Thế là từ nay tôi trở thành một thường dân, di cư sang Pháp, y như những người khác. Từ xa, tôi theo dõi cuộc sống của dân tộc tôi, chịu chung nỗi đau thương, vui buồn cùng họ.
Sau khi người lính Pháp cuối cùng cuốn gói ra đi vào tháng 4 năm 1956, ông Diệm có xung quanh những người thân tín là ông Nhu, Cẩn, Đức cha Thục và nhất là người em dâu, bà Nhu, đã ngự trị thành chúa tể ở miền Nam Việt Nam. Thỉnh thoảng, chỉ có sự vãng lai che chở của các cố vấn Mỹ, đem đến cho ông ta một chút mặc cảm về tinh thần quốc gia u ám của mình.
Tuy nhiên, sự chống đối không phải là chấm dứt hẳn. Việc tiêu diệt giáo phái đã giao cho Việt Minh từng vùng rộng lớn và phì nhiêu ở nông thôn, vốn còn có những phần tử Việt Minh đóng tại chỗ, trái lại các điều khoản của hiệp ước Genève.
Bởi vì, nếu ông Diệm có dẹp bỏ được sự lo âu về tổng tuyển cử, thì Việt Minh cũng chẳng thành tín gì, đối với việc tập kết mà chứng còn để lại ở miền Nam, từng bộ phận quân sự của họ.
Thật sự, những điều khoản của Genève chẳng bao giờ được ai tôn trọng cả.
Chẳng bao lâu, đây là sự xuất hiện của bọn du kích Việt Cộng mà những sự khủng bố đã làm mất an ninh ở khắp miền Nam. Trước hiểm họa đó, người Mỹ vội vã xúc tiến việc thành lập quân đội Việt Nam. Nhưng trong lãnh vực này, họ đã không chịu theo kinh nghiệm của người đi trước, lại đi lập các đạo quân chính qui cổ điển với đầy đủ trung đoàn, sư đoàn, bộ tham mưu, và các cơ sở quân sự… Lẽ ra, họ phải giữ lấy nguyên tắc vẫn để các đoàn khinh binh lưu động, như tôi đã từng buộc Pháp phải chấp nhận là đúng. Các đoàn khinh binh này có sự uyển chuyển co dãn, để đối phó với quân du kích địch, do chúng có thể đột xuất nhanh chóng và được áp dụng đúng với chiến tranh du kích cách mạng.
Trong khi đó, ông Diệm và các anh em là Nhu và Đức cha Thục, đã tìm cách chống lại tứ đổ tường hầu thanh sạch hóa miền Nam vốn mang tiếng là thối nát. Các sòng bạc và nhà chứa đều bị đóng cửa, nạn đa thê và mãi dâm bị triệt để cấm hẳn, ngay cả khiêu vũ cũng bị nghiêm cấm. Rượu và thuốc phiện, tất nhiên bị liệt vào hàng tệ nạn xã hội, không thể được dung túng. Nhưng tất cả cái phong trào thanh hóa ấy, cũng chẳng thu được kết quả nào đáng kể. Ngay cả Nhu, dựa vào lý thuyết của Emmanuel Mounier, đã muốn đặt thành quốc sách cái gọi là Cần Lao Nhân Vị cũng chẳng đạt được kết quả mong muốn, vì thuyết đó không thích ứng với tâm hồn của người Việt Nam, từng được tiêm nhiễm về Khổng Mạnh sâu đậm. Vì vậy, các dự định cải cách lớn lao của Ngô Đinh Diệm, nhằm vào cải cách ruộng đất, lập các ấp chiến lược chẳng những đã không đi đến đâu, còn làm dân chúng bất mãn, trở thành yếu tố cho bọn du kích bành trướng.
Vì vậy, ngày 20 tháng chạp năm 1960, đã phát sanh ra cái gọi là Mặt trận Giải Phóng Miền Nam, và đến ngày 1 tháng 2 năm 1961, Quân Đội Giải Phóng Miền Nam thành hình. Tuy quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã mạnh tới 150.000 người, được trang bị đầy đủ do người Mỹ viện trợ, người ta có cảm tưởng rằng quyền hành đang bị vượt qua.
Cũng do đó, ngày đầu tháng giêng năm 1962, tuy không ai muốn nói đến đoàn quân viễn chinh Mỹ, đã có từng đơn vị quân đội đang bắt đầu đổ bộ Sài Gòn. Nhiệm vụ của họ là thay thế cho các đoàn cố vấn, để họ cùng đi hành quân cùng với quân đội Việt Nam. Hoa Thịnh Đốn càng ngày càng dấn thân thêm nữa, và sự leo thang trong lãnh vực quân sự đã bắt đầu.
Về mặt kinh tế cũng vậy, để trám vào các sự khiếm khuyết của Diệm, các cố vấn Mỹ đã đưa các chuyên viên của họ vào các bộ, và các cơ quan thông tin. Ông Nhu dần dà thay thế anh. Thông minh, can đảm, tàn bạo, Nhu lập ra nhiều tổ chức, mà mục đích là kiểm soát dân chúng, công chức, thanh niên và phụ nữ. Sự đoàn ngũ hóa ấy tăng trưởng mãi lên thành phong trào gọi là đoàn Thanh Niên Cộng Hòa, mà tất cả mọi người đều phải ghi tên kể từ khi lên tám tuổi. Việc tiểu trừ Cộng sản dâng cao tột độ nhưng vì có những sự vụng về, nên người ta bỏ ra bưng theo Cộng sản.
Tất cả đang tiến tới, chính phủ gặp phải sự chống đối của các nhà sư. Ông Diệm và Nhu là người Công giáo. Các nhà sư được Cộng sản giật giây, và mật vụ Mỹ tiếp tay, liền bắt đầu hoạt động. Chính quyền phải đổi phó lại, vô hình chung như mang mặc cảm kỳ thị tôn giáo.
Ngày 1 tháng 11 năm 1963, ông Diệm bị lật đổ, với sự đồng ý của Mỹ, và bị giết cùng với ông Nhu. Phe quân nhân đảo chính, do tướng Dương Văn Minh “Cồ” lên cầm quyền.
Ở miền Bắc, sau khi thắng năm 1954, một chính sách độc tài nghẹt thở đè nặng lên nhân dân toàn xứ. Tuy tin tức ít lọt ra ngoài, nhưng người ta cũng biết rằng Hồ Chí Minh và phe nhóm đang sửa soạn chiến tranh. Họ đã bắt đầu chịu gánh nặng viện trợ cho quân du kích miền Nam. Đối với họ, chẳng còn hồ nghi gì nữa, sự thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện, nhưng dưới lá cờ của Đảng Cộng sản. Dù cho vị lãnh tụ già nua có chết đi vào năm 1969, các diễn tiến ấy vẫn không thay đổi.
Ở miền Nam, sau khi ông Diệm bị lật đổ, các tướng lãnh đua nhau lần lượt cầm quyền và người Mỹ ngày càng đi sâu vào vấn đề Việt Nam. Đã được một năm, máy bay Mỹ không ngớt ném bom đều đặn xuống miền Bắc. Nhiều sư đoàn quân Đại Hàn, quân Úc, và quân Tân Tây Lan đều tham gia chống lại Cộng sản.
Diễn biến ngày hôm nay chỉ là hậu quả của diễn biến ngày hôm qua. Làm sao mà tôi không thể nghĩ đến Tổ quốc Việt Nam của tôi, khi tôi đang sống trong đó, và tôi đã từng lãnh đạo lâu năm, và vẫn còn mang nặng trách nhiệm?
Đã có một sự đứt đoạn về thời Diệm, nhưng kể từ ngày ông ta mất đi, sự việc đã hoàn toàn thay đổi. Bắt đầu, tôi lại có liên lạc với dân chúng và chúng tôi đã gặp lại nhau. Chưa hẳn là một cuộc tái hồi, nhưng cũng đã có những môi manh mới.
Tiếc thay, sự chia rẽ ở Nam Việt Nam quả thật trầm trọng. Nhiều đoàn thể quá, chỗ này chỗ khác, đâu cũng là phe phái, chia rẽ. Phe dân sự chống lại phe quân sự, và ngược lại. Người theo đạo Phật chồng lại người Công giáo.
Và trên hết, sự tái sanh các giáo phái nẩy lên như cũ. Cần phải chấm dứt tất cả, vì đó là điều sinh tử của xứ sở. Cần phải có một chính quyền trung ương vững mạnh để tái lập lại sự thống nhất quyền hành.
Trong nhiều cuộc biểu dương ở Sài Gòn, người ta đã đòi bầu cử. Nhưng làm sao mà có được bầu cử trong một nước bị rách nát bởi chiến tranh? Quả là dễ dàng để buộc dân chúng bầu cho ai với khẩu súng dí phía sau lưng. Nếu người ta tổ chức các cuộc bầu cử, ở miền Nam cũng như ở miền Bắc, thì hai bên vẫn cân bằng, nơi nào bầu cho nơi ấy. Như vậy thì đâu phải là hình thức thực hiện thống nhất đất nước ở Việt Nam?
Người ta đã nói đến nhiều về sự các nhà sư tự thiêu, nhưng vấn đề các nhà sư là vấn đề giả tạo. Phần lớn các nhà tu hành, đã trở về chùa của họ. Vậy thì ai đã xúi giục họ gây loạn, ai? Họ ở đâu tới? Làm sao mà biết được nếu họ từ Hà Nội vào hay từ Bắc Kinh tới. Không giống như các nhà tu hành Công giáo, mà người ta ai cũng biết, để hiểu được tự cội nguồn, và tìm ra được lý do.
Tuy nhiên, cũng chẳng có gì là sáng sủa hơn ở Hà Nội. Tôi vẫn có những người liên lạc, từ nơi đó, và tôi biết miền Bắc cũng đang gặp đầy rẫy khó khăn, những lo sợ cấu rứt. Ở đó đang đói khổ, và có những mâu thuẫn dị biệt, hay quan điểm trái ngược. Chẳng hạn như tướng Giáp, ông ta đâu có thân Tầu?
Ở đây, cả thế giới như đang muốn có một giải pháp để chấm dứt chiến tranh. Thì ngay Đại tá Boumedienne hay Tổng thống Nasser cũng đều tự hào là có những giải pháp tốt đẹp có thể áp dụng được. Tất nhiên, trường hợp nào cũng đầy rẫy các cố vấn tài ba cả.
Là một người Việt Nam, và từng là Quốc trưởng, tôi đã suy nghĩ nhiều, nghiền ngẫm nhiều. Vấn đề hết sức phức tạp. Quả nhiên là quan trọng quá độ, để có thể tìm được một giải pháp nhiệm mầu. Tìm cách giải quyết, có hàm ý là phải gặp hàng loạt sự đi đêm, sự thăm dò chính trị và phải trình bày cho các bên liên hệ, những mục tiêu dự định, và phương pháp để thực hiện. Kế hoạch mà tôi muốn đưa ra để đem lại hòa bình cho Việt Nam, vướng mắc vào sự va chạm quốc tế, và quyền lợi riêng tư của dân chứng, mà người ta đã thường không chú trọng đến.
Dù sao, tất cả các quan điểm được trình bày, quan điểm của Tướng De Gaulle chắc chắn là điều rõ ràng hơn cả, và cũng có thể là điều hữu lý hơn cả.
Tuy nhiên, nó chỉ thực sự đáng lưu ý nếu được các nước liên hệ nhất định tôn trọng, và tùy theo tâm trạng của người Việt Nam. Bởi vì chúng ta chẳng nên nhầm giữa cái gọi là trung lập hóa và vị trí trung lập của một nước. Về vị trí trung lập, thì như nước Cam Bốt đã chứng tỏ rồi. Còn vấn đề trung lập hóa, là sự gạt bỏ tất cả mọi sự du nhập ngoại lai, và chỉ có sự tự lực tự cường của quyền lợi quốc gia. Liệu dân chúng Việt Nam đã nắm vững được ý thức ấy, và tất cả các nước ngoài chịu cái giải pháp ấy? Chúng ta có thể ngờ.
Trong hoàn cảnh hiện tại, nếu chiến tranh cứ tiếp diễn, tương lai về nước Việt Nam sẽ là một nước Việt Nam không có người Việt Nam, một vùng đất cháy với toàn xác chết.
Tôi không kết án cũng không phê bình về nền chính trị Mỹ đối với Việt Nam. Người Mỹ đã bị lôi cuốn, đã bị bắt buộc phải vào cuộc chiến này. Ngược lại, có lẽ họ đã muốn, tôi nghĩ không biết có đúng không, họ đã muốn giúp nước chúng tôi theo kiểu khác, hòa bình và đáng quí hơn là không phải những khẩu canon, và bom đạn… Tuy nhiên, họ đã bị vướng mắc, sa vào một lưới nhện, mà họ không thể tìm thấy lối thoát, nên đành chấp nhận chiến tranh.
Chỗ này cần phải quay trở lại quá khứ. Người ta đã dùng Diệm. Chính tôi đã cho tìm ông ta, khi ông ta mải mê theo tu học, và tôi đã đưa ông ta vào quyền hành. Than ôi, rất nhanh chóng, nước Việt Nam bị đặt dưới quyền gia đình trị của ông ta. Toàn gia ấy đã làm hỏng việc của Diệm.
Thế rồi trước nữa, đó là sự chấm dứt của sự có mặt của người Pháp Điện Biên Phủ, rồi Genève… Tuy nhiên, không phải là sự liên hệ hỗ tương giữa hai sự việc. Cái này không phải là kết quả của cái kia. Điện Biên Phủ là một bãi chiến trường, trong đó vẫn còn tôi ở đấy, miễn là nếu tôi được trang bị khả quan hơn, thì tôi vẫn quật ngược được Giáp đến từ phương Bắc. Bộ Tổng Tư lệnh Pháp đã từ chối, với cớ là đang chuẩn bị cuộc hành quân Atlante. Dù sao, hai tuần lễ sau đó, lực lượng đối kháng của địch đã bị thiệt hại nặng nề, và quân địch phải yêu cầu tạm đình chiến để rút các xác chết và thương binh của họ. Lúc ấy, người ta có thể phản công, nhưng các tư lệnh Pháp thì chỉ muốn đánh ngay tại chỗ.
Có lẽ họ đã hồi tưởng đến quan niệm có từ thời Verdun, nên đành chui trong một xó để im lặng khiếp nhược. Với một chiến lược như thế, thì dù binh sĩ có can trường đến mức nào, cũng không tài nào đạt nổi chiến thắng được. Mọi hy sinh đều vô ích. Genève ngược lại là một sáng kiến chính trị. Một năm trước khi có hội nghị, lúc đó ông Georges Bidault làm Ngoại trưởng, ông ta đã nói trước với tôi là số phận Việt Nam đã được định đoạt, và cũng không phải là do hậu quả của một Điện Biên Phủ nào. Số phận Việt Nam được định đoạt, không có tôi trong đó.
Thực tế, Genève chỉ là một giai đoạn của chiến tranh ở Việt Nam, mà luôn trong hai mươi lăm năm người ta không ngớt giết chóc nhau. Xứ sở Việt Nam của chúng tôi thật là xứ sở tuyệt vời, với một dân chúng đặc biệt, và chúng tôi cũng có thể có một sự tiến triển ngang với Nhật Bản, nếu chúng tôi không bị đưa vào lò thử lửa giữa hai khối Đông Tây.
Vào năm 1966, không còn phải Paris là chỗ làm mất Đông Dương, mà là Hoa Thịnh Đôn. Thật sự, người Mỹ đã phải chịu một đòn chiến tranh tâm lý nặng. Phe Bồ câu chủ hòa đã huy động tất cả các phần tử khiếp nhược và đầu hàng, các ký giả săn tin, bọn thanh niên phản chiến, sinh viên và báo chí khuynh tả. Ở khắp nơi, tại Hoa Kỳ đã thành lập các ủy ban phản chiến khuyến khích binh sĩ Mỹ đào ngũ. Tổng thống Johnson không biết và không dám leo thang chiến tranh. Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 26 tháng 7 ra một bản tuyên ngôn: “Hoa Kỳ không muốn xâm lăng miền Bắc Việt Nam, hơn nữa, Hoa Kỳ không muốn mở rộng chiến tranh, và cũng không muốn lật đổ một chế độ nào”.
Vào lúc cần phải áp dụng sáng kiến để thay đổi số phận của chiến tranh, như phong tỏa các miền duyên hải Bắc Việt, đưa chiến tranh du kích vào châu thổ sông Hồng, đánh ra miền Bắc qua vĩ tuyến 17, người Mỹ lại buông lơi dưới áp lực của phe chủ hòa.
Tại Phnom Penh, ngày 1 tháng 9, Tướng De Gaulle đích thân, không đá động gì đến sự can thiệp của Cộng sản vào dưới vĩ tuyến 17, lại kết án dứt khoát sự can thiệp của ngoại quốc từ “bờ bên kia Thái Bình Dương” và kêu gọi Mỹ hãy rút lui khỏi miền Nam Việt Nam.
Nhờ sự giúp đỡ của quân đội Mỹ nên quân lực Việt Nam không đến nỗi đổ sụp ngay, nhưng miền Nam Việt Nam cũng không đạt được tiến bộ vững chắc nào về chính trị, tuy ngoài mặt có hình thức khả quan. Quân đội có tiến triển, nhưng sự bình trị vẫn chẳng đi đến một kết quả tốt đẹp nào.
Nhân dịp sang thăm Paris vào kỳ hè năm 1965, ông Richard Nixon có tìm gặp tôi. Ông nói:
- Thưa Ngài, sự tìm gặp Ngài là do cá nhân của tôi. Tôi chẳng ăn nhằm gì với chính phủ Mỹ, nhưng tôi muốn biết Ngài nghĩ sao về “leo thang” nhất là về sự ném bom ào ạt vào miền Bắc?
Tôi hỏi lại ông ta:
- Leo thang để làm gì? Nếu để phá hoại, thì tôi có thể trả lời Ngài là chúng tôi cũng đã từng làm về thời của chúng tôi… Nhưng xin đừng có đụng chạm đến đê điều miền Bắc. Và nếu lại dùng đến bom nguyên tử nữa, thì đó là một tội ác…
Nixon ra về, có vẻ suy tư.
Tháng 9 năm 1967, Tướng Thiệu được bầu làm Tổng thống chính phủ, Tướng Không quân Nguyễn Cao Kỳ làm phó. Chính phủ mới được thành lập dưới quyền của Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc.
Cuối tháng giêng năm 1968, tiếng sét nổ ra. Đó là cuộc tấn công Tết Mậu Thân. Quân Việt cộng và bộ đội chính qui miền Bắc mở cuộc xung phong nhiều đợt. Ai cũng ngạc nhiên hoàn toàn. Tất cả các tỉnh lớn ở miền Nam như Huế, Đà Nẩng, Đà Lạt, Kontum, Pleiku, Nha Trang đều bị chiếm đóng. Tại Sài Gòn, quân Cộng sản tấn công vào dinh Độc Lập và tòa Đại sứ Mỹ.
Trong một tháng, chiến trận vẫn khốc liệt, có hàng ngàn người chết. Nhưng cuộc tấn công Tết Mậu Thân đã hoàn toàn thất bại. Quân Bắc Việt trở về vĩ tuyến 17, và du kích Việt cộng lại trở vào bưng. Khi chúng đã quay về, thế giới mới khám phá ra rằng khi Cộng sản mà chiếm được quyền hành, chúng sẽ tàn sát như thế nào. Một điểm nữa đáng chú ý, đó là những dân tìm cách chạy trốn trước quân giải phóng, vốn tự cho mình là đi giải phóng cho mọi người.
Đất nước đông nghẹt hàng đoàn người đi tị nạn. Sau này, người ta đã phải nói rằng, “người Việt Nam đã đi bỏ phiếu bằng chân”.
Vì vậy, lời tuyên bố của Tổng thống Johnson ngày 31 tháng 3, thật đáng tiếc vô cùng. Khi tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc, sự mong muốn của Hoa Kỳ chỉ là được mở các cuộc đàm phán hòa bình “bất cứ ở đâu, và bất cứ lúc nào” đồng thời tuyên bố từ chối ra ứng cử Tổng thống nhiệm kỳ tới, để giải giới dư luận Mỹ.
Ngày 13 tháng 5 năm 1968, tại Paris, miền Bắc Việt Nam chịu mở cuộc điều đình. Hòa hội này lâu tới năm năm. Qui chế của hòa hội năm 1954 lại được áp dụng. Ngày 27 tháng 6, để tránh một Điện Biên Phủ mới, người Mỹ rút khội căn cứ không quân Khe Sanh.
Tại đường Keber ở Ba Lê, ông Averell Harriman, sau được thay thế bằng ông Cabot Lodge, xúc tiến việc thảo luận với trưởng phái đoàn miền Bắc là Xuân Thủy. Nhưng đằng sau phái đoàn chính thức này, công việc thực sự là ở tay hai nhân vật là Lê Đức Thọ và Henry Kissinger, vốn là cố vấn đặc biệt của Tổng thống Mỹ. Bởi vì vào tháng 11 năm 1968, ông Richard Nixon được bầu làm Tổng thống
Ông Nixon trong cuộc hội đàm với Tướng Thiệu ở Guam, đã trình bày quan điểm của mình. Không màu mè gì, ông muốn rút hết trách nhiệm của quân lực Mỹ tại Việt Nam, nhưng không phải vì thế mà để cho Cộng sản có thể làm chủ tình thế được. Vì vậy, ông muốn thay thế quân đội Mỹ bằng quân đội Việt Nam. Tức là Việt Nam hóa chiến tranh. Câu nói đã làm mọi người kinh dị. Bởi vì chẳng mới mẻ gì. Mười tám năm trước, chính Tướng De Lattre đã từng cố gắng thực hiện, mặc dù không nói đến danh từ ấy.
Trong một bài diễn văn đọc ngày 4 tháng 11 năm 1969, Tổng thống Nixon nói với dân chúng Mỹ, đồng bào của ông ta như sau:
“Đừng bao giờ để cho các sử gia của chúng ta có thể bảo được rằng: Mỹ quốc vào thời kỳ cực thịnh của nó vốn là siêu cường mạnh nhất của nhân loại, đã bị các lực lượng độc tài, bắt đưa tay bịt kín niềm hy vọng cuối cùng về hòa bình và tự do, của biết bao nhiêu triệu người nuôi dưỡng…
Trong kỳ vận động bầu cử của tôi, tôi đã cam kết là chấm dứt chiến tranh, để có thể giúp chúng ta tìm thấy hòa bình. Tôi đã thiết lập ra một sáng kiến đề giúp tôi hoạt động hữu hiệu. Dân chúng Mỹ càng giúp đỡ tôi bao nhiêu, tôi càng mau chóng đạt được lời hứa hẹn. Bởi vì chúng ta càng chia rẽ bao nhiêu, thì khó lòng buộc địch chịu hòa đàm bấy nhiêu. Chúng ta cần phải đoàn kết để tiến tới hòa bình, chúng ta càng phải đoàn kết để chống lại mọi thất bại”.
Tại Paris, việc đàm phán dù chính thức hay kín đáo, vẫn kéo dài. Thực hiện chính sách chiếc gậy và củ cà rốt, Nixon quyết định vào đầu năm 1970 đánh vào hành lang của Bắc Việt Nam, nằm trên xứ Chùa Tháp. Cuộc hành quân hỗn hợp của quân đội Mỹ và Nam Việt Nam buộc Thái tử Sihanouk phải chạy sang Bắc Kinh. Sự thay đổi đột ngột đó, lôi cuốn Trung cộng phải tỏ thái độ trong cuộc đàm phán Paris, mặc dù có thể chỉ để dằn mặt Moscou. Ông Nixon khôn ngoan đã muốn khơi to sự rạn nứt giữa hai nước Cộng sản đàn anh. Từ ngày 21 đến 28 tháng 2 năm 1972, ông ta sang thăm Trung quốc, rồi đến tháng 5 cũng sang thăm Moscou. Trước mặt ông ta, việc giải quyết các vấn đề mâu thuẫn ở Việt Nam là khúc đầu trong lịch sử bang giao quốc tế. Hành động khôn khéo đó, rất có lợi cho Việt Nam.
Hà Nội cảm thấy nguy hiểm. Mùa xuân năm 1972, tướng Giáp mở cuộc tiến công mới qua vĩ tuyến 17. Trước mặt, chỉ có vài sư đoàn quân Việt Nam Cộng hòa, còn lính Mỹ thì có hơn 50.000 quân đóng tại chỗ.
Ngày 12 tháng 7 năm 1972, trước hoàn cảnh mới này, tôi gửi dân chúng Việt Nam lời kêu gọi hòa bình dưới đây:
“Giờ đã điểm để chúng ta chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, giúp cho dân tộc chúng ta băng bó vết thương, để trở về với nền hòa bình của sự hòa đồng tương thân tương ái. Mong rằng tất cả mọi người hãy xóa bỏ mọi hận thù và nỗi chua cay, và tất cả hãy đoàn kết lại để xây dựng lại tổ quốc. Đối với nhiệm vụ thiêng liêng ấy, tất cả mọi người đều có bổn phận góp phần cũng như có quyền tham dự. Như tất cả mọi công dân Việt Nam khác, tôi thành thực kêu gọi và ao ước sự hòa giải dân tộc. Hãy cùng nhau giơ tay ra đoàn kết để Việt Natn được tồn tại đời đời”.
Tôi cho ấn hành một thông cáo, giải thích tại sao sau khi vắng mặt luôn 17 năm trường nay tôi lại xuất hiện công khai trong mâu thuẫn hiện tại. Thật vậy, nếu tình hình quân sự có bề khẩn trương, tình hình ấy đang có lợi cho miền Nam Việt Nam Khốn thay, tình hình kinh tế lại đang bị suy thoái đáng ngại. Thế mà chính trị bao giờ cũng lệ thuộc nhiều vào kinh tế. Vậy thì đã đến lúc để lại bắt đầu.
Cuối mùa hè, thì người ta có thể nói dứt khoát là Cộng sản đã thất bại. Quân đội Cộng hòa đã đứng vững. Liệu quốc gia có thể hồi phục được tinh thần?
Tại hội nghị Paris, bọn Cộng sản đề nghị một thỏa hiệp rời rạc và đầy thiếu sót vì nó chỉ quanh quẩn đến vấn đề ngưng bắn tại chỗ. Thiệu với lý do rất xác đáng, đã từ chối cái thỏa hiệp đó. Tình thế lại bế tắc. Thế là ngày 18 tháng 12 năm 1972, Nixon quyết định lại ném bom miền Bắc. Cuộc oanh tạc này thật khủng khiếp, và kéo dài tới 12 ngày.
Trước quyết định đó, ngày 27 tháng giêng năm 1973, miền Bắc Việt Nam ký ở Paris, về cuộc chấm dứt hận thù, và tái lập hòa bình ở Việt Nam. Hoa Kỳ, miền Nam Việt Nam, Mặt trận Giải Phóng Miền Nam và Bắc Việt đồng ký kết.
Thỏa hiệp ấy dựa vào sự tôn trọng vào căn bản của chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt Nam, và quyền tự quyết của từng cá nhân, đồng thời nói lên mối quan tâm đối với nền hòa bình của Á châu và của toàn thế giới.
Trong đó có một chương chứa đựng điều quan trọng:
“Nền thống nhất của Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước một, bằng hình thức hòa bình, trên căn bản thảo luận và hiệp ý giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam, không có chuyện sát nhập miền này vào miền kia, giữa hai bên, và cũng không có sự can thiệp ngoại lai. Ngày thống nhất sẽ được quyết đỉnh bởi một thỏa hiệp chung giữa miền Nam và miền Bắc Việt Nam”.
Trong tháng chạp năm 1972, tôi có gặp ở Paris, một số chính khách Nhật, họ mời tôi sang thăm nước họ.
Ngày 6 tháng giêng năm 1973, tôi rờí nước Pháp sang Hong Kong, và lấy làm thích thú được hồi tưởng lại những ngày cũ tôi đã sống tại đây về năm 1946. Không biết bao lần, tôi nhận được cảm tình nồng hậu và lòng trung thành của các kiều bào hải ngoại. Như cộng đồng kiều bào ở Nouméa, đã đánh điện chúc mừng tôi, qua trung gian một vị đại diện của họ, lúc ấy đang làm Giám đốc Đài phát thanh ở Nouméa (Tân Thế Giới).
Tôi đến Tokyo ngày 7 tháng 2. Ngày ấy, lẽ ra Thiên hoàng Hiro Hito bận phải xa kinh đô, Ngài đã cho lui lại chuyến công du 24 giờ, vì sợ hiểu lầm là thất kính đối với tôi.
Ngày hôm sau để chứng tỏ tôi rất cảm động về lòng ưu ái đó, tôi đến đặt vòng hoa anh đào trong đền thờ Vua Minh Trị Thiên hoàng. Vua Minh Trị đã giống như tổ tiên tôi là vua Gia Long, đã đem nền văn minh Âu Tây vào đất Nhật. Cũng chính là vị Vương, ngày đầu thế kỳ này, đã đặt kinh đô ở Tokyo, và đặt ra Hiến pháp, sau khi tuyên bố bỏ chế độ phong kiến, và thể chế quân phiệt ở Nhật.
Trong thời gian lưu lại Tokyo, tôi đã gặp lại Ngài Yokoyama, cựu Sứ thần Nhật ở Huế trong những giờ phút khó khăn năm 1945.
Chính ông ta đã thông đạt cho tôi biết quyết định của chính phủ Nhật là trao trả nền độc lập cho Việt Nam. Ông cụ già này rất cảm động được gặp lại tôi.
Các nhà kinh doanh Nhật đã liên miên mời tôi dự các buổi tiệc tùng chiêu đãi.
Chính tại Tokyo mà tôi được biết về bản văn kiện ký ở Paris 31 tháng 1 năm 1973. Lập tức, tôi nhận thấy có nhiều sơ hở, nhất là về những chỗ nói về sự đảm bảo quốc tế, và nền tự quyết của dân tộc. Qua trung gian hăng AFP địa phương, tôi ra một bản công bố nói rằng: “Dân tộc Việt Nam qua nội dung bức văn kiện, không chịu để bị ràng buộc bởi loại hiệp ước kiểu Yalta trao đổi giữa ông Kissinger và Bắc Việt Nam”.
Nhấn mạnh đến chỗ xây dựng đất nước, tôi lưu ý rằng:
“Mọi viện trợ ngoại quốc, dù to lớn và cần thiết đến đâu, nó cần phải căn cứ vào nền hòa bình xã hội, nền hòa bình này lại phải do toàn thể nhân dân Việt Nam chấp nhận. Nếu không có sự đoàn kết quốc gia, thì viện trợ nào cũng trở thành vô ích, nếu không còn trở thành nguy hiểm cho tương lai xứ sở nữa”.
Điều cảnh cáo của tôi từ Tokyo chẳng phải là vô ích. Áp dụng thỏa hiệp ngày 27 tháng giêng, một hội nghị quốc tế được mở ra ở Paris một tháng sau, để các bên ký kết ngày mùng 3 tháng 3, một văn kiện mới, trong đó nhấn mạnh:
“Trong trường hợp vi phạm vào hòa bình, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ ở Việt Nam, hay vi phạm vào quyền tự quyết của dân chúng miền Nam Việt Nam, các bên ký kết hiệp ước này hoặc riêng biệt, hoặc thỏa đồng, phải tham khảo với các phái đoàn khác có ký trên hiệp ước, hầu định đoạt hay tìm phương thức giải quyết thích đáng”.
Sự tái xác nhận những bảo đảm quốc tế đã được đại biểu 12 nước tham dự hội nghị quốc tế về Việt Nam cùng ký là nước Pháp, Mặt trận Giải Phóng Miền Nam, Hung Gia Lợi, Nam Dương, Ba Lan, Bắc Việt Nam, Anh quốc, miền Nam Việt Nam, Nga Sô, Canada, Trung quốc của Bắc Kinh và Mỹ. Để cho được long trọng, cuộc ký kết được tổ chức với sự chứng kiến của Tổng thư ký Liên hiệp Quốc đặc biệt đến Paris về việc ấy. Chúng ta sẽ thấy sự tín nhiệm mà người ta đặt cho bản văn kiện quan trọng như vậy, nó có giá trị.to lớn và bảo đảm bực nào, cho những chữ ký được đề cao quan trọng như vậy.
Thật vậy, nhưng thỏa hiệp ấy, nếu có đem đến sự thắng lợi cho Hoa Kỳ, đã rút chân ra được một bi kịch như vậy, vẫn còn ghi dấu lại lâu lắm. Còn đối với miền Bắc Việt Nam, nó lại là một sự đồng lõa, hầu tránh một cuộc chiến bất lợi, chỉ đưa đến sự thất bại về cho toàn thể dân chúng Việt Nam chẳng còn hy vọng giữ lấy tự do và độc lập của mình.
Thỏa ước Paris đã chẳng đưa đến hòa bình ở Việt Nam, mà nó chỉ đưa đến sự chấm dứt sự can thiệp của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh này.
Chẳng bao lâu, quả nhiên, chiến tranh lại bùng nổ, chẳng những ở miền Nam Việt Nam, mà thực tế chưa bao giờ chấm dứt, mà nó còn lan rộng sang Cam Bốt và nước Lào.
Hai mươi ba sư đoàn của Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Cộng sản, ở phía nam vĩ tuyến 17 đã chẳng bao giờ chịu rút đi, càng làm áp lực mạnh.
Tuy nhiên, sau khi việc phóng thích 500 tù binh Mỹ được chấm dứt vào ngày 29 tháng 3, Tổng thống Nixon bị dính líu vào vụ Watergate, đó là một biến cố bất hạnh lớn lao cho Nam Việt Nam.
Thế là sự đồng minh của phe Cộng sản Nga Tàu và khác nữa, cộng với sự đồng lõa của bọn người tưởng tìm ra được sáng kiến để quân bình thế giới, cũng như sự im lặng của bọn khác, hầu mong được cảm tình của địch bất chấp ý chí và quyền lợi của các dân tộc, đã thắng, và Tổng thống Nixon rút lui khỏi chính trường kể từ ngày 8 tháng 8 năm 1974.
Thế rồi từng đoàn tàu vận tải của Nga, nối đuôi nhau ở cửa bể Hải Phòng để tháo gỡ quân trang, quân cụ cho Cộng sản Hà Nội, để trang bị từng sư đoàn Cộng sản vào đầu năm 1975, thì Quốc hội Mỹ đã từ chối, không chịu thổi cho chính phủ miền Nam Việt Nam một quả bóng dưỡng khí nào, để có thể giúp cho nó khỏi bị chết ngạt.
Đó là dấu hiệu của sự chia phần. Văn Tiến Dũng tung các sư đoàn tiến công. Ngày 10 tháng 3 năm 1975, Ban Mê Thuột bị hy sinh trước tiên, để rơi vào tay bọn Cộng sản.
Cuộc tiến đánh khá mạnh mẽ và rõ rệt, nhưng chẳng có một quốc gia nào từng ký hòa hội bảo đảm ngày 2 tháng 3 năm 1973, chịu lên tiếng phản đối. Đối với miền Nam Việt Nam, bị tất cả bỏ rơi nên sụp đổ mau chóng.
Mười lăm ngày sau cuộc di tản đẫm máu của dân chúng Phnom Penh, các chiến xa Sô viết do quân đội miền Bắc lái, húc đổ các hàng rào của dinh Độc Lập ở Sài Gòn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Những cảnh tượng thê thảm đã đè nặng lên cuộc di cư đẫm máu của cả một dân tộc chạy trốn Cộng sản Biết bao nghìn người chết trong những ngày ấy, bao nhiêu vụ tự tử, và các gia đình tan tác… Ai có thể, lập được bản đúc kết của các sự bi thảm đó?
Từ đó, đến nay đã được bốn năm. Thành phần của Mặt trận Giải Phóng Miền Nam biệt tăm mất tích. Bọn thống trị miền Bắc đã thực hiện điều thống nhất ký kết ở Paris, không khác gì tờ giấy lộn ném trong sọt rác, điều thống nhất ấy chỉ có nghĩa là các trại tập trung goulag. Bốn năm đã qua đi, nhưng máu vẫn chảy, làm cho đất nước Việt Nam bị thất thoát biết bao con em, làm quang sạch xứ sở, và nếu Hà Nội chỉ khẽ bỏ chiếc gông cùm đè nặng lên đầu lên cổ họ, thì đó là cả một nguồn vô tận nhân mạng, đã băng hóa ra khỏi vết thương mà đất nước Việt Nam mang nặng ở bên mình.
Sự thắng trận của Hà Nội, cũng là sự thất bại của họ.
Sự thất bại ấy đã được in hằn trong sự bỏ chạy của bọn đồng lõa với thực dân Pháp, hay nói với bọn đế quốc Mỹ, mà ngày nay chưa ai có thể qui trách nhiệm riêng cho một bọn nào.
Sự thất trận ấy, đã được in hằn trong sự kháng chiến của cả một dân tộc đã từ chối nếp sống ô nhục ấy, và đặt niềm hy vọng vào sự phụe hưng của một nước Việt Nam hòa bình và tự do.
Ngày nay đây, trong khi đất nước Việt Nam chỉ còn chiến tranh, hận thù, lầm than và chết chóc, từ Đà Nẵng đến Cam Ranh, Nga Sô đang ngự trị làm chủ nhân ông, thì chính phủ Hà Nội chỉ còn thấy một con đường sống là chúi đầu chúi cổ mà tiến lên phía trước.
Sống trong gọng kìm của chiến tranh và đói khổ, nước Việt Nam Cộng sản buộc phải đi sâu mãi vào chiến lược cổ lỗ của giấc mộng bành trướng của Hồ Chí Minh, làm nước Đại Việt Nam bao gồm chẳng những Ai Lao, Cam Bốt, mà còn nhiều tỉnh cũ của Ai Lao, nằm trong lãnh thổ của Thái Lan.
Sau sự thất bại của giải pháp Pháp, đên giải pháp Mỹ, nước Việt Nam sẽ lại gặp sự thất bại của giải pháp Cộng sân, không còn nghi ngờ chi nữa.