Cơn mưa ập xuống. Con phố mờ đục ánh sáng xanh trong lưới mưa bít bùng. Mẹ, trời gì mưa hoài. Ngưỡng mở hết máy leo qua lề chúi đầu xe vào một mái hiên hẹp. Chỉ trong chốc lát mặt đường vắng hẳn, phần lớn mọi người đã dừng lại ngó ra mặt đường, nhìn lên bầu trời tối đen. Những xe hơi kín chiếu đèn loang loáng vượt nhanh trong lưới mưa. Tôi phủi những hạt nước còn bám trên áo, lấy chiếc khăn lau mặt. Đáng ra mình không nên ra đây sớm. Đáng ra tôi phải ở lại trong căn nhà lá chật hẹp đó dù chỉ để ra vào quanh quẩn và ngủ. Mẹ muốn con làm cách nào đổi về ở gần mẹ và em, như vậy mẹ mới dễ gặp con, con ở xa quá, mẹ nhớ có muốn đi thăm con cũng không được, đường xá xa xôi. Sau hai chặng đường Di Linh – Sài Gòn, Sài Gòn – Cần Thơ, gần bốn trăm cây số. Trong bệnh viện vừa nhìn thấy tôi mẹ tôi đã òa khóc. Tôi nghe thấy tim mình đau nhói và chảy nước mắt, đó là lần thứ nhất tôi bị thương nơi bắp đùi. Lần thứ hai, vượt quãng đường Di Linh – Sài Gòn, mẹ tôi nhìn thấy tôi nằm im trên giường bệnh bà không khóc, mặt mẹ tôi tái nhợt, người như run khi cầm được tay tôi, giọng mẹ tôi yếu ớt hẳn đi, tiếng nói gấp gáp với hơi thở... Tôi sợ một lần nào đó, nhìn thấy xác đứa con độc nhất, mẹ tôi sẽ như một tượng đá vô tri, không còn khóc được, không còn xúc động được. Tôi không bao giờ muốn như thế. Tuyệt nhiên không bao giờ.
Chân con làm sao, viên đạn bắn vào đâu, có gãy xương không, có đi được không, bao lâu thì khỏi, bây giờ con thấy đau nữa sao, sao buộc kín thế này... Tôi giảng giải về vết thương, một viên đạn nằm ở trong bắp chân, phải mổ, không can hệ gì, chỉ ít lâu là có thể trở lại đơn vị. Mẹ tôi buồn bã: – Nghĩa là con chưa giải ngũ? Tôi nhớ gương mặt, mắt nhìn của mẹ tôi, những hình ảnh bám sát lấy trí não tôi trong những ngày sau đó, khi đã trở ra mặt trận.
Khuôn mặt, cái nhìn thân yêu đó lập lờ vây phủ nhưng nếu cố gắng nhìn rõ thêm trong không gian tôi thấy nó mơ hồ những mơ hồ làm tôi chới với kinh hoàng... Chắc lần này con không còn ra mặt trận được nữa. Mẹ tôi hỏi với giọng lo âu. Tôi im lặng. Như vậy là mẹ tôi mừng hay mẹ tôi buồn. Tôi không muốn biết rõ điều ấy. Buồn vì lo vết thương nặng? Buồn vì lo âu cho tôi trong những bất trắc, không may mắn vào những ngày tới giữa bom đạn vô tri như định mệnh? Tôi đã chứng kiến và nghe một người mẹ khác nói vụng sau khi thăm người con đã qua bao nhiêu lần thương tích hiểm nghèo: – Tôi mong cho nó cụt chân, cụt tay gì đó... Thấy một đứa con bị tàn phế chắc người mẹ phải đau lòng, nhưng chắc nỗi đau lòng này chẳng là gì đối với sự mất hẳn, chết đi của người con mà mình đã mang nặng đẻ đau... Cơn mưa đổ xối xả không ngừng, nước đã dâng cao trên mặt đường như một dòng sông mùa lũ. Ở trên đó bây giờ có mưa? Căn nhà gỗ, mái tôn nằm sâu trong khu vườn rộng, đó là nơi cậu tôi đã chọn để lập nghiệp. Mẹ tôi nói con đi rồi mẹ về ở với cậu và các cháu. Trong khu trại có một phần đất của mẹ tôi, phần đất được chính phủ cấp phát, nhưng sau đó mẹ tôi đã dời xuống Sài Gòn buôn bán với hy vọng giúp phương tiện nuôi tôi thành người. Tôi đi, mẹ tôi mất lý do và niềm hy vọng, Tôi hiểu niềm chua xót đó. Mẹ tôi trở về sống với người anh, trông nom vườn tược, giúp đỡ cậu tôi trong việc canh tác và trông đợi tôi. Nguồn hy vọng nào gửi gấm ở đó. Tôi cũng không biết. Mẹ mong cho con thành người. Thế nào là thành người? Đỗ đạt, có địa vị trong xã hội? Có vợ con tiền bạc? Tôi không có gì hết. Tôi lúng túng quanh quẩn trong cuộc dàn xếp không thành giữa những tranh chấp, lôi kéo... Thu xếp hành lý trước ngày trở về, mẹ tôi hỏi: con còn tiền tiêu không, mẹ không muốn con quá tằn tiện... Thưa mẹ con còn tiền, thực ra ở dưới đó không có gì để tiêu... Một phần vì vậy, một phần nữa, tôi muốn được thấy mẹ tôi yên tâm. Trong nhiều năm, dù đã lớn, tôi vẫn không kiếm ra một đồng bạc nào để giúp đỡ mẹ tôi. Bây giờ tôi không muốn thế. Tôi muốn tôi làm những việc tưởng như lặt vặt nhưng tôi cho là cần... Đáng ra mình nên ở lại trên đó, người mẹ, người em, căn nhà, cha tôi đã chết...
– Anh Hai, anh Hai, nó gỡ bóng đèn...
Tôi giật mình quay lại. Ngay đầu xe một người thanh niên đứng nhìn tôi, hắn nhếch môi cười hở hai hàm răng trắng, nét cười lạnh lẽo, tôi nhận ra trong nét cười một cái gì không bình thường. Hắn nhìn tôi, tay vẫn xoay cái bóng đèn. Một người đàn ông, người vừa kêu tôi, đứng trong cửa sắt mở hé chỉ vào thanh niên.
– Nó khùng đấy anh Hai, nhưng nó ăn cắp.
Tôi nhìn người thanh niên:
– Ê bồ, làm gì đó?
Hắn vẫn cười lặng lẽ không ra tiếng.
– Không phải xe tôi đâu nghe.
Hắn vẫn nhe răng cười, con mắt nhìn chòng chọc nhưng đầy vẻ ngây dại, tôi có cảm tưởng hắn không nhìn tôi mà nhìn một cái gì đó. Cái mũ vải màu cứt ngựa nhàu nhượi chụp trên đầu. Cái áo lính đã rách rộng thùng thình. Cái quần đen chân cao chân thấp. Khuôn mặt dài, hai gò má cao, sống mũi gãy, lông mày thưa, cổ khô khẳng, tóc bờm xờm. Tay hắn vẫn tiếp tục xoay cái bóng đèn. Tôi nói lớn:
– Bỏ tay ra bồ.
Hắn ngừng tay, đứng im, người đứng trong cửa sắt vẫn nhìn theo dõi nói giọng kể:
– Trước hắn đi lính, lính gì ghê lắm, biệt kích gì đó, xưa hắn ở xóm này, có vợ con đường hoàng, mới đây hắn trở về mà không thấy đi nữa, hắn lang thang tối ngày và ăn cắp, thấy cái gì hắn cũng lấy, hắn điên nhưng hiền lành, tội nghiệp lắm...
Hắn bỗng khép hai môi lại, không nhe răng nữa, hắn bỏ tay ra khỏi đèn xe, quay đi và bước xuống đường, hắn lội lủng bủng trong nước, mưa đổ xối xả trên người hắn. Hắn đi và chốc chốc dừng lại giơ tay lên, cử động như một nói thầm với mình. Và cứ thế hắn đi mãi xuống cuối phố lặng lẽ. Người đàn ông nói tiếp:
– May mà biết nếu không anh Hai mất cái bóng đèn, nhiều khi hắn lấy rồi vứt đi...
Người đàn ông đóng cửa, tiếng sắt kêu rít, tôi tìm một điếu thuốc châm hút. Cơn mưa đã bắt đầu nhẹ hạt. Mình phải về.
Con ngõ đã vắng tanh và tối mù. Những cửa đóng kín. Tôi tắt máy xe nhìn ánh sáng trong những khe cửa sồ. Tôi gọi Đức ơi. Sao khuya rồi mà hắn còn thức. Tôi trở về đây chắc hắn hài lòng lắm. Cái thằng lau chau thua tuổi mình mà lúc nào cũng muốn làm kẻ cả săn sóc cho đàn em. Tiếng khóa khua động, cánh cửa mở rộng. Thảo ló đầu nhìn, khi thấy tôi, nàng mở rộng hai cánh cửa. Cái anh chàng lầm lỳ đấy, thật khùng. Ngưỡng mỉm cười:
– Thảo chưa ngủ sao?
– Chưa anh, anh đẩy xe vào đi, đứng ngoài ướt hết. Mưa thế mà anh không trú, lạnh đau cho coi.
– Ồ bọn tôi mà cứ gặp mưa mà đau thì chết lâu rồi. Bọn tôi dầm mưa cả đêm cả ngày mà có sao đâu.
Ngưỡng vừa nói vừa đẩy xe vào trong nhà, dựng xe và nhìn thấy nước chảy xuống nền gạch. Thảo vẫn đứng im. Sao không đóng cửa lại. Ngưỡng nhìn ra ngõ chợt nhận thấy cửa hàng rào chưa đóng. Cô nhỏ đợi mình vậy đỏ. Ngưỡng bước ra đóng cửa hàng rào. Đứng vào cửa Ngưỡng giậm giậm chân rũ bớt nước trên người.
Đức từ trong nhà đi ra:
– Ta tưởng cậu không về.
– Định không về nhưng sợ cậu cằn nhằn không có xe đi làm rồi la bạn bè bê bối. Mấy thằng công chức nó lẹp nhẹp lắm.
Thảo mỉm cười nhìn Ngưỡng. Đức cười thành tiếng.
– Thôi vào thay quần áo đi, lúc nào cũng ồn ào la lối.
Ngưỡng cúi xuống cởi giày rồi đi xuống phía sau bếp. Thảo đóng cửa lại...
Căn phòng chan hòa ánh sáng. Thảo ngồi xuống ghế gỗ có dựa lặng lẽ nhìn cuốn vở mở trên mặt bàn. Bộ quần áo màu xanh nhạt mát mắt; mái tóc cột gọn sau gáy. Khuôn mặt bầu bĩnh sáng rỡ. Tôi tin nàng không
nhìn rõ những hàng chữ. Tiếng mưa lại đồ mạnh ào ào trên mái ngói. Những đợt gió lùa vào khe cửa khiến chiếc màn lay động. Trong căn nhà gỗ, bà mẹ, người em... những thân thuộc lâu bền không đủ cho tôi tìm thấy một cuộc sống đầy đủ, tôi thiếu gì, có phải tôi thiếu một người tình, thiếu một người vợ, tôi thiếu một người để san sẻ với tôi những điều mà tôi không thể nói, tâm sự với một người khác... có phải Đức đã tìm thấy hạnh phúc? Có phải hạnh phúc chỉ là một ảo tưởng?
Đức vứt bỏ hộp quẹt lên mặt bàn, tiếng động khô mất hút. Khói thuốc thả ra.
– Tôi sợ mấy ông luôn. Chắc tỉnh rồi hả. Mình phải làm một ly nước chanh bự rồi mới thấy tỉnh dần. Bà vợ là quá trời.
– Thế hả, có người la là sướng rồi. Chắc bà ấy ngán luôn bọn này, đến rồi phải tu mất.
– Tu, cậu mà tu, thôi đi ông, ông mà tu thì Phật bỏ chùa ra lấy vợ bé. Ông nào đi lính rồi cũng nhậu nhẹt tung trời, nói tục và ba trợn.
– Đừng nói thế oan cho lính. Một mình tôi thôi cậu ơi. Có điều cậu chưa sống như tôi, cậu chưa đi nhiều như tôi, chưa ăn rắn, nhái, ếch, rùa... chưa phải nhịn đói, ngâm mình dưới sình lầy, ngủ trong rừng mưa... cậu sung sướng đến không phải văng tục…
Giọng Ngưỡng lạc đi. Nó sung sướng, hạnh phúc đến không phải văng tục. Tôi ngồi xuống chiếc ghế mây thấp dựa lưng vào tường. Ánh sáng êm ả trong mắt. Điếu thuốc đốt lên, những vết nhăn nơi trán chùn lại sát vào đôi lông mày, đôi mắt như khuất hẳn vào trong, gò má nhô, má hóp lại, ánh lửa vàng soi sáng lập lờ. Nó đã bắt đầu lẩn trốn nó. Nó đang tìm những cái phao tầm thường trên mặt nước đời sống. Hắn lại bắt đầu lì, ngậm câm. Cổ chân trắng, bàn chân đong đưa. Đùi lẳn căng trong lần vải mỏng, khuôn mặt nghiêng bình thản, những lông tơ ánh lên trên mép viền, những sợi tóc lóng lánh ánh vàng. Nền tường xanh. Tấm ảnh vợ chồng Đức cười khoác tay nhau ngày cưới. Chiếc tủ kính. Con búp bê mặc áo đỏ giơ tay về phía trước. Mong ước của họ. Còn tôi? Đây không phải nhà tôi, đây không phải nơi tôi đã sống, tôi không có liên hệ, cái ghế này tôi đã ngồi, cái đi văng kia tôi đã ngả lưng, đã ngồi đó ăn cơm. Thạc, Lực, Quảng và Thăng cũng đã ngồi ở đó. Thăng sẽ không bao giờ ngồi ở đây nữa. Không bao giờ nhìn thấy cái tủ, con búp bê, cái bàn, bức hình, không bao giờ...
Tôi không muốn như nó. Không có chuyện gì để nói nữa sao. Chừng như thế. Mỗi lúc chúng tối một ít chuyện. Sống thêm nhiều, nghĩ nhiều nhưng chúng tôi giấu nhẹm đi, cất kỹ và bao phủ bằng những gì chẳng liên can đến đời sống. Sao mình không về cái chuồng ngựa của Lực mà văng tục la lối rồi thiếp đi. Tôi muốn trở về trong căn nhà đất thấp tối ẩm mốc với ghế vải, mùng chăn hôi nồng mồ hồi nhưng thân thuộc. Những người bạn, bầu trời rộng bao la và tiếng súng trong đêm tối... Ở đấy tôi yên tâm để quăng mình vào lửa đạn, để yên tâm ngủ đi không những vơ vẩn vô ích... Phải thế không mày. Mà vẫn chưa đủ nản lòng, Mày còn đủ sức văng tục; la lối, nhậu nhẹt, bàn chuyện vá trời một cách ngông cuồng cùng với lòng kiêu ngạo bỏng cháy? Nào tôi muốn thế...
Nó lại bắt đầu chán nản rồi đó, hay nó đang mơ mộng. Ở nó là những gì trái ngược nhau. Nhiều lúc tôi không hiểu gì về nó. Nhưng có lúc tôi truy tìm thì tôi lại thấy nó cũng như tôi, cũng như mọi người bình thường. Nhưng cũng có lúc tôi thấy nó vượt lên, thoát ra. Những vượt lên, thoát ra mong ước thực hiện nhưng đồng thời tôi cũng biết tôi không làm được vì thế này, thế khác. Người vợ và đứa con sẽ ra đời. Cái bàn rộng ghi số, cái ghế ghi số, tấm bảng tên để trên bàn, cái gạt tàn thuốc, đinh gút, cặp giấy, những cái bìa xanh, đỏ, vàng... mỗi buổi sáng một ly nước trà nóng có nắp đậy để trên bàn. Những tờ trình, những công văn đến, đi, những con số... chiếc quạt quay vù vù trên đầu, hai ngọn đèn bật suốt ngày. Điện thoại đen tiếng chuông reo mỗi lúc, mỗi tháng ký số lương, lĩnh tiền ký nữa, những thông cáo cứu trợ nạn lụt, thông báo một nhân viên vừa quá vãng đóng tiền phúng điếu, cử người đi đưa... buổi sáng thứ hai chào cờ, buổi chiểu thứ sáu nhắc nhở nhau: mai thứ bảy, hết tuần... rồi lại thế... Nếu nó phải sống như thế, nếu nó ngồi trên chiếc ghế ấy, nếu nó có vợ có con... Tôi không hiểu được. Mày thế mà khôn.. mày được hoãn đến bao giờ, tao mong lúc đó bọn nó hết đánh nhau rồi... mày khôn... Tôi không muốn khôn, nhưng biết thế nào là khôn. Khôn mà được sao? Khi một, hay hai, hay ba đứa con ra đời, lúc đó chiến tranh chưa đứt, mình nhập ngũ, lúc ấy... tôi không muốn nghĩ đến điều đó... Mỗi đêm, khi vào màn, tắt đèn nhắm mắt, tôi mơ ước sáng sau thức dậy nghe tin hòa bình như một phép lạ, điều ấy chưa đến. Thằng Ngưỡng còn lên chức, còn thêm nhiều huy chương và thằng Thạc nữa chưa chừng thêm tôi và Quảng tái ngũ. Còn thằng Lực. Cái con gà chết đó chắc nó còn sống để cười cợt, nhưng còn lại mình nó, còn lại bên nó những người bệnh hoạn, tàn tật, giống cái, già cả... cuộc sống buồn bã đó tôi không mong ước. Chín cô con gái vuốt râu ông già... Lực cười khoái chí. Lúc đó chỉ còn toàn những giống cái. Tao dự định mở một Công ty buôn đàn ông, tao đọc báo nghe có thằng nó đã nói chuyện dự tri đó. Nhất định là phải thiếu đàn ông, nhiều ít gì còn tùy, và đàn bà con gái thì nhiều, lúc đó không có chuyện cưới vợ nữa, mà chỉ có chuyện cưới chồng. Mỹ nhân tự cổ như danh tướng. Mỹ nhân phải là giống đực... Đổi đời, đổi kiếp hết trơn mà, Đàn ông lúc đó già, xấu, cụt chân, cụt tay gì cũng có giá hết. Tao còn đủ hết, yếu một chút không sao... Tới lúc đó nếu mình còn sống? Cơn ác mộng có quên đi, có thoát khỏi những người được sống sót. Cuộc chiến nào nửa thế kỷ? Tôi không muốn như thế... Sao nó không vùi đầu trong một căn nhà tối tăm, cô gái lạ, như bao nhiêu đêm cũ? Lần trước, khi ra đi; những bông lông trong đầu, thời vừa lớn những mộng tưởng, nó đã nghĩ được nhiều điều kỳ lạ, nó thấy nó to lớn, nhưng rồi nó lại không dứt được cái thực tế. Giọng nhạt thoáng nó nói, đến bọn mình thì chẳng được chọn gì ngoài cái chết. Nó nhập ngũ và sống. Nó không muốn bàn cãi. Chạy trốn mơ mộng, lẩn tránh ước vọng và khỏa lấp mình. Tay nó khoa khoa như khoa xuống mặt nước làm mất dấu vết những tăm và bọt. Nhiều lúc như nó nói với nó giữa khi nó nói với người khác, nó thầm thì vỗ về nó lãng quên... Đức dựa lưng vào tường:
– Hết say chưa?
Ngưỡng nhếch mép nhìn lên:
– Uống nữa hả?
– Thôi đi, cậu thì phải bỏ vào trong một cái bể la de vừa uống vừa tắm mới đã. Thịt cậu bây giờ nếu ăn thì người ta cũng đủ say không cần phải uống rượu nữa.
Thảo bật cười thành tiếng, Ngưỡng và Đức cũng cười theo.
– Phải vậy không Thảo?
– Anh Đức nói nghe mà thấy ghê.
Ngưỡng dụi dụi mẩu thuốc cho tắt trong cái gạt tàn bằng thủy tinh để trên chiếc bàn nhỏ.
– Cậu làm ta như một thằng nghiện ngập bê bối quá lắm. Để cho người ta còn lấy vợ chứ.
Đức cười dễ dàng, Thảo ngồi yên. Có lẽ mình cũng là một thứ bê bối. Ngưỡng đứng lên:
– Mưa lạnh thế này mà được uống một ly cà phê thì tuyệt biết mấy.
– Không muốn ngủ à.
– Chưa thấy buồn ngủ. Mấy hôm ở trên Di Linh ngủ li bì, về đây mất ngủ.
– Mình hôm nay cũng mất ngủ. Tại nhậu nặng bụng quá, có lẽ làm một ly cà phê mà hay đấy. Cà phê còn. Để pha một phin uống chơi. – Đức quay nhìn Thảo:
– Còn nước sôi không em?
– Trong phích còn nước sôi, em mới nấu.
Thảo đứng lên:
– Để em pha cho, các anh uống sữa không?
– Anh uống sữa. Còn cậu? Thôi cũng sữa đi, uống đen nặng lắm. Lâu mình cũng không uống cà phê.
Thảo thu mấy cuốn sách trên bàn bỏ vào cặp rồi đi vào nhà trong. Ngưỡng với cái gối nằm xuống đi văng. Đức thu mình ngồi gọn vào một góc.
Ngọn đèn vàng sáng lên trong nhà bếp. Chị tôi đã không mấy bằng lòng khi nhìn anh tôi bỏ cà phê vào chiếc lọ, chị nói uống nhiều hại người, đau gan, em đã mua ca cao cho anh uống sữa buổi sáng rồi. Anh tôi cười cười khỏa lấp, ba bốn năm anh ngày nào cũng hai phin cà phê mà chết chóc gì đâu, mua về thỉnh thoảng thích uống một ly chứ nghiện ngập gì. Tôi đã thấy sự chừng mực trong cách sống của anh. Chị tôi có vẻ hài lòng thấy anh ít đi chơi, hút ít thuốc, gần như bỏ cà phê. Tôi nghĩ chị đã hài lòng có một người chồng tốt, lo làm ăn thu vén gia đình. Anh mỗi sáng thức dậy cùng với người vợ, anh lo sửa soạn đi làm, chị lo nấu nước pha sữa cho chồng. Hai người sống như một cái đồng hồ. Cũng vì thế tôi bị uốn nắn theo. Nhưng tôi thấy anh tôi quá an phận. Đời sống công chức, làm một người chồng tốt khiến anh đã tự hạn chế những hành động của một người đàn ông... Mùi cà phê dễ chịu quá. Tôi phải pha một ly cà phê thật ngon. Chắc Ngưỡng sẽ hài lòng và mong muốn được uống một ly cà phê do tôi pha. Đôi mắt như đốt lửa. Khuôn mặt lầm lỳ cùng với vẻ đùa nghịch kiêu hãnh. Bước đi, cách ngồi, nụ cười, vẻ tự tin thật dễ ghét nhưng rất đáng yêu. Ngưỡng hơn tuổi anh tôi nhưng trẻ hơn, mạnh hơn, trong sáng hơn. Cái vẻ đàn ông đó có một cái gì kỳ bí cuốn hút. Có phải đó là điều khiến tôi chú ý tới chàng. Tôi đã mười bảy tuổi, tuổi những đứa bạn tôi nói về người yêu, bạn trai, những hò hẹn, dạ hội, thời trang, vải vóc. Tôi có những ý nghĩ khác. Tôi không thích những cậu trẻ choai choai, óng chuốt, mặt non, ồn ào. Chừng như tôi đã lớn trước tuổi. Tôi có một đứa bạn, người yêu của nó mới chết ngoài mặt trận. Tôi nghe Hà nổi mà tôi khóc lúc nào không biết. Sao tôi dễ chảy nước mắt quá. Tôi muốn được lái máy bay. Chị tôi nói tôi lãng mạn... Tôi nói còn chị, chị cười âu yếm, không nói, bây giờ chị tôi đã không còn là chị tôi với mối tình đầu không thành. Bây giờ chị là một người vợ hiền, thu vén và gây dựng cho một tồ ấm... Có phải rồi tôi cũng thế. Chà mùi cà phê mới thơm làm sao, hơi ngào ngạt dễ chịu. Đêm nay mưa lạnh sẽ ngủ ngon. Tôi có thẻ là người yêu của chàng không? Tôi bé nhỏ và trẻ con quá phải không. Chàng có để ý đến tôi không. Chàng, cái tiếng này nghe không thân mật, gần gũi nhưng êm đềm và thơ mộng, chàng hoàng tử và nàng công chúa trong những truyện thần tiên, trong những tiêu thuyết. Tôi thích tiếng đó. Tiếng anh dễ dàng và bình thường quá. Anh có yêu em không. Chắc rồi tôi phải nói như thế. Có lẽ tôi lãng mạn thật. Tôi mơ mộng quá, chàng không đề ý đến tôi, tối biết vậy. Dòng sữa trắng, sữa cao dần trong đáy ly trong suốt... Sao tôi không nghe chàng nói gì về gia đình. Trong câu chuyện giữa những bạn của chàng tôi chỉ thấy những gì lạ lùng của cuộc sống, chuyện gian nan ngoài mặt trận, chuyện khôi hài, những cười đùa, chuyện nhậu nhẹt... Tiếng cười khác lạ nhiều khi như giữ lại trong cổ họng. Chàng hiện ra hung bạo, tàn nhẫn, gớm ghiếc nhưng hiền lành, trầm tĩnh, đằm thắm ngọt ngào. Tôi say đắm vẻ kỳ lạ khỏe mạnh đó. Chàng đã sống làm một người đàn ông... Lần nào cũng như lần nào, bước chân vào tới cửa, nhìn thấy tôi là chàng mở lớn mắt, nhìn thẳng và câu hỏi, sao, hồi này em thế nào, câu hỏi hỏi để chẳng hỏi gì, tiếp theo là nụ cười thân mật, em vẫn như thường, còn anh; anh à, vẫn như thường, rồi chàng cười thành tiếng. Một lần độc nhất, hồi đó đã lâu chàng ở bệnh viện ra, chàng tới khi anh chị tôi vắng nhà; đó là lần tôi nói chuyện với chàng nhiều nhất, chàng kể lại chuyện trận đánh khiến chàng bị thương, viên đạn chừng như có mắt, nó chạy từ sau lưng vào bụng rồi nằm nơi lớp mỡ bụng không chịu ra, thế mà không vào tim, gan, ruột gì cả, nếu không thì chết rồi, chàng tự nhiên vạch áo cho nhìn vết mổ đã khâu lại, nó có hình dáng của một con giun nằm trên da bụng, thoát chết, trong nụ cười tôi đã nhận ra vẻ bùi ngùi và buồn rầu thoáng trên khuôn mặt, chàng hỏi tôi chuyện học hành, những sở thích, giọng chàng ấm, trầm, đứng đắn nhưng hồn nhiên. Tôi đã nhìn ra một khía cạnh khác về chàng, sau đó ít lâu chàng gửi từ Bến Tre về cho chị tôi và tôi một ít lụa Ba Tri đủ may hai cái áo dài. Chàng viết thư cho anh tôi kề về thứ lụa đặc biệt đó. Màu mỡ gà óng ả đã làm tôi yêu thích cái áo ấy. Tôi nghĩ chàng đã giấu giếm ý tưởng trong cách gửi vải cho chị tôi và tôi. Chắc chàng chỉ nghĩ tới tôi khi chàng làm vậy. Bây giờ tôi vẫn thấy chàng như những ngày mới biết dù chàng già giặn, trầm tĩnh hơn...
Thảo lau hai cái muỗng bỏ vào hai chiếc ly, san cà phê vào hai ly sữa khuấy đều rồi mang lên để nơi chiếc bàn nhỏ. Tôi nghĩ chàng hài lòng.... Ngưỡng nhỏm dậy:
– Cảm ơn cô em quá..
Ngưỡng với lấy một ly đưa cho Đức, bưng ly cho mình. Ngưỡng khuấy nhè nhẹ. Đã lâu tôi mới uống cà phê. Ngưỡng nhìn Thảo:
– Em chưa đi ngủ sao? Thức khuya hại người lắm nghe.
– Mới gần mười hai giờ mà anh. Em học buổi chiểu mà đâu có lo dậy trễ, em cũng ngủ đây chứ. Giờ này các anh còn uống cà phê thì thức đến sáng.
Thảo cầm cặp bỏ lên tủ sách rồi đi vào. Con nhỏ có vẻ chịu hắn. Nó cũng lớn rồi còn gì. Đức lấy điếu thuốc, mồi lửa và hút một hơi đầy khoái trá. Ngưỡng ngồi xuống ghế mây. Một người vợ săn sóc cho mình. Chỉ có thể là một người vợ. Mẹ tôi thường nói đến mong ước đó.
Cơn mưa vẫn đổ xuống mái ngói, tiếng mưa đều đều vẳng xa, Ngưỡng nghe thấy tiếng súng đại bác nổ. Khu xóm đã không còn tiếng động. Giấc ngủ êm đềm và những mộng tưởng trong yên hàn... Ngoài xa, trong những cánh đồng mông mênh bóng đêm đặc quánh, giữa những đọt dừa được tua tủa kín bưng như rừng mũi mác nhọn đen, giữa những rừng cây bí hiểm lạnh giá tê buốt da thịt, tôi nhớ lại những đêm đạn lửa xé rách nền đêm đen sâu... những giấc ngủ chập chờn lo âu. Vị cà phê lưu luyến trong miệng. Đức đứng lên bật ngọn đèn để trên mặt bàn, tắt ngọn đèn lớn. Ánh sáng mờ nhạt như sương phủ trong thành phố Đà Lạt mùa Giáng Sinh màn sương đục hơi tím bởi những ánh đèn màu. Giọng Đức nhỏ nhẹ:
– Cậu có nhận thấy thằng Quảng hồi này nó thế nào ấy không. Từ hồi nó giải ngũ ra đến nay mình thấy nó thế nào ấy.
Ngưỡng co hai chân lên ghế đập những con muỗi đang như bám sát lấy chân. Nó thế nào ấy, tôi cũng nhận thấy thế. Những gì trong mấy năm trời đã qua? Câu chuyện bắn chết người mà nó cười cười kể lại với tôi. Thân hình mảnh dẻ, trán nhô, tóc thưa, nước da nhạt tái, má hóp nhỏ, cái nhìn ngập ngừng, nụ cười buồn rầu, đôi môi nhợt nhạt trễ biếng vẻ chua chát nặng nhọc, căn nhà tối tăm tôi đã bước vào... Ngưỡng thở khói thuốc lên cao:
– Chắc nó có chuyện buồn. Tôi mà biết được nó. Cậu có nghĩ là nó đã có ý định tự tử không.
– Ý định tự tử, nó nói với mọi người là nó say la de, ngang qua cầu choáng váng rồi hụt chân. Lực nó nói chắc nó bị một xúc động và chỉ có hành động ấy vì xúc động. Nó thì nó cứ cười cười như rỡn chơi. Hồi này nó ít muốn gặp ai. Bạn bè dù có thân cũng đến độ nào thôi. Đấy cậu coi, nó nói nó thất tình ai mà tin. Mình chưa bao giờ nghe nó nói, về đàn bà hay chuyện tình ái gì hết. Chưa ai thấy nó đi chơi với một cô gái nào... Nó giấu, nó có bao giờ tâm sự với bọn mình về chuyện gì đâu. Hồi xưa thỉnh thoảng nó còn nói một tí chút, sau này tuyệt nhiên, nó chỉ nghe, làm như nó chẳng có điều gì để nói... nhiều lúc mình nghĩ và muốn giúp đỡ nó, nhưng nó thì như lúc nào cũng cố gắng để tránh...
Đức bỏ chiếc ly không ra bàn, tiếng chiếc muỗng va vào thành ly gây tiếng động. Giọng Đức lo âu:
– Trông điệu nó mình có cảm tưởng nó đang chán, lúc nó quẩn nó dám liều lắm.
Ngưỡng đứng dậy, lên đi văng:
– Cho mình cái màn đi. Thôi ngủ. Mặc nó. Mình cũng nản lắm. Nếu tự tử được...
o O o
Dòng sông nước đen chảy xiết. Thành cầu cao. Con phố hút dưới nhỏ bé. Sân thượng chênh vênh. Gói thuốc và ly nước chiêu khỏi cổ. Chiếc thùng trên cây. Chiếc ghế bắc lên. Lưỡi lam, cườm tay xanh gầy....
Thằng cha mặc quần áo đen, gầy cao, đi dần lại phía tôi. Muốn gây sự gì đây cha. Sao vắng tanh thế này. Hắn cầm mũ đội lên đầu trông oai vệ lạ. Ê coi chừng mấy thằng cha đội mũ nghe. Bảo đợi mình mà nó đi đâu mất tiêu. Tôi nói thực với anh, anh đừng say, say không giúp anh được gì hết. Đằng nào anh cũng phải đối diện. Hắn gúc gúc cái đầu chi vậy. Muốn gì thì nói đi, đâu mình hẹn gặp hắn. Anh thấy đó, cũng như anh tôi phải chấp nhận vậy, biết làm sao khác... Người ta có lúc đã cho tôi giấy ban khen là một người gương mẫu. Thật thì không đâu. Gương mẫu là gì?
Chẳng qua tôi điều độ, khôn ngoan thu xếp cho mình. Chừng như anh cũng như tôi, bọn mình nhiều mặc cảm quá. Mặc cảm có tội, mặc cảm hèn nhát, mặc cảm vô danh... Có lẽ bọn nó cũng thế, bọn nó lừa nó mà sống vậy thôi. U mê đi một chút, thủ đoạn gian lận đi một chút, lừa mình đi một chút... mỗi thứ một chút hèn hạ anh sẽ như bọn nó. Nhưng nói vậy thôi chứ không cần lắm đâu. Chẳng cần. Mình cứ sống như mình nghĩ… như mình đã chọn. Nhìn lại những năm đã qua, anh thấy chưa, mười, hai mươi năm thôi có khác chỉ một màn hát. Nếu đứng lùi ra xa được, nhìn cuộc sống này, anh sẽ thấy mọi điều có nghĩa lý gì. Thế mà ở trong cuộc, ở trong cái bị cói này thì mình hục hặc... Nếu mình phân thân ra được, ngắm mình bon chen trong cuộc, chắc là mình phải thương hại, tội nghiệp cho mình ghê lắm. Nó quên hẹn với mình sao. Thằng cha áo đen đâu mất rồi. Người ta đi đâu mà đông, mà vội vàng làm vậy. Lẹ lên cha. Sao lại đẩy tôi đi vậy. Tới đâu đó. Mau lên. Tôi không đi. Ở đây không ai được chống lại. Ở đây chỉ có mệnh lệnh. Không. Vậy thì đứng sang bên. Cái gì ở phía trước đó. Đến thì biết. Sự thực trả lời. Người ta đủ hết tới đó cả sao? Không còn ai nữa sao? Cả nó nữa. Đây là đâu vậy? Đây là đâu vậy, nói cho tôi nghe đi. Nói cho tôi biết. Sao im lặng vậy. Đây là thế giới nào vậy? Một vùng đất khô mông mênh là thế giới nào vậy? Ở đây không có sự sống sao? Cây cỏ, thú vật... Đây không phải là nơi của người sao? Người sau chót trong đám đông tràn qua mất hút. Có gì ở phía đó, có gì đợi họ ở nơi họ đi tới đó? Tôi phải tới đó. Có lẽ nó cũng đã tới đó. Gió thổi ào ào cùng cát bỏng, bầu trời sao hẹp lại vậy. Vùng mông mênh đã biến đâu mất. Sao lại là một đường hầm?... Tôi đã lạc tới đâu. Tiếng rì rào nào vậy? Ai nói, ai gọi, ai kêu, ai hát đó vậy? Dòng sông nào đây với màu nước đen. Đây là sự thực người ta trả lời đó sao. Người ta đã kéo nhau tới đây đó sao? Họ đã tới để biến đi đó sao? Còn ai đó không? Tôi là kẻ cuối cùng đó sao? Tôi không mong muốn. Tôi không muốn là kẻ cuối cùng, kẻ độc nhất sống sót sau cuộc chiến... Tôi phải làm sao đây? Tôi không biết nữa. Tôi không biết nữa. Mày hãy nhảy xuống. Không. Tao vứt mày xuống. Không. Mày không được chọn. Tôi kháng cự. Vô ích, mày phải như mọi người. Không. Mày không thoát được, không có lối đi khỏi, không có con đường nào khác, mày không bao giờ thoát được... Mày không thoát được, mày không thoát được, mày không chạy đi đâu thoát được...
– Giãy chết sao vậy mày?
Thạc đứng dậy, Lực lay trên vai càu nhàu:
– Mẹ uống cho nhiều vào, đừng chết ra đây tao mất công vứt vào sọt rác.
– Mày mang tao về chuồng ngựa hả?
– Chuồng chó. Chuồng ngựa ở ngoài kia, bọn ngựa nó đâu chứa mày. Mê với sảng làm mất ngủ. Cái gì vậy.
– Bọn nó định vứt tao xuống sông.
– Thế mà la trời. Cho bọn nó vứt có được không, chết chóc mẹ gì mà la.
Thạc ngồi dậy, ra khỏi màn, mở cửa, ánh sáng ùa vào gian phòng nhỏ:
– Sáng banh rồi.
– Thì ăn nhằm gì. Sáng mà ngủ không được sao?
Thạc đứng nơi cửa ngó suốt lối đi chia hai căn nhà rộng chạy dài, một đầu đi vào phía sân cỏ phía trong, một đầu là lối đi bọc ven với hàng rào cây. Dãy tường gạch xây lửng, phía bên kia là khu chuồng ngựa. Ánh nắng chan hòa phía sân cỏ tươi mát rực rỡ, những ngọn cây phía ngoài đó, mấy chiếc cột sơn trắng nổi bật đó là vòng thành của khu vườn cỏ thuộc khu câu lạc bộ của hội Kỵ Mã, đó là bãi tập ngựa của những hội viên. Một ông già lúi húi quét trên lối đi. Dù sao nó cũng có công việc để làm, có tiền để sống, có một cái chuồng mà ngả lưng…
Tôi chưa bao giờ nghe nó nói gì về gia đình nó. Chừng như nó là một đứa con hoang, được một kẻ nào đó nuôi nó và cho nó theo nghề nuôi ngựa. Có một lần nó rủ tôi vào trường đua, hắn cũng đánh cá với số tiền nhỏ nhoi của nó và được một ít tiền. Đáng lẽ tao cũng là một thằng dô kề. Làm dô kề kể cũng khoái, mày thấy những thăng dô kề có khoái không. Cả một sự bịp bợm đó nghe… xưa kia cha nuôi tao đã làm nghề đó, ngựa cha nuôi tao về ngược, bị đánh đổ máu mũi, ba tháng nằm nhà thương thí, khi ra bỏ nghề, mua một cái xe thổ mộ, một con ngựa già...
Tao khoái ngựa. Tôi không hiểu những điều nó nói có đúng không. Có điều tôi không thấy nó có một liên lạc gì với ai, nó thích tha thẩn với bầy ngựa, thích vào trường đua sống cái không khí ồn ào ăn thua, la thét và chờ đợi hy vọng nơi những con ngựa sải bước trên vòng đua. Hôm nào tao sẽ giàu lớn cho coi. Tao thích đánh bạc thật lớn. Nó an phận nhưng mơ mộng. Một hôm nào nó trúng cá ngựa một lần. Tao sẽ làm một chủ ngựa đua, tao sẽ kiếm những giống ngựa thật tốt, nuôi ngựa thiệt hay. Ngựa bây giờ tồi quá, xí quá. Tao khoái ngựa hơn khoái đàn bà. Tiếng cười khả ố ngạo mạn của thằng gà chết.
Thạc đi ra phía hàng rào. Ngoài đường lộ xe cộ chạy rầm rập thấp thoáng ngoài những khu lá cây. Căn nhà này có lẽ đã được xây cất hàng trăm năm. Những cột gỗ lớn vuông, những tường đá lớn, thềm cao, mái ngói thấp nhọn chắc từ hồi thực dân nó mới sang chưa chừng. Nhà nuôi ngựa đẹp như một công thự. Sao nó không bỏ cái đàn ngựa này đi mà làm một cái trường học. Nuôi ngựa để cho bọn trưởng giả, bọn ngoại nhân tập cưỡi. Bố cái bọn thị thành nhiều tiền. Bố cái bọn dân Tây, sao không hốt cha nó hết đi. Bọn cha–căng–chú–kiết ở đâu, có khi là một bọn cu ly ở bên chính quốc, thế mà nó sang đây chiếm đất, mộ phu, làm nhà, thu của, cai trị mình... và mình thì rúc vào cái chuồng ngựa của nó mà ngủ.
Tôi quên sao được những chuyến hành quân ngang qua những khu đồn điền ngút ngàn, tôi quên sao được khi bước chân vào những khu trại nhà cửa cao lớn, những tiện nghi, cuộc sống phè phỡn của những thằng Tây già, bên đó hàng ngàn những dân phu cuộc sống tăm tối, những căn nhà ẩm ướt hôi hám, những sân vườn cỏ dại, nước đọng... Bọn nó còn nộp thuế cho giặc nữa... Sao vậy được nhỉ, bọn nó còn quyền gì ở đây nữa nhỉ...
Phải đái một cái. Còn một ngày hôm nay nữa. Mai tôi lại trở lại đơn vị, những gian nan chờ đợi..
Lực xách chiếc thùng thiếc đi ra:
– Gì mà như ngựa vậy. Có cần ta tắm cho không. Chờ ta dọn dẹp chút rồi đi uống cà phê. Vào mà rửa mặt.
Lực đi vào mở cửa chuồng ngựa, đi soát một lượt rồi chui vào dồn ngựa ra phía sân cỏ, cột vào những cái cột rồi bắt đầu quét dọn. Thạc đứng, ngắm nó mở nước cầm chiếc vòi xối trên nền gạch rồi quét. Làm ngựa vậy mà sướng, mình đây đâu có kẻ hầu. Ông già Thiệt đi ra ngó vào nhìn Lực:
– Sao hôm nay dậy muộn vậy. Sếp tới rồi nghe.
Lực ngừng quét nhìn lên:
– Hồi hôm say quá. Sao hôm nay sếp tới sớm vậy tạ. Bê bối gì đâu mà sợ.
– Lão đưa hai con nhỏ tới. Nhớ hai đứa con lão không. Bọn nó nghỉ lễ gì đó mới ở Đà Lạt xuống. Bọn nó mặc đồ soọc trông cái đùi ngon quá.
– Mặc soọc thì ăn thua mẹ gì.
Lực quay nhìn Thạc.
– Mày biết không, có lần tao đã phải giữ ngựa cho một con đầm, nó quên mặc quần lót... Thật xốn con mắt. Tao lại cho nó cưỡi ngựa đực, mà con ngựa mắc dịch hôm đó nó lại cứ thõng cái chân thứ năm xuống mới khổ tao chứ. Mà tao xem con đầm nó có vẻ khoái, nó cứ cho con ngựa lồng lên cho tới lúc nó hất cho ngã lăn xuống.
– Thôi đi, gớm quá mày. Tao không hiểu cái đầu óc mày ra làm sao.
Lão Thiệt cười lớn. Lực phá cười theo rồi lại lúi cúi tiếp tục công việc. Lão Thiệt tì tay lên chấn song miệng phì phèo điếu thuốc.
– Moa đã từng trả thù cho dân tộc đây, moa biết quá mà, bọn đầm nó dê lắm.
Lực ngẩng lên:
– Chuyện hay vậy sao già chưa hề nói cho tôi nghe. Sao, chuyện ra làm sao, cũng ở đây à.
– Lâu rồi, hồi xưa kia, con mẹ ấy nó về Pháp rồi. Con mẹ là vợ một thăng quan hai lê dương, một hôm buổi chiều nó tới đây lấy ngựa tập, nó tập hoài cho tới lúc moa thấy nó cứ ôm chặt lấy lưng ngựa, ngựa thì cứ chạy, moa sợ con nhỏ bị sao đó nên chạy ra níu lấy cương, dắt vào, con mẹ cứ nằm im, mặt đần ra, moa nói gì nó cũng lặng im. Khi vào tới hiên nó mới đưa tay ra, ý nó muốn mình dìu xuống, moa đỡ cho nó xuống, thế là nó dắt moa vào trong cái kho chứa thóc... Từ đó, lâu lâu khi thằng chồng nó đi xa nó lại tới, nhiều khi chẳng tập gì cả, nó uống vài ly rượu trên câu lạc bộ rồi mò xuống, hồi đó moa còn trai trẻ chứ như bây giờ thì ngỏm rồi... Cái thứ đó thì phải cho ngựa mới đã.
Thạc cúi đầu vào cái máy nước, hai tay hấng ấp lên mặt, nước mát làm chàng tỉnh táo. Lực cười:
– Khoái không?
Tiếng ông già đùa cợt:
– Khoái chứ.
– Dọn dẹp xong tôi đi chút đó nghe già. Coi giúp tôi nếu sếp hỏi.
– Không thích hai cặp đùi hả. Chắc phải giữ ngựa cho hai nàng đó nghe. Sếp tới buổi sáng chắc là chuyện đó, sợ chiều đông người.
– Tôi là thằng gà chết mà, ăn thua mẹ gì. Dân tộc mình nhiều mối thù quá, tôi có theo ông mà trả thù cũng chưa ăn thua gì đối với bọn nó. Có khi cha mẹ tôi bọn nó đã giết cũng không chừng.
Thạc vuốt cho những sợi tóc ép về phía sau. Tiếng Lực lạc đi. Lão Thiệt vứt bỏ mẩu thuốc vào một vũng nước. Lực lặng lẽ mở rộng các cửa rồi xách thùng trở vào phòng. Thái độ của nó thay đổi lúc nào cũng đột ngột, đùa vui đó rồi lặng lẽ buồn rầu đó. Nhiều khi tôi thấy nó bất thường một cách lạ lùng. Thằng Ngưỡng, thằng Quảng, thằng Đức giờ này đã dậy chưa. Chắc Đức đã ngồi trong phòng giấy. Ngưỡng lêu bên ngoài phố, Quảng lầm lũi trong căn nhà thiếu ánh sáng. Mỗi đứa một thế giới.
– Đi uống cà phê mày.
Lực quơ tay vuốt đầu, khoác vào chiếc áo cánh. Thạc lau khô mặt, đi giày, cầm mũ nơi tay đi ra. Lực đóng cửa lại.
Lực dừng lại ngoài hiên mua gói thuốc rồi bước vào tiệm cà phê Tàu. Không khí ồn ào, những tiếng tàu gào lên. Lực hỏi ăn không, tao phải ăn hủ tiếu, xót ruột quá, một cái phế nại. Tao cũng vậy. Thạc bỏ mũ xuống bàn nhìn những người chung quanh, một đám đông bằng phẳng.
– Hôm qua còn thằng nào say nữa không?
– Không, gà chết chỉ có mày thôi. Hồi hôm thằng Ngưỡng hẹn về ngủ mà sao không thấy. Có khi nó lao đầu xuống sông rồi.
– Nó đâu có vậy. Mày không lao thì thôi chứ thằng Ngưỡng mà nó lao. Cái thằng Quảng hồi này nó lạ ghê. Không hiểu nó bị chuyện gì?
– Ai biết được nó. Có lẽ tại nó thất nghiệp, kiếm hoài không có việc làm. Nó có gia đình nặng lắm. Hồi nó ở trong lính tao thấy nó đổi tính nhưng rồi đâu vẫn đó. Lúc nào tao cũng thấy nó nhăn nhó. Ấy thế mà một lần tao gặp nó đi với một cô.
– Người thế nào?
– Người Nam, hơn tuổi nó, nó giới thiệu là quen hồi ở dưới Cái Răng.
– Có phải người mập, nước da hơi đen, có rang vàng?
– Phải rồi. Mày có biết à?
– Vậy thì tao biết. Hóa cô nhỏ theo nó tận đây. Hồi tao đổi về Cần Thơ tao gặp nó trong quân lao, tao gặp cô nàng tiếp tế. Tao hỏi nó, nó nói quen. Sau có người nói vì cô nàng mà nó bị ở tù, đâu như một cấp chỉ huy của nó làm bậy, nó nóng mặt mà nổ súng ẩu để cứu cô nàng vì vậy nó ở tù, sau nó được tha vì người ta xét không thể buộc tội cho nó.
– Tức nó là ân nhân của cô nàng.
– Chừng vậy.
Hai tô hủ tiếu, hay ly cà phê sữa. Thạc và Lực cúi ăn lặng lẽ. Mái tóc dài, mặt đầy hơi ngăm đen, chiếc áo bà ba đen, chiếc khăn sọc đỏ, dáng sợ hãi lo âu, đôi mắt mọng sưng, dáng điệu nhà quê. Chân đi đất đứng nép người. Mái tóc dài, chiếc áo dài xanh, người thô, mặt đầy, nước da ngăm đen, dáng đi hấp tấp rụt rè, tiếng nói ngọt mềm. Quảng nói bình thản: cô Tư ở dưới Cái Răng quen hồi mình đóng dưới đó. Ở Cái Răng có món nem tuyệt lắm. Tôi cười với nó rồi đi. Tôi trông nó tội nghiệp sao đó. Chẳng lẽ vì chuyện đó mà hắn thay đổi. Đời sống bẩn lắm mày. Nhiều chuyện đau lòng. Tao đâu nhằm mắt bỏ qua được. Thà chết chứ tao đâu chịu. Tao bị bọn nó hành cũng vì vậy. Cái lưng tao không phải là cao su. Giết người là vô nhân đạo hả. Chưa chắc. Nhiều khi nín lặng còn vô nhân đạo hơn. Có phải vì chuyện đó. Tao đã đi tới những nơi đêm dân ngủ dưới hầm, toàn đàn bà trẻ con và người già. Mạng người ở đó chỉ may rủi bảo vệ. Đêm bọn nó về đẩy đi khênh đạn, đào đường, xung phong, la lối làm bia đỡ đạn, rồi bom đạn đổ xuống...
Vô lý, phải tới đó mới thấy vô lý. Muốn làm một cái gì cho có ích lợi. Bọn mình vẫn nghĩ thế phải không, nhưng rồi tao thấy chỉ sống cho ngay thẳng thôi cũng đã đủ khó, mày chui rúc với bầy ngựa mày không thể hiểu được chuyện đó. Mày có thể nhìn ngựa nó hiếp nhau một cách thản nhiên, nhưng mày có thể thản nhiên nhìn độ hai thằng người đè một con nhỏ ra giữa đồng mà hiếp được không. Nếu mày biết có thể đạn sẽ vào đầu mày, mày có dám can thiệp không? Tất nhiên có thằng sợ mà coi như không thấy, không biết. Tao, tao không làm ngơ được dù tao biết đạn có thể bắn vào đầu tao. Vậy đó. Nó thấy tôi thì mỉm cười, nó hỏi ba gai hả, tôi bảo say sưa bê bối, thực ra tại tôi chửi bới bọn tải thương. Tôi mất trong trận ấy một thằng bạn, có lẽ không phải vì bọn tải thương chậm chạp, nhưng tối buồn bực quá nên chửi tưới hột sen và bị phạt. Tôi và nó đi làm tạp dịch. Cái sân rộng mênh mông. Nó giúi cho tôi bánh ít, thuốc lá và vú sữa. Tôi cười cười bảo: mày hạnh phúc thật, định lấy vợ sao, nó nói không dù có người thương nó. Đến khi gặp cô nàng thì tôi hiểu. Tôi không ngờ sau đó nó còn gặp lại. Nó là một thứ ngựa rừng.....
Uống ngụm cà phê đầu, Lực châm thuốc. Cái tay hơi run. Tao cám ơn mày. Vì mày tao chỉ phải sống với bầy ngựa. Thạc nhìn ra ngoài đường nắng:
– Lần này chắc tao đi lâu mới về. Bây giờ tao phải đi lo mấy việc. Mai đi. Chắc tao không gặp được bọn nó, mày bảo bọn nó, thong thả thư cho tao nghe. Thằng Ngưỡng nó còn phép mà.
Thạc uống cạn ly cà phê giơ tay kêu tính tiền. Lục cầm lấy tay:
– Để đó tao. Mày còn tiền tiêu không?
– Còn. Mới lĩnh lương đây mày. Mày chưa về sao?
– Chưa.
– Thôi tao đi trước nghe. Tao về bà cô chút.
Thạc cầm lấy mũ đứng lên, đưa tay cho Lực bắt. Tôi chẳng bao giờ đi đâu được. Tôi chỉ có bầy ngựa. Thạc bước ra rồi mất vào đám đông…
o O o
Tại sao tôi đã hành động như vậy. Tôi đã hỏi tôi như thế. Tôi không chờ những người khác tra hỏi. Nhưng tôi chẳng trả lời được một cách rõ ràng. Tại sao? Có thể chẳng tại sao. Có thể nhiều, rất nhiều lý do. Lý do tôi thấy đúng nhất: tôi thấy sự thanh thản khi đó. Bầu trời đen phẳng. Những cơn gió đầy hơi nước lạnh mát bao phủ lấy tôi. Thành cầu đen lần vào bóng đêm. Dòng nước sâu tối một vài ánh sáng lay động trên những đợt lay động của một mặt nước. Có lúc tôi nghe tiếng mái chèo khua, tôi nhìn thấy chiếc thuyền nhỏ, một người cử động nhịp nhàng đi ra ngoài ngã ba sông và mất trong đó. Có lúc tiếng nước vỗ vào chân cầu dào dạt. Chừng như ngoài cửa sông có một con tàu lớn đang vào sông. Những cơn gió thoảng nhẹ và đầu điếu thuốc sáng đỏ. Dục tình và sự cuồng bạo cũng đã đốt đỏ một đôi mắt lên như thế soi chiếu tôi. Mày muốn tao bắn mày vỡ sọ phải không? Tao hiếp mẹ mày đó hả. Tôi mỉm
cười.
Sao lúc đó tôi không mỉm cười. Nếu lúc đó tôi bình thản để mỉm cười được. Nắng sáng trong lúc khởi hành. Ánh sáng loang loáng trên những lưỡi lê, trên mái tóc. Những đợt mây là thấp và những cơn mưa ập xuống nhanh chóng, nắng đốt cháy oi bức, hơi nước ngột ngạt mùi cỏ dại và bùn lầy. Mồ hôi ướt trên cổ áo, nơi nách và đầy trên những khuôn mặt đỏ lừ. Khí hậu như một lò lửa kích thích. Đôi chân mỗi lúc một nặng, đôi giày đầy bùn mỗi lúc một vướng víu khó chịu. Tôi lặng lẽ nhìn những vết bùn trơ trên đường cỏ.
Cánh đồng thẳng tắp mênh mông những ngọn cỏ sắc tua tủa có lúc uốn mình như những lượn sóng. Hơi nước lấp lửng. Quá trưa, khi ánh nắng đứng thẳng. Đầu dưới chân chúng tôi mới đến một xóm hẻo lánh. Cha tôi nói: chắc mình chẳng còn nhìn thấy khu vườn nữa. Dưới đó bây giờ không biết ra sao. Tôi đã nghĩ có lẽ đây là nơi tôi đã sinh ra, nơi cha tôi mong ước trở về. Tôi đã đi dưới những lùm cây ăn trái, bên những bức tường đổ, trên những nền nhà cũ. Con kinh nhỏ đầy bông súng... nơi cha tôi mong ước trở về cũng là nơi tôi mong ước được sống. Tôi ngả lưng nằm xuống dưới bóng mát nghe im ắng của một xóm quê. Sao không có một tiếng chim kêu? Những người xưa sống ở đây nay đã tới đâu. Một tiếng đàn gáo, một câu hò vào thời thái bình.
Không còn một dấu vết của sự sống. Không còn lối đi những vết chân để lại. Nắng nghiêng đổ chúng tôi lại tiếp tục ra đi. Không khí oi bức ngột ngạt như sền sệt những hơi nước nặng nhều nhều mồ hôi nồng, Những cử động hạn chế ngại ngùng. Tôi đã nhớ đến chuyến đi hôm nào. Tôi đã nhớ đến đôi mắt đỏ ngầu mà dục tình hun đốt. Cũng có thể tại cái khí hậu đặc sệt đó. Người đàn bà khoảng năm mươi tuổi. Người con gái khoảng hơn hai mươi. Đôi chân bết bùn, đầu búi, chiếc khăn sọc lớn quấn trên đầu, vắt trên vai, quần áo ngắn. Chiếc áo bà ba bó sát lấy thân hình nảy nở, đôi vú cao đứng. Bốn con mắt sợ sệt lo âu. Mẹ, lại liên lạc đây. Bọn bay ham không. Không nghe tiếng trả lời nào. Chỉ có một tiếng cười gằn, ngắn ở đâu đó. Tôi nhớ. Tôi không quên được. Mang con mẹ già này ra ngoài kia. Khoảng cỏ trống, ba lô bỏ xuống, quần áo... mồ hôi trên mặt đỏ lừ. Tiếng van thất thanh. Tiếng vải xé. Tôi ngó lại, súng ngang trên tay. Đôi vú trần. Hãy bỏ cô ấy ra, tôi chết cũng được. Xin... hiểu vậy. Đôi mắt đỏ ngầu cục than hồng. Không khí khô đặc. Tôi đã nhớ điều đó khi đứng trên thành cầu. Lý do của hành động. Chính nghĩa của cuộc chiến. Đức lý của xã hội. Phẩm hạnh của cá nhân. Tám người chứng nhìn tôi san sẻ. Tôi chọn để vào tù một cách yên ổn. Xưa kia khu vườn nhà em liên tiếp những ruộng quít, rồi không có ai trông coi nên hư cả. Anh hai chết hồi ở Tầm Vu. Anh đã ngang chỗ kinh Đất Sét chưa, trước khi tới Đồng Cò để vào Phú Mỹ. Cây cầu sắt bị đánh sập hồi đó. Anh ba đi tập kết bỏ lại hai cháu. Anh Tư vào dân vệ ở Cái Chanh một tối về thăm nhà bị ném lựu đạn chết cùng đứa con trai út bốn tháng khi ngồi ở sân. Hôm đó xuôi ghe bị bắt rồi được thả ra… Khoảng cỏ dại phẳng phiu. Mặt trời trên cao. Không khí oi bức chích vào da thịt. Đôi mắt lo âu sợ hãi. Đôi mắt đỏ lửa. Những tiếng thở dài. Cái nhìn bâng quơ về những chân trời xa phẳng lặng. Những đôi mắt thầm hỏi.
Nếu tôi lặng lẽ chịu đựng như thế cho tới hôm nay, Con ngựa bất kham. Trong xã hội người có lúc tôi muốn là thú vật, gỗ đá. Trong xã hội người nhiều lúc tôi thấy thú dữ nhiều hơn chấu trong gạo xay. Nếu nó đã kháng cự và tôi nhả đạn. Tôi không muốn vậy nhưng nhiều khi tôi hiểu vì sao một người can tội giết người vì nó không thể làm khác. Tôi không phải là thằng hèn. Con đường độc đạo, có lúc tôi mường tượng thấy phía sau tôi mũi súng thẳng sắp nhả đạn. Lời báo cáo: một tai nạn. Nó có thể làm vậy. Nhưng chắc nó cũng biết đăng sau nó, những người khác cũng có thể làm như vậy. Tôi nghĩ nó sẽ hối, nó nhận ra việc nó làm nhưng nó không chịu nhận. Luân lý của những kẻ vô nhân đạo. Tôi sẵn sàng để vào nằm trong quân lao một cách yên tâm... Tôi đã nhớ tới nó. Tôi đã nhớ trong giây phút ấy.
Dòng nước đen, tiếng vỗ dưới chân cầu, nền trời đen phẳng, những cơn gió ẩm ướt vây lấy thân thề, quãng đường dài mệt nhọc tìm kiếm những nguy hiểm giấu mặt. Ban ngày cũng như đêm ngọn đèn không lúc nào tắt trên chiếc kệ bám vào tường nhà. Ba năm liên tiếp không lúc nào cha tôi rời khỏi căn nhà tối tăm đó. Ông nằm trên giường co người giấu mặt vào trong vách, tiếng ông nói nhỏ cho một người nào ở gần nghe tiếng, chừng như ông ngại khua động không khí im lặng vây phủ trong căn nhà ẩm tối. Ông không nói nhưng chừng như đó là một cách nói với chúng tôi, ông cay đắng nghiền ngẫm những thất bại, cơ sở làm ăn khánh kiệt, quê cũ không thể trở về và người vợ lăng loàn quá quắt. Bà hãy nuôi tôi như nuôi một con chó giữ nhà là được rồi, nhưng hãy để cho con chó nó được yên thân. Không phải vì vậy mà ông chỉ có nín thinh, có lúc ông đã vùng dậy khỏi giường, và một lần ông đã cầm chắc lấy trong tay mình con dao lớn đuổi vợ ra đến ngoài đường. Tôi trông thấy ông xanh mướt như một tàu lá rợp nắng, đôi mắt đục lờ, chân tay run rẩy. Ông la lên: tao muốn mày biến khỏi nhà này, chó cũng có lúc thành người được. Ông không coi vợ là người trong nhà nữa, ông coi như bà không có mặt trong nhà. Bốn anh em tôi lặng lẽ sống trong một không khí bí ẩn đen tối không mặt mũi những ý nghĩa nào đó.
Ông bác tôi nói cha mày thất bại vì mẹ mày, tao như cha mày thì mẹ mày chỉ có nước ăn một dao con chó, cái thứ đàn bà... Tôi chỉ được nghe một cách mơ hồ không rõ ràng như thế. Thế giới những người lớn khép lại kín đáo. Nhưng rồi có hôm mẹ tôi bỏ đi thật tình. Bà thu vén lặng lẽ khéo léo như một con mèo khôn ngoan. Chỉ biết một đêm chúng tôi không thấy bà trở về. Sau bữa cơm tối cha tôi đi ra đi vào cho tới khuya, chừng như ông cũng như chúng tôi trông đợi một tiếng gõ cửa, một bước chân khua động ngoài hiên, nhưng cho tới rất khuya, chúng tôi cũng không thấy bà trở về. Cha tôi uống rượu nhiều, chừng như bây giờ ông mới thấy mình đã mất đi một cái gì mà xưa kia ông nghĩ là không cần thiết. Trong đêm hôm đó tôi tin ông không ngủ. Ngọn đèn nhỏ lại bắt đầu cháy không ngừng trên vách nhà, cha tôi lại nằm quay mặt vào tường lặng lẽ để rồi lại thức dậy ra đi. Tôi đã nhớ tới khuôn mặt hốc hác, nước da tái nhợt xanh xao của cha tôi, tôi đã nhớ tới khuôn mặt mệt nhọc nhưng đanh đá của mẹ tôi, và chúng tôi những lo sợ hãi hùng trong cái nhìn, trong cử chỉ, tiếng nói, chừng như chung quanh chúng tôi không lúc nào có được một ánh sáng đích thực của mặt trời, thiên nhiên soi chiếu trên đời sống. Ngọn đèn dầu nhỏ, không khí ẩm ướt là đời sống chúng tôi những âm thầm phủ kín, ẩn giấu đầy đen tối…
Tôi không tìm ra những nguyên do tôi không biết đã sống lên như vậy làm gì. Giữa cha mẹ tôi có một cái gì ngăn cách như thù hận. Mày không phải con tao. Tôi đã rợn người khi nghe cha tôi nói vậy trong một lần, câu nói ấy dành cho đứa em út bảy tuổi của tôi. Mày không phải là con tao. Một lời tức giận hay một sự thật. Tôi không biết. Tôi không muốn biết. Mẹ tôi là một người ngoại tình sao. Tôi cố không tin. Nhưng mẹ tôi đi đâu từ đó. Tôi khăn gói lên đường lãng quên những gì vây bọc chung quanh, những gì tầm thường không đáng gì trong đời sống những người khác, tôi tầm thường với những sự việc như vậy. Tôi không nói những điều đó với những thằng bạn. Những thằng bạn tôi đều có những đời sống có ý nghĩa tôi thì không, tôi tầm thường trong những vụn vặt vô nghĩa chẳng đáng gì. Tôi sống với những gì đến đó. Người ta kéo tôi đến đâu tôi sống vậy. Có lúc tôi nghĩ nếu tôi không sinh làm người tôi cũng vậy mà thôi. Nhập ngũ, đánh giặc, người ta nói tới những bổn phận, tôi vác súng ra trận và bắn như người ta nhắm tôi bắn vậy. Nhưng chắc người ta khác tôi, người ta cầm súng bắn với những mục đích, những mưu toan, mơ ước khác tôi.
Nếu không có trận giặc tôi cũng vậy, có rồi tôi cũng vậy, tôi nghĩ không đâu vào đâu hết, chính ra phải là tôi, chính là tôi một con gà chết, một thằng chết nhát. Có điều những ngày đầu ấy tôi đã thấy tôi khỏe mạnh đổi khác, tôi hung bạo hơn, tôi nghĩ tới cái chết, chính tôi đã nghĩ tới điều đó, điều đó tôi sống khác đi với những ngày cũ, chính điều đó nói với tôi một ý nghĩa khác, tôi buộc phải biết, tôi buộc phải hiểu những lý do tôi cầm súng ra mặt trận, buộc phải chống trả với những họng súng ngắm về phía tôi, buộc tôi không chấp nhận kẻ có đôi mắt đỏ lửa những dục tình hung bạo, buộc tôi lựa chọn với những lẽ phải của lương tâm thôi thúc tôi, nói với tôi.
Tôi đã khôn ra một cách dại dột. Phải, chính thế. Nếu tôi biết như thế, nếu chúng ta biết như thế chúng ta không bao giờ muốn là người hết, là gì cũng được miễn không phải là người trong xã hội lang sói này.
Ước muốn mang theo một phản kháng, phản kháng trong bất lực của thân phận tôi. Làm thế nào được, tôi ngó lên nói với tôi như thế, làm thế nào được. Cái chết như một hung bạo không ngừng đe dọa. Chết rồi không còn gì nữa. Tôi muốn sống.
Từ đầu tôi đã đi tới cây cầu ấy vào buổi tối. Chừng như tôi đã ra khỏi nhà từ buổi sáng, tôi đi lang bang trong thành phố cho tới trưa. Tôi cũng không nhớ rõ tôi đã làm gì cho hết thời gian của một buổi sáng. Điều chắc chắn là tôi đã ngồi ở một quán cà phê ngoài lề đường. Tôi mua một gói thuốc. Tôi kêu một ly cà phê nóng. Tôi cũng ăn một gói xôi. Tôi đã ngồi đó rất lâu nhấp từng chút cà phê và hút liên tiếp những điếu thuốc.
Những người khách thay đổi nhiều lần. Tôi loáng thoáng nghe thấy những câu chuyện trao đổi giữa họ. Có lúc tôi chăm chú nghe một câu chuyện dở dang và góp chuyện, đó là chuyện đi buôn đồ lậu ở Tây Ninh. Tôi nói về con dao bấm của Trung Cộng, và về bình thủy, miên man tôi nói về thứ mìn Mao Trạch Đông. Thằng bạn tôi có một con dao bấm giắt bên người, sau nó đổi sang đơn vị khác tôi không gặp. Hồi chúng tôi gặp nhau, thân thiết nó dạy tôi cách ném dao. Nó có những đường phi dao thật tài hoa. Một buồng chuối, chỉ cho nó trái nào nó sẽ đứng ngoài năm thước ghim mũi dao vào đó. Tôi bảo nó chắc mày có mưu toan đi ăn cướp.
Bà bán quán ở cái hàng có một cái bình thủy lớn, một anh dân vệ đã làm khó bà khiến cho bà phải giấu cái bình thủy đi. Trái mìn làm bằng tre tôi đã lượm được trong một cuộc hành quân. Trông thấy nó tôi không nghĩ là một trái mìn giết người. Sau đó tôi đã lang thang vào một thánh đường yên tĩnh rồi tôi vào chợ ngắm nghía những thứ hàng dành cho đàn bà con gái, nào quần áo đủ màu, quần áo lót, vú giả, gương lược. Có nhiều đồ khiến tôi ngạc nhiên. Không có đồ giả bán cho đàn ông. Có một bà nhìn tôi cười chắc tôi có bộ dạng của một tên mán mọi nào chưa chừng.
Buổi trưa tôi ngồi ở một khu lao động ăn cơm đĩa. Trái trứng kho mặn màu nâu, những khoanh ớt đỏ thắm. Trưa tôi mua vé vào một rạp xi nê. Phim thứ nhất nói về một cuộc săn vàng. Phim thứ hai kể chuyện một người đàn bà làm điếm nuôi và thương yêu những đứa con. Tôi coi ngắt quãng nhiều lần vì cơn mệt mỏi và đôi mí mắt khép lại những giấc ngủ ngắn chập chờn.
Buổi chiều oi bức, nắng nghiêng trong phố, bụi mù và khói xe. Tôi ngồi ở bờ sông uống những ngụm la de, ăn những hột vịt lộn. Như thế cho tới gần tối thì tôi gặp thằng bạn cũ. Tôi không nhớ tên nó. Có lẽ nó cũng không nhớ tên tôi. Chừng như hai đứa đều đã ngà ngà và chúng tôi tiếp tục uống nữa. Ly cụng nhau, đưa lên một hơi cạn. Ê tao đãi mày đi chơi điếm. Ngon không. Số dách. Chiếc xích lô máy nổ cồn cào trong lòng phố chập choạng ánh đèn. Con hẻm tối, tôi đứng lại đái vắt lên tường nhà. Có con nào ngon không, tôi đãi thằng bạn, đi hết rồi, không còn đứa nào sao. Hết mà cậu. Què quặt, sứt tai gì cũng được. Tôi cười lớn. Thôi đi mày, tao đâu đã say gì? Thôi đi đám khác. Tôi không rõ nó đã dẫn tới đến những đâu nhưng nó không kiếm ra đám nào để đãi tôi. Sau nó nói còn chỗ này chắc ăn. Con ngõ rộng, hai bên những căn nhà gọn gàng đóng kín. Nó dò tìm rồi gõ cửa, tiếng nói nhỏ rồi to dần. Cánh cửa đóng lại. Nó la lên. Mẹ, bọn nó đi hết trơn. Nó đứng giữa ngõ đái và miệng kêu lớn: Ới các em ơi, cho anh một cái. Tiếng nó vang vọng chất ngất. Mấy cánh cửa mở, vài khuôn mặt ló ra, bầy chuột chạy, tiếng nước tiểu trên mặt đường.
Tôi tỉnh lại dần dần trong không khí im lặng đó. Tôi bỏ nó lại và trở ra đường, có lúc tôi nghe như thấy tiếng nó gọi phía sau. Và sau đó tôi đã lên đến cầu. Tôi nhận ra cầu khi thấy hai thành sắt. Tiếng nước vỗ, gió ẩm mát. Và những ngọn đèn lấp lánh ngoài cửa sông.
Có nhiều lúc tôi nghe như trong đầu tôi có tiếng động, tiếng sóng sánh của một chất lỏng. Có phải óc tôi đã vữa ra. Có lúc tôi nghe như tiếng rạn vỡ bật ra. Có phải cái đầu tôi đã nứt. Không chừng, ở trong một khoảng trống, một lỗ hổng nào đó có một con giòi, con bọ nào đó đã nằm sẵn và đang cựa quậy, hay một viên sạn trong một khoảng chân không. Những điều đó tôi mới nhận thấy đây. Đầu óc tôi có lúc mù tối hẳn đi. Nhiều lúc tôi thấy tôi mò mẫm trong một con đường hầm nhớp nháp tối đen và có lúc tôi chới với giữa một không gian mù mịt sương muối bao la...
Nhiều lúc tôi không còn nhận ra được người, vật chung quanh, tôi mơ hồ cảm thấy những đảo lộn, quay cuồng... và ký ức bị thay đổi không rõ ràng. Tại sao tôi đã đến thành cầu đó, trước đó tôi đã nghĩ gì, tại sao? Có phải tôi đã qua một ngày mệt nhọc, bải hoải, và cơn say chập chờn... Có thể đó là một ngày buồn thảm, chừng như vậy, mấy ngày trước đó tin về một trận bão thổi qua, rồi những ngày trời oi, nền trời thấp, cho tới lúc bầu trời đục, những cơn gió mạnh thổi thốc xuống lòng những con phố, và những hạt mưa đổ xuống ào ào. Đó là ngày thứ bao nhiêu, phố xá ẩm ướt, tôi lang bang dầm mưa, đôi chân trong dép nhợt nhạt vì lạnh. Thân thể như rời ra từng lóng ngắn, tay như tay mượn và đôi chân mềm nhệu...
Tôi đã ngồi như thế trong mưa lạnh. Hơi nước ẩm làm tôi tỉnh lại dần cho tới lúc đứng lên được. Đ. má nó kỳ quá. Nếu người ta sống hoài hoài được trong cảm giác chập chờn đó. Đất say đất cũng lăn quay... trời say trời cũng... Ừ mà có thế thật. Sao lại không say? Nhưng sao lại tỉnh dậy chi vậy? Những con đường ướt nước. Mưa nhẹ hạt. Những giọt nước lạnh đậu trên tóc, trên mặt chảy xuống môi.
Tôi đã đi không biết qua những con đường nào cho tới khi nhận thấy đó là một cây cầu, thành sắt, dưới đó dòng nước đen ánh từng khoảng đèn sáng lấp lánh và mặt nước những hạt mưa rắc đều. Đó là một dòng sông. Tôi nghe thấy tiếng còi tàu, tiếng vỗ nơi chân cầu. Chừng như tiếng mái chèo ngoài cửa sông và những ánh sáng chập chờn lay động. Tôi đã thấy những khuôn mặt không rõ ràng. Mẹ tôi đã ngoại tình sao? Cha tôi đã tự cho là thất bại sao?
Nàng đã sống những ngày sau đó ra sao? Một tình yêu? Một tình thương hay một chút nghĩa, một cái ơn phải trả? Chính nàng đã khóc? Có thực là nàng khóc với lòng thương yêu, vì sự thất vọng. Tôi cũng không biết nữa. Anh không thương em, có phải vì em không xứng đáng với anh? Anh nói cho em nghe đi? Em có muốn đòi hỏi gì đâu, nhưng em, em giữ em cho anh, ba má dành cho em ít vườn, em muốn cất ở đó một căn nhà nhỏ và anh về chung sống với em. Anh muốn sao cũng được. Em không thể thương yêu ai nữa. Nếu anh lập gia đình với ai em cũng không nghĩ anh phụ tình, em sẽ coi như anh đã chết và em là góa phụ. Anh hãy nói với em đi...
Tôi đã ứa nước mắt quay đi. Tôi không kiếm được lời để nói. Tôi nghĩ tôi không có may mắn. Tôi không mang lại được hạnh phúc cho ai. Tôi muốn tôi khổ một mình. Rồi em sẽ thấy điều đó và tha thứ cho anh. Em là người độc nhất anh quý mến. Anh biết em yêu anh... Có phải tôi đã lừa dối nàng?'Không, tôi không lừa dối. Những giọt nước lạnh lăn trên má, đọng trên môi. Làm con trai nhưng tôi đã khóc, điều mà tôi đã từng giấu giếm.
Bây giờ tôi cũng không nhớ rõ nữa. Ngày hôm đó. Những ngày trước đó. Những linh cảm nào. Chỉ có điều chắc chắn: một hơi men ngây ngất chập chờn, những giọt nước trên môi (nước mưa của cơn mưa buổi chiều hay nước mắt buồn tủi?). Có một phút nào đó đầu tôi rỗng không. Để trả lời, để cắt nghĩa, cho một người khác hiểu, tôi hoàn toàn bất lực. Tôi không thể nói cho ai hiểu được. Ý định, quyết định về một lựa chọn này quả thực tôi chỉ có như một đau khổ siêu hình đẩy tới. Đau khổ khi sinh ra. Đó điều tôi không quyết định với lý trí. Tôi cố gắng mệt nhọc một cách vô ích trong tìm kiếm. Tại sao anh đã làm như vậy. Tôi không biết. Bịp. Bịp. Không, Tôi có thể trả lời những câu hỏi khác. Nhưng những câu hỏi khác đó như thế nào. Và anh có chắc là anh đã trả lời được. Hay những trả lời đó cũng chỉ là một lừa dối, phỉnh gạt với chính cả anh. Mà cũng có khi anh đã không biết một tí gì về điều anh nói. Có chắc gì vì lý do này anh đã như thế này, vì lý do kia anh đã như thế kia. Có khi chính anh; vâng chính anh, anh cũng không biết lý do.
Tôi cũng không hiểu lý do tại sao tôi đã có lúc hành động như vậy, chỉ có những lúc. Biết đâu anh hiểu mà anh không nhận. Tại sao có những hành động của chính chúng ta mà chúng ta không nhận. Tôi không biết, có thể mỗi chúng ta, mỗi anh hùng vẫn có một thằng hèn, mỗi nhà đạo đức có một thằng vô luân, đốn mạt...
Những trả lời có thể rồi sẽ đến với chúng ta. Lực, con gà chết; đã hẳn gì là con gà chết. Ngưỡng, đã hẳn gì mày là con ngựa rừng, bất kham. Tôi nhớ người ta đã nói một cách cương quyết; không phải với một người, mà với hàng trăm người: các anh phải nhớ, vào đây đá cũng phải vỡ, sắt cũng phải cong. Trong những hàng kẽm gai chẳng chịt, dưới những mái tôn thấp nóng, giữa vô số những con người có số tôi đã tự hỏi: có thực vậy không, có chắc tất cả sẽ chỉ còn những con số, mọi cá biệt không còn. Tôi không tin.
Có lúc tôi đã tưởng như tôi thay đổi, làm biến tính bởi những khe khắt vây chặt, bởi những người số chung quanh, bởi những chà sát tàn nhẫn… không khi nào. Những khắt khe tàn nhẫn chỉ có thể làm cho tôi nhận ra tôi rõ hơn. Nhận ra tôi bởi những gặm nhấm không rõ ràng ăn mòn từ trong tim óc. Tôi lo âu kinh hãi khi nhìn thấy cha tôi quay mặt từ trong vách ra, khuôn mặt nhợt nhạt, mắt nhìn hốt hoảng. Tôi kinh hoàng chợt nghe thấy tiếng nói của nàng. Những ngọn roi, những cái đá, tiếng la thét chửi bởi tục tằn, những lần thục tay vào trong mương đầy cứt đái, những đêm nằm trơ trọi như một con chó điên lạnh cứng trong chuồng cọp, những buổi trưa khô nóng đứng phơi người trên bãi cát rộng của sân trại im vắng lạnh người, liếm mồ hôi thay nước. Những đày đọa thân xác ấy tôi nhận ra và tôi chế ngự. Tôi đủ bình tĩnh để nhìn thấy, chịu đựng và vượt qua. Bất cứ, tôi tin thế, bất cứ hình phạt nào cũng chẳng có nghĩa, có nghĩa chăng là trong tôi có sẵn một thằng hèn để nhận chịu và một người phi thường để vượt ra. Phải chăng đó cũng chỉ là một ảo tưởng?
Tại sao mày đã làm vậy. Thất tình hả? Tôi không thấy thế. Tôi sinh ra không có cái nôi để nuôi mình. Cái nôi của đời sống tôi là một vũng đất được đào sẵn. Tôi sống ở đó, và có lẽ sẽ chết ở đó. Trong cái vũng lạo sạo những sỏi cát sắc cạnh, trên đầu bao phủ những kẽm gai bom đạn tôi biết tôi đáng ra phải là một loài không có xương sống để bò ra khỏi nơi đó mà tới nơi mình nghĩ là sung sướng hơn, những cố gắng mà bất cứ ai cũng mong đi tới. Nhưng tôi lại là loài có xướng sống. Là người tôi phải đứng lên mà bước đi dù như thế chúng ta sẽ dễ dàng nhận những cái búa đập vào mặt. Nhưng làm người, tôi nghĩ, thà là chết như thế chứ không thể chết như một con giun bò lê dưới đất cho người ta dẫm chân lên. Và tất nhiên tôi phải kháng cự, chống trả với những gì đến với tôi. Đó là điều tôi không mong muốn. Đó là điều tôi phải chấp nhận.
Tôi nhận ra là đã được ném xuống dòng nước, một sức đẩy nhẹ nhàng vừa đủ cho hai bàn tay buông ra, Thế là hết. Đó là điều sau này tôi nhớ lại. Thế là hết. Điều đó chưa đến thật tình. Nước ộc vào miệng, người bị ấn xuống và bị nhồi lên cho tới lúc tôi thấy tôi như bay bổng nhẹ nhàng... Nếu cứ như thế, nếu tôi không còn cơ hội để nhớ lại. Anh làm sao vậy. Anh ngã xuống sông. Nỗi lo âu thoáng nhạt và niềm vui mừng hiện lên. Nếu nàng biết tôi có hành động của một người tự tử.
Tôi kể lại chuyện ông Vũ, bạn của cha tôi, người bạn già có giọng cười rổn rảng, giọng cười ít ai đã nghe mà quên được. Ông đã trên sáu mươi tuổi, khỏe mạnh da dẻ hồng hào, tóc hoa râm bao giờ cũng cắt cao càng để lộ khuôn mặt tươi cười. Không phải ông chỉ cười bằng tiếng, bằng nhếch môi, ông cười khoái trá bằng cả hai tay giơ lên, vỗ vào đùi, mắt híp lại, đầu ngả nghiêng, người ông cũng như rung lên theo, tiếp theo là những câu nói bao giờ cũng lớn đầy vẻ khôi hài. Vậy mà một hôm kia, trong một buổi sáng tình mơ, ông đã thức dậy, ra khỏi nhà và không trở về cho mãi tới khi người ta vớt được xác ông trôi giạt vào một mé sông. Tại sao ông đã chọn cái chết như thế. Dòng sông với ma lực nào đã cuốn hút, mối tuyệt vọng nào đã đẩy ông đi tới? Đó là một niềm bí ẩn với kẻ khác. Có điều ông đã sống một mình cho tới khi chết. Tại sao ông không lập gia đình? Ông không yêu ai sao? Không có ai yêu ông sao? Cho tới lúc tôi biết ông đã làm trong một sở tư từ nhiều năm, ông sống phong lưu, trú ngụ trong một căn phòng của khu chúng cư dành cho những người độc thân, mỗi ngày ông ra đi và trở về đúng giờ. Buổi tối bao giờ cũng trở về muộn vì thường ông tạt vào một nơi nào đó, quán rượu, nhà ăn, gặp gỡ những bạn bè, những ai gặp ông rồi đều có thể trở thành bạn ông, ở giữa những bạn bè đó tôi thấy ông tươi cười sảng khoái. Rồi đêm ông trở về căn phòng đầy đủ tiện nghi của mình. Những buổi chiểu mưa nhỏ người ta có thể thấy ông ăn mặc nhẹ nhàng cầm thêm chiếc dù với phong cách một người nhàn nhã. Như vậy ông không phải một người khổ như những người khác phải chịu vì miếng cơm, manh áo, vợ con hay bệnh tật. Vậy sao ông đã đi tới một cây cầu hay bờ sông…
Trong buổi sớm mai trong sáng êm đềm nào đó ông đã nghĩ gì. Hay hơn nữa, trong đêm đó, trước khi trời sáng ông đã qua một cơn khủng hoảng như thế nào. Mối tuyệt vọng nào đã ập đến. Đó là điều tôi không được biết. Ông chết đi mang theo tất cả thầm kín, bí ẩn của riêng ông. Sao vậy anh. Đôi mắt trong xanh nhìn lên. Đôi mắt mang hình ảnh những cánh đồng rộng hiền hòa, những cánh rừng dừa bạt ngàn, những kinh rạch trong mát không bao giờ cạn nước. Đôi mắt sơ khai nhìn lên đó như một mời gọi tôi. Nếu nàng biết tôi đã tới một thành cầu. Chắc chắn chưa bao giờ nàng nghĩ tới điều đó. Tôi lặng lẽ mỉm cười. Tại sao tôi không nhìn thấy gì khác mang đến cho tôi hy vọng. Tại sao tôi không nghĩ tới lúc tôi có thể lập gia đình với nàng, căn nhà nhỏ trong vườn cây trái, những đứa con, cuộc sống êm đềm của một thời thái bình... Không, tôi nghĩ đó là một mộng ảo. Tôi không xóa được bức màn đen căng lên cuộc sống, bức màn đen phủ lên cảnh vật...
Tôi không thể làm mất đi điều đó. Tại sao không. Tôi không biết. Nếu anh chết, em không biết đâu mà tìm thì sao, chắc chắn em nghĩ anh phụ em, đi theo một người nào đó, Nét mặt bùi ngùi lặng lẽ. Không, em đã nói với anh rồi, lúc nào cũng vậy, em không bao giờ em nghĩ anh phụ em. Em tin anh. Mất anh dù sao đi nữa em cũng coi em như một góa phụ. Thôi chứ, đừng rủa anh chết đi. Em không muốn thế, nhưng em cảm thấy một cách mơ hồ…
Tôi trôi đi trong cảm giác xa cách. Nàng cũng cảm thấy thế. Tôi cũng thấy tôi đứt ra, tách khỏi. Thằng bạn chung màn, chung chiếu đêm trằn trọc không ngủ. Tôi nhận ra lúc hắn khóc. Tôi hỏi khóc sao, nhớ nhà à. Nó lặng im. Tiếng nói rì rào trong căn nhà tôn trống không. Những tâm sự của những người bạn mới đời quân ngũ, của những người bạn ngoài đời tình cờ gặp lại nhau. Tiếng cười giữ lại thầm nén một niềm vui nào đó. Tiếng mưa rơi trên mái tôn cùng tiếng súng nổ ngoài xa. Nó khóc vì nhớ nhà. Những gì không có ở đây. Trong những hàng rào kẽm gai kiên cố. Tôi không có gì để nhớ. Cũng không hẳn. Tôi nhớ nhưng tôi không thấy xúc động, tiếc thương. Ở ngoài đó cũng như ở trong này, tôi không thấy niềm thiết tha xúc động nào. Tôi không có mối tình đằm thắm với ai. Không có một gia đình mà tình thương nâng niu, không có những bữa ăn đầm ấm, những đêm ngủ êm đềm với giấc mơ vỗ về. Tôi cũng không có những tình bạn chia sẻ áo cơm, hay chia sẻ mộng tưởng tương lai. Đời sống ở ngoài đó cũng không có gì sung sướng hơn ngoài một chút tự do thừa thãi. Nó khóc, trằn trọc không ngủ, và những lời tâm sự muốn được nói với người nằm bên như một trông đợi an ủi, chia sớt...
Tôi không có gì cả dù tôi cũng có cha mẹ, anh em, bạn bè. Nó nói về bà mẹ nó khóc khi nó đi. Bà bọc cho nó từ những đồng bạc, lọ dầu cù là, mấy viên thuốc nhức đầu, khăn mặt, áo quần, bánh mì, kẹo lạc... Nó nói chắc ở nhà bà khóc vì nhớ nó, nó trông cho tới ngày người nhà được phép vào thăm... Tôi không chờ đợi gì, những gì đến rồi phải đến, phải qua. Tôi chẳng trông đợi... Nó hỏi tôi nhưng tôi nói chẳng có gì. Cũng có đêm tôi mất ngủ, trằn trọc nằm nhìn đỉnh màn theo dõi một chú rệp đang bò. Nó thức dậy nhìn thấy tôi mở mắt, nó nói sao vậy, tôi nói không tự nhiên mất ngủ, nó than với tôi về nền xi măng đau lưng, những muỗi và rệp đốt đỏ trên da thịt. Trong bữa cơm hắn vào hàng đứng nhìn những thùng cơm vữa, những bát canh như nước bùn, nó lắc đầu qua câu lạc bộ mua bánh mì ăn với chuối. Nó nói chưa bao giờ phải khổ như vậy. Tôi tự hỏi sao có những người sung sướng như thế. Nó ngượng ngùng nhìn những bạn trần truồng chen nhau bên máy nước, giành nhau từng chút, nó lặng lẽ nhờ cậy tôi dấp ướt cho chiếc khăn bông. Nó quay ra quay vào nhăn nhó vì nhà cầu trống không lúc nào cũng hơn mười người ngồi vừa đại tiện vừa tán gẫu vừa ca hát... nó khổ sở trong những chung đụng lần đầu với đám đông...
Bên đó cũng có một người bạn khác, mỗi đêm nằm ấp chiếc ví có ảnh người tình lên mặt, lo toan viết thư và kẻ với tôi những ngày thơ mộng khi đi học với mối tình đầu. Nó hỏi, chắc anh đã có vợ. Tôi nói chưa. Nó nói anh chưa yêu ai. Tôi nói có. Nó nói thế không nhớ người yêu sao. Ừ sao tôi không thấy nhớ. Tôi muốn nói tôi cũng yêu phất phơ thế thôi, không có tôi nàng cũng chẳng chết. Và không có nàng tôi cũng chẳng chết vì đó cũng chỉ là một người thoáng qua. Thực tôi chưa yêu ai...
Rồi tôi cũng qua những ngày tháng đó và những ngày tiếp theo chẳng có gì để lại những thắm thiết cháy lòng. Thạc cũng đã trải qua như thế. Ngưỡng cũng trải qua như thế. Lực, con gà chết bị loại khỏi vòng. Thằng Đức rồi nó cũng không thoát. Tội nghiệp cho nó. Tôi biết nó sẽ nhớ vợ, nhớ con, căn nhà xinh xắn đầm ấm những thói quen hàng ngày.
Nhìn lại, có những lúc tôi nhìn lại, tôi nghĩ một cách không chắc chắn: có lẽ tôi đã làm vậy vì tôi không có một đời sống như mọi người. Đó là trường hợp của riêng tôi. Đó là điều đẩy tôi vào những cơn say chập chờn lãng đãng. Trong những chập chờn lãng đăng đó tôi sống lại những khoảnh khắc, những mảnh rời tình cờ khắc ghi trong tâm khảm..
o O o
Đẩy cửa bước vào nhà, tiếng động khô khan kéo dài, căn nhà mù mờ ngọn đèn trên vách gỗ. Tôi nghe thấy tiếng bước chân mình. Cha tôi nằm im trên chiếc đi văng hẹp phía góc, gần ngọn đèn. Tôi nhẹ nhàng đi vào nhà trong. Vừa bước tới khoảng cửa ngăn tôi nghe thấy tiếng cha tôi gọi: Quảng. Tôi dừng lại. Sao mày lúc nào cũng muốn tránh mặt tao, mày đi đâu tối ngày cứ khuya mới về. May quên tao là cha mày sao. Tôi cứng lưỡi không biết nói sao. Mày ra đây tao bảo. Tôi trở lui đứng lại bên chiếc đi văng. Cha tôi nằm quay người vào trong vách. Thuở tôi còn nhỏ tôi không hiểu ông đã làm gì đó với rất nhiều những người bạn. Ông thường vắng nhà, những lúc trở về ông lo nghĩ với những đêm không ngủ hí hoáy trên bàn viết, hoặc thầm thì với một người bạn. Mẹ tôi chỉ lo cơm nước lặng lẽ, tôi không thấy hai người nói chuyện hay hỏi han gì nhau. Lâu lâu chợt ông hỏi: bọn mày học hành ra sao. Ông hỏi để hỏi mà không trả lời. Rồi có lúc ông mang một chút hành lý đi biệt một thời gian. Và khi trở về đó là lúc ông nằm nhà, quay mặt vào vách như ngủ, lâu lâu có bạn lại chơi ông mới ngồi dậy chuyện trò, nhiều lần những câu chuyện kéo dài ngày đêm, có lúc thầm thì có lúc to tiếng, những lúc đó; nghe lời dặn của mẹ tôi, chúng tôi lánh xa nên tôi chẳng hiểu gì. Nhìn ông nhợt nhạt tôi lo lắng quay đi. Mày học hành ra sao? Thưa cũng thường. Mày định sau này làm gì? Tôi lúng túng không biết trả lời sao. Mày nói tao nghe. Con cũng chưa biết. Chưa biết, vậy đến bao giờ mới biết. Mày là đứa bỏ rồi... Bọn bay hết xài, tao biết mà, đâu cần gì phải hỏi... Ông lại nằm xuống lặng lẽ. Tôi ngồi im chờ đợi. Sao vậy. Sao tôi lại là đồ bỏ. Tôi phải làm gì sao ông không nói cho tôi nghe. Tôi đã ngồi im, bất động như thế chờ đợi. Tôi cũng không rõ tôi chờ đợi gì... Chừng như rất khuya, tôi vẫn ngồi tỉnh táo, có lúc tôi nghĩ mình đang ngồi canh một xác chết chờ lúc nhập quan. Tôi phảng phất thấy một mùi gì, và nhận ra một không khí lạnh lẽo. Giây phút đó tôi lạnh toát cả người và muốn bỏ chạy. Nhưng tôi vẫn cố ngồi im. Tôi nhắm mắt, ngồi dựa lưng vào vách nhà. Cha tôi đã chết. Sao ông không nói với tôi điều gì. Tôi cố gắng nhớ lại xem cha tôi đã nói gì chưa, từ ngày tôi có thể hiểu. Không. Có điều gì ông nói bằng cách không nói không. Có thể có. Đó là thái độ ông nằm đây, ngoảnh mặt vào vách lặng im. Có phải đó là một cách nói.
Nhưng ông nói gì? Nói ông đã thất bại? Nói ông không phải là cha tôi? Nói ông không có trách nhiệm? Nổi tôi hãy theo ông ngoảnh mặt đi với đời sống? Tôi không biết được, không nghe thấy một thông điệp nào. Đằng nào thì ông cũng là cha tôi, đã nuôi tôi, dù ông đã ngoảnh mặt đi. Ít ra tôi cũng khác thằng Lực sống với một bầy ngựa hôi hám. Tôi an ủi tôi như thế. Chợt một lúc cũng một lúc thiếp ngủ chập chờn, tôi thấy cha tôi ngồi dậy, đứng lên. Mày hãy lo lấy thân mày. Tao biết như thế này thì tao không nên có con. Mày hãy coi mày như một người mồ côi... Tôi tỉnh dậy. Tôi lặng lẽ đứng lên, vào nhà rồi thiếp đi... Có lúc nhớ lại tôi tưởng đó chỉ là một giấc mơ.
Tới hai mươi sáu tuổi tôi vẫn thấy tôi còn bé, chừng như suốt sáu bảy năm trời, từ năm mười tám tuổi gì đó cho tới nay tôi không thấy tôi thay đồi. Đứng trước bất cứ ai, lớn nhỏ, địa vị... tôi thấy tôi nhỏ bé và khờ đại, và lúc nào tôi cũng giữ sự khiêm tốn mềm mại – điều đó nhiều khi rất tai hại và nhầm lẫn. Tôi cũng nhận ra, trong một vài trường hợp, nhận ra không rõ ràng, rằng tôi đã lớn, người ta gọi tôi là ông, gọi tôi là anh xưng em, gọi tôi là bác, chú và xưng cháu. Sau tôi nhận ra dần dần rằng tôi vẫn chưa là đàn ông, (cho tới khi nhập ngũ) sau là tôi chưa có một địa vị nào trong xã hội. Sự khiếp sợ trong đời sống gia đình. Sự nhỏ bé trong cuộc sống ngoài phố. Sự thu hẹp cuộc sống chung quanh những bạn hữu bằng hay nhỏ tuổi hơn. Tính nhút nhát, mặc cảm đã khiến cho tôi không đóng được đúng vai trò của tôi. Khi nhận ra tôi thấy mình khôi hài. Con phố dài hút, đèn khuya mù ánh đèn, hai dãy nhà thấp, những ngọn cây cao vút với một chút tàng lá nhỏ – hình ảnh của con phố sau một cơn hỏa hoạn lớn, đường nhựa rộng, vài chiếc xe phóng nhanh, lề đường con chó gầy thơ thẩn.
Cậu nghĩ sau này cậu sẽ làm gì. Ngưỡng lặng im một lúc, rồi ngừng lại nhìn tôi lặng lẽ, một lúc Ngưỡng lại cúi xuống tiếp tục bước. Một ống bơ nằm im. Ngưỡng giơ chân đá bung xuống mặt đường, lăn đi rất xa. Tiếng vang động trộn trạo. Sau này cậu sẽ làm gì. Sao tôi lại hỏi nó? Tôi nghĩ chắc nó cười tôi. Lực nói tao nuôi ngựa, tao kiếm giống tốt, nuôi những con ngựa thiệt đẹp, nước đua thiệt hay rồi ra ngoại quốc làm thằng dô kề lừng danh. Nó nói làm một thằng dô kề ở nước ngoài còn hách hơn một ông thiệt lớn ở nước mình. Đức chửi nó, nó nói tao vậy đó, tao thành thật với tao, làm một thằng dô kề được gắn huy chương cũng hách như ai, miễn là tao yêu nghề tao, thương ngựa tao. Nó có lý của nó. Đức nói tao muốn làm một ông chồng tốt, ông bố gương mẫu, một công dân lương thiện. Tôi cười. Chắc nó thực hiện được điều đó.
Tao tin mày không ngoại tình. Nhà vua gọi lính thì đi… Gương mặt tươi sáng, đôi mắt lớn, lông mày thưa, người nhỏ, tóc mượt mềm mại, tiếng nói bình dị, cử động chừng mực nhẹ nhàng, đi học, thi đỗ, đi làm, lấy vợ, có con… Từ hồi nào tới giờ tôi thấy nó vẫn thực hiện điều nó nói một cách bình tĩnh êm thấm. Nó không có mộng tưởng gì ở ngoài đời sống. Nó mong muốn thực hiện những ước muốn nhỏ bé trong tầm sức: có nhà rộng, có xe tốt hơn, có thêm ít cà vạt. Còn tôi, tôi sẽ làm gì. Câu hỏi đến với tôi mới đầu thấy khôi hài sao đó. Nhưng dần dần tôi thấy lo âu. Thạc nghiêng ngả mềm yếu: đến đâu hay đến đó, mẹ, nghĩ ngợi gì nhiều vậy mày, bây giờ tao đánh giặc, sống như mình muốn, thế rồi tao cũng lấy vợ, cũng mua nhà, chưa chừng tự tử, đi tu... Tôi nghe nó nói có vẻ nghe được. Ừ nhỉ, sao phải nghĩ ngợi chi nhiều, biết đâu được, bây giờ lo sống như mình muốn. Sống như mình muốn? Được vậy không? Sống như mình muốn thì tôi phải bỏ gia đình tôi, tôi phải, tôi phải...
Đây là một sự mỉa mai. Làm sao để sống như mình muốn? Tôi muốn trần truồng giữa xã hội, chẳng hạn thế, đâu được, làm vậy người ta bắt bỏ tù. Luật lệ, thói quen ai cho mình làm vậy. Đó là chưa kể tới vô số những việc động trời khác tôi muốn thực hiện... Sống như mình muốn cũng chỉ là một mơ mộng. Sống như mình muốn trong vòng những ràng buộc liên hệ thì may ra còn được… nhưng như vậy thì còn gì nữa đâu, cứ việc xếp hàng hai, nhận số, vào đời, đi trên con đường đã vạch sẵn cho tới một bức tường đá, hoặc dòng sông hoặc vực thẳm... Tất nhiên không xếp hàng hai mình cũng sẽ tới cuối đường đó.
Vậy cuộc sống chỉ có nghĩa với khoảng đường đi tới. Tôi nghĩ cái cuối đường không đáng quan tâm. Ai rồi cũng chết. Đó là một định đề. Sống như mình muốn, tôi mỉm cười với Thạc. Nếu bây giờ mày không muốn ở trong lính mày có làm được không. Bây giờ tao muốn ở đó mà, biết tao là thằng tình nguyện. Tôi thấy nó gượng gạo... nếu thế thì được còn tao, mày biết đó, tao không muốn nhưng tao vẫn phải làm, tao buộc phải xếp hàng hai, nhận số và bước đi theo lệnh... Tao nghĩ mày không thành thật, mày ngụy biện... Sống như mình muốn chỉ ở trong trường hợp mình được lựa chọn, nghĩa là có tự do...
Mày định sẽ làm gì? Khuôn mặt nhợt nhạt, đôi mắt hoe đỏ, căn nhà mù mờ, ngọn đèn vàng vọt trên vách. Ông định làm gì? Ông nhìn thấy gì trong vách ván khuất tối? Xưa kia, bằng tuổi tôi ông định làm gì? Lý tưởng nào kêu gọi trong đầu ông? Ngọn đèn nào soi chiếu trong trí tuệ ông? Xúc động nào lay động tìm ông? Sức mạnh nào làm nóng mạch máu tươi trẻ? Ví dụ thế. Tôi không có gì hết. Tôi không nghe thấy, cảm thấy, không một mảy may nào dấu hiệu báo cho tôi biết về một ngọn đèn, một kêu gọi, một xúc động. Tôi cũng chưa biết tôi phải làm gì. Một con vật như con heo nó có biết nó phải làm gì không, ngay cả việc người ta sẽ mang nó vào lò thịt. Nó có nghĩ: nó phải kháng cự lại việc người ta chọc tiết và cạo lông nổ không. Nó sinh ra, bú mẹ, ăn cám, ăn bèo cho béo tốt chờ ngày người ta làm thịt một cách thản nhiên. Tôi nghĩ hắn sung sướng, hắn sung sướng vì không có một vấn nạn, không phải xếp hàng hai...
Cho đến bầy ngựa của thằng Lực cũng còn khá nữa. Từ đó tôi nghĩ sao mình lại không chấp nhận: sẽ làm một con heo. A, ai cấm tôi, tôi sống như tôi muốn, nhưng tất nhiên cũng chẳng được, chẳng bao giờ được, chẳng ai làm được...
Tiếng chiếc xe vút qua, chiếc ống bơ bẹp xuống đường gây một tiếng động mạnh. Ngưỡng ở trước mặt tôi đang cúi người xuống chiếc máy nước mở nước lên đầu, hai tay ấp trên mặt. Một lúc nó ngừng lên lau mặt, châm một điếu thuốc trong ánh sáng mù đục của đêm. Tôi có cảm tưởng Ngưỡng vừa trôi dưới một con sông nào sống lại. Nó mỉm cười bùi ngùi. Nó đã quên điều tôi hỏi. Sau này mày làm gì. Sống lên trong vòng tay nương chiều êm thấm của mẹ, của em. Vào học đường với những mộng tưởng, đầu quân, đánh giặc lên chức, tu nghiệp, đánh giặc, tu nghiệp... Tôi nói với nó, mày là một thằng có nghị lực và nhiều may mắn. Nó cũng mỉm cười, Tôi cũng không hiểu nó đồng ý với tôi hay không. Tại sao nó đầu quân?
Gặp Lực, tôi hỏi nó. Lực nói không biết, nó bỏ Di Linh về đây long rong, năm với tao nhiều đêm trằn trọc không ngủ. Nó buồn chuyện gì mà không nói. Tới một hôm nó nói nó đầu quân. Tao ngạc nhiên nói: điên sao. Nó nói tao phải làm một việc gì. Sau này mày sẽ làm gì? Chắc nó thầm cười tôi. Nó lớn nhất trong bọn. Câu hỏi chỉ để cho những thằng như tôi, những thằng vừa mới lớn. Sao cha tôi không hỏi tôi điều đó từ khi tôi còn nhỏ. Khi còn nhỏ, chắc khi nghe điều ấy tôi còn ngớ ngẩn hơn, tôi thấy tôi tức cười hết sức. Tại sao lại có những câu hỏi như vậy. Người ta sinh ra để làm gì, cũng như sau này mày làm gì, tôi nghĩ tại sao lại không có một câu trả lời: để chẳng làm gì hết.
Đó là câu hỏi mà tôi tin là ai cũng muốn lựa chọn. Ngưỡng đi chậm lại: mày nhớ những mộng tưởng hồi nhỏ không — Ví dụ? Một cuộc du lịch vòng quanh thế giới, lên tới đỉnh ngọn núi cao mà ở xa mình nhìn thấy, tới một suối có tiên động… — Hồi xưa ngu bỏ mẹ. — Tao muốn ngu hoài như vậy. Hồi ở trên Di Linh, những buổi sớm mai thức dậy, sương mù bao phủ, đứng trên sườn đồi ngó xuống những thung lũng thấp trắng, những ngọn núi rất xa ẩn hiện, mình ước sao có cánh mà bay trên cảnh vật đó. Những mong ước mơ hồ trờn trợ trong trí não mày chưa bao giờ thấy vậy sao... Giọng Ngưỡng lăng đăng như tiếng nói của một người lạ nào. Tôi không còn thấy một Ngưỡng ngang ngạnh, bướng bỉnh, một Ngưỡng khỏe mạnh dữ dằn, hung bạo... Tôi nói: mày là một thi sĩ. Ngưỡng cười thành tiếng: Thi sĩ không giết người... Sao nó không trả lời điều tôi hỏi nó. Hồi nào nó nhìn vào mặt tôi: giết được đứa nào chưa? Tôi nói không rõ, đó là một cách nói. Tôi nghĩ chắc đã có đứa chết. Con đường mòn nhỏ, ánh trăng xanh, chúng tôi nằm ẩn trong những bụi gai chờ đợi. Tôi còn nhớ rõ như in con đường đó đây. Báo cáo cho biết bọn nó mới về, đêm lùa vào các làng thu thóc gạo, tiền bạc, một ông làng bị chúng bắn chết. Con đường mòn đó là một trong những đường mòn chúng phải vượt qua để rời khu rừng. Đó là trận phục kích đầu tiên tôi dự. Khuya lạnh, sương đêm đọng từ trên những lá cây chảy xuống: có lúc tôi thầm mong chúng đừng vượt qua con đường. Thằng bạn nói: bắn chậm thì chết, mong vớ được con mồi mập một chút. Nó đã được lên chức, thưởng tiền nhờ cướp được một súng tiểu liên Tiệp Khắc...
Ánh trăng xanh lóng lánh trên những thân lá bóng nhẫy, tiếng côn trùng rì rào. Có lúc tôi chợp thiếp đi, chân tay lạnh cóng. Tại sao người ta phải rình rập nhau một cách khổ sở như vậy. Thằng bạn nói trong khu rừng này có trăn rất lớn, nó nói loài trăn lạ lắm, ở dưới bụng nó, phía đuôi có một cái mai, đến một lúc cái mai nhú ra thì con trăn nằm lại chờ đợi con mồi, và chỉ khi nào có mồi rồi nó mới đi, có khi nó nằm hết mùa này đến mùa khác, lá cây phủ dày, nhưng thấy có mồi đến nó vùng dậy... Tôi cũng đang là một con trăn đây. Ánh trăng ngả xuống, có lúc ẩn vào mây đen, ánh sáng mờ đi trên con đường nhỏ.... Chợt tôi nhận ra tiếng bước nhẹ, những bóng đen ngậm câm tiến qua trước mặt. Súng nổ. Rồi vô số tiếng nổ tiếp, tôi cũng giữ chặt cây súng, nhắm mắt bóp cò, khi mở mắt tôi nhìn thấy trước mặt mình vô số những đường lửa đỏ đan trên đầu... năm đứa bỏ xác nằm lại, chỉ có một khẩu súng trường, ba trái lựu đạn. Một thằng bụng banh ra còn thở phì phò. Chắc có đứa đã chết vì đạn của tôi. Thi sĩ không giết người. Tôi mỉm cười nhìn Ngưỡng. Lần tôi bắn chết ba thằng ngoài hàng rào kẽm gai ven sông thì thật chắc chắn... Còn nó, nó đã giết được bao nhiêu người. Khi cuộc chiến chấm dứt, mày định làm gì.
Tôi đã kiếm được một cách khác để nói với nó. Bao giờ chấm dứt? Ngày mai chẳng hạn. Tao không tin, mày làm như... Mà nếu vậy thì mai hãy hay. Đến khi cuộc chiến chấm dứt, nó không nghĩ đến điều đó, không ước mong điều đó? Thực vậy không? Nó có dối nó không? Nó muốn cuộc chiến hết đời nó? Chắc không, nhưng có khi nó chết trước ngày mãn cuộc. Biết sao được. Con mắt mở lớn, tiếng cười chất ngất nét mặt im đứng từng lúc... có khi tôi chợt nhận ra nó không chú ý đến câu chuyện đang nói, mắt nhìn bâng quơ tư lự. Mối tuyệt vọng nào đến nơi mỗi người. Nó nghĩ nó không có tương lai sao? Tôi đã đành. Nhưng một phép màu nào, một may mắn nào chẳng hạn. Sao nó không nói với tôi ngày nó giải ngũ, lấy vợ sống trong một ngôi nhà thân yêu cùng với mẹ già, người em gái, chắc khi đó người em cũng đã có gia đình rồi.
Tôi đã nghe nhiều người nói về những mộng ước sẽ thực hiện, lấy vợ là người như thế nào, một căn nhà như thế nào, làm ăn như thế nào. Ngưỡng bước chầm chậm, đầu cúi, giọng mơ hồ: Xưa kia mình nghĩ sẽ..., tao nhớ những ngày còn ở trong hướng đạo... lúc đó tao muốn làm một ông giáo, sống một đời sống thanh đạm, nhàn nhã, mơ mộng chưa. Ngưỡng ngừng đầu lên nhìn tôi và mỉm cười dễ dãi. Một ông giáo điềm đạm, ngày ngày đạp chiếc xe cũ tới trường. Tôi nhớ tới hình ảnh ông thầy thời nhỏ....
Còn tôi, cho tới khi biết lên tôi chỉ nghĩ tới cuộc sống ở ngoài gia đình mình, trong một gia đình khác, một cuộc sống khác, nhưng tôi lại không lúc nào dứt khoát được một điều gì, những sợi dây ràng buộc mong manh đối với tôi cũng chắc chắn và chẳng bao giờ tôi muốn cởi khỏi, miết rồi vô số những sợi dây mong manh ấy đan thành một màng lưới, như một cái kén, như tơ nhện quanh con ruồi, làm tôi tê liệt trong đó, dùng dằng, quanh quẩn trong đó...
Bây giờ tôi hỏi tôi, tôi muốn gì. Tôi muốn nhiều thứ quá, nhiều đến đỗi trở thành không muốn điều gì, và tất cả mọi mong muốn khi tôi nghĩ tới thì ngay đó tôi cũng nghĩ ngay rằng tôi chẳng bao giờ được hài lòng, như vậy, hay hơn hết là không nên muốn gì cả, đời sống mang đến gì, mình nhận chịu như thế. Tôi chịu thua một cách khôn ngoan. Tiếng chuông nhà thờ đổ hồi. Ngưỡng nhìn lên: có người chết. Tôi ngạc nhiên hỏi sao biết, Ngưỡng nói đó là hồi chuông báo tử cho những người sống cầu nguyện. Tại sao sau này mình lại không làm một gã đào huyệt, một gã đào huyệt không được sao?
o O o
Năm giờ còi báo thức gắt gỏng trong không khí sớm mai, bầu khí êm đềm cựa quậy trệu trạo, tiếng bước đi, tiếng ho, tiếng nói, tiếng nước xối ào ào. Đồng hàng khuy áo vội vàng, những đôi giày xỏ vội, một vài ánh lửa lòe lên, những đầu thuốc cháy yếu trong ánh sáng mờ mờ nhòa nhập của căn nhà ngọn đèn vàng yếu. Chiếc gậy ngắn khua động trong những chiếc cột giường hai tầng, cuộc sống được sắp xếp như một ngăn tủ, lấy ra từng quãng đúng nhau như chiếc máy tự động mà bánh xe vừa chạy hết một vòng. Năm giờ ba mươi tập họp, tiếng dế kêu vội vàng. Bốn hàng dọc, báo cáo... Đ. mẹ mấy con gà mắc dây thung... làm cha người ta hả, lè phè... lè phè... Chiếc bánh mì bẻ làm bốn, chiếc mũ sắt đựng đường đưa qua từng mặt người... Sáu giờ tập họp... nếu phải sống như thế hết đời mình. Nếu con người sinh ra chỉ để sống như thế, không có gì khác. Con bò, con heo, con chó không phải thức dậy, phải đi ăn, đi ngủ, đi ỉa, đi đái theo giờ. Ai hành con người vậy. Không ai biết. Chính nó. Chính nó làm cai ngục của nó. Chính nó những tham vọng và cố gắng như một hãnh diện vượt thoát khỏi đời sống thú vật đè chịu một đời sống thú vật khác.
Ba lô trên vai, trời tối, những ngôi sao còn lóng lánh trên nền trời, mảnh trăng non nghiêng xuống. Giọng nhỏ ấm xa vắng, khuôn mặt khuất: trăng mồng năm khuyết khung mây, nhớ em anh nhớ cho đầy con trăng. Đốm lửa lóe lên. Tôi muốn nhìn thấy mặt nó. Sung sướng chưa? Cái gì sung sướng? Một cái chuồng khác. Muốn ở tù hả? Tù, tù, ai mà không tù, cất tiếng khóc ra khỏi lòng mẹ là ở tù rồi... Định mệnh... Thôi đi, mệt quá...
Buổi sáng ánh nắng hé lên sau những hàng rào kẽm gai cao chằng chịt như mắt lưới, những ngọn đèn trên đó chưa tắt. Tàn cây bã đậu um tùm đứng im, chốc chốc tiếng mái tôn lại vang động vì những trái bã đậu khô rụng xuống... Từng tên được gọi lên, từng con số được nhắc, tên cha, tên mẹ được nổi lớn như tên một kẻ lạ nào... Ở đó cũng có những người cha vô danh, người mẹ vô danh, dù vậy đứa con vẫn có một cái tên, một con số được khắc sâu vào miếng kẽm, xỏ vào một sợi dây, mắc ở cổ, lủng lẳng nơi ngực, nơi đó cũng có thể có tượng phật, tượng chúa, thìa khóa, cái cắt móng tay... Cái chùm kim khí đó như tấm mộ bia, khác chăng nó không cắm trên một nấm đất, một mớ xương mà ở trên một nấm mồ sống, còn da thịt nóng, còn hơi thở, nhưng ở đó cũng chôn giấu những dĩ vãng được khơi dậy hay đã lãng quên mù tăm...
Có điều chắc chắn những nấm mồ đó đang lo âu cho những ngày tới của nó, những lo âu dời đổi qua những nghĩa trang... Những gã đào huyệt tội nghiệp... và sau chót sẽ đến một nghĩa trang vĩnh viễn, tiêu tan trong đó như một cụm bụi vàng. Mặt trời cao dần, nắng chan hòa trên khoảng sân đất cát nhàu nhượi những vết chân hỗn loạn, trên bờ rào một cành hoa giấy đỏ tía trơ trọi, thấp thoáng bên kia hàng rào một khu vườn cây hoang... Thoát ra ngoài đó...
Những nét mặt bơ phờ, đôi mắt mệt nhọc cúi xuống nhìn ngón tay vẽ vu vơ trên nền cát; nhìn bâng quơ vào vách tường vàng; giấu trong lòng mũ ngả người vào gốc cây; ngập ngừng cùng những đôi mắt đối diện trong câu chuyện trao đổi; ở đó, những cuộc sống cũ được gợi lại, hình ảnh cũ được vẽ ra như một an ủi vỗ về nhiều cay đắng, chừng như những điều đó không bao giờ có lại, đã mất hẳn... Không khí bắt đầu khô nóng, loang loáng trên mái tôn ánh sáng chói lòa, không lúc nào nhìn lên nền trời không có máy bay.... Mình ngồi đây làm gì? Chờ. Chờ gì chờ hoài. Tiếng tặc lưỡi.
Cơn gió chợt đến xoáy những lá cây, giấy vụn tạt vào đám người ngồi đứng nghiêng ngả... những bộ quần áo riêng đã được gói lại. Bây giờ chỉ có một mầu cho mọi con số... Tập họp, bước đi, qua cổng, góp cà mèn, ăn cơm... Những mặt bàn bọc kẽm, mùi cá tanh, những thùng cơm vàng nát nhệu, những thùng nước đục lờ lờ, những thân cá mòi bụng trắng lều bều... Tiếng muỗng, tiếng ồn ào, tiếng còi và lời la thét... Làm sao để sống mà không phải ăn. Chiếc gậy đập xuống những cái đầu heo, tiếng kêu eng éc rồi bỏ chạy, nhưng nó không thể không trở lại cái phướng bèo cám và cơm thừa canh cặn… nó phải vục mõm xuống đó để nuôi thân mập cho người ta làm thịt.. Phải thế không, chắc hẳn thế.
Lần thứ mấy thay đổi những khoảnh đất vuông vắn được rào lại, những dãy nhà, những chiếc sạp như quán chợ lỏng công xô lệch mà những khe hở từng chùm rệp nằm bẹp chờ đợi ngửi thấy hơi người thức dậy bỏ đi để lộ những cụm trắng trắng lớn như những hạt vừng đã được sát vỏ. Lần thứ mấy những khuôn mặt thoáng qua cùng những bài học luân lý, những răn dạy như lời hăm dọa, những kể lể huênh hoang một dĩ vãng mù mịt được khơi dậy một cách lõa lồ thô kệch. Làm sao được ngoài việc ngậm câm, quên đi... Lần thứ bao nhiêu nằm bên những người xa lạ, giấc ngủ chập chờn với chiếc ví tiền giấu trong ngực áo, chiếc khăn mặt luồn dưới chiếu, đôi giày gối lên đầu, gói quần áo cột vào chân... Lần thứ bao nhiêu... và mỗi lúc bước chân một rời xa căn nhà cũ, con đường xưa, thành phố ấy để rồi tới đâu... Những gì đợi ở cuối đường kia…
Tập họp, bước đi, qua cổng, rời khỏi những lùm cây thấp và đứng lại trong một sân đất rộng giữa những dãy nhà tôn trơ trọi, không một bóng cây, không một khoảng cỏ ấy, chỉ có một màu đất cát trắng, màu mái tôn sáng lạnh, vách gỗ thấp trắng bạc. Nắng chói chang trên khoảng sân gồ ghề... Rồi tới đâu nữa.
Những nét mặt bơ phờ, những thoáng nhìn ngỡ ngàng dò hỏi hướng tới những bản mặt mới lạnh lùng không một biểu lộ... Tìm gì ở đây. Tới đây làm gì, những vô lý chồng chất... Một vài tốp người ngang qua ngó nhìn, trong đó có những chiếc nạng chống lấy đôi vai, những chiếc gậy giữ cho thân thăng băng, những chiếc tay đeo lên cổ, khuôn mặt ngu ngơ chiếc máy thu thanh nhỏ áp vào tai, điếu thuốc trên tay vàng đen, quần áo nhàu nát...
Tới đây để biến thành những thân hình ấy? Nụ cười bùi ngùi, nó thằng bạn mới — nói: như thế mà lại hay — Hay, làm một kẻ phế thải mà hay – Biết thiếu tá K. ở Biệt động không? Cọp ba đầu rắn ấy? Biết sơ sơ, mười ba tháng từ chuẩn úy lên Thiếu tá, huy chương đầy ngực – Đúng rồi, bà mẹ chỉ mong ông ấy bị cụt chân cụt tay... Thấy kỳ cục thật, có người con như vậy phải hãnh diện chứ, phải mừng chứ… nhưng thật tình cái khía cạnh yếu hèn đó biểu lộ nhân tính nhiều nhất, phải là một người mẹ thương yêu con tột độ mới như vậy, bà không muốn mất đứa con yêu của mình. Bị phế thải nhưng còn đó là một người sống, một đứa con cụ thể... Hồi xưa anh đã chiến đấu — Có, nhớ nhà quá về phép một tháng rồi ở luôn. — Mới bị bắt. — Không, tình nguyện. Đôi mắt nheo lại. Còn anh? Trình diện. — Ghê nhỉ, chắc lần đầu? Một lần thôi chứ, làm lại việc gì chứ làm lại việc này thấy mệt quá. — Ồ quen đi chứ, miết rồi cũng
thường, tôi biết có thằng đến năm sáu lần rồi, cứ vừa mãn khóa ra đến đơn vị là chuồn, bán đồ tiêu xài rồi lại đăng, có khi bị bắt, người ta quen mặt hắn nên hắn chỉ vào làm nhà bếp, người ta ăn hết một con cá mối đã ngán, nó ăn hàng mười con cá mối luôn cả vảy cả ruột, hắn có một cái ống bơ đựng rệp khô, được coi như một nhà sáng chế nào kiếm ống bơ làm bếp nấu bằng đèn cầy; lấy muỗng, bàn chải đánh răng, nắp hộp kem làm cái hút thuốc điếu và luôn cả thuật xâm mình. Nó chọn làm một thằng hèn để được sống, tôi có gặp nó, nó nói có hàng vài chục người bạn... và còn lại lúc đó đâu một vài người, nó hỏi tôi có khinh nó không, tôi nói chắc người ta sỉ nhục anh nhiều lắm, giọng nó buồn, gì cũng được, tôi có một bà mẹ và một người con trai, hồi tôi đi xa con vợ nó đi theo trai rồi, hồi đó tôi vác lựu đạn về kiếm nhưng không gặp, bây giờ tôi chẳng còn được bầu máu nóng đó nữa...
Tất nhiên đây chỉ là một trường hợp. Khu này đây anh còn phải chích, phân loại máu, uống thuốc, khám bệnh, nhỏ mũi... ấy thế mà vẫn còn những người mù, người điếc, người lãng trí, người lủng phổi... Mấy cái thằng bác sĩ như mù, anh nhớ cái hôm mình cởi truồng tồng ngồng đi suốt từ phòng này sang phòng khác để rồi nghe hỏi: có bệnh gì không? Tiên sư nó, làm bác sĩ mà lại đi hỏi... Thôi đi, thôi đi... Ánh nắng mỗi lúc một thiêu đốt trên đầu, mắt hoa lên với bầu khí lay động bập bùng. Sao đứng hoài vậy? Chưa đến giờ làm việc. Cơn mệt mỏi kéo mí mắt nặng trĩu, từng giây phút thiếp ngủ chập chờn... căn nhà, bà mẹ, người vợ, bầy con, giấc ngủ trưa, ngày tháng thảnh thơi, những lý do có mục đích...
Phải sống qua mới thấu hiểu được những biến tính, những vọng động gào thét, đập phá tàn nhẫn như những thức dậy của tiềm thức bị kìm hãm tù đày. Không mong muốn nhưng phải chấp nhận. Cơn dông ập xuống, đám người náo loạn, không một nơi trú ẩn. Những hạt mưa dứt, hơi đất bốc lên ngột ngạt choáng váng. Một con ngã ra tái mét, những người bạn hấp tấp. Trạm cấp cứu trống không, ba chiếc ghế dài, một cái bàn phía trên trơ trọi. Sáng mai mới đến giờ khai bệnh. Hai cái mặt lặng lẽ: chết gì, để chịu mưa gió cho quen... Phải, nó cũng chỉ là một con số, vâng, một con số với những thủ tục. Ai bảo nó yếu, ai cho phép nó xỉu? Một mái nhà, một bà mẹ, một người vợ, một đứa em...
Ở đây không có gì hết. Ở đây có chăng một tình bạn mới nhiều thương xót hơn thân tình... Bốn hàng dọc sát cánh, nghiêm, nghỉ... Những cái tên, những con số, một khoảng sạp, căn nhà tôn không vách ván, mắt cáo đóng thưa... Những thân thể mệt nhọc ngả xuống cùng tiếng thở dài... Trên vách ván lửng những dòng chữ phấn: thiên thu bất đáo..; thứ bảy nhớ vợ nhớ con; cay đắng mùi đời; kỷ niệm ngày...; Tên Nguyễn văn... khóc ở đây; nơi an nghỉ của...; nơi ngừng cánh của cánh chim bạt gió; Em ơi nếu mộng không thành thì sao, anh đi quân dịch...; đả đảo cộng sản; nơi đây, ta: hoàng đế... đã dừng chân lại cùng bọn bần hàn... gió bụi mịt mù; anh đi quân dịch con cu nhịn thèm..
Nét mặt tái xám, đôi mắt dại khờ, tiếng nói đứt quãng nằm ngả xuống bên. Anh bệnh sao – Không, tôi sợ. – Cái gì vậy – Cái cầu tiêu, anh đi bao giờ chưa. — Chưa, nhưng tôi đi thọc tiết heo rồi. — Tôi kinh quá. (Dãy nhà tôn một mái nhỏ, ván ngăn tới đầu gối, một hàng chỗ ngồi, tám cái lỗ, đầy ắp lên trên toàn giỏi, chúng trườn liên tiếp như sóng, cục phân rơi xuống đã bị mất hút, những con giòi trắng, lớn bò chung quanh, giập nát trên lối vào, tiếng chửi tục, lời ca vọng cổ, mấy khuôn mặt nhăn nhó, mấy người chạy vội ôm bụng, có lúc cả đám chờ đợi văng tục: mày ngồi cầu nguyện trong đó sao; đụ mẹ, ngồi chi lâu vậy con; mả ông nội mày đó sao…) — Kinh nhưng làm sao được — Không phải, anh thấy những cánh cửa mới bị lấy đi — Không, tôi ngồi ở ngăn mà có một người mới chết tuần rồi – Chết trong cầu tiêu, xỉu trong đó à — Không, treo cổ — Sao vậy... Không rõ... thật tội nghiệp.
Tiếng nói nhễu xuống, tội nghiệp, hắn chưa thấy ai chết sao. Bóng chiều ngả xuống, bên kia hàng rào kẽm gai cao nhiều tầng, phía ngoài một bãi cỏ trống hoang, khói lên từ mái nhà của trại gia binh, ba bốn đứa nhỏ, một cánh diều giấy là là ngang ngọn cây, cánh diều của một tuổi thơ vàng son huy hoàng còn chăng trong tâm tưởng. Ngoài xa nữa bóng tối nhòa nhập khu phố thấp; mấy ngọn đèn nhỏ, thoáng qua ánh đèn di chuyển của một chiếc xe gắn máy, tiếng máy nổ mơ hồ, ngoài đó cuộc sống... Tiếng nói rì rào trong căn nhà rộng trống, ánh đèn vàng…