CẢ MỘT RỪNG DÁT VÀNG đông đúc láo nháo lóe lên trong luồng sáng chiếu xiên qua những ô cửa bụi xù: những thần tình yêu dát vàng, những tủ com mốt và chúc đài dát vàng, và lẩn bên dưới mùi gỗ cũ, có mùi dầu nhựa thông, sơn dầu và véc-ni hăng hăng. Tôi đi theo người kia qua xưởng theo lối đi quét sạch giữa đám mùn cưa, qua những bảng treo đồ và đủ thứ dụng cụ, những chiếc ghế bị tháo tung, những chiếc bàn úp ngược huơ chân móng trên không. Rất to con, nhưng ông có dáng đi rất thanh thoát, “như trôi” theo cách mẹ thường nhận xét, di chuyển như đang lướt đi êm ru. Mắt dán vào đôi gót chân xỏ dép lê của ông, tôi đi theo ông lên một đợt cầu thang hẹp, vào căn phòng mờ tối trải thảm dày, có những bình tro đen đặt trên bệ và màn tua rua kéo lại ngăn ánh mặt trời.
Cảnh im lặng làm tim tôi chùng xuống. Hoa đã héo, rữa ra trong các bình lọ Trung Hoa khổng lồ, cảm giác nặng nề ngột ngạt đè trĩu căn phòng: không khí có mùi chua ôi đến không thở nổi, đích xác là cảm giác ngạt thở trong căn hộ nhà tôi khi bà Barbour đưa tôi về lại Sutton Place lấy mấy thứ đồ dùng. Cái lặng lẽ ấy tôi quá biết: đấy là ngôi nhà khép mình lại khi có ai đó qua đời.
Ngay lập tức tôi ước giá gì mình không đến. Nhưng người kia - Hobie - xem chừng cảm thấy nỗi nghi hoặc trong lòng tôi, ông ta vẫn mang gương mặt có dáng dấp trẻ thơ: đôi mắt màu xanh ngây thơ rất trong trẻo và thảng thốt.
“Sao thế?” Ông hỏi, rồi thì: “Cháu có sao không?”
Sự quan tâm ấy làm tôi xấu hổ. Tôi lúng túng đứng trong cảnh tối ám đặc quánh, giữa một rừng cổ vật, không biết nên nói gì.
Có vẻ ông ta cũng không biết nên nói gì: ông mở miệng rồi lại ngậm miệng, rồi lắc đầu như để suy nghĩ cho rõ hơn. Ông ta chừng năm mươi, sáu mươi tuổi, râu không cạo, khuôn mặt hiền dịu và rụt rè với những nét rõ ràng, không thể gọi là điển trai mà cũng không xấu - người này hầu như ở đâu cũng sẽ là người to con nhất phòng, dù ông cũng có vẻ bệnh tật, có vẻ dấp dính khó gọi tên nào đấy, với cặp mắt quầng thâm và nước da tái nhợt khiến tôi nhớ đến những nhà tử đạo dòng Tên nhìn thấy trong các bích họa nhà thờ khi trường tổ chức cho học sinh tới Montreal: những người châu Âu lớn xác, giỏi giắn, trắng nhợt như xác chết, bị trói chân tay hay buộc vào cọc trong các trại của người bộ tộc Huron.
“Xin lỗi nhé, tôi đang hơi bấn...” Ông ta nhìn quanh, dáng vẻ lo lắng nhưng lãng đãng không xác định, như mẹ vẫn hay nhìn khi không tìm thấy thứ gì. Giọng ông thô nhưng có vẻ được học hành, giống thấy O’Shea dạy Sử sinh ra lớn lên ở một quận chợ trời Boston nhưng lại đi học Harvard.
“Cháu quay lại sau cũng được. Nếu như thế tốt hơn.”
Đến đây ông ta liếc nhìn tôi hơi hoảng hốt, “Không, không.”, ông nói - khuy tay áo đứt, ống tay dính bẩn lật phật quanh cổ tay - “cho tôi một phút bình tĩnh đã, xin lỗi cháu - đây rồi.” ông lơ đãng nổi và quệt mớ tóc xám vướng trên mặt, “tìm thấy rồi.”
Ông ta dẫn tôi ra cái xô pha tay cuốn hẹp, có vẻ cứng, lưng chạm trổ. Nhưng trên đó đã vứt đấy các loại gối chăn, và hình như cả hai chúng tôi đã nhận ra cùng một lúc rằng ngồi giữa đống đồ đạc này rất thiếu thoải mái.
“À, xin lỗi!” ông lẩm bẩm và lùi lại nhanh đến nỗỉ suýt đâm sầm vào tôi, “tôi đã dọn lên đây rồi, như cháu thấy đấy, không phải là giải pháp tốt lành gì cho cam nhưng phải đành thôi vì tôi không nghe được rõ với bao nhiêu chuyện như vậy... ”
Quay ngoắt đi (khiến tôi không nghe hết câu nói dở), ông bước vòng qua một cuốn sách đáng úp mặt xuống thảm cùng một chén trà còn rõ vành nước nâu trong lòng chén, dẫn tôi sang một cái ghế bành khác rất cầu kỳ, có đệm, khâu chần và dún, có cả diềm phủ và mặt ghế may nút rất phức tạp - ghế bành kiểu Thổ, như sau này tôi học được; ông là một trong số ít người ở New York còn biết cách làm đệm cho loại ghế này.
Tượng đồng có cánh, hộp trang sức bạc. Lông đà điểu xám bết bụi cắm trong bình bạc. Tôi băn khoăn ngồi ghé xuống mép ghế, nhìn quanh. Tôi muốn đứng hơn, như thế sẽ dễ bỏ đi hơn.
Ông cúi người tới trước, hai tay đan vào nhau bỏ trong lòng. Nhưng không nói gì mà chỉ nhìn tôi chờ đợi.
“Cháu là Theo.” tôi hối hả nói sau khi thấy đã im lặng quá lâu. Mặt tôi đỏ bừng, cảm giác sắp bốc hỏa. “Theodore Decker. Mọi người gọi cháu là Theo. Cháu sống trên kia” tôi ngờ vực nói thêm.
“Ờ, tôi là James Hobart, nhưng mọi người đều gọi tôi là Hobie.” Ánh mắt ông rất trống trải và thành thực “Tôi sống dưới này.”
Tôi không biết nói gì, nhìn đi chỗ khác, không hiểu có phải ông đang đùa không.
“Xin lỗi.” Ông nhắm mắt một lúc, rồi lại mở. “Bỏ quá cho tôi. Mồ ma Welty... ” - ông nhìn xuống cái nhẫn trong tay - “là người đồng sự của tôi.”
Mồ ma ư? Cái đồng hồ mặt trăng - đung đưa đủ bộ bánh răng, dây xích, quả lắc, một cỗ máy đúng kiểu “Thuyền trưởng Nemo” - kêu rừ rừ rỗ to trong cảnh im lặng rồi gõ chuông điểm phút thứ mười lăm.
“Ôi!” tôi thốt lên. “Cháu chỉ... Cháu tưởng...”
“Không. Tôi xin lỗi. cháu chưa biết à?” Ông nói thêm, nhìn kỹ tôi.
Tôi nhìn chỗ khác. Tôi không ngờ mình đã mong gặp lại ông già đến mức ấy. Dù tôi đã thấy - đã biết như vậy - không hiếu sao trong lòng tôi vẫn ấp ủ nỗi hy vọng thơ trẻ rằng ông đã qua khỏi một cách thần kỳ, như là nạn nhân án mạng trên phim, sau quảng cáo lại hóa ra vẫn còn sống nguyên, đang lặng lẽ dưỡng thương trong bệnh viện.
“Thế làm sao cháu lại có thứ này?”
“Gì ạ?” Tôi giật mình đáp. Tôi vừa nhận rằng cái đồng hồ chỉ sai giờ: dù là mười giờ sáng hay mười giờ tối, thì cũng cách quá xa giờ đúng,.
“Cháu bảo là ông ấy đưa cho cháu à?”
Tôi ngọ nguậy trên ghế. “Vâng. Cháu…” Nỗi kinh động từ cái chết của ông cứ như vừa giáng xuống, như thể tôi đã lại phụ lòng ông lần nữa, và tất cả diễn ra lại từ đầu, từ một góc độ khác.
“Ông vẫn còn tỉnh à ? Ông đã nói chuyện với cháu?”
“Vâng”, tôi mở đầu, rồi lại im. Thôi thấy thật khổ sở. Ở trong thế giới của ông già, giữa những đồ vật của ông, đã khiến cảm giác về ông trở lại thật mạnh mẽ: khung cảnh mơ ảo như dưới nước trong căn phòng, những lớp nhung màu đỏ đục, cảm giác phóng túc, cái lặng lờ.
“Tôi thật mừng là ông không ở một mình” Hobie nói. “Nếu không ông sẽ buồn lắm.” Cái nhẫn nằm gọn trong bàn tay nắm chặt, ông đưa tay lên miệng và nhìn tôi.
“Ôi trời. Cháu chỉ là một cậu nhóc con thôi mà, phải không?” Ông ta nói.
Tôi mỉm cười gượng gạo, không biết nên đáp lại thế nào.
“Xin lỗi” ông nói bằng giọng khách quan hơn, tôi hiểu đấy là để trấn an tôi. “Chẳng qua là... Tôi biết là phải tệ lắm. Tôi có thấy. Thi thể ông…” - ông ta có vẻ khó khăn lắm mới tìm được từ - “trước khi gọi vào, người ta đã lau rửa hết sức và đã nói trước là sẽ không dễ dàng đâu, tất nhiên ta biết vậy nhưng... Không có cách nào chuẩn bị tinh thần chứng kiến một thứ như thế. Chúng tôi có nhập về một lô ảnh cùa Mathew Brady[46] mấy năm trước - từ thời Nội chiến, trông kinh sợ đến mức mãi mớỉ bán đi được.”
Tôi không đáp. Tôi chưa có thói quen tham gia vào chuyện trò với người lớn, chỉ “vâng” hoặc “không” khi nào bị ép lắm, nhưng mặt khác tôi vẫn bị hút vào câu chuyện. Mark, bạn của mẹ và là bác sĩ, đã vào nhân dạng thi thể mẹ và chẳng ai nói lại gì mấy với tôi.
“Tôi có nhớ một câu chuyên từng đọc, có một người lính, không biết có phải ở Shiloh không?” Ông đang nói chuyện với tôi, nhưng không chú tâm hoàn toàn. “Hay Gettysburg? một người lính bị sốc nặng đến mức lên cơn tâm thần, đi chôn từng con chim và sóc trên chiến trường. Ở đó cũng có rất nhiều con vật nhỏ bị chết, dưới hỏa lực hai bên, những con thú bé xíu. Hàng trăm nấm mộ tí hon.”
“24 nghìn người chết ở Shiloh trong vòng hai ngày.” tôi buột miệng.
Mắt ông hoảng hốt nhìn lên tôi.
“Ở Gettysburg là 50 nghìn. Đấy là do vũ khí mới. Đạn Minié[47] và súng liên thanh. Đấy là lý do số thương vong tăng vọt. Người Mỹ chúng ta đã đánh nhau trong chiến hào từ trước Thế chiến thứ nhất rất lâu. Không mấy người biết điều đó.”
Tôi thấy ông cũng không hiểu phải nghĩ gì trước thông tin này.
“Cháu quan tâm đến Nội chiến à?” Ông ta hỏi sau khi đã ngưng một lúc.
“À... vâng” tôi nói nhanh. “Hơi hơi ạ.” Tôi biết rất nhiều về hỏa pháo của phe Liên minh, bởi từng làm bài về đề tài đó, một bài lắm thông tin và quá sâu về kỹ thuật đến mức thầy bắt tôi viết lại; và tôi cũng biết số ảnh chụp người chết ở trận Antietam của Brady; tôi đã xem ảnh trên mạng, những thiếu niên mắt lõ trào máu đen ở mũi mồm. “Lớp cháu đi Lincoln sáu tuần.”
“Brady có hiệu ảnh không xa đây lắm. Cháu đã đến bao giờ chưa?”
“Chưa ạ.” Có một ý nghĩ bị giam hãm đang chực thoát ra, một cái gì đó rất quan thiết mà không thốt lên nổi, vừa được giải phóng khi nhắc đến những binh sĩ vẻ mặt trống tuênh kia. Giờ thì nó đã biến mất, chỉ hình ảnh là ở lại: những thiếu niên đã chết, tay chân dang ra, nhìn lên trời.
Tiếp đó là một khoảng lặng thật không chịu nổi. Cả hai chúng tôi đều không biết tiếp tục câu chuyện ra sao. Cuối cùng thì Hobie cũng vát tréo chân lại. “Tôi định nói là... tôi xin lỗi. Đã ép cháu nói” ông ta ấp úng thêm.
Tôi nhăn mặt. Khi vào trung tâm tôi đã tò mò đến độ không hề nghĩ rằng có thể chính mình cũng sẽ phải đưa ra vài câu trả lời.
“Tôi biết chắc nói về nó khó lắm. Chỉ là... tôi không nghĩ...”
Giầy của tôi. Lạ thay, tôi chưa bao giờ nhìn kỹ giày mình. Những vết trầy trên mũi. Dây giày đã tòe. Thứ Bảy mình đi Bloomingdale mua cho con đôi mới nhé! Thêm một điều không bao giờ xảy ra.
“Tôi không muốn ép uổng cháu đâu. Nhưng… ông biết chứ?”
“Vâng. Một chút. Ý cháu là…” Khuôn mặt chăm chú lo âu của ông khiến một phần xa xám nào đó trong tôi chỉ chực trào kể lể đủ mọi thứ ông không cần biết, không nên biết, những ruột gan tung tóe, những vệt hồi cố lặp đi lặp lại đáng ghét thường xuyên cắt ngang dòng ý nghĩ của tôi, cả khi đang thức.
Những chân dung đen đúa, những tượng chó tai rù trên bệ lò sưởi, quả lắc vàng đung đưa, tích tắc tích tắc tích tắc.
“Cháu nghe tiếng ông gọi.” Tôi dụi mắt. “Khi tỉnh lại.” Cử như tìm cách giải thích giấc mơ. Không ai có thể giải thích giấc mơ. "Thế là cháu đi lại chỗ ông rồi ở cạnh ông rồi thì… không quá tệ đâu. ít nhất thì cũng không tệ đến như bác nghĩ đâu.” tôi nói thêm, vì nhận ra câu ấy nghe như một lời nói dối, dù đúng là thế.
“Ông nói với cháu à?”
Nuốt ực một cái, tôi gật đầu. Gỗ dái ngựa thẫm, cọ trồng chậu.
“Ổng tỉnh hả?”
Tôi lại gật. Vị chua chua trong miệng. Đấy không phải thứ có thể tóm tắt được, đấy là thứ không có ý nghĩa và vì thế không có lịch sử, bụi đất và tiếng còi rú, tay ông cầm tay tôi, cả một đời người trôi qua chỉ có hai chúng tôi, những câu nói lẫn lộn, những cái tên những thành phố những con người tôi chưa bao giờ nghe đến. Dây điện đứt nổ lốp đốp.
Mắt ông vẫn dán vào tôi. Cổ họng khô khốc, tôi thấy hơi nôn nao. Giây phút này không dời qua giây phút khác như lẽ vẫn thế và tôi cứ đợi hoài xem ông có hỏi gì nữa không, gì cũng được, nhưng ông không hỏi.
Cuối cùng ông cũng lắc đầu như muốn sắp xếp lại suy nghĩ. “Chuyện này...” Có vẻ ông cũng bối rối như tôi; món tóc bạc tuột ra khiến ông trông như một vị vua mất vương miện trong vở kịch giả trang của tụi trẻ.
“Tôi xin lỗi!” ông nói và lại lắc đầu. “Chuyện này còn mới quá.” “Là sao ạ?”
“À, cháu hiểu không, chỉ là...” ông cúi người tới, chớp mắt rất nhanh và kích động, “điều này rất khác so với tôi được kể. Người ta bảo là ông chết ngay tức khắc. Người ta nhấn đi nhấn lại điều đó.”
“Nhưng mà...” Tôi tròn mắt kinh ngạc. Vậy ông nghĩ là tôi bịa ra ư?
“Không, không.” ông vội vã nói và giơ tay lên trấn an tôi. “Chỉ là... Tôi nghĩ chắc họ nói vậy với tất cả mọi người. ‘Chết ngay tức khắc’?” Ông nói thêm, giọng vô âm sắc, khi thấy tôi vẫn nhìn ông. “‘Không đau đớn chút nào’? ‘Không hề biết bị cái gì giáng trúng’?”
Rồi, đùng một cái, tôi hiểu, ý nghĩa đằng sau câu đó xuyên thấu vào tôi lạnh ngắt. Cả mẹ cũng đã “chết tức khắc”. Và mẹ “không hể gặp đau đớn gì”. Mấy người nhân viên xã hội đã ca đi ca lại bài đó, khiến tôi chẳng hề nghĩ xem tại sao họ lại biết chắc chắn như vậy.
“Mặc dù tôi phải nói là, rất khó hình dung ông ra đi cách đó.” Hobie thêm khi sự yên lặng lại đột ngột trở lại. “Chớp nháng lên, gục xuống không hay biết. Tôi có cảm giác, thỉnh thoảng vẫn vậy đấy, là chuyện không giống như người ta kể, cháu hiểu không?”
“Sao cơ ạ?” Tôi hỏi và ngước lên, còn đang choáng váng vì khả năng mới, tệ hại hơn, vừa mở ra trước mặt mình.
“Vẫy tay chào lần cuối.” Hobie đáp. Dường như ông đang tư lự nói chuyện một mình. “Ông thì sẽ muốn như thế. Cái nhìn cuối cùng, bài haiku chia tay - ông không muốn ra đi mà không được đứng lại chào ái trên đường đâu. ‘Giữa đào hoa, trà quán / trên đường xuống hoàng tuyền.”’
Giờ thì tôi không hiểu ông nói gì. Trong căn phòng bóng tối, một mảnh nắng duy nhất xuyên vào giữa hai lá màn, cắt ngang phòng rồi mắc lại sáng bừng lên trong một khay đựng những lọ thủy tinh họa tiết, đổ những cầu vồng bảy sắc rập rờn lung linh trên nóc tường như lũ trùng đế giày dưới kính hiển vi. Mùi khói củi rất nồng nhưng lò sưởi đã tắt ngúm, đen thẫm, tro bám đặc vỉ lò, như lâu lắm rồi không đốt.
“Cô bé!” tôi rụt rè nói.
Ông nhìn trở lại tôi.
“Có một cô bé nữa.”
Trong một phút ông dường như không hiểu. Rồi ông ngồi lại trên ghế, chớp mắt lia lịa như vừa bị nước té vào mặt.
“Sao ạ?” Tôi hỏi và giật mình. “Cô ấy ở đâu ạ? Cô ấy vẫn ổn chứ?”
“Không…” day day sống mũi “không.”
“Nhưng cô ấy vẫn còn sống chứ?” Tôi hầu như không tin nổi.
Ông nhướng mày, theo cách tôi nghĩ là “có”.' “Nó gặp may.” Nhưng giọng điệu và dáng vẻ ông lại nói lên điều ngược lại.
“Có ấy có ở đây không?”
“Ờ…”
“Cô ấy ở đâu? Cháu gặp được không?”
Ông thở dài, vẻ như cam chịu. “Nó được dặn phải yên tĩnh, không được gặp người.” ông nói và lục lọi trong túi. “Nó không bình thường - không biết nó sẽ phản ứng lại sao nữa.”
“Nhưng cô ấy sẽ khỏe lại chứ?”
“À, chỉ có thể hy vọng thôi. Nhưng giờ thì nó vẫn chưa qua chặng nguy ngập. Đấy là cách nói mà đám bác sĩ cứ nhất định phải dùng.” Ông đã lấy thuốc lá trong túi áo choàng tắm ra. Bàn tay run rẩy, ông châm một điếu, rồi khoát tay ném bao thuốc lên cái bàn sơn kiểu Nhật giữa hai người.
“Hử?” Ông hỏi và phẩy khói trước mặt, thấy tôi nhìn đăm đăm gói thuốc bị bóp nát, thuốc Pháp như người ta vẫn hút trong phim ngày xưa. “Đừng nói là cháu cũng muốn hút đấy.”
“Không, cảm ơn bác.” tôi nói sau một hồi im lặng khó chịu. Tôi khá chắc là ông nói đùa, dù cũng không hoàn toàn chắc.
Còn ông thì đang chớp mắt nhìn tôi rất dữ qua làn khói mờ, vẻ mặt đăm chiêu như vừa nhận ra thứ gì đó hết sức cốt tử.
“Chính là cháu phải không?” Đột ngột ông nói.
“Sao ạ?”
“Cháu là cậu ấy, phải không? Cậu bé có mẹ chết ở đó?”
Tôi choáng váng một lúc lâu không đáp lại được.
“Sao...” Ý tôi định nói sao bác biết, nhưng không nói hết lời được.
Luống cuống, ông dụi một bên mắt rồi thình lình ngồi thẳng dậy, quýnh quáng như vừa đánh đổ thứ gì ra bàn. “Xin lỗi cháu. Tôi không định… tôi chỉ định... câu đó nghe rất dở. Ôi trời… Tôi thật…” Ông ta làm dấu tay mơ hồ như muốn bảo tôi đã mệt lả rồi, đầu óc không nghĩ được bình thường nữa.
Tôi đánh mắt đi chỗ khác, không được lịch sự lắm - đột ngột táp vào người một đợt sóng xúc cảm mới rất ngột ngạt khó chịu. Từ hồi mẹ mất, tôi hầu như không khóc, và chắc chắn là không khóc trước mặt ai - cả lễ tang cũng không, trong khi những người không quen biết gì mẹ (cùng một hai kẻ đã biến đời mẹ thành Địa Ngục như Mathilde chẳng hạn) thì đang khóc mùi mẫn khắp xung quanh.
Ông nhận ra tôi đang bức xúc, liền định nói gì rồi lại thôi.
“Cháu ăn gì chưa?” Ông đột ngột hỏi.
Tôi quá đỗi kinh ngạc, không đáp lời nổi. Giờ thì thức ăn là thứ xa vời nhất trong suy nghĩ của tôi.
“À, tôi biết ngay là chưa mà.”.ông nói và khó khăn đứng dậy trên đôi chân lớn. “Ta đi kiếm thứ gì thôi.”
“Cháu không đói” tôi nói xẵng, đến mức chợt thấy hối hận. Từ khi mẹ chết, hình như ai cũng chỉ nghĩ đến một việc là nhét thức ăn vào họng tôi.
“Không đói, tất nhiên rồi.” Bàn tay bỏ không của ông lại xua đi một đám khói lớn. “Nhưng cứ đi với tôi. Cho tôi vui lòng. Cháu không ăn chay chứ?”
“Không!” Tôi bực tức đáp. “Sao bác lại nghĩ thế được?”
Ông cười lớn - tiếng cười gắt, cụt ngủn. “Đơn giản thôi! Rất nhiều bạn của cô ấy ăn chay, cả chính cô ấy nữa.”
“Ồ!” tôi nói khẽ, và ông nhìn xuống tôi với vẻ thích thú linh động nhưng thong thả.
“À, nói cho cháu biết, tôi cũng không ăn chay đâu.” ông nói. “Tôi thì ăn đủ thứ kỳ quái trên đời. Nên chắc là chúng ta sẽ ăn ý với nhau thôi.”
Ông đẩy một cánh cửa mở, tôi đi theo qua một hành lang chật chội, hai bên toàn những gương đã mờ xỉn và tranh cũ. Dù ông đi đằng trước rất nhanh, tôi vẫn háo hức muốn nán lại xem: những ảnh chụp gia đình, những cột trắng, những hàng hiên, những cây cọ. Một sân quần vợt, một thảm Ba Tư trải rộng trên cỏ. Người hầu nam mặc đồ pyjama trắng long trọng đứng sắp hàng. Mắt tôi đậu lại trên chính ông Blackwell: cái mũi khoằm khoằm, vẻ mặt thân thiện, mặc vét trắng rất sang, lưng đã gù gù từ thời trai trẻ. Ông đang ngả người bên tường chắn biển ở một xứ sở lắm dừa nào đấy, còn bên ông - đứng trên tường, tay đặt trên vai ông, cao vượt lên một đầu - là Pippa ở tuổi mẫu giáo đang nhoẻn cười. Còn bé tí như thế nhưng trông cô đã giống ông lắm rồi: màu da, cặp mắt, cái đầu nghiêng nghiêng cùng một góc, mái tóc cũng đỏ chẳng kém tóc ông.
“Đây chính là cô ấy phải không?” Tôi hỏi - và đồng thời nhận ra không thể thế được. Tấm ảnh này đã ngả màu, quần áo trong hình đã lỗi mốt, hẳn là chụp từ rất lâu trước khi tôi ra đời.
Hobie ngoảnh lại và tới nhìn. “Không” ông nhỏ nhẹ đáp, tay chắp sau lưng. “Đấy là Juliet. Mẹ của Pippa.”
“Bác ấy đâu rồi ạ?”
“Juliet à?... Chết rồi. Ung thư. Tới tháng Năm vừa rồi là sáu năm.” Và rồi có lẽ nhận ra mình quá cộc lốc: “Welty là anh Juliet. Anh cùng cha khác mẹ thì đúng hơn. Cách nhau ba mươi tuổi. Nhưng ông dạy dỗ và nuôi lớn cô ấy như con ruột mình.”
Tôi bước gần lại cho nhìn rõ hơn. Cô bé trong hình tựa vào ông, má áp vào tay áo khoác ông rất dịu dàng.
Bobie hắng giọng. “Khi cô ấy sinh ra thì ông bố đã quá sáu mươi.” ông nói nhỏ nhẹ. “Ở tuổi ấy ông không còn để tâm được đến một đứa bé nữa, nhất là vốn từ đầu ông đã chẳng mê gì trẻ con.”
Đầu kia hành lang có một cánh cửa mở hé, ông đẩy ra, đứng nhìn vào bóng tối bên trong. Tôi kiễng chân cố nhòm vào trong, nhưng gần như lập tức ông lùi lại và đóng chặt cửa.
“Cô ấy trong đó ạ?” Dù quá tối không đủ nhìn, tôi cũng gặp ánh lóe lên dữ tợn từ đôi mắt con vật nào đó, ánh xanh xanh rợn người ở đầu kia phòng.
“Bây giờ chưa được.” Giọng ông khẽ khàng đến mức khó lắm tôi mới nghe thấy.
“Có gì ở trong với cô ấy?” Tôi thì thào - vẫn nán lại bên cửa không muốn rời đi. “Con mèo ạ?”
“Chó. Y tá không đồng ý, nhưng nó muốn để con chó nằm cùng giường và thực tình là tôi cũng không bắt nó ở ngoài được - nó cứ cào cửa rên rỉ - đây, phía này.”
Với bước chân chậm chạp, khó khăn, thân ngả về phía trước kiểu người già, ông đẩy cửa vào một căn bếp chật chội, trên trần có giếng trời, với một bếp lò chân cong kiểu cổ: đỏ chót như cà chua với những đường lượn duyên dáng như một cỗ tàu vũ trụ thập niên 1950. Sách chất đống trên sàn: sách, nấu ăn, từ điển, tiếu thuyết cũ, bách khoa toàn thư; các giá để chen chúc đồ sứ cổ, có chừng nửa tá mẫu vẽ. Gần cửa sổ, bên lối thoát hiểm, một ông thánh bằng gỗ đã phai màu giơ bàn tay ngửa lên ban phước; trên tủ búp phê trên bộ trà cụ bạc, những con vật sơn màu xếp rải rác hàng đội đi lên tàu Nô-ê. Nhưng trong bồn rửa đấy bát đĩa, còn trên mặt bếp và bệ cửa sổ đầy những lọ thuốc, tách bẩn, hàng chồng ngất nghểu thư chưa bóc, cây con từ cửa hàng hoa gửi đến đã khô quắt trong chậu.
Ông nói tôi ngồi bên bàn, gạt những hóa đơn tiền điện và tạp chí Cổ vật cũ sang một bên. “Trà” ông nói, như thể vữa nhớ ra một món cần thêm vào danh sách đi chợ.
Trong lúc ông loay hoay bên bếp thì tôi nhìn những vòng cà phê nâu nâu trên khăn trải bàn. Bứt rứt, tôi ngồi lùi lại trong ghế và nhìn quanh.
“Vâng…”Tôi mở lời.
“Sao?”
“Sau cháu có được gặp bạn ấy không ạ?”
“Có thể.” ông nói, lưng vẫn xoay về phía tôi. Thìa khuấy đập vào bát sứ xanh: cạch cạch cạch. “Nếu nó thức. Nó bị đau ghê lắm, uống thuốc thì lại buồn ngủ.”
“Bạn ấy bị sao thế?”
“À...” Giọng ông vừa nhanh gọn vừa trầm lắng, và tôi nhận ra ngay vì đấy hầu như cũng chính là giọng tôi vẫn dùng khi có ai hỏi đến mẹ. “Nó bị nứt trên đầu rất ghê, sọ bị rạn, nói thật với cháu là nó còn hôn mê một thời gian, chân trái bị gãy nhiều chỗ đến nỗi suýt phải cưa mất. ‘Bít tất đựng bi’” ông nói và bật cười không vui: “Ông bắc sĩ đã nói vậy khi nhìn phim chụp X-quang. Mười hai chỗ gãy. Năm lần mổ. Mới tuần trước.” ông hơi xoay người về phía tôi, “nó được tháo đinh, rồi nó nài nỉ được về nhà đến nỗi người ta phải chấp thuận. Miễn là có y tá đến chăm sóc thường xuyên.”
“Bạn ấy đi lại được chưa?”
“Ôi trời, chưa đâu.” ông nói và đưa thuốc lên miệng rít; không hiểu làm sao ông vẫn vừa nấu một tay, vừa cầm thuốc tay kia được, như một gã thuyền trưởng tàu lai dắt hoặc đầu bếp trại đốn gỗ trong phim cổ. “Nó ngồi dậy quá nửa tiếng còn chưa được nữa là.”
“Nhưng bạn ấy sẽ khỏe lại.”
“À, mọi người đều hy vọng thế.” ông nói, tuy giọng có vẻ chẳng hy vọng cho lắm. “Cháu biết không?” ông nói và lại nhìn về phía tôi, “nếu cháu cũng ở trong đó, thì cháu không sao thật là điều lạ đấy.”
“À.” Tôi vẫn chưa nghĩ ra cách đáp lại khi mọi người nhận xét (liên tục) rằng tôi “không sao”.
Hobie ho hắng rồi dập thuốc. “À.” Tôi nhận ra qua vẻ mặt rằng ông biết mình đã làm tôi chạnh lòng và thấy hối hận. “Chắc họ cũng gặp cháu nữa chứ? Toán điều tra viên ấy?”
Tôi nhìn xuống khăn bàn, “Có.” Càng ít nói về chuyện đó có lẽ càng tốt hơn.
“À, không biết cháu thì sao chứ tôi thấy họ khá tử tế - khá hiểu biết. Có một người Ireland - ông ta đã chứng kiến đủ chuyện như vậy rồi, kể cho tôi vụ đánh bom vali ở Anh và ở phi trường Paris, cái gì đổ ở quán cà phê vỉa hè tại Tangier, cháu hiểu đấy, hàng chục người chết mà cái người đứng ngay cạnh quả bom lại chẳng làm sao. Ông ta kể có nhiều hiệu ứng khá kỳ lạ, cháu hiểu đấy, nhất là trong các nhà cổ. Những không gian kín, hoặc bề mặt lồi lõm, chất liệu phản quang - chẳng biết được sẽ ra sao. Cũng y như âm học ấy mà, ông ta bảo thế. Sóng xung chấn cũng giống như sóng âm, chúng bị dội lại, phản xạ trên bề mặt. Nhiều khi cửa sổ các nhà cách đó hàng dặm lại vỡ. Hoặc có khi…” ông ta giơ cổ tay gạt tóc khỏi mặt, “thỉnh thoảng ở ngay cạnh đó, lại diễn ra cái ông ta gọi là hiệu ứng che. Những thứ đứng rất gần tâm nổ lại còn nguyên vẹn - chén trà đứng yên trong cản nhà tan tành của phiến quân Ireland, kiểu đó. Người ta chết nhiều nhất lại là do các mảnh vỡ bay cháu hiểu không, co khí ở rất xa. Với tốc độ đó thì một viên sỏi hay mảnh thủy tinh vỡ cũng không khác nào viên đạn.”
Tôi lần ngón cái theo mẫu họa tiết hoa trên khăn bàn. ‘‘Cháu...”
“Xin lỗi. Có lẽ không nên nói mấy chuyện này.”
“Không không.’’ tôi vội vã đáp; thực tế, đúng là nhẹ cả người khi nghe ông nói chuyện thẳng thắn và hiểu biết như thế về một điều phần lớn mọi người khác rón rén hết sức tránh đề cập đến. “Không phải thế. Chỉ là…”
“Sao?”
“Cháu chỉ đang nghĩ: Làm sao bạn ấy ra khỏi đó được?”
“À, đúng là gặp may thôi. Nó bị kẹt rất sâu dưới đống đổ nát - lính cứu hỏa chắc không tìm ra đâu, nếu không phải có một con trong bầy chó báo động. Họ bới được một chút, rồi bẩy cái xà lên - nghĩ xem, thực khó tin, nó vẫn tỉnh, nói chuyện với họ từ đầu chí cuối, dù bây giờ nó chẳng nhớ được chút nào. Điều kỳ diệu là họ đưa được nó ra trước khi có lệnh sơ tán - cháu bảo cháu bị ngất bao lâu nhỉ?”
"Cháu không nhớ nữa.”
“Ờ, cháu gặp may đấy. Nếu họ phải chạy đi, bỏ mặc nó ở đấy, kẹt dưới đống gạch đá - mà theo tôi hiểu thì có người đã bị vậy.... À đây, xong rồi.” ông nói khi cái ấm lên tiếng véo von.
Đĩa thức ăn ông đặt trước mặt tôi trông chẳng ngon lành gì – chỉ là thứ gì đó vàng vàng phồng phồng quết trên bánh mì. Nhưng mùi rất thơm. Tôi thận trọng nếm thử. Đấy là phô mai đun chảy, bỏ thêm cà chua thái nhỏ, ớt và vài thứ nữa tôi không đoán ra, nhưng trần đời không có gì ngon hơn.
“Xin lỗi bác, cái này gọi là gì ạ?” Tôi hỏi và lại cẩn trọng cắn thêm miếng nữa.
Trông ông có vẻ ngượng ngùng. “À, món này không có tên.”
"Ngon lắm ạ!” tôi nói và hơi ngạc nhiên khi nhận ra mình đói đến mức nào. Mẹ vẫn làm bánh mì nướng phô mai hơi giống thế này, thỉnh thoảng nhà tôi ăn vào các tối Chủ nhật mùa đông.
“Cháu thích phô mai à? Lẽ ra tôi phải hỏi trước”
Tôi gật đầu, mồm đấy thức ăn không nói được. Dù bà Barbour lúc nào cũng ép tôi ăn kem hay kẹo, thì cảm giác vẫn như tôi chưa từng ăn một bữa bình thường từ hồi mẹ mất - ít nhất là những bữa bình thường theo tiêu chuẩn chúng tôi, trứng bác hoặc trứng rán hoặc macaroni trộn phô mai ăn liền, trong lúc tôi ngồi trên thang gập trong bếp, kể cho mẹ những chuyện xảy ra trong ngày.
Trong lúc tôi ăn, ông ngồi bên kia bàn, kê cằm lên đôi tay lớn trắng bóc. “Cháu có giỏi gì không?” Đột ngột ông ta hỏi. “Thể thao chẳng hạn?”
“Dạ?”
“Cháu có thích chơi gì không? Kiểu thế?”
“Chơi à… cháu chơi điện tử. Age of Conquest? Yakuza Freakout?”
Trông ông có vẻ bối rối. “Thế ở trường thì sao? Thích môn gì nhất?”
“Chắc là Lịch sử ạ. Ngữ văn nữa.” tôi thêm khi thấy ông không nói gì. “Nhưng sắp tới Ngữ văn, sẽ chán lắm, suốt sáu tuần bọn cháu sẽ thôi không học văn học mà quay lại làm ngữ pháp, bây giờ thì đang phải phân tích câu.”
“Văn học à? Anh hay Mỹ? ,
“Mỹ. Bây giờ ạ. À, tức là lúc trước. Cả Lịch sử Mỹ nữa, năm nay. Mặc dù dạo gần đây thì chán lắm. Chúng cháu vừa qua Đại suy thoái, nhưng lại sắp hay rồi, sắp đến Thế chiến thứ hai.”
Đấy là cuộc nói chuyện khiến tôi thích nhất từ rất lâu nay trở lại. Ông hỏi tôi đủ thứ câu hỏi hay ho, như là tôi đã đọc ai khi học văn, và trường cấp hai khác cấp một như thế nào, môn gì tôi thấy khó nhằn nhất (tiếng Tây Ban Nha), thời kỳ lịch sử tôi thích nhất là gì (tôi cũng không biết, gì cũng được miễn là không phải Eugene Debs và Lịch sử Công đảng, cái đó thật mất quá nhiều thời gian), và tôi muốn làm nghề gì sau này? (bó tay) - những thứ bình thường thôi, nhưng thật là nhẹ người khi được nói chuyện với một người lớn có vẻ quan tâm đến tôi chứ không phải đến vận rủi của tôi, không moi móc thông tin hoặc kỹ càng bám lấy bản hướng dẫn Nói Gì Với Trẻ Mắc Nạn.
Chúng tôi đã chuyển sang đề tài các nhà văn - từ T. H. White và Tolkien đến Edgar Allan Poe, thêm một người tôi thích. “Bố cháu bảo Poe chỉ là nhà văn hạng hai” tôi kể. “Bảo ông ấy là Vincent Price[48] trong Văn chương Mỹ. Nhưng cháu nghĩ nói thế thì quá đáng.”
“Đúng thế!”; Hobie nghiêm trang đáp và cũng rót trà cho mình. “Ngay cả nếu không ưa Poe đi nữa, ông vẫn là người đã nghĩ ra thể loại trinh thám. Khoa học viễn tưởng nữa. Về bản chất là ông đã sáng tạo ra một phần lớn của thế kỷ 20. Bác muốn nói là... thực tế giờ bác không ưa thích ông như hồi còn nhỏ nữa, nhưng nếu không thích thì cũng không thể coi ông là người tầm thường được.”
“Bố cháu nghĩ thế đấy. Có hồi suốt ngày đọc Annabel Lee bằng giọng dở hơi không chịu được, cố tình chọc cho cháu tức. Vì biết cháu thích bài đó mà.”
“Vậy bố cháu cũng là nhà văn à?”
“Không.” Tôi không hiểu sao ông lại nghĩ thế. “Là diễn viên. Hồi xưa.” Trước khi tôi ra đời ông đã diễn vai phụ trong vài bộ phim truyền hình dài tập, không bao giờ là nam chính, chỉ là gã bạn thân đàng điếm của nam chính, hoặc đối tác làm ăn bất lương và rốt cục sẽ bị thủ tiêu.
“Không hiểu bác đã nghe đến bố cháu bao giờ chưa?”
“Không đâu. Sau đó bố cháu chuyển sang làm văn phòng rồi. Hồi trước.”
“Thế bây giờ thì sao?” Ông hỏi. Ông đã lồng nhẫn vào ngón út, và thỉnh thoảng lại xoay xoay bằng ngón trỏ và ngón cái tay kia, như để cho chắc nó vẫn ở đó.
“Ai biết được? Bố bỏ mẹ con cháu rồi.”
Thật lạ là ông lại bật cười. “May quá hả?”
“À...” tôi nhún vai. “Chẳng biết nữa ạ. Có lúc bố cũng được. Chúng cháu ngồi xem thể thao và phim điều tra, bố cháu sẽ kể xem người ta làm hiệu ứng máu miếc các kiểu thế nào. Nhưng mà, nhiều khi... Cháu chả biết nữa. Nhiều khi bố cháu đến đón cháu ở trường mà say khướt ấy?” Tôi chưa bao giờ kể mấy chuyện này với tay bác sĩ tâm thần Dave hay bà Swanson hay ai cả. “Cháu sợ không dám kể với mẹ, nhưng mẹ một đứa khác mách lại. Lại còn...” Câu chuyện dài quá, tôi đang thấy ngượng, tôi chỉ muốn cắt bớt đi, “bố bị gãy tay trong quán bar, bố đánh nhau với ai đấy trong quán, có một quán bar ngày nào bố cũng đi nhưng mẹ con cháu không biết là bố ở đấy vì bố bảo phải làm thêm giờ, và bố có một đám bạn bè mà mẹ con cháu chẳng hề biết rồi họ gửi bưu thiếp cho bố khi đi nghỉ mát ở mấy nơi như quần đảo Virgin? gửi đến nhà cháu luôn? vì thế mẹ con cháu mới biết? và mẹ cháu định bắt bố cháu đi cai rượu nhưng bố không chịu. Thỉnh thoảng các chú bảo vệ đến đứng ở hành lang ngoài cửa nhà cháu, làm ầm ĩ lên để bố cháu nghe thấy - để bố cháu biết có các chú ấy ở đó, bác hiểu không? Để bố cháu không làm gì quá đáng.”
“Làm gì quá đáng là làm gì?”
“Cãi cọ các thứ nhiều lắm. Chủ yếu là quát tháo. Nhưng…” bực bội nhận ra rằng mình đang nói nhiều điều không muốn nói - “chủ yếu là bố cháu làm ồn thôi. Như là... cháu không biết nữa, như là những lúc bố cháu phải trông cháu cho mẹ đi làm ấy? Lúc nào bố cũng cáu kỉnh. Cháu không được nói chuyện khi bố đang xem thời sự hay thể thao, đấy là luật ở nhà cháu. Ý cháu là...” Tôi rầu rĩ dừng lại, cảm thấy mình đã tự dồn mình vào đường cùng. “Nhưng dù sao thì cũng lâu lắm rồi.”
Ông ngả người trong ghế nhìn tôi: một người to con, điềm đạm và cẩn mật, dù có đôi mắt xanh trong lo âu như của cậu thiếu niên.
“Còn bây giờ thì sao?” Ông hỏi. “Cháu có thích những người đang ở cùng không?”
“Ờm…” Tôi ngưng lại, mồm đầy thức ăn, băn khoăn không biết nên miêu tả nhà Barbour thế nào. “Họ cũng tốt, cháu nghĩ thế.”
“Bác mừng lắm. Ý là, bác không rõ mình có hiểu Samantha Barbour không, dù bác cũng từng làm vài việc cho nhà họ ngày xưa. Bà ấy có con mắt tinh đời.”
Đến đó thì tôi khựng lại. “Bác quen nhà Barbour à?”
“Ông chồng thì không. Quen bà vợ thôi. Dù mẹ ông ấy cũng sưu tập đáng nể lắm - nhưng chắc là tất cả về tay cậu em rồi, do mâu thuẫn trong nội bộ gia đình gì đấy. Giá có Welty thì sẽ kể cho cháu rõ hơn. Dù cũng không phải ông hay đưa chuyện đâu.” ông vội vàng thêm, “Welty rất kín tiếng, kiệm lời vô cùng, nhưng người ta hay tâm sự với ông, ông thuộc loại người ấy, cháu hiểu không? Người lạ cũng đến kể lể với ông, cả khách hàng, những người ông hầu như không quen, ông là loại người thường khiến người ta đến gửi gắm nỗi buồn của họ.
“Nhưng mà phải.” ông đan tay vào nhau. “Mọi nhà buôn nghệ thuật và cổ vật ở New York đều biết Samantha Barbour. Trước khi kết hôn, bà là con gái nhà Van der Pleyn. Không mạnh tay mua lắm, dù Welty thỉnh thoảng cũng thấy bà ở các điểm đấu giá, và rõ là bà cũng có vài thứ đẹp.”
“Ai bảo với bác là cháu ở với nhà Barbour?”
Ông chớp mắt liên tục. “Trên báo có ghi.” ông đáp. “Cháu không xem à?”
“Báo à?”
“New York Times. Cháu không đọc à? Không hả?”
“Báo có viết về cháu à?”
“À không.” ông vội nói. “Không phải viết về cháu. Mà về những đứa trẻ mất người thân ở bảo tàng. Phần lớn đều là khách du lịch. Có một cô bé... một đứa trẻ sơ sinh thì đúng hơn... con của nhà ngoại giao nào đó người Nam Mỹ…”
“Báo viết gì về cháu?”
Ông nhăn mặt. “À, cảnh ngộ một cậu bé mồ côi... phu nhân có lòng từ thiện giúp đỡ... đại khái thế. Cháu hình dung được mà.”
Tôi nhìn xuống đĩa, hổ thẹn vô cùng. Mồ côi ư? Từ thiện ư?
“Bài viết tử tế lắm. Bác hiểu là cháu đã bênh vực con trai của bà ta khỏi bị bắt nạt à?” Ông nói và cúi cái đầu lớn tóc bạc xuống nhìn vào mắt tôi. “Ở trường à? Một trong hai đứa trẻ năng khiếu được nhảy lớp?”
Tôi lắc đầu. “Gì cơ?”
“Con trai Samantha ấy? Được cháu bảo vệ khỏi một đám trẻ lớn hơn ở trường? Chịu đòn thay nó - đại khái thế?”
Lần nữa tôi lắc đầu, cực kỳ hoang mang.
Ông cười lớn. “Khiếm tốn thế! Cái đó không nên xấu hổ.”
“Nhưng... đâu phải như thế.” tôi đáp, cực kỳ rối trí. “Cả hai bọn cháu đều bị chọc ghẹo và đánh đập mà. Ngày nào chả vậy.”
“Bài báo có nói vậy. Vì thế việc cháu bênh vực bạn càng đáng quý hơn. Cả chai vỡ nữa?” Ông nói khi thấy tôi không đáp. “Có kẻ cầm chai vỡ định làm bị thương con trai Samantha Barbour, và cháu...”
“À, cái đó hả.” tôi ngượng ngập đáp. “Có gì đâu.”
“Cháu cũng bị thương. Vì tìm cách giúp bạn.”
“Chuyện không phải như thế! Cavanaugh tấn công cả hai bọn cháu! Có một mảnh chai vỡ trên hè đường.”
Ông lại bật cười - tiếng cười của người to con, trầm vang và thô nháp, trái hẳn với giọng nói được rèn luyện của ông. “Ồ, dù chuyện là thế nào nữa.” ông nói, “thì rõ ràng cháu đã rơi vào một gia đình rất mực thú vị.” Ông đứng lên, đi ra tủ chè, lấy trong đó chai uýt-ki rồi đổ chừng hai đốt tay vào cái cốc không sạch lắm.
“Samantha Barbour không có vẻ là loại người ấm áp và thân thiện - ít ra thì cảm giác bề ngoài là thế.” ông nói. “Nhưng dường như bà ấy làm được rất nhiều điều có ích cho thế giới nhờ các quỹ và hoạt động gây quỹ của mình, cháu nghĩ thế không?”
Tôi im lặng trong khi ông cất lại cái chai vào tủ. Trên đầu, qua giếng trời, ánh sáng lọt vào đùng đục đa sắc: một màn mưa mỏng đập lách tách vào mặt kính.
“Bác có định mở lại cửa hiệu không?” Tôi hỏi.
“À...” ông thở dài. “Vốn Welty lo mặt đó - khách hàng và buôn bán. Bác thì, bác chỉ là người đẽo gọt, không phải nhà kinh doanh. Kẻ dưới xưởng và kẻ trên hiệu. Không mấy khi đặt chân lên đó - bác lúc nào cũng ở dưới này đánh ráp bôi xi. Giờ thì ông đã ra đi - chà, thật còn quá mới mẻ. Người ta gọi đến, hỏi những thứ ông đã bán, đồ đạc vẫn chuyển tới mà bác không hề biết ông đã mua, không biết giấy tờ để đâu, không biết cái nào là cho người nào... có cả triệu việc cần hỏi ông, giá có cách gì nói chuyện được với ông chỉ năm phút thôi. Nhất là... à, nhất là về Pippa. Chạy chữa cho nó, rồi thì…”
“Vâng” tôi đáp, biết giọng mình nghe vụng về đến thế nào. Chúng tôi đã lại bước vào địa hạt khó khăn là đám tang mẹ, những khoảng trống kéo dài, những nụ cười không đúng chỗ, địa hạt nơi không có chỗ cho lời.
“Ông là một người rất đáng yêu. Không có nhiều người như ông. Hiền từ, khiến người ta yêu mến. Ai cũng thấy thương ông vì cái lưng, nhưng bác chưa bao giờ gặp ai có bản tính vui tươi tự nhiên như thế, và tất nhiên mọi khách hàng đều yêu quý ông... rất năng động, rất giỏi giao tiếp, lúc nào cũng thế... ‘thế giới không chịu đến với tôi,’ ông hay nói vậy, ‘nên tôi phải đến với nó’... ”
Bất thình lình chiếc iPhone của Andy reo: có tin nhắn.
Hobie đang đưa cốc dở chừng lên miệng, giật bắn mình. “Cái gì thế?”
“Đợi cháu một chút.” tôi nói và thọc tay vào túi. Người gửi là Phil Lefkow, một đứa trong lớp tiếng Nhật của Andy: Hey Theo, Andy đây, ok chứ? Tôi vội tắt máy, nhét trả vào túi.
“Cháu xin lỗi!” tôi nói. “Bác đang nói gì nhỉ?”
“Quên rồi.” Ông ngồi nhìn xa xăm một hai giây, rồi lắc đầu. “Bác chẳng hề mong sẽ được thấy nó lần nữa.” ông nói và nhìn xuống cái nhẫn. “Thật đúng là ông, lại yêu cầu cháu mang đến đây - đặt nó vào tay bác. Bác thì... ờ, bác không nhắc đến nhưng cứ chắc mẩm đã có ai đó ở nhà xác bỏ túi nó rồi.
Lần nữa cái điện thoại lại réo lên eo éo rất đáng ghét. “Trời ạ, cháu xin lỗi!” Tôi nói và vội vã lục tìm. Andy nhắn:
Chỉ muốn biết là cậu chưa bị giết thôi!!!
“Xin lỗi ạ.” tôi nói và nhấn phím hồi lâu cho chắc, “lần này thì tắt hẳn rồi.”
Nhưng ông chỉ mỉm cười, nhìn vào cốc. Mưa gõ lên vòm giếng trời rồi lăn xuống, hắt những cái bóng ướt nước chảy dài trên tường. Quá ngại ngùng không biết nói thêm gì nữa, tôi chờ ông bắt lại câu chuyện - và khi ông vẫn im, chúng tôi chỉ ngồi đó thanh thản, trong lúc tôi nhấp món trà đã nguội (trà Vũ Di Phúc Kiến, có vị khói là lạ) và cảm thấy đời mình thật lạ lùng, và ở đây cũng thật lạ lùng.
Tôi đẩy cái đĩa ra. “Cảm ơn bác” tôi ngoan ngoãn nói, mắt đảo quanh phòng, “đồ ăn rất ngon ạ” - đấy là nói (như đã thành thói quen gần đây) cho mẹ nghe, để nhỡ may mẹ có đang nghe.
“Lịch sự quá!” Ông nói và cười - cười tôi, nhưng không có ác ý, có vẻ thân thiện là khác. “Cậu thích không?”
“Thích gì ạ?”
“Con tàu Nô-ê của bác. Ông gật đầu về phía tủ búp phê. “Lúc nãy cháu vừa nhìn rất chăm chú, bác nghĩ thế.” Những con thú bằng gỗ đã mòn (voi, hổ, bò, ngựa vằn, cho đến cả một cặp chuột tí xíu) kiên nhẫn sắp hàng chờ đến lượt lên.
“Của bạn ấy à?” Tôi hỏi sau khi say mê ngắm một lúc lâu, bởi mấy con vật được xếp đặt thật tỉ mỉ (lũ hổ tảng lờ nhau, con công trống không nhìn công mái mà ngoảnh sang ngắm bóng mình trong máy nướng bánh), tôi hoàn toàn có thể hình dung cô bé bỏ hàng giờ sắp xếp, tìm cách chọn chỗ thích hợp nhất cho mỗi con.
“Không....” Tay ông lại đan vào nhau trên bàn, “đấy là một trong những món đầu tiên bác mua, ba chục năm trước. Trong một buổi đấu giá Hàng dân gian Hoa Kỳ. Bác không thật thích các thứ nghệ thuật dân gian, chưa bao giờ cả - món này cũng không phải là hàng cao cấp lắm, chẳng ăn nhập gì với bất kỳ thứ gì bác có, nhưng chẳng phải chính thứ không đúng đắn, thứ không hẳn khớp vào chỗ bao giờ cũng lại là thứ khiến người ta thấy thân thương nhất hay sao?”
Tôi ngả người vào ghế, không tài nào giữ chân yên được. “Giờ cháu được gặp bạn ấy chưa ạ?”
“Nếu nó tỉnh rồi...” - ông trề môi - “ờ, chắc là chẳng sao đâu. Những chỉ một phút thôi nhé.” Khi đứng dậy, vóc dáng khổng lồ vai khòng của ông lại làm tôi bất ngờ lần nữa. “Nhưng phải báo trước với cháu nó hơi mơ mơ hồ hồ đấy. À...” đến giữa cửa ông ngoảnh lại - “và nếu được thì tốt nhất đừng nhắc đến Welty.”
“Bạn ấy không biết à?”
“Biết chứ..- ông nói nhanh - “nó biết, nhưng đôi luc khi nghe đến chuyện đó nó lại buồn rầu trở lại. Rồi hỏi chuyện xảy ra khi nào, và tại sao không ai nói với nó hết.”
II
KHI ÔNG MỞ CỬA, rèm đã kéo, mất một lúc mắt tôi mới điều chỉnh được với bóng tối ngát mùi hương và mùi nước hoa, dù lẩn quất vẫn có mùi thuốc, mùi bệnh tật. Trên đầu giường treo một tấm áp phích phim Phù thủy xứ Oz lồng khung. Cây nến thơm đang cháy nốt trong chiếc cốc đỏ, đặt giữa những món trang sức lặt vặt và tràng hạt, bản nhạc, hoa gấp bằng giấy ăn, những thiếp trái tim cũ - cùng với cả trăm tấm thiếp chúc sức khỏe thắt trên ruy băng và một chùm bóng bay bạc lơ lửng rờn rợn trên trần nhà, những sợi dây màu kim loại rủ xuống lòng thòng như tua sứa.
“Có người đến thăm cháu này, Pip.” Hobie nói lớn, giọng vui tươi.
Tôi thấy tấm chăn mỏng khẽ động. Một cái khuỷu tay giơ lên. “Ừm?” một giọng ngái ngủ đáp.
“Trong này tối quá, cháu à. Không chịu cho bác mở rèm ư?”
“Không, bác đừng mở, ánh sáng làm cháu đau mắt.”
Cô bé nhỏ nhắn hơn tôi nhớ, còn mặt cô - một vệt mờ mờ trong bóng tối - thì trắng toát. Đầu đã cạo nhẵn, chỉ còn một chỏm tóc trước trán. Tiến lại gần có phần hãi sợ, tôi nhìn thấy ánh kim loại thoáng lóe trên thái dương cô - chắc là cặp tóc gì đấy, tôi nghĩ trước khi nhận ra ghim phẫu thuật bằng thép vạch một đường cong hiểm độc bên trên vành tai cô.
“Cháu nghe thấy hai người ở hành lang.” cô nói nhỏ, khàn khàn, nhìn từ tôi qua Hobie.
“Nghe thấy gì cơ, bồ câu?” Hobie hỏi.
“Nghe hai người nói chuyện. Cosmo cũng nghe thấy.”
Ban đầu tôi chưa nhìn thấy nó, nhưng rồi cũng thấy - một con chó sục nằm cuộn tròn bên cô, khuất giữa đám gối và thú bông. Khi nó ngẩng đầu, tôi nhìn thấy khuôn mặt lông bạc và đôi mắt kéo màng cho biết nó đã già lắm rồi.
“Bác cứ tưởng cháu đang ngủ, bồ câu à.” Hobie nói và đưa tay qua gãi cằm con chó.
“Bác toàn nói thế, nhưng cháu có ngủ bao giờ đâu. Chào cậu.” cô nói và nhìn tôi.
“Chào cậu.”
“Cậu là ai thế?”
“Tớ tên là Theo.”
“Cậu thích nghe nhạc gì nhất?”
“Tớ chả biết.” tôi đáp, rồi để không có vẻ ngớ ngẩn quá: “Beethoven.”
“Tuyệt quá. Trông cậu đúng là một người thích Beethoven.”
“Thế à?” Tôi hỏi, cảm thấy nghèn nghẹn.
“Ý tớ là khen đấy. Tớ không nghe nhạc được. Tại đầu tớ, đấy. Kinh khủng lắm cơ. Đừng bác.” cô nói với Hobie đang dọn dẹp đống sách vở bông băng và gói khăn giấy trên ghế cạnh giường, lấy chỗ cho tôi ngồi, “cứ để bạn ấy ngồi đây. Cậu ngồi đây đi.” cô nói với tôi và dịch người ra một chút trên giường.
Liếc sang Hobie để được ông đồng ý, tôi ngồi xuống khẽ khàng, chỉ ghé một bên, cẩn thận không làm động đến con chó lúc này đang ngẩng đầu soi mói nhìn.
“Đừng sợ, nó không cắn đâu. Ừm thì, thỉnh thoảng cũng cắn.” Cô nhìn tôi, cặp mắt ngái ngủ. “Tớ biết cậu.”
“Cậu nhớ tớ à?”
“Chúng mình có phải bạn nhau không?”
“Có” tôi đáp liền không nghĩ, rồi lại nhìn sang Hobie, ngượng ngập vì đã nói dối.
“Tớ quên tên cậu rồi, xin lỗi. Nhưng tớ vẫn nhớ mặt cậu.” Rồi, vừa xoa đầu con chó, cô vừa nói: “Tớ còn không nhớ được phòng mình khi về nhà. Tớ vẫn nhớ giường và mọi thứ đồ khác, nhưng căn phòng thì lạ.”
Giờ mắt tôi đã làm quen với bóng tối, đủ để thấy cái xe lăn trong góc phòng và những lọ thuốc trên bàn đầu giường.
“Beethoven cậu thích bài gì nhất?”
“Ờ...” Tôi đang nhìn tay cô đặt trên tấm chăn, lớp da mịn màng mặt trong khuỷu tay có dán một miếng băng cá nhân.
Cô đang nhổm ngồi dậy trên giường, nhìn qua tôi tới nơi Hobie chỉ là một cái bóng bên ngưỡng cửa sáng. “Cháu không được phép nói chuyện quá nhiều phải không?” Cô hỏi.
“Không được, bồ câu à.”
“Cháu có thấy mệt lắm đâu. Nhưng cũng không biết được. Cậu có mệt ban ngày bao giờ không?” Cô hỏi tôi.
“Cũng thỉnh thoảng.” Sau khi mẹ mất, tôi có thói quen ngủ gật giữa lớp hay thỉu đi trong phòng Andy sau giờ học. “Ngày xưa thì không bao giờ.”
“Tớ cũng thế. Giờ thì lúc nào tớ cũng thấy buồn ngủ. Không biết tại sao nhỉ? Tớ thấy thật là chán.”
Hobie - tôi nhận ra khi nhìn lại ô cửa sáng - đã bước ra ngoài một lúc. Không hiểu vì lý do kỳ quái gì, và rất khác với tôi mọi khi, từ nãy đến giờ tôi đã sốt ruột muốn với lấy nắm tay cô; giờ thì ông đi rồi, tôi bèn làm vậy.
“Cậu không ngại chứ?” tôi hỏi. Mọi thứ đều diễn ra rất chậm, như thể tôi đang bơi qua làn nước sâu. Thật lạ lùng khi nắm tay ai đó - nắm tay một cô gái - nhưng cũng thật bình thường đến lạ. Trước đây tôi chưa làm vậy bao giờ.
“Không. Tớ thấy rất vui.” Rồi ngưng một khắc - khiến tôi nghe tiếng con chó ngáy khẽ - có nói: “Cậu không phiền nếu tớ nhắm mắt vài giây chứ?"
“Không” tôi đáp và đưa ngón cái mân mê những khớp ngón tay cô, lần theo các đốt xương.
“Tớ biết là bất lịch sự lắm, nhưng tớ không thể nén được.”
Tôi nhìn xuống đôi mí mắt dưới bóng mi, đôi môi nứt nẻ, sắc tái và những vết bầm tím, những đường chéo kim loại xấu xí trên vành tai. Những điều hấp dẫn nơi cô và những điều đáng ra không thể coi là hấp dẫn, tạo thành một kết hợp lạ lùng, khiến đầu tôi vảng vất và bối rối.
Áy náy, tôi nhìn trở lại, thấy Hobie đang đứng bên cửa. Sau khi rón rén ra khỏi phòng, tôi đóng cửa thật nhẹ sau lưng và mừng thầm rằng hành lang thật tối.
Chúng tôi cùng quay trở lại phòng khách. “Cháu thấy nó thế nào?”ông hỏi khẽ đến mức tôi gần như không nghe thấy.
Tôi biết đáp lại thế nào bây giờ? “Cháu nghĩ là ổn ạ.”
“Nó không còn là chính mình nữa.” Ông ngừng lại âu sầu, hai tay thọc sâu vào túi áo choàng tắm. “Nghĩa là... nó vừa là nó, vừa không phải là nó. Nó không nhận ra rất nhiều người thân thiết với nó, và nói chuyện với họ rất khách khí, nhưng nhiều khi nó lại cởi mở quá mức với người lạ, nói năng thoải mái luôn miệng, với những người nó chưa gặp bao giờ, cứ như là bạn cũ. Người ta bảo đấy cũng là chuyện thường gặp.”
“Sao bạn ấy lại không được nghe nhạc ạ?”
Ông nhướng mày. “Ồ, nó thỉnh thoảng vẫn nghe chứ. Nhưng nhiều lúc, nhất là vào chiều tối, nghe nhạc làm nó phiền lòng - nó nghĩ mình phải tập đàn, phải luyện một bài cho trường, nó trở nên rất bức bối. Rất khó chịu. Còn về chuyện chơi nhạc ở mức nghiệp dư nào đó thì hoàn toàn có thể vào một ngày nào đó, ấy là người ta bảo vậy...”
Bất thình lình chuông cửa reo khiến chúng tôi giật bắn mình.
“A...” Hobie thốt lên, vẻ mặt sầu não, liếc vào đồng hồ đeo tay (tôi thấy rất cổ và cực kỳ tinh xảo), “chắc y tá đến rồi.”
Chúng tôi nhìn nhau; Chuyện giữa chúng tôi còn chưa xong, còn biết bao điều cần nói.
Chuông lại reo. Đầu kia hành lang, con chó đang sủa. “Hôm nay cô ta đến sớm.” Hobie hối hả đi ra cửa, trông vẻ rất thất vọng.
“Cháu quay lại sau được không? Thăm bạn ấy?”
Ông dừng lại. Ông có vẻ thất kinh là tôi lại còn phải hỏi. “Tất nhiên là cháu quay lại được rồi” ông đáp. “Xin cháu hãy quay lại...”
Lại chuông.
“Lúc nào cũng được” Hobie nói. “Xin cháu đấy. Bác và nó lúc nào cũng vui mừng chào đón cháu.”
III
“THẾ LÀ CÓ CHUYỆN GÌ ở đằng đó?” Andy hỏi khi chúng tôi mặc đồ dạ tiệc. “Có kỳ lắm không?” Platt đã đi cho kịp tàu về trường, bà Barbour thì ăn tối với ban quản lý dự án từ thiện nào đó, nên ông Barbour đưa cả đám còn lại đi ăn tối ở câu lạc bộ du thuyền (là nơi chúng tôi chỉ đi khi nào bà Barbour có việc bận).
“Cái ông ở đấy biết mẹ cậu.”
Andy thắt nút cà vạt và nhăn mặt kiểu: ai cũng biết mẹ cậu ta cả.
“Cũng hơi kỳ.” tôi nói. “Nhưng thật may là tớ đã đi. Trả này.” tôi nói và lục trong túi, “cảm ơn đã cho tớ mượn.”
Andy xem có tin nhắn không, rồi tắt đi nhét lại vào túi. Ngưng giữa chừng, tay còn bỏ trong túi, cậu ta ngước lên tuy không nhìn thẳng vào tôi.
“Tớ biết là mọi thứ tệ lắm.” cậu ta bỗng dưng nói. “Tớ rất xin lỗi là cậu lại rơi vào cảnh khốn nạn như thế này.”
Giọng cậu ta - vô cảm như giọng máy trả lời điện thoại tự động - khiến một phút sau tôi mới hiểu ý cậu ta là gì.
“Cô dễ thương kinh khủng.” cậu ta nói mà vẫn chưa nhìn hẳn vào tôi. “Tớ muốn nói là…”
“Ờ, được rồi.” tôi lẩm bẩm, không thiết tha gì với đề tài này.
“Tớ muốn nói là đến tớ cũng còn nhớ cô” Andy nói và lần này đã nhìn tôi, ánh mắt có phần kinh sợ. “Chưa bao giờ có ai tớ quen lại chết. Ờ, có ông ngoại Van der Pleyn. Nhưng chưa bao giờ có ai trong những người tớ thích cả.”
Tôi không đáp. Mẹ lúc nào cũng dành tình cảm đặc biệt cho Andy, kiên nhẫn ngồi hỏi han cậu ta về bộ đo khí tượng trong nhà, chọc ghẹo về điểm số trò Galactic Battlegrounds[49] cho đến khi cậu ta đỏ mặt tía tai vì khoái chí. Trẻ trung, tinh nghịch, ưa đùa giỡn và âu yếm, mẹ là phiên bản đối nghịch hoàn toàn với mẹ cậu ta: một bà mẹ biết chơi ném đĩa với chúng tôi trong công viên, bàn luận về phim xác sống, cho phép chúng tôi nằm trên giường mình sáng Chủ nhật ăn ngũ cốc Lucky Charms khi xem hoạt hình, và thỉnh thoảng tôi còn thấy bực, chỉ tí chút thôi, là cậu ta trông có vẻ thật ngớ ngẩn và sung sướng khi ở gần mẹ, chạy lẽo đẽo sau lưng mà lảm nhảm về Bàn 4 của trò chơi khỉ gió gì đó cậu ta đang theo đuổi, không dứt nổi mắt khỏi đằng lưng mẹ khi mẹ cúi mình lấy cái gì đó trong tủ lạnh.
“Cô thật cực kỳ…” Andy nói tiếp bằng cái giọng xa vắng. “Cậu có nhớ hôm cô đưa chúng mình đi xe buýt tới dự hội nghị fan truyện kinh dị tít tận New Jersey không? Rồi có cái thằng gớm chết tên Rip cứ chạy theo nài nỉ có đóng phim ma cà rồng cho hắn?”
Tôi biết cậu ta có thiện ý. Nhưng tôi hầu như không thể chịu nổi nói chuyện về bất kỳ để tài gì dính tới mẹ, hoặc tới Trước kia, và tôi ngoảnh đi.
“Tớ nghĩ thằng đó thậm chí còn không phải loại kinh dị nữa kìa.” Andy vẫn nói bằng cái giọng yếu ớt phát bực mình ấy. “Tớ nghĩ đấy là thể loại bệnh hoạn. Hầm ngục có những cô gái bị xích vào bàn thí nghiệm, thật chẳng khác gì phim khổ dâm. Cậu có nhớ hắn lạy lục xin cô gắn thử cặp nanh ma cà rồng vào không?”
“Nhớ. Đến lúc đó thì mẹ tớ đi gọi bảo vệ.”
“Quần da bó nữa chứ. Khuyên đeo khắp chỗ. Ý tớ là, biết đâu đấy, cũng có thể hắn đang làm phim thật, nhưng có vậy thì hắn vẫn là một thằng biến thái kinh tởm, cậu thấy không? Cái kiểu cười nhe nhởn ấy? Rồi cứ liên tục tìm cách nhìn xuống ngực áo cô?”
Tôi chĩa ngón tay thối vào cậu ta. “Thôi im đi và đi thôi.” tôi nói. “Tớ đói lắm rồi.”
“Thế cơ hả?” Tôi đã sụt bốn năm cân từ hồi mẹ mất, đủ để khiến bà Swanson (thật ngượng chín người) bắt đầu đem cân tôi trong phòng bà, chính bằng cái cân dành cho bọn con gái mắc chứng biếng ăn.
“Thế cậu không đói chắc?”
“Có chứ, nhưng tớ cứ nghĩ cậu đang giữ eo. Để còn mặc vừa váy dạ hội.”
“Ăn cứt đi” tôi hồ hởi đáp khi mở cửa - và đâm sầm ngay vào ông Barbour đang đứng sát bên ngoài, không hiểu đang nghe lén hay đang chuẩn bị gõ cửa nữa.
Chết điếng, tôi lắp ba lắp bắp - nói tục là một vi phạm rất nghiêm trọng tại nhà Barbour - nhưng ông có vẻ không phiền lòng lắm.
“À, Theo hả?” ông ranh mãnh nói và nhìn qua bên kia đầu tôi, “dĩ nhiên là bác rất mừng khi biết cháu đã khá hơn. Đi thôi, chúng ta tới kiếm bàn nào.”
IV
SUỐT TUẦN TIẾP ĐÓ ai cũng nhận ra tôi đã ăn uống khá hơn, kể cả Toddy. “Anh không tuyệt thực nữa à?” Nó tò mò hỏi tôi một sáng.
“Toddy, tập trung ăn sáng đi.”
“Nhưng con nghĩ là gọi thế mà. Những người không ăn ấy.”
“Không, tuyệt thực chỉ là người ở tù thôi.” Kitsey lạnh lẽo nói.
“Kitten? ông Barbour đe.
“Vâng, nhưng hôm qua anh ý ăn ba cái bánh xốp” Toddy nói tiếp, mặt rất háo hức tìm cách lôi kéo hai bậc bố mẹ thờ ơ vào câu chuyện. “Con chỉ ăn có hai. Sáng nay anh ý còn ăn một bát ngũ cốc và sáu miếng thịt muối nữa, nhưng bố mẹ bảo con ăn năm miếng thì quá nhiều. Sao con không được ăn năm miếng giống anh ý?”
V
“À ĐÂY RÔI, CHÀO CHÁU” gã bác sĩ tâm thần học Dave vừa chào vừa đóng cửa, kéo ghế ngồi đối diện tôi trong phòng: thảm cầu nguyện Thổ, giá sách chất đầy giáo trình cũ (Ma túy và xã hội; Tâm lý trẻ em: Cách tiếp cận mới); rèm cửa màu be nếu bấm nút sẽ ro ro mở ra.
Tôi mỉm cười luống cuống, đưa mắt nhìn khắp phòng, chậu cọ, tượng Phật bằng đồng, nhìn đâu cũng được miễn không nhìn gã ta.
“Thế đấy.” Tiếng ầm ừ từ xe cộ dưới Đại lộ 5 bay lên khiến cảnh im lặng giữa chúng tôi càng có cảm giác như cách vài thiên hà. “Hôm qua tình hình thế nào?
“À...” Tôi kinh khiếp những buổi gặp Dave tuần hai lần, tra tấn không kém gì đi nhổ răng; tôi cũng thấy ăn năn là không thể ưa gã ta hơn, trong khi gã ta thì cố gắng đến vậy, liên tục hỏi xem tôi thích phim gì, sách gì, in đĩa, in cho tôi, cắt các bài báo từ tạp chí Game Pro gã nghĩ chắc tôi sẽ thích - có lần còn đưa tôi đi ăn hamburger ở quán EJ - thế nhưng mỗi lần nghe các câu hỏi tôi lại cứng người, cứ như bị đẩy lên sân khấu giữa một vở diễn không thuộc lời thoại.
“Hôm nay cháu có vẻ lơ đãng.”
“Ơ...” Tôi cũng không để lọt mắt là có kha khá nhan đề sách trên kệ của Dave có chữ dục: Tình dục tuổi thiếu niên, Tình dục và nhận thức, Các kiểu biến thái tình dục, và cái tôi thích nhất: Thoát khỏi bóng tối: Lý giải về chứng nghiện tình dục. “Cháu nghĩ là cháu ổn ạ.”
“‘Cháu nghĩ là… à?”
“Cháu ổn ạ. Mọi thứ đều tốt.”
“Thế hả?” Dave ngả người trên ghế, nhịp nhịp đôi Converse. “Thế thì tuyệt.” Rồi thì: “Sao cháu không cập nhật tình hình cho chú xem dạo này thế nào nhỉ?”
“Ờ…” Tôi gãi gãi trán và nhìn lảng đi. “Tiếng Tây Ban Nha vẫn khó... cháu có thêm một bài kiểm tra bù nữa, chắc là thứ Hai tới. Nhưng cháu được điểm A bài sử về Stalingrad. Thế nên chắc điểm tổng kết B- sẽ được tăng lên B.”
Gã ta im lặng thật lâu, vẫn nhìn tôi, khiến tôi cảm thấy như bị đánh bẫy và bắt đầu nghĩ ngợi xem còn gì để nói nữa không. Rồi: “Còn gì nữa?”
“À...” Tôi nhìn xuống hai ngón tay cái.
“Chứng lo âu dạo này thế nào?”
“Cũng không tệ ạ” tôi đáp và nghĩ mình bức bối chính vì chẳng biết gì về Dave. Gã ta thuộc loại người đeo thứ nhẫn cưới trông chẳng giống như nhẫn cưới - mà cũng có thể đó chẳng phải là nhẫn cưới, có thể chỉ là gã rất tự hào về dòng dõi Celt của mình. Tôi đoán gã mới lập gia đình, có con nhỏ - ở gã toát ra vẻ ngơ ngẩn, kiệt lực của kẻ mới làm cha, như thể thường phải dậy thay tã nửa đêm - nhưng ai mà biết được?
“Còn thuốc thang thì sao? Tác dụng phụ các loại?”
“Ưm...” tôi gãi mũi “chắc là có đỡ hơn ạ”. Tôi đã bỏ dùng thuốc, chúng làm tôi mệt mỏi đau đầu đến nỗi gần đây tôi toàn nhổ xuống lỗ thoát nước trong nhà tắm.
Dave im lặng một chốc. “Vậy thì... cũng không sai nếu nói rằng cháu đang dần cảm thấy khá hơn phải không?”
“Chắc là không ạ” tôi nói sau một lúc im lặng, nhìn tấm trang trí treo tường sau đầu gã. Trông như một cái bàn tính treo lệch, đầy những hạt cườm bằng đất sét và dây thừng tết nút, và tôi đã dành hình như phải đến nửa cuộc đời gần đây chỉ ngồi nhìn nó.
Dave mỉm cười. “Giọng cháu nghe như thể đấy là điều đáng xấu hổ vậy. Nhưng cảm thấy khá hơn không có nghĩa là cháu đã quên mất mẹ mình đâu. Cũng không có nghĩa là cháu bớt yêu mẹ.”
Tôi chưa bao giờ có ý nghĩ này. Căm tức gã đã nêu ra giả thiết đó, tôi đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, ngắm khung cảnh rầu lòng gã phải ngắm hằng ngày: cái nhà gạch trắng bên kia đường.
“Thế cháu có nghĩ ra vì sao mình lại thấy khá hơn không?”
“Không” tôi đáp cụt ngủn. Khá hơn còn không phải là từ diễn tả điều tôi đang cảm thấy. Điều ấy không có chữ nào nói được. Đúng hơn là những thứ quá bé nhỏ không đáng nói đến - tiếng cười trong hành lang trường học, con thằn lằn cuống quýt bò trong bể ở lớp Sinh - nay khiến tôi phút trước hân hoan rồi phút sau đã muốn òa khóc. Thỉnh thoảng khi tối đến, một hơi gió ẩm đấy bụi từ Đại lộ Công viên phả vào cửa sổ, đúng khi giao thông giờ cao điểm vãn dần và thành phố đang trút dần xe cộ chờ vào đêm; trời lâm thâm mưa, lá cây xoãi dài, mùa xuân đậm dần thành hạ; và tiếng còi thê lương giữa phố, mùi âm ẩm trên lề đường ướt như truyền điện, cảm giác về những đám đông cùng những cô thư ký cô độc đứng lặng cùng những ông béo xách túi đồ ăn mua về, nơi nơi là vẻ buồn khó nhọc của những con người xô đẩy nhau, giành nhau từng mẩu cuộc sống. Hằng tuần rồi tôi đã bị đông đá, tách rời với con người; giờ đây khi tắm, tôi vặn vòi sen hết cỡ rồi hú lên câm lặng. Mọi thứ đều rất và đau đớn và rối loạn và lệch lạc, nhưng không hiểu sao cảm giác vẫn như tôi vừa bị lôi từ lòng nước đá lên qua một lỗ hổng trên mặt băng, đứng giữa ánh nắng và giá lạnh tê người.
“Cháu vừa đi đâu thế?” Dave hỏi, tìm cách nhìn vào mắt tôi.
“Dạ?”
“Cháu vừa nghĩ đến gì thế?”
“Có gì đâu ạ.”
“Thế hả? Khó có thể không nghĩ đến cái gì.”
Tôi nhún vai. Ngoài Andy ra tôi chưa hề kể cho ai nghe mình đã lên xe buýt đến nhà Pippa, và bí mật ấy nhuộm màu mọi thứ như dư quang của giấc mơ: những bông anh túc bằng giấy ăn, ánh chập chờn từ cây nến chảy, sức nóng dinh dính khi bàn tay cô nằm trong tay tôi. Nhưng dù sau một thời gian rất dài mới nếm trải được một thứ âm vang như thế, thực đến thế, tôi không muốn làm hỏng nó bằng cách đem ra kể lể, nhất là với gã ta.
Chúng tôi ngồi đó thêm một hồi lâu nữa. Rồi Dave cúi người về trước vẻ mặt lo âu, nói: “Cháu biết không, khi hỏi cháu đi đâu những lúc im lặng như vậy, không phải chú định bắt nạt hay làm khó gì cháu đâu.”
“Vâng, cháu biết mà.” tôi khó khăn nói và rứt rứt lớp vải tuýt bọc đệm trên tay ghế.
“Nhiệm vụ của chú là nói về bất cứ chuyện gì cháu muốn nói. Hoặc là..- tiếng gỗ cọt kẹt khi gã trở người trên ghế - “chúng ta có thể không nói gì cũng được! Chỉ có điều chú không biết cháu nghĩ gì trong đầu.”
“À” tôi nói sau một chặng im lặng dài bất tận nữa, cố cưỡng lại ý muốn nhòm vào đồng hồ trên tay. “Cháu chỉ muốn nói là... ” - còn bao nhiêu phút nữa? Bốn mươi à?
“Vì chú nghe tin, từ vài người lớn khác xung quanh cháu, rằng gần đây cháu đã có tiến bộ rõ rệt. Cháu tham gia vào giờ học trên lớp nhiều hơn.” gã nói tiếp khi thấy tôi không đáp. “Giao tiếp xã hội cũng nhỉều hơn. Ăn uống bình thường trở lại.” Trong cảnh im lặng, tiếng còi xe cứu thương vọng đến lờ mờ từ dưới đường. “Vậy nên chú mong cháu có thể giải thích cho chú có gì khác trước.”
Tôi nhún vai và gãi gãi má. Làm sao giải thích được chuyện này? Nội ý nghĩ đó cũng là ngớ ngẩn. Ngay ký ức ấy cũng đã bắt đầu nhòa nhạt, lung linh như không thực, như một giấc mơ có các chi tiết càng mau phai nếu càng cố tâm bắt lấy. Quan trọng là ở cảm giác, ở vị ngọt thắm âm thầm mạnh mẽ đến nỗi trốn lớp, trên xe buýt, trên giường, nếu cần cố tìm thứ gì đó an toàn hay dễ chịu, nơi nào đó hay trật tự gì đó để tim tôi khỏi thắt lại vì lo âu, tôi chỉ cần thả mình chìm xuống cái dòng chảy ấm như huyết quản, để luồng xoáy đưa mình đi đến chốn bí ẩn nơi tất cả đều yên lành. Những bức tường màu quế, những giọt mưa trên cửa kính, sự im lặng mênh mông, cảm giác về độ sâu và khoảng xa, như véc-ni quết qua nền bức tranh thế kỷ 19. Thảm mòn đến xơ chỉ, quạt giấy Nhật vẽ tranh, thiếp tình yêu cổ lặp lòe ánh nến, hề kịch câm và bồ câu và những trái tim kết vòng hoa. Khuôn mặt Pippa, vệt trắng trong bóng tối.
VI
“NÀY” MẤY NGÀY SAU TÔI NÓI với Andy, khi rời khỏi Starbucks trên đường về, “chiêu nay cậu lại giấu cho tớ được không?”
“Được thôi” Andy đáp và nuốt ực một miếng cà phê. “Bao lâu?”
“Chưa biết.” Còn tùy xem đổi tàu ở Phố 14 mất bao lâu, đi xuống trung tâm có thể mất đến bốn mươi lăm phút; ngày trong tuần xe buýt sẽ còn lâu hơn. “Ba tiếng?”
Cậu ta nhăn mặt; nếu bà mẹ có nhà sẽ có lắm câu hỏi phải trả lời. “Tớ bảo mẹ thế nào đây?”.
“Bảo là tớ có việc ở lại trường hay gì đó.”
“Mẹ sẽ nghĩ cậu bị phạt.”
“Thì đã sao?”
“Không sao, nhưng tớ không muốn mẹ gọi đến trường hỏi cậu.”
“Vậy bảo tớ đi xem phim.”
“Thế thì sẽ hỏi sao tớ không đi cùng. Hay nói cậu đến thư viện?”
“Thế nghe hèn quá.”
“Được rồi. Vậy ta sẽ bảo rằng cậu có một cuộc hẹn khẩn cấp không trì hoãn được với ông cảnh sát đang theo dõi cậu. Hay cậu đã ghé vào quán bar khách sạn Four Seasons làm hai ba ly cốc tai pha Uýt-ki.”
Cậu ta đang bắt chước ông bố, chuẩn đến nỗi tôi bật cười. “Fabelhaft[50]” tôi đáp bằng giọng ông Barbour. “Buồn cười lắm.”
Cậu ta nhún vai. “Cơ sở chính tối nay mở cửa đến bảy giờ” cậu ta tiếp bằng cái giọng nhạt nhẽo yếu ớt của bản thân. "Nhưng tớ không cần biết cậu đi nơi nào đâu nếu cậu quên nói.”
VII
CỬA BẬT MỞ NHANH HƠN tôi dự kiến, trong lúc tôi còn đang nhìn lòng đường nghĩ về chuyện khác. Lần này ông đã cạo râu nghiêm chỉnh, người toát mùi xà phòng, mái tóc bạc dài đã chải cẩn thận giắt sau tai, và ăn mặc cũng đường hoàng chẳng kém gì ông Blackwell khi tôi gặp.
Lông mày ông trợn lên, rỗ ràng là ngạc nhiên khi thấy tôi. “Chào cháu!”
“Cháu đến không đúng lúc ạ?” Tôi hỏi và nhìn cổ tay áo trắng bong, thêu một ký tự tí xíu màu đỏ thắm Trung Hoa, nhỏ và cách điệu đến mức gần như không nhìn thấy.
“Không hề. Thực tình là bác đang hy vọng cháu sẽ đến.” Ông đeo cà vạt đỏ có hình vẽ màu vàng nhạt; giày da thắt dây; bộ vét màu xanh thủy quân cắt may rất khéo. “Vào đi! Xin mời.”
“Bác sắp đi đâu à?” Tôi hỏi và nhút nhát đưa mắt nhìn. Bộ vét làm ông trông như một người khác, không ủ ê lơ đễnh như trước, có vẻ năng nổ hơn - không phải Hobie trong lần tôi đến trước đây mang cái vẻ xác xơ của chú gấu Bắc cực xinh đẹp mà bị ngược đãi.
“À, có. Nhưng chưa. Thực tế là chúng tôi đang hơi bấn. Nhưng không sao.”
Thế nghĩa là sao? Tôi theo ông vào nhà - qua xưởng như một cánh rừng những chân bàn và ghế bật lò xo - qua phòng khách tăm tối vào bếp, nơi con chó Cosmo đang bứt rứt đi đi lại lại rên ư ử, móng chân gỗ tành tạch trên ván sàn. Khi chúng tôi vào đến nơi, nó bước thụt lùi vài bước và hung hăng ngước nhìn.
"Sao nó lại ở đây?” Tôi hỏi và quỳ xuống định vuốt đầu nó, rồi rụt tay lại khi thấy nó lảng đi.
“Hử?” Hobie hỏi. Ông có vẻ bận tâm suy nghĩ chuyện gì.
“Cosmo ấy. Không phải nó thích ở với bạn ấy à?”
“À. Bác gái của con bé. Không muốn nó ở trong đó.” Ông đang rót nước vào ấm trà ở bồn rửa, và - tôi nhận thấy - cái ấm run run trong tay ông.
“Bác gái à?”
“Ừ” ông nói và đặt ấm lên bếp, rồi quỳ xuống gãi cằm con chó. “Cậu chàng tội nghiệp, mày không biết phải nghĩ thế nào phải không? Margaret rất kiên quyết về chuyện để chó trong phòng người ốm. Hẳn là bà ấy đúng rồi. Còn cháu thì lại ở đây.” ông nói và liếc nhìn lại tôi, ánh mắt chợt rạng rỡ lạ lùng. “Lại dạt tới chỗ chúng tôi. Pippa luôn miệng nói về cháu từ hôm cháu đến.”
“Thật ạ?” Tôi mừng rỡ đáp.
“‘Cậu ấy đâu rồi?’ ‘Có một cậu bé đến đây.’ Vừa hôm qua nó bảo bác rằng cháu sắp quay lại và đây” ông nói với tiếng cười rất trẻ trung và đầm ấm, “cháu đã đến.” Ông đứng dậy, khớp gối kêu lục cục, chùi mu cổ tay lên cặp mày trắng nổi gồ. “Nếu đợi thêm ít nữa cháu sẽ vào thăm nó được.”
“Bạn ấy thế nào rồi ạ?”
“Đỡ hơn nhiều lắm” ông hoạt bát đáp mà không nhìn tôi. “Rất nhiều diễn biến. Bác nó sắp đón nó về Texas.”
“Texas?” Tôi đáp, choáng váng.
“Thế đấy.”
“Bao giờ ạ?”
"Ngày kia.”
"Không được!”
Ông nhăn mặt - thoáng một cái rồi biến mất. “Phải, bác đang sắp xếp đồ đạc cho nó đi đây” ông nói bằng giọng hớn hở thực chẳng hợp với vẻ buồn bã vừa lướt qua mặt ông. “Dạo này người đi người đến suốt. Bạn học ở trường - thực ra hôm nay là ngày đầu tiên được yên ổn đấy. Cả tuần vừa rồi nườm nượp khách.”
“Bao giờ bạn ấy về lại ạ?”
“À... còn lâu, thực ra là thế. Margaret đón nó về đấy ở.”
“Ở vĩnh viễn ạ?”
“À không! Không phải vĩnh viễn” ông nói bằng cái giọng khiến tôi nhận ra vĩnh viễn chính là điều ông muốn nói. “Đâu có phải là nó sẽ rời khỏi mặt đất này đâu.” ông nói thêm khi thấy vẻ mặt tôi. “Chắc chắn bác vẫn xuống đó thăm nó chứ. Và chắc chắn nó cũng sẽ còn về đây chơi.”
“Nhưng...” Tôi cảm thấy trần nhà vừa sập xuống đầu mình. "Cháu cứ tưởng bạn ấy sống ở đây. Với bác.”
"À thì đúng thế. Cho đến bây giờ. Dù bác nghĩ là nó ở đó thì tốt hơn nhiều.” ông nói thêm nhưng không có vẻ tin tưởng. “Đúng là một thay đổi lớn với mọi người, nhưng về lâu về dài bác nghĩ thế là tốt nhất.”
Tôi thấy rõ ông không tin một lời nào vừa thốt ra. “Nhưng sao không để bạn ấy ở đây?”
Ông thở dài. “Margaret là em cùng cha khác mẹ của Welty” ông nói. “Khác mẹ cùa Juliet nữa. Người thân gần nhất của Pippa. Dù sao cũng là máu mủ ruột rà, còn bác thì không. Bà ấy nghĩ Pippa về Texas sẽ cốt hơn vì giờ nó cũng khỏe đi lại được rồi.”
“Cháu chẳng thấy sống ở Texas có gì hay.” tôi điếng người đáp. “Ở đấy nóng lắm.”
“Bác nghĩ bác sĩ cũng không giỏi bằng ở đây.” Hobie đáp và phủi phủi tay. “Mặc dù về điểm này thì Margaret và bác có bất đồng.”
Ông ngồi xuống nhìn tôi. “Kính của cháu” ông nói. “Đẹp đấy.”
“Cảm ơn bác.” Tôi không muốn nói về đôi kính mới, một thay đổi không được hoan nghênh dù đúng là chúng giúp tôi nhìn rõ hơn. Bà Barbour đã chọn gọng ở E. B. Meyrowitz sau khi tôi bị đánh dấu trong buổi khám mắt ở trường. Gọng tròn màu mai rùa, cớ vẻ hơi người lớn quá, cũng hơi đắt tiền quá, và người lớn ai cũng sốt sắng quá khi quả quyết với tội rằng trông nó thật đẹp.
“Tình hình đằng ấy ra sao?” Hobie hỏi. “Cháu không tưởng tượng nổi chuyến thăm của cháu đã gây náo dộng thế nào đâu. Thực tế là bác cũng đang tính tự mình lên đó gặp cháu đấy. Chỉ có điều bác không muốn rời Pippạ, vì nó đã sắp đi rồi. Mọi thứ diễn ra nhanh quá, cháu hiểu không. Chuyện Margaret ấy. Bà ấy giống hệt ông Blackuell - chỉ cần bà ấy nghĩ ra việc gì đó là “đoàng”, đã làm xong.”
“Nó có đi Texas luôn không? Cosmo ấy?”
“Ồ không - nó ở đây là tốt rồi. Nó đã sống trong nhà này từ hồi mười hai tuần tuổi.”
“Không phải nó sẽ buồn à?”
“Hy vọng là không. Ừ, nói thật tình, nó sẽ nhớ con bé đấy. Cosmo với bác sống với nhau cũng tạm, cho dù nó đã suy sụp rất dữ từ hồi Welty mất. Thực ra nó là chó của Welty, chỉ gần đây mới bắt đầu thân thân với Pippa. Lũ chó sục nhỏ mà Welty vẫn nuôi nói chung không ưa trẻ con lắm, cháu biết đấy - Chessie mẹ của Cosmo đúng là một nỗi kinh hoàng.”
“Nhưng sao Pippa lại phải xuống đấy ở?”
“À” Ông nói và dụi mắt, “thực tình đấy là điều duy nhất có lý. Margaret là người thân gần nhất về giấy tờ. Dù Margaret và Welty gần như không ngó ngàng tới nhau hồi ông còn sống - ít nhất là trong những năm gần đây.”
“Tại sao?”
“À...” Tôi thấy là ông không muốn nói chuyện đó. "Lằng nhằng lắm. Margaret khá là không ưa mẹ Pippa, cháu hiểu không?”
Vừa nói đến đó, một người đàn bà cao ráo mũi nhọn vẻ năng nổ bước vào phòng; bà đã đủ tuổi có cháu ngoại, khuôn mặt độc địa cao ngạo và mái tóc màu gỉ sắt đang ngả bạc. Bộ vét và giày trên người bà khiến tôi nghĩ đến bà Barbour, duy chỉ cái màu bà Barbour sẽ không đời nào đụng đến: màu vỏ chanh).
Bà nhìn tôi, rồi nhìn Hobie. “Gì đây?” Bà lạnh lùng hỏi.
Hobie thở hắt ra, trông ông thật khổ sở. “Có gì đâu, Margaret. Đây là cậu bé đã ở bên Welty khi ông qua đời.”
Bà ta nghía mắt nhìn tôi qua cặp kính đọc sách - và rồi cười lên rất gắt, tiếng cười có vẻ cảnh giác
“Ồ chào cháu!” bà ta nói - đột nhiên cực kỳ ngọt ngào, chìa cho tôi đôi bàn tay đỏ gầy đeo đầy kim cương. “Tôi là Margaret Blackvvell Pierce. Em gái Welty. Em cùng cha khác mẹ, cháu hiểu không?” bà cải chính và liếc qua vai tôi nhìn Hobie khi thấy lông mày tôi sụp xuống. “Mẹ tôi là Susie Delaheld.”
Bà nói ra cái tên ấy với vẻ quan trọng. Tôi liếc sang Hobie xem ông phản ứng thế nào. Bà nhận ra tôi làm thế, quắc mắt lườm ông một cái rồi quay lại - tươi tỉnh hớn hở - nhìn tôi.
“Cháu thật là một cậu bé xinh xẻo đáng yêu.” bà bảo tôi. Cái mũi dài của bà ta màu hồng hồng ở chóp mũi. “Bác thật vô cùng vui mừng được gặp cháu. James và Pippa vẫn luôn miệng kể với bác về lần cháu đến chơi - thật phi thưởng. Cả nhà cứ rộn lên vì chuyện đó. Thêm nữa…” - bà ta siết chặt tay tôi - “bác phải cảm ơn cháu từ tận đáy lòng đã mang cái nhẫn của ông nội về lại cho bác. Nó có ý nghĩa với bác vô cùng.”
Nhẫn của bà ta? Lần nữa, tôi đưa mắt nhìn Hobie bối rối.
“Hẳn là với cha của bác cũng có ý nghĩa vô cùng nữa.” vẻ vồ vập của bà ta xem ra là cố ý, rất bài bản (“quyến rũ kinh người”, như ông Barbour thường bình phẩm); thế nhưng cái sắc đồng phảng phất hao hao ông Blackwell - và Pippa - ấy vẫn khiến tôi không định mà xiêu lòng. “Cháu biết nó đã từng bị mất một lần mà, phải không?”
Cái ấm huýt véo von. “Bà có dùng chút trà không, Margaret?” Hobie hỏi.
“Xin cảm ơn” bà ta đáp gọn. “Chanh và mật nhé. Với mấy giọt scotch nữa.” Quay sang tôi, đổi giọng ấm áp, bà ta bảo: “Bác xin lỗi vô cùng, nhưng có mấy việc người lớn các bác còn phải lo nữa. Sắp sửa phải đi gặp luật sư. Ngay khi nào y tá của Pippa đến.”
Hobie hắng giọng “Tôi thấy không có vấn đề gì nếu ...”
“Cháu vào thăm bạn ấy được không ạ?” Tôi hỏi, quá nôn nóng không đợi được ông nói hết câu
“Được chứ!” Hobie đáp vội trước khi bà Margaret kịp chen vào - và quay ngoắt đi rất khéo tránh vẻ mặt cáu kỉnh của bà ta. “Cháu nhớ đường mà phải không? Cứ đi theo lối kia.”
VIII
"CÂU ĐẦU TIÊN CÓ NÓI với tôi là: “Cậu tắt đèn hộ tớ được không?” Cô đang ngồi dựa trên giường, cắm tai nghe iPod, trông có vẻ lóa mắt và ngơ ngác trong ánh đèn điện trên đầu.
Tôi tắt đèn. Phòng có vẻ trống trải hơn, những hộp các-tông xếp sát tường. Cơn mưa phùn mùa xuân đang gõ vào cửa sổ, còn ngoài kia, trong sân nhà tối, một cây lê trổ bông trắng li ti trên nền gạch ướt.
“Chào cậu.” cô nói và siết chặt hơn đôi tay đặt trên chăn.
“Chào.” tôi nói và ước gì giọng mình không đến nỗi luống cuống như thế.
“Tớ biết là cậu mà! Tớ nghe thấy giọng cậu trong bếp.”
“Thế à? Sao cậu biết là tớ?”
“Tớ chơi nhạc mà! Tai tớ thính lắm.”
Giờ khi mắt đã quen với bóng tờ mờ, tôi nhận ra trông cô không xanh rớt như lần trước tôi gặp. Tóc đã mọc lại một chút, ghim phẫu thuật đã được tháo, dù cái vành tròn từ vết thương vẫn còn.
“Cậu thấy người thế nào?” Tôi hỏi.
Cô mỉm cười. “Buồn ngủ.” Cái buồn ngủ thấm đầy giọng cô, giọng nói khào khào nhưng nhỏ dần ngọt lịm. “Cậu có ngại chung không?”
“Chung cái gì cơ?”
Cô nghiêng đầu, lấy một bên tai nghe rồi đưa tôi. “Nghe chung.”
Tôi ngồi xuống bên cô trên giường, nhét nó vào tai: những hòa âm siêu trần, phi nhân, thấu tim, như phát sóng từ đài Thượng giới.
Chúng tôi nhìn nhau. “Cái gì thế?” Tôi hỏi.
“À…” cô nhìn xuống máy “Palestrina.[51]”
“Ồ.” Nhưng tôi không cần biết đấy là ai. Lý do duy nhất khiến tôi nghe là vì ánh sáng ướt mưa, cái cây trắng ngoài cửa sổ, tiếng sấm, và cô.
Sự im lặng giữa chúng tôi thật vui và kỳ lạ, nối với nhau bằng sợi tai nghe và những giọng hát băng đá khe khẽ âm vang. “Cậu không cần nói chuyện đâu” cô nói, “nếu không muốn.” Mí mắt cô đã trĩu xuống, giọng mơ màng như đang kể một bí mật. “Ai cũng nói suốt, tớ chỉ thích im lặng thôi.”
“Cậu vừa khóc đấy à?” Tôi hỏi và ghé nhìn cô sát hơn.
“Đâu có. Ờ... một tí thôi.”
Chúng tôi ngồi đó, không nói gì, thế mà hoàn toàn không thấy ngượng ngập hay bối rối.
“Tớ phải đi đấy.” lát sau cô nói. “Cậu biết chưa?”
“Biết rồi. Bác nói với tớ.”
“Kinh khủng thật. Tớ không muốn đi.” Cô có mùi muối, mùi thuốc, và gì đó nữa, như món trà cúc mẹ thường mua ở quán Grace, ngòn ngọt như cỏ.
“Bác cậu có vẻ tốt” tôi cẩn trọng nói. “Tớ nghĩ vậy.”
“Tớ nghĩ vậy.” cô ủ ê nhắc lại, đưa ngón tay chạy dọc rìa chăn. “Bác ấy khoe nào là bể bơi. Ngựa nữa.”
“Có vẻ hấp dẫn.”
Cô chớp mắt lúng túng. “Có thể.”
“Cậu biết cưỡi không?”
“Không.”
“Tớ cũng thế. Nhưng mẹ tớ biết đấy. Mẹ tớ yêu ngựa lắm. Mẹ suốt ngày dừng chân nói chuyện với ngựa kéo xe ở mé nam Công viên Trung tâm. Cứ như là…” tôi không biết phải diễn ta thế nào “như là chúng nó nói chuyện với mẹ ấy Như là, chúng tìm cách quay đầu, dù đang phải đeo che mắt, về phía mẹ tớ đang đi.”
“Mẹ cậu cũng chết rồi à?” Cô lí nhí hỏi.
“Ừ.”
“Mẹ tớ đã chết từ...” cô dừng lại ngẫm nghĩ “tớ chẳng nhớ nữa. Mẹ chết sau kỳ nghỉ xuân ở trường năm nào đó, thế là tớ vừa được nghỉ xuân, vừa được nghỉ tuần tiếp theo nghỉ xuân. Còn có một chuyến dã ngoại ở trường, đến Vườn Bách thảo nữa, nhưng tớ không được đi. Tớ nhớ mẹ lắm.”
“Mẹ cậu mất vì gì?”
“Mẹ bị ốm. Mẹ cậu có bị ốm không?”
“Không. Bị tai nạn.” Và rồi - không muộn dấn sâu hơn vào chủ để này: “Nói tiếp nhé, mẹ tớ yêu ngựa lắm. Hồi còn nhỏ mẹ kể có một con ngựa của mẹ thỉnh thoảng thấy cô đơn? thế là nó sẽ đi tới tận nhà, ngó đầu vào cửa sổ xem có chuyện gì đang xảy ra.”
“Tên nó là gì?”
"Thuốc Vẽ.” Tôi rất mê những câu chuyện mẹ kể về những chuồng ngựa ở Kansas: cú và dơi làm tổ trên rui nhà, ngựa rống hay hí suốt ngày. Tôi thuộc hết tên bầy chó ngựa trong tuổi thơ của mẹ.
"Thuốc Vẽ à! Lông nó nhiều màu lắm phải không?”
“Lông nó màu đốm, kiểu thế. Tớ có thấy ảnh chụp. Thỉnh thoảng, mùa hè, nó đến ngó mẹ tớ khi mẹ đang ngủ trưa. Mẹ nghe thấy cả tiếng nó thở, cậu hình dung được không, ngay trong rèm.”
“Dễ thương quá! Tở thích ngựa lắm. Chỉ có điều...”
“Điều gì?”
“Tớ muốn ở lại đây hơn!” Bỗng dưng cô như sắp òa khóc. “Tớ không hiểu tại sao mình lại phải đi cả.”
“Cậu nên bảo họ là cậu muốn ở lại.” Tay chúng tôi đã chạm nhau từ bao giờ? Vì sao tay cô nóng thế?
“Tớ có bảo mà! Nhưng ai cũng nghĩ đến đó tốt hơn.”
“Sao vậy?”
“Tớ chẳng biết.” cô chau mày đáp. “Ở đó yên tĩnh hơn, họ bảo thế. Nhưng tớ không thích yên tĩnh, tớ thích có nhiều âm thanh để nghe.”
“Họ cũng sẽ bắt tớ đi chỗ khác.”
Cô chống tay nhỏm dậy. “Không!” Cô nói, vẻ hoảng hốt. “Bao giờ?” “Tớ không biết. Chắc là chóng thôi. Tớ sẽ phải đến ở với ông bà nội.”
“Ôi!” cô nói vẻ hoài nhớ và lại rơi người xuống gối. “Tớ chẳng có ông bà nào cả.”
Tôi lồng tay vào những ngón tay cô. “Ông bà tớ chẳng dễ chịu cho lắm.”
“Tội nghiệp cậu.”
“Không sao đâu.” tôi đáp, lấy giọng bình thường nhất có thể, dù tim đang đập đến mức tôi cảm thấy mạch phập phồng nơi đầu ngón tay. Tay cô trong tay tôi mịn như nhung và nóng như sốt, hơi hơi dấp dính.
“Cậu không có người thân nào khác à?” Mắt cô thật sẫm trong ánh sáng nhạt mờ từ cửa sổ, nhìn như mắt đen.
“Không có. Ờ...Bố tôi có tính không? “Không.”
Rồi đến một khoảng lặng kéo dài. Chúng tôi vẫn nối với nhau qua tai nghe: một cái nằm trong tai cô, cái kia trong tai tôi. Tiếng hát trong vỏ ốc. Những dàn đồng ca thiên thần, chuỗi ngọc âm thanh. Đột ngột thời gian như chậm hẳn lại, như thể tôi đã quên cách thở thế nào cho đúng lý, chốc chốc tôi lại thấy mình đang nín hơi, rồi thở ra quá ồn ào, quá sốc.
“Cậu bảo đây là gì ấy nhỉ?” Tôi hỏi cốt để có chuyện nói.
Cô mỉm cười ngái ngủ, đưa tay lấy một que kẹo mút nhọn trông chẳng mấy hấp dẫn đặt trên giấy bạc trên bàn đầu giường.
“Palestrina.” cô nói lúng búng với cái kẹo trong miệng. “Lễ trọng. Hay gì đấy. Tất cả nghe đều khá giống nhau.”
“Cậu có thích bác ấy không?” tôi hỏi. “Bác Margaret ấy?”
Cô nhìn tôi mấy hồi lâu. Rồi cẩn trọng đặt lại que kẹo trên giấy gói, cô nói: “Bác ấy có vẻ tốt. Tớ nghĩ thế. Chỉ có điều tớ chẳng biết rõ bác ấy lắm. Nên rất kỳ.”
“Sao phải thế? Sao cậu phải đi?”
“Tiền nong gì đấy Hobie chẳng làm gì được, bác ấy không phải bác ruột tớ. Bác vờ, Margaret gọi thế đấy.”
“Giá mà bác ấy là bác ruột cậu.” tôi nói. “Tớ muốn cậu ở đây.”
Bỗng dưng cô ngồi bật dậy, ôm lấy tôi và hôn tôi, và máu tuột khỏi đầu tôi, thật hẫng, như đang trượt chân rơi xuống khỏi vách đá.
“Tớ…” Chợt tôi thấy kinh hoàng. Mê man, do phản xạ, tôi đưa tay lên lau nụ hôn đi - chỉ có điều không phải do nó ướt át hay ghê tởm, tôi cảm thấy dấu vết nó để lại như một vệt sáng dọc mu bàn tay mình.
“Tớ không muốn cậu đi.”
“Tớ cũng không muốn đi.”
“Cậu có nhớ đã thấy tớ không?”
"Lúc nào?”
“Ngay trước đấy.”
“Không.”
"Tớ nhớ cậu.” tôi nói. Không hiểu sao tay tôi đã nằm trên má cô, tôi vụng về rút lại và ép nó phải ở lại bên mình, nắm thành nắm đấm, gần như ngồi lên trên. “Tớ đã ở đấy.” Mãi đến lúc đấy tôi mới nhận ra Hobie đứng bên cửa.
“Chào cháu, cháu yêu.” Và dù giọng nói trìu mến ấy chủ yếu dành cho cô, tôi cũng nhận ra có một chút là cho tôi. “Bác đã bảo cậu ấy sẽ trở lại mà.”
“Bác bảo thế thật!” cô nói và nhỏm dậy. “Cậu ấy đang ở đây.”
“À, thế lần sau cháu sẽ nghe bác chứ?”
“Cháu có nghe bác mà. Cháu chỉ không tin bác thôi.”
Mép rèm trong suốt quệt qua bệ cửa sổ. Mơ hồ, tôi nghe tiếng xe cộ ngân nga bên ngoài. Ngồi bên mép giường có có cảm giác như đang ở thời khắc tỉnh thức, giao giữa giấc mộng và ánh ngày, nơi mọi thứ hòa vào nhau, lẫn vào nhau ngay khi chuẩn bị chuyển mình, tất cả trong một cú trượt êm như ru thăng hoa: ánh sáng nhuộm mưa, Pippa ngồi dậy, Hobie trên ngưỡng cửa, nụ hôn của cô (có cái vị đặc biệt mà giờ tôi đoán chắc là kẹo mút tẩm morphine) còn dinh dính trên môi tôi. Nhưng tôi không tin là morphine có thể giải thích cho cảm giác váng vất mà tôi cảm thấy vào thời khắc ấy, tâm trạng tươi tắn chìm trong lớp lớp hạnh phúc và cái đẹp. Còn mơ hồ, chúng tôi nói lời chia tay (không hứa hẹn sẽ viết thư, vì hình như cô vẫn còn yếu chưa viết được) và rồi tôi đã ra tới hành lang, và y tá đã ở đấy rồi, bà Margaret đã oang oang nói những gì không hiểu và Hobie đặt bàn tay trấn an trên vai tôi, sức nặng rất an lòng, như mỏ neo, cho tôi biết mọi chuyện đều ổn cả. Tôi chưa cảm thấy bàn tay nào như thế kể từ khi mẹ qua đời - thân mật và neo giữ giữa một đầm lầy những sự kiện rối tung - và như con chó hoang khát thèm âu yếm, tôi cảm thấy lòng trung thành của mình ngả rõ rệt về phía ấy, lặn sâu vào máu, một niềm tin đột xuất, khiêm nhường, trào nước mắt, rằng nơi này tốt, người này an toàn, mình có thể tin ông, ở đây sẽ không ai làm hại mình cả.
"A!” Bà Margaret kêu lên, “cháu khóc đấy à? Cô nhìn thấy không?” Bà nói với cô y tả trẻ (gật gù, cười toét, háo hức muốn làm bà vui lòng, rõ ràng đã bị bà hớp hồn). “Cậu bé đáng yêu làm sao! Cháu sẽ nhớ nó chứ phải không?” Nụ cười củạ bà nở lớn, rất tin vào bản thân, vào sự chính đính của bản thân. “Cháu phải xuống thăm chúng tôi đấy, nhất định đấy. Tôi lúc nào cũng thích tiếp khách khứa. Cha mẹ tôi.. có một trong những ngôi nhà thời Tudor, lớn nhất Texas...”
Bà ta cứ huyên thuyên không ngớt, thân thiện như một con vẹt. Nhưng lòng tôi đã đặt vào nơi khác rồi. Và vị nụ hôn Pippa trên miệng - nửa đắng nửa ngọt, lạ lùng - vẫn ở lại với tôi trên suốt đường lên nửa bắc, chao đảo, mê ngủ trên xe buýt băng băng vượt phố, muốn tan chảy vì buồn rầu và yêu thương, một nỗi nhức nhối lung linh cất tôi vượt bổng lên tít trên cao thành phố gió tạt như một cánh diều: đầu tôi giữa những mây dông, trái tim tôi trên thượng giới.
IX
TÔI GHÉT PHẢI NGHĨ đến chuyện cô đi. Tôi không chịu nổi phải nghĩ về chuyện đó. Ngày cô đi, tôi tỉnh giấc với trái tim suy sụp. Nhìn sang bầu trời bên trên Đại lộ Công viên nửa xanh nửa đen đầy đe dọa, bầu trời vẫn đục như một bức tranh vẽ cảnh Chúa đóng đinh, tôi hình dung cô cũng đang nhìn chính bầu trời đen kịt ấy ngoài cửa sổ máy hay, và trong lúc tôi cùng Andy đi bộ ra bến xe buýt, những cặp mắt cụp xuống và không khí ủ ê chung trên phố dường như chỉ càng phản ánh và thổi bùng nỗi buồn trong lòng tôi.
“Ừ, Texas thì đúng là chán ngấy rồi.” Andy vừa hắt hơi vừa nói; mắt cậu ta đã đỏ lên, chảy nước vì dị ứng phấn hoa, trông cậu ta còn giống con chuột thí nghiệm hơn cả lúc thường.
“Cậu đến rồi à?”
“Ừ - Dallas. Chú Harry và dì Tess có sống ở đó một thời gian. Chả có gì giải trí, chỉ có đi xem phim, lại chẳng có chỗ nào gần để đi bộ được cả, toàn phải có người chở đi. Lại có rắn chuông nữa, có cả án tử hình, mà tớ nghĩ như thế thì thật mọi rợ và vô đạo lý trong chín mươi tám phần trăm trường hợp. Nhưng chắc bạn ấy ở đấy thì tốt hơn.”
“Sao lại vậy?”
“Chủ yếu là do khí hậu.” Andy đáp và lau mũi vào cái khăn mùi xoa đã là phẳng, sáng nào cậu ta cũng bốc ra từ chồng khăn để trong ngán kéo. “Người ốm dậy ở nơi ấm thì tốt hơn. Nên ông ngoại Van der Pleyn của tớ mới chuyển đến sống ở Palm Beach.”
Tôi không đáp. Tôi biết Andy là đứa trung thành, tôi tin cậy và đánh giá cao nhận định của cậu ta, nhưng vẫn có những lúc cậu ta làm tôi cảm thấy mình đang nói chuyện với một chương trình vi tính biết bắt chước lối nói năng con người.
“Nếu bạn ấy ở Dallas, nhất định bạn ấy phải đến Bảo tàng Tự nhiên và Khoa học. Tuy tớ nghĩ bạn ấy sẽ thấy nơi đó hơi nhỏ, hơi cổ lỗ. Phim IMAX tớ xem ở đó còn không có 3D cơ. Hơn nữa muốn vào phòng thiên văn còn phải trả tiền riêng, thật là ngớ ngẩn, nó thua xa phòng thiên văn Hayden.”
“Ờ.” Thỉnh thoảng tôi cũng nghĩ đích xác thì cái gì mới có thể lôi Andy ra khỏi tháp ngà mọt toán của cậu ta được? Sóng thần? Cuộc xâm lăng của bọn rô bô Decepticon? Godzilla nện bước trên Đại lộ 5? Cậu ta đúng là một hành tinh không khí quyển.
X
ĐÃ AI TỪNG CẢM THẤY cô đơn đến như tôi? Về lại nhà Barbour, giữa những ồn ã đủ đầy của một gia đình không thuộc về mình, tôi còn cô độc hơn thường lệ - nhất là vì năm học đang sắp hết, và tôi không rõ (cả Andy cũng thế) liệu mình có được đi cùng họ đến nhà nghỉ mát mùa hè ở Maine không. Bà Barbour với đẳng cấp tế nhị thường lệ vẫn tránh được đề tài đó bất chấp những hộp đồ ngổn ngang và vali mở toang khắp mọi xó xỉnh trong nhà; ông Barbour và hai đứa em đều rất phấn khích, nhưng Andy không tỏ thái độ gì khác ngoài kinh hoàng rõ mồn một. “Vui chơi dưới nắng trời.” cậu ta ghê tởm nói và đẩy kính (giống của tôi, chỉ có dày hơn nhiều) trên sống mũi. “Ít nhất thì chỗ ông bà cậu cũng ở trên đất liền. Có nước nóng. Cả Internet.”
“Tớ không thương gì cậu đâu.”
“Ừ, cứ để cậu đi với nhà này đi rồi sẽ thấy. Không khác gì phim Kidnapped. Cái đoạn bị bán làm nô lệ trên tàu ấy.”
“Thế còn đoạn phải đến nhà thể loại họ hàng kinh dị ở nơi khỉ ho cò gáy nào đó, những người còn không quen biết?”
“Ừ”, chính là tớ đang nói đến chuyện đó.” Andy nghiêm giọng đáp và đẩy ghế quay người nhìn tôi. “Mặc dù, ít nhất thì họ cũng không âm mưu thủ tiêu cậu phải không - đâu có vẻ có món thừa kế nào cần tranh chấp.”
“Không, cái đó thì chắc chắn không.”
“Cậu có biết tớ định khuyên gì không?”
“Khuyên gì?”
“Khuyên là…” Andy nói và đưa đầu tẩy bút chì cọ cọ mũi, “hãy học như điên ấy khi nào đến trường mới ở Maryland. Cậu có lợi thế, đấy là đã học trước một năm. Như thế cậu sẽ tốt nghiệp năm mười bảy. Nếu chuyên chú học hành thì chỉ cần bốn năm, có khi chỉ ba năm, cậu đã thoát khỏi đó và nắm học bổng để đi bất kỳ đâu cũng được.”
“Tớ không học giỏi đến thế đâu.”
“Phải.” Andy nghiêm nghị đáp, “nhưng chỉ tại vì cậu không chịu khó. Với lại tớ nghĩ cũng hoàn toàn hợp lý là trường mới của cậu dù cỏ ở đâu thì cũng không khắc nghiệt như ở đây.”
“Cầu trời là không.”
“Ý tớ là, trường công à?” Andy tiếp. “Maryland nữa. Không phải là khinh thị gì Maryland. Họ cũng có cả Phòng thí nghiệm vật lý ứng dụng và Viện khoa học thiên văn ở trường Johns Hopkins, chưa kể Trung tâm du hành vũ trụ Goddard ở Greenbelt nữa. Rõ ràng là bang này khá gắn bó với NASA. Cậu thì vào sơ trung được bao nhiêu?”
“Tớ không nhớ.”
“Ờ, không muốn nói cho tớ cũng được thôi. Quan trọng là, cậu hoàn toàn có thể tốt nghiệp điểm cao khi nào mười bảy - mười sáu cũng nên nếu cậu cố gắng - và rồi thì đi học đại học ở đâu cũng được.”
“Ba năm dài lắm."
“Dài với ta thôi. Nhưng xét về lâu về dài thì không dài tí nào. Cứ tưởng tượng xem.” Andy nổi giọng lý luận, "nghĩ đến mấy đứa tội nghiệp óc bã đậu như kiểu Sabine Ingersoll hay thằng ngốc James Villiers xem. Hoặc con bò Forrest Longstrect.”
“Mấy người đó có gì mà tội nghiệp. Tớ còn thấy cha Villiers lên bìa tạp chí Economist.”
"Không, nhưng chúng nó đần như đệm ngồi. Cậu nghĩ xem, Sabine hầu như không biết đặt chân nào lên trước chân nào nữa. Nếu nhà nó không có tiền và nó phải tự lo thân, thì chắc nó chỉ có thể - tớ không biết nữa - bán trôn nuôi miệng là cùng. Longstreet thì chắc chỉ nằm chết đói trong xó. Như con chuột lang bị quên cho ăn.”
“Cậu đang làm tớ tuyệt vọng đấy.”
“Tớ chỉ muốn nói là, cậu rất khôn. Chưa kể người lớn ưa cậu.”
“Hử?" Tôi nghi ngại hỏi.
“Thật” Andy đáp bằng cái giọng yếu ớt đáng ghét. “Cậu nhớ tên người ta, biết nhìn thẳng vào mắt người ta, biết bắt tay lúc cần bắt. Ở trường ai cũng chỉ chực quỳ rạp dưới chân cậu.”
“Ừ, nhưng mà...” Tôi không muốn nói đấy chỉ vì mẹ tôi đã chết.
“Đừng có vớ vẩn. Cậu có giết người cũng thoát tội cho mà xem. Cậu đủ khôn để tự mình nghĩ ra lối thoát.”
“Vậy sao cậu còn chưa nghĩ ra lối ra khỏi vụ tàu bè này?”
“Ồ, tớ nghĩ ra rồi, nghĩ ra rồi.” Andy đáp vẻ u ám và quay lại với cuốn vở tiếng Nhật. “Tớ đã nghĩ ra rằng tớ sẽ còn phải trải qua bốn mùa hè địa ngục, ở đáy chảo lửa luôn. Ba mùa hè, nếu bố chịu đế tớ đi học sớm, năm mười sáu. Hai, nếu tớ nghiến răng chịu đi cái chương trình mùa hè ở Trường Miền núi học làm nông hữu cơ vào năm hai. Rồi sau đó tớ sẽ không đời nào đặt chân lên cái tàu nào nữa.”
XI
“NÓI CHUYỆN VỚI NÓ trên điện thoại khó lắm, than ôi.” Hobie nói. “Bác không chuẩn bị tinh thần cho chuyện đó. Nó không ổn tí nào.”
“Không ổn ạ?” Tôi nhắc lại. Chưa được một tuần, và dù không hề có ý định trở lại thăm Hobie nhưng không hiểu sao tôi đã lại ở đây rồi: ngồi bên bàn bếp, ăn tới đĩa thứ hai cái món gì đó mới nhìn thì tưởng là một khối bùn trồng hoa đen đúa nhưng thực ra là một thứ trộn rất ngon lành gừng và quả vả, phủ kem với những vụn vỏ cam tí xíu hăng hăng rắc trên cùng.
Hobie dụi mắt. Lúc tôi đến ông đang chữa cái ghế trong hầm. “Đau đầu lắm.” ông nói. Tóc ông buộc túm ra sau đầu, đôi kính đeo cùng dây trên cổ. Dưới cái tạp dề làm việc đến giờ đang cởi ra vắt trên móc, ông mặc quần yếm cũ bằng vải nhung kẻ lấm xăng trắng và sáp ong, cùng cái áo sơ mi vải bông bạc phếch xắn trên khuỷu. “Margaret nói nó khóc ba tiếng đồng hồ sau khi nói điện thoại với bác tối Chủ nhật.”
“Sao bạn ấy không quay lại là xong?”
“Nói có Chúa, bác ước gì biết cách làm mọi thứ dễ dàng hơn.” Hobie đáp. Bàn tay trắng nổi u ở khớp đặt trên bàn, giỏi giang nhưng ủ rũ, nét vai ông có gì đó khiến người ta nghĩ đến một con ngựa kéo xe lành tính, hoặc có lẽ là một người thợ thuyền trong quán bia sau một ngày dài. “Bác nghĩ hay là bay xuống đó xem nó thế nào, nhưng Margaret không cho. Bảo nó sẽ không hòa nhập được tốt nếu cứ có bác quanh quẩn bên cạnh.”
“Cháu nghĩ dù sao bác cũng cứ đi thì hơn.”
Hobie nhướng mày. “Margaret đã thuê cho nó bác sĩ tâm lý - có vẻ là một người rất nổi tiếng, chuyên dùng ngựa để chữa trị cho các trẻ em bị thương tổn. Và đúng là Pippa yêu động vật, nhưng dù có khỏe mạnh bình thường nữa nó cũng không thích ở ngoài trời cưỡi ngựa từ sáng đến tối. Hầu như cả đời nó đều luyện nhạc trong các thính phòng. Margaret rất hào hứng miêu tả chương trình âm nhạc ở nhà thờ nơi đó, nhưng dàn hợp xướng thiếu nhi hát chơi thì có gì làm nó quan tâm cho được.”
Tôi đẩy cái đĩa thủy tinh đã vét sạch nhẵn. “Sao Pippa lại không quen biết bà ấy ạ?” Tôi lí nhí hỏi, và khi thấy ông không trả lời, nói thêm: “Có phải tại vì tiền nong không?”
“Không hẳn. Tuy rằng... ừ, cháu nói đúng. Tiền nong cũng có liên quan chút ít. Thế này nhé…” ông nói và cúi người tới trước, đôi tay lớn xòe rộng trên mặt bàn. “cha của Welty có ba con. Welty, Margaret, và Juliet, mẹ Pippa. Với ba người mẹ khác nhau.”
“Ồ.”
“Welty, con cả. Bác muốn nói đấy - con trai cả, đáng ra phải oách lắm, phải không? Nhưng ông ấy bị lao cột sống hồi lên sáu, lúc đó cha mẹ đang ở tít dưới Aswan, bà vú thì không biết là bệnh nặng, nên người ta đưa tới bệnh viện quá muộn – hồi nhỏ ông ấy rất thông minh, bác nghĩ vậy, cũng rất giỏi giao tiếp nữa, nhưng ông cụ Blackwell vốn không chịu nổi bệnh tật hay yếu đuối. Tống khứ ông đến Mỹ sống với họ hàng, hầu như không nghĩ tới ông nữa.”
“Thật kinh khủng.” Cách đối xử bất công ấy làm tôi choáng váng.
“Thế đấy. Bác nghĩ cứ theo lời Margaret, dĩ nhiên cháu sẽ thấy một chân dung hoàn toàn khác, nhưng ông ấy khắc nghiệt lắm, cha Welty ấy. Dù sao, sau khi nhà Blackwell bị trục xuất khỏi Cairo - có lẽ trục xuất không phải từ thích đáng lắm. Khi Nasser[52] lên nắm quyền, người nước ngoài tất thảy đều phải rời Ai Cập - cha Welty làm trong ngành dầu khí, thật may là ông ấy còn có tiền bạc nhà đất ở nơi khác. Người nước ngoài bị cấm mang theo tiền hay tài sản giá trị khi rời khỏi Ai Cập.
“Dù sao thì...” Ông lại với lấy một điếu nữa. “Bác hơi ngoài để một chút. Vấn đề là Welty hầu như không quen biết Margaret, bà kém ông đến mười hai tuổi. Mẹ Margaret là người Texas, con gái một đại gia và tiền riêng cũng rất nhiều. Đấy là cuộc hôn nhân cuối cùng, lâu dài nhất của ông cụ Blackwell - một mối tình vĩ đại, nếu tin lời Margaret. Một cặp vợ chồng sáng giá ở Houston, tiệc tùng, máy bay riêng, săn thú rừng ở châu Phi - cha của Welty rất mê châu Phi và ngay cả sau khi buộc phải rời Cairo ông cũng thường quay lại đó.
“Dù sao thì...” Que diêm sáng lên, ông ho hắng khi phả ra đám khói. “Margaret là con gái rượu, tiểu thư trong nhà, được cưng nựng đủ thứ. Tuy nhiên suốt trong cuộc hôn nhân, ông già vẫn đi lại với đủ loại người, các cô giữ áo, hầu bàn, con gái bạn bè - và rồi đến khi ông đã quá sáu mười, một cô gái cắt tóc sinh cho ông đứa con. Đứa bé ấy, chính là mẹ Pippa.”
Tôi không nói gì. Hồi năm lớp Hai đã có một vụ om sòm (được trang đàm tiếu của tờ New York Post tận tình ghi lại hằng ngày), bố một đứa cùng lớp tôi, Eli, có con với một người không phải mẹ Eli, có nghĩa là rất nhiều bà mẹ trong lớp đã chia bè cánh và nghỉ nói chuyện với số còn lại ngoài cổng trường trong những buổi chiều chờ đón con tan học.
“Lúc đó Margaret đang học đại học, ở Vassar.”. Hobie nói đứt quãng. Dù đang nói chuyện với tôi như với một người lớn (tôi thích thế), có vẻ ông cũng không thật thoải mái khi động đến chủ đề này. “Bác nghĩ là bà đã không nói chuyện với ông bố vài năm trời. Ông bố tìm cách dùng tiền bịt miệng cô gái cắt tóc, nhưng thói kiệt xỉ đã chiến thắng ông, ít nhất là thói kiệt xỉ trong vấn đề con cái. Thế là, như cháu thấy, Margaret - Margaret và Juliet, mẹ Pippa, chưa bao giờ gặp nhau, trừ trong phiên tòa, mà khi ấy Juliet mới là một đứa bé ẵm ngửa. Cha của Welty đã đi đến chỗ căm thù cô gái cắt tóc, nên trong di chúc ông nói rõ cả cô lẫn Juliet đều sẽ không nhận được một đồng trừ khoản trợ cấp nuôi con rất hẻo do pháp luật quy định. Nhưng còn Welty... ” - Hobie dụi tắt điếu thuốc - “ông cụ Blackwell đã suy nghĩ lại về phần Welty, và đã đối xử tử tế với ông trong di chúc. Và suốt trong màn kịch pháp lý kéo dài hàng năm ấy, Welty đã trở nên rất bức xúc khi thấy đứa nhỏ bị gạt đi, bị bỏ rơi. Mẹ Juliet không muốn giữ đứa bé, họ hàng cô ta cũng không, ông già Blackwell thì rõ ràng là không bao giờ, Margaret cùng bà mẹ thì nói thật nhé, sẽ vui lòng thấy nó lê la ngoài phố. Và suốt thời gian ấy có cắt tóc vẫn đi làm, để mặc Juliet một mình trong căn hộ.... nói chung là tình hình rất xấu.
“Welty không có bổn phận gì phải can dự vào, nhưng ông là một người giàu tình thương, không gia đình, mà lại yêu trẻ nhỏ. Ông đã mời Juliet đến đây nghỉ hè năm cô bé lên sáu, ‘JuleeAnn’ như hồi đó cô được gọi…”
“Đến đây á? Nhà này ạ?”
“Đúng, đến đây. Và khi mùa hè đã qua, đã đến lúc đưa cô trở lại, cô bé đang khóc lóc không muốn đi còn bà mẹ thì không chịu nghe điện thoại, ông bèn hủy vé và gọi điện khắp nơi lo liệu nhập học vào lớp Một cho cô. Sự dàn xếp này không bao giờ được hợp thức hóa - ông sợ dứt dây động rừng, như người ta nói - nhưng hầu hết mọi người đều nghĩ rằng có bé là con ông, không hỏi han sâu xa gì. Ông đã ngoài ba mươi, đủ tuổi làm cha cô bé. Mà xét về thực tế, cũng không khác gì như vậy.
“Nhưng dù sao thì…” ông ngẩng lên và giọng điệu đã đổi khác. “Cháu bảo muốn xem xưởng à. Ta đi xuống bây giờ nhé?”
“Vâng ạ” tôi đáp. “Cháu thích lắm.” Khi tôi mới tới, bắt gặp ông đang hí hoáy bên cái ghế chổng ngược, ông đứng dậy duỗi dài người, nói mình cũng đến lúc nghỉ rồi, nhưng tôi không hề muốn lên tầng trên - dưới xưởng đủ thứ phong phú và kỳ diệu quá chừng: như một hang động kho báu, vào trong mới thấy lớn hơn ở ngoài, ánh sáng từ những cửa sổ cao trút xuống, chạm lộng và đậu vàng, những dụng cụ bí ẩn tôi còn chẳng biết tên, và cái mùi rất sốc, đầy bí mật của véc-ni và sáp ong. Ngay cả cái ghế ông đang sửa dở - chân trước là chân dê, có cả móng chẻ - cũng có vẻ không phải là một món đồ dùng, mà là một sinh vật bị phù phép, như thể bất cứ lúc nào nó cũng có thể bật ngược người dậy, nhảy khỏi bàn mộc mà chạy lóc cóc ra đường.
Hobie với lấy cái tạp dề mặc lại vào người. Dù thật hiền lành và cử chỉ rất nhẹ nhàng, ông vẫn có thân hình của người sống bằng nghề khuân vác tủ lạnh hoặc chất đồ lên xe tải.
“Thế đấy!” ông nói và dẫn tôi xuống tầng hầm. “Cửa hiệu đằng sau cửa hiệu.”
“Sao cơ ạ?”
Ông cười. “Khu hậu trường. Khách hàng chỉ thấy có sân khấu - bộ mặt bày ra bên ngoài - nhưng dưới này mới là nơi diễn ra tất cả những gì quan trọng.”
“Phải.” tôi nói và nhìn xuống mê cung trải ra dưới chân cầu thang, gỗ vàng óng như mật, gỗ sẫm như rỉ đường chảy, ánh lóe lên từ đồng, bạc và vàng dát trong ánh sáng tờ mờ. Cũng như con tàu Nô-ê, mỗi món đồ đạc lại được xếp chung với đồng loại của nó: ghế đi với ghế, đi-văng với đi-văng, đồng hồ với đồng hồ, bàn và tủ ly cùng tủ chân cao đứng thành hàng thẳng tắp đối diện. Bàn ăn ở giữa, xếp thành những lối đi hẹp ngoằn ngoèo như mê lộ để người ta len lỏi vòng quanh. Ở cuối phòng, cả một bức tường những tấm gương cũ xỉn treo san sát, lấp lóa ánh sáng nhuộm bạc từ những phòng vũ hội và phòng khách thắp nến khi xưa.
Hobie nhìn lại tôi. Ông nhận ra trông tôi khoan khoái đến thế nào. “Cháu thích đồ cổ à?”
Tôi gật đầu - quả thế, tôi quả có thích đồ cổ thật, mặc dù chính tôi cũng chưa bao giờ hay biết.
“Vậy chắc ở nhà Barbour cháu phải thích thú lắm. Bác cho là mấy món Queen Anne và Chippendale ở đó cũng không thua gì đồ bày bảo tàng.”
“Vâng.” tôi do dự đáp. “Nhưng ở đây thì khác. Hay hơn.” tôi nói thêm, sợ ông không hiểu.
“Hay thế nào?”
“Cháu nghĩ là...” tôi nhắm tịt mắt, tìm cách tập trung ý nghĩ “dưới này rất thích, có bao nhiêu ghế đứng cạnh bao nhiêu ghế khác... bác thấy được các tính cách khác nhau, bác hiểu không ạ? Ý cháu là cái kia thì hơi...” tôi không nghĩ ra từ “ờ, hơi ngớ ngẩn, nhưng một cách hay hay - một cách dễ chịu. Còn cái kia thì kiểu như căng thẳng, có mấy chân dài khẳng khiu…”
“Cháu nhìn đồ đạc rất tinh đấy.”
“À...” lời khen làm tôi bối rối, tôi chẳng bao giờ biết phải làm thế nào khi được khen và luôn vờ như không nghe thấy - “khi đứng cạnh nhau có thể thấy ngay chúng được chế tạo thế nào. Ở nhà Barbour thì...” tôi không rõ nên giải thích ra sao “cháu cũng không biết, giống như mấy cảnh trí bày thú nhồi ở Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên ấy.”
Khi ông cười lớn, vẻ u sầu ở ông bay biến - có thể cảm thấy bản chất hiền hòa đang tỏa rạng ra từ ông.
“Không, cháu nói thật đấy.” tôi quyết tâm đẩy tới cùng nhận xét của mình. “Bà Barbour có cái kiểu xếp đặt, cái bàn đứng một mình có ngọn đèn riêng chiếu vào, mọi thứ khác được xếp sắp và mình không được động vào chúng - cứ như những sa bàn đặt xung quanh con bò Tây Tạng gì đấy để minh họa cho môi trường sống của nó ấy. Cũng đẹp, nhưng mà với cháu…” tôi khoát tay về phía những lưng ghế xếp sát tường. “Cái kia trông như cây hạc, cái kia nữa thì như cái thìa, còn cái kia…” tôi đưa tay phỏng theo dáng cong cong.
“Lưng khiên. Mặc dù phải nói cho cháu biết, trên cái đó chi tiết đẹp nhất là thanh trục có núm rua. Chắc cháu không nhận ra đâu.” ông nói trước khi tôi kịp hỏi thanh trục là cái gì, “nhưng được ngắm nhìn đồ đạc của bà ấy hằng ngày cũng là một cuộc giáo dục thực sự - được nhìn từng món dưới những ánh sáng khác nhau, được lướt tay dọc theo chúng khi nào muốn.” Ông phà hơi thở vào kính, lấy góc tạp dề lau. “Cháu đã phải về lại đó chưa?”
“Cũng không gấp ạ.” tôi đáp, tuy đã hơi muộn rồi.
“Thế thì đi” ông nói. “Để cháu làm thử xem nào. Bác đang cần giúp một tay với cái ghế bé bỏng này đây.”
“Cái chân dê ạ?”
“Ừ, cái chân dê. Có một cái tạp dề nữa trên mắc - bác biết nó hơi rộng, nhưng cái này vừa được quét dầu hạt lanh nên bác không muốn cháu làm bẩn hết quần áo.”
XII
GÃ BÁC SĨ TÂM THẦN, Dave đã hơn một lần nói rằng tôi nên học lấy một thú chơi – lời khuyên ấy khiến tôi phát ghét, vì những thú chơi gã đưa ra (bóng vợt, bóng bàn, bowling) đều có vẻ hết sức vớ vẩn. Nếu gã nghĩ một hai ván bóng bàn sẽ giúp tôi quên chuyện mẹ thì ngờ nghệch quá. Nhưng, nếu xét theo cuốn nhật ký trắng trơn tôi được thấy Neuspeil dạy Ngữ văn tặng, hay lời gợi ý của bà Swanson rằng tôi nên đi học lớp vẽ ngoại khóa, hay lời mời của Enrique đưa tôi đi xem bóng rổ ở nhà thi đấu Đại lộ 6, hay thậm chí cả những cố gắng được chăng hay chớ của ông Barbour khiến tôi để tâm đến các ký hiệu bản đồ và cờ hiệu hàng hải, thì rõ là rất nhiều người lớn tư duy theo kiểu này.
“Nhưng cháu làm gì lúc rảnh rỗi chứ?” Bà Swanson đã hỏi tôi trong cái phòng xám nhờ ma mị bốc mùi trà thảo dược và ngải, những số Seventeen và Teen People chất cao trên bàn đọc sách, và loại nhạc châu Á gì đấy kính coong lờ lững làm nền.
“Cháu không biết. Cháu thích đọc sách. Xem tivi. Chơi game Age of Conquest II và Age of Conquest: Platinum Edition. Cháu không biết.” tôi nhắc lại khi thấy bà vẫn nhìn tôi
“À, những thứ ấy đều tốt cả, Theo à!” bà nói, vẻ mặt lo ngại. “Nhưng tốt hơn nữa là chúng ta có thể tìm ra hoạt động tập thể gì đó cho cháu. Cái gì đó phối hợp cùng nhau, để cháu làm chung với các bạn khác. Cháu đã bao giờ thử chơi môn thể thao nào chưa?”
“Chưa.”
“Bà tập một môn võ tên là Aikido. Bà không biết cháu có nghe đến nó chưa. Đấy là một cách lợi dụng chuyển động của địch thủ để tự vệ cho mình.”
Tôi rời mắt khỏi bà, nhìn ra tấm ván trông dầu dãi vẽ Đức Trinh nữ Guadalupe treo đằng sau đầu bà.
“Hay nhiếp ảnh chẳng hạn.” Bà đan hai bàn tay đeo đầy nhẫn lam ngọc trên mặt bàn. “Nếu cháu không thích vẽ. Dù bà cũng phải nói là, cô Sheinkopf có cho bà xem mấy bức vẽ của cháu hồi năm ngoái - một loạt mái nhà ấy, cháu biết đấy, các tháp nước, khung cảnh từ cửa lớp vẽ? Rất có óc quan sát - bà biết cảnh đó, thế mà cháu vẫn bắt được vài đường và nguồn năng lượng rất thú vị, bà nghĩ cô ấy dùng từ ‘tính động’, một cách chuyển động rất đáng chú ý, những mặt phẳng cắt lẫn nhau và góc nhọn tạo bởi các lối thoát hiểm. Ý bà là, thực ra cháu làm gì cũng không quan trọng quá, chỉ là chúng ta muốn tìm ra một cách giúp cháu... kết nối hơn.”
“Kết nối với cái gì cơ?” Tôi nói bằng giọng có vẻ hơi quá xẵng.
Bà có vẻ giật mình. “Với người khác! Và…” bà phác tay chỉ ra cửa sổ “với thế giới xung quanh! Nghe này.” bà nói bằng giọng thật dịu dàng, thật êm ru đến mức gần như thôi miên, “bà biết là mẹ con cháu có mối dây liên hệ thân thiết kinh khủng. Bà từng nói chuyện với mẹ cháu. Bà đã thấy hai người bên nhau. Và bà biết rõ cháu đang cảm thấy thương nhớ mẹ chừng nào.”
Bà có biết được khối, tôi nghĩ và quắc mắt nhìn bà.
Bà nhìn tôi rất kỳ lạ. “Chắc cháu không ngờ được đâu, Theo.” ba nói và lại ngả người vào lưng cái ghế phủ khăn choàng, “rằng những việc nhỏ nhặt hằng ngày lại có thể đưa ta ra khỏi nỗi tuyệt vọng. Nhưng không ai làm thay cháu được. Cháu mới là người phải để mắt tìm cánh cửa đang mở ra.”
Dù biết bà có thiện ý, nhưng tôi vẫn rời khỏi đó với cái đầu gục xuống và những giọt nước giận dữ bỏng rãy trong mắt. Bà thì biết cái khỉ gì? Bà Swanson có một gia đình đại tướng - mười con, ba mươi cháu, nếu đếm trong những bức ảnh trên tường. Bà Swanson có một căn hộ to đùng ở Phố Tây Công viên với một ngôi nhà ở Connecticut, bà chẳng hề có ý niệm gì thế nào là phựt một phát, tất cả biến mất tăm. Bà thì dễ rồi, cứ ngồi chềnh ềnh trong cái ghế bành Hippy mà lải nhải về ngoại khóa với chẳng cửa mở.
Nhưng không đợi mà tới, một cánh cửa đã mở ra, ở một nơi ít ngờ đến nhất: xưởng nội thất của Hobie. “Giúp ông một tay” sửa cái ghế (chủ yếu là đứng chờ bên cạnh trong khi Hobie rạch toang mặt ghế, cho tôi xem mọt đục thân, những sửa chữa quấy quá, cùng những ác mộng khác ẩn dưới mặt đệm) đã nhanh chóng biến thành hai hoặc ba buổi chiều mê mẩn lạ kỳ mỗi tuần sau giờ học: dán nhãn các lọ, pha keo da thỏ, bới tìm trong các hộp phụ kiện ngăn kéo (“những mẩu lúc lắc ấy”), hoặc đôi lúc chỉ là xem ông dùng máy tiện chân ghế. Dù cửa hiệu tầng trên vẫn tắt đèn, cổng sắt vẫn đóng, nhưng trong cửa hiệu đằng sau cửa hiệu, những đồng hồ tủ đứng đang điểm giờ, màu gỗ dái ngựa sáng bóng, ánh nắng tỏa vào thành vũng vàng rực trên những mặt bàn ăn, và cuộc sống trong vườn thú tầng hầm tiếp diễn.
Các nhà đấu giá khắp thành phố đều nhờ đến ông; khách hàng tư cũng vậy; ông phục chế đồ đạc cho Sotheby, cho Christie, cho Tepper, cho Doyle. Sau giờ học, giữa tiếng tích tắc ru ngủ của những đồng hổ tủ đứng, ông dạy tôi cách phân biệt độ rỗ mặt và sắc loáng, màu sắc của các loại gỗ khác nhau, nhận ra sóng và độ bóng của gỗ phong vằn hay các vân sùi bọt của gỗ óc chó nhiều mắt, ướm thử sức nặng bằng tay, và cả ngửi mùi nữa - “đôi khi nếu không biết đang gặp cái gì, dễ nhất là cứ ngửi một cái” - gỗ dái ngựa cay cay, gỗ sồi ngai ngái, gỗ anh đào đen hăng hắc rất dễ nhận, và gỗ cẩm lai thơm mùi hoa hồng, mùi nhựa hổ phách. Cưa và dao khoét côn, giũa có cán và giũa hai đầu, dao trổ và dao khoét, khoan quay tay và mộng vát chéo. Tôi học về ván lạng và thếp vàng, học mộng dương và mộng âm là gì, gỗ nhuộm giả mun và gỗ mun đích thực khác nhau ra sao, nóc lưng ghế Newport, Connecticut và Philadelphia phân biệt thế nào, tại sao cái tủ ngăn kéo Chippendale dáng bè bè trán cụt lại bị đánh giá thấp hơn cái chân quỳ cùng tuổi, cột góc có rãnh máng và tỷ lệ cho ngăn kéo mà ông gọi là “tỷ lệ nở”.
Dưới tầng hầm - ánh sáng yếu, sàn đầy vỏ bào - cảm giác như có một con thú lớn vững chãi đang kiên trì đứng trong bóng tối. Hobie dạy tôi cách đọc ra đặc tính sinh vật trong những đồ gỗ quý, cái chất vâm váp, gần như thú vật giúp phân biệt những món thượng đẳng với các đồng bọn to bè, cứng nhắc, điềm đạm hơn, ông gọi từng món đồ là “cô bé” hay “cu cậu”, trìu mến vuốt tay dọc thành hông tối màu nhưng bóng loáng của những tủ búp phê và tủ chân cao thân thấp như vuốt ve thú cưng. Ông là một thầy giáo giỏi, và sau khi kèm cặp tôi qua quá trình kiểm xét và so sánh, chẳng mấy chốc ông đã dạy tôi biết phát hiện đâu là hàng nhái: những vệt mòn quá đều đặn (đồ cổ thật bao giờ cũng mòn đi không đều), các cạnh do máy cắt chứ không phải do người bào (ngón tay nhạy cảm có thể phát hiện ra cạnh cắt máy, dù ánh sáng yếu đến đâu), nhưng trên hết là cảm giác gỗ quá khô và chết, không có độ bóng bẩy: cái phẩm chất ma thuật có được nhờ hàng thế kỷ được cầm nắm, được dùng, được bàn tay người động chạm. Mỗi lần suy ngẫm về quãng đời danh giá của những tủ chân cao và tủ bàn viết này - dài hơn và cao quý hơn cả đời người - tôi lại chìm vào thanh thản, như một tảng đá nơi lòng nước sâu, đến nỗi khi tới lúc phải đi tôi sẽ bước ra ngoài đường, choáng ngợp và chớp mắt khi đối diện với ánh sáng gay gắt trên Đại lộ 6, hoàn toàn chưa hiểu mình đang ở đâu.
Nhưng tôi còn không yêu thích xưởng (hay “bệnh viện” như Hobie gọi) bằng yêu thích chính Hobie: nụ cười mệt mỏi, dáng gù gù do thân người quá khổ nhưng rất thanh lịch, đôi tay áo xắn lên, dáng vẻ cởi mở, cợt đùa, cái thói quen đưa mu cổ tay chùi lên trán, tính tình kiên nhẫn vui vẻ, và cả tư duy chính trực. Nhưng dù chúng tôi chuyện trò thoải mái, và số lần cũng chỉ lác đác, thì vẫn có điều gì đó không đơn giản. Ngay cả một câu “Cháu thế nào?” nhẹ bẫng cũng chứa đấy hàm ý, dù thoạt nghe thì không vậy; và câu trả lời không bao giờ thay đổi của tôi (“Khỏe ạ”) cũng cung cấp đủ thông tin cho ông mà không cần phải nói toạc ra. Và dù ông không mấy khi gặng hỏi hay dò dẫm, tôi cảm giác ông còn hiểu tôi hơn cả một binh đoàn người lớn được trao nhiệm vụ “thám hiểm tâm tư tôi” như Enrique ưa miêu tả.
Nhưng hơn hết, tôi thích ông vì ông đối xử với tôi như một người bầu bạn, một người đối thoại bình đẳng. Cho dù đôi lúc ông chỉ muốn nói về người hàng xóm vừa phẫu thuật đầu gối, hay buổi diễn tấu nhạc xưa ông vừa đi nghe trên nửa bắc. Hoặc nếu tôi kể chuyện gì đó buồn cười ở trường, ông cũng lắng nghe chăm chú và tán thưởng; khác với bà Swanson (lúc nào cũng im phắc vẻ cảnh giác mỗi lần tôi buông một câu đùa) hay Dave (cười khằng khặc ngượng ngập, lần nào cũng quá muộn), ông hay cười, và tôi rất thích nghe ông kể chuyện đời mình: những ông chú thô lậu kết hôn muộn, những bà xơ ưa chõ mũi vào chuyện người khác khi ông còn nhỏ, cái trường nội trú nửa mùa sát biên giới Canada mà giáo viên toàn bợm rượu, cái nhà lớn ở mạn bắc bang mà ông bố bỏ mặc cho lạnh cóng, đến nỗi băng đóng cả trong cửa sổ, những chiều tháng Mười hai xám xịt đọc Tacitus hay Sự trỗi dậy của nước cộng hòa Hà Lan của Motley. (“Bác lúc nào cũng mê lịch sử. Con đường chưa ai đi! Tham vọng lớn nhất thời trai trẻ của bác là dạy sử ở Đại học Notre Dame. Mặc dù bác nghĩ, như bây giờ cũng là một cách làm việc với lịch sử khác.”) Ông kể cho tôi chuyện con hoàng yến mù một mắt, cứu được từ cửa hàng Woolworth, sáng nào cũng hót đánh thức ông dậy suốt thời nhỏ; cơn sốt thấp khớp khiến ông nằm liệt giường sáu tháng trời, hay cái thư viện nhỏ của khu phố, rất cổ, rất quái, trần đắp phù điêu (“giờ thì, than ôi, bị đập rồi”) nơi ông thường đến để khỏi phải ở nhà. Rồi bà De Peyster, một bà con gái nhà quý tộc già sống một mình mà ông hay tới thăm sau giờ học, xưa là hoa khôi Albany và nghiên cứu lịch sử vùng, bà lúc nào cũng xoắn xuýt với Hobie, cho ông ăn bánh Dundee nhập từ Anh để trong hộp thiếc, sẵn sàng đứng hàng giờ giảng giải cho Hobie từng món một trong cái tủ ly bày đồ sứ, và là chủ nhân một chiếc trường kỷ gỗ dái ngựa nghe đồn từng thuộc về tướng Herkimer (cùng nhiều món khác), chính là thứ đầu tiên khiến ông quan tâm đến đồ nội thất. (“Cho dù bác khó mà hình dung được tướng Herkimer ngả ngớn trên cái ghế dài đú đởn kiểu Hy Lạp ấy.”) Chuyện mẹ ông, đã nhanh chóng đi theo đứa em gái mất khi mới ba ngày tuổi, để lại Hobie có một mình, chuyện ông cha trẻ dòng Tên là huấn luyện viên bóng bầu dục, khi được cô hầu gái người Ireland hoảng vía gọi điện đến báo cha của Hobie đang đánh ông bằng thắt lưng “tan xác đến nơi rồi”, đã nhao tới nhà ông, xắn tay áo và đấm ngã sóng soài ông bố. (“Cha Keegan ấy! Chính ông ấy đến nhà bác làm lễ rửa tội lần bác bị sốt thấp khớp. Bác là lễ sinh cho ông nên ông biết hết sự tình, đã thấy những vết lằn trên lưng bác. Gần đây có bao nhiêu giáo sĩ làm bậy với tụi nhỏ, nhưng ông ấy vẫn rất tốt với bác - bác thường tự hỏi sau này ông ấy ra sao, đi tìm ông ấy hoài mà không được. Cha bác gọi cho tổng giám mục, thế là rình một cái, ông đã bị đấy đi Uruguay”) Thật khác với nhà Barbour, nơi mặc dù ai nấy đều ân cần, tôi vẫn hoặc là tan biến giữa bầy con nít hoặc là đối tượng của những lời hỏi han long trọng rất khó chịu. Tôi cảm thấy vui hơn khi biết ông chỉ cách mình một tuyến xe buýt, thẳng băng dọc theo Đại lộ 5, và trong đêm khi tôi choàng dậy người run bần bật vì hốt hoảng, khi vụ nổ lại bộc phát khắp mình tôi, thì thỉnh thoảng tôi có thể dụ mình ngủ lại bằng cách nghĩ đến nhà ông, nơi đôi khi xuất kỳ bất ý người ta đã vượt thời gian về lại năm 1850, một thế giới toàn đồng hồ tích tắc và ván sàn cọt kẹt, nồi đồng và những rổ củ cải cùng hành tây trong bếp, lửa nến đồng loạt tạt sang trái khi cửa mở gió lùa vào, và những rèm cửa sổ cao trong phòng khách phồng căng bay phất phới như váy phồng vũ hội, những phòng mát mẻ, lặng lờ che giấc ngủ của đồ vật xưa.
Nhưng càng ngày càng khó giải thích những lần vắng mặt của tôi (phần lớn đều quá giờ cơm tối), và tài sáng tác của Andy cũng ngày một bị thử thách. “Hay để bác lên đó nói chuyện với bà ấy?” Một chiều Hobie nói, khi chúng tôi cùng ngồi trong bếp ăn bánh tạc anh đào ông mua ở chợ nông phẩm. “Bác sẽ vui lòng lên đó gặp bà ấy. Hay cháu muốn mời bà ấy xuống đây?”
“Có lẽ ạ.” tôi nói sau khi nghĩ một chút.
“Có thể bà ấy sẽ thích cái tủ hai tầng Chippendale kia - cháu biết đấy, cái Philadelphia nóc cuộn ấy. Không phải mua, ngắm thôi. Hoặc nếu cháu muốn thì ta có thể mời bà dùng bữa trưa ở La Grenouille... ” - ông bật cười - “hay thậm chí là nơi nào nho nhỏ dưới này khiến bà thích thú cũng được.”
“Để cháu nghĩ xem.” tôi đáp và rời sớm, đi buýt về nhà và ngẫm nghĩ. Hoàn toàn không liên quan tới lời lấp liếm thường xuyên với bà Barbour - ở lại thư viện muộn đêm này qua đêm khác, bài tập sử trên trời rơi xuống - tôi thấy xấu hổ nếu phải thú nhận với Hobie mình đã nói nhẫn của ông Blackwell là một món đồ thừa kế. Nhưng nếu bà Barbour và Hobie chạm mặt, cái kim trong bọc thế nào cũng tòi ra. Có vẻ không cách nào tránh được.
“Cháu đi đâu về đấy?” Bà Barbour hỏi xẵng; bà đã diện đồ ăn tối nhưng còn chưa đi giày, từ trong căn hộ hiện ra tay cầm cốc gin pha chanh.
Thái độ của bà không hiểu sao khiến tôi cảm giác như một cái bẫy. “Thú thực là…” tôi đáp, “cháu vào trung tâm thăm một người bạn của mẹ cháu.”
Andy quay lại vô cảm nhìn tôi.
“Thế hả?” Bà Barbour ngờ vực nói, liếc xéo qua Andy. “Andy vừa bảo bác cháu lại phải học ở thư viện.”
“Tối nay thì không.” tôi đáp trơn tru đến nỗi chính mình cũng ngạc nhiên.
“Chà, bác phải nói rằng bác mừng được nghe vậy.” bà Barbour lạnh lùng đáp. “ Vì cơ sở chính luôn đóng cửa vào thứ Hai.”
“Con có nói Theo đến cơ sở chính đâu mẹ.”
“Cháu nghĩ có khì bác lại quen ông ấy đấy.” tôi nói, mong mỏi đánh lạc hướng bà khỏi Andy. “Hoặc ít ra là biết ông ấy.”
“Ai cơ?” Bà Barbour hỏi và lại chĩa ánh mắt vào tôi.
“Người cháu vừa đến thăm ấy. Ông ấy tên là James Hobart. Ông ấy là chủ một hiệu đồ nội thất dưới trung tâm - à, thực ra không phải chủ. Ông ấy chịu trách nhiệm phục chế.”
Lông mày bà đã thôi nhướng lên. “Hobart?”
“Ông ấy làm cho rất nhiều người trong thành phố. Thỉnh thoảng cho cả nhà Sotheby nữa.”‘
“Vậy cháu không phản đối bác gọi cho ông ấy chứ hả?”‘
“Không hề ạ.” tôi chống chế. “Ông ấy bảo muốn mời tất cả đi ăn trưa một bữa. Hoặc nếu bác đồng ý, có thể xuống thăm xưởng một hôm nào đó.”
“Ồ!” bà Barbour đáp sau một hai giây kinh ngạc. Giờ thì bà mới là người lúng túng. Tôi không thể hình dung bà Barbour có bao giờ đi xuống quá Phố 14 vì bất kỳ cớ gì. “Ừm. Để xem.”
“Không phải mua gì đâu, xem thôi. Ông ấy có nhiều thứ hay lắm ạ.”
Bà chớp mắt, đáp. “Được rồi.” Bà có vẻ hoang mang - cặp mắt vừa chăm chú vừa lạc thần. “À, tuyệt rồi. Gặp ông ấy chắc sẽ rất thú vị. Bác đã gặp ông ấy chưa nhỉ?”
“Cháu nghĩ là chưa.”
“Được rồi. Andy, mẹ xin lỗi. Mẹ nợ con một lời tạ lỗi. Cả cháu nữa, Theo.”
Tôi à? Tôi không biết phải nói gì. Andy đang lén mút cạnh ngón cái, nhún một bên vai khi bà quay phắt ra khỏi phòng.
“Cái gì thế?” Tôi khẽ hỏi.
“Mẹ đang bực. Không phải tại cậu đâu. Platt về nhà.” cậu ta nói thêm.
Thấy cậu ta nói thế, tôi mới nhận ra tiếng nhạc nghèn nghẹt phát ra từ tận cùng căn hộ, tiếng thùm thụp rất trầm hầu như không nhận thấy. “Vì sao?” Tôi hỏi. “Có chuyện gì thế?”
“Ở trường có chuyện.”
“Chuyện xấu à?”
“Chúa biết.” nó đáp hờ hững.
“Anh ấy bị sao à?”
“Tớ nghĩ thế. Chẳng ai chịu nói gì cả.”
“Nhưng là chuyện gì chứ?”
Andy nhăn mặt, tỏ vẻ ma nó biết. “Anh ta ở nhà từ lúc bọn tớ đi học về - bọn tớ nghe thấy tiếng nhạc. Kitsey rất phấn khích, nó chạy vào hét chào nhưng anh ta quát tướng lên rồi sập cửa vào mặt nó.”
Tôi chùn người. Platt là thần tượng của Kitsey.
“Rồi thì mẹ về. Mẹ vào trong phòng anh. Rồi mẹ gọi điện một lúc.
Tớ hơi hơi tin là bố đang trên đường về đấy. Đáng ra tối nay bố mẹ ăn tối với nhà Ticknor nhưng chắc là thôi rồi.”
“Thế tối ăn gì?” Tôi hỏi sau một lúc ngưng. Bình thường vào những ngày đi học, chúng tôi vừa ăn tối vừa xem tivi và làm bài tập - nhưng nếu Platt ở nhà, ông Barbour đang trên đường về, và các kế hoạch tối đã bãi bỏ, thì xem ra sẽ lại có bữa tối gia đình trong phòng ăn.
Andy làm bộ chỉnh thẳng kính theo kiểu bà già thường lệ. Dù tóc tôi đen còn tóc cậu ta sáng màu, thì tôi vẫn biết rõ hai đôi kính y hệt nhau mà bà Barbour mua cho hai đứa khiến tôi trông như đứa em sinh đôi mọt sách của Andy - nhất là sau khi nghe một đứa con gái nào đó gọi ở trường “anh em đít chai” (hoặc là “anh em hít chai” gì đó, dù gì thì cũng không phải lời khen).
“Ta đi ra Serendipity kiếm cái hamburger đi.” cậu ta nói, “Tớ thật không muốn ở đây khi bố về đến nhà chút nào.”
“Cho em theo với.” Kitsey bất ngờ nói, chạy ào vào dừng phắt trước mặt chúng tôi, mặt đỏ bừng, hơi thở gấp.
Andy và tôi nhìn nhau. Kitsey bình thường còn không muốn người ta thấy xếp hàng cạnh chúng tôi chờ xe buýt nữa kìa.
“Đi mà…” nó rên rỉ và nhìn từ đứa này sang đứa kia. “Toddy đi tập bóng đá rồi, em có tiền mà, em không muốn ở một mình với họ đâu, điii.”
“Thôi đồng ý đi.” tôi bảo Andy, và nó thoáng nhìn tôi biết ơn.
Andy thọc tay vào túi, “Được rồi.” cậu ta bảo nó, vô cảm. Đúng là một cặp chuột bạch, tôi nghĩ - chỉ có điều Kitsey là một nàng chuột kẹo bông trong truyện cổ tích, còn Andy là thứ chuột nuôi trong lồng lử thử, vô hậu, chỉ để người nuôi trăn cảnh mua về làm thức ăn là giỏi.
“Lấy đồ đi. Nhanh lên!” cậu ta nói khi nó vẫn đứng đó trố mắt nhìn. “Tao không chờ đâu. Và đừng quên mang tiền vì tao cũng không trả cho mày đâu.”
XIII
MẤY HÔM SAU ĐÓ tôi không xuống nhà Hobie vì lo cho Andy, dù trong bụng rất thèm muốn thoát khỏi bầu không khí nặng như đeo đá trong nhà. Andy nói đúng: quả không có cách nào tìm hiểu xem Platt đã làm gì, vì ông bà Barbour cư xử như thể không có bất kỳ vấn đế gì xảy ra (chỉ có điều không thể không nhận thấy là có vấn đề), còn Platt thì đã khóa miệng, chỉ hầm hừ ngồi ở bàn ăn, tóc rũ xuống mặt.
“Thề với cậu.” Andy nói, “có cậu ở nhà còn hơn. Họ còn nói chuyện và có tí cố gắng tỏ ra bình thường.”
“Cậu nghĩ anh ấy đã làm gì?”
“Nói thật nhé, tớ không biết. Tớ không muốn biết.”
“Cậu muốn chứ.”
“Ừ thì muốn.” Andy nhượng bộ. “Nhưng quả thực tớ chẳng biết mô tê gì.”
“Cậu nghĩ anh ấy nhìn bài chăng? Ăn trộm? Hay nhai kẹo cao su trong nhà nguyện?”
Andy nhún vai. “Lần cuối cùng có chuyện với Platt, đấy là hồi anh ta táng vợt bóng vào mặt ai đấy. Nhưng hồi ấy còn không đến như thế này.” Và rồi, thình lình: “Mẹ yêu Platt nhất.”
“Cậu nghĩ thế hả?” Tôi lần lữa đáp, dù biết rõ là đúng thế.
“Bố yêu Kitsey nhất. Còn mẹ yêu Platt.”
“Bác gái cũng yêu Toddy lắm.” tôi nói trước khi nhận ra hàm ý của cậu ấy.
Andy nhăn mặt. “Tớ tưởng mình bị nhận nhầm lúc đẻ.” cậu ta nói, “nếu không phải trông tớ giống y đúc mẹ thế này.”
XIV
“VẤN ĐỀ CỦA BÁC là học quá nhiều.” Hobie nói; “Hoặc ít ra cha bác nghĩ vậy.” Tôi đang ở trong xưởng, giúp ông phân loại vô số mảnh gỗ anh đào cũ, có cái thiên đỏ, có cái thiên nâu, tất cả đều vớt lại từ các món đồ đã hỏng, để kiếm đúng màu ông cần vá vào mặt trước cái đồng hồ tủ đứng đang sửa chữa, “Cha bác có một công ty taxi tải” - (cái này thì tôi biết, công ty ấy nổi tiếng đến nỗi cả tôi cũng từng nghe qua) – “đến khi nghỉ hè hay nghỉ Giáng sinh ông luôn bắt bác chất đồ lên xe - rồi dần dần bác sẽ phải học cách lái xe thôi, ông bảo thế. Mọi anh em ở bãi chất đó đều im phắc khi thấy bác bước ra đó. Con trai ông chủ mà. Không phải lỗi tại họ, vì cha của bác thật là một loại chủ khốn nạn. Dù sao thì, ông cũng bắt bác làm ở đó từ năm mười bốn tuổi, lúc tan học hoặc cuối tuần - chất hàng lên xe trong trời mưa. Thỉnh thoảng bác cũng phải làm trong văn phòng, một nơi bẩn thỉu u tối khôn tả. Mùa đông rét cóng, mùa hè nóng như chảo lửa. Phải hét lên át tiếng quạt thông gió. Ban đầu thì chỉ trong mùa hè và Giảng sinh thôi. Nhưng đến khi bác lên đại học năm thứ hai, ông tuyên bố sẽ không trả tiền học nữa.”
Tôi đã tìm thấy một miếng gỗ có vẽ hợp với mảng vỡ, bèn đẩy sang bên ông. “Bác bị điểm kém à?”
“Không, bác học khá.” ông nhặt miếng gỗ giơ lên trước ánh sáng, rồi để chung vào một chồng những mảnh có vẻ dùng được. “Vấn đề là, ông đâu có đi học đại học mà vẫn sống khỏe, đúng không? Vậy sao bác còn đòi trứng khôn hơn vịt? Nhưng không chỉ có thế - ừ, ông là loại người ai đến đâu cũng phải áp chế tất cả mọi người xung quanh, cháu biết kiểu đó đấy, và bác nghĩ chắc lúc đó ông đã nhận ra còn cách nào tốt hơn để nắm bác trong tay mình, làm việc không công? Ban đầu...” ông cân nhắc vài giây một mảnh ván lạng khác, rồi bỏ vào chồng “có vẻ dùng được” - “ban đầu, ông nói bác sẽ phải nghỉ một năm - hoặc bốn năm năm, tùy xem cần bao nhiêu - và làm việc cực khổ để kiếm nốt số học phí còn lại. Nhưng chưa bao giờ bác thấy một đồng xu nào. Bác sống ở nhà, và ông cho tất vào một tài khoản đặc biệt, để dành cho bác, cháu hiểu chứ. Hà khắc nhưng cũng công bằng, bác nghĩ vậy. Nhưng rồi sau khoảng ba năm bác làm việc quần quật cho ông, luật chơi bỗng thay đổi. Bỗng dưng…” ông cười “à, bác không hiểu ư? Đấy là bác đang hoàn trả phí hai năm đầu đại học cho ông thôi. Ông chẳng hề để dành tí gì sất.”
“Thật kinh khủng quá!” Sau một lúc sững sờ tôi la lên. Tôi không hiểu sao ông lại cười được về chuyện bất công rành rành như thế.
“À... ” ông đảo mắt “lúc đó bác vẫn còn khá non nớt, nhưng cũng hiểu rằng cứ đà này bác sẽ chết già trước khi thoát khỏi chốn đó. Nhưng không có tiền, không có nơi nào sống, bác biết làm gì? Bác đang nghĩ cật lực tìm lối thoát thì như trên trời rơi xuống, Welty bước vào văn phòng đúng lúc cha đang la lối bác. Ông ấy rất thích chửi mắng bác trước mặt người làm - đi đứng khệnh khạng như sếp sòng Mafia, kêu rằng bác nợ tiền ông vì thứ này thứ khác, trừ vào cái gọi là ‘lương’ của bác. Giữ lại ‘tiền cống’ không tồn tại của bác vì một điều vi phạm tưởng tượng nào đấy, vân vân.
“Welty thì - đấy không phải lần đầu bác nhìn thấy ông. Ông đã từng đến văn phòng đặt vận chuyển đồ trong mấy vụ bán thanh lý gia sản - ông lúc nào cũng bảo với cái lưng ấy ông phải làm việc gấp mấy lần để tạo ấn tượng tốt, khiến người ta bỏ qua tật của ông, vân vân, nhưng ngay từ đầu bác đã thích ông rồi. Phần lớn mọi người đều thích ông, ngay cả cha bác, mà phải nói rằng ông ấy không phải loại người biết tử tế với người khác. Dù sao thì, Welty chứng kiến cơn thóa mạ ấy, hôm sau đã gọi điện cho cha bác bảo rằng muốn nhờ bác đóng đồ ở một căn nhà ông đã mua hết đồ đạc. Bác còn nhỏ nhưng rất to con và khỏe, chăm chỉ làm việc, nói chung là rất hợp. Ờ...” Hobie đứng dậy vươn vai “Welty là khách hàng thân, và dù vì cớ gì thì cha bác cũng nói được.
“Căn nhà đó là biệt thự cổ nhà De Peyster. Tình cờ là bác lại khá thân thiết với bà cụ ở đó. Từ thuở nhỏ bác đã hay qua đó thăm bà cụ - bà cụ già rất hay ho, đội tóc giả vàng rực, cả biển thông tin trong bụng, giầy má vứt khắp nhà, biết tất tần tật lịch sử địa phương, kể chuyện hấp dẫn hết sức - ngoài ra thì đó là một căn nhà cực kỳ, toàn đồ thủy tinh Tiffany và một vài món đồ gỗ rất oách từ thế kỷ 19, và bác có thể giúp làm giấy tờ xuất xứ cho rất nhiều món đồ, khá hơn bà con gái vốn chẳng hề quan tâm xem cái ghế từng có Tổng thống McKinley ngồi hay gì hết.
Hôm bác giúp ông đóng đồ xong - khoảng sáu giờ chiều, người bác phủ đầy bụi - Welty mở một chai vang, bọn bác ngồi trên thùng hàng cùng uống - cháu hình dung không, giữa sàn nhà trống trơn và tiếng âm vang trong nhà rỗng ấy. Bác đã mệt lử rồi - ông thì trả bác trực tiếp bằng tiền mặt, bỏ qua cha bác - và rồi khi bác cảm ơn ông, hỏi ông có biết nơi nào cần việc nữa không, ông nói: Này, tôi vừa mở cửa hiệu ở New York, nếu cậu cần thì việc chờ cậu đấy. Thế là cả hai chạm cộc, bác về nhà, chất một vali hầu như toàn sách, tạm biệt bà giúp việc và nhảy lên xe tải đi nhờ một cuốc về New York ngay hôm sau. Không bao giờ ngoái lại.
Không gian chùng xuống hồi lâu. Chúng tôi vẫn còn đang phân loại ván lạng: những mảnh mỏng như giấy bật tanh tách, như những quân cờ trong trò chơi cổ Trung Hoa nào đấy, phát ra tiếng động nhẹ bỗng rùng mình khiến ta cảm thấy như lọt trong một cõi lặng yên mênh mang.
“A!” tôi chợt chớp thấy một mảnh và chộp lấy, đắc thắng chuyển cho ông: đích xác là màu đó, giống hơn nhiều tất cả những mảnh ông vừa đặt riêng vào đống kia.
Ông cầm lấy, giơ lên đèn. “Cũng tạm được.”
“Cái đó không ổn chỗ nào ạ?”
“À, cháu hiểu không?” ông ghé miếng ván lạng sát vào mặt đồng hồ “khi làm việc này, cái cần chú ý là vân gỗ. Quan trọng là ở đó. Lệch màu có. thể đổi được. Ví dụ cái này.” ông giơ một mảnh khác, có thế thấy rõ là màu khác khá nhiều “chỉ cần một chút sáp ong và làm màu hợp lý, là ổn cả. Kali đicrômát, một chút thuốc nâu Vandyke - thỉnh thoảng khi gặp phải đường vân khó khớp, đặc biệt là một số loại óc chó, bác còn phải dùng amoniac nhuộm sẫm một mảnh gỗ mới. Nhưng chỉ là chẳng đặng đừng thôi. Tốt nhất vẫn là dùng gỗ cùng tuổi với món đồ đang chữa, nếu tìm được.”
“Làm sao bác học được tất cả những thứ ấy ạ?” Tôi hỏi sau một lúc rụt rè im lặng.
Ông bật cười. “Cũng y như cháu đang học thôi! Đứng gần mà ngó. Giúp đỡ một tay một chân.”
“Welty dạy bác ạ?”
“Ồ không. Ông hiểu việc, hiểu cách làm. Làm nghề này không thể không hiểu được. Ông có con mắt rất tinh, và thỉnh thoảng bác lại lên tìm ông hỏi ý khi cần tham khảo thêm. Nhưng trước khi có bác đến thì ông thường bỏ qua các món cẩn sửa sang. Việc này rất tốn thời gian - cần có một kiểu tâm tính cụ thể - tính khí và sức lực mà ông thì không hợp làm việc đó. Ông thích vai trò mua về hơn - cháu hiểu đấy, đi dự đấu giá - hoặc ở trên cửa hiệu trò chuyện với khách. Chiều chiều khoảng năm giờ, bác sẽ lên đó uống tách trà. ‘Bị tống khỏi hầm ngục của cậu rồi hả?’ Quả thật hồi ấy dưới này rất kinh khủng, ẩm ướt mốc meo. Hồi bác mới tới làm việc cho Welty” ông cười “có một ông già tên là Abner Mossbank. Chân khập khiễng, ngón tay thấp khớp, mắt gần như lòa. Có khi phải mất cả năm mới xong được một món. Nhưng bác đứng sau lưng xem ông làm việc. Cứ như phẫu thuật gia ấy. Không được phép hỏi. Ngậm miệng lại! Nhưng ông ấy biết hết mọi thứ - những việc người khác không ai biết làm, hoặc không thèm học cách làm nữa - cái nghề này truyền lại mong manh trên một sợi chỉ, từ thế hệ này qua thế hệ sau.”
“Thế cha bác không bao giờ trả lại số tiền bác kiếm được ạ?”
Ông cười ấm áp. “Không một xu! Cũng không bao giờ nói chuyện với bác nữa. Ông già là loại người hậm hực - lăn đùng ra chết vì trụy tim đúng giữa lúc đuổi việc một người làm thuộc hàng trung thành nhất. Đúng là một đám tang vắng vẻ nhất trên đời. Đúng ba cái ô đen trong màn mưa đá. Thật khó mà không nghĩ đến lão Ebenezer Scrooge.[53]”
“Bác không quay lại học tiếp à?”
“Không. Cũng không muốn. Bác đã tìm ra việc mình thích làm rồi. Thế là... - ông ấn cả hai tay vào hõm lưng rồi vặn lưng; áo khoác lùng thùng hơi bẩn và sờn khiến ông trông như một bác phu già tốt tính đang trên đường ra tàu ngựa - “ai biết được cái đó sẽ đưa đấy cháu tới đâu?”
“Cái gì cơ?”
Ông cười. “Chuyến đi biển của cháu ấy.” ông nói và đi về phía cái giá, nơi những hũ màu xếp hàng như thuốc trong tiệm dược phẩm, màu hoàng thổ, màu độc dược xanh lòm, bột than củi, bột xương cháy. “Biết đâu lại là thời điểm quyết định. Nó khiến nhiều người phải lòng, biển ấy.”
“Andy bị say sóng. Cậu ấy còn phải mang túi nôn lên tàu.”
“À...” với lấy lọ muội than “phải thừa nhận là bác thì chưa bao giờ phải lòng cả. Hồi bác con bé - Bài ca người thủy thủ già[54], với tranh minh họa của Doré - biển chỉ làm bác sởn gáy, nhưng bác cũng chưa bao giờ được đi một chuyến du ngoạn như cháu cả. Biết đâu đấy. Bởi vì…” - mày nhíu lại, khẽ gõ một chút bột đen mịn lên bảng màu - “bác chưa bao giờ nghĩ rằng mấy món đồ cũ nhà bà De Peyster lại có thể là thứ quyết định tương lai mình. Có thể cháu sẽ mê mẩn lũ cua ẩn sĩ và theo học Hải sinh học thì sao. Hoặc thích nghề đóng tàu, hay vẽ tranh cảnh biển, hay viết cuốn sử vô tiền khoáng hậu về tàu Lusitania.”
“Có thể ạ!” tôi nói, tay chắp sau lưng. Nhưng điều trong lòng hy vọng, tôi lại không dám nói ra. Ngay cả nghĩ đến nó thôi cũng đủ tôi run rẩy. Vì chuyện là thế này: Kitsey và Toddy đã bắt đầu vui vẻ hơn với tôi rất nhiều, như nghe theo dặn dò của ai đó, và đã có những cái nhìn, những cử chỉ đầy hàm ý giữa ông bà Barbour làm tôi nhen nhóm mong đợi - hơn cả thế nữa. Thực tế là chính Andy đã gieo ý nghĩ đó vào đầu tôi. “Bố mẹ nghĩ cậu có ảnh hưởng tốt với tớ.” vừa hôm trước cậu ta nói trên đường đến trường. “Là cậu đang lôi tớ ra khỏi vỏ bọc, khiến tớ cởi mở với người ngoài hơn. Tớ nghĩ có thể sẽ có một tuyên bố gì đó khi nào ta lên đến Maine đấy.”
“Tuyên bố gì cơ?”
“Đừng có ngốc. Hai người khá khoái cậu rồi - nhất là mẹ. Nhưng cả bố cũng thế. Tớ nghĩ có thể họ muốn nhận nuôi cậu.”
XV
KHÔNG HIỂU VÌ CỚ GÌ mà trong quãng gián cách căng thẳng ấy (có lẽ do rắc rối bí ẩn của Platt khiến tôi nhớ đến cảnh ngộ chính mình), tôi chợt nghĩ ra có lẽ nên nói cho Hobie biết về bức tranh - hoặc ít nhất cũng đả động vòng quanh đề tài đó xem ông phản ứng ra sao. Cái khó là ở chỗ làm cách nào nhắc tới nó. Bức tranh vẫn còn trong căn hộ, vẫn y nguyên nơi tôi đã giấu, bọc trong cái túi mang từ bảo tàng ra. Nhìn thấy nó dựa vào xô pha trong phòng ngoài cái buổi chiều kinh sợ quay về đó lấy mấy món đồ đi học, tôi đã bước ngang qua nó, vòng tránh thận trọng như tránh một lão lang thang quờ quạng trên vỉa hè, lòng không nguôi canh cánh về con mắt nhạt màu lạnh lẽo của bà Barbour đang dán lên lưng mình, lên căn hộ, lên các đồ vật của mẹ, trong lúc bà đứng khoanh tay nơi ngưỡng cửa.
Khó nói lắm. Mỗi lần nghĩ đến bức tranh lại khiến bụng tôi quặn lại, nên phản ứng đầu tiên chỉ là đóng sầm cái nắp rồi nghĩ sang chuyện khác. Thật không may là tôi đã để quá lâu không nói gì với bất cứ ai, và giờ thì cảm giác như đã quá muộn không nên nói gì cả. Và càng ở lâu bên Hobie - bên những món đồ gỗ Hepplewhite và Chippendale què mẻ, những món đồ rất xưa mà ông chăm nom rất tận tình - tôi lại càng thấy không nói là sai. Nhỡ có người tìm thấy bức tranh thì sao? Tôi sẽ gặp chuyện gì đây? Rất có thể ông chủ nhà đã đi vào căn hộ - ông ta có chìa - nhưng dù có vào thì cũng chưa chắc ông ta sẽ bắt gặp nó mà. Dẫu sao, cứ để nó sờ sờ đó trong lúc trì hoãn không quyết cũng là một kiểu đùa bỡn số phận.
Không phải tôi không muốn trao lại bức tranh; nếu chỉ ngồi ước mà có thể trả lại nó về chỗ cũ một cách thần kỳ, thì tôi sẵn sàng giao lại ngay phút này. Chỉ là tôi không nghĩ ra nổi cách nào trả lại nó mà không nguy hại cho hoặc tôi hoặc bức tranh. Từ bữa đánh bom, khắp thành phố đều có biển thông báo rằng những bọc đồ vô chủ để lung tung vì cớ gì cũng sẽ bị thiêu hủy, như thế là đủ tiêu tùng hầu hết những kế hoạch hay hớm nhằm bí mật trả lại bức ưanh. Mỗi vali hay gói đồ khả nghi đều sẽ bị cho tiêu hủy, không thắc mắc gì hết.
Trong số những người lớn xung quanh, chỉ có hai người tôi thấy có thể chia sẻ bí mật của mình: Hobie và bà Barbour. So ra thì Hobie có vẻ thân thiện hơn, và ít đáng sợ hơn nhiều. Giải thích cho Hobie sẽ dễ hơn, vì sao ngay từ đầu tôi lại vác bức tranh ra khỏi bảo tàng. Rằng đấy có thể coi là một sai lầm. Rằng tôi chỉ đang làm theo lời Welty, và rằng tôi còn đang cơn choáng. Rằng tôi không nghĩ kỹ việc ấy có ý nghĩa thế nào. Rằng tôi vốn không định cứ để nó nằm không như vậy lâu đến thế. Tuy nhiên trong cảnh không nhà và chưa biết đi đâu về đâu, có vẻ thật khùng mới đi thú nhận một điều mà tôi biết cả đống người sẽ coi là tội lỗi rất trầm trọng. Rồi thì, rất tình cờ, đúng khi bắt đầu hiểu ra không thể chờ thêm lâu nữa, phải làm gì đó, thì tôi bắt gặp một bức ảnh đen trắng bé xíu chụp nó trong mục kinh doanh tờ Times.
Một phần do cảm giác bất an đang tràn ngập căn nhà sau vụ ô nhục nào đó của Platt, tờ báo giờ thỉnh thoảng lại xuất hiện ở ngoài văn phòng ông Barbour, sau đó tự phân thân thành nhiều mảnh rồi tái xuất một hai tờ một. Những trang báo gập lại rất ngượng nghịu thường vất vưởng gần cái cốc nước khoáng quấn khăn ăn (dấu hiệu đánh dấu lãnh thổ của ông Barbour) trên bàn trà trong phòng khách. Đấy là một bài báo rất dài và tẻ ngắt ở gần cuối mục báo, bàn về ngành công nghiệp bảo hiểm - những khó khăn tài chính khi thực hiện các buổi trưng bày nghệ thuật lớn trong tình cảnh kinh tế đang xuống dốc, đặc biệt là đối với các công ty chuyên bảo hiểm các tác phẩm đem trưng bày lưu động. Nhưng đập vào mắt tôi lại là dòng chú thích dưới bức ảnh: CON SẺ VÀNG (1654), TUYỆT PHẨM CỦA CAREL FABRITIUS, ĐÃ BỊ THIÊU HỦY.
Không kịp nghĩ, tôi ngồi xuống ghế ông Barbour và đọc nhanh những dòng chữ sin sít, xem có nói gì đến bức tranh của mình không (đã kịp nghĩ là của mình rồi đấy - ý nghĩ thoáng qua đầu tôi như thể nó đã thuộc về tôi từ thuở bé):
Những vấn đề về luật quốc tế càng được đặt ra trong những vụ khủng bố văn hóa như lần này, vụ nổ đã gây lạnh gáy cho không chỉ giới nghệ thuật mà cả cộng đồng tài chính. “Tổn thất dù chỉ một bức tranh trong số đó thôi cũng khó mà định lượng được.” Murray Twitchell, một nhà phân tích độ rủi ro trong bảo hiểm ở London nói. “Ngoài mười hai bức đã mất và chắc đã bị thiêu hủy hoàn toàn, có hai mươi bảy bức khác bị tổn hại nghiêm trọng, dù một số vẫn còn khả năng phục chế.” Trong một động thái có lẽ nhiều người sẽ thấy là vô ích, Cơ sở Dữ liệu Nghệ thuật mất tích.
Bài báo còn tiếp sang trang kế, nhưng đúng lúc đó bà Barbour vào phòng và tôi phải bỏ báo xuống.
“Theo!” bà nói. “Bác có một đề nghị.”
“Vâng?” Tôi đề phòng đáp.
“Cháu có muốn lên Maine cùng nhà bác năm nay không?”
Trong một giây nỗi vui mừng làm tôi không nghĩ nổi gì nữa. “Có ạ!” Tôi nói. “Ôi! Được vậy thì tuyệt quá!”
Ngay cả bà cũng không kìm nổi nét cười thoáng qua. “À!” bà nói, “Chance chắc chắn sẽ rất vui có cháu phụ việc trên tàu. Xem ra năm nay nhà ta sẽ khởi hành hơi sớm - ít ra là Chance và lũ trẻ. Bác ở lại trong thành phố lo vài việc, nhưng sau một hai tuần sẽ lên.”
Tôi vui đến nỗi không biết đáp lại thế nào nữa.
“Để xem cháu có thích đi tàu không. Có lẽ sẽ hơn Andy. Hoặc ít nhất ta hãy hy vọng như vậy.”
“Cậu nghĩ là sẽ vui hả.” Andy u ám nói khi tôi chạy ba chân bốn cẳng về phòng (không đủ sức đi bình thường nữa) kể tin mừng cho cậu ta. “Nhưng không có đâu. Cậu sẽ ghét lắm cho mà xem.” Dù thế, tôi cũng thấy rõ cậu ta khoái chí hẳn. Và đêm ấy, trước khi ngủ, cậu ta và tôi ngồi trên mép tầng giường dưới bàn luận xem sẽ mang đi sách gì, đĩa game nào, và mách nhau các triệu chứng say sóng để nếu muốn tôi có thể chuồn khỏi công việc trên boong.
XVI
CÁI TIN KÉP NÀY - tin lành về cả hai phía - khiến tôi bải hoải và hoa mắt vì mừng rỡ. Nếu bức tranh của tôi đã bị thiêu hủy (theo nhìn nhận chính thức) thì còn ối thời gian nghĩ xem nên làm gì. Cái ma thuật ấy cũng khiến lời mời của bà Barbour có vẻ không chấm dứt ở mùa hè này mà chạy tít về vô tận, như thể toàn Đại Tây Dương đã nằm chắn giữa tôi và ông nội Decker; nỗi hạnh phúc đưa tôi lên cao chóng mặt, chỉ còn có việc tắm mình trong nỗi hân hoan của kẻ được hoãn án. Tôi biết đáng ra mình phải trao bức tranh cho Hobie hoặc bà Barbour, nộp mình cho sự phán xét của họ, kể cho họ tất tật mọi điều và năn nỉ xin giúp đỡ - trong cái góc tỉnh táo và ảm đạm nào đó trong đầu, tôi biết mình rồi sẽ hối hận nếu không làm vậy - nhưng trong đầu tôi đã ngập tràn Maine và tàu bè đến độ không nghĩ nổi điều gì khác nữa; và dần dà tôi tự thuyết phục mình rằng có lẽ khôn ngoan hơn là cứ giữ bức tranh một lúc, làm bảo hiểm cho ba năm tới, để khỏi phải tới sống cùng ông nội Decker và Dorothy. Đúng là điển hình cho đầu óc ngây ngô kinh người của tôi, nghĩ rằng biết đâu mình, có thể đem nó bán đi nếu cần đến. Thế nên tôi ngậm miệng, cắm đầu vào những bản đồ cùng ký hiệu với ông Barbour, và chịu đi cùng bà Barbour tới Brooks Brothers mua giày thủy thủ cùng ít áo len vải bông nhẹ để mặc trên tàu khi đêm trở lạnh. Và không nói gì.
XVII
TÔI ĐI XE BUÝT lên nửa bắc, đã hơi gà gật, người đung đưa dễ chịu và ngắm những phố phường thứ Bảy ướt mưa vụt qua. Khi bước vào trong căn hộ - đang rét cóng vì đi bộ về trong mưa - tôi thấy Kitsey chạy ra sảnh nhìn mình, mắt xoe tròn khoái chí, như thấy một con đà điểu đi lạc vào nhà. Rồi sau vài phút im lặng, nó lại chạy tọt vào phòng khách, đôi dép lê đập bèn bẹt trên sàn gỗ và réo lên, “Mẹ ơi! Anh ý về rồi!”
Bà Barbour hiện ra. “Chào Theo.” bà nói, cực kỳ điềm tĩnh nhưng dáng vẻ có gì đó dè dặt, dù tôi không xác định nổi là gì. “Vào đi. Có một bất ngờ đang chờ cháu.”
Tôi theo bà vào văn phòng ông Barbour, căn phòng tăm tối trong buổi chiều đen mây, những bảng cờ hiệu lồng khung trên tường và mưa lăn trên các ô cửa xám khiến người ta nghĩ đến sân khấu đang dựng cảnh cabin tàu trên biển khơi dông bão. Đầu kia phòng, một dáng người đứng lên từ cái ghế bành da. “Chào cậu cả.” kẻ đó nói. “Lâu rồi không gặp.”
Tôi đứng khựng giữa cửa. Giọng nói không nhầm vào đâu được: bố tôi.
Ông bước lên, lọt vào ánh sáng lờ mờ từ cửa sổ. Đúng là ông, dù ông đã khác nhiều so với hồi ở cùng tôi: nặng cân hơn, rám nắng hơn, mặt phị ra, bộ vét mới, kiểu tóc mới khiến ông trông như một người pha chế rượu ở khu trung tâm. Kinh hãi, tôi liếc trở lại bà Barbour, và bà trao tôi nụ cười tươi rói nhưng bất lực như muốn nói: bác biết, nhưng bác làm gì được đây?
Trong lúc tôi vẫn đứng đó, chết điếng không nói nên lời, một bóng người khác mọc lên và luồn lách ra đứng trước bố tôi. “Chào, tôi là Xandra.” một giọng khàn khàn nói.
Tôi thấy chắn trước mặt mình là một người đàn bà lạ, rám nắng, thân thể dẻo dai, mắt xám vô hồn, da màu đồng có nếp nhăn, miệng hơi móm, răng thưa rếch. Cô ta già hơn mẹ tôi, hoặc ít ra là trông già hơn, nhưng lại ăn mặc rất trẻ: xăng đan đế xuông đỏ chót, quần bò trễ, thắt lưng to bản, một đống vàng đeo khắp người. Tóc hung vàng như rơm, thẳng đuột, đuôi tóc chẻ, chưa kể còn nhai kẹo cao su và tỏa mùi Juicy Pruit nồng nặc.
"Xandra, viết là X.” cô ta nói, giọng nghe có âm xào xạo. Mắt cô ta trong suốt không màu, những vệt mascara đen chĩa ra quanh mắt, cái nhìn uy quyền, tự tin không chớp. “Không phải Sandra. Và thề có Chúa, không phải Sandy. Tôi suốt ngày bị gọi vậy, phát điên lên được.”
Trong lúc nghe cô ta nói, sự kinh ngạc trong tôi càng lúc càng tăng. Tôi thấy khó mà tiếp thụ nổi cô ta: cái giọng “uýt-ki” khào khào, đôi cánh tay nổi bắp, chữ Trung Quốc xăm trên ngón tay cái, những móng tay dài cắt vuông sơn trắng ở đầu mép, đôi hoa tai hình sao biển.
“Ừm, bọn bố vừa xuống sân bay LaGuardia khoảng hai giờ trước.” bố tôi hắng giọng, cứ như thế là đủ hiểu.
Đây là người đã làm bố rời bỏ mẹ con tôi ư? Ngây mặt, tôi quay lại nhìn bà Barbour, nhưng bà đã mất dạng.
“Theo, giờ bố ở Las Vegas rồi.” bố tôi nói và ngó lên tường đâu đó phía trên đầu tôi. Ông vẫn còn cái giọng chủ động, tự tin học được trong lớp diễn viên, nhưng dù nghe ông vẫn uy lực như mọi khi, tôi cũng thấy rõ ông lúng túng chẳng khác gì mình. “Có lẽ nên gọi trước thì tốt hơn, nhưng bố nghĩ ghé qua đón con luôn là dễ nhất.”
“Đón con?” Tôi hỏi sau một quãng lặng dài.
“Nói đi, Larry.” Xandra nói, rồi quay sang tôi. “Cháu phải thấy mừng vì ông già cháu đi. Ông ấy ngon lành rồi. Kiêng được bao nhiêu ngày rồi nhỉ? Năm mươi mốt? Hoàn toàn tự lực - thậm chí không thèm vào hội - tự giải độc trên xô pha cùng một rổ kẹo và một lọ Valium.”
Bởi quá hổ thẹn không dám nhìn cô ta cũng như bố tôi, tôi lại nhìn ra cửa - và thấy Kitsey Barbour đang đứng ngoài hành lang lắng nghe tất cả, mắt trộn to tướng.
“Bởi ý tôi là, tôi thì không chịu nổi thứ đó.” Xandra tiếp bằng cái giọng ám chỉ mẹ tôi đã chiều chuộng, thậm chí khuyến khích thói nát rượu của bố tôi. “Nghĩ xem, mẹ đẻ tôi là cái thứ người có ọe vào cốc Canadian Club rồi thì vẫn uống tiếp như thường. Và một tối tôi bảo, Larry, em không bảo anh ‘vĩnh viễn’ đừng đụng vào rượu nữa, và thực tình em nghĩ bắt anh vào hội nghiện rượu nặc danh thì quả là dùng dao mổ trâu để giết gà...”
Bố tôi hắng giọng, rồi quay sang tôi với vẻ mặt niềm nở vẫn dành cho người lạ. Có thể đúng là ông đã ngừng uống, nhưng cái mặt phì phị, bóng loáng, hơi ngơ ngẩn của ông vẫn có vẻ như tám tháng vừa qua ông chỉ sống bằng rum và hoa quả trộn Hawaii.
“Ừm, con ạ.” ông nói, “bọn bố vừa xuống máy bay và đến đây ngay vì, ờm, bọn bố muốn gặp con ngay lập tức, dĩ nhiên…”
Tôi đợi.
“... bọn bố cần chìa khóa căn hộ.”
Thế này có phần quá chóng vánh với tôi. “Chìa khóa hả?” Tôi hỏi.
“Chúng tôi không vào đó được.” Xandra nói toẹt. “Thử rồi.”
“Vấn đề là, Theo à.” bố tôi nói bằng giọng rõ ràng và thân mật, vuốt tay lên tóc như không có chuyện gì, “bố cần ghé vào Sutton Place xem tình hình thế nào. Chắc chắn là tanh bành lắm, phải có ai đó vào xếp đặt chứ.”
Nếu cô đừng có để các thứ tanh bành hết cả... Đấy là những lời tôi nghe ông hét vào mặt mẹ, khoảng hai tuần trước khi ông biến mất, trong cuộc cãi lộn lớn nhất mà tôi từng nhớ, khi đôi hoa tai bằng kim cương và ngọc thạch của bà ngoại biến mất khỏi cái đĩa trên bàn đầu giường. Cha tôi (đỏ mặt tía tai, léo nhéo nhại giọng mẹ) bảo đấy là lỗi của mẹ, hẳn là Cinzia hoặc ai đó có quỷ biết đã thủ mất, vứt trang sức lung tung như thế đã là không khôn ngoan, và chắc việc này sẽ dạy mẹ từ nay biết trông giữ đồ đạc hơn. Nhưng mẹ - mặt xám bệch vì tức giận - đã nhận xét bằng cái giọng lạnh băng kiềm chế, rằng mẹ tháo hoa tai ra vào tối thứ Sáu, mà từ lúc đó đến giờ Cinzia chưa hề đến làm.
“Thế cô ám chỉ cái mẹ gì?” Bố tôi đã rống lên.
Lặng phắc.
“Vậy tôi là kẻ cắp rồi phải không? Cô bảo chính chồng cô ăn cắp trang sức của cô? Cái điên rồ chết mẹ gì thế? Cô cần đi khám, cô biết không? Cô phải vào viện đi thôi...”
Có điều không chỉ có đôi hoa tai biến mất. Sau khi bản thân ông mất tích, chúng tôi phát hiện ra còn nhiều thứ khác, tiền mặt, tiền cổ của ông ngoại, cũng không cánh mà bay; mẹ đã thay ổ khóa và dặn Cinzia lẫn mấy chú bảo vệ đừng có cho vào nhà nếu ông đến lúc mẹ đi làm. Và tất nhiên giờ thì mọi thứ đã khác, chẳng có gì ngăn được ông vào căn hộ, lục lọi đồ đạc của mẹ và làm gì tùy thích, nhưng trong khi tôi đứng nhìn ông, nghĩ mãi không ra cái gì để nói, thì trong đầu tôi đang rối tung đủ thứ chuyện mà chuyện chính là bức tranh. Ngày nào cũng vậy, suốt hằng tuần, tôi cứ nhắc mình qua đó cất nó đi, bằng cách nào đó, nhưng cứ ngâm nga mãi, và giờ thì thế này.
Bố vẫn còn nhìn tôi, giữ nguyên nụ cười. “Được chứ, cậu cả? Chắc con sẽ giúp bọn bố chứ?” Có thể giờ ông không uống nữa, nhưng cái kiểu nhấp nhổm thiếu rượu lúc chiều tối vẫn còn nguyên trong ông, cà vào tôi như giấy nhám.
“Con không cầm chìa.” tôi nói.
“Không sao.” bố tôi đáp nhanh. “Ta gọi thợ khóa vậy. Xandra, điện thoại.”
Tôi nghĩ vội. Tôi không muốn họ vào đó mà không có tôi. “Có thể Jose hoặc chú Vàng sẽ mở cửa cho mình.” tôi nói. “Nếu con đi cùng.”
“Được thôi.” bố đáp, “vậy đi.” Nghe giọng ông tôi đoán ông đã biết tôi nói dối (cái chìa đã giấu kín trong phòng Andy). Tôi cũng biết ông không thích phải lôi mấy chú bảo vệ vào cuộc, vì người làm trong tòa nhà không mấy ai đặc biệt ưa ông bố của tôi sau khi chứng kiến ông say xỉn quá nhiều lần. Nhưng tôi đáp lại ánh mắt ông hết sức dửng dưng vô tội, cho tới khi ông nhún vai quay đi.
XVIII
“HOLA, JOSE!”
“¡Bomba!” Jose kêu lớn và mừng rỡ lùi một bước khi thấy tôi trên vệ đường; người trẻ nhất và tung tẩy nhất trong số bảo vệ, chú lúc nào cũng tìm cách chuồn sớm trước khi hết ca để chơi bóng đá trong công viên. “Theo! ¿Qué lo que, manito?”[55]
Nụ cười trong sáng trên mặt chú xô mạnh tôi về quá khứ. Mọi thứ đều như trước: bạt che màu xanh, kính nhuộm màu nâu vàng, vũng nước màu bùn nâu vẫn đọng trong chỗ trũng trên vỉa hè. Đứng trước mấy cái cửa kiểu Art-Deco - sáng bóng như kền, vẽ những hình sao nhiều cánh trừu tượng, thứ cửa mà những tay phóng viên đội mũ phớt thường hối hả lao qua trong các phim thời 1930 - tôi nhớ lại bao nhiêu lần bước qua cửa, thấy mẹ đang đứng xem thư và chờ thang máy. Vừa ra khỏi công ty, vẫn nguyên giày cao gót và cặp táp, tay cầm bó hoa tôi gửi tặng sinh nhật mẹ. Chà, con biết sao không. Người hâm mộ bí mật lại ra tay rồi.
Ngó ra đằng sau tôi, Jose đã phát hiện ra bố tôi cùng Xandra đang đứng lơ ngơ cách mấy bước. “Chào ông Decker.” chú chuyển giọng khách khí hơn, đưa tay vòng qua tôi bắt tay bố: rất lịch sự nhưng không phí công ân cần. “Vui được gặp ông.”
Bố tôi nở Nụ cười Tiếp khách, chuẩn bị đáp lại nhưng tôi đã cắt ngang vì quá căng thẳng: “Jose...” tôi đã bóp óc tìm lời trên đường đến đây, tụng đi tụng lại câu tiếng Tây Ban Nha trong trí “mi papá quiere entrar en el apartamento, le necesitamos abrir la puerta.[56]” Rồi tôi vội chêm vào câu hỏi vừa nghĩ ra lúc nãy, trên đường đến đây: “¿Usted puede subir con nosotros?[57]
Mắt Jose vọt qua chỗ bố tôi cùng Xandra. Chú rất to con và đẹp trai, người Dominica, có gì đó phảng phất giống Muhammad Ali thời trẻ - dễ chịu và ưa đùa cợt, nhưng đừng hòng động vào. Một lần, tỏ lòng tin cậy, chú đã vén đồng phục bảo vệ cho tôi xem vết sẹo dao đâm trên bụng, bảo là do đánh lộn ngoài đường ở Miami.
“Rất vui lòng, chú đáp bằng tiếng Anh giọng thoải mái. Chú nhìn hai người kia, nhưng tôi biết câu ấy là dành cho tôi. “Tôi sẽ đưa mấy người lên. Mọi thứ ổn cả chứ?”
“Ừ, ổn!” bố tôi đáp gọn lỏn. Bố chính là người nằng nặc bắt tôi học tiếng Tây Ban Nha làm ngoại ngữ thay vì tiếng Đức (“để ít nhất trong nhà cũng có một người giao tiếp được với mấy thằng trông cửa chết tiệt”).
Xandra, mà tôi bắt đầu nghi là có vấn đề thực sự về thần kinh, cất tiếng cười căng thẳng và nói bằng cái giọng líu ríu cà lăm: “Vâng, chúng tôi ổn cả, nhưng chuyến bay quả là mệt quá. Đi từ Vegas đến đây rất xa và chúng tôi vẫn còn hơi…” đến đấy cô ta đảo mắt, nhúc nhích ngón tay làm bộ lảo đảo.
“Thế à?” Jose hỏi. “Hôm nay? Ông bà bay xuống LaGuardia à?” Như mọi người bảo vệ khác, chú là chúa trùm chuyện gẫu, nhất là các đề tài giao thông hay thời tiết, hay đường nhanh nhất ra sân bay vào giờ cao điểm. “Nghe nói hôm nay nhiều chuyến bị hoãn, đội khuân vác hành lý có rắc rối, công đoàn gì đấy, hử?”
Suốt trong lúc đi thang máy lên, Xandra huyên thuyên không ngớt và khá kích động: nào là New York thật bẩn so với Las Vegas (“Ừ, phải công nhận, bên mạn Tây cái gì cũng sạch hơn, chắc tôi quen được nuông chiều quá rồi”), nào là cái xăng-uých gà tây ăn trên máy bay thật gớm còn con bé tiếp viên thì “quên” (mấy ngón tay Xandra vẽ dấu nháy nháy) không mang trả năm đồ-la tiền thừa chai vang cô ta gọi.
“Ôi trời!” Jose bước ra hành lang, lúc lắc đầu làm bộ nghiêm trọng như thường lệ. “Thức ăn trên máy bay, tệ lắm. Đến giờ, có ăn còn là may. Nhưng cho bà biết, ở New York nhá. Đồ ăn ngon ngon là. Có đồ Việt ngon, đồ Cuba ngon, đồ Ấn ngon...”
"Tôi không ưa mấy thứ cay đó.”
“Vậy đồ gì bà thích cũng ngon hết. Đây rồi. Segundito.” chú nói và giơ một ngón tay lên trong lúc lần vòng khóa tìm chìa.
Ổ khóa mở đánh xoạch một cách chắc chắn, bản năng, với vẻ chính trực sâu xa. Dù không khí bên trong tù túng vì đóng cửa đã lâu, nhưng mùi thân quen xộc vào mũi vẫn khiến tôi chết lịm: sách vở, thảm cũ, nước lau sàn hương chanh, những cây nến đen thơm mùi trầm mẹ mua ở Barney.
Cái túi mang về từ bảo tàng đang để trên sàn dựa vào xô pha - vẫn y như lúc tôi bỏ lại, từ bao nhiêu tuần rồi? Đầu ong ong, tôi chạy vọt vào phòng tóm lấy nó trong lúc Jose - hơi ngáng đường ông bố đang bực tức dù làm như không phải - đứng ngay ngoài cửa lắng nghe Xandra, tay khoanh lại. Vẻ mặt bình thản nhưng có phần lơ đãng của chú khiến tôi nhớ đến cái lần chú gần như phải vác bố lên lầu, một đêm lạnh cóng còn bố tôi thì say đến nỗi vứt cả áo khoác đi đâu mất. Gia đình hoàn hảo nhất cũng có khi vậy mà, chú nói thế và cười lơ đãng khi từ chối tờ hai mươi đô mà bố tôi, mồm lắp bắp không ra tiếng, áo vét đầy vết nôn mửa, phờ phạc bẩn thỉu như vừa lăn trên vệ đường, đang cố dúi vào mặt chú.
“Thực ra là tôi vốn gốc ở mạn Đông đấy.” Xandra vẫn nói. “Florida ấy?” Lại tiếng cười căng thẳng đó - lập cập, cà lăm. “Chính xác nữa là West Palm.”
“Bà nói Florida à?” Tôi nghe tiếng Jose đáp. “Dưới đó đẹp.”
“Phải, thích lắm. ít ra ở Vegas cũng có nắng - tôi không biết có chịu nổi mùa đông ở đây không, chắc tôi sẽ biến thành kem que...”
Ngay khi vừa nhặt cái túi lên, tôi đã thấy nó nhẹ bẫng - gần như rỗng không. Bức tranh ở chỗ quỷ nào rồi? Dù cuống cuồng đến hoa cả mắt, tôi không đứng lại mà đi tiếp dọc hành lang, chân bước tự động, về lại phòng ngủ, đầu óc phóng hết tốc lực trong lúc đi...
Thình lình - giữa những ký ức rời rạc về đêm đó - tôi nhớ ra. Cái túi bị ướt. Tôi không muốn để tranh lại trong đó cho nấm mốc hay cái khỉ gì khác tấn công. Thay vào đó - sao lại quên được chứ nhỉ? tôi đã đặt nó lên tủ ngăn kéo của mẹ, để mẹ thấy ngay khi bước vào nhà. Vội vã không dừng, tôi thả cái túi ngoài hành lang bên cánh cửa phòng ngủ đang khép và chạy sang phòng mẹ, đầu quay cuồng vì sợ, hy vọng bố không đi theo tôi nhưng quá khiếp hãi không dám nhìn.
Ngoài phòng khách, Xandra đang nói: “Chắc các anh ở đây suốt ngày thấy ngôi sao đi ngoài đường, hả?”
“À vâng. LeBron, Dan Aykroyd, Tara Reid, Jay-Z, Madonna. ..”
Phòng ngủ của mẹ tối và mát lạnh, mùi nước hoa mẹ dùng còn phảng phất vừa đủ nhận thấy khiến tôi lại suýt nghẹn ngào. Bức tranh ở đó, giữa những tấm ảnh lồng khung bạc - ông bà ngoại, mẹ, tôi ở đủ mọi tuổi, hàng bao nhiêu ngựa và chó: ả Bàn Cờ của ông, Bruno lớn nòi Đan Mạch, con chó lạp xưởng tên Poppy đã chết hồi tôi mẫu giáo. Cầm lòng khi đi qua đôi kính đặt trên tủ và chiếc quần tất đen phơi đã cứng đờ, dòng chữ mẹ viết trên lịch bàn cùng một triệu sự vật tan nát lòng khác nữa, tôi cầm bức tranh lên kẹp vào nách rồi đi thật nhanh sang phòng mình bên kia hành lang.
Phòng tôi, cũng như bếp, nhìn ra giếng thông gió giữa tòa nhà, không bật đèn nên rất tối. Cái khăn tắm ẩm mốc vẫn nằm sụp một đống nơi tôi quẳng lại sau khi tắm sáng hôm ấy, trên một chồng quần áo bẩn. Tôi nhặt lên, nhăn mặt vì cái mùi, tính quẳng nó lên che bức tranh trong khi tìm nơi giấu khác tốt hơn, có thể là ở...
“Con làm gì thế?”
Bố tôi đứng trên ngưỡng cửa, một bóng đen in trên nền ánh sáng đằng sau lưng.
“Không có gì.”
Bố cúi xuống nhặt cái túi tôi bỏ rơi ngoài hành lang. “Cái gì thế này?”
“Túi đựng sách của con.” tôi đáp sau một lúc im lặng - dù đấy rõ ràng là cái túi bạt đi chợ xếp lại được của các mẹ, loại mà tôi hay bất kỳ đứa nhóc nào khác sẽ không đời nào tha đến trường.
Ông vứt nó vào khoang cửa mở, nhăn mũi khi ngửi thấy mùi. “Phù.” ông nói và khua khua tay trước mặt, “trong này có mùi như tất cũ ấy.” Khi ông thò tay vào cửa bật đèn lên, tôi cũng kịp làm một động tác giật cục phức tạp ném cái khăn tắm lên trên bức tranh để (hy vọng là) ông không thấy.
“Con cầm cái gì đấy?”
“Áp phích.”
“Này, bố hy vọng con không định tha đủ thứ nhố nhăng đến Vegas. Không cần lấy quần áo mùa đông đâu - ở đấy chẳng cần, có thể mang đồ trượt tuyết thôi. Con không hình dung nổi trượt tuyết ở Tahoe thế nào đâu, vượt xa mấy cái núi con tí đầy băng trên Bắc bang này.”
Tôi cảm thấy mình cần đáp lại, phần lớn vì đấy là câu dài nhất và có vẻ tử tế nhất thốt ra từ miệng ông từ khi gặp mặt đến giờ, nhưng không hiểu sao không nghĩ ra được gì.
Bất thình lình, bố nói: “Sống với mẹ con cũng chẳng dễ dàng gì, con biết đấy.” Ông nhặt lên thứ gì đó trên bàn, hình như là bài kiểm tra toán cũ, ngó nghiêng rồi bỏ xuống. “Mẹ con ủ bài kỹ quá. Con biết kiểu đó mà. Im như hến. Chiến tranh lạnh. Lúc nào cũng tỏ vẻ cao kỳ. Đấy là vấn đề quyền lực, con hiểu không - cố gắng giành kiểm soát. Thành thực là, bố ghét phải nói điều này, nhưng sự thể đã đến mức bố khó mà ở cùng phòng với mẹ con được. Ý là, bố không nói mẹ con là người xấu. Có điều mới phút trước đang bình thường, rồi phút sau, đùng một cái, không hiểu bố đã làm gì? nhưng đã lại tảng lờ nhau đi...”
Tôi không nói gì, chỉ lơ ngơ đứng đó với cái khăn mốc phủ lên bức tranh còn ánh đèn thì chiếu thẳng vào mắt, ước gì mình đang ở bất kỳ nơi nào cũng được (Tây Tạng, hồ Tahoe, mặt trăng), không đủ tự tin lên tiếng đáp. Điều ông đang nói về mẹ hoàn toàn đúng: mẹ thường khép mình, và khi bực bội, thật khó đoán được mẹ đang nghĩ gì, nhưng tôi không có nhu cầu bàn bạc về các khuyết điểm của, mẹ và dù sao, tất cả cộng lại hẵng còn xa mới sánh được khuyết điểm của ông.
Ông thì vẫn đang nói: "... vì bố chẳng cần chứng minh điều gì, hiểu không? Cái gì cũng có hai mặt cả. Vấn đề không phải ai đúng ai sai. Và tất nhiên, bố công nhận, bố cũng chịu trách nhiệm phần nào, dù phải nói thế này, và bố tin là con cũng biết, mẹ con rất giỏi diễn giải lại câu chuyện theo hướng có lợi cho mình.” Thật lạ, cái cảm giác lại ở cùng một phòng với ông, nhất là vì giờ ông thật khác trước: gần như đến mùi cũng khác, và sức nặng, trọng lượng của ông cũng khác, có vẻ uyển chuyển hơn, như thể cả người ông đã được phủ một lớp mỡ cả xăng ti trơn tru. “Rất nhiều cuộc hôn nhân cũng gặp phải các vấn đề như bố mẹ - nhưng mẹ con lại cay đắng quá, con hiểu không? Im lặng nữa? Thành thực là bố cảm thấy không thể sống thêm với mẹ nữa, dù có Chúa chứng giám, mẹ con không đáng phải chịu thế này...”
Tất nhiên là không, tôi nghĩ.
“Con biết nguyên nhân thực sự là gì, phải không?” Bố nói tiếp, tựa vào khung cửa trên một khuỷu tay và ranh mãnh nhìn tôi. “Khi bố đi ấy? Bố phải rút ít tiền từ tài khoản của bố mẹ để trả thuế, còn mẹ con thì nổi đóa lên, như thể bố là kẻ cắp không bằng.” Ông đang soi tôi rất kỹ để thăm dò phản ứng. “Tài khoản chung của bố mẹ. Ý bố là, nói cho cùng, đến lúc ngửa bài thì mẹ con không tin bố. Không tin chính chồng mình.”
Tôi chẳng biết nói gì. Đây là lần đầu tôi nghe chuyện thuế má, mặc dù chuyện mẹ không tin bố tôi về chuyện tiền bạc thì chẳng có gì lạ.
“Trời, nhưng mẹ con thù dai thật.” ông nói và nháy mắt vờ đùa cợt, chùi tay qua mặt. “Ăn miếng trả miếng. Lúc nào cũng tìm cách trả đũa. Vì, thật đấy, mẹ con chẳng quên cái gì cả. Có phải đợi hai mươi năm mẹ con cũng kiếm được cách. Và tất nhiên, bố là kẻ lúc nào cũng hiện ra như phe xấu và có thể bố đúng là phe xấu...”
Bức tranh nhỏ nhưng càng lúc càng nặng, mặt tôi đã cứng đờ vì cố gắng không tỏ ra bị mỏi tay. Để chặn lời ông khỏi lọt vào tai tôi bắt đầu đếm thẩm bằng tiếng Tây Ban Nha. Uno dos tres, cuatro cinco seis...[58]
Đến lúc đếm tới hai mươi chín thì Xandra xuất hiện.
“Larry!” cô ta nói, “anh với vợ anh có một chỗ thật quá oách đấy.” Giọng điệu câu ấy khiến tôi cảm thấy tội nghiệp cho cô ta, dù không thấy ưa hơn.
Bố tôi vòng tay qua eo rồi kéo cô ta lại gần mình kiểu xoa vuốt khiến tôi suýt muốn ọe. “À!” ông khiêm tốn nói, “đúng ra chỗ này của cô ấy hơn là của anh.”
Biết thế là tốt, tôi nghĩ.
“Ra đây nào.” ông nói, tóm lấy cô ta lôi về phía phòng ngủ của mẹ, đã quên bẵng tôi. “Anh chỉ cho em cái này.” Tôi quay người lại nhìn họ đi, thấy nhờm gớm khi nghĩ đến việc cả hai lục, bới đồ đạc của mẹ, nhưng cũng mừng khi thấy họ đi nên cũng bất chấp chuyện đó.
Một mắt vẫn dè chừng khung cửa trống, tôi bước về phía đầu kia giường, cất kỹ bức tranh. Tờ New York Post cũ nằm trên sàn - chính tờ báo mẹ đã ném cho tôi lúc cao hứng vào ngày thứ Bảy cuối cùng bên nhau. Này bé con, mẹ nói khi thò đầu vào cửa, chọn phim gì đó đi. Có vài phim chắc cả hai mẹ con sẽ thích, nhưng tôi chọn suất chiếu chiều trong liên hoan phim Boris Karloff- The Body Snatcher[59]. Mẹ chấp nhận lựa chọn đó không phàn nàn; chúng tôi đã đi tới Film Forum, xem xong thì ra quán Moondance ăn hamburger - một buổi chiều thứ Bảy cực kỳ dễ chịu, ngoại trừ đó là thứ Bảy cuối cùng của mẹ trên đời, và giờ tôi thấy thật khổ sở khi nghĩ về hôm đó, bởi vì (chính nhờ tôi) bộ phim cuối cùng mẹ được xem là một bộ phim kinh dị cũ kỹ chán ngắt về xác chết và đào mộ. (Nếu tôi đã chọn bộ phim mà tôi biết mẹ thích xem - được khen ngợi rất nhiều, nói về trẻ em Paris trong thời Thế chiến thứ nhất - biết đâu mẹ vẫn còn sống vì việc đó? Ý nghĩ của tôi thường chạy theo những con đường tăm tôi và mê tín như vậy đấy.)
Dù tờ báo trong tay tôi có cảm giác như một vật thiêng, một tài liệu lịch sử, tôi vẫn giở nó ra trang giữa rồi xé đôi. Lầm lì, tôi bọc bức tranh lại, từng tờ một, rồi dán lại bằng cuộn băng dính mấy tháng trước đã dùng dán quà Giáng sinh cho mẹ. Tuyệt quá! mẹ đã nói giữa một trận mưa giấy màu tứ tung, cúi xuống hôn tôi trong chiếc áo choàng tắm: một bộ màu nước mẹ sẽ không bao giờ mang ra công viên nữa, vào những sáng hè Chủ nhật mẹ sẽ không bao giờ sống qua.
Giường tôi, chiếc giường gấp bằng đồng kiểu quân sự rất chắc chắn mua ở chợ đồ cũ, trước nay dường như vẫn là nơi an toàn nhất thế giới khi cần cất giấu thứ gì. Nhưng giờ khi nhìn quanh phòng (bàn viết tơi tả, áp phích phim Godzilla phiên bản Nhật, cốc hình chim cánh cụt mua ở sở thú dùng cắm bút chì), tôi lạnh người vì cái vô thường tỏa ra từ tất cả - đồ gỗ, đồ bạc, đồ mặc của mẹ - những chiếc đầm bán phá giá còn nguyên mác, hàng bao nhiêu giày ballet đủ màu, áo sơ mi may hiệu có thêu chữ cái đầu tên mẹ trên cổ tay áo. Ghế dựa, đèn lồng Tàu, đĩa vinyl nhạc jazz cũ mẹ mua ở Làng Greenwich, những hũ mứt, ô liu, mù tạt Đức cay xè bỏ trong tủ lạnh. Trong phòng tắm một rừng dầu thơm và thuốc dưỡng ẩm, sữa tắm tạo bọt đủ màu, những bình dầu gội giá cắt cổ mới dùng một nửa đứng chen chúc nhau trên thành bồn tắm (Kiehl, Klorane, Kérastase, mẹ lúc nào cũng dùng năm sáu loại một lúc). Sao trước đây căn hộ nhà tôi có vẻ vĩnh cửu và bền chắc thế, trong khi nó thực ra chỉ là sân khấu, sẵn sàng đợi những người khuân vác mặc đồng phục ập đến, dỡ đi?
Đi vào phòng khách, nghênh tiếp tôi là một cái áo len cùa mẹ đã bị bỏ lại vắt qua thành ghế, một bóng ma mẹ màu xanh da trời. Những vỏ ốc chúng tội nhặt ở bãi biển Wellfleet. Hoa tử đinh hương mẹ mua ở chợ Hàn Quốc mấy ngày trước khi mất, cành chết rũ, ngoặt xuống bên thành chậu và thâm đen. Giỏ giấy lộn: ca-ta-lô của Dover Books, Belgian Shoes, giấy gói bọc kẹo Necco Wafers là thứ mẹ thích nhất. Tôi nhặt lên ngửi. Cái áo len, tôi biết, cũng sẽ còn lưu giữ mùi mẹ nếu tôi nhặt lên áp vào mặt, nhưng chỉ nhìn thấy nó thôi tôi đã không chịu nổi.
Tôi quay lại phòng ngủ, trèo lên cái ghế học đỡ vali xuống - vali bằng vải, không quá to - bỏ vào đấy đồ lót sạch, đồng phục sạch, sơ mi đã gấp trong phòng giặt. Rồi tôi đặt bức tranh vào và rải thêm một lớp quần áo lên trên.
Tôi kéo móc vali - không có khóa, nhưng cũng chỉ là vali vải thôi mà - rồi đứng im một lúc. Rồi lại ra hành lang. Nghe thấy tiếng ngăn kéo mở ra đóng vào trong phòng mẹ. Tiếng cười khúc khích.
“Bố.” tôi nói lớn, “con xuống nhà nói chuyện với Jose.
Tiếng trò chuyện tắt ngấm.
“Cứ việc.” bố tôi nói đằng sau cánh cửa đóng, nghe có vẻ thân thiện bất thường.
Tôi quay lại, lấy vali mang ra ngoài căn hộ, hé cửa hờ để chốc nữa lại vào. Rồi tôi đi thang máy xuống, nhìn cái gương trước mặt, cố hết sức xua khỏi đầu ý nghĩ về Xandra trong phòng mẹ, lục bới những bộ đồ của mẹ. Có phải bố hẹn hò với cô ta từ trước khi bỏ đi không? Chẳng lẽ ông không thấy kinh tởm khi để cô ta khoắng tay vào đồ của mẹ?
Tôi đang đi ra cửa chính nơi Jose trực thì có ai gọi lớn: “Chờ tí!”,
Quay lại, tôi thấy chú Vàng đang hối hả chạy ra từ phòng giữ đồ.
“Theo, Chúa ơi, chú rất tiếc.” chú nói. Chúng tôi đứng nhìn nhau một giây băn khoăn và rồi, thây kệ tất cả, di chuyển một cách vội vã và vụng về đến gần như nực cười, chú giơ tay ôm choàng lấy tôi.
“Rất tiếc, rất tiếc.” chú nhắc lại và lắc đầu. “Chúa ơi, sao nại thế cơ chứ.” Từ thuở ly dị vợ, chú Vàng thường làm ca đêm và xuyên ngày nghỉ, lúc nào cũng đứng ở cửa, không đi găng, điếu thuốc trong tay không đốt, nhìn ra đường. Thỉnh thoảng mẹ phái tôi mang cà phê, bánh vòng xuống khi chú ở dưới đó, một mình phân loại báo lúc năm giờ sáng ngày Giáng sinh, chẳng có ai làm bạn ngoài cái cây Noel chăng đèn và chúc đài Do Thái chạy điện, và vẻ mặt chú lúc này khiến tôi nghĩ đến những buổi sáng ngày lễ chết chóc ấy, ánh mắt vô hồn, khuôn mặt tái nhợt vô định, trong cái khoảnh khắc không đề phòng trước khi chú thấy tôi và khoác vào nụ cười chào nhóc vui tươi nhất có thể.
“Chú cứ nghĩ mãi chuyện cháu với mẹ.” chú nói và lau trán. “Ay bendito. Thật nà... chú còn không tưởng tượng nổi cháu đang phải trải qua những gì nữa ”
“Ừm” tôi nói và nhìn đi chỗ khác, “cũng khó khăn ạ…” - không hiểu vì sao đấy là câu tôi luôn bật ra miệng khi có người chia buồn. Tôi đã phải nói nhiều đến mức bây giờ lúc nào câu ấy cũng có vẻ quá trơn tru, hơi giả trá.
“May nà cháu có ghé vào đây.” chú Vàng nói. “Sáng hôm đó… chú đang trực, nhớ không? Ngay ngoài kia kìa?”
“Cháu nhớ.” tôi nói và băn khoăn trước vẻ khẩn nài của chú, như thế sợ tôi có cách nào không nhớ.
“Chúa ơi.” Chú vuốt tay trên trán, trông hơi bơ phờ như thể chính chú vừa thoát hiểm trong gang tấc. “Hôm nào chú cũng nghĩ đi nghĩ nại chuyện đó. Cứ y như nà vẫn nhìn thấy mặt mẹ cháu trong đầu, hiểu không, núc mẹ cháu chui vào xe ấy? Vẫy tay cười vui tươi như một chú chim.”
Chú ghé lại gần tôi, thì thầm. “Rồi núc nghe tin chị ấy mất dồi” Chú nói như đang thổ lộ một bí mật lớn. “Chú gọi điện cho vợ cũ, chú não cả ruột đến mức ấy đấy.” Chú đứng thẳng lên, nhướng mày nhìn tôi, như thể sợ tôi không tin. Những cuộc tranh đấu giữa chú Vàng và bà vợ đã đi vào truyền thuyết.
“Hiểu không, chú với mụ ta còn chả mấy khi nói chuyện nữa.” chú tiếp, “nhưng chú còn biết kể với ai? Phải có ai để kể chứ, hiểu không?.Thế nà chú gọi cho mụ, bảo, ‘Rosa, cô không tin nổi đâu, chúng tôi vừa mất đi một quý cô tuyệt đẹp ở nhà này...”
Jose chớp thấy tôi, đã bước từ cửa lại tham gia vào câu chuyện, vẫn cái dáng đi hơi nhún nhảy đặc trưng. “Bà Decker.” chú nói và lắc đầu hồi tưởng, cứ như chưa có ai trên đời như mẹ cả. “Lúc nào cũng chào hỏi, lúc nào cũng mỉm cười tươi rói. Chu đáo lắm, cháu biết không.”
“Chả như nhiều người khác ở cái nhà này.” chú Vàng nói và liếc ra đằng sau. “Nói cháu biết nhá…” chú cúi lại gần, chỉ mấp máy miệng - “chảnh nắm. Cái noại người cứ đứng ì ra, có phải tay cầm gói bọc gì đâu, thế mà cũng đợi người ta mở cửa cho, thế đấy.”
“Bà ấy thì chả như thế đâu.” Jose nói, vẫn đang lắc đầu - lắc dài từ bên này sang bên kia, như một đứa trẻ rất nghiêm nghị đang làm dấu không đồng ý. “Bà Decker đúng là nhất hạng.”
“Này, cháu chờ một tí nhá?” Chú Vàng nói và giơ tay. “Chú quay nại niền. Đừng đi. Đừng để cậu ấy đi.” chú bảo Jose.
“Cháu muốn gọi xe không, manito?” Chú Jose hỏi khi thấy cái vali trong tay tôi.
“Không ạ.” tôi nhìn trở lại chỗ thang máy. “Chú Jose này, chú giữ hộ cháu cái. này tới khi nào cháu quay lại lấy nhé?”
“Được thôi.” chú đáp, nhấc lên vác vai. “Rất vui lòng.”
“Cháu sẽ tự mình quay lại, thế nhé? Đừng đưa cho ai khác cả.”
“Ừ, chú hiểu rồi.” Jose khoan khoái đáp. Tôi theo chú vào phòng giữ đồ, chú đeo nhãn rồi đẩy nó lên ngăn cao nhất.
“Thấy chưa?” Chú nói. “Khuất mắt luôn nhé. Trên đó không để gì ngoài vài món mọi người sẽ phải ký nhận, với cả đồ riêng tư của bọn chú. Sẽ không ai nhả cái túi đó ra mà không được cháu đích thân ký nhận cả, hiểu chứ? Chú của cháu, em họ cháu, đều không. Chú sẽ bảo Carlos, chú Vàng với những người khác, đừng đưa túi ấy cho ai ngoài cháu. Chịu không?”
Tôi gật gù định cảm ơn thi Jose hắng giọng. “Nghe này.” chú nói, hạ thấp giọng, “chú không muốn làm cháu lo lắng gì đâu, nhưng dạo này có vài kẻ đến đây hỏi bố cháu đấy.”
“Vài kẻ ạ?” Tôi hỏi, sau một quãng lặng rời rạc. “Vài kẻ”, từ miệng Jose, chỉ có thể nghĩa là: những kẻ bố tôi nợ tiền.
“Đừng lo. Các chú không nói gì đâu. Mà, bố cháu đi cả năm rồi còn gì? Carlos bảo cả nhà cháu không ai sống ở đây nữa và chưa ai về. Nhưng mà…” chú lại liếc ra thang máy - “bố cháu, có lẽ không nên ở lâu trong nhà bây giờ, hiểu ý chú không?”
Tôi đang cảm ơn chú thì chú Vàng quay lại, cầm theo trong tay một bó tiền khổng lồ. “Của cháu này.” chú nói hơi có vẻ khoa trương quá mức.
Trong một lúc tôi nghĩ mình nghe nhầm. Jose ho, nhìn đi chỗ khác. Trên màn hình tivi đen trắng tí xíu trong phòng giữ đồ (không to hơn vỏ đĩa CD), một người đàn bà ăn vận diêm dúa với đôi khuyên tai dài lủng lẳng đang giơ nắm đấm và chửi bới một ông thầy tu co rúm bằng tiếng Tây Ban Nha.
“Gì vậy ạ?” Tôi hỏi chú Vàng vẫn đang chìa tiền ra.
“Mẹ cháu không bảo gì à?”
Tôi ngơ ngác. “Bảo gì cơ ạ?”
Tình hình có vẻ là - một ngày ngay trước Giáng sinh - chú Vàng từng đặt mua máy tính đến nhà này. Đấy là cho con trai chú, để nó học bài ở trường, nhưng (về phần này chú Vàng có vẻ mập mờ) chú chưa hẳn đã thanh toán, hay mới thanh toán một phần, hay lẽ ra là bà vợ cũ phải thanh toán thay chú. Dù sao thì mấy người giao hàng cũng đã định lôi cái máy ra cửa chất lại lên xe, thì mẹ tình cờ xuống đến nơi biết chuyên.
“Thế nà chị ấy nấy tiền túi ra trả, cái bà xinh đẹp ấy.” chú Vàng nói. “Núc hiểu có chuyện gì dồi, chị ấy mở túi nấy sổ séc nuôn. Chị ấy còn bảo, ‘Vàng, tôi biết con anh cần có máy tính mới học bài được. Cho phép tôi giúp anh việc này nhé, bạn thân mến, khi nào có anh trả lại tôi nà được mà.’”
“Cháu thấy không?” Jose bất chợt dữ tợn hỏi, rời mắt khỏi cái tivi nơi bà kia giờ đứng giữa nghĩa trang, cãi cọ với một tay có dáng đại gia đeo kính mát. “Làm thế thật là điển hình cho mẹ cháu.” Chú hất cằm về phía cọc tiền, vẻ gần như gây sự. “Sí, es verdad[60], nhất hạng luôn. Bà ấy quan tâm đến mọi người, hiểu không? Phần lớn những người khác ấy à? Bỏ tiền vào hoa tai vàng, nước hoa hay thứ gì đó cho bản thân, kiểu vậy.”
Tôi thấy rất kỳ nếu nhận món tiền, vì hàng trăm lý do khác nhau. Dù đang bàng hoàng cả người nhưng câu chuyện này vẫn có gì đó không ổn (cửa hàng nào mà lại giao hàng chưa trả tiền?). Sau này tôi nghĩ: hay trông tôi có vẻ tiều tụy lắm, đến nỗi mấy chú bảo vệ đã quyên tiền giúp tôi? Đến giờ tôi vẫn không biết tiền ấy từ đâu ra, và ước giá mà mình đã gặng hỏi kỹ hơn, nhưng khi đó tôi còn đang choáng váng vì mọi điều đã xảy ra ngày hôm ấy (trên hết là vì cú trên trời rơi xuống của cha tôi cùng Xandra) đến nỗi nếu chú Vàng có chặn đường, tìm cách nhét cho tôi một mẩu bã kẹo cao su bóc từ dưới sàn lên, tôi cũng sẽ giơ tay nhận ngoan ngoãn như vậy.
“Tất nhiên không phải việc của chú.” Jose nói, ngó qua đầu tôi, “nhưng nếu là mình, chú sẽ không khoe với ai chỗ tiền ấy đâu. Cháu hiểu chứ?”
“Ừ, nhét vào túi ấy.” chú Vàng nói. “Đừng có cầm đi vung vẩy. Khối người ngoài đường sẵn sàng giết cháu vì chỗ tiền ấy đấy.”
“Khối người trong nhà này ấy chứ!” Chú Jose nói và chợt cười ngặt nghẽo.
“Hà!” Chú Vàng bật cười theo, rồi nói gì đó bằng tiếng Tây Ban Nha tôi không hiểu.
“Cuidado[61]” Jose nói và lắc lư cái đầu theo lối vờ nhạo báng mọi khi, nhưng cũng không nén nổi nụ cười. “Đấy là lý do người ta không cho chú với Vàng làm chung một tầng đấy.” chú quay sang tôi, “Phải tách cả hai ra suốt. Vì bọn chú ăn rơ quá đi.”
XIX
TỪ LÚC BỐ TÔI VỚI XANDRA xuất hiện, mọi thứ cứ vèo vèo như gió. Trong bữa tối hôm ấy (ở một quán dành cho du khách mà tôi rất ngạc nhiên là bố chọn), bố nói chuyện điện thoại bên bàn ăn, ai đó ở công ty bảo hiểm của mẹ - và sau từng ấy năm tôi vẫn ước giá mình đã nghe được rõ hơn. Nhưng nhà hàng rất ồn, cón Xandra thì luôn miệng (ấy là khi nào rảnh miệng không nốc vang trắng - có thể bố tôi đã bỏ uống rồi nhưng cô ta thì không hề) hoặc phàn nàn vì không được hút thuốc, hoặc bảo tôi, có phần lơ đãng, mình từng tập làm phép phù thủy nhờ quyển sách mượn ở thư viện hồi trung học, đâu đó tại Fort Lauderdale. (“Chính xác thì gọi là Wicca. Đấy là một tín ngưỡng thờ đất.”) Nếu là ai khác chắc tôi đã hỏi cho rõ, đích xác thì làm phù thủy cần những gì (Thần chú? Hiến sinh? Bán linh hồn cho quỷ?) nhưng trước khi kịp hỏi thì cô ta đã nhảy qua kể chuyện từng có cơ hội học đại học và nay tiếc rẻ vì không đi (“để nói cho cháu biết tôi thích cái gì. Lịch sử Anh, vân vân. Henry đệ bát, Mary nữ hoàng Scotland”). Nhưng cuối cùng cô ta lỡ dịp đi học, chỉ vì quá mê mệt một gã. “Mê mệt” cô ta dài giọng, quắc mắt nhìn tôi bằng đôi mắt không màu.
Vì sao mê mệt gã đó lại dẫn đến việc Xandra không đi học được thì tôi chẳng bao giờ biết, vì bố tôi đã tắt máy. Ông liền gọi một chai sâm-panh (khiến tim tôi nhảy lên một cái).
“Em không uống hết cái thứ quái quỷ này được.” Xandra ca cẩm, lúc này cô ta đã sang ly vang thứ hai. “Sẽ đau đầu mất.”
“Ờ, vì anh không uống được sâm-panh, nên tốt hơn là em dùng một chút.” bố tôi nói và ngả người ra ghế.
Xandra hất đầu về phía tôi. “Cho nó uống đi.” cô ta nói..“Bồi, thêm một ly.”
“Xin lỗi ông bà!” người phục vụ nói, một ông người Ý có vẻ cứng, trông như đã quen với các vị du khách quá trớn. “Ở đây không phục vụ đồ uống có cồn cho khách dưới mười tám.”
Xandra bắt đầu lục lọi trong ví. Cô ta đang mặc đầm yếm màu nâu, đánh phấn hồng hay phấn đồng hay thứ phấn gì đó màu nâu nâu dưới gò má quệt thành một đường đậm tới mức tôi chỉ muốn thò ngón tay ra lau nó đi.
“Đi ra ngoài hút một miếng thôi.” cô ta bảo bố tôi. Một phút lâu họ trao đổi nhau cái cười đồng lõa khiến tôi nổi da gà. Rồi Xandra đẩy ghế - đánh rơi chiếc khăn xuống ghế - và nhìn quanh tìm người phục vụ. “Tốt quá, hắn ta đi rồi.” cô ta nói và thò tay lấy cốc nước (đã gần) cạn của tôi, dốc ít sâm-panh vào.
Thức ăn đã bưng lên, tôi đã kịp lén rót cho mình một cốc khá lớn nữa trước khi họ quay lại. “Ngon!” Xandra la lên, trông đã hơi lờ đờ nhưng cũng tươi rói, kéo vạt váy ngắn tũn xuống, lách người luồn vào chỗ ngồi mà không buồn kéo hẳn ghế ra. Cô ta lại phất cái khăn trải lên lòng, kéo đĩa mì ống sốt cà manicotti đại tướng đỏ choét về phía mình. “Trông cũng ra trò đấy!”
“Đây cũng thế.” bố tôi nói, dù ông vốn rất kén đồ Ý và vẫn thường xuyên càu nhàu về những đĩa mì bỏ quá tay cà chua, tưới đẫm marinara y như đĩa trước mặt ông bây giờ.
Khi lao vào chiến đấu với đồ ăn (chắc đã nguội ngắt, họ đi lâu thế cơ mà), hai người đó tiếp tục câu chuyện dang dở. “Ừ, dù sao cũng không nên cơm cháo gì.” ông ngả người ra sau ghế và nghịch ngợm điếu thuốc mãi không châm được. “Thường vẫn thế đấy.”
“Em cá là anh siêu lắm.”
Ông nhún vai. “Kể cả hồi trẻ.” ông nói, “thì vẫn là một ván khó nhằn. Vấn đề không chỉ ở tài năng. Phần lớn còn ở cái mặt cái mày và may mắn nữa.”
“Vẫn thế thôi.” Xandra nói và chấm chấm khóe môi bằng đầu ngón tay quấn khăn ăn. “Diễn viên cơ đấy. Em tưởng tượng được ngay.” Nghiệp diễn viên chết yểu của bố tôi là một trong những chủ để yêu thích của ông, và dù cô ta có tỏ ra hứng thú, tôi có cảm giác đây cũng chẳng phải lần đầu tiên cô nghe bài ca này.
“À, anh có ước mình chưa từng bỏ cuộc không ư?” Bố tôi ngắm nghía chai bia không cồn (hay là ba phần trăm cồn? Từ chỗ tôi ngồi không nhìn thấy). “Phải nói là có. Đấy thuộc về những điều người ta nuối tiếc một đời. Anh sẽ mừng nếu được dùng tài năng của mình làm nên gì đó, nhưng đâu được cái sung sướng ấy. Đời ưa ngáng đường một cách nhố nhăng làm sao.”
Cả hai đều đang chìm đắm trong thế giới riêng; xét theo sự chú ý họ dành cho tôi thì tôi có đang ở Idaho cũng vậy, nhưng không sao, tôi đã thuộc làu câu chuyện này. Bố tôi là ngôi sao sáng ở trường, và có hồi đã kiếm sống được bằng nghề diễn: lồng tiếng cho phim quảng cáo, làm vài vai lặt vặt (kẻ tay chơi bị giết hay đứa con hoang tàng của trùm xã hội đen) trên truyền hình hoặc điện ảnh. Rồi, sau khi lấy mẹ, không hiểu sao ông cứ thế xẹp đi. Ông có cả một bảng lý do vì sao ông không vượt vũ môn được, dù thỉnh thoảng tôi cũng nghe ông nói: nếu mẹ làm mẫu thành công hơn, hoặc cố gắng hơn, ông đã có điều kiện tập trung vào diễn xuất mà không phải lo đi làm kiếm tiền.
Bố tôi gạt đĩa đi. Tôi thấy ông cũng không ăn mấy; thường thì với bố, đấy là dấu hiệu ông đang uống rượu hoặc chuẩn bị uống.
“Đến một lúc, anh đành cắt lỗ và thoát ra thôi.” ông nói, vò cái khăn rồi ném lên bàn. Không biết ông đã từng kể cho Xandra nghe về Mickey Rourke chưa; cùng với mẹ và tôi, đấy là vai phản diện chính trong bộ ba đã làm sự nghiệp ông trật đường rầy.
Xandra uống một ngụm vang lớn. “Anh có bao giờ tính chuyện quay lại không?”
“Anh có nghĩ chuyện đó, hẳn nhiên rồi. Nhưng...” - ông lắc đầu, như khước từ một đề nghị quá quắt - “không. Cơ bản là không.”
Vị sâm-panh se se trên vòm miệng tôi - những tia lửa xa xôi, mờ khói, đóng chai từ một năm sung sướng hơn, khi mẹ tôi còn trên đời.
“Anh thế đấy, ngay từ giây ông ta nhìn thấy, anh đã biết ông ta không ưa mình.” bố tôi đang lặng lẽ nói. Vậy là ông đã kể về Mickey Rourke rồi.
Cô hất đầu nốc cạn ly vang. “Mấy cha kiểu đó không chịu nổi có địch thủ.”
“Lúc nào cũng Mickey thế này, Mickey thế kia, Mickey muốn gặp anh, nhưng ngay phút bước vào đó anh biết là xong hẳn rồi.”
“Rõ ràng là cha đó bị khùng.”
“Hồi đó thì không đâu. Vì nói thật với em, hồi ấy phải công nhận là rất giống - không chỉ vẻ bề ngoài đâu, nhưng cả phong cách diễn của bọn anh cũng giống nhau. Hay cứ nói là, anh được đào tạo theo lối cổ điển, anh có phổ giọng tốt, nhưng anh cũng biết làm kiểu thì thầm như Mickey, em hiểu đấy, khẽ khàng như thì thào…”
“Ôi anh làm em rùng mình đấy. Thì thào. Đúng y như cách anh vừa nói câu đấy.”
“Ừ, nhưng Mickey mới là ngôi sao. Rừng không có chỗ cho hai hổ.”
Trong lúc xem họ ăn chung miếng bánh kem phô mai như đôi tình nhân trong quảng cáo, tôi chìm vào một cơn mơ tưởng phóng túng đỏ lựng không quen thuộc, phòng ăn đèn sáng quá, mặt tôi đang nóng bừng vì rượu, trong đầu chạy qua những ý nghĩ rời rạc lộn xộn nhưng hừng hực, về mẹ sau khi ông bà mất khiến mẹ phải đến ở với dì Bess trong ngôi nhà bên đường ray, giấy dán tường nâu và đồ đạc cái nào cũng bọc ni-lông. Dì Bess rán mọi thứ bằng dầu thực vật và từng lấy kéo cắt vụn một cái váy của mẹ, vì hoa văn điên loạn trên váy khiến dì nhức óc. Đấy là một bà cô không chồng mập ú, cay nghiệt, gốc Ireland, đã đổi tín ngưỡng Công giáo lấy một giáo phái nhỏ tí hâm dở nào đó cho rằng không có gì tội lỗi cho bằng uống trà hay dùng thuốc cảm. Mắt bà, trong tầm ảnh duy nhất tôi thấy, cũng màu xanh bạc giật mình như mẹ, nhưng có viền mắt hồng, ánh mắt điên dại, giữa cái mặt bẹt như củ khoai. Mẹ đã miêu tả mười tám tháng sống với dì Bess là mười tám tháng u sầu nhất đời mẹ: ngựa đã bán, chó đã cho, những lời giã biệt sướt mướt đã thốt lên bên vệ đường, tay choàng quanh cổ những Cỏ Ba Lá, Bàn Cờ, Thuốc Vẽ và Bruno. Khi ở nhà, dì Bess bảo mẹ được yêu chiều đến hỏng người, và kẻ nào không kính Chúa bao giờ cũng lãnh hậu quả đáng tội.
“Còn tay sản xuất nữa, em hiểu không - ai cũng biết Mickey là kẻ thế nào, từng người đều biết, khi ấy hắn ta đã bắt đầu nổi danh là khó chiều...”
“Mẹ không đáng phải chịu thế này.” tôi bật nói to cắt đứt câu chuyện giữa họ.
Bố và Xandra dừng nói chuyện, quay ra nhìn như thể tôi vừa biến thành con kỳ đà Gila.
“Tại sao mọi người cứ nói như thế?” Tôi nói thành tiếng như thế là không phải, nhưng lời lẽ cứ thế tuôn ra như có ai đó bấm nút. “Mẹ tuyệt vời đến vậy tại sao ai cũng đối xấu với mẹ như thế? Mẹ chẳng đáng phải chịu bất kỳ thứ gì xảy đến với mẹ cả.”
Bố tôi và Xandra nhìn nhau. Rồi ông ra hiệu gọi thanh toán.
XX
ĐẾN LÚC CHÚNG TÔI ra khỏi quán, mặt tôi đã đỏ phừng phừng còn tai thì réo ầm ầm, về đến nhà Barbour cũng chưa thể coi là muộn lắm nhưng tôi đã vấp phải giá để ô và gây ầm ĩ trên đường đi vào, khi bà Barbour cùng ông chồng thấy tôi, tôi hiểu ra (nhờ vẻ mặt họ chứ không phải nhờ cảm giác trong người) rằng mình đã say mèm.
Ông Barbour giơ điều khiển tắt tivi. “Cháu đi đâu về đấy?” Ông hỏi bằng giọng nghiêm khắc nhưng ân cần.
Tôi quờ tay tìm lưng ghế xô pha. “Đi với bố và...” Nhưng cái tên đã tuột khỏi đầu tôi, chỉ còn ,mỗi chữ X.
Bà Barbour nhướn mày nhìn ông chồng như muốn bảo: đã nói rồi mà.
“Ừ, thế cứ đi tiếp về giường đi, cậu bé.” ông Barbour hớn hở nói và giọng ông, bất chấp mọi thứ, vẫn khiến tôi ấm lòng hơn một chút về cuộc đời. “Nhưng cố đừng làm Andy tỉnh nhé.”
“Cháu không buồn nôn chứ?” Bà Barbour hỏi.
“Không ạ.” tôi đáp, dù thực ra là có, và gần hết đêm tôi mở mắt trừng trừng trên tầng giường trên, khổ sở, vật vã, căn phòng quay mòng mòng xung quanh, và hai ba lần còn giật mình nhỏm dậy, tim đập thình thịch, vì hình như Xandra vừa đi vào phòng cất tiếng nói với tôi: lời lẽ không nghe rõ, nhưng cái nhịp điệu lắp bắp khào khào thì không lẫn vào đâu được.
XXI
“THẾ LÀ…” ÔNG BARBOUR nói trong bữa sáng hôm sau, đập tay lên một bên vai tôi khi kéo ghế ngồi xuống bên cạnh, “một bữa tiệc mừng với ông cụ nhà, hả?”
“Dạ vâng.” Đầu tôi nhức như búa bổ, mùi bánh mì nướng Pháp làm dạ dày quặn lên. Etta đã kín đáo mang một tách cà phê từ bếp ra cho tôi, đặt thêm hai viên aspirin trên đĩa.
“Ở tận Las Vegas, cháu bảo thế à?”
“Vâng.”
“Thế ông kiếm cơm cách nào?”
“Là sao ạ?”
“Ông ấy dùng thời gian làm gì ở đằng ấy?”
“Chance.” bà Barbour nói, giọng vẫn bình thường.
“À, ý bác... bác định nói là...” ông Barbour nhận thấy có lẽ câu hỏi đã được phát ra không lịch thiệp cho lắm, “bố cháu thuộc ngành nghề gì?”
“Ừm...” Tôi đáp - rồi ngưng bặt. Bố làm gì nhỉ? Tôi chẳng biết tí nào.
Bà Barbour dường như không ưa câu chuyện phát triển theo hướng này, mở miệng định nói gì đó, nhưng Platt ngồi cạnh tôi đã cáu kỉnh quát lên. “Thế tôi phải liếm chân ai để được rót cà phê ở cái chốn này hả?” Anh ta nói với bà mẹ và ngồi lùi vào ghế, một tay đẩy vào bàn.
Im lặng dáng sợ.
“Nó thì có.” Platt hất đầu vê phía tôi. “Nó thì mò về nhà say khướt, mà nó lại có cà phê?”
Lại một quãng im lặng đáng sợ, rồi ông Barbour nói - bằng giọng băng giá đến mức bà Barbour cũng phải chào thua: “Thế là đủ rồi, Pard.”
Bà Barbour nhíu cặp mày nhạt. “Chance...”
“Không, lần này em không đỡ cho nó được đâu. Về phòng đi.” ông nói với Platt. “Ngay.”
Tất cả chúng tôi đều cắm mắt xuống đĩa, nghe tiếng bước chân thùm thụp giận dữ đi về phòng Platt, tiếng cửa sập đánh uỳnh, rồi vài giây sau, tiếng nhạc lại ầm ầm nổi lên. Từ đó đến hết bữa hầu như không ai nói gì nữa.
XXII
BỐ TÔI VỚI THÓI QUEN làm gì cũng vội vã, lúc nào cũng ngứa ngáy muốn “lưu diễn thôi” theo cách nói của ông, tuyên bố rằng ông dự định thu xếp hết mọi thứ ở New York và dọn chúng tôi về Las Vegas trong vòng một tuần. Và ông giữ đúng lời hứa. Tám giờ sáng hôm thứ Hai ấy, thợ dọn nhà đã đến Sutton Place bắt đầu dỡ tung căn hộ, xếp vào từng chồng hộp. Một người buôn sách cũ qua xem xét số sách mỹ thuật của mẹ, một người khác đến xem đồ gỗ, và tôi chưa kịp định thần thì đã thấy căn nhà của chính mình biến mất ngay trước mắt với tốc độ kinh hồn. Nhìn rèm cửa biến mất, tranh ảnh bị gỡ xuống, thảm bị bóc ra cuốn lại mang đi, tôi nghĩ đến một bộ phim hoạt hình từng xem trong đó một nhân vật cầm tẩy, tẩy dần cả bàn rồi đèn rồi ghế rồi cửa sổ nhìn ra phong cảnh đẹp và toàn bộ văn phòng được cấp rất tiện nghi của hắn, đến khi, cuối cùng, chỉ còn cái tẩy lơ lửng giữa một biển trắng rợn người.
Khổ sở vì những gì đang diễn ra nhưng lại bất lực không ngăn chặn được, tôi lượn lờ khắp nơi, nhìn căn hộ biến mất từng mảnh một, như con ong nhìn cái tổ bị đập nát. Trên tường phía trên bàn mẹ (giữa hàng đống ảnh đi nghỉ mát và ảnh bạn học cũ) là một tấm ảnh đen trắng từ hồi mẹ làm mẫu ở Công viên Trung tâm. Ảnh in rất nét, từng chi tiết nhỏ nhất đều nổi bật rõ rệt đến đau đớn: những vết tàn nhang, chất vải cứng ráp trên áo khoác, vết sẹo do thủy đậu ngay trên lông mày trái. Hớn hở, mẹ nhìn xuống cảnh ngổn ngang hoang tàn trong phòng khách, nhìn bố vứt hết giấy vẽ, màu vẽ và đóng hộp sách của mẹ gửi đi Goodwill, một cảnh chắc mẹ chưa đời nào mường tượng tới, hoặc ít ra tôi hy vọng là chưa.
XXIII
NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG ở nhà Barbour trôi qua chóng mặt khiến tôi hầu như không nhớ được gì, ngoại trừ một cuộc rối rít giặt là sát giờ, cùng vài chuyến đi rối tung rối mù đến hàng rượu trong khách sạn Lex để kiếm thùng các-tông. Dùng bút dạ đen, tôi viết lên đó địa chỉ nhà mới nghe thật xa lạ:
Theodore Decker, gửi qua Xandra Terrett
6219 Phố Cuối Sa mạc
Las Vegas, NV
Ủ dột, Andy và tôi đứng ngắm, số hộp đã đề tên trong phòng ngủ cậu ta. “Cứ y như cậu đang chuyển tới một hành tinh khác ấy.” cậu ta nói.
“Gần như vậy.”
“Không, tớ nói thật đấy. Cái địa chỉ kia. Nghe cứ như một khu định cư khai mỏ nào đó trên sao Thiên Vương. Không hiểu trường cậu ở đấy sẽ ra làm sao.”
“Chúa biết được.”
“Nghĩ xem - có thể đấy là mấy nơi mà ta vẫn đọc trên báo ấy. Có băng đảng xã hội đen. Máy dò kim loại.” Andy đã bị ngược đãi đến nơi đến chốn ở cái trường vẫn được coi là tiến bộ văn minh của chúng tôi, đến nỗi trường công trong hình dung của cận ta cũng không khác gì nhà ngục. “Cậu sẽ làm gì?”
“Chắc là cạo đầu. Xăm mấy hình nữa.” Tôi thích cậu ta ở điểm không cố tỏ ra hào hứng vui vẻ với vụ chuyển nhà này, trái với bà Swanson hay gã Dave (rõ là đang nhẹ mình vì thoát khỏi nguy cơ đàm phán với ông bà tôi). Những người khác ở căn hộ Đại lộ Công viên hầu như không nhắc đến chuyện tôi sắp đi, nhưng tôi biết qua vẻ mặt cố kiềm chế của bà Barbour mỗi lần nhắc đến đề tài bố tôi và “cô bạn” ông, rằng cũng không phải tôi tưởng tượng ra mọi chuyện. Hơn nữa, cũng không phải tương lai bên bố và Xandra có vẻ xấu hay kinh khiếp, mà chỉ là hoàn toàn không tưởng tượng nổi, một vệt mực đen ở đường chân trời.
XXIV
“Ừ, THAY ĐỔI KHUNG CẢNH có thể tốt cho cháu.” Hobie nói khi tôi xuống thăm ông lần cuối trước khi đi. “Dù đấy không phải khung cảnh do cháu chọn.” Chúng tôi đang ăn tối trong phòng ăn cho đổi gió, ngồi bên nhau ở đầu kia cái bàn đủ dài cho mười hai người, những bình rót nước bạc và đồ trang trí bàn bằng bạc chạy hút về bóng tối sung túc. Nhưng không hiểu sao cảm giác vẫn như đêm cuối trong căn hộ cũ trên Đại lộ 7, khi bố mẹ và tôi ngồi trên những thùng các-tông ăn đồ Trung Hoa mua về.
Tôi không nói gì. Tôi đang rất khổ sở, và bởi đã quyết chí cắn răng chịu đựng nên tôi càng không cách nào thổ lộ. Suốt trong tuần phập phồng lo lắng vừa qua, trong khi căn hộ bị lột trấn còn đồ đạc của mẹ bị xếp lại, bỏ hộp, chở đi chờ bán, tôi đã thèm được về lại bóng tối và sự tĩnh lặng trong nhà Hobie, những căn phòng kín đồ đạc và cái mùi gỗ cũ, lá trà và khói thuốc, những tô to đựng cam trong tủ búp phê và nến dài sáp đọng thành từng ngấn.
“Ý bác là, chuyện mẹ cháu như vậy...” Ông ý tứ bỏ lửng. “Đây sẽ là một khởi đầu mới.”
Tôi ngắm cái đĩa. Hôm nay ông làm cà ri cừu, nước sốt màu chanh có vị Pháp hơn là Ấn.
“Cháu không sợ chứ?”
Tôi nhìn lên. “Sợ gì cơ ạ?”
“Sợ phải sống cùng ông ấy.”
Tôi nghĩ một lúc, thả mắt vào bóng tối sau đầu ông. “Không.” tôi đáp, “không hẳn.” Vì lý do nào đó mà từ hồi trở lại, bố tôi có vẻ thoải mái hơn, thanh thản hơn. Tôi không thể nghĩ đấy là do ông ngừng uống, vì thông thường khi kiêng cữ bố tôi sẽ câm như hến, nhìn như phồng lên vì khổ sở, chỉ chực quát um khiến tôi lúc nào cũng cẩn thận đứng ngoài khoảng với tay.
“Cháu đã kể với ai điều cháu kể với bác chưa?”
“Điều gì ạ?”
Xấu hổ, tôi chúi mặt xuống ăn một miếng cà ri. Thực ra là khá ngon, một khi quen được với việc đấy không phải là cà ri.
“Cháu nghĩ ông ấy không uống nữa đầu.” tôi nói trong quãng lặng sau đó. “Nếu ý bác là thế? Ông ấy có vẻ đỡ hơn. Nên là...” Tôi ngập ngừng bỏ lửng. “Vâng.”
“Cháu có thích bạn gái ông ấy không?”
Cái đó tôi cũng phải nghĩ một lúc. “Cháu không biết.” tôi thú nhận.
Hobie im lặng thân tình, đưa tay lấy ly vang mà không rời mắt khỏi tôi.
“Vì, cháu chưa biết rõ cô ấy? Chắc cô ấy cũng ổn. Chỉ là cháu không hiểu bố cháu thích vì lẽ gì.”
“Tại sao không?”
“À... ” Tôi không biết phải bắt đầu từ đâu. Bố tôi biết cách rất ngọt ngào với “các bà” như ông gọi, nào mở cửa, nào khẽ chạm vào cổ tay họ khi cần nhấn mạnh điều gì; tôi đã thấy nhiều người sốt lên vì ông, một vở hề mà tôi lạnh lùng quan sát, không hiểu sao có ai lại bị lừa vì trò diễn nhìn xuyên thấu được ấy. Cứ như nhìn lũ trẻ con mê mụ trước một màn ảo thuật rẻ tiền. “Cháu không biết. Chắc là cháu tưởng cũng phải đẹp hơn hay thế nào đó.”
“Xinh đẹp không quan trọng, nếu cô ấy tốt.” Hobie nói.
“Vâng, nhưng có vẻ cô ấy cũng không tốt đến mức ấy.”
“À...” Rồi: “Thế họ có vui vẻ khi ở với nhau không?”
“Cháu không biết. À… có.” tôi thừa nhận. “Như là, ông ấy không phải lúc nào cũng phát điên lên như trước nữa?” Rồi nhận ra sức nặng của câu hỏi không lời Hobie đè lên mình. “Với lại, ông ấy đến đây đón cháu. Ý cháu là, cũng đâu bắt buộc. Họ có thể lặn đi luôn nếu không muốn có cháu.”
Chúng tôi không nhắc đến chủ đề đó nữa, và kết thúc bữa tôi trong những câu chuyện khác. Nhưng khi tôi sắp đi, trong lúc bước qua hành lang giữa hai dãy ảnh trên tường, qua phòng Pippa có ngọn đèn đêm vẫn thắp, Cosmo ngủ dưới chân giường cô, bỗng ông nói khi mở cửa cho tôi: “Theo này.
“Dạ?”
“Cháu biết địa chỉ và điện thoại của bác rồi nhé.”
“Vâng.”
“Được rồi.” Ông cũng có vẻ lúng túng chẳng thua gì tôi. “Bác chúc cháu lên đường may mắn. Giữ gìn nhé?’
“Bác cũng thế.” tôi nói. Cả hai nhìn nhau.
“Ừm.”
“Ừm, thế thôi ạ. Cháu chào bác.”
Ông đấy cửa, và tôi rời khỏi căn nhà - vĩnh viễn, tôi đã nghĩ vậy. Nhưng dù không nghĩ có khi nào gặp lại ông nữa hay không, tôi đã nhầm.