HAI NHÂN VIÊN XÃ HỘI cho tôi ngồi băng sau một chiếc xe hơi hẹp rồi chở tới một quán ăn dưới trung tâm, gần chỗ họ làm, loại quán kiểu sang trọng hão, lấp lánh những mặt gương vát cạnh và những cỗ đèn trần rẻ tiền mua Phố Tàu. An tọa xong (cả hai ngồi một bên, đối diện tôi bên kia), họ rút giấy bút từ cặp táp, tìm cách ép tôi ăn chút gì trong lúc họ nhấp cà phê và hỏi han. Ngoài trời vẫn còn tối, thành phố mới bắt đầu thức dậy. Tôi không nhớ mình có khóc, cũng chẳng nhớ mình có ăn, dù sau từng ấy năm vẫn còn ngửi thấy mùi trứng bác họ gọi ra - cứ nghĩ đến cái đĩa chất đầy ự bốc khói nghi ngút ấy tôi lại quặn cả bụng.
Quán ăn vắng teo. Những cậu hầu bàn ngái ngủ đang mở từng hộp bánh vòng và muffin sau quầy. Một toán thiếu niên ủ rũ, có vẻ vừa đi đàn đúm về, ngồi túm tụm ở bàn gần đấy, chì kẻ mắt đã lem. Tôi còn nhớ mình đã nhìn sang họ nài nỉ đến tuyệt vọng - một cậu mặc áo đại cán tướp mồ hôi, một cô gái tóc nhuộm lai hồng bộ dạng phờ phạc - và sang cả một bà già, phấn son kín mặt, mặc chiếc áo lông quá ngốt so với thời tiết, ngồi một mình bên quầy ăn lát bánh táo.
Hai nhân viên xã hội - họ làm đủ trò hòng bắt tôi nhìn sang, chỉ thiếu có bật ngón tay vào mặt hay lắc người tôi - hình như cũng hiểu đầu óc tôi biểu tình không chịu tiếp nhận những điều họ đang cố truyền đạt. Cả hai thay nhau chồm người qua bàn, nhắc đi nhắc lại điều tôi không muốn nghe. Mẹ chết rồi. Gạch đá rơi xuống đã đập vào đầu mẹ. Mẹ chết tức khắc. Họ rất tiếc phải báo tin này với tôi, đấy thật là phần đáng ghét nhất trong công việc của họ, nhưng họ rất cần tôi nắm được tình hình. Mẹ chết rồi, còn xác mẹ thì ở bệnh viện New York. Tôi có hiểu không?
“Hiểu ạ,” tôi nói sau hồi lâu lặng im khi nhận ra họ chờ mình lên tiếng. Cái chữ chết mà họ nhắc đi nhắc lại không thèm vòng tránh có vẻ tương phản kỳ quái với giọng nói điềm tĩnh, với bộ vét bằng sợi tổng hợp, với tiếng nhạc pop Tây Ban Nha trên đài và những biển hàng tươi hơn hớn sau quầy (Sinh tố hoa quả tươi; Ăn kiêng mà vẫn ngon; Món mới: Hamburger Gà Tây!).
“Fritas?” người bồi xuất hiện cạnh bàn chúng tôi, tay giơ cao một đĩa khoai tây chiên bự.
Cả hai người trước mặt tôi đều giật mình; người đàn ông (cháu cứ gọi chú bằng tên nhé: Enrique) nói mấy câu tiếng Tây Ban Nha và chỉ qua cách đó mấy bàn, nơi đám trẻ ăn chơi kia đang vẫy vẫy.
Ngồi thờ thẫn, mắt đỏ lựng, cái đĩa trứng bác trước mặt nguội đi nhanh chóng, tôi hầu như không để lọt đầu những khía cạnh thực tế của tình hình. Bên cạnh điều vừa xảy ra, những câu họ hỏi về bố tôi hình như lạc đề tột độ, đến nỗi tôi chẳng hiểu vì sao họ phải nằng nặc hỏi về ông.
“Thế lần gần nhất cháu gặp bố là bao giờ?” Bà người Hàn Quốc hỏi; bà ta đã vài lần yêu cầu tôi gọi bằng tên riêng (tôi đã moi óc cố nhớ là gì nhưng không được). Nhưng tôi vẫn nhớ đôi bàn tay mũm mĩm đan vào nhau trên mặt bàn, và cái màu sơn móng tay nhìn gai cả mình: thứ màu tro ánh bạc, đâu đó giữa xanh lam và oải hương.
“Nói đại khái xem?” Ông tên Enrique gợi ý. “Về bố cháu ấy?”
“Tương đối thôi cũng được,” bà Hàn Quốc nói. “Cháu nghĩ mình gặp bố lần cuối là bao giờ?”
“Ờm,” tôi nói - chỉ nghĩ thôi đã khó - “thu năm ngoái gì đó chăng?” Cái chết của mẹ dường như chỉ là nhầm lẫn, có thể giải quyết bằng cách nào đó, chỉ cần tôi xốc mình lên, hợp tác với hai người này.
“Tháng Mười? Tháng Chín?” Bà dịu giọng, khi thấy tôi không đáp.
Đầu vẫn còn đau đến mức mỗi lần ngoảnh qua ngoảnh lại tôi đã muốn khóc nức lên, dù lúc này đau đầu chỉ là một nỗi phiền toái rất nhỏ - “Cháu không biết,” tôi nói. “Lúc ấy đã vào năm học rồi.”
“Vậy chắc là tháng Chín?” Enrique hỏi và ngước lên nhìn, trong lúc ghi chú vào cặp giấy. Tướng mạo ông ta khá dữ tợn - có vẻ không đúng chỗ trong bộ comple cà vạt, như một gã huấn luyện viên thể dục phát phì - nhưng giọng nói lại toát lên âm điệu ngăn nắp của thế giới công sở: của những hồ sơ trong tủ, những sàn lót thảm len xám, những công việc chạy đều theo mạch trong quận Manhattan. “Từ đó đến giờ không có liên lạc qua lại gì hết?”
“Có ai là bạn bè hay qua lại hoặc thân thiết có thể biết cách báo tin cho ông ấy không?” Bà Hàn Quốc hỏi, cúi sát về phía tôi vẻ lo âu săn sóc.
Câu hỏi làm tôi giật mình. Tôi chẳng biết có ai như thế cả. Ngay cả việc mường tượng rằng bố có thể có bạn bè hay qua lại (nói gì đến “thân thiết”) đã cho thấy người ta chẳng biết gì về ông cả, đến nỗi tôi không còn biết đáp ra sao.
Mãi đến sau khi đĩa bát đã dọn đi, trong quãng lặng bứt rứt sau bữa ăn nhưng chẳng thấy ai đứng dậy ra về, tôi mới chợt ngộ ra điều đã sờ sờ ngay từ đầu, tất cả những câu hỏi có vẻ chẳng ăn nhập vào đâu về bố tôi, về ông bà nội (ở Maryland, tôi không nhớ thị trấn nào, một mảnh đất nửa quê nửa tỉnh nào đó sau lưng một cửa hàng Home Depot) cùng những ông chú bà bác không có mặt trên đời rốt cuộc sẽ đến đâu. Tôi là một trẻ vị thành niên không có người giám hộ. Tôi sẽ bị di dời lập tức khỏi nhà (khỏi “nơi cư trú”, như họ cứ không ngớt gọi). Chừng nào còn chưa liên lạc được với ông bà đằng nội, chính quyền thành phố sẽ lãnh trách nhiệm về tôi.
“Nhưng các cô chú định làm gì cháu?” Tôi đã hỏi đến lần thứ hai, ngồi lùi sát vào lưng ghế, giọng càng lúc càng kinh hoảng. Khi tôi tắt tivi đi theo họ ra khỏi căn hộ, để làm chút gì ấm bụng như họ nói, tất cả có vẻ rất bâng quơ. Chẳng thấy nhắc gì đến chuyện tôi phải di dời khỏi nhà cả.
Enrique lại nhìn xuống sổ. “Thế này, Theo...” Ông ta cứ luôn miệng đọc là Tê-ô, cả hai đều đọc sai như thế - “cháu là trẻ vị thành niên đang trong hoàn cảnh nguy ngập cần được giải quyết tức thì. Chúng tôi sẽ phải đưa cháu vào cơ sở giáo dưỡng khẩn cấp nào đấy.”
“Giáo dưỡng?” Chữ ấy làm bụng tôi nhộn nhạo; nó gợi lên những phòng xử án, những căn buồng khóa kín, những sân bóng rổ chăng đầy dây thép gai xung quanh.
“À, thì ta gọi là chăm sóc vậy. Và chừng nào mà nội cháu...”
“Khoan,” tôi nói, choáng người khi thấy sự việc thoắt cái đã diễn tiến mất kiểm soát đến như thế, thấy cái ảo tưởng sai bét về một đôi ông bà thân thiết và trìu mến vang lên qua chữ nội cháu trong miệng ông ta.
“Chỉ là thu xếp tạm thời trong khi chờ gặp được họ thôi,” bà Hàn Quốc lại cúi sát lại gần. Miệng bà ta có mùi bạc hà, nhưng ẩn sâu rất khó phát hiện bên trong lại là mùi tỏi. “Cô biết cháu buồn lắm, nhưng không có gì phải lo đâu. Nhiệm vụ của bọn cô là giúp cháu được an toàn tới khi liên lạc được với những người sẽ yêu thương chăm sóc cháu, đồng ý chứ?”
Chuyện này quá kinh khủng không thể là sự thực. Tôi nhìn chằm chằm hai khuôn mặt xa lạ đang ngồi, vàng bủng trong ánh sáng nhân tạo. Ngay cả giả định rằng Nội Decker và Dorothy là những người yêu thương chăm sóc tôi cũng thật lố bịch.
“Nhưng rồi cháu sẽ làm sao?” Tôi hỏi.
“Điều cốt yếu bây giờ,” Enrique nói, “là trước mắt phải đưa cháu vào một nơi nuôi dưỡng hợp thức. Nơi có ai đó đủ tín nhiệm, có thể phối hợp với Sở Dịch vụ Xã hội thiết lập phương án chăm sóc cháu.”
Thấy họ hợp sức nhau tìm cách xoa dịu tôi - giọng nói bình tĩnh và vẻ mặt thông cảm thấu hiểu - chỉ càng khiến tôi thêm hoảng loạn. “Thôi đi!” Tôi nói và giật người tránh bà Hàn Quốc, tay đang vươn qua mặt bàn tìm cách siết chặt tay tôi ra điều chở che.
“Nào Tê-ô. Để cô giải thích điều này. Bọn cô không hề có ý nói đến trường cải huấn hay trại giam giữ thiếu niên…”
“Thế thì là gì?”
“Nơi giáo dưỡng tạm thời. Cái đó chỉ có nghĩa là bọn cô sẽ tìm cho cháu một nơi ở an toàn, cùng những người đóng vai trò giám hộ do nhà nước chỉ định...”
“Thế nếu cháu không muốn đi thì sao?” Tôi nói to đến nỗi mọi người xung quanh quay lại nhìn.
“Nghe tôi,” Enrique nói, dựa người vào ghế và ra hiệu gọi thêm cà phê. “Thành phố có nhiều viện tạm trú được cấp phép dành cho các bạn trẻ gặp cảnh khó khăn. Đều là những nơi rất tốt. Và trước mắt thì đấy chỉ là một trong số các lựa chọn thôi. Vì trong rất nhiều trường hợp giống như cháu…”
“Cháu không muốn đi làm con nuôi!”
“Hãy chạy như chạy hủi ấy, bé ạ,” cô gái tóc hồng nói khá to ở bàn bên. Dạo này tờ New York Post không ngớt chạy bài về Johntay và Keshawn Divens, cặp sinh đôi mười một tuổi bị cha nuôi hãm hiếp rồi bỏ đói suýt chết đằng khu Morningside Heights.
Enrique vờ như không nghe thấy. “Nào, chúng tôi chỉ muốn giúp cháu,” ông ta nói, lại đan tay vào nhau trên bàn. “Và chúng tôi cũng sẽ xem xét các khả năng khác, nếu những người đó có thể cho cháu mái ấm an toàn và chu cấp đủ cho các nhu cầu của cháu.”
“Chú chẳng hề báo trước là cháu sẽ không được về nhà nữa!”
“Ờ, các phòng ban của thành phố đều quá tải - sí, gracias,” ông ta nói với người hầu bàn tới rót đầy cốc cà phê. “Nhưng đôi khi cũng có thể thu xếp kiểu khác nếu chúng ta được chấp thuận có điều kiện, nhất là trong những trường hợp như của cháu.”
“Cháu nghe chú ấy rồi đấy?” Bà Hàn Quốc gõ gõ móng tay trên mặt bàn formica để tôi chú ý. “Luật cũng không bắt ép cháu vào trong hệ thống nếu còn ai có thể đến ở với cháu một thời gian. Hoặc ngược lại cũng được.”
“Một thời gian?” Tôi nhắc lại. Đấy là đoạn duy nhất lọt vào tai tôi trong cả câu ấy.
“Ví dụ như có ai mà cháu thấy có khả năng ở với họ một hai ngày gì đó? Thầy cô giáo chẳng hạn? Một người bạn của gia đình?”
Ngay tức thời tôi chỉ nhớ được và đọc cho họ số điện thoại của đứa bạn cũ Andy Barbour - số máy đầu tiên nảy ra trong đầu tôi, có lẽ vì đấy là số đầu tiên, ngoài số nhà mà tôi thuộc. Mặc dù hồi tiểu học Andy với tôi chơi cực thân (xem phim, ngủ lại nhà nhau, học hè ở Công viên Trung tâm lớp dạy đọc bản đồ và la bàn), tôi vẫn không thật hiểu vì sao tên cậu ta lại bật ra khỏi miệng tôi lập tức, bấy lâu nay chúng tôi còn chơi với nhau mấy đâu. Từ hồi lên cấp hai chúng tôi đã giãn nhau ra; phải đến mấy tháng rồi tôi chưa gặp lại cậu ta.
“Barbour, có chữ u,” Enrique vừa nói vừa viết lại. “Vậy mấy người này là ai? Bạn à?”
Vâng, tôi nói, bảo rằng tôi đã biết họ suốt cả đời mình cũng không sai. Nhà Barbour sống trên Đại lộ Công viên. Andy là bạn thân của tôi từ năm lớp 3. “Bố cậu ấy làm rất to ở Phố Wall,” tôi nói - rồi ngậm miệng. Tôi vừa sực nhớ ra bố Andy từng ở một thời gian không xác định trong viện tâm thần mãi Connecticut vì “lao lực”.
“Còn bà mẹ?”
“Mẹ cậu ấy với mẹ cháu là bạn thân.” (Cũng gần đúng, tuy không đúng hẳn: dù cả hai cư xử với nhau tuyệt đối lịch thiệp, mẹ cũng không đủ giàu hay quen biết rộng để bắt thân với một bà chuyên lên tạp chí giao tế như bà Barbour.)
“Không, ý tôi muốn hỏi bà ấy làm nghề gì?”
“Làm từ thiện ạ,” tôi đáp sau một thoáng bối rối, “Như là buổi Triển lãm Cổ vật ở Kho Quân dụng ấy?”
"Vậy bà ấy làm nội trợ?”
Tôi gật đầu, mừng thầm bà ta đã nghĩ ra một từ tiện dụng như thế, tuy không sai về mặt ngữ nghĩa nhưng những người quen biết sẽ chẳng đời nào dùng chữ đó nói về bà Barbour.
Enrique ký nét chữ rất bay bướm. “Chúng tôi sẽ xem thử. Không hứa trước được gì hết,” ông ta nói, bấm nắp bút rồi nhét trả vào túi. “Nhưng tất nhiên chúng tôi cũng có thể đưa cháu qua chỗ nhà đó nghỉ tạm mấy giờ tới, nếu đúng là cháu muốn ở với họ.”
Ông ta lách khỏi bàn, bước ra ngoài quán. Qua cửa sổ trước, tôi thấy ông ta đang đi đi lại lại trên hè gọi điện thoại, một ngón tay bịt lỗ tai. Rồi ông ta gọi số khác, nói chuyện nhanh hơn nhiều. Chúng tôi ghé qua căn hộ nhà tôi - chưa đến năm phút, chỉ đủ cho tôi vớ cặp và vài món quần áo chọn bừa rất không thích hợp - rồi lại vào xe (“Cháu thắt dây chưa đấy?”), tôi tì má vào kính cửa lạnh, nhìn đèn chuyển xanh suốt dọc Đại lộ Công viên, một khe vực trống tênh lúc bình minh lên.
Andy sống ở quãng đầu phố sáu mươi mấy, một trong mấy tòa nhà sang chảnh trên đại lộ, sảnh vào hệt như trong phim Dick Powell và bảo vệ chủ yếu vẫn là người Ireland. Gia đình ấy đã sống ở đấy từ đời thuở không nhớ nổi, và tình cờ tôi còn nhớ người ra cửa đón chúng tôi: Kenneth, người trực ca đêm. Ông kém tuổi hầu hết những người gác khác, trắng nhợt như xác chết và râu ria lởm chởm, phản ứng có phần chậm chạp vì toàn bị phân ca khuya. Dù ông cũng khá dễ chịu - vài lần còn vá bóng đá cho Andy với tôi, hoặc chỉ bảo nhẹ nhàng cách đối phó với bọn lớn bắt nạt ở trường - nhưng khắp tòa nhà đều biết ông ta hơi có tí rắc rối rượu chè; và khi ông ta bước tránh một bên nhường đường cho chúng tôi qua hai cánh cửa long trọng, ném sang cái nhìn tội nghiệp thằng nhóc quá mà tôi sẽ còn nhận được vô số lần nữa trong những tháng tiếp theo, tôi ngửi thấy mùi chua nồng từ bia và giấc ngủ bốc ra.
“Cả nhà đang chờ quý vị,” ông nói với hai nhân viên xã hội. “Mời mọi người đi lên.”
II
CHÍNH ÔNG BARBOUR ra mở cửa: ban đầu he hé, rồi mở toang. “Chào buổi sáng, chào buổi sáng,” ông nói và lùi lại. Ông Barbour nhìn có một tí chút hơi dị, da tái mà lại óng ánh bạc, cứ như những liệu pháp trong cái “trại chập” Connecticut (như ông gọi) đã khiến ông phát sáng; mắt ông màu xám dao động rất lạ, tóc trắng muốt khiến thoạt nhìn có vẻ già hơn tuổi cho tới khi người ta nhận ra khuôn mặt rất hồng và trẻ trung - như một cậu thiếu niên. Cặp má đỏ đắn và cái mũi dài quý tộc kết hợp với mái tóc bạc trắng khiến ông có dáng vẻ dễ gần, như một bậc khai quốc công thần cấp thấp, một nhân vật cỡ quèn nào đấy trong Quốc hội Lục địa[33] được nhấc lên thả xuống giữa thế kỷ 21. Quần áo ông có vẻ là đồ đi làm tối qua: sơ mi vía nhàu nhĩ, quần âu đắt tiền, vẻ như vừa nhặt đại trên sàn phòng ngủ.
“Vào đi,” ông nhanh nhảu nói, đưa nắm đấm dụi mắt. “Chào cháu yêu, chào cháu,” ông nói với tôi - làm tôi giật bắn người, khi nghe chữ yêu từ miệng ông, dù đầu óc còn đang bối rối.
Ông đi chân đất lạch bạch dẫn đường đằng trước, qua sảnh chờ hoa cương. Sau nữa, trong phòng khách trang hoàng lộng lẫy (khắp nơi là vải hoa trơn bóng loáng và lọ gốm Trung Hoa), ban ngày hình như còn chưa đuổi được nửa đêm: những đèn chụp lụa sáng mờ mờ, những bức tranh lớn tối sẫm miêu tả các trận thủy chiến, những rèm cửa kéo lại che ánh nắng. Ở đó, bên cỗ đàn tiểu dương cầm, cạnh bình cắm hoa to cỡ thùng hàng biển, bà Barbour đang đứng, chiếc váy mặc nhà quết xuống tận sàn, rót cà phê vào mấy tách đặt trên khay bạc.
Khi bà ngoảnh lại cất tiếng chào, tôi cảm thấy rõ hai người bên cạnh đang định vị căn hộ và bà. Bà Barbour xuất thân từ một gia đình danh tiếng với họ Hà Lan rất cổ; bà thật lạnh nhạt, tóc thật vàng, giọng nói đều đều vô sắc tới mức đôi khi gây cảm giác cơ thể không đủ máu. Bà là một mẫu vật trác tuyệt về tính điềm đạm; chưa một lần có gì khiến bà sôi máu hay bực mình, và dù không đẹp, phong thái thư thả của bà có ma lực hớp hồn ngang sắc đẹp - vẻ bình lặng chứa sức mạnh đáng gờm đến mức các phân tử tự động sắp xếp lại vị trí mỗi khi bà bước vào phòng. Như một bức họa thời trang chợt lắc mình sống dậy, bà khiến mọi cái đầu đều ngoảnh lại khi bà lướt qua, dửng dưng không hề chú ý trời nghiêng đất lệch đằng sau; mắt bà ở rất xa nhau, tai nhỏ mọc cao rất sát đầu, eo dài còn thân người nhỏ nhắn, như một chú chồn yểu điệu. (Andy cũng thừa hưởng những đường nét ấy nhưng lại theo tỷ lệ rất cồng kềnh xấu xí, thiếu hẳn nét duyên chồn hương quyến rũ nơi bà.)
Ngày trước, sự dè dặt của bà (hay lạnh nhạt, tùy theo cách người ngoài tiếp nhận) có đôi khi làm tôi lúng túng, nhưng sáng hôm ấy tôi thật lấy làm biết ơn vẻ lãnh đạm ấy. “Chào cháu. Các bác đã quyết định cho cháu ở cùng phòng Andy,” bà nói không rào đón trước sau. “Xin lỗi, giờ này nó vẫn chưa dậy đi học. Nếu cháu muốn nằm nghỉ, cứ tự nhiên dùng phòng Platt.” Platt là anh trai Andy, nay đang đi học xa. “Cháu biết chỗ rồi phải không?
Tôi nói biết.
“Cháu có đói không?”
“Dạ không.”
“Được. Vậy các bác làm được gì cho cháu đây?”
Tôi nhận thấy tất cả đều dồn mắt vào mình. Cái đau trong đầu tôi át hết thảy mọi thứ có trong phòng. Trong cái gương lồi nhỏ treo phía trên đầu bà Barbour, tôi thấy toàn cảnh trong phòng phản chiếu lại, cỡ thu nhỏ rất quái dị: cả lọ gốm, cả khay cà phê, cả nhân viên xã hội luống cuống, tất cả.
Cuối cùng thì chính ông Barbour lại phá vỡ cảnh lúng túng. “Vậy thôi đi nào, ta hãy xếp sắp cho cháu vào chỗ thôi,” ông nói, vỗ lên vai tôi và rắn tay đẩy tôi ra khỏi phòng. “Không - lùi lại, đằng này cơ - cuối, cuối. Ngay đằng này.”
Lần duy nhất trong đời tôi từng thò chân qua cửa phòng Platt, vài năm trước, thì anh ta - một ngôi sao bóng vợt và cũng là một tay bị thái nhân cách - đã dọa sẽ đập cho nát xương Andy và tôi. Lúc ở nhà, anh ta rúc trong phòng cả ngày, cửa khóa ngắc (để hút cần, Andy bảo thế). Giờ thì mấy áp phích đã bị lột đi cả rồi, phòng trông rất sạch và trống trải, vì anh ta đã đi nội trú trường Groton[34]. Trong phòng để tạ, những chồng tạp chí National Geographic cũ, một bể cá cạn. Ông Barbour đóng đóng mở mở các ngăn kéo tủ, miệng liến thoắng liên hồi. “Xem thử trong này có cái gì nhé? Ga giường. Và… lại ga giường. Bác thì chẳng bao giờ vào đây cả, hy vọng cháu bỏ lỗi... à. Quần bơi! Sáng nay chắc chẳng dùng đến rồi, phải không nhỉ?” Lục tới ngăn kéo thứ ba, cuối cùng ông cũng kiếm được mấy bộ pyjama chưa mặc, còn nguyên nhãn giá, xấu như ma lem ma lọ, hình tuần lộc in trên nền flannel xanh chói lọi, chẳng trách không ai muốn xỏ vào.
“Rồi đấy,” ông nói, lùa tay vào tóc rồi đánh mắt lo âu ra cửa. “Bác sẽ để cháu được yên thân nhé. Chuyện xảy ra đúng là khốn nạn, có Chúa chứng giám. Chắc cháu đang nhọc lắm. Ngủ một giấc thật sâu là hiệu nghiệm nhất đấy. Cháu có mệt không?” Ông hỏi, săm soi nhìn tôi.
Tôi có mệt không ư? Tôi đang tỉnh như sáo, nhưng một phần trong tôi lại đang câm lặng và tê liệt, chẳng khác gì đang hôn mê.
“Hay cháu muốn có người ở bên không? Bác nhóm lửa trong phòng bên nhé? Cháu muốn gì cứ nói với bác.”
Nghe câu hỏi này, nỗi tuyệt vọng dồn ứ lên tôi - vì dù tôi đang khổ sở vô cùng nhưng ông cũng chẳng làm gì được cho tôi hết, và nhìn ông, tôi hiểu ông cũng biết vậy.
“Các bác ở ngay phòng bên, nếu cháu cần - ờm thì, tức là, bác sắp đến giờ đi làm rồi nhưng sẽ có ai đó ở đây...” Ánh mắt trắng nhợt của ông đảo khắp phòng, rồi lại đậu trên tôi. “Làm thế chắc cũng không phải lắm, nhưng tình huống này bác nghĩ cũng không hại gì nếu rót cho cháu một miếng tráng họng, như cụ nhà bác vẫn nói. Nếu chẳng may cháu lại muốn thế. Nhưng mà tất nhiên cháu không muốn đâu,” ông vội vã nói thêm khi thấy tôi hoang mang không hiểu. “Không phù hợp tí nào. Bỏ qua đi.”
Ông bước lại gần, và trong một phút khó xử tôi nghĩ có khi ông định chạm vào tôi, hoặc ôm tôi. Nhưng thay vào đó ông chỉ đập tay rồi xoa vào nhau. “Dù sao thì các bác rất mừng được đón cháu và hy vọng cháu sẽ cảm thấy tự nhiên như ở nhà. Nếu cần gì cháu hãy nói ngay, đồng ý chứ?”
Ông chỉ vừa bước ra thì đã vang lên tiếng thì thầm ngoài cửa. Tiếp đó là tiếng gõ. “Cháu có khách,” bà Barbour nói, rồi rút lui.
Và lụi xụi bước vào là Andy: mắt chớp chớp, tay loay hoay cầm kính. Thấy rõ cậu ta vừa bị đánh thức dậy, lôi khỏi giường. Cậu ta ngồi xuống bên tôi trên mép giường Platt, làm lò xo giường kêu kèn kẹt, không nhìn tôi mà nhìn bức tường trước mặt.
Cậu ta hắng giọng, đẩy kính lên sống mũi. Yên lặng rất lâu. Cái lò sưởi dồn dập kêu lạch cạch rồi xì xuỵt: Cả hai vị phụ huynh đã biến mất trong nháy mắt, cứ như nghe tiếng còi báo cháy.
“Hừm,” cậu ta nói, sau một lát, bằng cái giọng vô cảm rờn rợn quen thuộc. “Nhọ thật.”
“Nhọ,” tôi đáp. Và hai đứa tôi ngồi bên nhau lặng yên, vai kề vai, nhìn mấy bức tường màu rêu thẫm trong phòng Platt có những ô vuông dán băng dính ở vị trí các áp phích ngày xưa. Vì biết nói gì hơn nữa?
III
MÃI TỚI BÂY GIỜ, nghĩ đến thời kỳ đó tôi vẫn bị xâm chiếm bởi một nỗi tuyệt vọng hồ như ngạt thở. Cái gì cũng thật kinh khủng. Người ta mời tôi nước ngọt có đá, áo len tôi không cần, thức ăn tôi không nuốt nổi: chuối, bánh kem, xăng-uých ba bốn lớp hay kem. Tôi vâng dạ khi có người hỏi đến, hầu như lúc nào cũng chỉ cắm mắt nhìn xuống thảm để không bị ai thấy mình đang khóc.
Dù rất khổng lồ kể cả so với chuẩn New York, nhưng căn hộ nhà Barbour lại ở tầng khá thấp, gần như không lấy được ánh sáng, ngay cả mặt nhìn sang Đại lộ Công viên cũng vậy. Ở đây không khi nào thực sự là đêm, cũng chẳng hề đích xác là ngày, nhưng ánh đèn trên gỗ sồi đánh bóng vẫn phủ lên tất cả cái không khí hội hè và an toàn như một câu lạc bộ tư. Bạn bè của Platt gọi đây là “ngôi nhà ma”, còn bố tôi sau một hai lần đến đón tôi ngủ đêm tại đây, thì gọi là “nhà Frank E. Campbell”, tức nhà tang lễ nổi tiếng. Nhưng tôi lại thấy được an ủi bởi cái tối ám bệ vệ, sang trọng thời tiền chiến này, rất dễ dàng rút lui vào trong nếu tôi không có hứng muốn nói chuyện, hoặc sợ bị người ta nhìn nhò.
Người ta cũng tới thăm tôi - mấy ông bà công tác xã hội, cố nhiên, rồi một vị bác sĩ tâm thần do thành phố phái đến (miễn phí), nhưng cũng có cả đồng nghiệp cũ của mẹ nữa (nhiều người trong đó, Mathilde chẳng hạn, xưa tôi từng nhại lại giống y như hệt cốt làm cho mẹ cười), rồi cả đống bạn bè từ hồi đại học và hồi mẹ còn làm mẫu. Một diễn viên hơi hơi có tiếng tên Jed mấy lần từng nghỉ lễ Tạ ơn ở nhà tôi (“Mẹ cháu là Hoa hậu Vũ trụ, chú nghĩ thế đấy!”), một bà làm đỏm lối thanh niên lập dị tên Kika, mặc áo khoác màu cam rực rỡ, kể với tôi rằng xưa kia cùng với mẹ, hai cô cháy túi ở East Village, từng mở một bữa tiệc tối tưng bừng cho mười hai người ăn mà chỉ tốn chưa đến hai chục (các món khoản đãi có cả những gói giấy đựng kem và đường cuỗm ở quán cà phê, cùng rau thơm ngắt trộm trên vườn cửa sổ hàng xóm). Annette, vợ góa của một lính cứu hỏa, nay đã ngoài bảy mươi, hàng xóm của mẹ hồi còn ở Lower East Side, cũng mang tới một hộp bánh quy mua ở lò bánh Ý gần nơi mẹ và bà từng sống, chính là món bánh quy bơ nhân hạt thông lần nào bà cũng mang đến chỗ căn hộ Sutton Place của chúng tôi. Rồi cả Cinzia, bà giúp việc cũ, bà òa khóc khi nhìn thấy tôi và xin một bức ảnh mẹ để cất trong ví bà.
Bà Barbour cắt đứt những cuộc thăm viếng nào kéo dài quá đáng, viện cớ tôi chóng mệt, nhưng tôi ngờ còn vì bà không chịu nổi những người như Cinzia và Kika chiếm dụng phòng khách của nhà bà không biết đến bao giờ. Sau khoảng bốn lăm phút gì đó, bà sẽ đến lặng lẽ đứng trong khung cửa. Và nếu họ không biết ý mà rời đi, bà sẽ lên tiếng, cảm ơn họ đến thăm thật quý hóa quá - lời lẽ cực kỳ lịch thiệp, nhưng vẫn đủ cho họ nhận ra họ ở đã lâu rồi và vội vã đứng lên. (Giọng bà giống như giọng Andy, cũng trống rỗng và xa vắng diệu vợi; kể cả khi đứng ngay cạnh, bà vẫn có vẻ như đang truyền lại những tin tức từ sao Alpha Centauri.)
Xung quanh tôi, bên ngoài tôi, cuộc sống gia đình nhà họ vẫn tiếp diễn. Mỗi ngày chuông reo mấy bận: người giúp việc, người trông trẻ, bên cung cấp đồ ăn, gia sư, thầy dạy dương cầm, các bà ở giới giao tế và các ông kinh doanh đi giày lười nơ có việc với các quỹ từ thiện của bà Barbour. Hai em Andy là Toddy và Kitsey chạy đuổi lũ bạn học rầm rập qua những hành lang tối ám. Chiều chiều, các bà thơm nức nước hoa, túi lớn túi nhỏ hàng hiệu ghé vào làm chén trà hay cà phê; tối tối, các cặp vợ chồng mặc đồ dạ tiệc quây quần bên những ly vang và nước có ga trong phòng khách, giữa những bình lọ cắm hoa được mang đến hàng tuần từ một hiệu hoa tươi rất bảnh chọe trên Đại lộ Madison cùng số Architectural Digest và New Yorker mới nhất xòe ra hững hờ trên bàn trà.
Nếu ông bà Barbour có cảm thấy hết sức phiền toái vì bỗng dưng nhận thêm một đứa trẻ nữa trên tay mà chẳng hề báo trước, thì họ cũng rất lịch thiệp không để lộ ra điều gì. Mẹ Andy, giữa những trang sức sang trọng nhưng không phô trương và nụ cười gần như lãnh đạm - loại người nếu cần có thể bắt máy thẳng cho thị trưởng đề nghị ông giúp việc này việc nọ - dường như đứng trên tầm những hạn chế của hệ thống hành chính của thành phố New York. Đang cơn thương khóc và đầu óc tù mù, tôi vẫn ngờ ngợ cảm thấy bà đang giật các loại dây sau cánh gà để tôi được thoải mái hơn, che chắn tôi khỏi những cạnh sắc mũi nhọn trong bộ máy công tác xã hội và cả giới báo chí nữa - như giờ tôi tin chắc. Mỗi cuộc gọi tới chiếc máy điện thoại dai dẳng đổ chuông đều nối trực tiếp đến máy cầm tay của bà. Những cuộc bàn luận thì thầm, những lời dặn dò người bảo vệ. Sau lần bắt quả tang Enrique giữa một trong vô số cuộc căn vặn không biết mệt nhằm dò xem bố tôi ở đâu, những đợt tra vấn lúc nào cũng khiến tôi muốn òa khóc - ông ta có hỏi tôi về vị trí đặt hỏa tiễn ở Pakistan thì cũng thế thôi - bà bảo tôi ra khỏi phòng, và chỉ một câu bằng cái giọng đều đều kiểm soát đã chấm dứt câu chuyện (“À, ông thấy đấy, rõ ràng là cậu bé không biết ông ta ở đâu, bà mẹ cũng không biết... phải, dĩ nhiên, tôi hiểu ông muốn tìm ra ông ta, nhưng hiển nhiên ông ta không muốn ai tìm được mình, ông ta đã làm mọi việc để tránh bị tìm thấy… ông ta không gửi tiền trợ cấp, ông ta để lại nợ nần, ông ta gần như đã cao chạy xa bay không nhắn nhủ một lời, nên thực lòng tôi cũng không hiểu ông sẽ làm được gì nếu liên lạc được với vị phụ huynh mẫu mực, người công dân tuyệt vời đó... phải, phải, đúng rồi, nhưng nếu ngay cả chủ nợ và chỗ làm của ông ta đều không tìm được, thì tôi không hiểu tiếp tục tra khảo thằng bé có ích gì, phải không? Chúng ta đồng ý kết thúc ở đây được chưa?”)
Chế độ thiết quân luật từ khi tôi đến ở có vài điểm đã gây không ít trở ngại cho nhiều người trong nhà, tỷ dụ như các cô giúp việc không còn được nghe kênh thời sự Ten Ten WINS trong khi làm việc nữa (“Không được,” bà bếp Etta sẽ nhỏ giọng và đánh mắt về phía tôi cảnh báo khi có một cô lau bếp định bật radio) và mỗi sáng, tờ Times được mang thẳng vào phòng ông Barbour, không còn để ngoài nhà cho mọi người trong nhà cùng đọc. Rõ ràng đây không phải lệ thường: em gái Andy là Kitsey thường rền rĩ “Lại có ai mang tờ báo đi nữa rồi” trước khi im bặt ăn năn khi nhận một cái nhìn của mẹ - và rồi tôi dần hiểu ra, tờ báo nay mất tích vào phòng làm việc của ông Barbour vì trong đó có những thứ người ta nghĩ tốt hơn hết là tôi không đọc.
Rất may, Andy, qua thời gian sát cánh bên tôi trong nghịch cảnh ngày xưa, hiểu rằng tôi ngán nhất là nói chuyện. Vào mấy ngày đầu tiên, cậu ta được nghỉ học ở nhà với tôi. Trong căn phòng kẻ carô bốc mùi ẩm mốc có chiếc giường tầng tôi từng ngủ lại bao nhiêu đêm thứ Bảy thời tiểu học, chúng tôi ngồi hai bên bàn cờ, Andy chơi cả hai tay, vì trong cơn mụ mị tôi còn chẳng nhớ quân nào đi cách nào nữa. “Ờ,” cậu ta thường nói và đẩy kính lên sống mũi. “Được rồi. Cậu có chắc là mình muốn đi quân đó không?”
“Cái gì?”
“Ờ, hiểu,” Andy đáp bằng giọng yếu ớt đến bực mình đã khiến bao nhiêu thằng đầu gấu xô cậu ta xuống lề đường trước cửa trường tôi qua nhiều năm. “Quân xe của cậu đang bị đe dọa thì đúng rồi, nhưng theo tớ tốt hơn thì cậu nhìn kỹ quân hậu đi - không, quân hậu, ở D5 ấy.”
Cậu ta phải gọi tên thì tôi mới chú tâm. Trong đầu tôi vẫn đang tua đi tua lại cái khoảnh khắc mẹ và tôi cùng nhau chạy ngược lên thềm bảo tàng. Cái ô sọc. Mưa trút xuống, táp vào mặt đôi bên. Điều đã xảy ra không bao giờ còn đảo ngược được nữa, tôi biết, nhưng không hiểu sao cảm giác vẫn phải có một cách gì đấy để tôi quay lại con phố tắm mưa, khiến mọi việc đi theo đường khác chứ.
“Hôm trước,” Andy bảo, “có một ông, tớ nghĩ chắc là Malcolm gì gì đó hay ông nào đó vẫn được coi là uy tín lắm, đại khái là, hôm trước ông ta làm ầm ĩ trên tờ Science Times, chứng minh rằng số lượng ván cờ có thể diễn ra còn lớn hơn cả số hạt cát trên toàn thế giới. Thật ngớ ngẩn là một cây bút khoa học của một tờ báo lớn lại thấy cần thiết phải đay đi đay lại một việc rõ như ban ngày thế.”
“Ờ,” tôi nói, khó khăn lắm mới bắt tâm trí mình quay lại đó.
“Vì ai chẳng biết là số hạt cát trên hành tinh có nhiều đến đâu thì cũng hữu hạn? Thật ngớ ngẩn là lại đi bình phẩm về một chuyện hai năm rõ mười như thế, cậu tưởng tượng xem, Tin giật gân mới nhất! Bày vẽ ra cứ như một chi tiết kỳ bí lắm.”
Andy và tôi đã kết bạn với nhau từ tiểu học, trong một hoàn cảnh có thể gọi là đau thương: đấy là sau khi cả hai được học vượt lớp nhờ điểm số cao. Giờ thì xem ra ai cũng nhất trí rằng việc ấy là sai lầm, với cả hai đứa, dù nguyên do khác nhau. Cả năm ấy - loạng quạng giữa những thằng con trai lớn hơn, to xác hơn, những đứa không ngần ngại ngáng chân hay xô ngã hay dập cửa tủ đồ vào tay chúng tôi, hay xé vở bài tập và nhổ bọt vào sữa rồi gọi chúng tôi là giun sán hay pê đê hay đít còi (cái họ Decker của tôi suy tự nhiên ra tên đó) - suốt cả năm ấy, Cuộc Cầm Tù Babylon của hai đứa như Andy gọi bằng cái giọng thều thào rầu rĩ, chúng tôi lẽo đẽo đi bên nhau như một đôi kiến quặt quẹo dưới tấm kính lúp: cẳng bị đá, bụng bị thụi, bản thân bị tẩy chay, chúi đầu vào xó xỉnh quạnh quẽ nhất ăn trưa để tránh làm bia hứng đạn cho những trận mưa gói tương hay viên gà rán. Suốt gần hai năm liền cậu ta là người duy nhất tôi có làm bạn và ngược lại. Thật chán nản và hổ thẹn khi nhớ lại thời kỳ ấy: những trận chiến Autobot và tàu bay Lego, những mật danh chúng tôi chọn từ Star Trek phiên bản cũ (tôi là Kirk, cậu ta Spock) hòng tìm cách biến nỗi khổ sở của mình thành trò chơi. Báo cáo chỉ huy, dường như lũ người hành tinh đang giam giữ chúng ta trong bối cảnh giả dạng trường học dành cho thiếu nhi loài người trên Trái đất.
Trước khi bị quẳng vào giữa một bầy nam sinh hơn tuổi rắn mặt, ưa đấm đá, với cái nhãn “học giỏi” treo ở cổ, tôi chưa bao giờ là đối tượng bị lọc ra để mắng chửi hay sỉ nhục ở trường. Nhưng Andy tội nghiệp, chưa cần đợi đến năm vượt cấp, đã là mẫu hình truyền đời bị ăn hiếp: gầy gò lỏng khỏng, hay máy giật, dị ứng sữa, lại có làn da trắng đến gần như trong suốt và thói quen nhả ra những chữ như “tà ngụy” hay “thiên kinh địa nghĩa” trong câu chuyện bình thường. Cậu ta thông minh nhưng không bù lại vụng về; cái giọng không âm sắc, thói quen thở bằng miệng vì mũi triền miên bị tắc khiến cậu ta có cái vẻ hơi ngây ngô chứ không phải là trí tuệ vượt trội. Giữa đám anh chị em răng sắc lẻm, dẻo dai uyển chuyển như một bầy mèo con, chạy vù vù giữa bạn bè và đội bóng và những chương trình ngoại khóa hấp dẫn, Andy nổi bật như một đứa đầu đất ngờ nghệch vừa bước nhầm vào sân bóng vợt.
Tôi đã hồi lại phần nào sau năm lớp Năm sóng gió, nhưng Andy thì không. Tối thứ Bảy, Chủ nhật cậu ta ở nhà, không bao giờ được mời liên hoan hay rủ đi lượn công viên. Cứ theo tôi biết, thì đến giờ tôi vẫn là người bạn duy nhất của cậu ta. Và dù, dưới bàn tay mẹ, cậu ta mặc thứ áo quần hợp cách, không khác gì đám con trai nổi nhất trường - thậm chí thỉnh thoảng còn đeo kính áp tròng nữa - vẫn chẳng ai vì thế mà bị lừa cả: đám đầu bò đầu bướu thù địch đã quen từ thuở nhỏ nay vẫn xô đẩy và gọi cậu ta là “3PO”[35], dấu ấn từ một lần cậu ta sai lầm mặc áo Star Wars đến trường.
Andy chưa bao giờ là dạng lắm lời, từ nhỏ đã vậy, ngoại trừ vài lần lên cơn (tình bạn giữa hai chúng tôi chủ yếu có dạng trao đổi truyện tranh không lời). Nhiều năm chịu chọc phá ở trường đã khắc sâu hơn nữa bản tính khép mình ngậm miệng, giờ cậu ta không tung ra những từ ngữ kỳ dị lấy từ sách viễn tưởng nữa mà chỉ vùi thân vào Toán và Tự nhiên nâng cao. Môn Toán chưa bao giờ khiến tôi hứng thú - tôi thuộc loại người “thiên về văn”, như người ta nói - nhưng trong khi tôi đã phụ lòng những triển vọng học đường thời nhỏ trong mọi lĩnh vực, thấy điểm số cao chả có nghĩa lý gì nếu phải vì nó mà bò ra học, thì Andy lại học nâng cao tất cả các thứ và đứng chót vót đầu sổ điểm. (Đáng lẽ cậu ta đã bị đưa tới Groton theo chân Platt, một viễn cảnh đã gây phập phồng lo lắng từ hồi lớp Ba, nếu không vì bố mẹ cậu ta quá sợ - mà cũng hợp lý - phải để xa nhà đứa con từng bị bạn cùng lớp hành hạ đến mức chụp túi ni-lông vào đầu trong giờ chơi để suýt chết ngạt. Và còn những lo âu khác: tôi biết chuyện ông Barbour từng đi “trại chập” chính là vì Andy kể với tôi, với giọng thản nhiên lệ thường, rằng bố mẹ lo cậu ta có thể thừa hưởng phần nào chút gen xấu ấy.)
Trong mấy ngày nghỉ ở nhà với tôi, Andy xin lỗi vì còn phải học, “nhưng than ôi, đấy là điều cần thiết” - cậu ta vừa nói vừa sụt sịt mũi, quệt vào tay áo. Chương trình học nặng kinh khủng (“lò chuyên là lò điên”) và cậu ta không thể chậm dù chỉ một ngày. Trong lúc cậu ta gò mình trên những chồng vở tưởng chừng không có điểm dừng (Hóa-Giải tích-Lịch sử Mỹ-Ngữ văn-Thiên văn-tiếng Nhật), tôi ngồi trên sàn, lưng dựa vào một bên tủ áo, đếm thầm: mẹ còn sống giờ này ba hôm trước, giờ này bốn hôm trước, một tuần trước. Trong đầu tôi điểm lại từng bữa ăn của hai mẹ con trong những ngày trước khi mẹ chết: lần cuối chúng tôi ghé vào quán Hy Lạp, lần cuối chúng tôi vào Shun Lee Palace, bữa tối cuối mẹ nấu cho tôi (mì Ý sốt kem), bữa tối áp chót (một món gọi là gà Ấn Độ, mẹ học của bà từ hồi ở Kansas). Thỉnh thoảng, để tỏ ra bận rộn, tôi lật giở những tập Giả kim thuật[36] cũ, hay một cuốn H. G. Wells có minh họa để bừa bộn trong phòng, nhưng ngay cả những hình vẽ cũng quá sức so với đầu óc tôi. Chủ yếu tôi chỉ trân mắt nhìn lũ bồ câu đập cánh ngoài bệ cửa sổ, trong khi Andy điền vào vô số ô vuông trong cuốn luyện chữ hiragana, đầu gối nhún nhảy dưới bàn.
Phòng Andy, vốn ngày xưa thuộc về một phòng ngủ lớn đã bị chia làm đôi, mở ra hướng Đại lộ Công viên. Bên chỗ qua đường còi xe inh ỏi vào giờ tan tầm, ánh chiều vàng rực trong những cửa sổ đối diện và lụi dần khi dòng xe dần vãn. Đêm trôi đi (ánh đèn đường huỳnh quang, những đêm tím trong lòng thành phố không bao giờ tối hẳn), tôi quật người từ bên này qua bên kia, trần nhà thấp sát trên chiếc giường tầng đè trĩu xuống đến mức đôi khi tôi bừng mở mắt, tin chắc mình đang nằm dưới gầm giường.
Sao con người ta có thể nhớ như tôi nhớ mẹ? Tôi nhớ mẹ đến nỗi tôi muốn chết: một nỗi đòi hỏi nặng mang hình khối, như nỗi khát khí thở khi chìm dưới nước. Nằm thao thức, tôi cố gọi lại mọi ký ức đẹp nhất về mẹ, cố khiến mẹ đứng yên trong trí nhớ để không quên - nhưng thay vì sinh nhật hay những ngày tươi sáng tôi lại toàn nhớ về những lần như, vài ngày trước khi bị giết, mẹ ngăn tôi trên đường ra khỏi cửa để rút sợi chỉ tuột trên áo khoác đồng phục. Không rõ tại sao đấy là một trong những ký ức rõ nét nhất về mẹ của tôi: đôi mày nhíu lại, cử chỉ chính xác khi mẹ đưa tay về phía tôi, đủ hết. Và cũng vài lần, vật vờ giữa mơ và ngủ, tôi ngồi bật dậy trên giường khi nghe tiếng mẹ rõ mồn một trong đầu, nhận xét những câu kiểu như Ném cho mẹ quả táo nào, hay Không biết áo này cài khuy trước hay sau nhỉ? hay Cái xô pha đã rơi vào tình trạng đáng phải tự thấy hổ thẹn.
Ánh sáng ngoài phố quét từng dải đen thẫm qua sàn. Tuyệt vọng, tôi nghĩ tới phòng ngủ trống trải nhà mình chỉ cách vài dãy phố, tới cái giường hẹp đắp tấm chăn chần đỏ đã sờn. Những vì sao dạ quang mua ở trung tâm thiên thể, một tấm bưu ảnh phim Frankenstein của James Whale. Lũ chim đã lại ríu ran trong công viên, thủy tiên đã ngỏng cổ: vào mùa này, khi thời tiết trở đẹp, thỉnh thoảng mẹ con tôi thường dậy từ sáng sớm để đi bộ qua công viên chứ không lên xe buýt tới West Side. Giá như tôi có thể quay lại, thay đổi mọi chuyện đã xảy ra, tìm cách nào đó ngăn nó lại. Sao tôi không nhất quyết đòi ăn sáng chứ không đến bảo tàng nhỉ? Sao thầy Beeman không triệu chúng tôi tới vào thứ Ba, hay thứ Năm chứ?
Không rõ là đêm thứ hai hay thứ ba, sau khi mẹ mất - dù sao cũng là sau hôm bà Barbour đưa tôi đi bác sĩ khám cái đầu đau - gia đình họ mở tiệc lớn ở căn hộ, quá sát ngày nên không hủy được nữa. Người ta thì thầm với nhau, cảnh hoạt náo mà tôi không sao thấm nổi. Trở lại vào phòng Andy, bà Barbour nói: “Mẹ nghĩ con với Theo thích ở lại trong này hơn.” Giọng bà như không, nhưng rõ ràng đây không phải gợi ý mà là ra lệnh. “Ngoài kia rất chán, mẹ tin các con không thấy vui đâu. Mẹ sẽ bảo Etta mang thức ăn trong bếp vào đây.”
Andy và tôi ngồi bên nhau trên giường tầng dưới, ăn tôm nõn và bánh ác-ti-sô trên đĩa giấy - đúng hơn là cậu ta ăn, còn tôi ngồi, đĩa đặt nguyên trên đùi. Cậu ta đang bật DVD chiếu bộ phim hành động nào đấy, robot nổ tung, lửa và kim loại tưới như mưa. Từ phòng khách vọng vào tiếng ly chạm nhau, mùi sáp nến và nước hoa, và thỉnh thoảng, một chuỗi cười trỗi lên trong vắt. Tiếng dương cầm ngân nga réo rắt bài It’s all over now, baby blue[37] dường như từ chiều không gian nào khác trôi về đây. Mất hết rồi, tôi đã rơi ra ngoài thế giới: cảm giác chóng mặt khi ở trong căn hộ không phải nhà mình, với gia đình không phải của mình đang dần hút hết sinh lực, khiến tôi ù đầu, váng vất, gần như muốn khóc, như một tên tù đang kỳ tra vấn bị giữ không cho ngủ suốt mấy ngày rồi. Hết lần này đến lần khác tôi nghĩ, mình phải về nhà, và rồi, lần thứ một triệu, mình không về được.
IV
SAU BỐN NGÀY, mà cũng có thể là năm, Andy chất sách vở vào cái ba-lô đã dão và quay lại trường. Suốt hôm ấy, rồi cả hôm sau, tôi ngồi trong phòng cậu ta, tivi bật kênh Phim kinh điển Turner, là kênh mẹ vẫn xem khi vừa đi làm về. Hiện đang chiếu các phim chuyển thể từ tiểu thuyết Graham Greene: Ministry of fear, The human factor, The fallen idol, This gun for hire. Chiều hôm thứ Hai, trong lúc tôi đang chờ The third man chiếu, bà Barbour (đã bận xong đồ Valentino, chuẩn bị đi dự sự kiện ở bảo tàng Frick) ghé vào phòng thông báo rằng ngày mai, cả tôi cũng phải đi học. “Ai cũng sẽ thấy bức bối,” bà nói. “Nếu ngồi trơ ở đây một mình. Không tốt cho cháu.”
Tôi không biết phải đáp lại ra sao. Ngồi một mình xem phim là thứ duy nhất có vẻ còn hơi hơi bình thường đối với tôi từ khi mẹ chết.
“Đã đến lúc cháu cần quay lại một nếp sống nào đó rồi. Ngày mai. Bác biết là cháu không thấy vậy, Theo ạ,” bà nói khi thấy tôi không đáp, “nhưng kiếm việc để làm là cách duy nhất sẽ khiến cháu dần khá lên.”
Tôi cương quyết chỉ cắm mắt vào tivi. Tôi chưa đến trường kể từ hôm trước khi mẹ chết, và miễn là tôi còn ở nhà, thì có vẻ như cái chết của mẹ còn chưa chính thức. Nhưng chỉ cần tôi trở lại, đấy sẽ là một sự kiện công khai. Tệ hơn nữa, ngay ý nghĩ trở lại một nếp sống bình thường dù ở bất kỳ dạng nào dường như đã là phản bội. Điều ấy vẫn khiến tôi choáng váng mỗi lần nhớ đến, như một cái tát lại giáng xuống từ đầu: mẹ chết rồi. Mỗi sự kiện mới, mỗi điều tôi làm từ giờ cho đến hết đời, sẽ chỉ càng khiến tôi và mẹ thêm tách biệt: đấy là những ngày không còn hình bóng mẹ, là khoảng cách cứ ngày một rộng thêm giữa chúng tôi. Cứ mỗi ngày qua, từ giờ đến hết đời tôi, mẹ sẽ lại càng xa thêm một ít.
“Theo.”
Giật mình, tôi ngước lên nhìn bà.
“Cứ đi từng bước. Không có cách khác ra khỏi chuyện này đâu.”
Ngày hôm sau tivi đang chiếu liên hoàn một chuỗi phim tình báo Thế chiến thứ hai (Cairo, The hidden enemy, Code name: Emerald) mà tôi rất muốn ở nhà xem. Thay vào đó, tôi lê mình khỏi giường khi ông Barbour ló đầu vào đánh thức cả hai dậy (“Dậy mà đi hỡi hai chàng ơi!”) và cùng Andy đi ra bến xe buýt. Hôm ấy trời mưa, lạnh đến mức bà Barbour ép tôi mặc cái áo khoác len thô cũ rất xấu xí của Platt ra ngoài. Kitsey, em gái Andy, bước chân sáo đằng trước trong chiếc áo mưa hồng, chụm chân nhảy qua từng vũng nước đọng và giả vờ không quen biết gì chúng tôi.
Tôi biết sẽ là một ngày khủng khiếp và đúng là thế thật, kể từ giây đầu tiên tôi bước vào hành lang sáng chói, ngửi cái mùi quen thuộc của nhà trường: mùi nước tẩy trùng hương chanh và mùi thứ gì đó như tất bẩn. Những tấm biển viết tay khắp hành lang: bản đăng ký lớp tennis và nấu ăn, mời thử vai vở Một cặp kỳ khôi[38], dã ngoại đến đảo Ellis, vé thừa cho buổi hòa nhạc Chào Xuân, thật khó tin rằng thế giới đã chấm dứt mà không hiểu sao những hoạt động chuối củ này vẫn nhởn nhơ chạy tiếp.
Lạ nhất là: lần cuối cùng tôi ở trong tòa nhà này, mẹ vẫn còn sống. Tôi cứ nghĩ mãi về điều ấy, và lần nào cũng như mới lạ từ đầu: lần cuối cùng tôi mở cánh tủ này, lần cuối cùng tôi động vào cuốn sách ngu xuẩn Sinh học chuyên sâu[39] này, lần cuối cùng tôi thấy Lindy Maisel bôi lên môi cái thỏi son nhựa đó. Thật khó hình dung nổi tôi không thể lần theo những khoảnh khắc ấy, quay về một thế giới nơi mẹ vẫn còn.
“Chia buồn với cậu.” Tôi nghe từ những người quen, và cả những người cả đời chưa bao giờ nói chuyện. Những người khác, đang cười nói trong hành lang, chợt im bặt khi tôi đi qua, mắt đánh sang những cái nhìn nghiêm trọng hay khó hiểu. Những vẫn còn những người lờ tịt tôi đi, như bầy chó đang chơi lờ đi một con chó ốm hay què liệt: không nhìn tôi, tiếp tục đùa giỡn chơi nhởi khắp xung quanh như tôi không có đó.
Hơn ai hết, Tom Cable tránh mặt tôi dứt khoát như tránh một cô gái vừa bị bồ đá. Giờ ăn trưa không tài nào thấy nó đâu. Tiết tiếng Tây Ban Nha (nó lững thững đi vào mãi sau khi vào tiết, bỏ qua cảnh tượng hết sức khó xử khi cả lớp mặt mày nghiêm trọng bu quanh bàn tôi chia buồn), nó không ngồi cạnh tôi như thường lệ mà ở bàn đầu, bò ra bàn, hai chân vắt về một phía. Mưa gõ nhịp trên cửa sổ trong khi chúng tôi vật lộn qua một chuỗi những câu cú kỳ quặc phải dịch, thứ văn chương hẳn Salvador Dalí[40] cũng phải thấy khoái chí: tôm hùm và ô bãi biển, Marisol có hàng mi dài bắt taxi màu xanh lá mạ đến trường.
Hết tiết, trên đường ra khỏi lớp, tôi cố tình đi lên chào trong lúc nó đang thu dọn sách vở.
“Ồ, chào, mày sao rồi,” nó nói, lạnh lùng, người ngả về sau, mày nhướn lên kênh kiệu. “Tao có nghe tin.”
“Ừa.” Đấy là kiểu của chúng tôi: quá ngầu so với đám xung quanh, lúc nào cũng giấu chuyện đùa riêng không ai biết.
“Nhục thật. Tệ cho mày.”
“Cảm ơn.”
“Đáng ra mày phải giả ốm. Nói rồi còn gì! Chuyện ấy cũng làm mẹ tao phát nổ. Nổ tanh bành! À ờ,” nó tiếp, hơi nhún vai trong cái khoảnh khắc câm điếng tiếp theo, nhìn một vòng quanh kiểu ngây thơ vô số tội, như thể nó vừa ném quả bóng tuyết bọc tảng đá.
“Thế đấy. Còn thì,” nó nói, giọng đã lảng ngay sang chuyện khác, “bộ cánh hóa trang này là sao hả?”
“Gì?”
“À,” hơi bước lùi lại làm điệu bộ, mắt tia cái áo khoác carô len thô - “nẫng giải quán quân là chắc, nếu thi Ai Giống Platt Barbour.”
Và cho dù không muốn - đúng là một cú sốc sau bao nhiêu ngày kinh hoàng nín lặng, một cơn máy giật như có bệnh - tôi bật cười.
“Nói hay đó Cable,” tôi lấy giọng lè nhè đáng ghét của Platt. Cả hai chúng tôi đều giỏi bắt chước, và nhiều khi nói chuyện từ đầu đến cuối toàn bằng giọng mượn của kẻ khác: những phát thanh viên xuẩn ngốc, bọn con gái rên rỉ, đám thấy bà ngớ ngẩn khò khè. “Ngày mai tao sẽ mặc giả mày.”
Nhưng Tom không đối đáp hay đẩy xa câu đùa. Nó đã chán. “Ờ, có khi không,” nó hơi nhún vai và khẽ nhếch mép. “Gặp sau nhé.”
“Ờ, sau.” Tôi cáu: tóm lại là nó bị sao? Thế nhưng chúng tôi đã có truyền thống trò hài kịch đen ấy, mà ngoài ra chẳng ai thấy thú vị, tức là thóa mạ chửi bới lẫn nhau, nên tôi tin chắc nó sẽ lại đến chỗ mình sau tiết Ngữ văn hoặc đuổi theo trên đường về nhà, chạy tới sau lưng mà đập cuốn sách đại số vào đầu tôi cái bộp. Nhưng không hề. Tới hôm sau, trước tiết một, nó còn không buồn nhìn trả khi tôi chào, và dáng điệu dửng dưng khi nó lù lù đi qua khiến tôi chết sững. Lindy Maisel và Mandy Quaife đứng bên tủ đồ quay lại nhìn nhau, bật cười hi hí, có phần sửng sốt: xem kìa! Bện cạnh tôi, đứa được phân công làm thí nghiệm chung là Sam Weingarten đứng lắc đầu. “Đúng là khốn,” nó nói, lớn tiếng đến mức cả hành lang quay lại nhìn. “Mày là thằng khốn, Cable ạ, mày biết không hả?”
Nhưng tôi không để tâm - hay ít nhất là tôi không chạnh lòng hay buồn bực. Trái lại tôi nổi khùng. Tình bạn giữa tôi và Tom lúc nào cũng điên rồ, bất kham, hoang dại và tán loạn, có chút chông chênh, mức năng lượng sùng sục ấy vẫn còn nguyên nhưng dòng điện đã đảo chiều, những điện từ ầm ì chảy về phía ngược lại khiến giờ đây thay vì cùng nhau đùa bỡn giữa hành lang nhà trường tôi chỉ muốn nhấn đầu nó vào bồn tiểu, giật cho cánh tay nó gãy rời khỏi vai, dúi mặt nó xuống lề đường lõa máu, bắt nó ăn cứt chó và rác rến ở cống rãnh. Càng nghĩ tôi càng tức điên, tức đến nỗi thỉnh thoảng tôi đi đi lại lại trong nhà vệ sinh và lẩm bẩm. Nếu không phải Cable đã xì đểu tôi với thầy Beeman (“giờ thì, Theo ạ, tôi biết mấy điếu thuốc đó không phải của cậu”)... nếu không phải Cable khiến tôi bị buộc đình chỉ học... nếu không phải mẹ xin nghỉ... nếu không phải mẹ con tôi đã có mặt ở bảo tàng vào cái thời khắc không may đó... hừ, đến cả thầy Beeman còn biết xin lỗi theo một hình thức nào đó. Vì đúng là kết quả học của tôi có vấn đề (cũng như hàng tá thứ khác thầy Beeman không biết), nhưng cái việc điểm hỏa, cái việc khiến tôi bị gọi lên văn phòng, toàn bộ cái vụ hút thuốc trong sân trường ấy - là tại ai? Cable chứ ai. Mà tôi cũng đâu có mong nó xin lỗi. Thực tế là tôi có định nhắc gì vụ đó với nó đâu, mãi mãi về sau. Chỉ có điều - giờ tôi thành kẻ bị ruồng bỏ rồi ư? Thành kẻ không có mặt? Nó còn không định nói chuyện với tôi? Tôi nhỏ con hơn Cable nhưng không nhiều, và mỗi lần nó pha trò cười trong lớp, vì nó không thể ngưng pha trò, hay chạy qua tôi trong hành lang, giữa cặp bạn thân mới Billy Wagner và Thad Randolph (y như hồi nào chúng tôi chạy đua cùng với nhau, lúc nào cũng tràn trề năng lượng, cũng muốn quăng mình vào nguy hiểm và rồ dại) - thì trong đầu tôi chỉ nghĩ được một điều, ấy là tôi muốn đập nó nát nhừ người ra, giữa bọn con gái cười nói chỉ trỏ còn nó thì rúm người trước mặt tôi khóc lóc: ồi, Tom, thương thế cơ! mày khóc cơ à? (Tìm cách gây sự đánh nhau, tôi đã cố ý vô tình làm dập mũi nó bằng cách mở cửa nhà vệ sinh đập thẳng vào mặt nó, rồi đẩy nó vào máy nước uống khiến nó đánh rơi mớ khoai chiên phô mai kinh tởm xuống sàn, nhưng thay vì nhảy xổ vào tôi - như tôi muốn - nó chỉ nhếch mép cười và bỏ đi không một câu.)
Tất nhiên, không phải ai cũng tảng lờ tôi. Rất nhiều người bỏ thư tay hay quà tặng vào tủ đồ của tôi (có cả Isabella Cushing và Martina Lichtblau, hai con bé nổi nhất khóa), và cả kẻ thù truyền khiếp Win Temple hồi lớp Năm cũng khiến tôi giật mình khi xồ tới ôm siết tôi thật chặt. Nhưng phần lớn mọi người đều đối xử với tôi lịch sự một cách thận trọng và gần như sợ sệt. Đâu phải là tôi đi đâu cũng khóc mếu, hay thậm chí tỏ vẻ gì bất thường, nhưng chúng nó vẫn ngừng bặt câu chuyện nói dở nếu thấy tôi ngồi xuống bên cạnh trong giờ ăn.
Ngược lại, người lớn lại chú ý đến tôi một cách quá mức chịu đựng. Tôi được khuyên nào là ghi nhật ký, chia sẻ với bạn bè, làm một cái “sổ dán ký ức” (thật là những lời khuyên tâm thần, theo ý tôi: đám bạn cùng khóa đã đủ lóng ngóng khi ở gần rồi, dù tôi có cố cư xử bình thường cách mấy; chẳng cần phải khiến chúng thêm chú ý bằng cách đem thổ lộ can tràng, hay dùng tiết Mỹ thuật làm nghệ thuật trị liệu). Dường như tôi đã bỏ quá nhiều thời gian đứng trong những phòng học trống hay văn phòng vắng (ngó trân xuống sàn, gật đầu như máy), bên những giáo viên lo âu giữ tôi lại sau giờ giảng, hay yêu cầu tôi tới gặp riêng. Thầy dạy Ngữ văn của tôi là Neuspeil sau khi ngồi trên mép bàn, kể một tràng gay cấn về chuyện mẹ mình phải chết tức tưởi trong tay một gã phẫu thuật gia kém cỏi, đã vỗ vai rồi ấn cho tôi một quyển vở trắng; bà Swanson, giáo viên tư vấn của trường, lại chỉ tôi mấy bài hít thở và gợi ý có lẽ tôi cũng muốn trút bỏ nỗi sầu muộn bằng cách đi ra đường ném đá cục vào cây; ngay cả thầy Borowsky (dạy Toán và đỡ có màn mắt ướt rượt hơn mấy vị kia nhiều) cũng dắt tôi ra một góc trên hành lang, ghé mặt cách mặt tôi không đầy năm phân và với giọng nói nhỏ nhẹ, tâm sự về cảm giác ăn năn sau khi anh trai thầy chết trong tai nạn xe cộ. (Ăn năn là điều xuất hiện thường xuyên trong những cuộc chuyện trò ấy. Chẳng lẽ các thầy cô giáo cũng tin - giống như tôi - rằng chính tôi là kẻ đã gây ra cái chết của mẹ? Xem ra là thế.) Thầy Borowsky đã ăn năn về chuyện để anh mình say khướt lái xe về sau đêm tiệc tùng ấy, đến nỗi trong một khắc ngắn ngủi còn toan tính tự khử mình. Có lẽ tôi cũng đã nghĩ đến chuyện tự tử. Nhưng tự tử không phải là giải pháp.
Mỗi lời khuyên răn tôi đều lễ phép nghe, với nụ cười cứng đờ và cảm giác phi thực cháy bỏng. Rất nhiều người lớn hình như coi vẻ đờ đẫn ấy là dấu hiệu tích cực: tôi nhớ nhất là thầy Beeman (một gã Anh phát âm điệu đàng quá mức, đội cái mũ bê rê vải tuýt rất đần độn, và bất chấp ông ta săn đón, tôi vẫn ghét cay ghét đắng, dù phi lý, coi là tác nhân gây nên cái chết của mẹ) đã khen ngợi sự chín chắn của tôi, cho biết rằng tôi “có vẻ đang đối phó với chuyện này giỏi kinh khủng”. Và cũng có thể đúng là tôi đang đối phó giỏi kinh khủng, không biết nữa. Rõ là tôi không hú lên gào khóc, hay đấm thủng cửa sổ, hay làm như những người đang trải qua cảm giác giống như tôi. Nhưng đôi khi, không lường trước, nỗi đau dội xuống từng đợt sóng khiến tôi tức thở; và khi sóng rút, còn lại trước mặt tôi là cảnh hoang tàn mặn muối, tắm trong ánh sáng thật chói chang, thật nôn nao và trống rỗng, khiến tôi không còn nhớ nổi thế giới từng ra sao trước khi chỉ toàn là chết chóc.
V
THÚ THẬT LÀ ÔNG BÀ NỘI Decker chỉ còn rất mờ nhạt trong ý thức tôi, mà như vậy cũng hay, bởi bên Dịch vụ Xã hội chịu không tài nào lần ra họ sớm khi chỉ dựa theo những thông tin sơ sài mà tôi cung cấp. Nhưng rồi một hôm bà Barbour gõ cửa phòng Andy mà bảo, “Theo, bác nói chuyện với cháu một lúc được không?”
Dáng vẻ bà tự nó đã rõ rệt là một lời cảnh báo, tuy ở vào tình cảnh mình tôi không hiểu còn có gì có thể coi là đáng sợ nữa. Khi hai bên đã ngồi xuống phòng khách - cạnh một công trình những cành liễu hoa vàng cao cả mét và cành táo nở hoa do tiệm hoa vừa đưa tới - bà ngồi vắt chân rồi bảo, “Sở Dịch vụ Xã hội gọi cho bác. Họ đã liên lạc được với ông bà cháu. Không may là có vẻ bà nội cháu không được khỏe.”
Tôi hoang mang mất một giây. “Dorothy à?”
“Nếu đấy là tên bà ấy.”
“À. Đấy không hẳn là bà nội cháu đâu.”
“Bác hiểu rồi,” bà Barbour đáp, vẻ như bà không hẳn hiểu mà cũng chẳng muốn hiểu. “Sao cũng được. Hình như bà ấy không khỏe - đau lưng sao đó - và giờ ông nội cháu phải chăm sóc bà. Như thế, tình hình là, cháu hiểu không, bác tin là họ cũng áy náy, nhưng theo họ hiện tại cháu xuống đó không tiện. Ít nhất là nếu cháu ở nhà họ,” bà nói thêm khi thấy tôi không đáp. “Họ đề nghị sẽ trả tiền cho cháu ở quán trọ Holiday Inn gần nhà trong thời gian trước mắt, nhưng như vậy xem ra cũng không tiện, phải không?”
Tai tôi reo ù ù, một tiếng reo khó chịu. Ngồi dưới ánh mắt bình đạm màu xám băng của bà Barbour, không hiểu sao tôi chợt thấy hổ thẹn tê người. Quả là ý nghĩ đến ở với ông nội Decker và Dorothy đáng sợ đến nỗi hầu như tôi đã xóa sổ họ khỏi đầu mình, nhưng được biết họ cũng chẳng buồn chào đón tôi lại là một chuyện khác hẳn.
Vẻ thông cảm khẽ thoáng qua mặt bà. “Cháu đừng lấy thế làm buồn,” bà nói. “Mà dù sao cháu đừng lo. Đã thỏa thuận rồi, cháu sẽ tiếp tục ở đây trong vài tuần tới, và ít nhất cũng học hết năm nay ở trường. Mọi người đều công nhận cách đó là tốt nhất. Mà này,” bà cúi người tới gần hơn, “cái nhẫn đẹp quá. Nhẫn của gia đình để lại à?”
“Ờ... vâng,” tôi đáp. Vì những lý do mà muốn giải thích chắc cũng không dễ, tôi đã nhiễm thói quen hầu như đi đâu cũng mang theo chiếc nhẫn của ông già. Bình thường tôi chỉ mân mê nó để trong túi áo khoác, nhưng thỉnh thoảng cũng lồng nó vào ngón giữa, dù nhẫn hơi to nên thường tuột đi trên tay
“Hay đấy. Của nhà ngoại, hay nhà nội?”
“Nhà ngoại,” tôi đáp sau đôi chút chần chừ, thấy bồn chồn trước đề tài đang đi mỗi lúc một sâu.
“Bác xem được chứ?”!
Tôi tháo ra, thả vào lòng tay bà. Bà giơ lên trước đèn. “Đẹp quá,” bà nói, “đá Carnelian đỏ. Và cả hình chạm này nữa. Đề tài Hy-La à? Hay là gia huy?”
“Ừm… gia huy. Cháu nghĩ thế.”
Bà ngắm nghía con thú thần thoại có vuốt. “Trông có vẻ như điểu sư. Hoặc sư tử có cánh.” Bà nghiêng cái nhẫn dưới ánh đèn, nhìn mặt trong nhẫn. “Còn dòng khắc này thì sao?”
Thấy tôi ngớ ra, bà chau mày. “Đừng nói cháu chưa bao giờ nhận thấy chứ. Khoan đã.” Bà đứng dậy đi ra bàn, dưới bàn có hàng bao nhiêu ngăn kéo và ô hốc rắc rối, lấy kính lúp rồi quay lại.
“Tốt hơn kính đọc sách bình thường,” bà nói và nheo mắt nhìn qua kính. “Nhưng kiểu chữ cổ uốn lượn này khó đọc quá.” Bà đưa cái kính lại gần rồi lại kéo ra xa. “Blackwell à. Có nhớ đến cái gì không?”
“À...” Thực ra là có, một cái gì xa thẳm hơn lời lẽ, nhưng ý nghĩ chưa kịp thành hình hẳn thì đã tỏa đi, biến mất.
“Lại có cả chữ Hy Lạp nữa. Thú vị thật.” Bà bỏ lại cái nhẫn vào tay tôi. “Nhẫn xưa lắm rồi,” bà nói. “Chỉ cần nhìn nước bóng trên mặt đá và các vết mòn nữa - thấy cái này không? Người Mỹ ngày xưa thường mua những mặt đá chạm Hy-La này ở châu Âu, vào thời Henry James, rồi đem khảm nhẫn. Lưu niệm chuyến Về Nguồn.”
“Nếu họ không muốn nhận cháu thì cháu đi đâu bây giờ?”
Trong giây lát, hình như bà Barbour giật nảy mình. Nhưng gần như lập tức bà trấn tĩnh lại, bảo: “À, giờ cháu chưa nên lo đến chuyện đó. Hẳn tốt nhất vẫn là cháu ở lại đây thêm một thời gian, học hết năm nay, cháu không nghĩ thế ư? Còn bây giờ,” bà hất đầu, “hãy cẩn thận cái nhẫn, coi chừng đánh mất. Bác thấy cháu đeo bị lỏng tay. Có lẽ cháu nên cất vào đâu an toàn, chứ không đeo đi khắp nơi như vậy.”
VI
NHƯNG TÔI VẪN ĐEO. Hoặc đúng hơn, tôi vẫn bỏ qua lời khuyên cất vào nơi an toàn mà tiếp tục mang nó trong túi. Khi nâng thử trên lòng bàn tay, cái nhẫn có vẻ rất nặng; nếu tôi gập tay lại nắm lấy nó, vành vàng ấm lên trong tay nhưng viên đá chạm trổ vẫn lạnh toát. Cái sức nặng và vẻ cổ xưa của nó, cái lối nửa lạnh lẽo nửa ngời sáng, đem lại cho tôi một nỗi an ủi lạ lùng; chỉ cần thật chăm chú vào cái nhẫn, nó sẽ thi hành sức mạnh kỳ lạ neo tôi lại giữa cơn trôi dạt, gạt bỏ thế giới bên ngoài, nhưng dù có thế tôi cũng không thật lòng muốn nghĩ về cơn cớ vì sao nó đến với mình.
Và tôi cũng chẳng muốn nghĩ về tương lai - vì dù vốn chẳng ngóng đợi gì cuộc sống mới ở Maryland hẻo lánh, cậy nhờ lòng hào hiệp giá băng của ông bà Decker, thì nay tôi đã bắt đầu lo âu thật sự về việc mình sẽ đi đâu về đâu. Xung quanh đều tỏ ra kinh hoàng trước ý nghĩ tôi đến ở Holiday Inn, như thể ông nội Decker và Dorothy muốn cho tôi vào kho xép trong vườn sau không bằng, nhưng tôi thấy cũng đâu đến nỗi. Tôi vẫn luôn mong được sống trong khách sạn, và cho dù Holiday Inn chẳng phải là một khách sạn như tôi hằng tưởng tượng thì thế nào chẳng có cách xoay xở được: hamburger gọi lên phòng, tivi trả tiền theo giờ xem, bể bơi vào mùa hè - có gì không ổn?
Tất cả mọi người (hai nhân viên xã hội, tay bác sĩ thần kinh Dave, bà Barbour) vẫn nói đi nói lại rằng thì là tôi chẳng thể nào sống một mình trong quán Holiday Inn ở ngoại ô Maryland được đâu, rằng dù sao đi nữa tôi sẽ không bao giờ thực tình rơi phải cảnh ấy cả - mà không nhận ra những lời lẽ mà họ tưởng là an ủi thì lại chỉ làm tôi lo âu trăm bề. “Cần nhớ một điều,” Dave, tay bác sĩ tâm lý do thành phố chỉ định cho tôi nói, “rằng dù chuyện gì xảy ra đi nữa, cháu cũng sẽ được lo liệu.” Đấy là một gã tầm ba mươi tuổi, quần áo đen và kính mắt hợp thời trang, lúc nào cũng có cái vẻ như vừa chui ra từ buổi đọc thơ dưới tầng hầm nhà thờ ở đâu đây. “Bởi có rất nhiều người để mắt trông chừng cháu, những người chỉ muốn dành mọi điều tốt nhất cho cháu.”
Tôi đã dần học được cách nghi ngờ những kẻ lạ luôn mồm nói về điều tốt nhất cho tôi, vì đấy đích xác là những gì tuôn ra từ miệng hai nhân viên xã hội ngay trước khi đề cập đến chuyện con nuôi. “Nhưng mà... cháu nghĩ ông bà cháu tính thế cũng đâu có tệ quá,” tôi nói.
“Tệ gì?”
“Vụ Holiday Inn ấy. Có thể cháu ở nơi đó cũng OK.”
“Ý cháu là ở nhà ông bà cháu thì không OK à?” Dave tiếp lời lập tức.
“Không!” Tôi ghét gã nhất cái đó - cứ suốt ngày suy bụng gã ra bụng tôi.
“Được rồi. Ta sẽ diễn đạt theo cách khác vậy.” Gã đan tay vào nhau, ngẫm nghĩ. “Vì sao cháu thấy thà ở quán trọ còn hơn ở nhà ông bà?”
“Cháu đâu có nói thế.”
Gã ngoẹo đầu. “Không nói, nhưng thấy cháu cứ nhắc mãi đến Holiday Inn, như thể đấy là một lựa chọn chấp nhận được, thì chú hiểu ý cháu đấy là phương án cháu ưa thích hơn.”
“Chắc chắn là thích hơn nhiều bị cho đi làm con nuôi.”
“Phải…” gã nhoài người tới trước, “nhưng hãy nghe chú nói này. Cháu mới mười ba thôi. Mà cháu lại vừa mất đi người chăm sóc chính. Hiện tại, sống một mình không phải là lựa chọn dành cho cháu. Ý chú muốn nói là, ông bà cháu đang gặp vấn đề sức khỏe như thế này thật không may, nhưng cứ tin chú, chắc chắn chúng ta sẽ tìm được cách khá hơn nhiều chừng nào bà nội cháu đứng dậy đi lại được.”
Tôi chẳng nói gì. Rõ ràng gã ta không biết ông nội Decker và Dorothy là loại người ra sao. Cho dù bản thân tôi cũng chưa qua lại nhiều lắm, thì ấn tượng lưu lại chủ yếu vẫn là cảm giác nước lã hơn là máu đào, họ nhìn tôi cái vẻ như nhìn một đứa trẻ ngoài đường vừa từ khu mua sắm đi lạc vào đây. Viễn cảnh tới sống với họ hầu như là không tưởng tượng nổi, và tôi vẫn còn vắt óc xem có nhớ được gì từ lần cuối cùng đến thăm họ - bảy hay tám tuổi gì đấy, nghĩa là cũng chẳng nhớ gì nhiều. Có những châm ngôn thêu tay lồng khung kính treo tường, một dụng cụ bằng nhựa trên mặt bếp để Dorothy vẩy cho thức ăn ráo nước. Một lúc nào đó, sau khi ông nội Decker thét lên rằng hãy bỏ cái tay thối của tôi ra khỏi bộ đồ tàu quý hóa của ông, bố đã bỏ ra ngoài nhà hút thuốc (lúc ấy đang mùa đông) rồi không trở vào nữa. “Chúa ơi,” mẹ nói khi cả nhà đã ra xe (chính mẹ là người có sáng kiến cho tôi làm quen với gia đình bên nội), và chúng tôi không bao giờ quay lại đó.
Mấy ngày sau lời đề nghị tới ở Holiday Inn, tôi nhận được tấm bưu thiếp tại địa chỉ nhà Barbour. (Ngoài lề: có phải đòi hỏi quá không nếu nghĩ rằng Bob và Dorothy, như chữ ký dưới tấm thiếp, đáng ra nên nhấc điện thoại gọi cho tôi? Hoặc lên xe lái tới New York xem xét tình hình cậu cháu? Nhưng cả hai việc đó đều không có - tôi cũng chẳng mong họ sẽ lao bổ tới sụt sùi thương cảm đâu, nhưng dù sao thì cũng tốt chứ, nếu họ có làm tôi ngạc nhiên bằng cử chỉ thân tình nào nho nhỏ, tuy trái thói quen.)
Thực tế là thiếp do Dorothy gửi (chữ “Bob”, rõ ràng là nét chữ của bà ta, đã bị viết chèn vào bên cạnh “Dorothy” như một ý nghĩ đến chậm). Cái thú vị là trông như phong bì đã bị hơ nóng mở ra rồi dán lại - bà Barbour ư? Hay Sở Dịch vụ Xã hội? - dù tấm thiếp thì sờ sờ là kiểu chữ châu Âu cứng đờ nhấp nhô của Dorothy, vẫn xuất hiện mỗi năm chính xác một lần trên những tấm thiếp Giáng sinh, kiểu chữ mà như bố tôi có lần nhận xét, trông hệt như đang thông báo món cá đặc biệt hằng ngày trên bảng phấn trước quán La Goulue. Mặt trước thiếp có hình một bông tulip rủ đầu, bên dưới là dòng khẩu hiệu in hoa: KHÔNG CÓ KẾT THÚC.
Dorothy, như những gì ít ỏi tôi còn nhớ, vốn không phí lời, và tấm thiếp này cũng vậy. Sau đoạn mở đầu hết sức thân ái - rất tiếc về mất mát đau lòng của tôi, gửi tới tôi những lời an ủi chân thành nhất - bà ta đề nghị sẽ gửi tôi tiền vé xe khách đến Woodbriar, Maryland, nhưng đồng thời cũng ám chỉ mơ hồ tới tình trạng sức khỏe khiến bà ta và ông nội Decker sẽ rất khó khăn nếu muốn “đáp ứng những đòi hỏi” của việc chăm sóc tôi.
“Đòi hỏi gì?” Andy bình phẩm. “Nghe kiểu cậu đang đòi mười triệu đô tiền mặt không bị đánh dấu không bằng.”
Tôi chỉ im lặng. Kỳ một điều là chính bức ảnh trên thiếp mới làm tôi lấn cấn. Đấy chỉ là thứ bưu thiếp thông thường vẫn bán ở các hiệu tạp hóa, rất bình thường, nhưng dù sao đi nữa, ảnh hoa héo có chụp nghệ thuật đến đâu cũng không phải thứ nên gửi cho người có tang mẹ.
“Tớ tưởng bà ta đang bị ốm liệt cơ mà. Tại sao lại là bà ta viết?”
“Biết chết liền.” Tôi cũng đã băn khoăn chính điều ấy; thật kỳ quái là ông nội ruột của tôi lại không nhắn gửi gì và cũng chẳng buồn ký tên vào.
“Cũng có thể,” Andy u ám nói, “ông cậu đã mắc Alzheimer và bà ta đang cầm tù ông trong chính ngôi nhà mình. Để nắm được tiền của ông. Vợ trẻ thì hay thế lắm, cậu biết mà.”
“Tớ nghĩ ông chẳng có nhiều tiền đến mức ấy đâu.”
“Có thể là không,” Andy tiếp và hắng giọng ầm ĩ. “Nhưng không thể loại trừ cơn khát quyền lực. ‘Tự nhiên răng vuốt đỏ lòm[41]’. Có thể bà ta không muốn cậu tham gia vào tranh giành thừa kế.”
“Con trai ơi,” bố Andy thình lình ngẩng lên khỏi tờ Financial Times, “bố không nghĩ đây là một đề tài nói chuyện hay ho lắm đâu.”
“Ồ, thực tình con không hiểu sao Theo không thể ở đây với nhà mình chứ,” Andy nói lên chính ý nghĩ trong đầu tôi. “Con thích có cậu ấy ở cùng, mà phòng con thì rộng mênh mông.”
“À, rõ ràng là tất cả chúng ta đều muốn giữ cậu ấy cho mình rồi,” ông Barbour đáp lời với vẻ nhiệt tình không đủ sốt sắng mà cũng không đủ thành thực như tôi mong đợi. “Nhưng gia đình cậu ấy sẽ nghĩ sao? Theo như bố hiểu thì bắt cóc vẫn chưa được pháp luật ủng hộ đâu.”
“À, bố ạ, con thấy tình hình hiện giờ hẳn nhiên không thể xếp vào loại đó,” Andy nói bằng cái giọng xa vắng vẫn khiến người khác cáu tiết.
Ông Barbour chợt đứng phắt dậy, lon nước khoáng vẫn cầm trong tay. Ông không được uống rượu vì đang uống thuốc. “Theo, bác quên mất. Cháu có biết chạy tàu không?”
Mất một phút tôi mới hiểu ông đang hỏi cái gì. “Không ạ.”
“Ồ, dở quá. Andy đã vui kinh khủng ở trại hè tàu buồm trên Maine năm ngoái, phải không con?”
Andy chỉ yên lặng. Đã mấy lần rồi nó kể với tôi đấy là hai tuần khổ sở nhất trong đời nó.
“Thế biết đọc cờ hiệu hàng hải không?” Ông Barbour hỏi tiếp.
“Là sao ạ?” Tôi hỏi.
“Trong phòng bác có một bản ký hiệu vô cùng kỹ lưỡng, nếu cháu muốn xem thì hay lắm. Đừng có nhăn nhó như vậy Andy. Đấy là một kỹ năng có ích, cậu bé nào biết được cũng tốt cả.”
“Tất nhiên sẽ rất có ích khi cậu ấy cần vẫy tàu lai dắt chạy ngang qua.”
“Lối bình phẩm tài khôn của con làm bố nhức cả đầu,” ông Barbour nói, dù trông ông có vẻ lơ đãng hơn là cáu bẳn. “Chưa kể,” ông lại quay sang tôi, “bác nghĩ cháu sẽ ngạc nhiên đấy, nếu biết cờ hàng hải xuất hiện thường đến mức nào, trong diễu binh, phim ảnh, và, hừm gì nhỉ, trong hí viện nữa.”
Andy bĩu môi. “Hí viện,” nó nói giọng nhạo báng.
Ông Barbour quay sang nhìn nó. “Vâng, hí viện. Con thấy chữ đó buồn cười lắm à?”
“Làm phách thì đúng hơn.”
“Bố rất tiếc phải nói là bố không thấy có gì làm phách ở đây cả. Hẳn đấy chính là chữ cụ bà của con vẫn dùng.” (Ông nội ông Barbour đã bị xóa tên khỏi danh sách thế gia Mỹ khi kết hôn với Olga Osgood, một nữ diễn viên điện ảnh hạng xoàng.)
“Chính vì thế.”
“Thế con muốn bố gọi là gì?”
“Thực tình là, bố ạ, con băn khoăn lần cuối cùng bố đã nhìn thấy cờ hiệu hàng hải trong bất cứ vở kịch nào là bao giờ kia.”
“South Pacific,” ông Barbour đáp mau mắn.
“Ngoài South Pacific.”
“Bố đã chứng minh rồi.”
“Con không tin là bố mẹ có từng xem South Pacific.”
“Ô kìa, Andy.”
“Hừm, kể cả xem rồi cũng thế. Một ví dụ không đủ để chứng minh.”
“Bố khước từ tiếp tục cuộc nói chuyện ngớ ngẩn này. Đi nào, Theo.”
VII
Kể từ thời điểm này trở đi, tôi bắt đầu dốc hết sức mình làm một người khách kiểu mẫu: sáng sáng dọn giường, luôn nhớ nói cảm ơn và xin phép, làm tất cả những gì mà tôi biết là mẹ sẽ vui khi thấy tôi làm. Một điều hơi phiền là nhà Barbour không phải kiểu gia đình có thể bày tỏ lòng biết ơn bằng cách trông mấy đứa nhỏ, hay góp công rửa bát. Tính cả bà giúp việc vẫn đến chăm sóc cây - một công việc chẳng mấy tươi vui, vì căn hộ thiếu sáng đến nỗi cây nào cây nấy sớm muộn cũng chết cả - cùng trợ lý của bà Barbour, mà nhiệm vụ chủ yếu dường như chỉ là sắp xếp lại tủ ly cùng bộ sưu tập đồ sứ, thì có tổng cộng khoảng tám người làm cho nhà họ. (Khi tôi hỏi máy giặt đặt đâu, bà Barbour tặng tôi một cái nhìn như thể tôi xin kiềm và mỡ để tự đun làm xà phòng.)
Nhưng dù chẳng có đòi hỏi gì, thì cố gắng hòa nhập vào gia đình bóng loáng, rối rắm của họ vẫn khiến tôi nhức đầu kinh khủng. Tôi chỉ mong đúng một điều là được lặn hẳn vào nền cảnh - vô hình giữa những hoa văn hoa lá kiểu phương Đông như con cá lẩn vào giữa san hô, nhưng trái lại, mỗi ngày phải đến cả trăm lượt tôi gây chú ý không mong muốn: bởi phải hỏi tìm từng thứ đồ nhỏ nhặt, dù chỉ là khăn lau hay băng vết thương cá nhân hay gọt bút chì; bởi không có chìa khóa, đi hay về đều phải bấm chuông cửa; bởi chính việc tôi cố gắng góp công bằng cách dọn giường mỗi sáng (cứ để Irenka hay Esperenza làm còn tốt hơn, bà Barbour bảo, vì họ quen việc và trải mép ga phẳng phiu hơn). Tôi làm gãy quả đấm trang trí nóc giá treo áo thuộc hàng đồ cổ khi mở tung cửa, hai lần lầm lẫn khiến còi chống trộm réo inh tai, lại còn một lần nhào vào giữa phòng ông bà chủ khi đi tìm nhà vệ sinh ban đêm.
May một điều là bố mẹ Andy chẳng mấy khi ở nhà nên chẳng thấy vướng bận gì tôi lắm. Trừ những hôm tiếp khách, bà Barbour thường rời căn hộ vào quãng mười một giờ sáng, trở vào nhà một hai tiếng trước bữa tối để uống gin pha chanh và “ngâm người tí chút” như bà nói - rồi lại mất mặt mãi đến khi chúng tôi đã đi ngủ. Ông Barbour còn vắng mặt nhiều hơn nữa, trừ vào dịp cuối tuần hay những lúc ông ngồi nhà ngoài, sau giờ làm, cầm cốc nước khoáng quấn khăn ăn, chờ bà Barbour vận đồ chuẩn bị ra ngoài.
Cho tới giờ thì vấn đề lớn nhất đối với tôi chỉ còn là đám anh em của Andy. Dù có cái may là Platt đã đến trường Groton gieo rắc kinh hoàng cho bọn nhỏ ở đó, thì Kitsey và đứa em út Toddy mới lên bảy rành rành là ghét việc thấy tôi chình ình ở đây, cướp nốt quãng thời gian ít ỏi của bố mẹ có thể dành cho mình. Tôi đã chịu đựng không biết bao nhiêu cơn hờn hay nổi đóa, đảo mắt và cười khẩy ở Kitsey, chưa kể kiểu phiền toái rất khó hiểu (theo tôi) và chưa bao giờ giải quyết được, là nó cứ càu nhàu suốt với bạn bè, mấy người giúp việc cũng như bất cứ ai chịu nghe, rằng tôi vào phòng nó mó máy bộ sưu tập lợn bỏ ống trên giá bàn học. Còn Toddy thì ngày một thêm băn khoăn vì thấy tuần nối tuần tôi vẫn còn đây; sáng sáng nó trố mắt nhìn tôi không biết ngượng và liên tiếp hỏi những câu khiến mẹ nó phải thò tay bấu nó dưới bàn. Trước kia tôi sống ở đâu? Tôi còn định ở nhà họ bao lâu nữa? Tôi có bố không? Thế thì ông ta đâu rồi?
“Anh cũng đang thắc mắc điều đó,” tôi nói, làm bật lên một tràng cười kinh hoàng từ phía Kitsey; con bé rất được mến mộ ở trường và vào tuổi lên chín, nhan sắc bạch kim của nó đã sờ sờ chẳng kém gì Andy xấu xí.
VIII
Hãng chuyển đồ sẽ tới vào lúc nào đó để gói ghém đồ đạc của mẹ gửi đến nhà kho trữ đồ. Trước lúc đó, tôi được yêu cầu về căn hộ nhà mình, lấy mọi thứ gì tôi muốn hoặc cần. Trong đầu tôi vẫn nghĩ đến bức tranh một cách dai dẳng mà lại mơ hồ, rất không thích hợp với tầm quan trọng thực tế của nó, cứ như đấy là một bài thực hành ở trường chưa làm xong. Đến lúc nào đó tôi sẽ phải mang nó trả lại bảo tàng, dù lúc này còn chưa nghĩ ra làm cách nào để không gây ầm ĩ.
Chưa chi tôi đã lỡ thời cơ một lần rồi - khi bà Barbour xua khỏi căn hộ mấy người thanh tra đến tìm tôi. Nghĩa là: tôi đoán họ là thanh tra viên, hoặc cảnh sát không chừng, theo những gì bà chị trông trẻ người Wales tên Kellyn cho tôi biết. Hôm đó chị ta vừa đón Toddy từ nhà trẻ về thì mấy người lạ mặt xuất hiện, hỏi tìm tôi. “Comple hẳn hoi nhá,” chị ta nhướng một bên mày đầy ý nghĩa. Đấy là một cô gái phục phịch, lẻo miệng, má lúc nào cũng đỏ hồng như đang đứng cạnh lò sưởi. “Họ có cái vẻ đó.”
Tôi quá sợ không dám hỏi vẻ đó nghĩa là vẻ gì, và khi thận trọng đi vào nhà xem bà Barbour có muốn nói gì không, thì bà đang bận. “Bác rất tiếc,” bà nói mà không nhìn về phía tôi, “nhưng chúng ta có thể để khi khác nói chuyện này không?” Chỉ còn nửa tiếng là khách đến, trong đó có một kiến trúc sư tài danh và một vũ công nổi tiếng trong đoàn ballet thành phố New York; bà còn đang loay hoay cài chưa được khóa dây cổ, và bực mình vì cái máy lạnh đang bị khật khừ.
“Có phải cháu đang gặp nguy không?”
Câu ấy buột ra khi tôi còn chưa biết mình đang nói gì. Bà Barbour dừng tay. “Theo, cháu đừng nghĩ nhảm,” bà nói. “Họ rất tử tế, rất ân cần, nhưng vào lúc này thì bác không để họ quanh quẩn ở đây được. Đường đột xuất hiện chẳng thông báo trước. Dù sao bác cũng đã nói đây không phải lúc, mà họ cũng tự thấy đấy.” Bà huơ tay chỉ bên nhà hàng bưng đồ ăn chạy tới lui, ông thợ máy đứng trên thang soi đèn pin xem ống gió máy lạnh. “Giờ đi chơi đi. Andy đâu?”
“Một tiếng nữa cậu ấy mới về ạ. Lớp thiên văn đi đến trung tâm quan sát thiên thể.”
“Ừ, có đồ ăn trong bếp. Bác không đặt nhiều bánh tạc mini nên không được ăn, nhưng cháu muốn ăn bao nhiêu xăng-uých tùy thích. Bánh ngọt sau khi cắt rồi, cháu muốn ăn vài miếng cũng được.”
Thái độ bà dửng dưng đến nỗi tôi quên khuấy vụ mấy người khách, tới khi họ đến tận trường tìm tôi ba ngày sau, vào giờ hình học, một già, một trẻ, ăn mặc vô hại, lễ phép gõ vào cánh cửa mở. “Xin phép hỏi Theodore Decker?” người trẻ có dáng dấp Ý hỏi thầy Borowsky trong khi người già thân thiện đưa mắt nhìn quanh lớp.
“Các bác chỉ muốn nói chuyên với cháu thôi, được chứ?” người già hơn nói, trong lúc cả ba đi tới cái phòng họp đáng sợ nơi lẽ ra tôi đã ngồi cùng thầy Beeman và mẹ, cái ngày mẹ chết. “Đừng sợ.” Đấy là một ông da đen, đen trũi, để râu dê xám - nhìn dữ tợn, nhưng có vẻ cũng tốt tính, như một viên cảnh sát chịu chơi trên phim truyền hình. “Chẳng qua các bác đang cố xâu chuỗi rất nhiều sự việc ngày hôm đó, và hy vọng cháu giúp được một tay.”
Ban đầu họ làm tôi khiếp vía, nhưng cách ông ta nói đừng sợ đã khiến tôi tin, cho tới khi ông ta đẩy cửa phòng họp. Trong đó là đại cừu thù của tôi, thầy Beeman đội mũ lưỡi trai vải tuýt, vẫn khụng khiệng như mọi khi trong đủ bộ áo jacket và đồng hồ đeo dây, cả Enrique, tay nhân viên xã hội, bà Swanson, giáo viên tư vấn của trường (chính người đã khuyên tôi ném đá cục vào cây để vơi bớt nỗi lòng), tay bác sĩ thần kinh Dave mặc áo len cổ lọ và quần Levi đen như mọi khi - và tưởng tượng xem ai chứ, bà Barbour, đi giày cao gót bên bộ vét màu xám ngọc trai trông có vẻ đắt tiền hơn lương tháng của tất cả số người trong phòng cộng lại.
Nỗi kinh động chắc đã hiện ra sờ sờ trên mặt tôi. Hẳn là tôi sẽ không kinh hãi đến mức ấy nếu biết rõ hơn điều mà khi ấy tôi chưa hiểu: rằng tôi còn vị thành niên, và rằng phải có mặt bố mẹ hoặc người giám hộ cho tôi trong mọi cuộc nói chuyện với công quyền, chính vì thế mà tất cả những ai hơi có dính líu đến nhiệm vụ bảo vệ tôi đều được triệu tập. Nhưng điều duy nhất đến trong đầu tôi, khi nhìn thấy từng kia khuôn mặt cùng chiếc máy ghi âm đặt giữa bàn, đây là, những bên liên quan đã tập hợp lại đây để quyết định số phận tôi, để thanh toán tôi ra sao tùy ý họ.
Tôi ngồi cứng đơ, chịu trận những câu hỏi mào đầu (tôi có sở thích nào không? có chơi môn thể thao nào không?) tới khi ai nấy đều thấy rõ rằng chuyện trò lót đường chẳng làm tôi bớt căng thẳng hơn tí nào hết.
Chuông hết tiết reo. Tiếng tủ đồ đập, tiếng người rì rào trong hành lang. “Mày tiêu rồi, Thalheim,” một thằng bé ré lên khoái chí.
Tay người Ý - Ray, như anh ta tự xưng - kéo ghế đến ngồi trước mặt tôi, đầu gối hai bên đụng vào nhau. Anh ta còn trẻ nhưng đậm người, dáng vẻ như một tay tài xế limo hiền hậu, và đôi mắt cụp hình như ươn ướt, rơm rớm, ngái ngủ, như người say.
“Các chú chỉ muốn biết cháu nhớ những gì thôi,” anh ta nói. “Thử khuấy động trí óc, hình dung đại thể về sáng hôm ấy, hiểu không? Vì nếu nhớ lại những việc nho nhỏ, biết đâu cháu sẽ nhớ được một điều có thể giúp ích cho các chú.”
Anh ta ngồi gần đến nỗi tôi ngửi được cả mùi thuốc khử mùi. “Điều gì cơ ạ?”
“Sáng hôm ấy cháu ăn gì, chẳng hạn. Đấy cũng là một điểm bắt đầu hợp lý, hả?”
“Ừm...” tôi nhìn cái lắc tay vàng khắc tên của anh ta. Tôi không ngờ họ lại hỏi cái đó. Thực tế là: sáng hôm đó mẹ con tôi hoàn toàn không ăn gì, vì tôi đang bị quở mắng ở trường và mẹ thì quá bực, nhưng tôi ngượng không dám nói như thế.
“Cháu không nhớ à?”
“Bánh rán,” rối trí, tôi buột ra.
“Thế hả?” Ray nhìn tôi tinh quái. “Mẹ cháu làm à?”
“Vâng.”
“Thế bánh bỏ gì? Việt quất hay vụn sô-cô-la?”
Tôi gật.
“Cả hai?”
Tôi thấy cả phòng đổ dồn mắt vào mình. Rồi thầy Beeman nói, trịnh trọng như thể đang trong giờ Đạo đức Xã hội: “Không việc gì phải bịa ra câu trả lời nếu em không nhớ.”
Ông da den - ngồi trong góc phòng, cầm sổ ghi chép - liếc thầy Beeman một cái cháy xém cảnh cáo.
“Thực tình là hình như có một chút trục trặc về trí nhớ,” bà Swanson chen vào, thấp giọng, mân mê đôi kính đeo vào sợi dây trên cổ. Bà đã rất già, ưa mặc sơ mi trắng suông phồng, mái tóc bạc tết bím dài sau lưng. Lũ trẻ bị phái đến phòng bà nghe chỉ bảo vẫn gọi bà là “Bà Sư phụ”. Trong các giờ tư vấn ở trường, ngoài khuyên răn về tác dụng của đá cục, bà đã dạy tôi bài tập thở gồm ba phần để giải toả cảm xúc trong người, cũng như dạy tôi vẽ mandala[42] để thể hiện trái tim thương tổn. “Cậu bé bị đập đầu mà. Phải không Theo?”
“Thật thế à?” Ray đưa mắt nhìn tôi không giấu giếm.
“Vâng.”
“Cháu có đi khám bác sĩ không?”
“Không khám ngay,” bà Swanson nói.
Bà Barbour vắt tréo cổ chân. “Tôi có đưa cháu đến phòng cấp cứu bệnh viện Trưởng lão New York,” bà lạnh lùng nói. “Khi đến nhà tôi, cháu nói đang bị đau đầu. Phải mất khoảng một ngày trước khi cháu được khám. Hình như trước đó chẳng ai thèm hỏi thằng bé có đau ở đâu không.”
Enrique, người nhân viên xã hội mở miệng toan nói, nhưng một cái nhìn của ông da đen già hơn (Morris, tên ông ta chợt trở lại với tôi) đã làm ông ta ngậm miệng.
“Thế này nhé Theo,” anh chàng tên Ray nói và vỗ vào đầu gối tôi. “Chú biết là cháu muốn giúp các chú mà, cháu muốn giúp các chú, phải thế không?”
Tôi gật.
“Tốt lắm. Nhưng nếu các chú hỏi điều gì mà cháu không biết, thì cứ nói là cháu không biết, đừng sợ.”
“Các bác chỉ định đưa ra rất nhiều câu hỏi, xem có gợi lại được điều gì trong ký ức cháu không,” Morris nói. “Cháu thấy ổn chứ hả?”
“Cháu cần gì không?” Ray nói, mắt dõi vào tôi. “Uống nước nhé? Nước ngọt?”
Tôi lắc đầu - nước ngọt không được phép trong trường này - đúng lúc thầy Beeman nói, “Xin lỗi, nước ngọt không được phép uống trong trường này.”
Ray nhăn mặt vẻ thôi đi mà tôi không rõ thầy Beeman có thấy không. “Xin lỗi nhóc, chú cũng cố rồi,” anh ta nói khi quay lại phía tôi. “Để chú chạy ra ngoài quán mua cho cháu một lon nước ngọt sau, thế nhé? Giờ thì,” anh ta đập tay vào nhau. “Cháu nghĩ là mẹ con cháu đã vào bảo tàng được bao lâu trước vụ nổ đầu tiên?”
“Khoảng một giờ, chắc vậy ạ.”
“Chắc vậy hay chắc chắn vậy?”
“Chắc vậy.”
“Cháu nghĩ là hơn một giờ? Hay chưa tới một giờ?”
“Cháu không nghĩ là đã hơn một giờ,” ngừng một lúc thật lâu, tôi đáp.
“Cháu hãy mô tả mình còn nhớ gì về vụ việc.”
“Cháu không nhìn thấy gì,” tôi nói. “Tất cả đều đang bình thường thì bỗng chớp một cái rất lớn rồi ầm…”
“Chớp một cái rất lớn?”
“Ý cháu không phải thế. Cháu muốn nói là ầm một cái rất lớn.”
“Cháu nói là ‘ầm’,” người tên Morris bước tới trước, “Cháu có thể mô tả tường tận hơn một chút tiếng ầm ấy cụ thể nghe như thế nào không?”
“Cháu không biết nữa. Ầm... rất lớn thôi,” tôi nói thêm khi thấy họ vẫn nhìn mình như thể còn muốn chờ thêm gì nữa.
Trong khoảng im lặng tiếp theo, tôi nghe có tiếng píp píp lén lút: bà Barbour đang cúi đầu, giấu giếm đọc tin nhắn trên BlackBerry.
Morris hắng giọng. “Thế còn mùi?”
“Sao ạ?”
“Cháu có thấy mùi gì đặc biệt ngay trước đó không?”
“Cháu nghĩ là không.”
“Không có gì cả? Cháu chắc chứ?”
Trong lúc các câu hỏi cứ dội xuống - vẫn là những điều đó liên tục, xáo trộn đôi chút để làm tôi lẫn lộn, thỉnh thoảng lắm mới có câu mới đưa vào - tôi gồng mình, tuyệt vọng chờ tới cái lúc họ chuẩn bị đề cập tới bức tranh. Đơn giản là tôi sẽ phải thú nhận và gánh chịu hậu quả thôi, dù hậu quả có thế nào (hẳn là nặng, bởi tôi đã quá nửa đường làm một đứa cô nhi được bang bảo trợ). Có một hai lúc, nỗi kinh hoàng đã khiến tôi suýt phun ra. Nhưng càng nghe họ hỏi (tôi bị đập đầu ở đâu? Đã gặp hay nói chuyện với ai trên đường xuống?) tôi càng vỡ lẽ rằng họ chẳng biết mảy may tôi đã gặp phải chuyện gì - tôi ở phòng nào khi bom nổ, hay thậm chí đi lối nào ra khỏi đó.
Họ mang theo sơ đồ tầng nhà, các phòng đều đánh số chứ không có tên, Phòng 19A và Phòng 19B, các số và chữ sắp hàng như ma trận lên đến 27. “Có phải cháu ở đây khi đợt nổ thứ nhất bắt đầu không?” Ray hỏi, chỉ vào sơ đồ. “Hay là ở đây?”
“Cháu không biết.”
“Cứ thư thả.”
“Cháu không biết, tôi lặp lại có phần cuống quýt. Tờ bản đồ phòng trông rất rối loạn, kiểu kỹ thuật số, như trong trò chơi máy tính hay hình phục dựng boong ke của Hitler mà tôi đã xem trên kênh Lịch sử, và thật tình tôi chẳng hiểu chút gì, cũng không thể liên hệ với khung cảnh còn nhớ trong đầu.
Anh ta chỉ vào một điểm khác. “Thấy ô này không?” anh ta hỏi. “Đấy là một cái bệ trưng bày, trên có đặt tranh. Chú biết là phòng nào trông cũng giống phòng nào, nhưng có khi cháu nhớ được mình ở đâu so với nó?”
Tôi trân trân nhìn sơ đồ, không trả lời. (Một phần nguyên do trông nó xa lạ như vậy là vì đấy là khu vực tìm thấy thi thể mẹ, cách hàng mấy phòng từ nơi tôi đứng khi bom phát nổ, dù phải sau này tôi mới biết điều đó.)
“Cháu không gặp ai trên đường ra,” Morris khích lệ, nhắc lại điều tôi đã nói với họ.
Tôi lắc đầu.
“Không nhớ gì hết à?”
“À, thì có... người chết bị phủ kín. Đồ đạc khắp xung quanh.”
“Không ai đi vào hay ra khỏi khu vực nổ.”
“Cháu không thấy ai cả,” tôi bướng bỉnh nhắc lại. Câu này đã hỏi mấy lần.
“Vậy cháu không gặp lính cứu hỏa cũng như nhân viên cứu hộ.”
“Không.”
“Vậy thì chúng ta có thể kết luận rằng họ đã được lệnh rời khỏi tòa nhà khi cháu tỉnh lại. Tức là có một quãng thời gian trống chừng bốn mươi phút tới một tiếng rưỡi sau vụ nổ đầu tiên. Ước lượng như vậy có hợp lý không?”
Tôi nhún vai yếu ớt.
“Vậy là có hay không?”
Mắt dán xuống sàn. “Cháu không biết.”
“Cháu không biết cái gì?”
“Cháu không biết,” tôi nhắc lại, và khoảng im lặng tiếp theo dài và ức chế đến nỗi tôi tưởng mình sắp òa khóc.
“Cháu có nhớ mình nghe thấy vụ nổ thứ hai không?”
“Xin lỗi cho tôi hỏi,” thầy Beeman nói, “nhưng có nhất thiết phải thế không?”
Ray, người đang hỏi tôi, quay mình lại. “Xin lỗi?”
“Tôi không nghĩ là mình hiểu bắt cậu bé chịu đựng như thế nhằm mục đích gì.”
Lấy giọng hết sức khách quan, Morris đáp, “Chúng tôi đang điều tra một hiện trường tội phạm. Nhiệm vụ của chúng tôi là phải tìm hiểu xem cái gì đã xảy ra ở đó.”
“Phải, nhưng hẳn các anh phải có phương pháp khác cho những vấn đề quen thuộc như thế chứ. Tôi nghĩ họ phải có đủ kiểu máy quay an ninh trong đó mới phải.”
“Tất nhiên là có rồi,” Ray nói hơi gắt “Chỉ có điều máy quay không nhìn xuyên được khói và đất bụi. Hoặc máy quay có thể bị nổ tung chĩa lên trần nhà. Giờ thì,” anh ta nói và thở dài, thả mình trong ghế. “Cháu nói là có khói. Cháu ngửi thấy, hay nhìn thấy nó?”
Tôi gật.
“Ngửi? Hay nhìn?”
“Cả hai.”
“ Cháu nghĩ khói đến từ đâu?”
Tôi định đáp không biết lần nữa, nhưng thầy Beeman còn chưa nói xong ý mình. “Xin lỗi các vị chứ, nhưng tôi chẳng hiểu nổi máy quay an ninh để làm quái gì nếu lúc gặp việc không hoạt động được,” ông ta nói bâng quơ với cả phòng. “Công nghệ ngày nay, rồi còn bao nhiêu tác phẩm trong đó…”
Ray quay đầu như định quát lên, nhưng Morris đang đứng trong góc nhà đã giơ tay lên tiếng.
“Cậu bé, là một nhân chứng quan trọng. Hệ thống theo dõi không được chuẩn bị cho một tình huống như thế. Giờ thì tôi xin lỗi, nhưng nếu ông không thể ngưng phát biểu thì chúng tôi buộc phải mời ông rời khỏi đây.”
“Tôi có mặt để bảo vệ cho cậu bé. Tôi có quyền đặt câu hỏi.”
“Chỉ những câu hỏi liên quan trực tiếp đến quyền lợi của cậu bé mà thôi.”
“Thật kỳ, tôi lại thấy là có liên quan đấy.”
Đến lúc này thì Ray, trên chiếc ghế trước mặt tôi, quay người lại. “Thưa ông? Nếu ông cứ tiếp tục gây cản trở cho việc điều tra?” anh ta nói. “Thì ông sẽ phải rời khỏi phòng đấy.”
“Tôi không hề có ý định cản trở hai anh,” thầy Beeman nói trong khoảng im lặng ngột ngạt tiếp theo. “Tuyệt đối không có ý định đó, tôi cam đoan đấy. Xin mời các anh tiếp tục đi,” ông ta nói và bực bội phẩy tay. “Tôi mà lại muốn ngăn hai anh à.”
Cứ thế các câu hỏi dằng dai mãi. Khói bay đến từ phía nào? Ánh chớp có màu gì? Ai đi vào hoặc ra khỏi khu vực ấy ngay trước đó? Tôi có để ý thấy điều gì bất thường, hoặc bất cứ điều gì, trước hay sau đó không? Tôi nhìn những bức ảnh họ bày ra trước mặt: chỉ là những du khách vô tư, không có ai quen thuộc. Ảnh chân dung những khách du lịch châu Á, những ông bà già, những bà mẹ trẻ, những thiếu niên trứng cá, mỉm cười trên nền xanh: những bộ mặt thông thường, không có gì đáng nhớ, nhưng không hiểu sao đều bốc mùi bi thảm. Rồi chúng tôi trở lại với sơ đồ. Có lẽ tôi nên cố thử, một lần nữa thôi, xem có xác định được vị trí mình trên đó không? Ở đây, hay là đây? Còn đây thì sao?
“Cháu không nhớ.” Tôi cứ nói hoài nói, phần vì tôi cũng không rõ, phần vì tôi đang hoảng sợ chỉ mong cuộc đối thoại chóng kết thúc, nhưng còn vì bầu không khí trong phòng đã trở nên sốt ruột rõ rệt: đám người lớn còn lại dường như đã lặng lẽ đồng ý với nhau rằng tôi chẳng biết quái gì hết, tốt nhất là để tôi yên.
Và rồi khi chưa kịp nhận ra, tất cả đã kết thúc. “Theo,” Ray nói khi đứng dậy đặt bàn tay nung núc thịt lên vai tôi, “chú có lời cảm ơn cháu, cậu bé ạ, vì đã hết sức cộng tác với các chú.”
“Không có gì ạ,” tôi đáp, vẫn còn giật mình khi thấy chấm dứt lại đột ngột như thế.
“Chú hiểu rõ cháu thấy chuyện này khó khăn ra sao. Không ai, không có ai muốn trải qua lần nữa những chuyện như thế này hết. Chỉ là...” anh ta giơ hai bàn tay làm khung ảnh, “các chú đang thu thập từng mảnh một bức tranh xếp hình, cố gắng tìm hiểu xem cái gì đã xảy ra ở đó, và biết đâu cháu có vài mảnh trong tay, mà không ai khác có cả. Cháu đồng ý nói chuyện là đã giúp cho các chú nhiều lắm.”
“Nếu cháu còn nhớ lại gì nữa,” Morris nói và cúi người tới đưa tôi danh thiếp (đã bị bà Barbour cướp ngay lấy nhét vào ví bà), “thì cứ gọi cho các bác nhé, chịu không? Bà sẽ nhắc nhở cháu chứ, thưa bà,” ông ta nói với bà Barbour, “nói cháu gọi cho chúng tôi nếu còn nhớ ra gì khác? Số trụ sở viết ngay trên thiếp, nhưng...” ông ta rút bút trong túi, “bà không phiền cho tôi xin lại một phút chứ?”
Không nói một lời, bà Barbour mở túi, trao lại tấm thiếp cho ông ta.
“Rồi, rồi.” Ông ta bấm bút, viết loằng ngoằng một con số lên lưng thiếp. “Đấy là số di động của tôi. Cháu để lại lời nhắn ở trụ sở lúc nào cũng được, nhưng nếu không gặp bác ở đó, hãy gọi số di động, được chứ?”
Khi mọi người đang chen nhau ra lối cửa, bà Swanson lướt tới ôm chầm lấy tôi, vẻ thân mật như mọi khi. “Chào cháu,” bà nói, giọng tin cẩn, như thể bà là bạn thân nhất của tôi trên thế giới. “Tình hình sao rồi?”
Tôi nhìn đi chỗ khác, làm vẻ mặt cháu nghĩ là ổn thôi.
Bà ve vuốt tay tôi như ve vuốt con mèo cưng nhất. “Mừng cho cháu. Bà biết hẳn là khó chịu lắm. Cháu có muốn qua phòng bà vài phút không?”
Âu sầu, tôi nhận ra tay bác sĩ Dave đang lượn lờ đằng sau, sau nữa là Enrique đang chống tay lên hông, mặt thoáng nét cười chờ đợi.
“Xin bà,” tôi nói, và nỗi tuyệt vọng hẳn đã vang lên trong giọng tôi, “cháu chỉ muốn về lớp thôi.”
Bà bóp chặt tay tôi và - tôi thấy rõ - ném ánh mắt về phía Dave và Enrique. “Phải rồi,” bà nói. “Tiết này cháu học phòng nào? Bà đưa cháu tới đó.”
IX
TỚI LÚC ĐÓ ĐÃ LÀ GIỜ NGỮ VĂN, tiết cuối trong ngày. Chúng tôi đang học thơ Walt Whitman:
Thiên Vương sẽ hiện ra - hãy kiên nhẫn, trở lại đây đêm khác, Thất tinh sẽ hiện ra,
Chúng bất tử, mọi vì sao bạc sao vàng ấy sẽ đốt lên lần nữa.
Những bộ mặt vô cảm. Lớp học vào chiều muộn nóng và ủ rũ, cửa sổ mở toang, tiếng xe cộ từ dưới Đại lộ West End vẳng lên. Lũ học trò tì người trên khuỷu tay, vẽ bậy bên lề những quyển vở gáy xoắn.
Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ, ngó bồn nước cáu bụi trên mái nhà đối diện. Cuộc hỏi cung (theo cảm tưởng của tôi) đã khiến tôi chấn động ghê gớm, khuấy lên cả một tường thành những cảm giác rời rạc vẫn giáng xuống tôi vào những thời điểm bất chợt: cảm giác bỏng tức thở từ hóa chất và khói, tia lửa và dây thép, ánh trắng xóa rợn người từ những cây đèn ắc quy, ập đến khiến tôi hóa ra đờ đẫn. Chúng vẫn ào tới vào những lúc bất kỳ, ở trường hay trên phố: đông cứng tại chỗ khi cơn sóng lại táp lên tôi, đôi mắt cô bé hút lấy mắt tôi trong tích tắc lạ kỳ méo mó trước khi thế giới tan tành. Đôi khi tôi vụt tỉnh, không biết người ta vừa nói gì với mình, chỉ thấy bạn thí nghiệm trong giờ sinh học đang trố mắt nhìn, hay người bị tôi chắn đường trước tủ nước ngọt ướp lạnh trong chợ Hàn Quốc đang bảo ê nhóc, tránh ra, tao không có cả ngày đâu.
Vậy thì bé yêu ơi sao con thương tiếc mình Thiên Vương?
Sao con chỉ nghĩ về ngàn sao vùi chôn?
Trong số những bức ảnh họ cho xem tôi không nhận ra cô bé ở đâu, ông già cũng vậy. Lặng lẽ, tôi thò tay trái vào túi áo sờ tìm chiếc nhẫn. Trong bảng từ mới mấy hôm trước đã có thêm từ consanguinity: gắn bó qua dòng máu. Gương mặt ông già đã nát bấy tới mức tôi không còn biết đích xác trông ông thế nào, nhưng tôi vẫn nhớ rõ cảm giác trơn nhẫy âm ấm của máu ông trên tay tôi - nhất là vì gần như máu ấy vẫn còn đó, tôi vẫn ngửi thấy nó, nếm thấy trong miệng mình, và tôi đã hiểu vì sao lại nói huynh đệ cắt máu ăn thề, hay là máu khiến người ta khăng khít. Trong môn Ngữ văn chúng tôi đã học Macbeth ở học kỳ thu, nhưng phải đến giờ tôi mới bắt đầu hiểu sao phu nhân Macbeth chẳng thể kỳ cọ máu sạch khỏi tay, vì sao máu ấy vẫn còn lại dẫu bà ta gắng rửa.
X
Bởi có vẻ thỉnh thoảng tôi làm Andy thức giấc vì lăn lộn la thét trong khi ngủ, nên bà Barbour đã bắt đầu cho tôi uống một viên thuốc nhỏ màu xanh tên là Elavil, mà theo bà sẽ giúp tôi khỏi hoảng sợ trong đêm. Điều đó làm tôi khá xấu hổ, nhất là vì cũng chẳng phải ác mộng hẳn hoi mà chỉ là những khúc đoạn lo âu, thấy mẹ tan làm muộn nên bị lỡ xe về - đôi khi tít trên mạn bắc, một khu hoang tàn lửa thiêu nào đó giữa nghĩa địa xe hơi và lũ chó bị xích ở sân nhà sủa ông ổng. Phiền muộn, tôi tìm mẹ trong những thang máy chở hàng và những căn nhà bỏ không, chờ mẹ trong màn đêm nơi những trạm xe buýt lạ, chạy đuổi theo những phụ nữ trông nhang nhác mẹ hiện bên cửa sổ những toa tàu vụt qua, chậm một khắc nghe điện thoại khi mẹ gọi đến nhà Barbour tìm tôi - những nỗi thất vọng, những cú vồ hụt khiến tôi vật vã rồi choàng mở mắt, hít mạnh hơi, nôn nao vã mồ hôi trong ánh sáng ban ngày. Đáng ghét nhất không phải lúc đi tìm mẹ, mà là lúc tỉnh dậy, nhớ ra mẹ đã qua đời.
Nhờ mấy viên thuốc xanh mà ngay cả những giấc mơ kiểu đó cũng tan vào màn đêm ngạt khí. (Bây giờ tôi nhận ra điều mà lúc đó không để ý, rằng bà Barbour đã làm điều trái phép vì dám cho tôi thuốc ngoài luồng, thêm vào số con nhộng vàng và quả trám cam tí tẹo mà tay bác sĩ thần kinh Dave kê đơn cho tôi.) Khi giấc ngủ đến, tôi như lăn xuống hố đen, và thường thì sáng dậy rất khó mở mắt.
“Trà đen là thứ cháu cần,” một sáng ông Barbour nói khi thấy tôi lờ đờ gà gật trong bữa sáng, rồi rót cho tôi một tách từ ấm trà ủ kỹ của chính ông. “Assam thượng hạng. Đặc ngang với mẹ bác thường pha ngày xưa. Thuốc men sẽ được gột sạch khỏi máu cháu cho mà xem. Biết Judy Garland không? Mỗi lần sắp diễn? Bà của bác kể rằng Sid Luft suốt ngày gọi điện xuống nhà hàng Tàu, gọi một ấm trà thật lớn để gột sạch thuốc an thần trong máu bà ấy, bác nghĩ là ở London thì phải, rạp Palladium, chỉ có mỗi trà đen là hiệu quả, đôi khi người ta còn không đánh thức nổi bà ấy dậy, cháu tưởng tượng được không, nội việc lôi bà ấy khỏi giường và bắt mặc đồ diễn…”
“Không được để cháu nó uống thứ đó, cái đó không khác gì axit lỏng,” bà Barbour đáp khi thả hai viên đường và đổ một lượt kem lớn vào tách rồi mới trao cho tôi. “Theo, bác không muốn suốt ngày ta thán việc này; nhưng cháu phải ăn gì đi.”
“Vâng ạ,” tôi ngái ngủ đáp nhưng vẫn không làm động tác gì về phía cái bánh việt quất trước mặt. Đồ ăn trong miệng cảm giác như giấy bìa; hàng tuần rồi tôi không thấy đói.
“Hay cháu ăn bánh mì quế? Hoặc cháo yến mạch nhé?”
“Thật ngớ ngẩn là bố mẹ không cho chúng con uống cà phê,” Andy nói; cậu ta có thói quen tự mua một cốc Starbucks thật lớn trên đường đi học cũng như về nhà, ngày nào cũng vậy, mà hai bậc phụ huynh chẳng hề biết. “Đúng là đi sau thời đại kinh khủng khiếp.”
“Có thể,” bà Barbour lạnh lùng đáp.
“Nửa cốc cũng được rồi. Thật vô lý là mẹ lại muốn con đi học Hóa nâng cao lúc 8 giờ 45 phút sáng trong khi chả có tí caffein nào trong người cả.”
“Thương quá, thương quá,” ông Barbour nói mà không rời mắt khỏi tờ báo.
“Thực tế là, mẹ biết điều đó không đúng,” bà Barbour đáp. “Betsy Ingersoll bảo mẹ rằng…”
“Có thể bà Ingersoll không cho Sabine uống cà phê, nhưng một cốc cà phê thì chẳng đời nào giúp được Sabine Ingersoll chui vào bất kỳ lớp nâng cao nào cả.”
“Thật không cần thiết, Andy ạ, lại rất độc địa nữa.”
“Sự thật là thế mà,” Andy đáp đơn giản. “Sabine ngu như chuột ấy. Con nghĩ nó bảo vệ sức khỏe thì cũng đúng thôi, vì ngoài thứ đó ra nó chẳng có gì cả.”
“Thông minh không phải là tất cả, con yêu ạ. Cháu muốn ăn trứng không, để Etta nhúng một quả?” bà Barbour đã chuyển sang tôi. “Hay là trứng rán? Trứng bác? Cháu muốn gì cũng được.”
“Con thích trứng bác!” Toddy nói. “Con ăn bốn quả cũng được!”
“Không được đâu, nhóc à!” ông Barbour đáp.
“Được mà! Con ăn được sáu nữa cơ! Cả hộp con cũng ăn hết!”
“Đâu có phải là con đòi Dexedrine đâu,” Andy nói. “Mặc dù nếu muốn thì con kiếm ở trường dễ ợt.”
“Theo?” bà Barbour nhắc. Tôi nhận ra bà bếp Etta đang đứng chờ ở cửa “Ăn trứng nhé?”
“Chẳng có ai hỏi bọn con muốn ăn sáng cái gì cả,” Kitsey lèo nhèo, và mặc dù nó nói rất to nhưng cả phòng đều làm bộ không nghe thấy.
XI
MỘT SÁNG CHỦ NHẬT, tôi trồi lên được vào ánh sáng từ một giấc mơ nặng trĩu và phức tạp, không còn lưu giữ lại gì ngoài cảm giác ù ù trong tai và nỗi đau vì thứ gì đó đã vuột khỏi tay, rơi vào đáy vực khiến tôi không bao giờ còn gặp lại. Nhưng không hiểu sao, từ giữa cảm giác chìm nghỉm nặng nề ấy, những đầu mối đứt đoạn, những mảnh vỡ đánh mất không dò được ấy, lại có một câu nói nổi lên, lấp lánh trên nền đen như một dòng tin bò chậm chậm ngang qua bên dưới màn hình tivi: Hobart và Blackwell. Nhấn cái chuông xanh.
Tôi nằm im nhìn trần nhà, không muốn động đậy. Những tiếng ấy rõ ràng trong vắt cứ như có ai đó đã gõ ra mảnh giấy rồi trao cho tôi. Và tuyệt diệu nhất là, cả một mảng hồi ức lãng quên đã theo chúng mở ra, nổi lên bề mặt, như thể những viên giấy nhỏ mua ở Phố Tàu hễ thả vào cốc nước là nổ tung thành những đóa hoa.
Trôi nổi giữa cảm giác về một điều hết sức quan trọng, nỗi ngờ vực lại đến với tôi: đấy có phải ký ức thật chăng? ông đã thực sự nói với tôi như thế? hay chỉ là mơ? Ít lâu trước khi mẹ mất, có lần tôi tỉnh dậy mà tin chắc là một bà giáo tên là Malt (không tồn tại) đã bỏ vụn thủy tinh nghiền vào đồ ăn để phạt tôi tội vô kỷ luật - đấy là kết quả một chuỗi sự kiện cực kỳ logic trong thế giới giấc mơ - và tôi đã nằm sợ hãi suốt mấy phút trước khi tỉnh hẳn.
“Andy?” Tôi hỏi, rồi nhoài người nhìn xuống tầng giường dưới không có ai.
Nằm chong chong mất một lúc, vẫn nhìn trần nhà, tôi trèo xuống lôi cái nhẫn ra từ trong túi áo khoác đồng phục, giơ lên nhìn dòng chữ khắc dưới ánh sáng. Rồi thật nhanh, tôi cất nó đi rồi mặc đồ. Andy đã dậy cùng với mọi người nhà Barbour, đang ăn sáng - bữa sáng Chủ nhật rất được coi trọng ở nhà này, tôi đã nghe thấy cả nhà trong phòng ăn, ông Barbour đang nói gì đó rất dài và không rõ như thường lệ, ông ưa tràng giang đại hải về một vấn đề. Nấn ná ở hành lang một chút, tôi rẽ hướng ngược lại đi về phòng chung, lấy ra cuốn Trang Trắng bọc bìa thêu mũi nhỏ từ trong chiếc tủ nhỏ đặt điện thoại.
Hobart và Blackwell. Tìm thấy rồi - đấy rõ rệt là một nơi kinh doanh, dù ở đây không nói là kinh doanh thứ gì. Tôi thấy hơi chóng mặt. Dòng chữ giấy trắng mực đen khiến tôi phấn khích lạ lùng, như thấy những mảnh ghép vô hình rơi vào chỗ.
Địa chỉ ghi ở Làng Greenwich, Phố 10 Tây. Băn khoăn một lúc, lo ngại rất nhiều, tôi cũng bấm số điện thoại.
Trong lúc đợi chuông reo, tôi nghịch cái đồng hồ xách tay bằng đồng trên bàn trong phòng, cắn môi dưới, nhìn những tấm tranh lồng khung vẽ các loài chim nước trên bàn điện thoại: Nhàn đầu xám, Cốc bút lông, Ó cá, Gà nước Ấn. Tôi chưa nghĩ ra sẽ giải thích mình là ai hay hỏi thông tin cần biết bằng cách nào.
“Theo?”
Tôi giật bắn mình như bị bắt quả tang. Bà Barbour mặc áo len cashmere màu tơ nhện xám vừa ghé vào, tay cầm cốc cà phê.
“Cháu làm gì thế?”
Đầu dây bên kia vẫn đổ chuông. “Không có gì ạ,” tôi đáp.
“Nhanh lên. Đĩa của cháu sắp nguội rồi. Etta làm bánh mì nướng kiểu Pháp.”
“Cảm ơn bác,” tôi nói, “cháu đến ngay,” giữa khi giọng nói ghi âm của công ty điện thoại yêu cầu quý khách hãy gọi lại sau.
Tôi đi tới chiếc bàn giữa nhà Barbour mà vẫn nghĩ về chuyện đó - cứ hy vọng ít ra cũng gặp máy trả lời tự động - và sửng sốt làm sao, ở ghế của tôi mọi khi không ai khác mà chính Platt Barbour đang ngồi (bự con hơn và đỏ mày say mặt hơn nhiều so với lần cuối cùng tôi gặp).
“À,” ông Barbour ngắt giữa câu nói dở, lấy khăn ăn chấm môi rồi đứng bật dậy, “đây rồi, đây rồi. Chào buổi sáng. Cháu còn nhớ Platt chứ? Platt, đây là Theodore Decker - bạn của Andy, con nhớ không?” Trong lúc nói, ông đã rời khỏi phòng đi lấy thêm một ghế nữa, rồi nhét vào cho tôi rất vụng về ở góc bàn.
Khi tôi ngồi xuống chầu rìa cả nhóm - thấp hơn tất cả đến chục phân, ngồi trong cái ghế tre lỏng không không hợp bộ - Platt nhìn trả tôi thờ ơ, rồi ngó sang chỗ khác. Anh ta từ trường về nhà để dự tiệc, trông có vẻ còn đang say rượu.
Ông Barbour đã ngồi lại chỗ, tiếp tục chủ đề yêu thích của mình: đi tàu. “Bố đang nói dở. Tất cả là do thiếu tự tin. Con không tin vào mình khi lên tàu đáy bằng, Andy à,” ông tiếp, “và chẳng có lý do gì phải như thế cả, chỉ là do con thiếu kinh nghiệm điều khiển tàu một mình mà thôi.”
“Không hề,” Andy đáp bằng giọng xa vắng mọi khi. “Vấn đề cốt yếu là ở chỗ con ghét đi tàu.”
“Vớ vẩn nào,” ông Barbour đáp và nháy mắt với tôi như một kẻ đồng lõa, dù tôi không hiểu câu đùa. “Bố không chấp nhận cái lối lờ đờ nước hến ấy đâu! Hãy nhìn bức ảnh trên tường trong phòng chụp ở Sanibel mùa xuân hai năm trước kìa! Cậu bé ấy đâu hề chán ghét biển, bầu trời và những vì sao, không đời nào.”
Andy ngồi yên ngắm cảnh trời tuyết trên bình xi rô lá phong, còn ông bố thao thao bất tuyệt một cách vòng vèo khó theo dõi về tác dụng của đi tàu với việc rèn luyện tính kỷ luật và phản xạ ở đàn ông con trai, cùng đức tính kiên cường như những nhà hàng hải thời cổ. Như Andy đã kể với tôi, mấy năm trước nó chẳng phản đối lên tàu lắm vì hồi ấy còn được ở yên trong cabin đọc sách, chơi cờ với hai đứa em. Nhưng giờ thì nó đã đủ tuổi giúp chạy việc rồi, nghĩa là sẽ phải dành nhiều ngày dài căng thẳng hứng nắng và lao khổ trên boong, bên gã Platt chỉ thích bóp mũi thằng em: hụp người luồn dưới sào buồm, lao đao không xác định được phương hướng, khó lắm mới khỏi vướng phải dây nhợ hoặc lao đầu qua thành tàu trong khi ông bố quát thét ra lệnh và sung sướng tắm trong hơi nước mặn.
“Chà, nhớ ánh sáng cái đợt đi Sanibel ấy chứ?” Bố Andy ngả người ra ghế, đảo mắt nhìn trần nhà. “Có diệu kỳ không nào? Hoàng hôn đỏ ối rực rỡ? Lửa và than? Không khác gì bom nguyên tử? Lửa thuần khiết xé toang rồi đổ ập xuống từ trên trời? Nhớ mặt trăng tròn mê tơi nằm giữa một quầng sương mù lam không, ở gần Hatteras ấy - có phải y như Maxfield Parrish không nhỉ, Samantha?”
“Mình nói gì kia?”
“Maxfield Parrish[43]? Ông họa sĩ tôi vẫn thích ấy? Hay vẽ bầu trời lồng lộng, mình biết mà...” - Ông dang rộng hai tay - “có những cột mây lừng lững ấy? Xin lỗi Theo, không cố ý làm cháu dập mũi.”
“Constable[44] mới vẽ mây.”
“Không, ý tôi không nói ông đó, ông này làm người ta mê đắm hơn nhiều. Dù sao thì - bố xin thề, cái bầu trời đêm ngoài biển hôm ấy mới kỳ tuyệt làm sao. Thật ma thuật. Thật thần tiên.”
“Đêm nào cơ?”
“Đừng có nói là con không nhớ chứ! Đấy là kỷ niệm đáng nhớ nhất cả chuyến đi!”
Platt đã rụt người lại trong ghế, cất giọng tai nghiệt: “Kỷ niệm đáng nhớ nhất cả chuyến đi với Andy là khi chúng ta dừng lại ăn trưa ở quán ăn vặt.”
Andy nói lí nhí, “Mẹ cũng không thích đi tàu.”
“Không thích phát cuồng như bố,” bà Barbour với lấy một quả dâu nữa. “Theo, bác mong ít nhất cháu cũng ăn một miếng nhỏ. Cháu không thể nhịn đói mãi thế được. Trông cháu gầy vêu vao rồi.”
Mặc cho những bài giảng ứng tác về cờ hiệu trong văn phòng ông Barbour, tôi cũng chẳng lấy làm hào hứng với chủ đề này lắm. “Bởi món quà lớn nhất mà ông từng tặng bố là gì biết không?” ông Barbour vẫn đang say sưa nói. “Đấy là biển. Tình yêu biển cả - cảm xúc nơi biển cả. Ông đã tặng đại dương cho bố. Và đúng là một tổn thất đau buồn với con, Andy à - Andy, nhìn bố đây này, bố đang nói với con đấy - một tổn thất to lớn nếu con đã quyết định chối từ chính thứ đã mang lại cho bố tự do và...”
“Con đã cố thích nó rồi. Nhưng con ghét nó từ trong bản chất.”
“Ghét?” Kinh ngạc - sững sờ. “Ghét cái gì? Ghét sao và gió ư? Ghét trời và biển ư? Ghét cảm giác tự do ư?”
“Nếu tất cả những thứ đó liên quan đến đi tàu - con ghét ”
“Ồ...” - nhìn quanh bàn, ánh mắt cầu khẩn đến cả tôi - “giờ thì nó đúng là cứng đầu cứng cổ thôi. Biển…” - lại với Andy - “con muốn xua đuổi thế nào cũng được, nhưng đấy là quyền bẩm sinh của con, nó nằm trong máu con, từ tận thời người Phoenicia, từ dân Hy Lạp cổ đại...”
Nhưng trong lúc ông Barbour tiếp tục tràng giang về Magellan cùng xác định phương hướng nhờ thiên văn và Billy Budd (“Ta nhớ Taff xứ Wales khi chìm xuống / Sắc ửng hồng điểm phớt má chàng”), những ý nghĩ của tôi lại trở về với Hobart và Blackwell: họ là ai, đích xác ra thì họ làm gì? Hai cái tên nghe như một cặp trạng sư già mốc meo, hoặc có khi là nhà ảo thuật cũng nên, hai kẻ đồng sự lần mò trong bóng tối chỉ thắp nến.
Có vẻ là dấu hiệu khả quan khi số điện thoại ấy vẫn đang hoạt động. Điện thoại nhà tôi thì đã ngắt rồi. Ngay khi tìm được cớ chuồn êm khỏi bàn ăn sáng cùng đĩa thức ăn chưa đụng đến, tôi quay lại bên điện thoại, Irenka đang loay hoay khắp phòng để hút bụi và lau phủi đủ thứ đồ bày xung quanh, còn Kitsey ngồi máy tính ở đầu kia phòng, nhất quyết không chịu dù chỉ nhìn về phía tôi.
“Cậu gọi ai thế?” Andy hỏi - giống như cả gia đình, cậu ta có lối đi lặng lẽ đến nỗi đã tới đằng sau mà tôi không nhận ra.
Tôi chắc đã chẳng kể ra điều gì nếu không biết cậu ta rất giỏi giữ miệng. Andy chẳng bao giờ nói gì với ai, với bố mẹ lại càng không.
“Có mấy người này,” tôi nói thật khẽ, thậm chí còn đứng lùi lại một chút để ngoài cửa không thể thấy tôi. “Tớ biết là nghe kỳ lắm. Nhưng cậu có nhớ cái nhẫn của tớ không?”
Tôi kể về ông già, và đang cố nghĩ cách kể về cả cô bé, về mối liên hệ tôi đã cảm thấy giữa tôi với cô và khát khao muốn gặp lại cô. Nhưng Andy, theo đúng kiểu cậu ta, đã vượt lên trước, bỏ qua khía cạnh cá nhân để đi đến phương án tổ chức của sự việc. Cậu ta ngó cuốn Trang Trắng đang để mở trên bàn điện thoại. “Họ ở trong thành phố à?”
“Phố 10 Tây.”
Andy hắt hơi rồi hỉ mũi; chứng dị ứng theo mùa đang hành hạ cậu khổ sở. “Nếu không gọi được,” cậu ta nói sau khi gập khăn cất lại vào túi, “thì cậu đến đấy thử xem?”
“Được à?” tôi hỏi. Không gọi mà đến có vẻ đáng ngờ thế nào ấy. “Cậu nghĩ là được không?”
“Tớ thì sẽ làm thế.”
“Không biết nữa,” tôi đáp. “Có thể họ không nhớ tớ.”
“Nếu nhìn thấy cậu tận mắt họ sẽ dễ nhớ ra hơn,” Andy nói rất có lý. “Nếu không, ai biết được cậu là thằng thần kinh nào gọi đến giả vờ này nọ. Đừng lo,” cậu ta nói tiếp và ngoái nhìn sau lưng, “nếu cậu không muốn thì tớ không kể cho ai đâu.”
“Thằng thần kinh à?” tôi hỏi. “Giả vờ gì cơ?”
“Ờ, ý tớ là, có ối loại người kỳ cục gọi đến đây đòi gặp cậu,” Andy thờ ơ đáp.
Tôi im lặng, không biết nên phản ứng lại thế nào.
“Hơn nữa họ không chịu bắt máy mà, cậu còn định làm gì nữa đây? Cậu không còn cơ hội nào đến đó trước cuối tuần sau nữa đâu. Hơn nữa, thực sự cậu muốn nói chuyện này à...” - cậu ta liếc mắt dọc hành lang, Toddy đang nhảy nhót trong đôi giày mới có lò xo, còn bà Barbour đang tra hỏi Platt về vụ tiệc tùng ở nhà Molly Waterbeek.
Cậu ta có lý. “Phải,” tôi đáp.
Andy đẩy kính dọc sống mũi. “Nếu cậu muốn tớ sẽ đi cùng.”
“Không cần, không sao đâu,” tôi đáp. Tôi biết là chiều hôm ấy Andy có tiết Thực hành tiếng Nhật để lấy điểm thưởng, đầu tiên là học nhóm ở trà quán Toraya, rồi đi xem bộ phim mới của Miyazaki ở Trung tâm Lincoln; Andy thì không cần điểm thưởng rồi, nhưng đi ngoại khóa cùng lớp hầu như là dạng giao tiếp xã hội duy nhất cậu ta có.
“Ờ, này,” cậu ta mò trong túi lấy ra cái di động. “Cầm đi. Để phòng thôi. Đợi tí…” - cậu ta đang bấm trên màn hình - “tớ bỏ mật khẩu rồi đấy. Thoải mái rồi.”
“Tớ không cần đâu,” tôi đáp, nhìn cái điện thoại nhỏ hào nhoáng có màn hình chờ là Aki, cô gái ảo từ anime (ở trần và đi bốt cao ngang đùi rất sẹc xi).
“Có thể cần thì sao. Biết đâu được. Nhận đi,” cậu ta thêm khi thấy tôi ngần ngại. “Cầm lấy.”
XII
VÀ THẾ LÀ QUÃNG 11 GIỜ 30, tôi đã trên xe buýt Đại lộ 5 đi tới Làng Greenwich, địa chỉ của Hobart và Blackwell bỏ trong túi, viết trên tờ giấy xé từ quyển sổ in tên đặt bên điện thoại của bà Barbour.
Xuống xe ở Quảng trường Washington, tôi đi loanh quanh tìm địa chỉ đó phải đến bốn mươi lăm phút. Greenwich với bố cục lộn xộn (những khối nhà hình tam giác, những ngõ cụt rẽ xiên xẹo chỗ nọ chỗ kia) thật rất dễ đi lạc, có đến ba lần tôi phải dừng hỏi đường: vào một hiệu báo toàn boong[45] và tạp chí khiêu dâm đồng tính nam, vào một hàng bánh đông đúc bật nhạc opera oang oang, chặn đường một cô gái mặc áo lót trắng và quần yếm đang lau rửa mặt ngoài cửa kính một cửa hàng sách bằng chổi lăn và xô.
Khi rốt cuộc cũng tìm ra Phố 10 Tây (vắng tanh), tôi đi dọc phố và đếm số nhà. Bên này chủ yếu là nhà dân ở, một khu trông có vẻ hơi nhếch nhác. Trước mặt tôi, một bầy bồ câu đang khệnh khạng bước trên vỉa hè ướt, ba con đi song song như những khách bộ hành quan dạng nhỏ con. Nhiều nhà biển số không rõ, và đúng lúc tôi đang nghĩ hay là đi qua rồi, liệu có phải lộn lại không, thì ngay trước mặt tôi đã là dòng chữ Hobart và Blackwell sơn trên một vòm cong gọn gàng kiểu cổ trên cửa sổ cửa hiệu. Bên trong lớp kính bụi bặm, tôi thấy những con chó sục lai bò Staffordshire và mèo bằng sành, đồ pha lê bám bụi, đồ bạc đã xỉn, ghế và đi-văng cổ, đệm ngồi thêu kim tuyến cũ ngả vàng, một cái lồng chim sứ men vẽ tinh xảo, những bia cột hoa cương nhỏ xíu đặt trên bàn tròn một chân mặt ốp hoa cương, một cặp vẹt mào bằng thạch cao tuyết hoa. Chính là kiểu cửa hàng mẹ sẽ thích: chặt như nêm, hơi tồi tàn, sàn để đầy những chồng sách cũ. Nhưng cổng đã đóng, rõ ràng là không mở cửa.
Phần lớn các cửa hàng phải đợi đến trưa hay một giờ chiều mới mở. Để giết thời gian tôi đi qua Phố Greenwich, vào quán Elephant and Castle nơi mẹ con tôi thỉnh thoảng ăn mỗi lần xuống trung tâm.
Nhưng ngay khi bước vào tôi đã nhận ra đây là một sai lầm. Những tượng voi sứ không cùng bộ, và ngay cả cô hầu bàn tóc đuôi ngựa mặc áo phồng đen đang mỉm cười tiến lại gần tôi: thật quá sức chịu đựng, tôi còn thấy cả cái bàn trong góc mẹ con tôi đã ngồi ăn lần cuối cùng đến đây, tôi đành lắp bắp kiếu từ và chạy ra cửa.
Tôi đứng trên vỉa hè, tim đập thình thịch. Đám bồ câu bay là là trên bầu trời màu tro. Đại lộ Greenwich gần như không người, chỉ có một cặp nam mắt đỏ quạch trông như vừa thức cãi nhau suốt đêm, một bà tóc không chải mặc áo len cổ lọ quá cỡ dắt con chó lạp xưởng đi về hướng Đại lộ 6. Đứng ở Làng Greenwich một mình cảm giác thật lạ, vì đây không phải nơi có nhiều trẻ con chạy chơi ngoài đường sáng cuối tuần; nơi này có vẻ dành cho người lớn, sành đời, rượu chè nữa là khác. Ai cũng có vẻ còn chưa tỉnh cơn say, hoặc như vừa mới rời giường ngủ.
Vì chẳng thấy nơi nào mở cửa, và cũng vì hơi lạc lối không biết phải làm gì khác, tôi lại trở về gần chỗ Hobart và Blackwell. Từ trên bắc xuống đây, tôi thấy ở Greenwich cái gì cũng nhỏ nhỏ cũ cũ, dây thường xuân và nho chạy khắp các mặt tiền nhà, rau thơm và cà chua trồng ngay trong thùng trên hè phố. Cả những quán bar cũng treo biển vẽ tay, như những quán rượu nông thôn: ngựa, mèo đực, gà trống, ngỗng, lợn. Nhưng cảm giác gần gũi và bé nhỏ từ họ cũng làm tôi nhận rõ thêm cảm giác về sự ngoài cuộc của mình, và tôi hối hả chạy qua những cánh cửa nhỏ mời mọc, đầu cúi xuống, càng ý thức rõ hơn bao giờ hết những cuộc sống sáng Chủ nhật tươi mởn đang bí mật diễn ra xung quanh.
Cổng bên Hobart và Blackwell vẫn đóng. Tôi có cảm giác nơi này đã không mở cửa khá lâu rồi; trông có vẻ lạnh lẽo tối tăm quá, không thấy có sức sống thầm lặng bên trong nào giống như những cửa hiệu khác trên phố.
Đang nhìn vào cửa sổ nghĩ xem nên làm gì thì thình lình tôi thấy có chuyển động bên trong, một cái bóng lớn lướt qua đằng sâu trong cửa hàng. Tôi đứng sững, im phắc. Cái bóng di chuyển nhẹ tênh như người, ta vẫn nói ma thường đi lại, không nhìn sang hai bên, đi rất nhanh qua một cánh cửa lặn vào bóng tối.
Rồi nó biến mất. Tay áp lên trán, tôi ngó vào bề sâu chật chội đen ngòm của căn phòng, rồi gõ lên mặt kính.
Hobart và Blackwell. Nhấn cái chuông xanh.
Chuông à? Đâu có chuông nào, lối vào cửa hàng chỉ thấy cánh cổng sắt lớn. Tôi đi sang nhà bên cạnh - nhà số 12, một căn chung cư nhỏ - rồi quay lại nhà số 8, xây bằng đá nâu. Có một cầu thang hiên dẫn lên tầng hai, nhưng lần này tôi nhận ra một thứ lúc trước không thấy: một cánh cửa hẹp lẩn vào khoảng giữa số 8 và số 10, gần như khuất sau một lô thùng rác bằng thiếc kiểu cũ. Bốn năm bậc thang dẫn xuống một cánh cửa không mấy đặc biệt, thấp hơn hè đường chừng một mét. Không có biển hay bảng gì, nhưng đập vào mắt tôi là một vệt sáng màu xanh rêu: một mảnh băng dính điện màu xanh dán dưới cái chuông trên tường.
Tôi đi xuống thang và nhấn chuông, nhấn mãi, rùng mình trước tiếng reo điên dại bên trong (khiến tôi chỉ chực bỏ chạy) và hít mấy hơi dài cho thêm phần can đảm. Rồi, đột ngột đến làm tôi giật bắn, cửa mở ra, và trước mặt tôi là một người to lớn hoàn toàn không trông đợi.
Ông ta có lẽ phải cao đến mét chín là ít: hoang dại, đậm người, cái cằm chẻ quý tộc, dáng vẻ có gì đó gợi đến những tấm ảnh cổ chụp các nhà thơ Ireland và võ sĩ quyền Anh treo trong quán bia khu giữa thành phố nơi bố tôi hay đến uống. Tóc ông đã ngả bạc gần hết, lâu rồi chưa cắt, da trắng bệch bệnh hoạn, quanh mắt có những quầng thâm lớn đến nỗi trông như mũi ông bị dập. Khoác ngoài quần áo thường là một chiếc áo choàng họa tiết cánh hoa vương giả có ve áo sa-tanh, rủ xuống gần tận mắt cá chân và phất quanh ông như phục trang của vai nam chính trong một cuốn phim thập niên 1930 nào đó: cũ kỹ nhưng vẫn còn choáng ngợp.
Tôi ngạc nhiên đến mức không thốt nổi nên lời. Điệu bộ ông không hề tỏ ra sốt ruột mà ngược lại. Ông chỉ im lặng nhìn tôi dưới đôi mí sụp, đợi tôi lên tiếng.
“Cháu xin lỗi...” Tôi nuốt nước bọt nhưng cổ họng khô khốc. "Cháu không có ý làm phiền…”
Ông ta khẽ chớp mắt trong cái im lặng tiếp theo, như thể tất nhiên, ông hiểu cả, ông không hề tưởng đến chuyện đó.
Tôi lần tìm trong túi, rồi giơ cái nhẫn cho ông xem, đặt trên lòng bàn tay để mở. Khuôn mặt lớn nhợt nhạt giãn ra. Ông ta nhìn cái nhẫn rồi lại nhìn tôi.
“Cậu lấy ở đâu?” Ông ta hỏi.
“Ông ấy đưa cháu,” tôi nói. “Ông ấy bảo cháu mang đến đây.”
Ông ta cứ đứng đó nhìn tôi, rất kỹ. Trong một giây tôi đã tưởng ông định bảo không hiểu tôi đang nói chuyện gì. Rồi không nói một lời, ông lùi lại, mở cửa.
“Tôi là Hobie,” ông nói khi thấy tôi ngần ngại. “Vào đi.”