ứng cử của ông không liên kết được toàn thể mọi xu hướng. Việc vận động thành lập chính phủ kéo dài khá lâu. Để giúp ông ta dễ dàng hoạt động, ngày 15 tháng 5, tôi gởi cho ông ta một bức thư, ngỏ ý hoan nghênh đường hướng của ông và chúc đạt được nhiều thắng lợi. Sau khi có bức thư này, mọi sự việc tiến hành nhanh chóng.
Ngày 20 tháng 5, nhân dịp các vị chủ tịch Hội đồng An dân Huế và Hà Nội vào Sài Gòn, Xuân vội vã triệu tập một số đảng viên quốc gia và giáo phái, thêm vào đấy một ít người của Hội đồng Nam bộ, cộng khoảng 40 vị.
Cuộc hội nghị bỏ túi này, chẳng mang tính chất bầu cử, cũng không được ai ủy nhiệm, thảo một bản kiến nghị đặt tín nhiệm vào Thủ tướng Xuân để thành lập chính phủ trung ương lâm thời Việt Nam, Và ngày 27 tháng 5, vị tân thủ tướng trình diện tôi tất cả nhân viên nội các. Số nhân viên này gồm đủ đại diện của ba kỳ, nhưng miền Nam nhiều người hơn và giữ những nhiệm vụ then chốt. Ngoài Tướng Nguyễn Văn Xuân thủ tướng, có:
- Trần Văn Hữu, phó thủ tướng
- Nghiêm Xuân Thiện, thủ hiến Bắc Việt
- Phan Văn Giáo, thủ hiến Trung Việt
- Lê Văn Hoạch, thủ hiến Nam Việt
- Nguyễn Khắc Vệ, bộ trưởng Tư pháp
- Nguyễn Khoa Toàn, bộ trường Nghi lễ và Quốc gia Giáo dục
- Nguyễn Trung Vinh, bộ trưởng Tài chánh và Kinh tế
- Phan Huy Đán, bộ trưởng Thông tin
- Trần Thiện Vàng, bộ trưởng Canh nông
- Đặng Hữu Chí, bộ trưởng Y tế
- Nguyễn Văn Ty, bộ trưởng Công chánh
- Trần Quang Vinh và Đinh Xuân Quảng, bộ trưởng Phủ Thủ tướng, đặc trách Quốc phòng và bí thư Văn phòng Nội các.
Trong dịp này, Xuân đọc một bản tuyên thệ đầy mỹ ý đối với tôi. Ông ta tuyên bố:
- Nhân danh cá nhân tôi, và nhân danh toàn thể nhân viên nội các trong chính phủ, tôi long trọng cam kết theo đúng đường hướng, và áp dụng trung thành các chỉ thị của Hoàng thượng, hầu phục vụ quốc gia và xứ sở, để kiến tạo, cứu nguy và rạng danh quang vinh của nựớc Việt Nam.
Như vậy, giống như các vị đang có mặt ở Hong Kong, ông ta vẫn coi tôi là Hoàng đế. Trái với nhiều người vẫn tưởng, ngay như đã vào quốc tịch Pháp, nhân dân miền Nam vẫn giữ niềm tôn quân sâu đậm đối với thể chế quân chủ. Theo truyền thống của hoàng triều, tôi xin nhắc lại, là các vị Hoàng đế nhà Nguyễn vẫn chọn vợ người miền Nam.
Tại Paris, kể từ ngày 27 tháng 5, chính phủ đã công nhận sự thành lập chính phủ Xuân. Câu nói ngắn và gọn này trong bản tường trình của Hội đồng Bộ trưởng vỗn đã nghiên cứụ kỹ lưỡng tình hình Đông Dương, chứng tỏ một sự hài lòng của các giới ở Paris, đối với hoạt động này của tôi. Vì vậy, tôi thấy cần phải giải thích lần nữa, vị trí của tôi. Ngày 31 tháng 5, Trần Văn Tuyên, nhân danh tôi tuyên bố:
- Vua Bảo Đại coi chính phủ hiện nay là một bước tiến cho vấn đề đàm phán Việt - Pháp, nhưng vị trí của nó chỉ được coi là chính thức, khi nước Pháp công nhận chính phủ trung ương Việt Nam, sau khi được nước Pháp cam kết bảo đảm nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam: thật sự thống nhất và độc lập trong khối Liên hiệp Pháp, Việt Nam được coi là một nước hoàn toàn tự do liên kết trong khối Liên hiệp Pháp, mà dân tộc được đặt ngang hàng, về quyền lợi cũng như về bổn phận. Mặc dù tân chính phủ trung ương không đả động đến hai chữ Hoàng đế, nhưng sự liên lạc vẫn chặt chẽ, và sự đoàn, kết nhất trí vẫn hiện hữu giữa chính phủ và vua Bảo Đại.
Ngày 2 tháng 6, chính phủ Xuân công bố bản quốc ca và quốc kỳ Việt Nam: ba vạch đỏ song song tượng trưng cho ba kỳ, trên màu vàng, là mầu của hoàng gia.
Cuộc họp để ký thỏa ước được Cao ủy định vào ngày 5 tháng 6 ở vịnh Hạ Long. Có lẽ ông ta muốn nhắc nhở đến lần gặp gỡ thứ nhất, giữa tôi và ông cách đây sáu tháng. Nhưng tôi chẳng khứng tới tí nào. Nay là lúc mà chính phủ trung ương hành động.
Thế là, ông Bollaert tin chắc rằng tôi vẫn không muốn gặp ông ta, nhất là sau bản tuyên ngôn ngày 13 tháng 5 từng làm các giới chức ở Paris lo ngại, nên Ông ta cũng rất là nôn nóng. Ông liền phái đến tôi một người để năn nỉ, xin tôi đến để dự khán cuộc ký kết, và chứng nhận vào hai bản văn kiện. Xuân vốn cần đến sự có mặt của tôi, nên ủng hộ mạnh mẽ vận động này. Thật sự thì tôi đã đạt được cụ thể điều tôi mong muốn, nên tôi nhận lời đến vịnh Hạ Long.
Tôi lại thuê lần nữa, chiếc Catalina của hãng hàng không dân dụng Úc, và ngày tháng chạp năm 1947, cùng với người em họ trung thành Vĩnh Cẩn, và vị tân Chánh văn phòng Đinh Xuân Quảng, tôi đến Hạ Long ngày 5 vào ban sáng, và đỗ ở cạnh chiếc thiết giáp hạm Duguay Trouin, ở đó ông Bollaert, Tướng Xuân và các tùy viên đang túc trực sẵn. Thấy tôi đến, các bộ mặt rạng rỡ hẳn lên.
Đến trưa, sau một cuộc nói chuyện ngắn ngủi, bắt đầu làm lễ ký các văn kiện. Một chiếc bàn đã được kê ở trên boong tàu, dưới tấm vải bạt lớn để che nắng. Không khí nặng nề và ẩm ướt. Một tiểu đội lính thủy quân lục chiến dàn chào.
Ông Bollaert và Tướng Xuân ký bản tuyên ngôn chung rồi đến bản thể chế, trở thành lý do cần thiết cho cái gọi là “Tạm ước sống còn” có tầm hoạt động hạn chế. Đến lượt tôi, tôi ký vào bản tuyên bố chung, như một chứng nhân, và tờ này được phép công khai phổ biến, còn đối với bản thể chế, tôi chỉ duyệt bằng hai chữ tắt đầu tên của tôi, như tôi đã làm ngày 7 tháng chạp trước. Lập trường của tôi vẫn không thay đổi.