Con Rồng An Nam

Lượt đọc: 59206 | 30 Đánh giá: 9,6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Cảm nghĩ

Vậy thì dân chúng Việt Nam đã xứng đáng để được thấy thái bình chưa?

Từ hai mươi lăm năm qua, trên các ngọn đồi ở Huế, lời cam kết nguyện cầu đối với Trời Đất theo như phong tục cổ truyền, đã được ai thắp nén hương thờ cúng, dâng lễ Nam Giao, để được Đất Trời và thần linh phù trợ cho đất nước này chưa?

Được tiếp dẫn linh thiêng bởi hình thể địa dư, và hoàn cảnh lịch sử, lẽ ra Việt Nam phải là đất của gặp gỡ, hòa đồng, bỗng trở thành đất của thù hận và đương đầu đoạn tuyệt hẳn với tinh thần quốc gia cố cựu. Hỏi dân tộc Việt Nam đã được lợi lộc những gì? Đã mất cả tự do, lại bị kết án lựu đầy, đuổi ra khỏi quê hương đất tổ, để cố gắng vớt vát gìn giữ lấy linh hồn.

Cuộc thống nhất bằng vũ lực đã chẳng đưa đến kết quả gì. Nước Việt Nam vẫn còn là miếng mồi của sự tranh giành. Dù các chữ ký ở các hòa hội Paris năm 1973 đã chẳng đưa đến chấm dứt chiến tranh, thì cuộc chiếm đóng bằng quân sự của miền Bắc vào miền Nam Việt Nam cũng chẳng hơn gì, để chấm dứt những giông bão đang làm sôi sục dân tộc rách nát tả tơi này. Máu đã đổ, tang tóc đã đầy, và đau đớn hận thù, trong ba mươi năm càng đào hố thêm sâu sắc.

Chỉ còn mỗi một cách để hàn gắn vết thương ấy, là những người chiến thắng phải có một thái độ đặc biệt. Họ phải tự nén mình xuống, và tuyên bố những điều tương thân tương ái, đồng thời phải tỏ độ lượng khoan hồng. Nhưng miền Bắc đã theo đuổi chính sách sắt máu, ngoan cường không chịu thay đổi. Họ chưa bằng lòng với sự thống trị miền Nam, mà còn muốn bắt nó phải khuất phục, phải chối bỏ bản ngã, để nhồi sọ nó, bắt nó phải coi chỉ riêng họ là nắm vững được chân lý.

Thế là trên bình diện luân lý, triết lý Cộng sản quả là độc hại, bởi nguyên lý của Cộng sản đưa đến sự phá sản về nền móng luân thường và xã hội, mà nước Việt Nam đã dầy công xây dựng trong suốt hai mươi thế kỷ lịch sử. Dân chúng không thể cảm thấy mình là chủ của mình, trên địa hạt quốc gia, để có thể theo định lệ tự nhiên của đại thể mà phục vụ tổ quốc của mình.

Theo dòng lịch sử của hơn hai mươi thế kỷ, tánh thái của đất nước, làm cho nó như cái đáy của mọi biến cố, đường bộ lên phía Bắc khó có thể sang Tàu, đường sang phía Tây hầu như bịt kín. Do thế, nếu có một biến thiên gì bỏ dọc từ trên xuống dưới hay từ dưới lên trên, dân chúng chỉ còn có nước đổ xô ra bể, Họ như bị đẩy vào hỏa lộ Thermopyles (21) ở Đông Nam châu Á. Điều đáng chú ý nhất trong tâm tình của họ, là phải bám sát vào đất đai mà họ sống. Từ hai mươi thế kỷ qua, chưa có một cuộc chiếm đồng nào được dài lâu.

Vậy mà ngày nay, đám dân chúng đó đều trở thành thuyền nhân…

Đã hai mươi lăm năm qua, tôi rời bỏ quê hương của tổ tiên tôi. Hai mươi lăm năm tại Pháp, vùng đất bao dung đã đón nhận tôi, đã ràng buộc tôi với bao kỷ niệm thời niên thiếu. Từ khi Hoàng hậu Nam Phương mất đi, vốn được tôi thương yêu từ lúc thanh xuân, nay đã ra đi, và các con tôi cũng bay xa, tôi thường bơ vơ đơn chiếc. Tôi đã cảm thấy, và đã sống như biết bao đồng bào của tôi, nam cũng như nữ, đang sống hiện nay. Nơi thì cảm tình, bao dung với tình bằng hữu, nơi thì hiểu lầm, đầy ác ý. Nỗi mừng vui khi gặp lại người xưa, hay sự u sầu của cô thân chích ảnh.

Trong thời gian đó, tôi không ngớt đập cùng nhịp tim với các đồng bào khác, đang sống trong lo âu, khắc khoải. Tự đặt mình vào hoàn cảnh của họ, tất cả tư tưởng của tôi đều hướng về họ, nuôi chung một nguyện cầu, hay nguồn hy vọng.

Cuộc sống trong xã hội Việt Nam giống y như cuộc sống tâm linh của vị Hoàng đế, vẫn ấp ủ linh thiêng đến từng thôn dã. Nhưng nếu Người có thánh thiện mọi hành động nào, ra chỉ thị nên theo hay kiểm soát chỉ thị ấy, Người cũng chẳng mang một trách nhiệm nào. Ngược lại nữa, triết lý tuyệt vời của Việt Nam đối với vị Hoàng đế của mình, là bậc minh quân thánh chúa, trị vì mà không cần phải huyên hoa “với hai tay thong thả buông xuôi, và với bộ y phục giản dị, nhẹ nhàng...”. Nhưng hãy bỏ chuyện ấy ra ngoài, như đã từng nói đến về thời năm 1945, hoàn cảnh bây giờ thật vô cùng nghiêm trọng. Nhưng khí thiêng sông núi còn ngự trị tại quê hương tổ quốc, và tư tưởng nổi bật vẫn là tư tưởng của sự phục hồi, có lẽ dưới hình thức mới, sự phục hồi của thuần phong mỹ tục cố hữu của mình.

Thời gian mà chúng tôi đang sống, không phải là thời gian của buông xuôi, tuyệt vọng, mà chỉ là sự tạm ngừng. Với những ai hiện đang nắm quyền hành số phận của tổ quốc, tôi nói: Sửa sai không phải là điều mất mặt… Như Khổng Phu Tử đã từng nói: “Cái gì mà chúng ta có thể vứt bỏ, thì không phải là Đạo. Thời đen tối tiếp diễn thời sáng sủa. Sự đó làm nẩy ra Đạo”.

Nước Việt Nam với một nguồn nhân lực, với tài nguyên nông nghiệp, khoáng sản đầy rẫy, sẽ thành công trong lãnh vực kiến thiết, nếu nó không bị chia rẽ, mà sống trong nền thống nhất thực sự. Nền thống nhất thực sự ấy phải được xây dựng, theo sự an bình của nội tâm, truyền thống tốt đẹp của hiền hòa và cảm thông dễ dàng. Đó là đường đi của hòa bình. Như vậy, dân tộc Việt Nam đoàn kết trong một nước gồm trên bốn mươi triệu dân, tự do, bình đẳng như anh em, một dân tộc cần cù, đầy sáng kiến và kiêu hãnh, họ có thể đổi chỗ đứng xứng đáng trên hoàn cầu, và tự tìm thấy bản chất xứng đáng của mình.

Một bản chất ấy khởi từ cỗi nguồn, đã tìm ra được nguyên lý. Đó là nguyên lý của sự xử thế giữa con người với con người, và gieo rắc tình thân hứu với các quốc gia, đồng thời thể hiện được nền độc lập của mình, coi như một vấn đề tự nhiên, bởi tất nhiên.

Trong tất cả các dân tộc, dân tộc Việt Nam trong suốt ba mươi lăm năm đã dẫn đầu về sự hy sinh. Từ thế kỷ thứ 19, con số Tử vì đạo cho Thiên Chúa đã rạng danh nước Việt Nam là Trưởng nữ của Công giáo ở Viễn Đông.

Nhưng bây giờ, đây là cả một dân tộc, dù họ đã bị hướng dẫn lầm lạc bởi bọn chăn cừu kém cỏi, hay vì họ quá yêu chuộng tự do, vâng, tôi nói cả một dân tộc, đã minh chứng trước mắt thế giới, khả năng hy sinh tột độ của mình. Một sự hy sinh bị ép buộc, chịu sống trong nhẫn nhục và cam phận, với một tư cách khuôn mẫu, với đầy đủ ý nghĩa đó.

Cũng như sự hy sinh của hàng chục ngàn trẻ con, đàn bà cũng như đàn ông, đã sẵn sàng trao phó đời sống của mình trên một chiếc thuyền mỏng manh, để không biết bao nhiêu đã mất tích trong sóng cuồng giông bão.

Sự hy sinh đó có giá trị như một bản thông điệp. Bản thông điệp gửi cho khắp cả các nước trên hoàn cầu. Liệu các nước có hiểu được ý nghĩa bức thông điệp đó? Đã có một thời mà nước Việt Nam, trong sự lo âu, thất vọng chờ mong một cử chỉ của tình thương. Ngày hôm nay, sự lo âu tuyệt vọng đó đã quá độ rồi, tiếng kêu thương của họ không còn là lời kêu gọi suông nữa. Nó phải là sự can thiệp tức khắc.

Paris tháng7-1979

BẢO ĐẠI

Chú thích:

(21) Thermopyles: Đường hẻm giữa hai khe núi, hẹp và không có lối thoát ở hai bên, tại Thessalie (Hy Lạp). Nơi đây xảy ra cuộc tử chiến giữa Leonidas, với 300 quân, để chống lại với quân Thổ Nhĩ Kỳ và tất cả đều bị tử trận.

Đánh máy: Thanh Vân
Nguồn: VNthuquan.net - Thư viện Online
Được bạn:Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 24 tháng 8 năm 2019

« Lùi
Tiến »