Con Rồng An Nam

Lượt đọc: 59144 | 30 Đánh giá: 9,6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Bản tuyên bố chung ở Vịnh Hạ Long

BẢN TUYÊN BỐ CHUNG KÝ NGÀY 5 THÁNG 6 NĂM 1948 Ở VỊNH HẠ LONG giữa ông Emile Bollaert, Cao ủy Pháp ở Đông Dương, và ông Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ tướng Chính phủ Trung ương Lảm thời Việt Nam, trước mặt Hoắng đế Bảo Đại.

Trước mặt Hoàng đế Bảo Đại,

Ông Emile Bollaert, Cố vấn Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, Cao ủy Pháp ở Đông Dương nhân danh Chính phủ Cộng hòa Phấp quốc, một bên,

và: Ông Nguyễn Văn Xuân, Thủ tướng Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam, có sự dự kiến của quí ông Nghiêm Xuân Thiện và Đặng Hữu Chí, Phan Văn Giáo, Nguyễn Khoa Toàn và Đinh Xuân Quảng, Trần Văn Hữu và Lê Văn Hoạch, đại diện lần lượt cho miền Bắc Việt Nam, miền Trung Việt Nam và miền Nam Việt Nam, một bên.

Đã lập bản tuyên bố chung như sau:

1. Nước Pháp long trọng công nhận nền độc lập của Việt Nam, được tự do thực hiện nền thống nhất của mình. Về phía, Việt Nam, nước Việt Nam tuyên bố sự sát nhập vào Liên hiệp Pháp dưới danh nghĩa một quốc gia liên kết với nước Pháp. Nền độc lập của Việt Nam không có một giới hạn nào khác, ngoài giới hạn, mà Liên hiệp Pháp dành cho mình.

2. Nước Việt Nam cam kết tôn trọng mọi quyền hạn và quyền lợi của các tư nhân Pháp, cam kết bảo đảm các căn bản dân chủ, và dành ưu tiên sử dụng các nhà chuyên môn, cố vấn Pháp trong mọi nhu cầu tổ chức nội bộ và khuếch trương kinh tế của mình.

3. Sau khi thành lập chính phủ lâm thời, các đại diện của Việt Nam sẽ thỏa thuận với các đại diện của Cộng hòa Pháp quốc, những sự thỏa thuận hợp lý về các vấn đề ngoại giao, kinh tế, tài chánh và chuyên môn.

Làm thành hai bản chính ở vịnh Hạ Long, ngày Năm tháng Sáu năm Một nghìn chín trăm bốn mươi tám.

BOLLAERT

BẢO ĐẠI & NGUYỄN VĂN XUÂN

Nghiêm Xuân Thiện - Đặng Hữu Chí Phan Văn Giáo - Nguyễn Khoa Toàn - Đinh Xuân Quảng - Trần Văn Hữu - Lê Văn Hoạch

Nay là lúc đọc diễn văn. Đối với bài diễn văn của ông Bollaert và của Tướng Xuân tôi nói rất vắn tắt:

“Thưa ông Cao ủy, vào ngày tốt lành này, và ở giữa một khung cảnh huy hoàng của vịnh Hạ Long, từ nay đã đi vào lịch sử của nước tôi, Ngài vừa được chứng kiến, nhân danh nước Pháp, sự tự do thực hiện nền thống nhất của Việt Nam và nền độc lập quốc gia trong Liên hiệp Pháp. Để cụ thể hóa đường hướng chính trị mới này làm tôn vinh nước Pháp và các vị đại diện cao cấp của quí quốc, Ngài vừa công nhận chính phủ trung ương đầu tiên của Việt Nam, do Tướng Nguyễn Văn Xuân cầm đầu. Thay mặt toàn thể đồng bào tôi, tôi xin chân thành cảm ơn”.

Người ta chụp hình. Bên cạnh ông Bollaert, có Tướng Blaisot, Đô đốc Battet, các Tướng Le Bris và Boyer de Latour, các ông Messmer, Chevanee-Bertin…

Chúng tôi dự tiệc chung với nhau. Đến chiều, Xuân, Hữu và các bộ trưởng của ông ta từ biệt chúng tôi để trở về Sài Gòn. Còn tôi ở trên tàu và buổi chiều, ăn cơm với ông BolIaert.

Viên Cao ủy có vẻ mặt rạng rỡ, làm cho tôi cũng vui lây. Tôi bảo ông ta:

- Thưa ông Cao ủy, tôi mong rằng nước Pháp sẽ hiểu, và có mỹ ý hủy bỏ bốn Thể chế đi, vì chúng tôi không muốn có bản ấy. Ngài biết chắc rằng, nền hòa bình phải trả bằng giá ấy…

Ông ta nhìn tôi, băn khoăn ra mặt, vì thế tôi nói tiếp:

- Tôi sẽ từ giã hẳn Hong Kong. Đó là một thời đã qua rồi. Tôi không có gì phải lưu lại đây nữa. Tôi sang Pháp và chỉ về nước khi mà tất cả các vấn đề đang ứ đọng được giải quyết, khi mà nền hòa bình được thực sự vãn hồi.

Sau lời đó, tôi để mặc ông ta với sự ngỡ ngàng, mà trở về buồng riêng trên tàu dành cho tôi.

Tôi khá hài lòng. Tất nhiên, không phải là hài lòng hoàn toàn, và thực tế chẳng có cái gì là vĩnh viễn. Nhưng tôi đã đạt được cái mà Việt Minh bị từ chối. Những chữ độc lập và thống nhất đã được chính thức ghi nhận… Hơn nữa, chính phủ Nguyễn Văn Xuân đang đặt nền móng thực hiện. Tôi đã loại bỏ được một gánh nặng phải kiện toàn, và giữ được sự tự do hành động, để dành cho tương lai.

Ngày hôm sau, Chủ nhật, vào lúc ăn sáng, tôi lại đối diện với ông Bollaert. Ông ta như chưa muốn cho tôi đi, và làm bộ thân thiện, ông ta muốn biết định kiến thực sự của tôi, đồng thời muốn giữ tôi ở cạnh ông ta. Ông hứa hẹn đủ điều. Nhưng đã biết người, tôi cương quyết giữ vững lập trường.

- Không, thưa ông Cao ủy, hẳn Ngài đã hiểu quá rõ ràng những điều tôi nói hôm qua. Tôi đi ngay và về thẳng Pháp, để trở về với gia đình. Tôi có bổn phận đối với gia đình…

Nói xong, tôi lên chiếc Catalina và ngồi cạnh viên phi công. Tôi chỉ thị cho phi công: “Múi về Nam”.

Đến 10 giờ, chúng tôi bay đến Huế. Tôi bảo phi công hạ thấp đến sát mái nhà. Chúng tôi lượn thành vòng rộng. Đây là hoàng cung, bị phá hủy một phần; đây là sông Hương với hai cây cầu đổ: cầu Clémenceau và cầu xe lửa. Đây là cung An Cựu của Đức bà Từ Cung, mẫu thân tôi. Sau khi lượn trên lăng chúng tôi lại bay vòng lại lần thứ hai. Cánh quạt nổ ròn như lời chào biệt, chúng tôi lên cao để vượt rặng Trường Sơn, rồi chiếu về Bangkok.

Tôi tin chắc mẫu thân tôi, nghe tiếng động cơ, đứng trên thềm điện, đã trông thấy máy bay, và Đức bà hiểu đấy là dấu hiệu của tôi…

Đến Bangkok, tôi đi chuyến máy bay thường lệ, và lại là chuỗi đỗ ở từng chặng: Rangoon, Calcutta, New Delhi, Le Caire, Tripoli, Tunis và tới phi trường Bourget.

Tất nhiên thành quả đạt được ở vịnh Hạ Long chỉ trở thành cụ thể trong trường hợp là một mặt chính phủ Nguyễn Văn Xuân phải tỏ ra hữu hiệu và mặt khác, chính phủ Pháp phải thành thực để hoàn tất nhanh chóng sự bàn giao cho Việt Nam.

Thế mà, điều tôi biết khi trở về đến Paris, thật còn xa mới tới được hai điểm mong ước này, và tôi chỉ còn vui mừng được chút ít là tôi đã đứng được ra ngoài.

Tại Sài Gòn, sự trở về của Tướng Xuân được một chiến dịch do một nhóm lạc hậu của xã hội thực dân đàn chào. Bọn này từ chối tất cả các sự nhượng bộ. Họ chống cả lại Bollaert, kết ông ta vào tội chống lại chính lệnh, vì đã bỏ xứ Nam kỳ là một phần của đất đai nước Pháp.

Tại Paris, bản tuyên bố của Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại Paul Coste Floret đọc trước Quốc hội ngày 8 thống 6, gây sóng gió hơn cả. Nhắc lại bản thỏa ước ký ngày 5 tháng 6, ông ta nhấn mạnh:

- Để chắc chắn tránh mọi mâu thuẫn, đã nhiều lần, tôi lưu ý ông Cao ủy là lập trường của chính phủ Cộng hòa Pháp quốc muốn giữ thuần nhất nền ngoại giao và vấn đề quốc phòng cho toàn thể Liên hiệp Pháp. Tôi cũng đã bảo cho ông ta biết là lực lượng võ trang của Việt Nam chỉ được đặt trọng tâm váo lực lượng cảnh bị, để giữ an ninh nội bộ.

Sau hết, về qui chế cho Nam kỳ, đã được nói rõ ràng từ đây của cả, những văn kiện sẽ ký ở vịnh Hạ Long không được dính líu gì vào sự thống nhất ba kỳ, mà được nước Pháp công nhận, nhưng nước Pháp còn đợi chính phủ Xuân hành động, trước khi đặt lập trường chính phủ. Pháp không chấp nhận giờ đây, sự thống nhất ba kỳ. Chính phủ không chống lại sự thống nhất của Việt Nam, nếu đó là điều mong ước của dân chúng được thể hiện một cách dân chủ. Chính phủ Pháp xác nhận rằng, không thể có sự thay đổi gì vế qui chế của Nam kỳ được thực hiện, nếu không có quyết định của Quốc hội của mẫu quốc.

Qui chế ba kỳ nói chung một thứ tiếng Việt Nam, như đã được ẩn định bởi các hiệp ước ký với triều đình Huế như vậy không được thay đổi.

Khi lời tuyên bố ấy bay đến Sài Gòn, đó là một tai họa. Chúng tôi không còn vị trí năm 1945, mà trở về hiệp ước năm 1884… Thật vô lý, không ai hiểu nổi nữa. Việt Minh được lợi: “Thấy chưa, chúng ta không thể tin vào Pháp được”. Bọn thực dân ăn mừng. Nhiều bộ trưởng, trong đó có Trần Văn Hữu vừa được bổ làm Thủ hiến Nam bộ, liền co vòi lại: “Ông Cao ủy không được toàn quyền của chính phủ ở vịnh Hạ Long, người ta đã chơi xỏ chúng tôi”

Tội nghiệp cho Tướng Xuân, ngày 14 tháng 6 vừa ra một quyết định đầu tiên bổ nhiệm ba vị thủ hiến cho ba kỳ Bắc, Trung, Nam và chỉ thị cho họ phải áp dụng cho từng kỳ, quyết định của chính phủ trung ương, nay rơi từ trời xuống đất. Các bộ trưởng miền Nam, dưới áp lực của Hội đồng Nam bộ, bỏ rơi ông ta. Việt Minh kết ông ta tội phản quốc, và lên án tử hình vắng mặt.

Tất cả sự đó chứng minh cho tôi rằng các nhà lãnh đạo Pháp đã hoàn toàn mù tịt về vấn đề Việt Nam, và các khía cạnh tâm lý của nó. Thật ra, điều quan tâm này của họ chỉ là phụ đối với chính nội bộ chính trị nước Pháp, và sự cần thiết, tùy theo trường hợp, để thỏa mãn phần dư luận này hay nọ mà họ cần đến, hầu có thể giữ được quyền hành. Đó là hậu quả bi thảm của một nền dân chủ đã bị suy thoái đến chỗ mất hết ý niệm về quyền bính và lợi ích chung trong việc phục vụ. Dù sao thì tôi càng vững chắc tự tin ở mình, là chỉ có hành động mới đáng kể, và tôi chỉ có thể tự hào là đã không chịu nhân nhượng cụ thể nào đối với Pháp.

Điều làm tôi thất vọng trong vấn đề này, đó là cảm tưởng bi thảm của dân chúng Việt Nam. Thỏa hiệp mùng 5 tháng 6 không đem lại cho họ sự hăng say hứng khởi nào. Họ khôn ngoan gạt bỏ ảo tưởng, để đợi chờ. Đối với họ, độc lập chỉ là một thực thể, ngày mà họ không nhìn thấy lính Pháp trên đất nước. Từ nay đến lúc ấy, chắc chắn còn nhiều nỗi thống khổ cần phải chịu đựng. Thế nhưng, họ lại không vô tình đối với những lời tuyên truyền của Trần Huy Liệu, bộ trưởng bộ Thông tin của chính phủ Hồ Chí Minh. Đài địch, và những lời rỉ tai luôn nhắc lại, và rêu rao là chính phủ Xuân chỉ là một chính phủ “bù nhìn” do Pháp giật giây. Tất nhiên, ai tham gia vào chính phủ ấy, hay đã ủng hộ chính phủ ấy mặc dù không hô đích danh ai đều bị liệt vào tội đồng lõa hoặc có thể bị coi là đã bị Pháp mua chuộc và ru ngủ.

Ông Bollaert cũng thất vọng không kém. Ông ta muốn tiếp xúc với tôi để đánh một ván bài sả láng, là muốn mời tôi trở về Việt Nam, nên cuối tháng sáu đã vội vã đến Paris ngay.

Tôi biết là vị trí của viên Cao ủy này rất bấp bênh. Hơn ai hết, ông ta cũng ý thức được sự bấp bênh này, kể cả sự bấp bênh của chính phủ Pháp nữa. Chung qui, tôi nghĩ rằng, điều làm ông ta phải sang Pháp này, chính là do thủ đoạn mà trước đây đã tường nắm được tôi, nên nay phải cố gắng thu xếp, khổ cho ông ấy là như vậy.

Từ thâm tâm, tôi cảm thấy khoan khoái vô cùng.

Về thời ấy, và cả về sau nữa, người ta thường cho rằng tôi rất yếu, chẳng có tí gì để “làm vốn” và sự đại diện của tôi thật đáng ngờ. Nhận định ấy, có lẽ hợp lý đối với bộ óc Tây phương: chính trị gia, nhà báo, sử gia… Nhưng họ đã quên mất một yếu tố quan trọng: đó là vị trí chính thống của ngôi Thiên tử của tôi (8). Vị trí chính thống này, có lẽ chỉ mình tôi cảm thấy. Nó không thể được ghi vào là một yếu tố cụ thể trong một cuộc đàm phán ngoại giao, và nhất là đối với tôi hơn là đối với bất cứ ai, tôi không thể xuất trình ra được. Tuy nhiên, nó có và với một sự thể hiện vô cùng mạnh mẽ, mạnh hơn cả các dữ kiện chống tôi nữa. Có lẽ không bao giờ tôi có thể thuyết phục được sự hiện hữu ấy, với những ai chỉ công nhận qua nhãn giới bề ngoài, những ai không phải là dân tộc của nước tôi. Hơn thế nữa, kể cả trai hay gái thuộc dân tộc tôi, cũng khó có khả năng giải thích được, sao cho vỡ nghĩa, giá dụ như vấn đề được đưa ra trước một cuộc thảo luận công khai như kiểu trưng cầu dân ý. Đối với những phản ứng của tôi, với hành động của tôi, dân chúng đã giải thích tùy theo trình độ hiểu biết của họ, quan niệm của họ… Vì vậy, đã có cả chuỗi dài huyền thoại nói về con người của tôi, nhiều khi ngây ngô, thú vị làm tôi không nhịn được cười. Tôi không rõ vì bí mật gì thúc đẩy, hay là vì ông ta sanh ra trên đất Á Đông này, mà một nhà báo kia, đã viết và dựng nên một huyền thoại, với sự hiếu biết khá sâu sắc. Thế nhưng, thay vì làm cho độc giả hiểu một cách hữu lý, thì ông ta đã đưa đến một kết quả méo mó, bởi không đạt trong sự diễn tả. Ngược lại, Hồ Chí Minh, thì ý thức rõ rệt được sự chính thống ấy.

Dù bằng lời nói hay cử chỉ, lúc nào ông ta cũng cố gắng muốn khoác cho mình, nhưng chẳng bao giờ đạt được…

Vậy thì, viên Cao ủy giờ đây về Paris là muốn được sự duyệt y của Thỏa hiệp ở vịnh Hạ Long. Để rồi với cái mẩu thành công tí teo này, ông ta cố gắng làm cho tung ra thành một chiến thắng lẫy lừng. Nhưng ông ta lại vấp phải sự phân hóa của nền chính trị Pháp quốc. Không một đảng nào, một phe nhóm nào, sẵn sàng yểm trợ cho ông ta, điều mà ông ta vẫn đợi chờ. Tôi được biết như vậy ngay sau khi đến Paris, khi tiếp xúc với một số chính khách.

Ngay cả đến những người được coi là có thiện chí nhất với giải pháp phù hợp với đường lối hiện tại của Pháp lúc ấy, như phe De Gaulle của Cộng hòa Dân chủ Pháp RPF, cũng không mấy sốt sắng ngay. Họ muốn dành sự ủng hộ này, đúng vào lúc sát kề, mà họ đạt được đa số để cầm quyền. Tướng Benouville đã bảo thẳng với tôi như vậy.

Còn về các nhóm khác, dù là đa số hay bọn đối lập, họ còn lâu mới tới giải pháp trong đó dành độc lập và thống nhất cho Việt Nam, cả với sự bảo đảm của tôi cũng bị bọn Cộng sản từ chối thẳng thừng khi không đàm phán với Hồ Chí Minh. Nhiều đảng viên Xã hội về phe cộng sản, và tất cả đều ở thế dè dặt. Bọn Cộng hòa tả phái như thường lệ, vẫn từ chối không chịu điều đình. Bọn Cộng hòa dân chủ thì coi việc thực hiện thỏa ước mùng 5 tháng 6 như một sự sa hố, e ngại rằng có thể kéo nước Pháp đến chỗ nhượng bộ bất khả chấp thuận. Còn đối với phe đối lập và cực hữu, họ cho là đã đi quá xa và chỉ chấp nhận dùng binh lực để trở về qui chế cũ.

Tôi để cho các thân cận của tôi giải quyết: Nguyễn Mạnh Đôn, Bửu Lộc, Nguyễn Đắc Khê, Nguyễn Quốc Định tiếp xúc với họ, và ngày 11 tháng 7, tôi gởi cho ông Bollaert một giác thư nhấn mạnh là ngày 5 tháng 6, tôi chỉ đóng vai nhân chứng, và các điều khoản ghi trong bản thể chế, không phải là thứ “có thể đưa đến hòa bình và đặt nền tảng thân hữu lâu dài giữa hai dân tộc của chúng ta được”.

Ngày 19 tháng 7, chính phủ Schuman đổ, chứng tỏ sự thận trọng của tôi là đúng. Một tuần sau, ông André Maris lập tân nội các. Ông Paul Coste Floret vẫn giữ bộ Pháp quốc Hải ngoại và ông Robert Schuman thay ông Georges Bidault giữ Bộ Ngoại giao.

Trong phiên họp ngày 15 tháng 8, ở Sài Gòn, Hội đồng Nam bộ ngỏ ý mong muốn Quốc hội Pháp chuẩn y bản thỏa ước ở vịnh Hạ Long.

Trước Nghị viện, tân nội các Pháp ngày 19 tháng 8 trình bày đường lối chính trị về Đông Dương, và đạt kết quả tối đa về tín nhiệm. Sau khi khâm phục hành động của viên Cao ủy Pháp, và ngợi khen ông ta về những điều khoản ghi trên thỏa ưởc mùng 5 tháng 6:

- Chính phủ chấp nhận toàn thể và long trọng các điều khoản ghi trên thỏa hiệp. Mặt khác, trung thành với nhiệm vụ cố hữu của nước Pháp, vốn đã ghi rõ trên bản Hiến pháp, là dẫn dắt các dân tộc mà nước Pháp có trách nhiệm, đưa đến tự do, để tự cai trị lấy mình, và quản trị lấy công việc của nước họ một cách dân chủ, chính phủ Pháp hiểu rằng tham gia vào Liên hiệp Pháp, trong tinh thần hoàn toàn bình đẳng, và độc lập, các quốc gia Đông Dương từ nay có trách nhiệm chung để phát triển nền thịnh vượng tròng hòa đồng và hòa hợp tốt đẹp. Mặt khác nữa, chính phủ Pháp coi thể chế hiện hữu của xứ Nam kỳ không phù hợp với tình trạng hiện tại, và chỉ có dân chúng xứ ấy mới có quyền quyết định tự do về thể chế nhất định của mình, trong khối Liên hiệp Pháp. Chính phủ cũng nhắc lại lời kêu gọi của viên Cao ủy, gửi cho tất cả mọi gia đình trí thức và chính trị gia ở Việt Nam để mời họ tham gia vào sự hợp tác này trên căn bản xây dựng độc lập và hòa bình. Chính phủ mong muốn rằng, khi mà hoàn cảnh thuận tiện, để tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý và tạo lập một chính phủ nhất định, miễn là những cơ cấu dân chủ phải được thực hiện và có kết quả ở khắp lãnh thổ, của một quốc gia tự do.

Tôi cũng ghi nhận rằng lời tuyên bố này không đá động gì đến tôi, hay đến chính phủ của Tướng Xuân, và như vậy, nó chỉ là lời nhắc lại của các điều khoản ghi trên bản thỏa hiệp ở vịnh Hạ Long. Nó không đá động gì đến những vấn đề thiết yếu đang để lửng lơ ở trong bản thỏa hiệp. Cuối cùng, nó không phải là bản chuẩn y do Quốc hội chấp nhận, nhưng chỉ là sự đồng ý mà thôi.

Thế rồi, viên Cao ủy lợi dụng chỗ được tuyên dương, và sự kêu gọi các nhà trí thức và chính trị gia hợp tác, liền xin gặp tôi.

Cuộc tiếp xúc diễn ra ngày 25 tháng 8 năm 1948, ở lầu Henri IV, tại Saint-Germain-en Laye. Lúc nào cũng ra vẻ tự tin và vững vàng, ông ta làm ra bộ đã quên mọi sự không ưa lẫn nhau của tôi, ông ta nói:

- Thưa Ngài, bản thỏa hiệp ở vịnh Hạ Long này đã được xác nhận rồi. Chính phủ Pháp chỉ có thể và chỉ muốn đàm phán với Ngài mà thôi. Nay là lúc mà Ngài nên trở về Việt Nam để điều khiển thực sự công tác. Nếu Hồ Chí Minh chịu hưởng ứng lời kêu gọi của chính phủ Pháp, thì với Ngài mà ông ta phải thảo luận…

- Thưa ông Cao ủy, tôi chưa bao giờ nghe thấy tất cả sự đó. Tôi chưa bao giờ nghe đến cái gì liên can đến tôi, và tôi vẫn chờ nghe những đề nghị của chính phủ quí quốc. Nhưng điều thiện chí chưa đủ để nói hết

Thế là với sự bực mình rõ rệt, ông ta tiếp:

- Thời gian sẽ đến với Ngài. Có lẽ cũng còn lâu lắm thưa Ngài, nhưng mà chính Ngài phải hành động trước. Ngài sẽ nhận thấy…

- Thưa ông Cao ủy, Ngài vừa nói đến thời gian. Nhưng mỗi một chút thời gian qua đi, là máu của nhân dân tôi vẫn chảy, và chính tôi phải chịu trách nhiệm trước họ. Vì thế, tôi không thể trở về Việt Nam với hai bàn tay trắng. Tôi mong rằng nước Pháp bỏ hẳn các điều khoản vô lý ghi trên tờ thế chế, nước Pháp tuyên bố chân thật và dứt khoát rằng ba kỳ chỉ hợp lại thành một và cùng trong một nước. Như vậy, thì Ngài có thể tin ở nơi tôi được.

Nhận thấy rằng lần nữa, thủ đoạn của ông ta bị thất bại, ông Bollaert rút lui, và không quên nói một câu để giữ thể diện:

- Thưa Ngài, tôi hy vọng chúng ta sẽ gặp nhau ngày gần đây.

Để chứng tỏ rằng tôi đang phải đương đầu với ai, tôi quyết định không chùn bước. Tôi trở về Cannes với gia đình tôi.

Giữa lúc ấy, chính phủ André Marie bị bắt buộc phải từ chức. Chính phủ này chỉ đứng được hơn một tháng. Làm sao mà tôi có thể điều đình nghiêm chỉnh trước một sự bấp bênh như vậy được? Bây giờ là ông Henri Queuille, ngày 11 tháng 9 lập tân chính phủ. Và ông Coste Floret, chắc chắn là ngồi dai đến chết, vẫn giữ bộ Pháp quốc Hải ngoại.

Sau đó ít lâu, tôi bị bệnh đau gan, nên phải về Paris chữa bệnh. Giữ kín danh tánh tôi kín đáo cư ngụ tại khách sạn California, phố Bercy, rất gần phòng mạch của bác sĩ điều trị.

Tôi còn đang đau, thì ngày 17 tháng 10, vào buổi trưa, có người kêu điện thoại gọi tôi:

- Thưa Hoàng đế, có người muốn xin được gặp Hoàng đế.

- Xin trả lời là tôi đang đau, và không thể tiếp ai được. Tôi đáp, và tắt máy.

Lại chuông reo lần nữa.

- Thưa Hoàng thượng, vị quí khách năn nỉ xin gặp là ông Haussaire.(9)

- Không, tôi không muốn gặp ai…

Chưa hết câu, thì có tiếng gõ cửa. Bực tức đến tột độ, tôi sẵn sàng nổi sùng với kẻ vô ý thức đó.

- Vào.

Thì đó chính là ông Bollaert đã lao vào như gió. Mặt ông ta biến sắc. Ông ta tháo mục kính ra rồi lại đeo vào mắt, chỉ đủ thời gian để thở. Tôi hơi buồn cười về sự xâm nhập của ông ta. Thế là ông Cao ủy bảo tôi:

- Thưa Hoàng thượng, xin Ngài tha lỗi cho tôi đã bắt buộc phải đột nhập phòng Ngài trái phép, nhưng tôi cần phải gặp ngài ngay.

Tôi im lặng. Ông ta tiếp, gần như cầu khẩn:

- Thưa Hoàng thượng, tại sao Ngài lại không trở về Việt Nam?

- Thưa Ngài Cao ủy, tôi tưởng đã nói với Ngài Cao ủy rồi, là tôi không thể trở về nước tôi với hai bàn tay trắng được. Chẳng hay lần này, Ngài Cao ủy có đem cho tôi tin tức mới lạ nào không?

- Thưa Hoàng thượng, tôi tin rằng Ngài từ chối không chịu vào đấu trường.

- Vâng, có lẽ lắm. Vậy thì tôi muốn biết ai là con bò mộng, và ai là tên đấu bò đây?

- Thưa Hoàng thượng, hẳn Ngài biết rằng hòa bình sẽ trở lại, với điều kiện là Ngài phải trở về Việt Nam.

- Thưa Ngài Cao ủy, xin đừng ép tôi. Ngài đã có Tướng Xuân, xin hãy đàm phán với ông ta!

Lập tức, mặt ông ta tái nhợt, ông ta nói với tất cả sự tuyệt vọng vô cùng:

- Tôi tin rằng, tôi chỉ còn có cuốn gói là hết.

- Đó chính là điều tốt nhất cho Ngài vậy.

Tôi nhìn ông ta đi ra. Đây là người tuyệt vọng đã đi ra.

Chú thích :

(7) Trong cuộc hội nghị bỏ túi này, có những đại diện của các đảng phái quốc gia Việt Nam Quốc dân đảng, v.v… các giáo phái… như quí vị: Đặng Hữu Chí, Trần Quang Vinh, Lê Văn Hoạch, Phạm Công Tắc, Nguyễn Khoa Toàn, Hà Xuân Tố, Phạm Văn Hai, Đỗ Quang Giai, Lương Danh Môn, Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Văn Ty, Ngô Quốc Côn, Nguyễn Thúc Loan, Phạm Đình Tuyên, Nguyễn Thức, Ngô Khánh Thực, Trương Vĩnh Tống, Nghiêm Xuân Thiện, Đặng Văn Dần…

(8) Chân mạng đế vương

(9) Haut Commissaire: Chữ tắt chỉ Cao ủy.

« Lùi
Tiến »