Khi chúng ta hùng mạnh - Ai là kẻ thoái lui?
Ta cuồng hóng - Ai khiến người cười cợt?
Khi chúng ta hằn học - Họ có thể làm gì ta ?[62]
— ARTHUR RIMBAUD —
5
Badr al-Dine
I
DÙ ĐÃ QUYẾT ĐỊNH cứ để vali trong phòng giữ đồ nhà cũ, Jose và chú Vàng nhất định sẽ trông nom, nhưng tôi vẫn càng lúc càng âu lo khi ngày chuyển nhà tới gần, và cuối cùng ngay trước lúc đi, tôi quyết định quay lại vì một lý do mà giờ nghĩ lại khá ngớ ngẩn: trong lúc vội vàng tìm cách sơ tán bức tranh khỏi căn hộ, tôi đã vứt cả một đống thứ linh tinh vào cái túi đựng tranh, hầu hết quân áo mùa hè đều ở trong đó. Vậy là, một ngày trước hôm bố hẹn tới nhà Barbour đón, tôi hối hả lộn về Phố 57 toan mở vali, lôi ra một hai cái áo đẹp bỏ trên cùng.
Jose không có ở đó, chỉ có một người mới vai bè bè (biển tên viết Marco V) ra trước mặt tôi, chặn đường bằng dáng vẻ đồ sộ và ương ngạnh, ít giống người bảo vệ mà giống nhân viên an ninh hơn. “Tôi giúp gì được cậu?”
Tôi giải thích vụ cái vali. Nhưng sau khi tham cứu quyển sổ, ngón tay mập ú dò theo cột ngày tháng, anh ta chả tỏ vẻ gì là sắp đi vào lấy trên giá xuống cho tôi. “Sao cậu bỏ lại đây chớ?” Anh ta ngờ vực nói, gãi gãi mũi.
“Jose nói cháu bỏ được mà.”
“Cậu có biên nhận chớ?”
"Không,” tôi nói sau một lúc ngơ ngác.
"À. Tôi không giúp cậu được. không có ai ghi lại. Mới lại, chúng tôi không giữ đồ cho người ngoài."
Tôi đã sống ở đây quá lâu để biết rằng không phải thế, nhưng không định tranh luận vụ này. “Nghe này, cháu từng sống ở đây. Cháu quen chú Vàng với Carlos với mọi người nữa. Kìa, giúp cháu đi," tôi nói sau một hồi lâu im lặng lạnh tanh và anh ta có vẻ đã nghĩ sang chuyện khác. “Chú chỉ cần cho cháu vào đấy, cháu chỉ cho ngay mà.”
"Rất tiếc. Chỉ có nhân viên và người sống ở đây được vào trong thôi.”
“Vali bằng vải tay cầm thắt nơ. Có ghi cả tên cháu nữa, thấy không? Decker?” Tôi đang chỉ cái nhãn tên vẫn còn trên hộp thư cũ làm bằng chứng, thì chú Vàng đã hết giờ nghỉ rảo bước vào.
“Ai chà! xem ai nại về đây! Chú nhóc này nà cháu tớ,” chú nói với Marco V “Tớ quen từ hồi chú nùn một mẩu thế này này. Nâu nay cháu ra sao rồi Theo?”
“Không sao ạ. Ờ... bọn cháu sắp rời thành phố.”
“Ai dà? Đã đi Vegas dồi à?” chú Vàng nói. Nghe giọng chú, có bàn tay chủ đặt trên vai tôi, mọi việc đều trở nên dễ dàng, đơn giản. “Sống ở đó kỳ lắm, phải không hả?”
“Cháu nghĩ thế,” tôi băn khoăn đáp. Ai cũng bảo tôi đến Vegas sẽ gặp lắm chuyện quái dị lắm, dù tôi chẳng hiểu vì sao, đâu có phải tôi sẽ lê la sòng bạc hay hộp đêm chứ.
“Cháu nghĩ thế à?” Chú Vàng đảo mắt, lắc đầu, nhè miệng, một kiểu mẹ rất thích bắt chước khi cao hứng muốn đùa cợt. “Ối chà, nói cháu biết nhá. Cái thành phố đó? Mấy công đoàn của nó... nói cháu nghe, nàm nhà hàng khách sạn ấy... kiếm tiền dễ cực, quay đâu cũng ra tiền. Thời tiết nữa? Nắng ra nắng, quanh năm nuôn. Ở đó cháu sẽ thích mê tơi nà chắc. Cháu nói bao giờ thì đi hả?”
“Ừm, hôm nay. À, tức là mai ạ. Thế nên cháu muốn...”
“À, cháu đến nấy túi hả? Tất nhiên rồi’’ Chú Vàng gắt gỏng gì đó bằng tiếng Tây Ban Nha với Marco V, anh này chỉ ơ hờ nhún vai rồi quay lại phòng giữ đồ.
“Cậu đó ổn, Marco ấy,” chú Vàng nhỏ giọng bảo tôi. “Nhưng không biết vụ cái túi vì chú với Jose không ghi sổ, cháu hiểu không?”
Tôi hiểu. Mọi đồ gửi đều phải ghi lại khi đi vào hay ra khỏi tòa nhà. Không đánh dấu tên vali hay ghi lại trong sổ sách chính thức, là họ đang cố bảo vệ tôi khỏi bị ai đó xuất hiện, tìm cách đòi lấy nó.
“À,” tôi lúng búng nói, “cảm ơn các chú đã giúp cháu..’’
“Có gì đâu,” chú Vàng đáp. "Cảm ơn nhá,” chú nói lớn với Marco khi đón lấy cái túi. “Đang nói dở,” chủ tiếp tục, nhỏ giọng, tôi phải đi sát đằng sau mới nghe được, “Marco tốt lắm, nhưng dạo này người thuê nhà cũng phàn nàn nuôn vì thiếu người nàm cái hồi... cháu biết mà.”
Chú ném cho tôi cái nhìn ý nghĩa. “Ý chú nà, hôm nọ Carlos không tới trực được, cũng chả phải nỗi của ông ấy cơ, mà họ cũng đuổi béng.”
“Carlos á?” Carlos là người lớn tuổi nhất, ít nói nhất trong số bảo vệ, như một thần tượng màn bạc Mexico về già với hàng ria con kiến, tóc ở thái dương đã ngả bạc, đôi giày đen lúc nào cũng đánh bóng lộn, còn găng tay thì trắng hơn ai hết. “Họ đuổi Carlos á?”
“Đấy, không tin nổi, hả? Ba mươi tư năm, thế mà...” Chú Vàng giật ngón cái ra sau vai. “Xoẹt. Và giờ thì ban quản lú rùm beng lên, an ninh này an ninh nọ, người mới, luật mới, ra ký sổ vào ký sổ...
“Mà này,” chú nói khi đi lùi vào cửa trước, đẩy nó mở ra. “Để chú gọi taxi cho nhá. Cháu đi thẳng ra sân bay hả?”
“Không ạ...” Tôi nói và giơ tay định ngăn chú lại - tôi mải mê suy nghĩ quá không kịp nhận ra chú đang làm gì, nhưng chú đã gạt tôi qua một bên, “xùy”.
“Không, không,” chú nói khi vác vali ra vỉa hè, “không sao đâu, chú nàm được mà,” và tôi thất chí nhận ra chú tưởng tôi định ngăn chú vác túi ra ngoài vì không có tiền bo.
“Chú Vàng, đợi đã,” tôi nói, nhưng đúng lúc đó chú đã huýt sáo rồi lao bổ ra đường vẫy tay. “Đây! Taxi!” Chú hét.
Tôi đứng sững giữa cửa, phiền lòng, khi cỗ xe lượn sát vào bên cạnh. “Xong!” Chú Vàng nói và kéo cửa sau. “Căn giờ chuẩn hả?” Trước khi kịp nghĩ ra cách ngăn chú lại mà không tỏ ra vô lễ, tôi đã bị đẩy vào ghế sau, cái vali thì lẳng vào thùng xe, còn chú Vàng đã đập bồm bộp lên mui thân thiện như mọi lần.
‘‘Đi an toàn nhá, Amigol[63]’’chú nói và nhìn tôi, rồi nhìn lên trời. “Sưởi nắng thay phần chú nhá. Cháu biết chú mê nắng mà - chú nà con chim nhiệt đới, hiểu không? Chú chỉ mong được về nhà ở Puerto Rico nói chuyện với lũ ong. Ưmmm...” chú ngân nga, nhắm mắt và nghiêng đầu một bên. “Chị chú có cả trại ong, chú hay hát ru chúng nó ngủ. Ở Vegas có ong không?”'
“Cháu không biết,” tôi nói và khẽ sờ trong túi áng chừng xem còn bao nhiêu tiền.
“Ờ, nếu thấy con ong nào, thì gửi nời chào của ông chú già này nhá. Bảo là chú sẽ đến thăm.”
“¡Hey! ¡EsperaP[64]” Đấy là Jose đang giơ một tay lên, vẫn mặc nguyên bộ đồ bóng đá, từ sân bóng trong công viên đi thẳng đến đây, đang đung đưa tiến lại gần tôi, vẫn cái dáng đi nhấp nhô, nhanh nhẹn ấy.
“Ê manito cháu đi đấy à?” Chú hỏi, cúi xuống thò đầu vào cửa xe. “Nhớ gửi ảnh để dán dưới hầm nhé!” Dưới hầm nơi các chú bảo vệ thay đồng phục, có một bức tường dán đầy bưu thiếp và ảnh chụp lấy liền từ Miami và Cancun, Puerto Rico và Bồ Đào Nha mà người thuê nhà cũng như bảo vệ đã gửi về Phố 57 Đông qua nhiều năm.
“Đúng đấy!” Chú Vàng kêu lên. “Nhớ gửi ảnh nhá! Đừng quên nhá!”
“Cháu... ” Cháu sẽ nhớ các chú lắm; nhưng nói ra miệng vậy có vẻ kỳ cục quá. Nên tôi chỉ nói: “Vâng. Bình an nhé.”
“Cháu cũng thế nhé,” Jose nói và lùi lại, tay vẫn giơ. “Tránh xa mấy cái bàn bài bạc ra nhé.”
“Này cậu nhỏ,” người lái xe nói, “tóm lại là cậu có muốn đi đâu không?”
“Nào, nào, ông cứ bình tĩnh, đâu có đó,” chú Vàng bảo ông ta. Rồi quay sang tôi chú nói: “Cháu sẽ ổn thôi, Theo.” Chú vỗ một cái cuối cùng lên xe. “Chúc may mắn nhá. Hy vọng còn gặp nại. Cầu Chúa trông nom cháu.”
II
“ĐỪNG CÓ BẢO LÀ,” bố tôi nói khi đi taxi đến nhà Barbour đón tôi sáng hôm sau, “con định tha cả mớ đó lên máy bay chứ.” Bởi tôi còn một vali nữa ngoài cái đựng bức tranh, là cái ban đầu định mang.
“Tôi nghĩ cháu sẽ bị quá cân mất thôi,” Xandra rú rít. Giữa cái nóng chết người trên vỉa hè, tôi ngửi thấy mùi nước xịt tóc của cô ta từ tận đây. “Chỉ được mang có một lượng nhất định thôi.”
Bà Barbour đã đi cùng tôi xuống nhà, ngọt nhạt nói: “Ồ, có hai cái này thì không sao. Tôi bị quá cân suốt.”
“Phải, nhưng sẽ mất tiền.”
“Thật ra, anh sẽ thấy là khá vừa phải,” bà Barbour đáp. Dù hãy còn sớm, và bà không mang trang sức cũng không trang điểm, nhưng không hiểu sao chỉ với váy vải và xăng đan bà vẫn toát ra vẻ phục sức chỉnh tề không chê vào đâu được. “Có thể sẽ phải trả hai chục đô ở quầy thủ tục, nhưng vậy cũng đâu có sao, phải không?”
Bà với bố tôi gườm gườm nhìn nhau như một cặp mèo. Rồi bố tôi đánh mắt đi trước. Tôi vẫn còn hơi xấu hổ vì cái áo vét xấu xí bố mặc, nó khiến tôi nghĩ đến những người bị đăng ảnh trên tờ Daily News vì nghi án gian lận.
“Con phải nói trước là có hai vali chứ,” bố hầm hừ nói sau quãng lặng (khiến tối rất biết ơn) tiếp theo nhận xét rất có lợi của bà. “Không biết từng ấy thứ có cho nổi vào thùng không nữa.”
Đứng bên vỉa hè, thùng xe taxi để mở, tôi suýt nữa đã để lại cái vali cho bà Barbour và sau này sẽ gọi điện nói cho bà biết có gì ở trong. Nhưng chưa kịp quyết định gì hết, người lái gốc Nga có đôi vai rộng đã bỏ đồ của Xandra khỏi thùng xe, nâng bổng cái vali thứ hai của tôi nhét vào, và sau khi dọn dẹp đụng độ tí chút đã nhồi được kín kẽ.
“Đấy, có nặng lắm đâu!” Ông ta nói, dập mạnh nắp thùng xuống và lau trán. “Vải mà!”
“Nhưng còn cái vali con của tôi!” Xandra hốt hoảng.
“Không sao cả thưa ma-đam. Nó có thể ngồi ghế trước với tôi. Hoặc ghế sau với bà nếu bà muốn.”
“Vậy là xong cả,” bà Barbour nói và ghé lại gần hôn phớt lên má tôi, lần đầu tiên kể từ khi tôi đến, cái hôn gió kiểu chào xã giao có mùi bạc hà và hoa dành dành. “Chúc cả nhà thuận buồm xuôi gió,” bà nói. “Chúc chuyến đi tốt lành.” Andy và tôi đã chia tay nhau từ hôm qua; dù biết cậu ta rất buồn khi tôi đi nhưng tôi vẫn ấm ức vì cậu không ở lại tiễn mình, mà đi cùng cả nhà lên căn nhà ở Maine luôn miệng kêu ghét. Còn bà Barbour, bà cũng không có vẻ quá rầu rĩ khi đưa chân tôi, dù nói thật là tôi chỉ muốn phát khóc vì không được ở lại.
Cặp mắt xám của bà nhìn mắt tôi, sáng rõ lạnh lùng. “Cảm ơn bác nhiều lắm, bác Barbour,” tôi nói. “Vì mọi thứ. Cho cháu gửi lời chào Andy.”
“Tất nhiên,” bà nói. “Có cháu làm khách rất vui, Theo ạ.” Giữa sức nóng mờ mịt ban trưa ở Đại lộ Công viên, tôi cố nắm tay bà lâu hơn một chút, lòng còn hy vọng bà sẽ bảo hãy liên lạc với bà nếu cần gì đó - nhưng bà chỉ nói, “Thượng lộ bình an,” đặt thêm một cái hôn phớt lạnh lẽo trên má tôi rồi đi.
III
TÔI VẴN CÒN CHƯA THẤM ĐƯỢC rằng mình đang rời New York. Cả đời tôi chưa bao giờ đi khỏi thành phố quá tám ngày.
Trên đường ra sân bay, nhìn ra cửa sổ ngắm những biển quảng cáo câu lạc bộ thoát y hay luật sư về thương tổn cá nhân mà chắc còn lâu nữa mới được thấy lại, một ý nghĩ lạnh gáy đến với tôi. Thế còn cửa kiểm tra an ninh? Tôi chưa có kinh nghiệm bay mấy (chỉ có hai lần, một lần tận hồi mẫu giáo), và tôi còn không biết người ta làm gì ở cửa kiểm tra an ninh nữa: soi X-quang? hay lục đồ đạc?
“Ở sân bay người ta có mở tung các thứ ra không?” tôi rụt rè hỏi, rồi nhắc lại lần nữa, vì xem ra chả ai nghe thấy tôi. Tôi đang ngồi ở ghế trước, để bố với Xandra được riêng tư mà tình tứ với nhau.
“À, dĩ nhiên,” tài xế đáp. Đấy là một tay Nga Xô vạm vỡ vai lớn, nét mặt thô tháp, má đỏ ửng ướt mồ hôi, như một cựu đô vật phát phì. “Còn nếu không mở sẽ soi tia X.”
“Kể cả với đồ gửi ạ?”
“À, tất nhiên,” ông ta có vẻ muốn trấn an tôi. “Tất cả đều được quét tìm chất nổ, gì cũng vậy. An toàn lắm.”
“Nhưng mà...” Tôi cố nghĩ xem có cách nào nêu được thắc mắc của mình mà không lộ ra điều cần giấu, nhưng nghĩ không ra.
“Không lo đâu,” ông tài nói. “Sân bay nhiều cảnh sát. Lại còn ba bốn ngày trước ấy à? Chắn đường.”
“Hừ, chỉ biết một điều là mình đang thèm được cút xéo ra khỏi đây chết đi được.” Xandra cất giọng khào khào nói. Trong một phút ngỡ ngàng tôi tưởng cô ta đang nói với mình, nhưng nhìn lại thì thấy cô ta đang quay về phía bố.
Bố đang đặt tay trên đầu gối cô ta, nói gì đó quá nhỏ không nghe được. Ông đeo kính râm, dựa người và ngật đầu trên băng ghế sau, cái giọng đều đều lại có vẻ gì đó rất phóng túng trẻ trung, điều bí mật nào đó đã đi qua giữa họ khi ông bóp đùi Xandra. Tôi ngoảnh đi, nhìn ra cảnh quạnh hiu đang vùn vụt trước mắt: những căn nhà dài và thấp, hàng rượu và phụ tùng ô tô, những bãi để xe rung rinh trong sức nóng buổi sớm.
“Đấy, em chẳng lo có 7 trong số hiệu chuyến bay,” Xandra đang lặng lẽ nói. “8 mới làm em hoảng.”
“Ừ, nhưng ở Trung Quốc 8 là số phúc đấy. Cứ xem bảng chuyến bay quốc tế khi nào đậu xuống McCarran. Tất cả các chuyến từ Trung Quốc đến? Ba con 8.”
“Cái mớ trí tuệ Trung Hoa ba lăng nhăng nhà anh.”
“Mô hình các số. Vấn đề là năng lượng thôi. Thiên địa gặp gỡ.” “Thiên với chả địa. Anh làm như ma thuật không bằng.”
“Thật.”
“Thế cơ đấy.”
Hai bên đang thì thào. Trong gương chiếu hậu là hai khuôn mặt phởn phơ kề sát nhau; khi nhận ra họ sắp hôn nhau (không hiểu sao vẫn làm tôi giật mình, dù đã chứng kiến liên tục), tôi quay người nhìn thẳng phía trước. Tôi vừa nhận ra rằng nếu không phải mình đã biết nguyên nhân mẹ chết, thì chẳng có gì trên trái đất này thuyết phục được tôi rằng không phải hai kẻ kia vừa bày kế hãm hại mẹ.
IV
TRONG LÚC ĐỢI LẤY THẺ lên máy bay tôi cứng đơ người vì sợ, chỉ chực thấy nhân viên an ninh mở toang vali rồi phát hiện ra bức tranh ngay trong hàng xếp đợi làm thủ tục. Nhưng bà nhân viên quạu quọ có kiểu tóc đánh rối mà khuôn mặt tôi còn nhớ đến giờ (tôi đã liên tục cầu khấn đừng là bà ta khi đến lượt mình) nhấc bổng vali lên băng chuyền mà chẳng liếc lấy một cái.
Trong lúc nhìn cái vali lục khục trôi về phía những nhân viên và thủ tục còn chưa được tận tường, tôi cảm thấy bị vây hãm, sợ điếng người vì cơn sóng người lạ bát nháo xung quanh, đồng thời thấy mình nổi bần bật giữa đám đông như thể ai cũng đang dồn mắt vào mình. Tôi chưa từng lọt vào giữa đám đông dày đặc như thế, chứng kiến nhiều cảnh sát ở một nơi như thế bao giờ từ hôm mẹ mất. Vệ binh Quốc gia đeo súng trường đứng cạnh máy dò kim loại, đứng nghiêm trong bộ áo rằn ri, cặp mắt sắc lạnh đảo khắp đám người.
Ba-lô, cặp táp, túi dết, xe lôi, nhìn hết sảnh đi chỉ thấy những đầu là đầu. Khi đi trong hàng chờ soi tôi nghe tiếng thét - ai đó gọi tôi, tôi nghĩ thế. Tôi cứng người.
“Đi đi, đi đi,” bố tôi giục, nhảy lò cò sau lưng tôi tìm cách tháo giày và thọc tay vào lưng tôi, “đừng có đứng đơ ra đó, con làm tắc mẹ nó cả hàng rồi...”
Qua máy dò kim loại, tôi cắm mắt xuống thảm - người cứng đờ vì sợ, chờ một bàn tay rơi xuống vai bất cứ lúc nào. Trẻ sơ sinh khóc mếu. Người già ro ro lướt qua trong những xe đẩy có động cơ. Họ sẽ làm gì tôi? Tôi có cách nào thuyết phục họ là chuyện không phải như vẻ ngoài hay không? Tôi mường tượng những phòng tường xi măng như trong phim, cửa đóng sầm, cảnh sát mặc sơ mi giận dữ, quên đi, mày sẽ không ra khỏi chốn này được đâu nhóc con ạ.
Khi đã qua cổng an ninh rồi, vào đến hành lang âm vang, tôi nghe những tiếng chân bước quả quyết theo sát sau lưng mình. Lần nữa tôi khựng lại.
“Đừng có bảo là con để quên thứ gì nhé,” bố tôi quay lại, đảo mắt khó chịu.
“Không có,” tôi nhìn quanh. “Con chỉ...” Sau lưng tôi không có ai. Khách đi ào qua tôi cả hai phía.
“Oài, thằng bé trắng bệch như ma ấy,” Xandra nói. Quay sang bố tôi, cô ta hỏi: “Nó không sao chứ?”
“Ồ, nó chẳng sao đâu,” bố tôi nói và lại quay mình đi tiếp. “Lên máy bay là ổn thôi. Tuần vừa qua thật khổ cho tất cả.”
“Hừm, nếu là nó em cũng sẽ hoảng vía không muốn lên máy bay, ’ Xandra nói sỗ. “Sau những gì nó đã phải trải qua.”
Bố tôi đang kéo cái vali nhỏ có bánh xe theo sau, một món quà sinh nhật của mẹ từ vài năm trước, chợt dừng lại.
“Khổ thân nhóc,” ông nói và tôi bất ngờ trước ánh mắt nhân từ ấy. “Con không sợ chứ hả?”
“Không,” tôi bật ra quá nhanh. Tôi chẳng hề muốn người khác chú ý đến mình, không muốn tỏ ra dù chỉ một phần nhỏ cảm giác lộn lạo trong bụng.
Ông nhíu mày nhìn tôi rồi quay đi. “Xandra?” Ông hỏi cô ta và hất hàm. “Có khi em nên cho thằng bé một ít, cái đấy ấy.”
“Hiểu rồi,” Xandra nhanh nhảu đáp, dừng lại lúi húi trong ví rồi lôi ra hai viên thuốc trắng lớn hình viên đạn. Một viên cô thả vào bàn tay chìa ra của bố, viên kia cho tôi.
“Cảm ơn,” bố nói rồi bỏ vào túi áo khoác. “Ta kiếm cái gì ực nó xuống cái nhỉ? Cất đi,” ông nói khi thấy tôi cầm ngón cái và ngón trỏ giơ lên, ngạc nhiên vì viên thuốc quá lớn.
“Nó không cần uống cả đâu,” Xandra nói và tóm chặt tay bố tôi, nghiêng người một bên sửa dây buộc đôi xăng đan đế thuyền.
“Được rồi,” bố đáp. Ông lấy lại viên thuốc của tôi rồi bẻ làm đôi rất điệu nghệ, một nửa bỏ vào túi áo vét rồi cùng Xandra lướt lên phía trước, đồ đạc kéo đằng sau.
V
VIÊN THUỐC KHÔNG ĐỦ MẠNH cho tôi ngất, nhưng cũng khiến tôi khá phê và phấn khởi, hẫng chân rơi vào rồi lại vọt lên khỏi những giấc mơ lành lạnh của điều hòa. Hành khách bay cùng đang thì thào khắp bốn bề, giọng nói thoát xác của cô tiếp viên nào đó đọc kết quả cuộc xổ số giữa chuyến bay, giải là bữa tối có rượu dành cho hai người tại Đảo Giấu Vàng. Lời hứa hẹn thì thầm của cô đưa tôi vào giấc mơ, khiến tôi bơi dưới đáy làn nước màu xanh đen giữa ánh đuốc, một cuộc thi gì đó với tụi trẻ con Nhật Bản lặn tìm vỏ gối đựng đầy ngọc trai hồng. Trong khi đó thì máy bay vẫn gầm rú, sáng chói, trắng toát và thường trực như biển, dù đến một thời điểm kỳ bí nào đó - quấn chặt trong cái chăn màu xanh lam hoàng tộc, mơ màng nơi đâu đó tít cao trên sa mạc - hình như các động cơ đã tắt, im phắc khiến tôi thấy mình đang nằm ngửa, lơ lửng bay lên giữa chân không tuy vẫn ngồi trong ghế thắt dây an toàn, bản thân cái ghế dường như đã tách rời các ghế khác, tự do trôi khắp khoang máy bay.
Tôi giật mình rơi bộp trở lại vào thân xác khi máy bay chạm đường băng rồi nảy lên và phanh gấp dừng lại.
“Và... chào mừng đến Nghĩa Địa Tiền Lương[65], Nevada,” giọng người phi công đang phát ra trên loa. “Giờ địa phương ở Thành Phố Tội Lỗi[66] đang là 11 giờ 47 phút sáng.”
Lóa mắt vì ánh đèn, tường kính và các bề mặt phản quang, tôi lót tót đi theo bố và Xandra qua nhà ga, điếc tai vì tiếng xoành xoạch và ánh lóa từ các máy đánh bạc tự động và tiếng nhạc gào thét rất không thích hợp với buổi sáng. Sân bay này giống như Quảng trường Thời đại cỡ trung tâm thương mại: những cây cọ lừng lững, màn hình điện tử chiếu pháo hoa và thuyền gondola và gái nhảy và ca sĩ và người nhào lộn.
Mãi mới thấy cái vali thứ hai của tôi hiện ra trên băng chuyền. Tôi vừa cắn móng tay vừa nhìn chằm chằm cái biển vẽ hình con rồng komodo cười nhăn nhở, quảng cáo cho món kỳ thú nào đó ở sòng bạc: “Hơn 2.000 bò sát đang chờ quý khách.” Đám đông lòe loẹt chờ hành lý trông như một đám khách muộn tụ tập trước một hộp đêm hạng ba nào đấy: cháy nắng, áo lòe loẹt, những cô nàng người Á loắt choắt đeo đầy hạt xoàn với những cặp kính râm hàng hiệu đại tướng. Cái băng chuyền cứ chạy vòng hầu như rỗng không, còn bố tôi (thấy rõ là đang thèm thuốc lá) đã bắt đầu đi đi lại lại, duỗi chân duỗi cẳng và cọ mu bàn tay vào má như mỗi lần sắp uống rượu thì nó đến, cái cuối cùng, vải kaki, nhãn đỏ, cái nơ đủ màu mẹ đã thắt trên tay cầm.
Bố tôi sải một bước dài, lao tới chộp lấy nó trước khi tôi tóm kịp. “Cũng đúng lúc,” ông vui vẻ nói và lẳng nó lên xe đẩy hàng. “Nào chuồn gấp khỏi đây thôi.”
Chúng tôi lượn qua cửa tự động, lao thẳng vào một bức tường hơi nóng ngạt thở. Hàng dặm xe trong bãi trải ra khắp các hướng xung quanh, im lìm dưới mái che. Tôi ưỡn người nhìn thẳng phía trước - những lưỡi dao crom lóe lên, đường chân trời rung rinh như thủy tinh rợn sóng - như sợ nếu ngập ngừng hay ngoảnh lại, sẽ có kẻ mặc đồng phục nào đó bước lên trước mặt chúng tôi. Nhưng chẳng ai tóm cổ tôi hay quát thét bắt dừng lại cả. Thậm chí còn chẳng ai liếc nhìn.
Ánh sáng làm tôi quáng mắt đến nỗi khi bố tôi dừng lại trước một con xe Lexus bạc mới coóng bảo, “Okay, đây rồi,” tôi bị vấp và suýt ngã nhào xuống vệ đường.
“Xe của hai người đây ư?” Tôi hỏi, nhìn bâng quơ giữa cả hai.
“Sao?” Xandra điệu đà hỏi và lộp bộp gõ giày qua phía ghế phụ, trong lúc bố tôi bấm khóa mở. “Con không thích hả?”
Lexus ư? Mỗi ngày tôi lại choáng ngợp vì đủ thứ chuyện cả to lẫn nhỏ cần phải kể với mẹ ngay tức khắc, và trong khi ngẩn ra nhìn bố tôi bỏ vali vào thùng xe, ý nghĩ đầu tiên trong đầu tôi là: Uầy, mẹ sẽ ngạc nhiên lắm đây. Thảo nào bố chẳng hề có ý định gửi tiền về.
Bố tôi khoát tay vứt điếu Viceroy hút dở. “Được rồi,” ông nói, “mời chú.” Không khí sa mạc làm ông hoạt bát hẳn lên. Ở New York, trông ông cỏ vẻ nhàu nhĩ, đáng ngờ, nhưng trong cái nóng tỏa sóng này cái áo vét trắng phớ và cặp kính mát trùm băng đảng lại có vẻ rất đúng chỗ.
Cái xe - khởi động ngay khi bấm nút -chạy êm đến nỗi thoạt đầu tôi không nhận ra đang chạy. Xe lướt đi trên đường, hòa vào không gian vô đáy. Đã quen nảy tưng tưng dưới ghế sau taxi rồi, sự êm ru mát rượi này mang vẻ hơi ghê rợn như tách hẳn với cuộc sống: cát nâu, ánh lóa độc địa, im như ru, lặng như tờ, rác bẩn bay phần phật trên hàng rào xích. Tôi vẫn còn hơi lâng lâng tê mụ vì viên thuốc, và những mặt tiền nhà cùng kiến trúc điên rồ dọc Dải Las Vegas, khúc đường trung tâm thành phố, cùng ánh lấp lánh xói vào mắt nơi những ụ cát tiếp giáp bầu trời khiến tôi cảm giác mình vừa hạ cánh xuống một hành tinh lạ.
Xandra và bố tôi nãy giờ rầm rì nói chuyện ở ghế trước. Giờ thì cô ta quay sang tôi, nổ bong bóng cao su lách tách, phấn khởi và tươi tắn, trang sức lóe sáng trong ánh nắng chói. “Sao, chú bé nghĩ sao?” Cô ta hỏi và phả ra một hơi đậm mùi Juicy Fruit.
“Choáng thật,” tôi nói, nhìn ra cửa xe nơi một kim tự tháp rồi một tòa Eiffel vừa lướt qua, quá sững sờ chưa tiêu hóa được mọi thứ.
“Mới thế con đã thấy choáng rồi sao?” Bố tôi hỏi và gõ gõ móng tay lên bánh lái, trong trí nhớ tôi cái kiểu đó vẫn gắn liền với sự căng thẳng hay những cuộc cãi cọ nửa đêm sau khi ông đi làm về. “Hãy đợi tới đêm khi tất cả sáng bừng lên.”
“Đằng kia, kìa,” Xandra nói và đưa tay chỉ qua cửa sổ đằng bố tôi. “Núi lửa đấy. Chạy được hẳn hoi đấy.”
“Thực ra là bố nghĩ người ta đang tân tạo lại. Nhưng về lý thuyết thì chạy được. Dung nham nóng. Mỗi giờ một lần, lúc giờ đúng.”
“Rẽ trái khỏi đường cao tốc sau hai dặm nữa,” giọng nữ trong máy nói.
Những màu sắc lễ hội hóa trang, những đầu chú hề cao bằng nhà, những tấm biển XXX: không khí lạ lẫm làm tôi phấn khởi, và cũng sợ hãi chút đỉnh. Ở New York, cái gì cũng khiến tôi nghĩ tới mẹ - từng chiếc taxi, từng góc phố, từng đám mây bay ngang mặt trời - nhưng ở xứ khoáng hoang vu nóng nực này, thật cứ như mẹ chưa hề tồn tại; tôi còn chẳng hình dung được mẹ đang từ trên trời cao nhìn xuống nữa. Mọi dấu vết của mẹ dường như đã bị đốt mất tăm tích trong bầu không khí loãng sa mạc.
Trong lúc đi, đường chân trời quái lạ dần thu lại thành một rừng lộn xộn những bãi để xe và cửa hàng đồ hiệu, những lượt trung tâm thương mại vô thân thế nối đuôi nhau, Circuit City, Toys “R” Us, siêu thị, tiệm thuốc, Mở Cửa Hai Tư Giờ, không biết đâu là điểm kết thúc hay bắt đầu. Bầu trời rộng không nếp hằn, như bầu trời trên biển. Trong lúc nỗ lực cố không ngủ thiếp đi - mắt chớp chớp tránh nắng - tôi đang ngẫm nghĩ trong cơn mơ màng về cái mùi da thuộc đắt tiền bốc ra từ nội thất ô tô và nhớ lại một câu chuyện thường nghe mẹ kể: rằng hồi bố mẹ còn đang tìm hiểu, bố vẫn tới đón mẹ bằng một chiếc Porsche mượn của bạn để gây ấn tượng. Mãi đến lúc lấy nhau rồi mẹ mới biết không phải xe của bố. Lúc ấy hình như mẹ nghĩ thế là buồn cười lắm - dù xét theo cả những việc khác ít thú vị hơn mà sau đám cưới mới tôi ra (như tiền sử bị bắt hồi vị thành niên không rõ tội danh gì), tôi không hiểu sao mẹ lại thấy chuyện ấy có gì hay ho cho được.
“Ừm, bố có xe này bao lâu rồi?” Tôi lớn giọng hỏi, ngắt giữa câu chuyện ở băng trước.
“Ờm... thì... đến giờ đã hơn một năm rồi, phải không Xan?”
Một năm ư? Tôi vẫn còn đang xử lý thông tin này - thế nghĩa là bố tôi đã vớ được chiếc xe (và Xandra) từ trước cả khi biến mất - thì ngẩng lên thấy những khu mua sắm đã nhường chỗ cho một bàn cờ dường như vô tận toàn những nhà trát vữa trắng nhỏ. Bất chấp vẻ đồng phục vuông vức trắng bợt - hàng dãy kề nhau như những tấm bia mộ - thì có vài nhà lại sơn màu nhạt trông rất hội hè (màu xanh bạc hà, màu hồng nông trang, màu lam sa mạc pha trắng sữa), và những cái bóng đậm nét trên mặt đất cùng đủ thứ cây sa mạc tua tủa gai toát ra vẻ gì đó xa lạ cực kỳ thu hút. Lớn lên ở thành phố nơi không gian chẳng bao giờ đủ, tôi thật lấy làm ngạc nhiên một cách hài lòng. Được sống trong nhà có sân vườn là một điều mới mẻ, dù vườn chỉ toàn đá nâu và xương rồng.
“Đây vẫn là Las Vegas ư?” Tôi đã bày trò chơi cố tìm xem có điểm gì khác nhau giữa các nhà: nhà này có cửa hình vòm, nhà kia có bể bơi hay cây cọ.
“Giờ con đang thấy một nơi hoàn toàn khác rồi,” bố tôi nói, thở hắt ra và dụi tắt điếu Viceroy thứ ba. “Đây là phần mà khách du lịch không bao giờ biết.”
Dù đã đi được một hồi lâu nhưng tôi chưa hề thấy gì có thể đánh dấu đường hết, thật khó mà biết chúng tôi đang đi đâu, thậm chí đi về phía nào. Đường chân trời mãi không thay đổi, cứ đều đều như thế, và tôi đang sợ rồi sẽ lại đi qua hết khu nhà màu nhạt này đến bãi hoang tàn đá sỏi sau đó, rẽ vào một bãi nhà lưu động chết nắng như trong phim. Nhưng trái lại, tôi ngạc nhiên thấy nhà cửa dần lớn hơn: giờ là nhà hai tầng, với những vườn xương rồng, với hàng rào, bể bơi, ga-ra để được vài xe.
“Okay, đến nơi rồi,” bố tôi nói và ngoặt vào con đường có tấm biển đá hoa lừng lững khắc kiểu chữ viết tay bay bướm: Trang Trại Dưới Bóng Vực.
“Bố sống ở đây á?” Tôi trầm trồ hỏi. “Có cả vực cơ à?”
“Không, họ chỉ đặt tên thế thôi,” Xandra đáp.
“Họ có cả đống dự án phát triển nhà khác nhau ở đây, hiểu không.” bố nói và bóp sống mũi. Nghe giọng ông, cái giọng ngàn ngạt thèm rượu khi xưa của ông, tôi nhận ra ông đang mệt và không hứng thú chuyện trò.
“Gọi là các cộng đồng trang trại.” Xandra nói.
“Ừ. Sao cũng được. Thôi câm mồm đi,” bố tôi quặc và thò tay vặn nhỏ tiếng phần mềm dẫn đường lại vừa véo von chỉ dẫn.
“Có đủ mọi phong cách khác nhau,” Xandra nói và chấm chấm son bóng bằng mặt ngón út. “Gió Làng Mọi này, Sống Núi Ma, Biệt Thự Hươu Múa. Cờ Hồn, là cộng đồng chơi gôn? Còn Encantada[67] là chỗ hoành tráng nhất, cả đống công ty đầu tư... Này, cưng ơi, rẽ đây,” cô ta nói và vịn lấy tay ông.
Bố tôi cứ thế đi thẳng, chẳng trả lời.
“Mẹ kiếp!” Xandra xoay cả người lại, nhìn lối đường lùi xa sau lưng. “Sao lúc nào anh cũng phải đi đường vòng thế?”
“Không có đường tắt đường tiếc gì hết. Em thật chả hơn gì con mụ Lexus.”
“Ừ, nhưng đường đấy nhanh hơn. Tận mười lăm phút cơ. Giờ thì chúng mình lại phải đi vòng qua Hươu Múa.”
Bố tôi thở hắt ra bực bội. “Này.
“Sao anh không thể rẽ ra đằng Lối mòn Di Gan rồi rẽ trái hai lần rẽ phải một lần? Vì tất cả chỉ có thế. Nếu anh đâm ra Desatoya...”
“Này. Em muốn lái xe không? Hay muốn để yên cho thằng này lái?”
Tôi đã quá biết đừng bao giờ tranh cãi khi bố tôi nói bằng giọng đó, và rõ là Xandra cũng vậy. Cô ta nhấp nhổm vặn vẹo trên ghế rồi, rất chậm rãi, như để cố tình chọc tức, vặn radio lên thật lớn rồi dò qua các kênh quảng cáo và tiếng nhiễu.
Dàn âm thanh ồn đến nỗi tôi thấy cả cái lưng ghế da trắng cũng rung lên bần bật. Đi nghỉ, tôi chẳng muốn gì ngoài đi nghỉ... Ánh sáng mọc lên rồi bùng ra giữa những đám mây sa mạc lộn xộn - bầu trời không điểm dừng, xanh găn gắt, như trong trò chơi điện tử hay trong ảo giác của một phi công tập lái.
“Kênh Vegas 99, nhạc thập niên 80 và 90,” cái giọng liến thoắng phấn khích trên đài nói. “Và tiếp theo mời quý vị nghe Pat Benatar, trong giờ ban trưa Diva Những Năm Tám Mươi Múa Cột.”
Ở khu Biệt Thự Trại Desatoya, tại 6219 Phố Cuối Sa mạc, nơi gỗ chất đống trong vài sân nhà còn cát bay tung ngoài mọi con phố, chúng tôi rẽ vào lối xe lên của một tòa nhà khá lớn kiểu cách Tây Ban Nha - hay kiểu Moor cũng nên, vữa trắng sơn be, có cửa chớp, đầu hồi hình vòm, mái lợp ngói thành nhiều góc nghiêng vút. Tôi thật ấn tượng trước cái vẻ bò lan vô hướng của căn nhà này, những cột nhà và mũ cột, những cửa sắt uốn tinh xảo mang hơi hướng sân khấu, như loại nhà trong bộ phim truyền hình dài tập kênh Telemundo các chú bảo vệ bật cả ngày trong phòng giữ đồ.
Chúng tôi ra khỏi xe, đang lôi vali vòng qua cửa ga-ra thì tôi nghe một âm thanh ảo não rợn gáy: không rõ là tiếng hét hay tiếng khóc thoát ra từ trong nhà.
“Ối, cái gì thế?” Tôi đánh rơi cả vali, rùng mình hỏi.
Xandra đang nghiêng người lục tìm chìa khóa, hơi loạng choạng trên đôi giày, và lẩm bẩm, “Ôi im đi, im đi, im đi con khỉ nợ.” Trước khi cô ta kịp mở rộng cửa thì một nắm lông cứng quèo điên dại đã vọt ra ngoài rú rít, rồi bắt đầu nhảy tâng tâng loạn xị ngậu khắp quanh ba người chúng tôi.
“Ngồi!” Xandra quát. Qua cánh cửa hé, nhạc sàn châu Phi (tiếng voi rống, tiếng khỉ réo) bật lớn đến mức từ nãy trong ga-ra tôi đã nghe thấy.
“Ôi,” tôi thốt lên và ngó vào trong. Bên trong không khí có vẻ vừa nực vừa chua: mùi thuốc lá để lâu, mùi thảm mới, và mùi cứt chó không lẫn vào đâu được.
“Với những người coi thú, các loài thú lớn họ nhà mèo lại khiến nảy sinh những khó khăn không giống bất cứ loài gì khác,” giọng trên tivi ông ổng. “Chúng ta hãy cùng theo Andrea và các đồng nghiệp của cô đi một vòng vào buổi sáng.”
“Này,” tôi nói và giữ vali, đứng bên cửa, “hai người quên tắt tivi rồi.”
“Ừ,” Xandra nói và đi lướt qua tôi, “Thế giới động vật đấy, tôi để bật cho Popper. Tao bảo ngồi xuống cơ mà!” Cô ta vặc con chó đang cào cào lên đầu gối, rồi khập khễnh đi vào trên đôi giày cao gót để tắt tivi.
“Nó ở nhà một mình ư?” Tôi nói giữa tiếng rít của con chó. Đấy là loại chó lông dài rất yểu điệu mà nếu sạch, hẳn sẽ xù lông trắng trẻo lắm.
“Ồi, nó đã có vòi nước uống hiệu Petco rồi,” Xandra nói và đưa mu bàn tay lau trán khi bước qua người con chó. “Với mấy cái nhả đồ ăn to to nữa?”
“Giống gì thế ạ?”
“Maltese. Thuần chủng đấy. Tôi thắng xổ số được. Ừ, đúng là nó lâu không tắm thật, mấy con này chăm phiền kinh, ừ, ừ, xem mày làm gì quần tao rồi đây này,” cô ta nói với con chó. “Quần trắng cơ đấy.”
Chúng tôi đứng giữa một phòng lớn rộng rãi, trần cao, có cầu thang chạy lên một thứ phòng lửng có rào chắn nằm một bên - căn phòng to gần bằng cái căn hộ tuổi thơ tôi. Nhưng khi mắt đã quen với ánh sáng chói lóa, tôi mới nhận ra căn phòng gần như trống trơn. Tường trắng phếch. Lò sưởi đá, tạo cảm giác đang trong một chòi săn. Xô pha trông như gỡ ra từ phòng chờ bệnh viện. Trọn bức tường từ cửa kính dẫn ra hiên là một tủ âm nhiều ngăn, hầu như chẳng xếp đặt gì.
Bố tôi khệ nệ đi vào, buông mấy cái vali xuống thảm. “Giời ạ, Xan, trong này toàn mùi cứt chó.”
Xandra cúi người đặt cái ví xuống, nhăn mặt khi con chó lại nhảy tưng tưng, cuống cuồng vồ lên người cô ta. “À, Janet đã hứa qua thả ra ngoài,” cô ta nói át tiếng rít cuồng loạn của con chó. “Nó có chìa khóa rồi cơ mà. Trời ạ, Popper,” cô ta nhăn mũi và ngoảnh đi, “mày thối quá.”
Vẻ trống trải của căn nhà làm tôi sững người. Cho tới lúc đó tôi chưa hề băn khoăn việc tại sao phải bán hết sách vở, thảm hay đồ cổ của mẹ đi, còn các thứ khác phải tống khứ cho từ thiện hay ra bãi rác. Tôi đã lớn lên trong một căn hộ bốn phòng, tủ nào tủ nấy lèn ứ đồ đến mức muốn tràn ra ngoài, giường nào cũng ngự trên một đống hộp, nồi chảo treo lên trần nhà vì tủ đã hết chỗ. Nhưng... có khó gì đâu nếu mang vài món đồ của mẹ về đây, như cái hộp bạc của bà ngoại, hay bức tranh con ngựa cái màu hạt dẻ trông như tranh của Stubbs[68], hay thậm chí là cuốn Ngựa ô yêu dấu[69] mẹ từng đọc hồi còn nhỏ! Đặt vài bức tranh đẹp hay vài món đồ gỗ quý thừa hưởng của bà ngoại vào đây chẳng phải thích hợp sao. Bố vứt hết đồ của mẹ đi chỉ bởi vì bố ghét mẹ.
“Chúa ơi,” bố tức giận cao giọng, cố át tiếng sủa rin rít. “Con chó này đã phá nát cả cái nhà rồi. Chính thế.”
“Ờ, em không biết... em biết là kinh lắm nhưng Janet đã bảo…”
“Anh đã nói rồi, đáng nhẽ em phải cho nó đến trại chó. Hoặc là, anh không biết nữa, đưa nó vào trạm cứu hộ động vật chẳng hạn. Anh không thích để nó trong nhà. Chỗ của nó là ở ngoài đường. Chẳng phải anh đã bảo em là sẽ rắc rối lắm sao? Janet đúng là đồ chảy thây…”
“Ừ, thì nó ị lên thảm vài lần đấy? Thế thì sao? Thế còn... mày nhìn cái quái gì vậy?” Xandra tức tối đáp trả, bước chân qua con chó đang gào tướng - và hơi giật mình, tôi nhận ra mình chính là kẻ cô ta vừa quắc mắt nhìn.
VI
CĂN PHÒNG MỚI CỦA TÔI trông có vẻ trống trải, cô đơn, đến nỗi xếp đồ xong, tôi để hé cánh cửa tủ để vẫn nhìn thấy quần áo treo bên trong. Từ dưới nhà vẳng lên tiếng bố vẫn quát tháo về vụ cái thảm. Không may là lần này cả Xandra cũng đang hét ầm lên, khiến bố còn kích động hơn nữa, mà đối phó với tính khí ông thì đấy là cách tuyệt đối nên tránh (nếu cô hỏi thì tôi đã cho cô biết rồi). Ở nhà thì mẹ biết cách bịt miệng những cơn giận dữ của bố, bằng cách im lặng quay đi, đốt lên một ngọn lửa khinh khi cháy liu ríu nhưng bền bỉ hút hết dưỡng khí trong phòng, khiến mọi điều ông làm hay nói đều có vẻ thật ngớ ngẩn. Cuối cùng ông sẽ đùng đùng lao khỏi nhà, đập rung cả cửa, và rồi khi quay về - hàng giờ sau, chìa quay nhẹ trong ổ - sẽ đi khắp căn hộ như không có chuyện gì xảy ra: vào tủ lạnh lấy bia, dùng giọng bình thường hết sức hỏi xem thư từ để đâu.
Trên tầng có ba phòng trống, tôi đã chọn phòng lớn nhất; phòng này, giống như ở khách sạn, có buồng tắm riêng tí xíu bên hông. Sàn trải thảm rất dày, thảm nhung lông màu xanh thép. Đệm trần trụi, chăn nệm còn nguyên trong bọc ni-lông dưới chân giường. Vải Percale Legends. Giảm giá 20%. Có tiếng máy rì rì phát ra từ trong tường, như tiếng máy lọc khí bể cá. Đây giống như những phòng hay thấy có gái điếm hay gái bán bar bị giết thường thấy trên tivi.
Vẫn để tai nghe bố và Xandra, tôi ngồi lên đệm, bức tranh quấn kín đặt trên đùi. Dù cửa đã khóa nhưng tôi vẫn ngại không muốn mở ra sợ họ lại lên đây, nhưng khao khát muốn nhìn lại bức tranh quá lớn. Thật nhẹ nhàng, thật cẩn thận, tôi khẽ gại móng tay bóc băng dính ra.
Bức tranh tuột khỏi lớp cuốn dễ hơn tôi tưởng, và tôi nhận thấy mình đang nén tiếng thở buột ra sung sướng. Đấy là lần đầu tiên tôi được nhìn nó dưới ánh sáng ban ngày. Trong căn phòng khô cằn - chỉ toàn thạch cao và sắc trắng - những màu sắc mọi khi thầm lặng chợt sống động tưng bừng, và dù trên bề mặt bám một lớp bụi mỏng gần như không thấy, bức tranh vẫn toát ra cái không khí giống như nơi khoảng tường lồng lộng nắng hứng ô cửa mở. Có phải vì thế mà những người như bà Swanson cứ tán tụng ánh nắng vùng sa mạc không? Bà luôn không ngớt lời về cái gọi là “chuyến du hí” ở New Mexico - chân trời mênh mang, bầu trời thanh tĩnh, tâm linh rõ ràng trong suốt, vân vân. Nhưng hình như trò đùa ánh sáng nào đó đã làm bức tranh biến đổi, giống như những bể nước nóc nhà in bóng đen thẫm ngoài cửa sổ phòng mẹ thoạt dát vàng và tích điện trong vài giây lạ lẫm giữa ánh tà dương mùa hè vẩn sắc dông, ngay trước khi cơn hồng thủy sầm sập xuống.
“Theo?” Bố tôi gõ cồng cộc lên cửa. “Đói chưa?”
Tôi đứng dậy, hy vọng ông không thử mở và thấy cửa khóa. Phòng mới của tôi trống trơn như nhà tù, nhưng mấy giá tủ trên cùng rất cao và sâu, khuất tầm mắt ông.
“Bố đi kiếm mấy món Tàu mang về. Ăn gì không?”
Nếu nhìn thấy, liệu bố có biết đấy là tranh gì không? Tôi từng nghĩ là không - nhưng khi nhìn nó trong ánh sáng này, nhìn vẻ lấp lánh tỏa ra từ nó, tôi hiểu bất cứ thằng khờ nào cũng biết ngay. “Ừm, con ra đây,” tôi đáp to, giọng có vẻ giả dối và khản đặc, nhét bức tranh vào thêm một lần vỏ gối rồi giấu dưới giường trước khi vội vã ra khỏi phòng.
VII
TRONG MẤY TUẦN Ở LAS VEGAS trước khi bắt đầu vào học, cả ngày vơ vẩn dưới nhà, cắm tai nghe iPod nhưng không bật tiếng, tôi đã thu nạp được một cơ số thông tin thú vị. Ví dụ: công việc ngày xưa của bố tôi không hề có màn đi đi lại lại giữa Chicago với Phoenix như ông từng bảo mẹ con tôi. Cả hai mẹ con đều không hay biết ông đã bay tới Vegas nhiều lần trong mấy tháng trời, và chính ở đây - trong một quán bar kiểu Á nhà hàng Bellagio - ông với Xandra đã gặp nhau. Họ đã hẹn hò được một thời gian rồi thì bố tôi mới biến mất - tôi tính phải đến hơn một năm; có vẻ họ vừa ăn mừng “tròn năm” lần đầu ít lâu sau khi mẹ mất, ăn tối ở nhà hàng Delmonico Steakhouse rồi xem Jon Bon Jovi biểu diễn ở MGM Grand. (Bon Jovi à! Trong vô số thứ tôi thèm được kể cho mẹ nghe - có đến hàng nghìn, hay hàng triệu thứ - có vẻ kinh khủng nhất là mẹ lại không bao giờ được biết cái chuyện buồn cười muốn chết đó.)
Một chuyện nữa mà tôi đã suy ra sau mấy ngày ở ngôi nhà trong phố này: khi bố hay Xandra nói ông “cai rượu”, đúng ra là ông đã đổi rượu scotch (mà ông từng ưa thích) sang bia Corona nhẹ và thuốc giảm đau Vicodin. Tôi đã vài lần ngạc nhiên khi thấy họ liên tục giơ ngón tay chữ V về phía nhau ra dấu hòa bình, hay là dấu chiến thắng, trong đủ loại bối cảnh chẳng thích hợp tí nào, và chắc sẽ còn hoang mang lâu lâu nữa nếu không phải một hôm, tưởng tôi không nghe thấy, bố tôi đi vào hỏi thẳng Xandra cho ông một viên Vicodin.
Tôi chẳng biết gì về Vicodin, ngoại trừ đấy là một thứ mà vì nó một nàng diễn viên hoang dại tôi khoái cứ chốc chốc lại thấy lên ảnh trên báo lá cải: loạng choạng đi ra từ xe Mercedes, đèn cảnh sát chói lóa đằng sau lưng. Vài ngày sau, tôi bắt được một túi ni-lông, bên trong đựng phải đến ba trăm viên thuốc - để hờ hững trên mặt bếp, cạnh lọ thuốc chống rụng tóc của bố và một chồng hóa đơn chưa trả - nhưng Xandra vội chộp lấy thủ vào ví.
"Cái gì thế?” Tôi hỏi.
“Ừm, vitamin ấy mà.”
“Sao lại bỏ trong túi đó?”
“Tôi lấy của cái ông tập thể hình cùng chỗ làm.”
Kỳ dị một cái là - và đây lại thêm một đề tài tôi ước gì có thể đem bàn với mẹ - ông bố mới lúc nào cũng lừ đừ vì thuốc lại dễ chịu và dễ đoán hơn nhiều so với ông bố cũ. Hồi còn uống rượu, bố tôi như khắp người toàn đầu dây thần kinh - hết đùa nhả vớ vẩn lại sôi sục sấn sổ, mãi đến khi lả ra ngất xỉu - nhưng khi nào không uống thì còn tệ hơn nữa. Ông xăm xăm đi trước mẹ con tôi cả chục bước trên vệ đường, nói chuyện một mình, vỗ vỗ túi áo vét như tìm vũ khí. Ông mang về đủ thứ chúng tôi không cần và cũng không kham nổi, ví dụ như giày Manolo da cá sấu cho mẹ (vốn ghét giày cao gót), thậm chí cũng không đúng cỡ. Ông tha cả chồng giấy ở văn phòng về nhà, ngồi đến quá nửa đêm uống cà phê đá, bấm toanh toách máy tính bỏ túi, mồ hôi vã ra như vừa chạy bốn mươi phút trên máy tập leo cầu thang. Hoặc ông sẽ làm toáng lên chỉ vì vụ tiệc tùng gì đó tít đằng Brooklyn (“Cô bảo sao? ‘Có khi em không nên đi hả? Cô nghĩ tôi nên ở lì trong nhà làm thằng thầy tu kín phải thế không?”) và rồi sau khi lôi được mẹ đến đấy, chỉ được mươi phút là đùng đùng bỏ về sau khi chửi rủa một vị khách khác hoặc nhạo báng họ thẳng mặt.
Thuốc thì cho một dạng năng lượng khác, vui vẻ hơn: pha giữa tươi tỉnh và ù lì, một vẻ ngớ ngẩn, ngây ngô, lãng đãng. Bước chân ông la đà hơn. Ông ngủ nhiều hơn, gật gù thuận tình, quên bẵng giữa mạch tranh cãi, lê chân trần đi trong nhà, áo choàng tắm phanh nửa. Từ câu chửi thề hiền hậu đến việc thường quên cạo râu, cách nói chuyện thong thả với điếu thuốc lá cắm khóe miệng, cảm giác toát ra là ông đang diễn một vai nào đó: một chàng sành đời trong bộ phim Noir[70] thập niên 50 hay có khi là Mười một tên cướp thế kỷ[71] một gã côn đồ lười biếng và thỏa mãn không có gì để mất. Nhưng ngay cả giữa vẻ phởn phơ mới có này, ông vẫn giữ cái nét hơi rồ, hơi yêng hùng của cậu học trò ngổ ngáo, càng dễ động lòng vì nó đang dần đi về thu, đã thoảng màu tàn tạ và bất cẩn.
Trong ngôi nhà ở Phố Cuối Sa mạc, với gói truyền hình cáp siêu đốt tiền mẹ sẽ chẳng bao giờ cho mắc, ông kéo rèm tránh mặt trời và ngồi hút thuốc trước tivi, mơ hồ như một gã nghiện thuốc phiện, xem kênh thể thao ESPN bỏ tiếng, chẳng theo dõi môn nào cụ thể mà xem bất kỳ thứ gì đang hiện lên màn hình: cricket, bóng ném Jai-Alai[72], cầu lông, bóng vồ. Điều hòa để lạnh quá độ, có cái mùi lờm lợm như tủ lạnh; ông ngồi lặng phắc hàng giờ liền, dải khói điếu Viceroy lửng lơ bay lên trần như từ một que hương, cứ như ông đang chiêm nghiêm về Phật - Pháp - Tăng trên bảng xếp hạng Hiệp hội Gôn Hoa Kỳ hay gì đó.
Điều còn chưa hiểu được là bố tôi có làm việc hay không, và nếu có, thì là thứ việc gì. Điện thoại reo bất kể ngày đêm. Ông cầm ống nghe đi ra hành lang, lưng quay về phía tôi, chống tay lên tường, nhìn xuống thảm mà nói chuyện, dáng đứng có gì đó từa tựa như ông huấn luyện viên vừa kết thúc một trận đấu khó nhằn. Thường thì ông nói rất nhỏ, nhưng ngay cả khi to tiếng thì câu chuyện cũng rất khó hiểu nếu chỉ nghe từ phía ông: hoa hồng, dòng tiền, tài xỉu, cược thắng và tính chấp. Phần lớn thời gian ông không ở nhà, đi có việc mà không nói là gì, và nhiều đêm ông cùng Xandra cũng không về ngủ nữa. “Bọn bố được đãi ở MGM Grand nhiều lắm,” ông giải thích và dụi mắt, lún sâu người vào đệm xô pha, thở hắt ra mệt mỏi - và lần nữa tôi lại cảm thấy ông đang diễn, diễn vai “dân chơi buồn đời”, sót lại từ thập niên 80, hơi một tí là buồn chán. “Hy vọng con không phiền. Chỉ là khi nào có làm ca đêm, bọn bố ngủ lại Dải là dễ nhất.”
VIII
“ĐÁM GIẤY BÌA để khắp nơi này là gì vậy?” Một hôm tôi hỏi Xandra đang loay hoay trong bếp, làm món nước uống ăn kiêng vị vani. Tôi băn khoăn khi thấy những mẩu bìa in sẵn vương vãi khắp nhà: những ô vuông được viết hàng dãy hàng dãy số đơn điệu bằng bút chì. Trông chúng có vẻ khoa học, lại có vẻ ghê ghê, như những chuỗi ADN hay có khi là thông điệp tình báo bằng mã nhị phân.
Cô ta tắt máy xay, gạt tóc trên mắt. “Cái gì?”
“Mấy cái tờ số liệu này ấy.”
“Baccrrrat!” Xandra đáp, uốn lưỡi thật rung, và làm một chuỗi búng tay rất rối rắm.
“Ồ” tôi nói sau một lúc im phắc, dù chưa nghe đến chữ ấy bao giờ.
Cô ta thò ngón tay vào cốc nước liếm thử. “Bọn tôi rất hay đến phòng baccarat ở MGM Grand?” Cô ta đáp. “Bố cháu thích lưu lại thông tin những ván đã chơi.”
“Lúc nào cháu đi cùng được không?”
“Không được. Ờm... nhưng tôi nghĩ là có thể? cô ta nói, như thể tôi vừa ướm hỏi về kỳ nghỉ hè ở một nước Hồi giáo đầy biến động nào đấy vậy. “Nhưng người ta không mấy hoan nghênh trẻ con đến sòng bạc đâu, hiểu không? Thực tình là cháu không được phép đến xem bọn tôi chơi.”
Đã Sao, tôi nghĩ. Đứng xem bố với Xandra đánh bạc tôi cũng chẳng thấy gì là thú vị. Tôi nói lớn, “Nhưng cháu cứ tưởng họ có cả hổ với tàu hải tặc với mấy thứ kiểu ấy.”
“Ờm thì, chắc có.” Cô ta đang với lấy cái cốc trên giá, lộ ra một bộ tứ chữ Tàu xăm mực xanh giữa cái áo phông và cái quần cạp trễ. “Mấy năm trước họ cũng thử bán gói du lịch cả gia đình, nhưng chẳng đi đến đâu cả.”
IX
CHẮC Ở VÀO HOÀN CẢNH KHÁC tôi sẽ thích Xandra-nói thế tôi nghĩ hơi kì kì, giống như nói tôi sẽ thể sẽ thích thằng nhãi vẫn đập tôi một trận nếu như nó không đập tôi một trận. Cô ta là người đầu tiên khiến tôi nhận ra đàn bà trong độ tuổi bốn mươi - và là những người đàn bà vốn không đẹp chim sa cá lặn gì cho cam- vẫn có thể gợi cảm. Dù mặt không đẹp (mắt tí hin, mũi vừa nhỏ vừa tẹt, răng nhỏ như chuột) nhưng cô ta có thân hình đẹp, chịu khó tập tành, tay chân đều bóng và rám nắng đến nỗi trông như xịt thuốc rám, như thể cô ta đã chịu khó thoa cả đống tinh dầu hay kem lên mình. Cập kênh trên đôi giày cao, cô ta vẫn đi rất nhanh, liên tục kéo cái váy ngắn-quá-đáng, dáng người đổ về phía trước có sức hấp dẫn kỳ dị. Ở mặt nào đó tôi thấy cô gớm gớm - giọng lắp bắp, son môi bóng loáng nhờ thỏi Lip Glass, một tập đoàn lỗ tai và khe hở giữa hai răng cửa hay bị cô ta lấy lưỡi đẩy đẩy - nhưng cô ta cũng có gì đó nồng ấm, rộn ràng và khá rắn mặt nữa: một nguồn sức mạnh của loài thú, như một con mèo đang gầm gừ lùng sục săn mồi khi đã thoát khỏi cặp cao gót đi chân không.
Coca vani, dưỡng môi vani, thức uống ăn kiêng vani, Stolichnaya vani. Từ chỗ làm về cô ta ăn mặc như một bà vợ nhà giàu lòe loẹt đi đánh tennis về, váy trắng ngắn cỡn và nữ trang vàng đeo đầy người. Ngay đôi giày thể thao cũng mới trắng lốp. Tắm nắng bên bể bơi, cô ta đeo bộ đồ hai mảnh bằng ren trắng, phơi tấm lưng to ngang nhưng gầy, hằn xương sống, như một gã đàn ông ở trần. “Ối chà, trục trặc kỹ thuật,” cô ta nói khi đứng lên khỏi ghế nằm mà quên cài áo con, tôi để ý thấy bộ ngực cũng rám nắng đều như toàn bộ làn da cô.
Cô ta thích nhất là xem truyền hình thực tế: Survivor hoặc American Idol. Thích mua đồ ở Intermix và Juicy Couture. Thích gọi cho cô bạn Courtney để “xả xì-trét”, và đáng tiếc thay phần lớn xì-trét đến từ phía tôi. “Mày nghĩ xem?” một hôm tôi nghe thấy cô ta nói trên điện thoại khi bố vắng nhà. “Anh ta đâu có báo trước về thứ này. Một thằng nhóc ư? Thế cơ chứ!”
“Ừ, dĩ nhiên, chuối củ lắm,” cô ta tiếp, ơ hờ bập bập điếu Marlboro Light - dừng chân bên cánh cửa kính ra bể bơi, nhìn xuống bộ móng chân vừa sơn màu xanh dưa lưới. “Không,” im một lúc cô ta đáp. “Giời mới biết bao lâu. Thì, anh ta nghĩ tao sẽ thấy sao chứ? Tao có phải mấy bà chỉ việc mặc đẹp đến cổ vũ cục cưng đá bóng đâu.”
Cô ta dường như than thở cho có thôi chứ không hẳn thù hằn cá nhân gì. Nhưng tôi vẫn không biết đâu mới là cách đúng để cô ta thích mình. Ban đầu tôi vẫn giả định các bà tầm tuổi mẹ rất thích mình lại gần gợi chuyện, nhưng với Xandra tôi đã nhanh chóng nhận ra không nên nói đùa hay hỏi han chuyện trong ngày quá nhiều nếu cô ta cáu kỉnh khi đi làm về. Đôi khi không có bố ở nhà, cô ta chuyển kênh ESPN đang chạy và chúng tôi ngồi xem phim trên Lifetime, ăn hoa quả dầm với nhau rất thanh bình. Nhưng khi nào bực tức, cô ta có cái kiểu nói “Hẳn rồi” băng giá đáp lại hầu hết những gì tôi nói, khiến tôi thấy mình thật ngu ngốc.
“Ừm, cháu không thấy cái mở hộp đâu cả.”
“Hẳn rồi.”
“Tối nay có nguyệt thực đấy.”
“Hẳn rồi.”
“Kìa, ổ điện bắn tia lửa ra kìa.”
“Hẳn rồi.”
Xandra làm ca đêm. Thường thì khoảng ba rưỡi chiều cô ta sẽ ào ra khỏi nhà trong bộ đồng phục khoe mọi đường cong: áo khoác đen, quần đen bó thít bằng chất liệu co giãn gì đấy, sơ mi bỏ cúc xuống tận chỏm ngực lấm tấm tàn nhang. Biển tên trên áo jacket ghi chữ XANDRA lớn và ở dưới, nhỏ hơn: Florida. Hôm đi ăn tối ở New York cô ta nói rằng muốn khởi nghiệp trong lĩnh vực nhà đất, nhưng tới đây tôi nhanh chóng được biết việc của cô ta là quản lý một quán bar tên “Xu Teng” trong một sòng bạc trên Dải. Đôi khi, về đến nhà, cô ta mang theo những đĩa nhựa đựng đồ ăn vặt bọc ni-lông kín, thịt viên hay teriyaki gà cỡ ngón tay mang ra cùng bố tôi ăn trong khi xem tivi tắt tiếng.
Sống cùng họ giống như ở nhà trọ cùng những người mình không mấy ưa. Khi nào họ có nhà, tôi đóng cửa ở lì trong phòng. Còn khi nào họ đi, tức là hầu như cả ngày, tôi lục lọi các ngóc ngách xa xôi hơn trong căn nhà và cố làm quen với vẻ tuềnh toàng của nó. Hầu như phòng nào cũng chỉ trơ sàn hoặc có rất ít đồ đạc, và không gian trống trải cùng thứ ánh sáng tự do chơi nhởn không bị chắn rèm, những thảm trần và ván song song làm tôi thấy hơi thất chí.
Nhưng mặt khác, cũng thật nhẹ mình vì không còn cảm giác suốt đời phơi ra cho thiên hạ nhìn ngắm như ở nhà Barbour. Bầu trời màu xanh thẳm bất tận và lơ đãng, như lời hứa hẹn về một hào quang kỳ khôi nào đó thực ra không có thật. Chẳng ai thèm cằn nhằn khi tôi cứ mặc mãi một bộ đồ, khi tôi chẳng tiếp tục chữa trị tâm lý. Tôi cứ việc nằm ườn trên ghế hay cả sáng không ra khỏi giường, xem một lèo năm bộ phim Robert Mitchum nếu muốn.
Bố và Xandra khóa kín cửa phòng ngủ - thật không hay, vì trong phòng đó để laptop của Xandra và tôi chẳng được sờ đến chừng nào cô ta chưa về nhà, mang máy xuống cho tôi dùng trong phòng khách. Chiến lợi phẩm những cuộc lục lọi khi họ vắng nhà chỉ là tờ rơi quảng cáo nhà đất, ly rượu chân cao còn nguyên trong hộp, một chồng tạp chí TV Guides cũ, một hộp các-tông đựng những quyển sách rẻ tiền quăn queo: Cung mặt trăng của bạn là gì?, Ăn kiêng kiểu South Beach, Đọc mặt biết bài trongpoker, Yêu thật, yêu chơi của Jackie Collins.
Các nhà xung quanh đều bỏ không, chúng tôi không có hàng xóm. Bên kia đường cách năm sáu nhà có một chiếc Pontiac cũ đỗ đằng trước, của một bà ngực to, tóc xác xơ, dáng vẻ lúc nào cũng mệt mỏi, đôi khi tôi thấy đứng chân không trước cửa nhà lúc hoàng hôn gọi điện thoại, tay bóp chặt gói thuốc lá. Tôi gán cho bà ta cái tên “Tay Chơi” trong đầu, vì lần đầu tiên nhìn thấy bà ta đang mặc áo phông có dòng chữ “Đừng trách tay chơi -Trách cuộc chơi”. Ngoài Tay Chơi ra thì người sống duy nhất từng xuất hiện trên phố này là một ông bụng bia mặc áo thể thao đen, tít dưới chỗ ngõ cụt, đẩy một thùng rác cao có bánh xe ra vệ đường (mặc dù đáng ra tôi phải cảnh báo với ông ta rằng phố này không bao giờ có xe rác đến. Khi rác đã đấy phè, Xandra bắt tôi xách túi lẻn ra ngoài, ném vào bãi thải chỗ căn nhà mấy năm vẫn còn xây dở cách đấy mấy căn.). Ban đêm, ngoài nhà tôi và nhà Tay Chơi, phố chìm trong bóng đêm. Ở đây bị cắt rời khỏi thế giới văn minh không kém gì cuốn sách mà chúng tôi đọc hồi lớp Ba, về những đứa trẻ của giới khai phá tiên phong trên đồng cỏ Nebraska, chỉ tội chẳng có anh chị em, không có lũ động vật trang trại đáng yêu, cũng chẳng có Ba Má.
Điều khó chịu nhất là bị quẳng ở giữa nơi khỉ ho cò gáy này, không rạp phim, không thư viện, đến cửa hàng tạp phẩm cũng chẳng có luôn. “Ở đây không có xe buýt gì đó hay sao?” một tối tôi hỏi khi Xandra đang đứng trong bếp bóc lớp ni-lông bọc khay cánh gà Atomic Wings và nước chấm phô mai xanh.
“Buýt hả?” Xandra hỏi và liếm vết nước chấm trên ngón tay.
“Không có phương tiện vận tải công cộng nào sao?”
“Không hề.”
“Thế mọi người làm thế nào?”
Xandra nghẹo đầu. “Họ lái xe chăng?” cô ta đáp với giọng đang trả lời một đứa ngu đần chưa hề biết đến ô tô trong đời.
Nhưng cũng có một điểm cộng: bể bơi. Ngày đầu tiên ở đây da tôi đã đỏ dừ chỉ sau một tiếng đồng hồ, dẫn tới một đêm khỏi ngủ trên ga giường mới rất ngứa ngáy. Rút kinh nghiệm sau đó, tôi chỉ bơi khi nào mặt trời bắt đầu lặn. Hoàng hôn ở nơi này rất sặc sỡ và kịch tính, những vệt cam hay đỏ thẫm hay son thắm lối Lawrence trong sa mạc vạch khắp trời rồi đột ngột đêm ụp xuống, đen thui như cánh cửa bị sập mạnh, Con chó Popper của Xandra, chủ yếu cả ngày chỉ sống trong cái lều nhựa màu nâu bên hàng rào nơi có bóng râm, chạy loăng quăng bên bể bơi sủa chóc chóc trong lúc tôi nằm ngửa trên mặt nước, tìm những chòm sao mình biết giữa những mảng sáng lấm chấm hỗn loạn trên đầu: Thiên Cầm, Tiên Hậu, Thiên Yết cong cái đuôi cao chĩa đôi nọc độc, những sơ đồ quen thuộc từ tấm bé đã ru tôi ngủ từ bộ hành tinh dạ quang trên trần phòng ngủ ở New York. Giờ đây, trong một hình hài khác, lạnh lẽo và đường bệ như những vị thần vứt bỏ lớp giả trang, dường như chúng đã bay vọt qua mái nhà lên đến bầu trời, về lại chốn ở đích thực trên thượng giới.
X
TÔI TRỞ LẠI HỌC vào tuần thứ hai tháng Tám. Nhìn từ xa, cái tổ hợp những tòa nhà dài và thấp màu nâu cát nối với nhau bằng những hành lang có mái, nằm giữa hàng rào quây lại, khiến tối nghĩ đến một nhà giam loại hiền lành. Nhưng vừa bước qua cửa, những tấm áp phích màu sắc tươi tắn và hành lang vang tiếng chân đã kịp khiến tôi tưởng như rơi trở lại giấc mơ xưa về trường: những cầu thang chen chúc, ánh sáng lập lòe, lớp sinh học có con Iguana[73]trong bể kính to bằng cỗ đàn dương cầm, những hành lang kê tủ đồ học sinh kề vai san sát, quen thuộc như bối cảnh một bộ phim truyền hình từng xem mê mải - và dù nơi này với trường cũ của tôi chỉ giống nhau trên bề mặt, thì một bước sóng lạ lùng nào đó vẫn mang lại cho tôi cảm giác có thực và an toàn.
Lớp Ngữ văn nâng cao thứ hai đang học Những kỳ vọng lớn lao[74].Lớp của tôi thì đọc Một mình sống trong rừng[75]tôi trốn vào cái lặng lẽ mát rượi bên trong sách, náu khỏi ánh chói gắt như tấm tôn trên sa mạc ngoài kia. Vào giờ ra chơi buổi sáng (cả lũ bị tập hợp lại lùa ra cái sân quây xích gần dãy máy bán hàng tự động), tôi đứng vào góc râm mát nhất còn tìm được cùng cuốn sách bìa mềm rẻ tiền và cầm bút chì đỏ vừa đọc vừa gạch chân những câu khiến trái tim tôi thấm thía nhất: “Phần lớn nhân quần sống những đời đầu hàng lặng lẽ.” “Có một nỗi tuyệt vọng đã thành khuôn mẫu nhưng không được ý thức, ẩn mình ngay trong những gì ta quen coi là trò chơi và giải trí của loài người.”
Thoreau sẽ nghĩ ra sao về Las Vegas, những ánh sáng và ồn ào của nó, những rác rưởi và mơ xa, những hình chiếu và mặt tiền rỗng ruột?
Ngôi trường này mang; cảm giác vô thường đến mức khiến ta chao đảo. Rất nhiều đứa trẻ là con nhà quân nhân hoặc người ngoại quốc, phần lớn là các tay quyền chức được mời đến Las Vegas đảm nhiệm những công việc quản lý hay xây dựng cỡ bự. Một số đứa trong chín mười năm tuổi đời đã kịp sống qua chín mười bang, số khác thì đã từng ở nước ngoài: Sydney, Caracas, Bắc Kinh, Dubai, Đài Bắc. Ngoài ra cũng có một loạt đứa trẻ trai hoặc gái thẹn thò, lúc nào cũng tránh lẩn đằng sau, con cái những người đến đây đổi cảnh quần quật ở nông thôn lấy tấm áo hầu bàn hay hầu phòng khách sạn. Trong cái hệ sinh thái mới này, tiền hay thậm chí cả mặt mũi cũng không phải là yếu tố quyết định ai mới là kẻ nổi nhất trường; điều quan trọng, như tôi dần dà nhận thấy, là ai đã sống ở Vegas lâu nhất - chính vì thế mà mấy cô nhỏ Mexico đẹp chói lóa và đám tiểu thư công tử ngành xây dựng nay đây mai đó thì ngồi ăn trưa một mình, còn đám trẻ bậc trung ngoan ngoãn, con cái dân địa ốc hay ô tô lại lên làm trưởng lớp hay đội cổ động, tầng lớp tinh hoa không ai dám không thừa nhận của trường.
Mỗi ngày đều trong trẻo đẹp đẽ, và khi tháng Chín tới, cái ánh chói gắt đáng ghét đã chuyển qua sáng trong, một sắc màu vàng óng dìu dịu. Thỉnh thoảng tôi ăn trưa với Bàn Tây Ban Nha để luyện tiếng Tây, lúc khác lại ăn ở Bàn Đức dù không biết tiếng Đức, chỉ bởi có vài đứa trong lớp Đức II - con cái những nhà quyền uy ở Deutsche Bank và Lufthansa - đã từng lớn lên ở New York. Trong số các môn học chỉ Ngữ văn là khiến tôi chờ đón, nhưng điều khiến tôi kinh ngạc là rất nhiều trong số lũ bạn học trong lớp không ưa Thoreau, thậm chí chê bai ra miệng ông này, cứ như ông (người từng phát biểu chưa bao giờ học được gì có ích từ một người già) là kẻ thù chứ không phải bạn. Thái độ khinh miệt doanh thương của ông khiến tôi phẫn chí, thì lại chọc cho xù lông khối đứa trẻ không ngại to giọng trong lớp Ngữ văn nâng cao. “Phải đấy,” một thằng bé khó chịu, có mái tóc vuốt keo cứng đờ như mấy nhân vật Bảy viên ngọc rồng hét lên, “thế giới này sẽ tuyệt vời lắm nếu ai cũng bỏ cuộc rồi đi ủ ê trong rừng.
“Tôi-tôi-tôi-tôi‘’ một đứa cuối lớp đai giọng nhõng nhẽo.
“Thế gọi là phản xã hội,” một con bé to mồm háo hức chen ngang, trong tiếng cười rộ vì đứa nhõng nhẽo kia - xoay người trong ghế quay lại đối mặt với cô giáo (một người đàn bà mềm oặt, dài xương, tên là cô Spear, lúc nào cũng đi dép quai hậu nâu và mặc quần áo màu đất, mặt ủ mày chau như mắc chứng trầm cảm kinh niên). “Thoreau lúc nào cũng chỉ giỏi ngồi nhà xí dạy đời rằng sống như ông ta thích thú biết bao...”
“... Bởi vì ‘’ - thằng Ngọc Rồng vẫn chưa nói hết, giờ nó rướn giọng lên khoái chí, “nếu ai cũng bỏ cuộc như ông ta xui khiến thì sao? Cộng đồng loài người sẽ thành cái gì nếu toàn những người như vậy? Chúng ta sẽ chẳng có bệnh viện hay gì cả. Chẳng có đường sá nữa.”
“Vãi hồn,” một giọng lẩm bẩm đúng lúc vang lên, vừa đủ lớn để mọi người xung quanh đều nghe thấy.
Tôi quay lại xem ai vừa nói: một đứa trông bơ phờ ngồi bên kia lớp, đang nằm xoài ra gõ ngón tay lên mặt bàn. Thấy tôi nhìn, nó nhướng một bên mày linh hoạt bất ngờ như muốn hỏi: mày tưởng tượng nổi có lũ đần như thế không?
“Cô nghe thấy đằng kia có ý kiến gì phải không?” Cô spear hỏi.
“Thoreau quan tâm quái gì đến đường sá,” đứa bơ phờ đáp. Khẩu âm của nó khiến tôi giật mình: lơ lớ ngoại quốc, nhưng tôi không xác định được là đâu.
“Thoreau là nhà môi trường chủ nghĩa đầu tiên,” cô Spear nói.
“Cũng là người ăn chay đầu tiên,” một con bé cuối lớp.
“Hèn nào,” một đứa khác. “Quý ngài Nhai Rôm Rốp.”
“Tất cả các cậu hiểu nhầm ý tôi rồi,” thằng Ngọc Rồng tiếp tục phấn khích nói. “Phải có ai đó xây đường sá chứ không chỉ ngồi trong rừng ngắm kiến với muỗi cả ngày. Đấy gọi là văn minh.”
Người hàng xóm của tôi phát ra một tiếng cười gắt, khinh miệt, như tiếng sủa. Nó gầy và trắng bệch, không sạch sẽ lắm, tóc đen rũ bết xuống trước mắt, sắc da trắng phếch bệnh tật của đứa trẻ bỏ nhà, bàn tay nổi chai, móng ray viền đen đã gặm cụt - không giống những đứa đạp ván trượt, tóc sáng bóng, da rám ở trường tôi trên Upper West Side, những đứa học đòi xõa xượi có bố là giám dốc công ty hay phẫu thuật gia nhà ở Đại lộ Công viên, thằng này có thể thả ra vỉa hè ngồi, cầm dây buộc chó hoang cũng không có gi lạc lõng.
“À, về một số câu hỏi đó, các em hãy giở lại trang mười lăm,” cô Spear nói. “Thoreau nói về thí nghiệm sống của ông.”
“Thí nghiệm gì chứ?” Ngọc Rồng nói. “Sống ở trong rừng như ông ta thì khác gì người nguyên thủy sống trong hang động ngày xưa?”
Thằng bé tóc đen cau mặt rồi ngồi sâu vào ghế. Trông nó giống như lũ trẻ có vẻ dạt vòm, đứng chuyển tay nhau thuốc lá ở Phố St. Marks Place, đọ sẹo trên người nhau và xin xỏ tiền lẻ: cũng quần áo rách và cánh tay trắng khẳng khiu, cũng mớ vòng da lồng nhau nơi cổ tay. Vẻ phức tạp đa tầng của chúng là một dấu hiệu tôi không đọc ra, dù ấn tượng chung thì rất rõ: không phải đồng loại, quên đi, tao quá chất so với mày, đừng phí công bắt chuyện. Đấy là ấn tượng sai lạc đầu tiên của tôi về người đã trở thành bạn duy nhất ở Vegas, và như sau này thấy, một trong những người bạn quan trọng nhất đời tôi.
'' Tên nó là Boris. Tình cờ chúng tôi lại đứng cạnh nhau trong đám học sinh đợi xe buýt về nhà sau giờ học.
“Ha. Harry Potter,” nó nói sau khi quan sát tôi một vòng.
“Câm mồm đi,” tôi uể oải đáp. Không phải lần đầu tiên tôi được nghe câu so sánh này ở đây. Quần áo lối New York trên người - đồ kaki, sơ mi trắng thẳng tắp, cặp kính mai rùa mà không may thay tôi không bỏ được - khiến tôi trông như một thằng quái nhân giữa một nơi ai cũng mặc ba lỗ đi dép xỏ ngón.
“Chổi của mi đâu?”
“Quẳng lại Hogwarts rồi,” tôi đáp. “Mày sao? Ván mày đâu?”
“Ê?” nó hỏi và ghé lại gần, vành bàn tay ra sau tai giả dạng ông già điếc. Nó cao hơn tôi nửa đầu; bên cạnh ủng đi rừng và quần rằn ri cũ rất quái dị, đầu gối xơ cả ra, nó còn mặc áo phông đen rách rưới có logo ván trượt tuyết và dòng chữ Không biết hè kiểu Gô-tich màu trắng.
“Áo mày,” tôi khẽ hất đầu. “Trong sa mạc tha hồ mà trượt nhỉ.”
“Nồ,” Boris đáp, phẩy mớ tóc đen lòa xòa khỏi mắt. “Tau đếch biết trượt. Tau chỉ ghét nắng thôi.”
Rốt cuộc chúng tôi ngồi xe cùng nhau về nhà, trên dãy ghế sát cửa ra - rõ ràng là chỗ không ai ưa vì bọn trẻ đều xô huých nhau lao xuống hàng cuối, nhưng cả đời tôi chưa đi xe buýt đến trường bao giờ và xem ra nó cũng thế, bởi có vẻ nó cũng nghĩ rằng quăng mình xuống cái ghế trống đầu tiên trước mặt là tự nhiên nhất đời. Trong một lát chúng tôi không nói năng gì, nhưng đường đi rất xa và cuối cùng thì cũng phải bắt chuyện. Hóa ra nó cũng sống ở dưới Bóng Vực, nhưng xa hơn, ở đầu kia, đầu đang bị hoang mạc giành giật lại, có rất nhiều nhà chưa xây xong và cát lồng lộn đầy phố.
“Mày ở đây bao lâu rồi?” tôi hỏi. Ở trường này đứa nào cũng hỏi nhau câu đó, như thể hỏi án tù.
“Chả biết. Hai tháng gì đấy?” Dù nó nói tiếng Anh rất lưu loát, nặng âm Úc, vẫn có một âm điệu ngầm bên dưới, tăm tối và lè nhè, khiến tôi nghĩ đến Bá tước Dracula, hay có khi là đặc vụ KGB. “Mi ở đâu ra đấy?”
“New York,” tôi nói - và được đển đáp bằng ánh mắt đánh giá lại lặng lẽ, cặp lông mày trẩm xuống như muốn nói: được đó. “Còn mày thì sao?”
Nó trề môi. “Để coi coi,” nó nói, thả phịch người xuống ghế và giơ ngón tay tính từng nước. “Tau đã ở Nga, Scotland có lẽ cũng tạm nhưng tau chả nhớ gì, Úc, Ba Lan, New Zealand, hai tháng ở Texas, Alaska, New Guinea, Canada, Ả rập Xê út, Thụy Điển, U tức Ukraina...”
“Chúa ơi.”
Nó nhún vai. “Nhưng chủ yếu vẫn là Úc, Nga, U tức Ukraina. Ba chỗ đó.”
“Mày biết tiếng Nga không?”
Nó làm cử chỉ mà tôi nghĩ là tàm tạm. “Tiếng U nữa, với Ba Lan. Dù tau cũng sắp quên ráo rồi. Hôm vừa nghĩ ‘con chuồn chuồn’ là cái gì mà chịu chết.”
“Nói thử gì đó xem nào.”
Nó làm theo, một chuỗi âm thanh lủng khủng trong họng, dâm dấp bọt.
“Nghĩa là sao?”
Nó cười khùng khục. “Nghĩa là ‘Thông đít nhà mi.”
“Thật á? Tiếng Nga à?”
Nó cười lớn, phô ra bộ răng ám khói rất không-Mỹ. “Tiếng U đấy.”
“Tao cứ tưởng ở Ukraina người ta nói tiếng Nga.”
“Ờ, cũng tùy xó. Hai thứ đó cũng không khác quá. Ầy...” - tặc lưỡi, đảo mắt - “không khác nhiều. Số, thứ trong tuần với một số chữ thì khác. Tên tau viết tiếng U kiểu khác, nhưng ở Bắc Mỹ viết kiểu Nga dễ hơn, Boris, không phải ‘Borys’. Ở phương Tây ai cũng biết Boris Eltsin... ” - nó nghiêng đầu -“Boris Becker... ”
“Boris Badenov... ”
“Hừm?” nó bật lên và quay ngoắt lại như thể vừa nghe chửi.
“Bullwinkle ấy? Boris và Natasha?”
“À phải. Công tước Boris! Chiến tranh và hòa bình. Tau được đặt tên theo ông đó. Nhưng họ ông là Drubetskoy chứ không phải cái mi nói’’[76]
“Thế tiếng mẹ đẻ của mày là gì? Ukraina à?”
Nó nhún vai. “Chắc Ba Lan,” nó nói và lại ngả người sau ghế, lắc đầu hất mớ tóc đen sang một phía. Mắt nó dữ tợn nhưng lại tinh nghịch, và rất đen. “Mẹ tau người Ba Lan, ở Rzeszów, gần biên giới Ukraina. Tiếng Nga, tiếng U-mi biết U từng là vệ tinh của Nga Xô đó, nên tau biết cả hai. Nga thì không nhiều lắm - tiếng đó đem chửi bới là chuẩn nhất. Mấy cái tiếng Xlavơ á, Nga, U, Ba Lan, với Séc nữa, mi biết một là đủ hiểu sơ sơ cả rồi. Nhưng giờ tau thấy Anh dễ nhất.
Ngày xưa thì ngược lại.”
“Mày thấy nước Mỹ thế nào?”
“Thấy ai cũng cười rách mồm luôn! Ờ, thì không hẳn ai cũng thế.
Mi ít hơn. Tau nghĩ làm thế trông ngu vãi.”
Nó cũng là con một, như tôi. Bố nó (sinh ở Siberia, nguyên quán Novoagansk ở Ukraina) làm về khai thác và tìm kiếm mỏ. “Làm to, oách xà lách lắm - ông đi khắp thế giới.” Mẹ của Boris, là vợ hai của bố nó, đã mất.
“Mẹ tao cũng thế,” tôi nói.
Nó nhún vai. “Mẹ tau chết từ đời tám hoánh nào rồi,” nó nói. “Bả nghiện cồn. Một đêm bả say, ngã ra ngoài cửa sổ chết ngoém.”
“Uầy” tôi đáp, hơi sững người khi thấy nó kể thản nhiên đến vậy. “Ờ, chối tỉ lắm,” nó nói hờ hững, nhìn ra cửa sổ.
“Thế tóm lại mày người nước nào?” tối hỏi sau một thoáng im lặng. “Hửm?”
“À, nếu mẹ mày Ba Lan, còn bố mày Ukraina, còn mày sinh ở Úc, thế thì mày là...”
“Indonesia,” nó nói và cười hiểm độc. Nó có cặp mày rất đen, rất biểu cảm, rất quỷ quái, không ngừng nhúc nhích trong lúc nói.
“Sao thế được?”
“Ờ, tau có hộ chiếu U. Tau cũng có cả quốc tịch Ba Lan nữa. Nhưng chỗ tau muốn về, là Indonesia kìa,” Boris nói và hất tóc khỏi mắt. “Ờ... PNG.”
‘’Hả?’’
“Papua New Guinea. Trong mọi chỗ tau đã sống thì ở đó khoái nhất.”
“New Guinea à? Tao tưởng có bọn săn đầu người.”
“Không còn đâu. ít nhất thì cũng không nhiều. Vòng tay ở đó này,” nó nói và chỉ vào một trong vô số dây da màu đen trên cổ tay. “Bạn tau Bami làm cho tau đấy, ông nấu bếp cho nhà tau.”
“Ở đấy thế nào?”
“Không tệ,” nó nói và liếc xéo tôi bằng ánh mắt ầm ù, thích chí quen thuộc. “Tau nuôi vẹt. Ngỗng nữa. Bắt đầu học lướt sóng. Nhưng rồi sáu tháng trước, ông già xách cổ tau đến cái chỗ bẩn bẩn ở Alaska. Bán đảo Seward, ngay dưới Vòng Bắc Cực? Rồi giữa tháng Năm lại bay về Fairbanks bằng máy bay cánh quạt, xong rồi đến đây.”
“Uầy,” tôi nói.
“Trên đấy chán hộc máu luôn,” nó tiếp. “Cá thì chết, mạng thì chậm như ốc sên bò. Đáng ra tau phải bỏ nhà ra đi. Giá mà tau đã bỏ nhà ra đi,” nó chua chát nói.
“Bỏ đi rồi làm gì?”
“Ở lại New Guinea chứ sao. Sống trên bãi biển, ơn trời không phải ở lại đó cả mùa đông. Có hồi mấy năm trước nhà tau lên bắc, tức là Canada ấy, tít trên Alberta, thị trấn có nhõn một phố cạnh sông Pouce? Trời lúc nào cũng đen kịt, từ tháng Mười đến tháng Ba, chả có cái méo gì mà làm, suốt ngày đọc sách với nghe CBC. Muốn giặt giũ phải chạy xế hộp đến năm chục cây số. Mà..-nó cười lớn - “so với Ukraina thì còn tốt chán. Như bãi Miami luôn.”
“Mày bảo bố mày làm gì nhỉ?”
“Việc chính là nhậu,” nó hậm hực đáp.
“Vậy có lẽ hợp bố tao.”
Lại tiếng cười đột ngột như bùng nổ - cứ như nó đang phun vào mặt người đối diện. “Ờ. Được. Gái nữa?”
“Cũng không lạ,” tôi đáp sau một thoáng im lặng giật mình. Dù những điều bố làm không còn gì khiến tôi ngạc nhiên mấy, nhưng cũng chưa bao giờ tôi hình dung rõ ông la cà ở mấy chỗ Cô Gái Trong Mơ hay Câu Lạc Bộ Các Quý Ông vẫn thỉnh thoảng đi qua trên đường lớn.
Xe dần vãn người, chỉ mấy phố nữa là về đến nhà tôi. “Tao phải xuống đây rồi,” tôi nói.
“Về nhà tau xem tivi không?” Boris hỏi.
“À...”
“Đi nào. Chả có ma nào đâu. Tau có đĩa S.O.S. Iceberg đấy.”
XI
XE BUÝT THỰC RA KHÔNG ĐI đến hết Bóng Vực là nơi Boris sống. Phải đi bộ hai mươi phút từ bến cuối mới về nhà nó, giữa cái nóng như thiêu, qua những đường đầy cát. Mặc dù phố nhà mình có cả đống biển “Tịch thu trừ nợ” hay “Bán nhà” (đêm đến, tiếng radio trên xe vang xa đến hàng dặm) nhưng tôi vẫn chưa hình dung được hết mức độ rợn người khi tới những góc xa nhất trong Bóng Vực: một thị trấn đồ chơi teo lại bên rìa sa mạc dưới vòm trời dọa dẫm. Phần lớn các nhà ở đây trông như chưa có người sống bao giờ. Những nhà còn lại chưa xây hết, cửa sổ lởm chởm không lắp kính, giàn giáo khắp quanh nhà, tường xám xịt giữa luồng cát bay, hàng chồng xi măng và vật liệu xây dựng màu vàng chất trước nhà. Các cửa sổ đóng ván càng làm tăng dáng vẻ mù lòa, xơ xác, khấp khểnh, như những bộ mặt băng bó vì thương tích. Chúng tôi càng đi thì cảm giác thê lương càng thêm kinh rợn, cứ như viếng thăm một hành tinh đã bị phóng xạ hay đại dịch quét sạch dân.
“Chúng nó xây chỗ này quá xa,” Boris nói. “Giờ thì sa mạc đang chiếm lại. Nhà băng nữa.” Nó cười. “Thoreau biết đếch gì, hửm?”
“Cả thị trấn này là một ngón tay thối chĩa vào Thoreau.”
“Tau cho mi biết người phải ngửi thối là ai. Là những ai mua mấy cái cục nhà kia kìa. Ở đấy thậm chí cũng không dẫn nước ra được nữa.
Nhà bị lấy lại hết là vì chủ không trả tiền nổi - nên ông già tau mới thuê được rẻ bèo.”
“Hà,” tôi đáp sau một thoáng im lặng sững người. Chưa bao giờ tôi tự hỏi tại sao bố lại đủ tiền mua một căn nhà lớn đến như vậy.
“Ông già tau đào mỏ,” bất chợt Boris nói.
“Gì cơ?”
Nó gạt mớ tóc đen đẫm mồ hôi khỏi mặt. “Ai cũng ghét nhà tau, đi đâu người ta cũng ghét. Vì lúc nào cũng hứa mỏ không hại đến môi trường, nhưng cuối cùng toàn hứa cuội. Nhưng mà ở đây thì,” nó nhún vai kiểu cam chịu số phận, một cách đặc Nga, “má ơi, cái hố cát này thì đứa chết toi nào quan tâm?”
“Hà,” tôi đáp và giật mình thấy giọng cả hai vang vang trên con phố không người, “ở đây đúng là trống không, hử?”
“Ừa. Không khác chi cái nghĩa địa. Ngoài nhà tau ra thì có đúng một nhà khác - đằng kia kia. Ô tô tải bự chảng trước mặt, thấy không? Tau nghĩ là dân nhập cư chui ráo cả.”
“Mày với bố mày thì hợp pháp chứ?” Đấy bị coi là một vấn nạn ở trường: nhiều đứa học sinh cũng thuộc diện nhập cư bất hợp pháp, trên hành lang có dán áp phích nói vụ này.
Nó phì một tiếng khinh miệt. “Tất lẽ dĩ ngẫu. Mỏ lo hết vụ đó rồi. Hoặc ai đó lo. Nhưng đám kia à? Phải đến hai ba chục mạng, toàn đàn ông, chui rúc trong cái nhà đó. Tau nghĩ là buôn hàng cấm đấy.”
“Mày nghĩ thế à?”
“Dù sao thì cũng bốc mùi,” Boris đáp giọng rùng rợn. “Tau chỉ biết thế thôi.”
Nhà Boris, giữa hai lô đất trống ngập đầy rác, cũng khá giống nhà của bố và Xandra: thảm trải kín sàn, đồ điện mới sáng bóng, kết cấu các phòng giống nhau, đồ đạc chả mấy. Nhưng vào trong thì quá ấm đến thành khó chịu; bể bơi cạn nước, dưới đáy cát dày chục tấc, không thèm có sân, cả xương rồng cũng không. Tất cả các bề mặt hướng lên trên - đồ điện, mặt bếp, sàn bếp – đều phủ một lớp bụi mịn.
“Uống gì không?” Boris hỏi, mở tủ lạnh cho thấy một hàng bia Đức lấp lánh.
“Òa, cám ơn mày.”
“Ở New Guinea,” Boris nói và đưa mu bàn tay quệt trán, “cái hồi tau sống ở đấy? Lụt lớn lắm. Rắn... kinh khủng và rất độc... mìn Thế chiến hai chưa nổ, nổi lềnh bềnh... ngỗng ngoẻo hàng loạt. Thêm nữa..- nó nói và bật nắp chai - “nước không uống được. Mầm uốn ván. Còn lại mỗi bia - Pepsi hết, Lucozade hết, thuốc i-ốt hết, ba tuần liền, ông già với tau, cả hội đạo Hồi nữa, chỉ có vật bia ra nhậu! Sáng bia, trưa bia, cả ngày chỉ có bia.”
“Nghe cũng đâu đến nỗi.”
Nó nhăn mặt. “Nhức đầu tối ngày. Bia trong vùng, ở New Guinea ấy - uống muốn ọe luôn. Ngon phải là cái này này! Tủ đá có vodka đấy.”
Tôi định bảo ừ để gây ấn tượng, nhưng rồi nghĩ đến cái nóng và con đường về nhà, đành bảo, “Thôi.”
Nó cụng chai với tôi. “Mi chuẩn đấy. Ban ngày nóng uống không nổi đâu. Ông già tau uống đến nỗi thần kinh bàn chân tiêu hết trơn.”
“thật hả?”
“Cái đó gọi là...” - nó nhăn tít mặt để rặn mấy chữ đó ra - “rối loạn thần kinh ngoại vi” (nó phát âm là thầng kinh ngoại gi). “Ở Canada, bác sĩ ở bệnh viện phải dạy ông già tau tập đi đấy Ông đứng dậy, ông ngã cái oạch, ông chảy máu mũi, vui thôi rồi.”
“Nghe rất có tính giải trí,” tôi nói và nhớ lại những lần đã thấy bố mình bò cả bốn chân tay đi lấy đá trong tủ lạnh.
“Siêu giải trí ấy chứ. Thế ông uống chi? Ông già mi ấy?”
“Scotch. Hồi còn uống. Nghe đồn giờ bỏ rồi.”
“Ha,” Boris đáp, như thể đã từng nghe bài này. “Ông già tau cũng nên đổi đi - Scotch ngon ở đâv rẻ bèo. Này, muốn lên xem phòng tau không?”
Tôi cứ nghĩ sẽ thấy gì đó từa tựa như phòng mình, nên rất ngạc nhiên khi nó mở cửa vào một không gian căng lều lộn xộn, đầy mùi Marlboro hẩm, sách chất đống tứ phía, chai bia lầu ngày, gạt tàn, cả đống khăn và quần áo bẩn tứ tung trên thảm. Tường giăng vải hoa phồng lên - vàng, xanh, chàm, tím - và một lá cờ búa liềm đỏ căng bên trên tấm đệm phủ vải batik. Cứ như một nhà du hành vũ trụ Nga vừa bị rơi tàu giữa rừng già châu Á, làm tạm chỗ trú bằng quốc kỳ và bất cứ thứ xà rông hay vải vóc bản địa nào vớ được.
“Do mày làm tất à?” tôi hỏi.
“Tau gập nó lại bỏ vào vali,” Boris đáp, lăn đùng lên tấm đệm màu sắc rối ren. “Lôi ra dựng lại mất có mười phút. Mi muốn xem S.O.S. Iceberg không?”
“Ừ.”
“Phim siêu đỉnh luôn. Tau xem sáu lần rồi. Cái đoạn cổ lên máy bay bay ra cứu đám mắc kẹt trên băng ấy?”
Nhưng rồi chúng tôi không xem S.O.S. Iceberg chút nào chiều hôm ấy, có lẽ vì không có lúc nào ngừng nói chuyện đủ lâu để xuống nhà bật tivi lên. Boris đã sống một cuộc đời kỳ thú hơn bất cứ thằng nhóc nào cùng tuổi mà tôi từng gặp. Hình như nó chỉ đến trường được chăng hay chớ, và lúc nào cũng là những trường dưới đáy xã hội: nhiều xó xỉnh hoang vu mà ông bố làm việc còn chẳng có trường sở nào. “Có băng ghi âm?” nó hỏi và tu một ngụm, mắt nhìn tôi. “Vẫn phải làm bài thi. Cái khó là phải có mạng mà ở Canada hay U thì không phải lúc nào cũng có.”
“Thế mày làm thế nào?”
Nó nhún vai. “Đọc sách, chắc vậy.” Một thầy giáo ở Texas đã kiếm được chương trình học trên mạng xuống cho nó.
“Ở Alice Springs chắc phải có trường chứ.”
Boris cười. “Tất nhiên có,” nó nói và thổi phù một dúm tóc ướt mồ hôi khỏi mặt. “Nhưng bà già chết rồi thì ông già xách tau lên bắc Úc một hồi, Arnhem Land ấy, thị xã Karmeywallag cái khỉ gì đó? Thị với chả xã. Hàng dặm đồng không mông quạnh, dân mỏ sống ở nhà xe di động hết, có một trạm xăng đèo quán bar sau lưng, bán mỗi bia với uýt ki và xăng-uých. Nhưng mà, vợ tay Mick chủ bar, tên Judy gì đó? Tau cả ngày” - nó tu một tợp rất ồn ào - “tau cả ngày xem phim sến với Judy, ngày nào cũng thế, đến tối thì ở sau quầy với bả trong lúc ông già với đám thợ mỏ uống khướt. Đến khi gió mùa thì tivi cũng tiêu luôn. Judy phải bỏ băng trong tủ lạnh cho khỏi hỏng.”
“Sao mà hỏng?”
“Thì ẩm, mốc. Mốc mọc trên giày, trên sách.” Nó nhún vai. “Hồi đó tau không tía lia như giờ đâu, vì tiếng Anh của tau lởm lắm. Lúc nào cũng ngượng, ngồi rúc một mình trong xó. Còn Judy ấy à? Bả vẫn chuyện trò với tau, tử tế lắm, dù bả nói gì tau chả hiểu. Sáng sáng tau đến chỗ bả, bả rán đồ cho tau ăn, ngon là, hôm nào cũng thế. Mưa mưa mưa. Quét nhà, rửa bát, phụ lau quầy. Đi đâu tau cũng tò tò theo như ngỗng con. Đây là chén, đây là chổi, đây là ghế, đây là bút chì. Trường học của tau là thế. Truyền hình - các băng Duran Duran và nhạc Boy George - tất cả bằng tiếng Anh. McLeod’s daughters là phim bả thích nhất. Suốt ngày xem cùng nhau, mà chỗ nào tau không hiểu? Bả giải thích. Rồi bả với tau đàm luận về mấy chị em, rồi bà khóc lúc Claire bị xe tông chết, rồi bả bảo nếu có cái nhà to như nhà Drover ấy? bả sẽ đưa tau đến đó sống, với một đống cô giúp việc, y như nhà McLeod. Bả trẻ lắm, đẹp lắm. Tóc vàng, quăn, mắt bôi xanh xanh. Ông chồng gọi bả là đĩ với cứt chó nhưng tau thấy bả trông y như Jodi trên phim. Cả ngày bả nói chuyện với tau, hát nữa - dạy tau mấy bài trong máy nhạc thuộc hết trơn. ‘Thành phố tối đen, đêm đang sống...’ ít lâu là tau nói tuốt luốt. Boris nói tiếng Anh đi! Ở Ba Lan tau học nhớ được có tí ti, hế lô - ếch sờ cu mi - canh thiu không ai múc, nhưng ở với bả hai tháng tau đã nói vèo vèo vèo! Đó giờ chưa ngừng nói! Bả dễ thương lắm, tốt với tau lắm. Dù hôm nào bả cũng vào bếp khóc, vì bả chúa ghét Karmeywallag.”
Đã chiều tối, nhưng trời vẫn sáng và nóng. “Này, tau đói ngấu rồi,” Boris nói và đứng dậy, duỗi người làm hở ra một mảng bụng giữa quần rằn ri và áo phông rách: hóp vào, trắng phớ, như bụng ông thánh nhịn đói.
“Có gì ăn?”
“Bánh mì với đường.”
“Mày đùa à.”
Boris ngáp và dụi đôi mắt đỏ. “Mi chưa ăn bánh mì rắc đường bao giờ à?”
“Không có gì nữa à?”
Nó nhún vai chán chường. “Tau có phiếu giảm giá pizza. Nhưng chúng nó chả giao hàng đến xó này đầu.”
“Tao cứ tưởng mày từng có đầu bếp.”
“Ừa, có. Ở Indonesia. Ả rập Xê út nữa.” Nó đang hút thuốc - tôi đã lắc đầu khi nó mời tôi; trông nó có vẻ phê rồi, đang dật dờ nhún nhảy quanh phòng như theo nhạc, dù không bật nhạc. “Ổng xịn cực, tên Abdul Fataah. Nghĩa là ‘Kẻ hầu hạ đấng mở cổng sung túc.’”
“Thế này nhé. Về nhà tao ăn đi.”
Nó phi người xuống giường, tay bỏ giữa hai đầu gối. “Gà móng đỏ nhà mi biết nấu chắc?”
“Không, nhưng cô ta làm trong bar có tiệc búp phê. Thỉnh thoảng mang đồ ăn về nhà.”
“Tuyệt cú mèo,” Boris nói và hơi lảo đảo lúc đứng dậy. Nó đã cạn ba chai bia, đang dở chai thứ tư. Đến cửa, nó lấy ô, đưa thêm tôi một cái.
“Cái này làm gì?”
Nó mở ô, bước ra ngoài. “Đi dưới ô thì mát hơn,” nó nói, mặt xanh lét trong bóng ô. “Tránh bỏng nắng.”
XII
TRƯỚC KHI GẶP BORIS, tôi đã chịu đựng cảnh cô độc với tính điềm tĩnh khắc kỷ, không thực sự nhận ra mình cô đơn đến mức nào. Và tôi nghĩ chắc nếu tôi hoặc nó được sống trong một ngôi nhà chỉ cần phần nào bình thường, có giờ đi ngủ, có việc phải làm, có người lớn trông coi, chắc chúng tôi đã không bập vào nhau lập tức không rời như thế, nhưng sự thực là từ ngày đó chúng tôi đã thành một cặp bài trùng, cơm cùng chia, tiền có tí ít ỏi nào cùng tiêu tí nấy.
Hồi ở New York tôi cũng đã gặp nhiều đứa trẻ rất sành sỏi - đã sống ở nước ngoài, biết ba bốn thứ tiếng, mùa hè đi học ở Heidelberg, nghỉ mát ở những nơi như Rio hay Innsbruck hay mũi Antibes. Nhưng Boris, như một thuyền trưởng già lão luyện, tỏa ánh hào quang khiến chúng đều thành mờ nhạt. Nó đã từng cưỡi lạc đà, ăn sâu đuông, chơi cricket, mắc sốt rét, sống ngoài đường ở Ukraina (“nhưng chỉ hai tuần thôi”), tự mình châm thuốc nổ, bơi dưới sông Úc đầy cá sấu răng nhọn. Nó đã đọc Chekhov bằng tiếng Nga và những người tôi chưa từng nghe tên bằng tiếng Ukraina và Ba Lan. Nó đã sống qua đêm đen giữa đông ở Nga khi nhiệt độ xuống còn âm bốn mươi độ: bão tuyết không ngơi nghỉ, tuyết, băng đen, niềm vui duy nhất là cây cọ bằng đèn neon xanh lét thắp hai tư trên hai tư ngoài cửa quán bar tỉnh lẻ mà ông bố ưa ghé vào. Dù chỉ hơn tôi có một tuổi - tức mười lăm - nó đã thực sự ngủ với một đứa con gái ở Alaska, sau khi hỏi xin điếu thuốc trong bãi gửi xe một cửa hàng tiện lợi. Cô ta hỏi nó có muốn vào xe ngồi cùng mình không, rồi thi đấu vào đó. (“Nhưng nói riêng với mi nhé?” nó nói và phì khói ra mép. “Tau không nghĩ là bả thích thú lắm đâu.”
“Mày thì sao?”
“Ấy, có chứ. Nhưng mà nói riêng với mi, tau biết là mình làm hỏng kiểu hết trọi. Tau nghĩ chắc do xe chật quá.”)
Hôm nào chúng tôi cũng ngồi cùng nhau trên xe về. Ở Nhà văn hóa cộng đồng xây dở trên rìa Khu Biệt thự Desatoya, nơi các cửa ra vào đều khóa và các chậu cọ đều đã chết quắt queo, có một sân chơi bỏ không để chúng tôi mua nước ngọt và kẹo que đã chảy trong những máy bán hàng mỗi ngày lại vợi đi, hoặc ngồi trên đu ngoài trời, hút thuốc và tán phét. Tính khí cáu bẳn và tâm trạng ủ dột khá thường xuyên của nó xen kẽ cùng những đợt cười ha hả rất thiếu tỉnh táo; nó rồ dại và ủ ê, nó đôi lúc khiến tôi cười muốn quặn ruột, và lúc nào chúng tôi cũng mải mê trò chuyện đến nỗi thường quên cả thời gian, nói đến khi trời đã tối mịt. Ở Ukraina nó từng chứng kiến một ông dân biểu bị bắn thủng ruột khi đang đi về phía xe hơi - nhìn tận mắt luôn, không thấy kẻ bắn, chỉ thấy ông vai rộng mặc áo khoác chật ních ngã sụp xuống giữa bóng tối và tuyết. Nó kể về cái trường nhỏ tí lợp tôn ở gần khu tự trị da đỏ Chippewa ở Alberta, hát cho tôi nghe bài hát ru bằng tiếng Ba Lan (“Ở Ba Lan, bài tập về nhà của bọn tau là học thuộc bài thơ hay bài hát nào đó, hoặc là cầu nguyện, kiểu đó”), dạy tôi chửi tục bằng tiếng Nga (“Đấy là mat thứ thiệt, ở nhà tù gulag đấy”). Nó còn kể chuyện ở Indonesia đã được ông bạn đầu bếp Bami giúp cải đạo sang Hồi giáo: bỏ thịt lợn, ăn chay tháng Ramadan, cầu nguyện hướng về Mecca năm lần một ngày. “Nhưng giờ thì tau bỏ Hồi rồi,” nó giảng giải và lê ngón chân cái trong bụi. Chúng tôi đang nằm ngửa trên sàn đu quay, đầu còn ong ong vì chóng mặt. “Bỏ lâu rồi.”
“Tại sao?”
“Vì tau có uống tí chút.” (Đây phải gọi là nói giảm nói tránh hết cỡ: Boris uống bia như bọn trẻ khác uống Pepsi, tính từ lúc chúng tôi về đến nhà sau giờ học.)
“Nhưng ai quan tâm?” tôi hỏi. “Sao phải nói cho họ biết?”
Nó khụt khịt mũi bực mình. “Vì theo đạo mà không theo giới luật là không tốt. Như thế là bất kính với đạo Hồi.”
“Đã sao. Boris xứ Ả rập - nghe sang đấy chứ.”
“Mi điên à.”
“Không, tao hỏi thật đấy,” tôi nói và cười lớn, chống khuỷu tay nhỏm dậy. “Mày tin hết mấy thứ đó à?”
“Mấy thứ gì?”
“Mấy thứ đấy. Thánh Allah với tiên tri Muhammad. ‘Không có Thượng đế nào khác ngoài Allah’...?”
“Không,” nó đáp, tức giận, “tau theo Hồi vì lý do chính trị.”
“Hả, như thằng đánh bom bằng giày đó á?”
Nó hừ mũi cười. “Vãi nồi, không đâu. Hơn nữa đạo Hồi không tuyên giảng bạo lực.”
“Thế thì là gì?”
Nó tuột khỏi đu quay, mắt cảnh giác: “Mi nói gì là gì? Ý mi muốn nói gì?”
“Bình tĩnh! Tao chỉ hỏi thôi mà.”
“Hỏi gì?”
“Nếu mày còn cải đạo các kiểu, thế thì mày tin gì?”
Nó lại thả người xuống, bật cười như vừa được tôi buông tha. “Tin gì à? Hừ! Tau chẳng tin cái đếch gì.”
“Hử? Mày nói bây giờ á?”
“Bây giờ và chưa bao giờ. ừ... có lẽ là Mẹ đồng trinh một tí. Nhưng còn Allah với Thiên Chúa ư...? Chẳng tin lắm.”
“Thế vì cái quái gì mà mày lại muốn theo Hồi?”
“Bởi vì…” nó chìa tay, một động tác quen thuộc khi nó không biết phải làm sao “vì họ là những người tuyệt vời, họ tốt với tau lắm!”
“Cũng phải thế chứ.”
“Không, tau nói thật đấy. Họ đặt tên Ả rập cho tau nữa - Badr al-Dine. Badr là mặt trăng, như kiểu là ánh trăng trung tín ấy, nhưng họ còn bảo là, ‘Boris à, cậu là badr vì cậu chiếu sáng khắp nơi, sau khi cải theo hồi giáo, cậu thắp sáng thế giới bằng niềm tin của mình, cậu đi đến đâu tỏa sáng đến đấy.’ Tau thích thế, tau thích làm badr. Hơn nữa thánh đường rất đẹp nhé. Một cung điện cũ kỹ - sao chiếu qua, ban đêm - chim ở trên mái. Một ông già người Chà Và dạy kinh Koran cho bọn tau. Họ cũng cho tau ăn nữa, tốt lắm, tắm rửa cho tau, cho tau quần áo sạch. Thỉnh thoảng tau ngủ gật trên thảm cầu nguyện. Và đến giờ salah, bình minh sắp lên, lũ chim thức dậy, tiếng đập cánh khắp nơi!”
Dù cái khẩu âm Ukraina pha Úc của nó rất kỳ, nhưng nó nói tiếng Anh trơn tru gần bằng tôi, và nếu tính đến chuyện mới ở Mỹ được ít lâu thì nó đã khá thành thục trong các điệu bộ amerikanskii[77]. Nó liên tục giở cuốn từ điển bỏ túi đã nát (trên đầu có viết nguệch ngoạc tên nó bằng chữ Xlavơ, với tiếng Anh nắn nót viết bên dưới: BORYS VOLODYMYROVYCH PAVIKOVSKY), còn tôi chốc chốc lại bắt được khăn giấy mua từ 7-Eleven cũ cùng những mẩu giấy vụn chép hàng loạt từ và thuật ngữ nó viết ra:
bridle and domesticate
celerity
trattoria
wise guy = Kpymoă naiịau
propinquity
Dereliction ofdutf[78]
Khi nào từ điển không đáp ứng được thì nó quay sang tôi. “Sophomore là gì?” nó hỏi tôi khi săm soi bảng tin trên hành lang. “Home Ec? Poly Sci?” (nó phát âm nghe như “politzei”).[79] Hầu hết các món ăn trong căng tin nó chưa bao giờ nghe nói: fajita, falagel, tetrazzini gà tây[80]. Dù biết nhiều về phim ảnh âm nhạc nhưng nó đi sau thời đại đến hàng thập niên; nó chẳng có tí kiến thức nào về thể thao hay truyền hình, và ngoài vài nhãn xe châu Âu lớn như Mercedes hay BMW, chẳng phân biệt được ô tô nào với nhau. Tiền Mỹ làm nó hoàn toàn rối trí, cả địa lý Mỹ đôi khi cũng vậy: California thuộc tỉnh nào? Tôi có giải đáp được cho nó thành phố nào là thủ phủ của New England không?
Nhưng nó đã rất quen ở một mình. Thức dậy đến trường, vẫy xe đi học, tự ký bảng điểm, chôm đồ ăn và sách vở ở siêu thị, mọi thứ nó đều làm một mình rất vui vẻ. Cứ khoảng tuần một lần chúng tôi lại đi bộ hàng dặm dưới cái nóng chết ngộp, náu dưới ô như những người dân bộ lạc Indonesia, tới bắt chuyến xe buýt địa phương chui rúc tên CAT mà theo tôi hiểu thì chẳng ai dùng đi tới chỗ chúng tôi ngoài tụi say, những người quá nghèo không đủ tiền mua ô tô, và tụi nhóc tì. Xe chạy lúc có lúc không, nếu lỡ chuyến chúng tôi sẽ phải đứng rất lâu chờ chuyến tới, nhưng nếu lên được sẽ chở tới một trung tâm thương mại có siêu thị rét run, lấp lánh, thiếu nhân viên, ở đó Boris sẽ chôm cho cả hai thịt sườn, bơ, trà hộp, dưa chuột (với nó là món ăn ngon tuyệt), từng gói thịt xông khói - và có lần cả thuốc ho vì tôi bị cảm - luồn vào lần lót trong cái áo mưa xám xấu kinh người (áo của người lớn, nó mặc quá rộng, vai bị xuôi xuống mang dáng dấp Đông Âu nghiêm nghị gợi về thực phẩm theo tem phiếu và những nhà máy thời Xô viết, những tổ hợp công nghiệp ở Lviv hay Odessa). Trong lúc nó đi quanh phòng thì tôi đứng gác đầu dãy kệ, run bắn lên đến nỗi thỉnh thoảng tôi còn sợ mình sắp ngất - nhưng chẳng mấy chốc chính tôi cũng đã ních đầy túi táo và sô-cô-la (cũng là những món khoái khẩu của Boris) trước khi trơ trẽn đi lại quầy trả tiền cho bánh mì và sữa cùng những món quá lớn không thủ túi được.
Hồi ở New York, quãng mười một tuổi gì đó, mẹ đã cho tôi đi học lớp Trẻ con vào bếp ở trại hè ban ngày, ở đó tôi học cách nấu vài món đơn giản: hamburger, phô mai nướng (thỉnh thoảng vẫn làm cho mẹ những đêm về khuya), và thứ mà Boris gọi là “trứng và bánh nướng". Boris ngồi trên bệ bếp, gõ gót chân vào tủ dưới và nói chuyện trong lúc tôi nấu, rồi đảm nhiệm phần dọn rửa. Hồi ở Ukraina, nó kể, đôi khi nó phải móc túi người khác để có tiền mua đồ ăn. “Hai ba lần bị rượt toe khói,” nó nói. “Nhưng chưa bị chộp lần nào.”
"Có khi lúc nào xuống Dải đi,” tôi nói. Chúng tôi đang đứng cạnh bếp ở nhà tôi, dao nĩa cắm trên tay, ăn thịt nướng thẳng từ chảo. "Nếu muốn làm vậy thì chỗ đó tốt nhất. Chưa chỗ nào tao thấy lắm người say như vậy, lại toàn người ở xa tới."
Nó ngừng nhai, mặt nghệt ra. "Sao phải thế? Trong khi lấy ở dây dễ ợt, toàn cửa hàng bự chà há!"
“Thì cứ nói thế." Tiền tôi nhận của mấy chú bảo vệ - mà tôi và Boris chốc chốc lại tiêu vài đô, ở các máy bán hàng và tiệm 7-Eleven gần trường mà Boris gọi là “magazine’’[81] sẽ còn được một thời gian, nhưng cũng không phải mãi mãi.
“Ha! Và nếu mi bị bắt tau phải làm sao, hử Potter?" nó đáp và thả một miếng thịt to tướng xuống cho con chó -nó đã dạy cho biết nhảy trên hai chân sau. “Ai sẽ nấu bữa tối cho tau? Rồi ai sẽ chăm thằng Nhọn?” Con chó Popper của Xandra, nó đã nhiễm thói quen gọi là “Bột Mì” hay “Muối” hay “Popchik” hay “Nhọn”, miễn là không phải tên thật của nó. Gần đây tôi đã cho nó vào nhà, dù như vậy là trái ý bố, vì đã ngán thấy nó lúc nào cũng kéo căng dây xích cố ngó vào cánh cửa kính và sủa muốn rụng đầu. Nhưng vào trong nó lại ngoan ngoãn bất thường; thèm khát được chú ý, nó dính chặt lấy chúng tôi, đi đâu cũng lóp ngóp chạy theo sát, lên tầng rồi xuống nhà, rồi nằm cuộn tròn trên thảm ngủ khi Boris và tôi đọc sách, cãi nhau, nghe nhạc trên phòng tôi.
“Thật đấy, Boris ạ,” tôi nói và gạt tóc khỏi mắt (tóc tôi đã mọc dài quá độ rồi, nhưng lại không muốn tiêu tiền), “tao chẳng thấy nẫng ví với nẫng thịt thì có gì khác nhau cả.”
“Khác khối luôn chứ Potter.” Nó giơ hai tay cách xa nhau để tôi thấy khác thế nào. “Một đằng là nẫng của người lao động. Một đằng là nẫng của mấy công ty giàu sụ chuyên ăn cướp của người lao động.”
“Costco đâu có ăn cướp. Đấy là siêu thị giá rẻ mà.”
“Cũng được đi. Vậy thì nẫng phương tiện sinh tồn của các công dân. Kế hoạch của mi hay gớm. Im,” nó bảo con chó vừa sủa nhặng đòi thêm thịt.
“Tao đâu có định nẫng của người lao động nghèo nào đó,” tôi nói và tự tay ném cho Popper một miếng. “Có khối loại bựa đi khắp Vegas túi đẫy tiền.”
“Bựa là sao?”
“Chó đểu. Bất lương.”
“À.” Đôi lông mày đen nhọn nhếch lên. “Vậy được. Nhưng nếu mi chôm của tụi bựa, tụi găng tơ chẳng hạn, thì chúng nó sẽ thịt mi, nie?’’
“Hồi ở Ukraina mày không sợ bị thịt à?”
Nó nhún vai. “Bị đập thì có. Nhưng không bị bắn.”
“Bắn á?”
“Ừ, bắn. Mi làm gì ngớ ra thế? Ai biết được cái đất nước cao bồi của mi thế nào? Thằng miễu nào cũng có súng cả.”
“Tao có nói cảnh sát đâu. Tao nói khách du lịch say khướt cơ mà. Ở đấy đầy lũ đó, tối thứ Bảy nào cũng vậy.”
“Ha!” Nó đặt chảo xuống sàn cho con chó ăn nốt. “Mi sớm muộn gì cũng xộ khám, Potter à. Đạo đức thối nát, nô lệ cho kinh tế. Mi đúng là công dân rất tồi.”
XIII
ĐẾN QUÃNG NÀY, KHOẢNG THÁNG MƯỜI, chúng tôi hầu như tối nào cũng ăn với nhau. Thường Boris sẽ uống ba bốn chai bia trước bữa tối, đến giờ ăn thì chuyển sang trà nóng. Rồi sau một cốc vodka chốt hạ sau bữa tối, thói quen mà tôi nhanh chóng học theo (“Giúp tiêu hóa thức ăn,” Boris giải thích), chúng tôi sẽ nằm bò trên giường đọc sách, làm bài, thỉnh thoảng cãi cọ, và thường thì uống đến khi ngủ thiếp trước tivi.
“Đừng đi!” một hôm Boris nói, ở nhà nó lúc tôi đứng dậy khi The magnificentseven đến đoạn kết - cuộc đấu súng cuối, Yul Brynner tụ tập đám đồng đội. “Mi sẽ lỡ phần hay nhất đấy.”
“Ừ, nhưng gần mười một giờ rồi.”
Boris - nằm ườn trên sàn - chống một khuỷu tay nhỏm dậy. Tóc dài, ngực lép, gầy như cây sậy, nó là đối bản của Yul Brynner ở hầu hết mọi khía cạnh, nhưng không hiểu sao lại phảng phất nét gia đình: cả hai đều có vẻ ranh mãnh, dè chừng, hơi thích chí và có phần hiểm ác, con mắt xếch có vẻ gì Mông Cổ hay Tatar.
“Gọi Xandra đến đón mi,” nó ngáp và nói. “Mấy giờ thì bả hết giờ làm?”
“Xandra hả? Quên đi.”
Boris lại ngáp, mắt sụp xuống vì rượu. “Thế ngủ đây luôn đi,” nó nói, lăn qua một bên và đưa một tay chùi mặt. “Họ có lo cho mi không?”
Họ có về nhà không chứ? Nhiều đêm là không. “ít khả năng lắm,” tôi nói.
“Suỵt,” Boris nói - với tay lấy thuốc và nhỏm dậy. “Xem đi. Bọn xấu đến rồi.”
“Mày xem phim này rồi à?”
“Lồng tiếng Nga, thế cơ chứ. Nhưng tiếng Nga chán lắm. Lúa lắm. Có phải dùng từ lúa không nhỉ? Giống thầy giáo hơn là tay súng, ý tau nói vậy.”
XIV
DÙ QUÃNG THỜI GIAN SỐNG ở nhà Barbour chìm trong khổ sở buồn thương, nhưng giờ nghĩ lại căn hộ trên Đại lộ Công viên, tôi thấy nuối tiếc như nhớ về Địa đàng đánh mất. Và dù ở trường có máy tính dùng viết email được, Andy lại chẳng ham viết lách và những thư từ đáp lại tôi đều khô khan đến phát buồn. (Chào Theo. Hy vọng mùa hè của cậu vui. Bố mua tàu mới [chiếc Ahsalom]. Mẹ nhất định không chịu lên đó còn tớ thì bắt buộc phải lên, thật tệ. Lớp Nhật II thật đau đầu, còn ngoài ra ổn cả.) Bà Barbour đều đặn trả lời mọi thư tay tôi gửi đi - một hai dòng viết trên những tấm thiếp in họ tên mua ở Dempsey và Carrol - nhưng cũng không có gì gọi là thắm thiết. Bà luôn hỏi cháu khỏe không và kết thúc bằng chúc mọi điều tốt lành, nhưng không bao giờ có gì như kiểu cả nhà nhớ cháu hay mong được gặp lại cháu.
Tôi viết thư cho Pippa ở Texas, tuy biết cô ốm quá không hồi âm lại được - vậy cũng tốt, vì rốt cuộc hầu hết thư đều không gửi đi.
Pippa thân,
Cậu thế nào? Có thích Texas không? Tớ nghĩ đến cậu nhiều lắm.
Cậu có đi cưỡi con ngựa cậu thích không? ở đây tuyệt lắm. Tớ không biết ở chỗ cậu có nóng không, vì ở đây nóng lắm.
Quá chán. Tôi xé bỏ, viết lại từ đầu.
Pippa thân,
Cậu thế nào? Tớ vẫn nghĩ đến cậu và hy vọng cậu ổn cả. Tớ hy vọng mọi chuyện ở Texas chỗ cậu vẫn ổn cực kỳ tuyệt vời. Tớ phải thú nhận rằng ở đây hơi bị chán, nhưng tớ cũng đã kết bạn với vài người và đang dần quen, chắc vậy.
Không biết cậu có nhớ nhà không? Tớ thì có. Tớ nhớ New York lắm. Ước gì chúng mình sống gần nhau hơn. Đầu cậu thế nào rồi? Tớ hy vọng là đỡ hơn. Tớ rất tiếc vì...
“Bạn gái mi à?” Boris hỏi, gặm sồn sột quả táo và liếc qua vai tôi. “Xéo.”
“Nhỏ đó sao vậy?” và thấy tôi không đáp, nó hỏi tiếp: “Mi đập à?” “Hử?” tôi đáp, hơi lơ đãng.
“Đầu nó? Mi nói rất tiếc vì thế à? Đập nó à?”
“Chứ còn gì nữa,” tôi đáp - và nhìn vẻ mặt nó, chăm chú, thành thật, tôi nhận ra nó đang hỏi hoàn toàn nghiêm túc.
“Mày nghĩ tao quen đánh con gái à?” tôi hỏi.
Nó nhún vai. “Có thể nó làm việc gì đó đáng ăn đập.”
“Ờ... ở Mỹ chúng tao không đánh phụ nữ.”
Nó nhăn mày, nhổ hạt táo khỏi miệng, “Ừ. Người Mỹ không đánh phụ nữ. Chỉ bóp mũi các nước nhỏ hơn và làm trái ý mình thôi ”
“Boris, khâu miệng lại và lượn đi cho tao nhờ.”
Nhưng nhận xét của nó đã làm tôi gờn gợn, và thay vì viết lại thư cho Pippa, tôi chuyển qua viết cho Hobie.
Bác Hobart kính mến,
Cháu chào bác. Bác có khỏe không? Cháu hy vọng bác khỏe. Cháu vẫn chưa viết cảm ơn bác đã rất tốt với cháu trong mấy tuần cuối cháu ở New York. Cháu hy vọng bác và Cosmo vẫn ổn, dù cháu biết chắc cả hai người nhớ Pippa lắm. Pippa thế nào rồi? Cháu hy vọng bạn ấy đã quay lại học nhạc. Cháu cũng hy vọng
Nhưng thư đó tôi cũng không gửi. Vì thế tôi đã mừng làm sao khi nhận được thư - rất dài, trên giấy đàng hoàng - của chính Hobie chứ chẳng phải ai khác.
“Con có cái gì thế?” bố tôi ngờ vực hỏi - liếc thấy dấu bưu điện New York, giật thư khỏi tay tôi.
“Sao ạ?”
Nhưng bố tôi đã kịp xé toang phong bì. Ông liếc qua thật nhanh, rồi xìu xuống. “Này,” bố trả lại tôi. “Xin lỗi bé con. Bố nhầm.”
Bản thân lá thư cũng đẹp tuyệt, một món đồ xinh đẹp: giấy dày dặn, chữ nắn nót, phảng phất gợi về những căn phòng lặng lẽ và giàu có.
Theo mến,
Bác vẫn muốn được tin để biết dạo này cháu ra sao, nhưng cũng mừng vì không thấy tin cháu, vì bác hy vọng thế nghĩa là cháu đang có một cuộc sống bận rộn và hạnh phúc, ở đây lá-cây đã chuyển màu, Quảng trường Washington ướt sũng, vàng ươm, và khí trời lành lạnh. Mỗi sáng thứ Bảy, Cosmo và bác lại rong ruổi quanh Làng Greenwich - bác bế nó vào cửa hàng phô mai, không biết như vậy có thực là hợp pháp không, nhưng các cô bé bán hàng để dành cho nó những mẩu phô mai nho nhỏ. Nó cũng nhớ Pippa không kém gì bác, nhưng giống như bác, cũng vẫn thích ăn uống như vậy. Bây giờ thỉnh thoảng bác và nó ăn bên lò sưởi, vì lão Giá Đông đã thống ngự đường phố rồi.
Bác hy vọng là cháu đã dần quen với nơi mới và có bạn bè. Khi gọi điện cho Pippa, con bé có vẻ không được vui tươi lắm, dù hiển nhiên là sức khỏe có khá hơn. Tới dịp Tạ ơn bác sẽ đi máy bay xuống đó. Bác không hiểu Margaret có vui vẻ gì khi thấy bác không, nhưng Pippa muốn gặp, nên bác sẽ đi. Nếu được mang Cosmo lên máy bay thì có thể bác sẽ đưa cả nó theo.
Bác gửi ảnh kèm đây vì nghĩ chắc cháu sẽ thích - ảnh một cái tủ ngăn kéo Chippendale vừa mới tới, tình trạng rất tệ, bác được biết nó bị cất trong nhà kho không được sưởi ấm đâu gần Watervliet ở New York. Bị sứt sẹo rất nhiều, mặt vỡ đôi, nhưng hãy nhìn cái chân móng ôm cầu ấy - đường lượn cong vút, các ngón vuốt chịu lực, ảnh chụp không lên lắm, nhưng cháu cũng thấy chỗ móng cắm xuống thảm đấy. Đúng là một tuyệt tác, bác chỉ ước sao người ta từng chăm sóc nó cẩn thận hơn. Không biết cháu có nhìn thấy những đường vân tuyệt vời trên mặt tủ không - quả là kỳ diệu!
Còn về cửa hiệu - một tuần bác cũng mở cửa dăm ba lần, khi có khách hẹn, nhưng chủ yếu bác chỉ loay hoay dưới hầm làm việc với những đồ khách quen gửi đến. Bà Skolnik và mấy người hàng xóm khác có hỏi cháu - ở đây nói chung mọi thứ vẫn vậy, chỉ trừ bà Cho bên chợ Hàn Quốc bị đột quỵ tí chút (rất nhẹ thôi, giờ bà đã đi làm trở lại rồi). Và cái quán cà phê bên Hudson bác thích thì đóng cửa rồi, một điều rất buồn. Sáng nay bác đi bộ ra đó và trông có vẻ như nó đang bị cải tạo thành... bác cũng không biết gọi là gì nữa. Một thứ cửa hàng bán đồ lưu niệm Nhật.
Bác nhận ra là như thường lệ, bác đã nói dài quá và sắp hết chỗ rồi, nhưng bác cũng hy vọng cháu đang khỏe mạnh, vui vẻ, và ở đó cũng không cô đơn như cháu sợ lúc trước. Nếu bác giúp gì được cho cháu các việc đằng này, hay là việc gì cũng được, cứ tin rằng bác sẽ rất vui được giúp.
XV
ĐÊM ĐÓ, Ở NHÀ BORIS - say mềm nằm trên phần đệm trải vải batik của mình - tôi cố nhớ thử xem Pippa trông như thế nào. Nhưng mặt trăng chiếu vào cửa sổ không rèm thật to và rõ nét khiến tôi lại nghĩ đến câu chuyên mẹ từng kể, đi xem triển lãm ngựa cùng ông bà ngoại hồi bé, ngồi băng sau chiếc Buick cũ. “Đi nhiều lắm, đôi khi cả mười tiếng, qua vùng đất cứng. Vòng quay khổng lồ này, sân rodeo rắc mạt cưa, khắp nơi là mùi bắp rang và phân ngựa. Một đêm ở San Antonio, mẹ đang dỗi - đòi phòng mình, con hiểu không, đòi chó và giường mình - thì ông ngoại bế bổng mẹ lên trên sân hội chợ, bảo mẹ nhìn lên trăng. ‘Mỗi khi thấy nhớ nhà,’ ông bảo, ‘con hãy nhìn lên trời, vì con có đi đâu thì vẫn là trăng ấy.’ Thế nên khi ông mất, mẹ phải đến nhà dì Bess - mà cả bây giờ, trong thành phố, cứ khi nào thấy trăng rằm, mẹ lại thấy như ông đang bảo mẹ đừng ngoái lại đằng sau, đừng buồn bã, vì nhà đi theo mẹ bất cứ nơi nào mẹ đến.” Mẹ hôn lên mũi tôi. “Hoặc là nơi nào con đến, cún con à. Con là trung tâm trái đất của mẹ.”
Tiếng sột soạt bên cạnh tôi. “Potter?” Boris hỏi. “Vẫn thức à?”
“Tao hỏi mày một câu được không?” tôi nói. “Trăng ở Indonesia trông thế nào?”
“Mi hót cái gì thế?”
“Hoặc là, ờ, ở Nga chẳng hạn? Có giống như ở đây không?”
Nó giơ tay cốc khẽ vào đầu tôi - một cử chỉ quen thuộc tôi đã học được nghĩa là đồ ngốc. “Ở đâu chả vậy,” nó nói và ngáp dài, chống cổ tay đeo vòng khẳng khiu nhỏm dậy. “Sao thế?”
“Không biết,” tôi nói, rồi sau một thoáng im lặng căng thẳng: “Mày nghe thấy không?”
Có tiếng cửa sập. “Cái gì thế?” tôi hỏi và lăn lại gần nó. Cả hai nhìn nhau lắng nghe. Dưới nhà có tiếng nói - tiếng người, tiếng người đi lại va chạm, tiếng uỳnh như có thứ gì bị vấp đổ.
“Bố mày à?” tôi hỏi và nhỏm dậy - rồi nghe giọng phụ nữ say khướt, chói lói vang lên.
Boris cũng ngồi dậy, gầy kheo, trắng nhợt trong ánh sáng từ cửa sổ. Dưới nhà nghe như có tiếng ném đồ và đẩy bàn ghế.
“Họ nói gì thế?” tôi hỏi khẽ.
Boris lắng nghe. Tôi nhìn thấy từng chỗ lồi lõm trên cổ nó. “Vớ vẩn ấy mà,” nó nói. “Say hết rồi.”
Hai đứa chúng tôi ngồi lắng nghe - Boris chú tâm hơn tôi.
“Thế ai dưới đó với bố mày đấy?” tôi hỏi.
“Ả phò nào đấy.” Nó nghe một lúc, mày hằn lên, nửa mặt nổi rõ trong ánh trăng, rồi lại ngả mình xuống. “Hai con.”
Tôi lẩn ra xa xem iPod. 3 giờ 17 phút sáng.
“Mẹ nó,” Boris rên lên và gãi bụng. “Câm đi cho tau nhờ?”
“Tao khát nước,” tôi nói, sau một lúc rụt rè im lặng.
Nó khịt mũi. “Ha! Khuyên mày khôn hồn thì đừng chìa mặt xuống dưới đó.”
“Họ đang làm gì?” tôi hỏi. Một trong hai người đàn bà vừa thét lên - cười hay hoảng vía thì không biết.
Chúng tôi nằm im phắc như tượng gỗ, nhìn trần nhà, nghe những tiếng sầm sầm bất thường bên dưới.
“Tiếng Ukraina à?” một lúc sau tôi hỏi. Dù không hiểu họ nói gì, tôi cũng đã chơi với Boris đủ lâu và bắt đầu phân biệt được âm tiếng Ukraina với Nga.
“Mười điểm, Potter. Châm thuốc cho tau đi.”
Chúng tôi thay nhau hút điếu thuốc trong bóng tối, tới khi lại có tiếng cửa sầm ở đâu đó, những giọng nói lặng đi. Cuối cùng Boris cũng thở hắt ra, tiếng thở hết chuyện đặc khói, rồi lăn người dụi điếu thuốc vào cái gạt tàn đầy ứ bên giường. “Ngủ ngon,” nó thì thầm.
“Ngủ ngon.”
Nó ngủ thiếp gần như lập tức - tôi nghe thấy tiếng thở - nhưng tôi còn thức hồi lâu, cổ họng khê đặc, đầu váng vất buồn nôn vì thuốc. Làm sao tôi lại lọt vào cuộc đời mới lạ lẫm này, bên những người nước ngoài say khướt la thét trong đêm, quần áo trên người đều bẩn thỉu, và chẳng có lấy một ai yêu mình? Boris đã ngủ lịm, ngáy ran bên cạnh tôi. Đến gần sáng khi cuối cùng cũng thiếp ngủ, tôi mơ thấy mẹ: ngồi đối diện tôi trên tàu số 6, hơi lắc lư, khuôn mặt điềm tĩnh trong luồng sáng nhân tạo nhấp nhánh.
Con ở đây làm gì ? mẹ nói. Về đi! Về ngay! Mẹ đợi con ở nhà. Chỉ có điều giọng nói không giống lắm, và khi nhìn kỹ lại tôi nhận ra không phải mẹ, chỉ là ai đó vờ làm mẹ. Và giật mình, thở gấp, tôi choàng dậy.
XVI
BỐ CỦA BORIS LÀ MỘT NHÂN VẬT KỲ BÍ. Theo lời chính Boris: ông suốt ngày trực ở mỏ, ở nơi đồng không mông quạnh, ở cùng đám thợ dưới quyền có khi hằng tuần. “Không thèm tắm,” Boris nghiêm khắc nhận xét. “Người lúc nào cũng khắm mùi rượu.” Cái đài thu thanh sóng ngắn rã rượi trong bếp là của ông (“Từ thời Brezhnev,” Boris nhận xét, “nhất định không chịu vứt đi”), cả mấy tờ báo tiếng Nga và USA Today đôi khi tôi thấy quanh nhà. Một hôm tôi vào một trong mấy phòng tắm (trông khá kinh dị - không màn tắm, không bệ ngồi toilet, cả trên lẫn dưới nhà, trong bồn tắm mọc thứ gì đen đen) và suýt đứng tim vì chạm mặt một bộ vét của ông, ướt đẫm, mùi chua loét, lủng lẳng như người treo cổ trên cọc treo màn tắm: xơ xác, méo mó, chất len nâu vón thành cục ngả màu như rễ cây bới lên, nhỏ nước tong tỏng xuống sàn như một thứ quỷ thở hơi nước nào đó ở nông thôn hoặc có thể là quần áo lọt vào lưới rê tìm xác của cảnh sát.
“Sao?” Boris hỏi khi tôi chui ra.
“Bố mày tự giặt vét à?” tôi hỏi. “Trong bồn rửa tay ấy à?”
Boris - tựa vào khung cửa và gặm móng tay cái - chỉ nhún vai chống chế.
“Mày đùa chắc,” tôi nói và khi thấy nó vẫn nhìn tôi: “Sao? Ở Nga không có khái niệm giặt khô hả?”
“Ông có cả lố trang sức với đồ hiệu,” Boris làu nhàu, vẫn cắn móng tay. “Đồng hồ Rolex, giày Ferragamo. Ông thích giặt kiểu gì chả được.”
“Ừm,” tôi đáp và đổi đề tài. Mấy tuần trôi qua không có gì gợi nhắc đến ông bố. Nhưng rồi một hôm Boris đến muộn-lớp Ngữ văn nâng cao, dưới mắt có vết bầm tím như màu rượu vang.
“À, bóng bầu dục đập vào mặt thôi,” nó hớn hở đáp khi cô Spear (hay là “Spirsetskaya” như nó gọi) ngờ vực hỏi có chuyện gì xảy ra vậy.
Tôi biết ngay là nói dối. Liếc sang chỗ nó ở bên kia lớp, suốt giờ bàn luận chán ngấy về Ralph Waldo Emerson tôi chỉ băn khoăn không hiểu làm sao nó lại rước lấy vết thâm như vậy sau khi tôi rời đó đêm qua, về nhà dắt Popper đi dạo - Xandra buộc con chó ngoài đường nhiều đến mức tôi bắt đầu cảm thấy nghĩa vụ của mình là chăm sóc nó.
“Mày làm gì vậy?” tôi hỏi khi đuổi kịp nó sau giờ học.
“Hửm?”
“Kiếm đâu ra được quả mặt đó?”
Nó nháy mắt. “Thôi nào,” nó nói và đụng vai vào vai tôi.
“Làm sao? Mày say hả?”
“Ông già tau về nhà,” nó nói và khi thấy tôi không phản ứng: “Còn gì khác hử Potter? Chứ mi nghĩ sao?”
“Trời ạ, vì sao chứ?”
Nó nhún vai. “May mà mi về rồi,” nó nói và dụi bên mắt lành. “Thấy ông về tau choáng luôn. Đang ngủ trên xô pha dưới nhà. Ban đầu tưởng mi cơ.”
“Thế có chuyên gì?”
“À,” Boris thở dài sườn sượt; nó đã hút thuốc trước khi đi học, tôi ngửi thấy. “Ông thấy vỏ bia trên sàn.”
“Bố mày đánh vì mày uống bia à?”
“Vì ông bí tỉ rồi, hiểu chưa, ông uống đến não bốc hơi rồi - tau nghĩ ông cũng chẳng biết đang đập tau đâu. Sáng nay thấy cái mặt tau, ông khóc rồi xin lỗi xin phải. Mà dù sao thì cũng còn chán ông mới về nữa.”
“Tại sao?”
“Ngoài kia đang rối beng lên, ông bảo thế. Còn mất tích cả ba tuần nữa kia. Mỏ đó nằm gần một cụm nhà thổ của nhà nước, hiểu chửa?”
“Có phải của nhà nước đâu,” tôi nói - và rồi nghĩ biết đâu đúng là thế.
“Mi hiểu ý tau đấy. Nhưng cũng có điểm sáng - ông cho tau tiền.”
“Nhiêu?”
“Bốn nghìn.”
“Mày đùa à.”
“Không, không” - nó vỗ trán - “đang tính theo rúp, xin lỗi! Quãng hai trăm đô, nhưng thế là ngon rồi. Đáng phải moi thêm, nhưng tau không dám.”
Chúng tôi đã đến ngã ba hành lang khi tôi phải rẽ sang lớp Đại Số còn Boris thì sang lớp Nhà nước Mỹ - đấy là nỗi khổ của đời nó. Lớp này là bắt buộc, cực dễ ngay cả so với tiêu chuẩn thấp chạm đáy của trường tôi, nhưng bắt Boris nhồi vào đầu Tuyên ngôn nhân quyền với các quyển tường minh và hàm ẩn của Quốc hội Mỹ là một việc khiến tôi nhớ lại cái hồi cố giải thích cho bà Barbour hiểu thế nào là máy chủ Internet.
“Ờ, gặp mi sau,” Boris nói. “Này, giải thích lần chót coi, Ngân hàng Liên bang với Cục dự trữ Liên bang khác nhau cái mẹ gì?”
“Mày có kể với ai không?”
“Kể cái chi?”
“Đấy.”
“Sao, mi muốn báo công an tau à?” Boris cười lớn.
“Không phải mày. Ông ấy cơ.”
“Tại sao? Làm thế thì được cái con khỉ gì? Mi nói coi. Được cái lệnh trục xuất cho tau à?”
“Ừ,” tôi đáp, sau một hồi im lặng khó xử.
“Nên tối nay tụi mình đi xõa thôi!” Boris nói. “Ăn hiệu nhé! Đồ Mexico chẳng hạn.” Sau khoảng thời gian ngờ vực và phàn nàn ban đầu, Boris đã chuyển sang khoái thức ăn Mexico - ở Nga chẳng hề có, nó bảo vậy, quen rồi thì thấy cũng không tệ, mặc dù nếu cay quá thì nó chẳng ăn đâu. “Có thể đi buýt.”
“Hiệu Tàu gần hơn. Ăn cũng ngon hơn.”
“Ờ, nhưng mà... nhớ chưa?”
“À ờ,” tôi đáp. Lần cuối cùng ăn ở đó, chúng tôi đã chuồn đi không trả tiền. “Quên khuấy.”
XVII
BORIS KHOÁI XANDRA hơn tôi nhiều: lúc nào cũng chạy tới mở cửa cho cô ta, khen kiểu tóc mới, xung phong mang giúp đồ vân vân. Tôi đã chọc ghẹo nó kể từ hôm thấy nó nhìn xuống ngực áo khi cô ta nghiêng người lấy cái điện thoại trên mặt bếp.
“Ấy, thế mới gọi là bốc lửa chứ,” Boris từng bình phẩm khi chúng tôi vừa lên phòng. “Mi bảo ông già mi có càu nhàu không?”
“Chắc cũng cóc cần biết đâu.”
“Không, tau nói thật, mi nghĩ ông già mi có làm gì tau không?”
“Làm gì nếu có chuyện gì?”
“Nếu tau với Xandra.”
“Tao cóc biết. Chắc là gọi cảnh sát chăng.”
Nó khịt mũi khinh bỉ. “Tội gì?”
“Không phải mày. Bả cơ. Giao cấu với trẻ vị thành niên.”
“Được thế thì tốt nhỉ.”
“Cứ quất bả đi nếu mày muốn,” tôi nói. “Bả đi tù thì tao cũng không xót.”
Boris lật người nằm ngửa, ranh mãnh nhìn tôi. “Bả chơi tuyết, mi biết không?”
“Gì?”
“Cocaine.” Nó làm bộ hít.
“Mày đùa à,” tôi nói và khi thấy nó cười khẩy: “Sao mày biết?”
“Tau biết, thế thôi. Cái kiểu bả nói chuyện. Lại thường xuyên nghiến răng. Thỉnh thoảng tau vẫn quan sát bả.”
Có quan sát tôi cũng không biết phải để ý thấy gì. Nhưng rồi một chiều chúng tôi về nhà khi bố đi vắng, thấy cô ta đang đứng thẳng lên từ bàn cà phê sau khi hít, một tay giữ tóc sau gáy. Khi cô ta ngửa cổ lên, ánh mắt đậu lại trên chúng tôi, có một giây không ai nói gì hết, rồi cô ta ngoảnh đi như không thấy chúng tôi ở đó.
Chúng tôi cứ đi tiếp lên tầng, tới phòng tôi. Dù chưa thấy ai hít thuốc bao giờ, thì cả tôi cũng hiểu được đấy là cô ta đang làm gì.
“Ưầy, sexy vãi,” Boris nói sau khi tôi đóng cửa. “Không hiểu bả giấu đâu?”
“Biết được,” tôi nói và nằm vật ra giường. Xandra đang rời nhà, tôi nghe tiếng xe ra khỏi sân.
“Mi bảo bả có chia cho tụi mình tí không?”
“Có thể sẽ chia cho mày tí.”
Boris ngồi xuống sàn bên giường, đầu gối co lên, lưng tựa vào tường. “Mi nghĩ bả bán cái đó không?”
“Không thể nào,” tôi nói sau một thoáng im lặng ngỡ ngàng.
“Mày nghĩ thế à?”
“Ha! Nếu có thì mi trúng mánh.”
“Sao thế được?”
“Tiền đầy nhà, chứ sao.”
“Trúng to quá đấy.”
Nó ném cái nhìn tinh ranh lên tôi đánh giá. “Ở nhà này ai trả hóa đơn hả Potter?” nó hỏi.
“Hử.” Đấy là lần đầu tiên tôi nghĩ đến câu hỏi ấy, dù lập tức nhận ra điều đó có giá trị thực tế to lớn như thế nào. “Tao không biết. Chắc là bố. Dù Xandra cũng góp một ít.”
“Thế ông lấy đâu ra? Tiền ấy?”
“Chịu,” tôi đáp. “Ổng gọi điện thoại cho người này người kia rồi ra khỏi nhà.”
“Nhà có cuốn séc nào không? Hay tiền mặt?”
“Không. Không bao giờ. Thỉnh thoảng có xèng thôi.”
“Thì cũng như tiền thôi,” Boris nói nhanh và nhổ cái móng tay cắn ra xuống sàn.
“Ừ. Mỗi tội muốn đổi ra tiền ở sòng thì phải trên mười tám.”
Boris cười khùng khục. “Nào. Cần thì nghĩ ra nhanh thôi. Mặc cho mi đồng phục cái trường bảnh chọe có huy hiệu đó, cử mi đến bên ghi-sê, ‘Xin phép cô cho tôi hỏi...’ ”
Tôi lăn lại, thụi thật mạnh vào tay nó. “Câm mõm,” tôi nói, tức mình khi thấy nó nhại giọng tôi một cách rất lè nhè và chảnh chọe.
“Nói năng kiểu đó không ăn thua đâu, Potter à,” Boris khoái chá đáp và xoa tay. “Người ta sẽ chẳng nhả cho mi lấy một xu. Nhưng, ý tau là, tau biết chỗ để sổ séc của ông già, và nếu tình hình đến lúc tình hình..- nó ngửa hai bàn tay ra - “phải chứ?”
“Phải.”
“Đấy, nếu phải viết séc khống, tau sẽ viết séc khống,” Boris nói giọng triết lý. “Biết có cửa ấy là tốt. Tau không bảo mi bẻ cửa vào phòng lục đồ, nhưng để mắt vẫn hơn, hửm?”
XVIII
BỐ CON BORIS không ăn Tạ ơn, Xandra và bố tôi thì đã đặt Suất Ngày Lễ Đặc Biệt Dành Cho Hai Người ở một nhà hàng Pháp trong MGM Grand. “Con muốn đi cùng không?” bố hỏi khi thấy tôi nhìn tờ rơi để trên bếp: trái tim, pháo hoa, cờ tam tài tung tóe trên một đĩa gà tây quay. “Hay là có kế hoạch riêng rồi?”
“Không ạ, cảm ơn bố.” Bố đang tỏ ra tử tế, nhưng chỉ nghĩ đến chuyện xía vào giữa bố và Xandra trong cái Ngày Đặc Biệt Dành Cho Hai Người khỉ gió đã khiến tôi thấy muốn bỏ chạy. “Con có kế hoạch rồi.”
“Thế con định làm gì?”
“Con ăn Tạ ơn với người khác.”
“Người nào?” bố tôi hỏi, một biểu hiện quan tâm săn đón khá hiếm có. “Bạn à?”
“Để tôi đoán xem,” Xandra nói - chân đất, mặc áo thun của đội Cá heo Miami là bộ đồ ngủ của cô ta, đang nhìn tủ lạnh. “Chính cái người vẫn ăn sạch cam và táo tôi mang về nhà.”
“Thôi nào,” bố tôi nói giọng ngái ngủ, đi lại đằng sau lưng ôm lấy cô ta, “em thích cái cậu Russki con - tên gì nhỉ - Boris ấy mà.”
“Tất nhiên là thích rồi. Chắc vậy cũng tốt, vì cậu ta ở đây gần như cả ngày. Mẹ nó,” cô ta nói - vặn người thoát khỏi bố, đập lên đùi trần - “ai để con muỗi này vào đây? Theo, tôi không hiểu sao cháu cứ toàn quên đóng cửa ra bể. Tôi đã nói cháu hàng chục lần rồi.”
“A, hai người biết đấy, con vẫn có thể đi ăn Tạ ơn với hai người nếu hai người thật sự muốn,” tôi thản nhiên nói, dựa vào bếp. “Tại sao không nhỉ.”
Tôi cố tình nói vây để chọc tức Xandra, và hài lòng khi thấy mình đạt mục đích. “Nhưng bàn đặt chỉ cho hai người thôi,” Xandra nói, gạt tóc ra sau và nhìn bố.
“À, chắc là họ cũng sẽ nghĩ ra cách thôi.”
“Sẽ phải gọi trước đấy.”
“Ừ, gọi đi,” bố tôi nói và vỗ vào lưng cô ta một cái, vẻ hơi say thuốc, rồi lê chân vào phòng khách xem xét kết quả bóng bầu dục.
Xandra và tôi đứng nhìn nhau một lúc, rồi cô ta ngoảnh đi, như nhìn vào một viễn cảnh tăm tối không hy vọng về tương lai. “Tôi cần uống cà phê,” cô ta uể oải nói.
“Không phải cháu để cửa mở.”
“Tôi không biết là ai cứ mở suốt. Tôi chỉ biết là mấy cái kẻ bán hàng Amway kỳ quái kia không chịu xả bể trước khi chuyển đi, và giờ thì nhìn đâu cũng thấy một triệu tỷ con muỗi - kìa lại một con, chết tiệt.”
“Nào, cô đừng cáu. Cháu không nhất thiết phải đi với hai người đâu.”
Cô ta đặt hộp đựng phin cà phê xuống. “Vậy cháu bảo sao?” cô ta hỏi. “Tôi nên gọi đổi đặt chỗ, hay là không?”
“Hai người đang nói chuyện gì thế?” giọng bố tôi lờ mờ vọng ra từ phòng bên cạnh, giữa một ổ những miếng lót cốc có vết nước, bao thuốc lá cũ, và tờ chơi baccarat đã đánh dấu.
“Không có gì,” Xandra đáp lớn. Rồi vài phút sau, khi máy pha cà phê bắt đầu lục bục, cô ta dụi mắt và nói giọng khản đi vì ngái ngủ, “Tôi đâu có nói là không muốn cháu đi.”
“Cháu biết. Cháu đâu có bảo là cô nói thế.” Rồi tiếp: “Tiện thể nói cho cô biết, không phải cháu để cửa mở. Đấy là bố để khi ra ngoài gọi điện.”
Xandra với tay vào tủ bếp lấy ca cà phê Hành tinh Hollywood ngoái lại nhìn tôi. “Không phải là cháu đến ăn tối ở nhà nó chứ?” cô ta hỏi. “Cậu Russki nhỏ gì đó?”
“Không. Chúng cháu chỉ ở đây xem tivi thôi.”
“Cháu có muốn chúng tôi mang thứ gì về không?”
“Boris thích mấy cái xúc xích con cô vẫn mang về ấy. Còn cháu thích cánh gà. Cánh gà nóng ấy.”
“Còn gì nữa không? Mấy cái nem Tây Ban Nha bé tí xíu thì sao? Cháu cũng thích mấy cái đó phải không?”
“Thế nữa càng tốt.”
“Được rồi. Sẽ chuẩn bị đủ cho các cậu. Miễn là tránh xa thuốc lá của tôi ra, thế thôi. Cháu có hút tôi cũng chẳng thấy sao đâu,” cô ta nói và giơ một tay chặn tôi lại, “tôi cũng không định tố cháu, nhưng có ai đó cứ suốt ngày moi cả bao trong tút thuốc khiến tôi tốn phải đến hăm lăm đô mỗi tuần.”
XIX
TỪ HÔM BORIS XUẤT HIỆN với bên mắt bầm tím, tôi đã dựng lên trong đầu hình ảnh một người bố kiểu Bôn sê vích cổ bự, mắt hí, tóc húi cua. Thực tế thì, như cuối cùng tôi đã kinh ngạc mà giáp mặt ông, ông có vóc dáng gầy guộc và khuôn mặt tái nhợt của một thi sĩ đói dở. Xanh rớt với bộ ngực hóp hép, ông đốt thuốc không ngừng, mặc áo sơ mi rẻ tiền đã xám qua nhiều lần giặt, và uống hết chén này đến chén khác thứ trà bỏ đường. Nhưng khi nhìn vào mắt ông, ta sẽ hiểu vẻ bề ngoài mong manh ấy chỉ là lường gạt. Ông rắn rỏi, mãnh liệt và bốc ra thứ hung khí dữ tợn - xương nhỏ, mặt gồ ghề giống như Boris, nhưng trong vành mắt đỏ rịm phát ánh nhìn hiểm độc và hàm răng ám vàng nhỏ tí như răng cưa. Dáng vẻ ông gợi nhớ đến một con cáo hoang dại.
Dù đã từng liếc thấy ông đi qua và nghe thấy ông (hoặc ai đó mà tôi nghĩ là ông) va vấp trong nhà Boris ban đêm, nhưng tôi vẫn chưa có dịp đối diện trực tiếp với ông cho mãi đến trước lễ Tạ ơn vài ngày. Hôm đó sau buổi học chúng tôi đi bộ về nhà Boris, vừa cười vừa nói chuyện, thì thấy ông đang gập người bên bàn bếp, chai và cốc gần bên. Quần áo xộc xệch nhưng ông lại đi giày rất đắt tiền và đeo đủ thứ vàng diêm dúa, và cặp mắt đỏ ngước lên nhìn làm chúng tôi ngậm miệng ngay lập tức. Dù ông nhỏ người mảnh khảnh, khuôn mặt vẫn toát lên vẻ gì đó khiến người ta e dè không dám lại gần.
“Chào bác,” tôi ngập ngừng nói.
“Chào,” ông đáp - mặt cứng đanh, giọng trọ trẹ hơn nhiều so với Boris, rồi quay sang nó nói gì đó bằng tiếng Ukraina. Tiếp đó là một cuộc trao đổi ngắn gọn mà tôi tò mò quan sát. Thật thú vị khi thấy Boris biến đổi hoàn toàn lúc chuyển sang dùng một thứ tiếng khác - gần như hào hứng hơn, hoặc tỉnh táo hơn, như có một con người khác năng động hơn đã chiếm lấy cơ thể nó.
Rồi đột ngột, ông Pavlikovsky chìa cả hai tay ra cho tôi. “Cảm ơn cậu,” ông nói giọng nặng trịch.
Dù sợ phải đến gần ông - cứ như đến gần một con thú hoang - tôi vẫn tiến tới và cũng chìa hai tay rất lúng túng. Ông nắm lấy bằng hai bàn tay lạnh toát, da chai sần.
“Cậu là người tốt,” ông nói, mắt vằn đỏ, ánh nhìn dữ dội. Tôi muốn ngoảnh đi, rồi lại tự thấy ngượng.
“Cầu Chúa ban phúc cho cậu và luôn bên cậu,” ông nói. “Cậu như là con trai tui vậy. Vì đã đón con tui vào với gia đình cậu.”
Gia đình tôi? Tôi luống cuống nhìn qua Boris.
Ánh mắt ông Pavlikovsky cũng đánh theo. “Mầy nói với cậu ấy tau bảo gì rồi chứ?”
“Ổng bảo rằng mi là một thành viên của gia đình tau ở đây,” Boris nói giọng chán ngấy, “và nếu có bất kỳ điều gì ông có thể giúp đỡ mi... ‘’
Cực kỳ kinh ngạc, tôi thấy ông Pavlikovsky kéo mình lại gần ôm chặt lấy, trong lúc tôi nhắm mắt, cố gạt ra ngoài cái mùi của ông: mùi kem bôi tóc, mùi thân thể, mùi rượu, và thứ mùi nước hoa chua nồng rất gắt nào đây.
“Chuyện quái gì thế hả?” tôi khẽ hỏi khi cả hai đã lên phòng Boris đóng chặt cửa.
Boris đảo tròn mắt. “Thề với mi, mi không muốn biết đâu.”
“Lúc nào bác ấy cũng bã như thế à? Làm sao mà vẫn chưa mất việc?”
Boris cười khục khặc. “Sếp lớn trong công ty,” nó đáp, “hay cái gì đó.”
Chúng tôi ở lì trong căn phòng tối ám phủ batik của Boris, cho tới khi nghe tiếng xe tải của ông bố chạy ra đường. “Phải ít lâu nữa ông mới lại về,” Boris nói, còn tôi buông rèm cho rơi xuống cửa. “Ông thấy ăn năn vì bỏ tau một mình cả ngày. Ông biết sắp tới có cái ngày ngày lễ nên hỏi tau có ở nhà mi được không.”
“Ờ, mày vẫn ở nhà tao cả ngày còn gì.”
“Ông biết mà,” Boris nói và gạt tóc trên mắt. “Nên mới cảm ơn mi đó. Nhưng tau hy vọng mi không phiền vì tau đã cho địa chỉ dởm.”
“Sao phải thế?”
“Vì là...” - nó dịch chân nhường chỗ cho tôi ngồi bên cạnh, không đợi tôi hỏi - “tau nghĩ chắc mi không muốn ông say tít đến đập cửa nhà mi giữa đêm hôm. Khua cả ông già mi lẫn Xandra dậy. Thêm nữa, nhỡ ông có hỏi, họ mi là Potter nhé.”
“Tại sao?”
“Vậy tốt hơn,” Boris điềm đạm đáp. “Cứ tin tau.”
XX
BORIS VÀ TÔI NẰM TRÊN SÀN, trước cái tivi ở nhà tôi, ăn khoai tây chiên và uống vodka, xem buổi diễu hành Tạ ơn của công ty Macy. Ở New York đang có tuyết. Mấy quả bong bóng đi qua màn hình - Snoopy, Ronald McDonald, SpongeBob, Peanut - và một đội vũ công Hawaii chỉ quấn khố và váy cỏ đang nhảy múa trên quảng trường Herald.
“May thay không phải tau,” Boris bình phẩm. “Lạnh rụng đít luôn được.”
“Ờ,” tôi đáp, dù chẳng hề để lọt mắt bóng bay, vũ công hay bất kỳ thứ gì trong buổi diễu hành. Nhìn thấy quảng trường Herald trên tivi khiến tôi cảm thấy mình đang bị bỏ rơi cách xa trái đất hàng triệu năm ánh sáng, bắt được tín hiệu từ những ngày vô tuyến mới được phát minh ra, tiếng phát ngôn viên và tiếng hoan hô của khán giả thuộc về một nền văn minh đã mất.
“Một lũ não lợn. Ăn với chả mặc. Đám con gái kia chuẩn bị nhập viện cả lũ.” Dù Boris có than phiền luôn miệng về cái nóng ở Las Vegas, nó cũng tin tưởng sắt đá rằng cái gì “lạnh” bao giờ cũng làm cho người ta ốm: bể bơi nếu không được làm nóng, dàn điều hòa ở nhà tôi, thậm chí đá bỏ vào nước cũng vậy.
Nó lăn nằm ngửa, chuyền cho tôi cái chai. “Mi với bà già mi, có đi cái đó không?”
“Không.”
“Tại sao không?” Boris hỏi và bón cho con Popper miếng khoai chiên.
“Nekulturny”[82] tôi đáp, bằng một từ học được của nó. “Và lắm khách du lịch quá.”
Nó đốt thuốc, chìa cho tôi một điếu. “Mi có buồn không?”
“Hơi hơi,” tôi nói và ngả người lại gần châm vào que diêm nó cầm. Tôi không thể ngừng nghĩ đến mùa Tạ ơn năm ngoái, cứ diễn đi diễn lại trong đầu như một bộ phim không tắt được: mẹ đi chân không trong nhà, mặc quần bò cũ, sờn đầu gối, mở chai vang và rót cho tôi bia gừng trong cốc đựng sâm-panh, bày mấy quả ô liu, vặn lớn tiếng dàn đĩa, mặc chiếc tạp dề hề chuyên dùng trong dịp lễ của mẹ, rồi tháo bọc miếng ức gà tây mua ở Phố Tàu về, nhưng lập tức nhăn mũi giật lùi lại khi ngửi thấy - “ôi trời ơi, Theo, thiu cả rồi, mở cửa ngay cho mẹ” - cái mùi amoniac khai lè đến chảy nước mắt - giơ nó ra trước mặt như một quả lựu đạn chưa nổ trong khi chạy xuống cầu thang thoát hiểm, tới thùng rác lớn bên vệ đường trong khi tôi thò đầu ra ngoài cửa sổ, khoái chí làm bộ nôn ọe ầm ĩ trên đầu. Thế là chúng tôi chén một bữa tiệc thanh đạm chỉ có đậu xanh bỏ hộp, nam việt quất đóng hộp, gạo đỏ và hạnh nhân nướng. “Bữa Tạ ơn đồ chay kiểu xã hội chủ nghĩa,” mẹ đùa cợt. Năm ấy ở nhà chuẩn bị quấy quá vì mẹ phải chạy một dự án ở công ty; năm sau, mẹ hứa (khi đã hụt hơi vì cười, không hiểu sao miếng gà thiu lại khiến cả hai buồn cười không chịu được), hai mẹ con sẽ thuê xe đến nhà Jed bạn mẹ ở Vermont, hoặc không thì cũng đặt bàn ở một quán thật xịn, như Gramercy Tavern chẳng hạn. Chỉ có điều, cái tương lai ấy chẳng bao giờ đến, và giờ tôi đang ăn bữa Tạ ơn khoai tây chiên kiểu bợm nhậu với Boris trước tivi.
“Mình ăn gì đây, Potter?” Boris gãi gãi bụng.
“Sao? Mày đã đói rồi à?”
Nó ngúc ngoắc hai tay: kha khá. “Mi sao?”
“Không đói lắm.” Vòm miệng tôi đã trầy vì ăn quá nhiều khoai chiên, và đầu bắt đầu ong ong vì thuốc lá.
Bỗng nhiên Boris cười rống lên và ngồi nhỏm dậy. “Nghe coi,” nó nói, đá tôi một cú và chỉ vào tivi. “Nghe thấy không?”
“Thấy gì?”
“Lão phát ngôn viên ấy. Lão vừa gửi lời chúc hai đứa con của lão, ‘Bastard và Casey’
“Thôi đi nào.” Boris suốt ngày nghe nhầm tiếng Anh kiểu đó, đôi khi cũng buồn cười nhưng nói chung thì chỉ bực mình.
“‘Bastard và Casey!’ Thật khó đỡ! Casey thì cũng được, nhưng gọi con mình là ‘thằng con hoang giữa buổi truyền hình ngày lễ ấy hả?”
“Ông ta có nói thế đâu.”
“Ờ, giỏi, mi cái chi cũng biết, thế lão nói gì?”
“Tao biết thế chó nào được?”
“Vậy sao mi cãi tau? Sao lúc nào mi cũng nghĩ mi khôn hơn tau?
Đất nước này bị sao vậy hả? Sao một dân tộc não lợn như này mà lại hợm hĩnh và lắm tiền như vậy? Người Mỹ... diễn viên ngôi sao... dân làm truyền hình... đặt một dàn tên con rặt những Táo với lại Chăn với lại Xanh với lại Con Hoang và đủ thứ chuối củ nữa.”
“Tóm lại mày muốn nói gì?”
“Tóm lại tau muốn nói là, lôi cái dân chủ ra là đủ có cớ cho bất kỳ cái thứ chết giẫm nào. Bạo lực, tham lam, ngu xuẩn, người Mỹ làm là OK tuốt. Hửm? Tau nói đúng chứ?”
“Mày không khâu cái mồm lại được hả?”
“Tau biết tau nghe thấy gì mà! Ha! Con Hoang! Bảo mi biết nhé. Nếu tau có nghĩ con tau là con hoang đi nữa, tau cũng đủ trí tuệ đặt cho nó tên khác.”
Trong tủ lạnh còn cánh gà, nem và xúc xích con mà Xandra mang về nhà, cả bánh bao từ cửa hàng Tàu ở trung tâm thương mại trên Dải mà bố tôi thích ăn nữa, nhưng tới lúc chúng tôi nghĩ đến chuyện ăn thì chai vodka (phần đóng góp của Boris vào tiệc Tạ ơn) đã vơi quá nửa, và bụng đã nhộn nhạo lắm rồi. Boris - đôi khi chuyển qua rất nghiêm túc nếu đang say, khoác vào cái thói Nga ưa bàn luận cao sâu và ném ra những câu hỏi không giải đáp nổi - đang ngồi trên mặt bàn hoa cương, vung vẩy cái nĩa cắm xúc xích và nói năng sảng loạn về nghèo đói, chủ nghĩa tư bản, biến đổi khí hậu và tình hình xuống đáy của thế giới nói chung.
Đến một lúc không xác định nổi nào đó, tôi bảo: “Boris, mày câm ngay cái mồm lại. Tao không muốn nghe nữa.” Nó vừa quay lên phòng tôi lấy cuốn Walden và đang đọc lớn một đoạn rất dài nhằm chứng minh một điểm gì đó nó muốn đưa ra.
Cuốn sách bay qua phòng - may chỉ là bìa mềm - đập trúng gò má tôi. “Ischézni ! Xéo đi!”
“Đây là nhà tao, thằng não lợn.”
Miếng xúc xích - vẫn còn đang bị xiên trên cái nĩa - bay vèo qua đầu tôi suýt soát trúng. Nhưng cả hai cười ầm. Đến giữa buổi chiều chúng tôi đã là một mớ thân tàn ma dại: lăn vòng trên thảm, ngáng chân nhau, cười và chửi thề, bò bốn chân tay lổm ngổm. Có một trận bóng bầu dục trên tivi, và dù cả hai đều khó chịu nhưng đều không đủ sức kiếm điều khiển chuyển kênh. Boris say mèm đến nỗi cứ tìm cách nói với tôi bằng tiếng Nga.
“Nói tiếng Anh đi, không thì khâu miệng lại,” tôi nói và cố vịn vào thanh cầu thang, hụp người tránh cú đấm của nó vụng đến nỗi ngã nhào xuống vào cái bàn cà phê.
“ Ty menjá dostál Poshëlty![83]
“Bla bla bia,” tôi làm giọng nữ léo nhéo đáp lại, mặt vẫn úp trên thảm. Mặt sàn rung rinh, đung đưa như boong tàu. “Balalaika matryoska.”
“Télik chết giẫm,” Boris nói và cũng sụp người bên tôi, chân đạp đạp rất ngớ ngẩn về phía ti vi. “Ai mà xem được cái cục cứt này.”
“À, tao muốn nói là” - lăn trở lại và Ôm bụng - “tao cũng thế.” Mắt tôi đang quáng gà, vật gì cũng có vòng hào quang bao quanh, nhấp nhánh lan ra ngoài đường biên bình thường.
“Xem dự báo thời tiết đi,” Boris nói và lê đầu gối qua phòng khách. “Xem ở New Guinea thế nào.”
“Mày phải tự tìm thôi, tao không biết kênh nào.”
“Dubai!” Boris thốt lên và đổ sập về phía trước, quỳ bốn chân tay - và rồi tuôn ra một tràng tiếng Nga thổn thức mà tôi loáng thoáng vớ được một hai tiếng chửi.
“Angliyski! Nói tiếng Anh đi.”
“Đang tuyết ở đó?” Lắc vai tôi. “Ông nói đang tuyết, điên quá, tyvidesh[84]? Tuyết ở Dubai! Một phép màu, Potter! Nhìn kìa!”
Đấy là Dublin đấy ạ. Không phải Dubai.”
“Valí ostyúda !! Xéo!”
Rồi chắc tôi đã bất tỉnh (một chuyện thường kỳ mỗi lần Boris mang rượu qua) vì tiếp theo trước mặt đã là một ánh sáng hoàn toàn khác, còn tôi thì đang quỳ bên cửa trượt, bên cạnh là một bãi nôn trên thảm và trán tì vào cánh cửa. Boris ngủ lịm, mặt úp xuống, ngáy vang lên, một tay thõng xuống bên xô pha. Popchik cũng ngủ, gác cằm lên gáy Boris mãn nguyện. Tôi thấy thảm hại hết sức. Xác bướm chết nổi lềnh bềnh trên mặt bể bơi. Tiếng máy móc rì rì khá rõ. Dế và bọ cánh cứng chết đuối, quay tròn trong túi lọc nhựa. Trên kia, mặt trời đang lặn vẫn sáng chói lóe và bất nhân, những tầng mây đỏ máu như những cuộn phim ngày tận thế báo về thảm họa và hủy diệt: những vụ nổ bom trên các đảo nhỏ Thái Bình Dương, các loài thú rừng rầm rập chạy trốn màn lửa.
Nếu không có Boris ở đấy chắc tôi đã khóc vùi. Nhưng tôi chỉ vào phòng tắm, lại nôn rồi uống ít nước ở vòi, mang giấy chùi quay lại lau hết những thứ bẩn thỉu mình bày ra dù đầu đau đến nỗi khó nhìn rõ được. Bãi nôn có màu da cam rất tởm, do món cánh gà nướng, và rất khó dọn, lau rồi vẫn để lại vết bẩn, và trong lúc kỳ cạch chùi bằng nước rửa bát tôi cố gắng chuyển sang nghĩ về New York, những điều tươi đẹp - căn hộ nhà Barbour với những món đồ sứ Trung Hoa và những anh bảo vệ thân thiện, hoặc chốn lặng lẽ phi thời gian trong nhà Hobie, sách cũ, đồng hồ tích tắc ồn ào, đồ gỗ cũ, màn nhung, nơi nơi là trầm tích của quá khứ, những căn phòng yên ả thứ gì cũng điềm đạm và hợp lý. Đêm đêm, mỗi lần tôi thấy ngợp vì cảnh xa lạ ở nơi đây, tôi lại ru mình ngủ bằng cách nghĩ về xưởng gỗ của ông, mùi sáp ong và dăm bào gỗ cẩm lai rất nồng, rồi dãy cầu thang hẹp dẫn lên phòng khách, nơi nắng bụi chiếu từng luồng lên những lớp thảm phương Đông.
Mình sẽ gọi, tôi nghĩ. Tại sao không chứ? Tôi mới chỉ vừa đủ say đến mức nghĩ là nên như vậy. Nhưng điện thoại chỉ reo hoài reo hủy.
Cuối cùng, sau hai ba lần gọi, rồi khoảng nửa tiếng đồng hồ chán ngấy trước tivi - buồn nôn, toát mồ hôi, bụng đau quặn, trố mất nhìn kênh thời tiết, đường sá đóng băng, frông lạnh quét vào qua Montana - tôi quyết định gọi Andy và đi vào bếp để khỏi làm Boris thức giấc. Kitsey là người nhấc máy.
“Không nói chuyện được,” nó liến thoắng nói khi nhận ra là tôi.
“Muộn rồi. Sắp đi ăn tối.”
“Ăn ở đâu?” tôi hỏi và chớp mắt. Đầu tôi vẫn đau đến mức khó khăn lắm mới đứng được.
“Với nhà Van Ness bên Đại lộ 5. Bạn mẹ.”
Đằng xa xa, tôi nghe tiếng rên rỉ không rõ củaToddy và tiếng Platt gầm lên: “Cút ngay khỏi người tao!”
“Cho anh chào Andy một câu được không?” tôi hỏi và nhìn đăm đăm xuống sàn bếp.
“Không, thật đấy, sắp đi... Mẹ à, con đến đây!” tôi nghe nó hét.
Quay sang tôi, nó bảo, “Chúc mừng Tạ ơn.”
“Chúc em nữa,” tôi nói, “gửi lời chào đến mọi người hộ anh.” nhưng nó đã gác máy.
XXI
NHỮNG NGHI NGẠI CUẢ TÔI VỀ bố Boris đã vợi bớt ít nhiều từ hôm ông nắm tay tôi và cám ơn đã chăm lo cho Boris. Dù ông Pavlikovsky (“Ông cơ đấy!” Boris cười cùng cục) cố vẻ ngoài rất đáng sợ, thì rốt cuộc, tôi cũng nghĩ ông không đến nơi kinh khủng như bề ngoài. Hai lần vào tuần sau Tạ ơn, chúng tôi về nhà sau giờ học thấy ông trong bếp - lầm bầm chào hỏi, không có gì khác, ngồi bên bàn nốc vodka và thấm vầng trán lấm tấm mồ hôi bằng khăn giấy, mái tóc hoe vàng thẫm lại vì món dầu bôi tóc nào đấy, nghe tin tức tiếng Nga trên chiếc đài cũ nát vặn rất to. Nhưng một đêm, chúng tôi đang ngồi dưới nhà cùng Popper (tôi đã dắt từ tận nhà đến đây) xem một bộ phim cũ của Peter Lorre tên The beast with five fingers[85] thì cửa trước đóng đánh sầm một cái.
Boris đập tay lên trán. “Chết mẹ.” Trước khi kịp nhận ra nó định làm gì, nó đã ủn Popper vào tay tôi, nắm lấy cổ áo tôi dựng dậy và xô mạnh vào lưng.
“Sao...”
Nó khoát tay thật mạnh - đi ngay. “Chó,” nó rít lên. “Ông già tau giết nó mất. Đi nhanh.”
Tôi chạy qua bếp, và lặng lẽ hết sức, chuồn ra qua cửa sau. Ngoài trời tối mịt. Lần đầu tiên trong đời, Popper không hó hé chút gì. Tôi đặt nó xuống đất, biết rằng nó sẽ bám sát mình, và đi một vòng tròn quay lại bên cửa sổ phòng khách không có rèm.
Bố nó đang chống gậy đi vào, một điều tôi chưa từng thấy. Dựa hẳn vào cây gậy, ông khập khiễng đi vào căn phòng sáng như một nhân vật trong vở kịch sân khấu. Boris đứng đó, hai tay bắt tréo qua bộ ngực khẳng khiu, ôm chặt lấy mình.
Nó và ông bố đang cự cãi - hay đúng hơn là ông bố đang quát tháo. Còn Boris chỉ nhìn xuống sàn. Tóc nó rủ xuống mặt, nên tôi chỉ nhìn thấy chóp mũi.
Đột ngột, hất đầu, Boris nói xấc một câu và quay mình định đi.
Rồi thì - độc địa tới mức tôi gần như không kịp nhận ra – bố của Doris bật lên như rắn và giơ gậy quật ngang bả vai khiến nó ngã lăn xuống đất. Khi nó còn chưa kịp đứng dậy - còn đang bò lồm cồm - ông Pavlikovsky đá nó ngã lăn, rồi túm lấy lưng áo kéo nó đứng dậy lảo đảo.
Quát tháo, gào rít bằng tiếng Nga, ông tát ngang mặt nó bằng bàn tay đỏ bầm đầy nhẫn, tát đi tát lại. Rồi xô mạnh nó loạng choạng vào giữa phòng, ông giơ đầu gậy có móc giáng thẳng giữa mặt nó.
Đờ người, tôi lùi lại khỏi cửa sổ, choáng váng đến nỗi vấp phải một túi rác ngã nhào. Popper, hoảng vía vì tiếng ồn, đang chạy ngược chạy xuôi kêu thút thít. Vừa đúng lúc tôi lồm cồm bò dậy, sợ chết điếng, giữa tiếng lon thùng loảng xoảng, cửa trước mở ra hắt một ô vuông ảnh sáng vàng lên mặt xi măng. Nhanh hết sức có thể tôi nhào dậy, túm lấy Popper và bỏ chạy.
Nhưng hóa ra chỉ là Boris. Nó đuổi kịp tôi, túm lấy tay lôi tôi chạy dọc phố.
“Trời ạ,” tôi nói, hơi hụt đằng sau, cố tìm cách ngoái lại. “Có chuyện gì vậy?”
Đằng sau lưng, cánh cửa trước nhà Boris mở toang. Ông Pavlikovsky đứng, một cái bóng thẫm giữa luồng ánh sáng từ cửa, một tay ôm lấy mình, tay kia rung nắm đấm và quát thét bằng tiếng Nga.
Boris kéo tôi chạy đi. “Phắn thôi.” Chúng tôi cứ thế chạy trên phố tối om, giày đập xuống mặt đường nhựa, cho tới khi rốt cuộc giọng ông bố cũng chìm hẳn.
“Mẹ kiếp,” tôi nói và bước chậm lại khi rẽ qua góc đường. Tim tôi đập thình thịch, đầu quay mòng; Popper ư ử giãy giụa đòi xuống, tôi đặt nó xuống đường cho chạy vòng tròn xung quanh cả hai. “Chuyện gì thế?”
“Có chi đâu,” Boris nói, giọng hớn hở đến không hiểu nổi, lau mũi làm phát ra một tiếng khụt khịt đầy nước. “Bão tố trong cốc nước’’, tiếng Ba Lan nói vậy đấy. Ổng loạn óc ấy mà.”
Tôi cúi mình, chống tay vào gối để kìm nhịp thở. “Bực, hay say?”
“Cả hai. May là ông không thấy Popchyk, bằng không... tau cũng chẳng biết sẽ làm sao nữa. ông nghĩ loài vật chỉ được ở ngoài đường. Nhưng mà này,” nó nói và giơ chai vodka lên, “xem tau có cái gì này! Cuỗm được trên đường ra.”
Tôi ngửi thấy trước khi trông thấy máu trên người nó. Đêm ấy trăng lưỡi liềm, không sáng lắm, nhưng cũng đủ rõ - và khi đứng dậy nhìn thẳng vào mặt nó, tôi thấy mũi nó đang trào ra thành một vệt đỏ sẫm trên áo.
“Trời,” tôi nói, vẫn đang thở phì phò, “mày sao không?”
“Ra sân chơi nghỉ cái coi,” Boris nói. Mặt nó, như tôi thấy, thật kinh khủng: mắt sưng vù, một vệt rách hình móc rất gớm trên trán cũng đang chảy máu.
“Boris! Phải về nhà thôi.”
Nó nhướng mày. “Nhà?”
“Nhà tao. Sao cũng được. Trông mày kinh lắm.”
Nó nhoẻn cười - phô hàm răng đầy máu - rồi thúc cùi chỏ vào mạng sườn tôi. “Nồ, tau phải uống một miếng mới giáp mặt Xandra được. Nào, Potter. Mi cũng không cần miếng an thần nào ư? Sau từng ấy việc?”
XXII
Ở NHÀ VĂN HÓA BỎ HOANG, mấy cầu trượt trong sân chơi lấp lánh như bạc trong ánh trăng. Chúng tôi ngồi bên đài phun nước cạn, đung đưa chân trong bồn, chuyền qua chuyền lại chai rượu tới khi mất ý niệm về thời gian.
“Đời tao chưa thấy cái gì quái dạng thế bao giờ,” tôi nói, đưa mu bàn tay quệt miệng. Sao như chao đảo trên đầu.
Boris, chống tay dựa ra đằng sau, mặt ngẩng lên nhìn trời, đang khe khẽ hát bằng tiếng Ba Lan.
Wszystkie dzieci, nawet źle,
pogrążone są we śnie,
a ty jedna tylko nie.
A-a-a, a-a-d...
“Kinh khiếp,” tôi nói. “Bố mày ấy.”
“Ờ,” Boris vui tươi đáp, chùi mồm vào vai áo vấy máu. “Ổng từng giết người đấy, ông đập một ông khác chết ngắc dưới mỏ.”
“Điêu.”
“Thề luôn. Ở New Guinea ấy. Ông kiếm cách làm sao trông như đá lở làm ông kia ngoẻo, nhưng sau đó bọn tau vẫn phải chuồn êm.”
Tôi ngẫm nghĩ. “Bố mày, ừm, không được chắc người lắm,” tôi nói, “Ý tao là, tao không hiểu làm sao mà...”
“Nồ, không phải dùng tay đâu. Dùng cái, gọi là gì nhỉ” nó làm bộ đập xuống mặt phẳng “cái mỏ lết điều chỉnh được.”
Tôi im lặng. Trong cử chỉ Boris đập cây mỏ lết tưởng tượng xuống đất, có gì đó nói lên đấy là sự thật.
Boris, nãy giờ vẫn đang loay hoay tìm cách châm thuốc, phà một làn hơi bay ra. “Làm miếng không?” Nó chuyển cho tôi, đốt cho mình điếu khác, rồi lấy khớp ngón tay cọ cọ hàm. “A,” nó thốt lên và day day hồi lâu.
“Có đau không?”
Nó bật cười ngái ngủ, thụi vào vai tôi một cú. “Thế mi nghĩ sao? Đồ ngốc.”
Giây lát sau chúng tôi đã cười hú lên, bò lổm ngổm trên nền đá dăm. Dù say ngất ngư như thế nhưng đầu óc tôi vẫn phấn khích, lạnh buốt và sáng rõ lạ lùng. Rồi đến một lúc, khi cả người đã lấm đầy bụi vì lăn lê bò càng trên mặt đất, chúng tôi loạng choạng đi về nhà giữa cảnh đen mịt mùng, hàng dãy nhà bỏ hoang và đêm sa mạc khổng lồ bao bọc khắp bốn phía, những đốm sao sáng tít trên cao và Popchik lon ton đằng sau, chúng tôi đi chân nam đá chân chiêu bên nhau, cười dữ đến mức khản cả giọng và suýt thì nôn ọe xuống lề đường.
Nó đang hát rống hết cỡ, vẫn bài đó:
A-a-a, a-a-a,
byly sobie kotki dwa.
A-a-a, kotki dwa,
szarobure...
Tôi đá cho nó một cú. “Tiếng Anh!”
“Đây, để tau dạy mi. A-a-a, a-a-a...”
“Nói xem nghĩa là gì.”
“Được, nói thì nói. ‘Ngày xưa hai chú mèo con,” Boris hát:
cả hai đều đẹp đều giòn như nhau. A-a-a...
“Hai chú mèo con?”
Nó định đánh tôi nhưng suýt ngã. “Câm họng! Còn chưa đến phần hay.” Lấy tay chùi mổm, nó lại ngửa đầu ra hát tiếp:
Ầu ơ ngủ nhé con yêu,
Ngủ ngoan mẹ hái cho sao trên trời.
Trẻ ngoan đều đã ngủ rồi,
Bao nhiêu trẻ xấu trẻ tồi ngủ luôn.
Bốn bề khép mắt cho ngon,
Chỉ riêng con mẹ vẫn còn chong chong.
A-a-a, a-a-a...
Ngày xưa hai chú mèo con...
Khi cả hai về đến nhà tôi, vừa đi vừa làm váng lên và xô đẩy nhau, ga-ra trống huơ: không có ai ở nhà. “ơn Chúa,” Boris xăng xái nói rồi phủ phục xuống nền xi măng, dập đầu trước nhan Chúa.
Tôi xách cổ áo nó. “Đứng dậy!”
Trong nhà, dưới đèn sáng, trông nó thật khốn khổ: máu dính khắp người, mắt sưng tướng thành một kẽ hum húp. “Đợi tí,” tôi nói và thả nó xuống giữa thảm phòng khách, lập cập dí lại phòng tắm kiếm gì chữa vết thương. Nhưng chẳng thấy gì, chỉ có nước gội đầu và một chai nước hoa xanh lè mà Xandra thắng được ở cuộc xổ số nào đó ở khách sạn Wynn. Trong cơn say, tôi nhớ lại mẹ từng nói gì đó về việc nước hoa lúc bí có thể dùng sát khuẩn, thế là quay lại phòng khách với Boris đang nằm xoài trên thảm và Popper lo âu hít ngửi cái áo dính máu.
“Này,” tôi nói, gạt con chó ra và lấy vải ẩm thấm thấm chỗ máu trên trán nó. “Yên nhé.”
Boris ngọ nguậy tránh đi và càu nhàu. “Mi làm cái đếch gì thế?”
“Khâu miệng lại,” tôi nói và vuốt tóc cho khỏi xòa xuống mắt nó.
Nó lẩm bẩm bằng tiếng Nga. Tôi đã rất cố gắng, nhưng cũng say không thua, nên khi xịt nước hoa lên vết rách nó rít lên và quại cho tôi một cú vào miệng.
“Khốn!” tôi hỏi và đưa tay sờ môi, thấy máu dính trên ngón tay. “Xem mày làm gì tao này.”
“Blyad[86]” nó nói, vừa ho vừa xua xua trước mặt, “thúi quá. Mi vẩy cái gì lên tau thế hả thằng đĩ?”
Tôi cười phá lên, không thể nhịn được.
“Thằng chó” nó gầm lên và xô tôi mạnh đến nỗi ngã nhào. Nhưng nó cũng đang cười lớn, chìa tay để tôi đứng dậy, nhưng tôi đá tay nó đi.
“Cút xéo!” Tôi đang cười dữ đến nỗi không nói tròn vành rõ chữ được. “Mày bốc mùi Xandra.”
“Chúa ơi, tau sặc muốn chết. Phải rửa cái thứ này đi thôi.”
Chúng tôi loạng quạng đi ra ngoài - tháo bỏ áo, lò cò tuột quần trên đường chạy ra - rồi nhảy xuống hồ bơi: quyết định rất ngu, tôi nhận ra muộn màng trong phút đổ ập xuống ngay trước khi chạm mặt nước, say mềm như bún và chân không đỡ nổi người nữa. Khối nước lạnh đập sầm vào tôi suýt ngộp thở.
Tôi chới với bơi lên mặt nước, mắt rát buốt, chất clo đốt bỏng mũi. Một tia nước bắn vào mắt tôi, tôi nhổ lại vào nó. Nó chỉ là một vệt sáng loang loáng trong bóng tối, má hóp lại, mắt đen bết vào hai bên đầu. Vừa cười chúng tôi vừa vật lộn, tìm cách dìm đầu nhau xuống, dù răng thì đánh lập cập và tôi vừa say vừa mệt lả đến mức không thể hiểu sao có thể đùa giỡn trong hai mét rưỡi nước.
Boris ngụp xuống. Một bàn tay chộp lấy mắt cá chân, giật tôi xuống đáy nước, tôi chỉ nhìn thấy trước mặt mình là một tường bong bóng tối thẫm.
Tôi vùng ra, cố vật lộn. Lần nữa, lại giống như bảo tàng, bị nhốt trong không gian đen ngòm, không lối ra, không lối lên. Tôi quẫy đạp vặn vẹo người, từng bụm không khí hoảng loạn bồng bềnh trước mắt tôi: những chiếc chuông chân không, bóng tối. Rốt cuộc, đúng khi sắp hớp vào một phổi đầy nước, tôi cũng quẫy được ra và trồi lên mặt bể.
Vừa ho sặc, tôi vừa bấu vào mép bể thở hổn hển. Khi mắt đã nhìn rõ lại, tôi thấy Boris - cũng vừa ho vừa chửi rủa - đang nhào tới chỗ thang lên. Hụt hơi vì giận dữ, tôi nửa bơi, nửa bật nhảy tới đằng sau nó, móc chân khèo đầu gối khiến nó ngã sấp mặt đánh bộp.
“Chó,” tôi lập bập chửi, còn nó đạp nước ngoi lên mặt. Nó định nói, nhưng tôi đã quạt nước vào mặt nó, rồi lại lần nữa, rồi luồn tay bấu tóc nó lôi xuống dưới nước. “Đồ khốn nạn chó đẻ tôi gào lớn khi nó lại trồi lên, thở hồng hộc, nước chảy ròng ròng trên mặt. “Đừng-bao-giờ-làm-vậy-với-tao-lần-nữa.” Tôi đè cả hai tay lên vai nó, định trèo lên rồi ngụp xuống - ấn nó xuống, giữ nó dưới nước thật lâu - thì nó quài tay ra sau tóm lấy cánh tay tôi, tôi mới nhận ra nó đã trắng bệch, run lẩy bẩy.
“Thôi,” nó vừa sặc vừa nói -đến lúc đó tôi mới nhận ra cặp mắt nó đã lạc thần láo liên.
“Này, mày có sao không?” tôi hỏi. Nhưng nó đang ho sặc sụa không đáp lại được. Mũi nó lại chảy máu ròng ròng, chất nước đen ngòm trào giữa những ngón tay. Tôi đỡ nó lên, và cả hai ngã ập trên bậc thang thành bể - nửa trong nước, nửa vắt ra ngoài, quá mệt không còn sức trèo hẳn lên.
XXIII
ÁNH NẮNG CHÓI KHIẾN tôi tỉnh dậy. Cả hai đang nằm trên giường tôi: tóc ướt, ăn mặc lôi thôi, run rẩy trong cái lạnh từ máy điều hòa, con Popper nằm giữa ngáy khẽ. Ga giường ẩm, hôi mùi clo, đầu tôi đau như búa bổ và miệng lờm lợm vị sắt như thể vừa mút một nắm tiền lẻ.
Tôi nằm im phắc, dường như chỉ cần nhích đầu một phân thôi là sẽ nôn mửa, rồi rất từ từ nhỏm dậy.
“Boris?” tôi hỏi và đưa lòng bàn tay chà chà má. Những vệt máu khô màu nâu dính trên vỏ gối. “Dậy chưa?
“Ôi trời,” Boris rên lên, mặt tái mét, nhơm nhớp mồ hôi, lật người nằm sấp để túm lấy đệm. Cả người nó trần trùi trụi, trừ mớ vòng tay Sid Vicious và cái gì đó trông như quần lót của tôi. “Tau buồn ọe quá ”
“Không được ở đây.” Tôi đá nó. “Dậy.”
Nó vừa lầm bẩm vừa lăn đi. Tôi nghe tiếng nó ọe trong phòng tắm. Âm thanh ấy khiến tôi vừa buồn nôn, vừa muốn cười rú. Tôi lăn người, úp mặt vào gối cười lớn. Khi nó lảo đảo đi vào tay ôm đầu, tôi mới giật mình nhận thấy bên mắt tím thẫm, cục máu bết dưới lỗ mũi và vết thương đóng vẩy trên trán.
“Chúa ơi,” tôi nói, “trông kinh quá. Mày phải đi khâu thôi.”
“Biết sao không?” Boris hỏi và đổ ập người nằm sấp trên đệm.
“Sao?”
“Tụi mình muộn mẹ nó học rồi!”
Chúng tôi nằm lăn ra và cười hô hố. Người yếu lả và buồn nôn kinh khủng, nhưng tôi cứ ngỡ mình sẽ cười đến đứt hơi.
Boris lật lại, thò một tay lần sờ tìm gì đó trên sàn. Nháy mắt sau nó lại bật lên. “Á! Cái gì đây?”
Tôi ngồi dậy, háo hức đưa tay cầm cốc nước - hoặc cái tôi nghĩ là cốc nước - và đến khi nó dí vào mũi thì tôi suýt ọe vì mùi.
Boris hú lên cười. Chốc sau nó đã nằm đè lên tôi: xương xẩu nhọn hoắt và da thịt nhớp nháp, sặc mùi mồ hôi và nôn ọe cùng cái gì đó khác, sống sít mà bẩn thỉu, như là nước ao tù. Nó bóp mạnh má tôi, nghiêng cốc vodka trên mặt tôi. “Đến giờ uống thuốc rồi! Nằm im,” nó nói, trong khi tôi đạp đổ cái cốc và choảng vào miệng nó một cú nháng lửa tuy không trúng đích lắm. Popper đang sủa loạn xị vì hứng chí. Boris khóa cổ tôi, túm lấy cái áo bẩn tối hôm qua tìm cách nhồi vào miệng, nhưng tôi quá nhanh hẩy nó khỏi giường làm nó đập đầu vào tường. “Khốn kiếp,” nó kêu lên, giơ bàn tay chùi mặt vẻ ngái ngủ và cười rúc rích.
Tôi ngật ngưỡng đứng dậy, cả người đổ mồ hôi lạnh như kim châm, lần đường vào phòng tắm và qua một hai cú ồng ộc - tay chống vào tường - trút hết mọi thứ trong bụng vào toilet. Ở phòng bên cạnh, tôi nghe rõ tiếng nó cười.
“Hai ngón tay xuống cống,” nó réo lên, và còn câu gì đó tôi không nghe rõ, vì đã bắt đầu một đợt co giật mới.
Khi xong xuôi, tôi nhổ bọt vài cái rồi đưa mu bàn tay chùi miệng. Trông phòng tắm thật kinh tởm: vòi sen chảy nước, cửa mở toang, khăn tắm ướt sũng, khăn cọ dính máu vứt trên sàn. Vẫn còn run lẩy bẩy vì buồn nôn, tôi hứng tay uống nước từ vòi và té lên mặt. Cái thằng bé ngực trần trong gương trông co rúm và trắng nhợt, môi sưng vều chỗ bị Boris quại đêm qua.
Boris vẫn nằm trên sàn thõng thượt, đầu gác lên tường. Thấy tôi vào, nó hé bên mắt lành và cười khùng khục khi quan sát tôi. “Đỡ hẳn rồi chứ?”
“Câm mõm! Đừng có mở miệng nói với tao.”
“Đáng đời mi. Tau đã bảo đừng có quậy với cái cốc rồi thôi?”
“Tao à?”
“Mi không nhớ hửm?” Nó thè lưỡi chạm vào môi trên, xem có phải miệng lại chảy máu rồi không. Khi không mặc áo, người nó hiện rõ khoảng giữa các xương sườn, những vết hằn từ các trận đánh cũ và sắc đỏ vì phơi nắng lên cao trên ngực. “Để cốc trên sàn, ngu gì ngu vãi! Điềm xấu đấy! Tau đã bảo mi đừng có để đấy! Đấy là lời nguyền!”
“Mày đâu có cần phải đổ lên đâu tao,” tôi nói, mò mẫm tìm kính và vớ lấy cái quần đầu tiên bắt được từ chồng quần áo bẩn chung lộn trên nền nhà.
Boris bóp sống mũi, cười lớn. “Chỉ định giúp mi thôi mà. Có tí rượu sẽ đỡ hơn.”
“Cảm ơn lắm lắm.”
“Thề luôn. Nếu mi nuốt được. Đau đầu mấy cũng mất tiêu luôn. Ông già tau chẳng có ích mẹ gì nhưng về chuyện này ông siêu đẳng. Nếu mi có bia lạnh là tốt nhất.”
“Này, lại đây,” tôi nói. Tôi đang đứng bên cửa sổ nhìn xuống bể bơi. “Hừm?”
“Lại mà xem. Tao muốn mày xem.”
“Nói luôn đi,” Boris lầm bầm dưới sàn. “Tau không muốn dậy.”
“Dậy đi thì hơn.” Dưới nhà không khác gì hiện trường án mạng. Một chuỗi máu rỏ ngoằn ngoèo qua sàn đá lát tới bể bơi. Giày, quần bò, áo sơ mi dính máu quẳng tứ tung khắp nơi. Một trong hai chiếc giày toạc của Boris nằm tận đáy bể đầu nước sâu. Tệ hơn nữa, một bãi nôn nhầy nhụa đang lơ lửng ở đầu nước nông gần bậc xuống.
XXIV
MÃI SAU, SAU VÀI CÚ ĐỘNG chân tay hờ hững với cái máy hút bể, chúng tôi ngồi trên kệ bếp hút thuốc Viceroy của bố tôi và nói chuyện. Đã gần trưa - chẳng đáng bàn đến chuyện đi học nữa. Boris, xơ xác như một thằng tâm thần, áo vắt một bên vai, vừa đập sầm sầm mấy cánh tủ và than vãn vì không có trà, đã chế ra một món cà phê kiểu Nga kinh tởm bằng cách đun bã cà phê trong chảo trên lò.
“Không, không được,” nó nói khi thấy tôi rót ra một chén cỡ bình thường. “Nặng lắm, cho ít thôi.”
Tôi nếm thử, lè lưỡi.
Nó chấm ngón tay vào liếm. “Có bích quy thì tốt.”
“Mày đùa chắc.”
“Bánh mì bơ?” nó khấp khởi đề nghị.
Tôi tuột xuống khỏi bếp - thật nhẹ nhàng, vì đầu vẫn đau - và tìm khắp bếp đến khi gặp trong ngăn tủ mấy gói đường và bánh đa ngô đóng hộp mà Xandra mang về từ bar.
“Điên thật,” tôi nói khi nhìn mặt nó.
“Cái gì điên?”
“Bố mày, làm trò đó.”
“Sao đâu,” Boris lẩm bầm, nghiêng đầu để nhét trọn miếng bánh vào mồm. “Có lần ông còn đập tau gãy xương sườn.”
Ngưng một lúc lầu, và vì không nghĩ ra cái gì khác, tôi bảo, “Gãy xương sườn cũng không nghiêm trọng lắm.”
“Không, nhưng đau lắm. Xương này này,” nó nói và vén áo lên chỉ cho tôi.
“Tao cứ tưởng ông ấy định giết mày chứ.”
Nó đụng vai vào vai tôi. “Ờ, nhưng tau cố tình chọc ổng. Tau đối đáp lại. Để mi còn kịp mang Popchick đi. Này, không có gì đâu,” nó hạ cố nói khi thấy tôi vẫn nhìn. “Đêm qua ông sùi bọt mép thật nhưng khi nào thấy tau sẽ hối hận thôi.”
“Có khi mày cứ ở đây một thời gian.”
Boris chống tay ra sau lưng, ném cho tôi một nụ cười khinh thường. “Có vậy mà cũng rộn. Thỉnh thoảng ông có trầm cảm tí xíu, vậy thôi.”
“Ha.” Xưa kia vào những ngày còn uống Johnnie Walker nhãn đen - nôn đầy lên áo vía, đồng nghiệp tức tối gọi về nhà - bố tôi (có khi còn trào nước mắt) vẫn đổ tội những cơn bùng nổ lên cái gọi là trầm cảm.
Boris bật cười, có vẻ thích thú thực tình. “Thì sao? Mi không bao giờ thấy buồn chút xíu à?”
“Phải tống ông vào tù vì chuyện đó.”
“Lạy hồn.” Boris đã chán thứ cà phê kinh tởm, đi lại tủ lạnh kiếm bia. “Ông già tau hả - hay phát khùng, hẳn rồi, nhưng yêu tau, ông đã có thể vứt tau lại cho hàng xóm hồi rời U cơ mà. Bạn tau, Maks và Seryozha bị vậy đấy - Maks cuối cùng cũng ra đường. Ngoài ra thì nếu mi nghĩ kiểu đó, tau cũng đáng ở tù.”
“Sao thế?”
“Một lần tau kiếm cách giết ổng. Thề luôn!” nó nói khi thấy ánh mắt tôi nhìn nó. “Thật đấy.”
“Tao không tin.”
“Không, thề.” nó cam chịu nói. “Tau cũng hối rồi. Mùa đông cuối cùng ở U, tau lừa ông đi bộ ngoài đường - ông say đến nỗi cũng làm theo. Rồi tau khóa cửa. Cứ nghĩ ông sẽ chết trong tuyết. May mà không, hửm?” nó nói và cười hú lên. “Thế thì tau sẽ chết dí ở U, Chúa ạ. Bới thùng rác mà ăn. Ngủ trong ga tàu hỏa.”
“Xong rồi sao?”
“Biết được. Lúc đó cũng chưa muộn lắm. Ai đó thấy ông, đón ông vào xe - bà nào đó, chắc vậy, ai biết? Tóm lại là ông đi tiếp, uống nhiều hơn, mấy hôm sau mới mò về nhà - may cho tau, chẳng nhớ trời trăng gì nữa! Mà lại mang cho tau quả bóng đá, nói từ rày chỉ uống bia thôi. Lần đó được quãng một tháng.”
Tôi dụi mắt sau kính. “Thế đến trường mày định bảo sao?”
Nó bật nắp chai bia. “Hửm?”
“Thì đấy.” Vết bầm trên mặt nó đỏ như thịt sống. “Rồi sẽ bị hỏi.” Nó nhăn nhở cười, huých tôi. “Tau sẽ bảo là do mi đập,” nó nói. “Không, tao hỏi thật.”
“Tau nói thật.”
“Boris, không đùa đâu.”
“Ôi thôi nào. Bóng bầu dục, không thì ván trượt.” Mái tóc đen lại xõa xuống mặt như cái bóng, nó gạt đi. “Mi không muốn người ta bắt tau đi chứ, hửm?”
“Ừ.” tôi đáp sau một thoáng im lặng khó chịu.
“Vì, Ba Lan.” Nó chuyền bia cho tôi. “Tau nghĩ chắc là về đó. Nếu bị trục xuất. Dù Ba Lan…” nó bật cười, như tiếng sủa “vẫn còn hơn U, lạy Chúa!”
“Người ta không thể đưa mày về lại đó phải không?”
Nó nhăn mày nhìn đôi tay bẩn thỉu, máu khô cáu đầy móng tay. “Không,” nó dữ tợn đáp. “Vì tau sẽ tự tử trước.”
“Ôi, tao sẽ khóc cho mà xem.” Boris cứ luôn miệng dọa tự tử vì cớ này cớ khác.
“Tau nói thật! Tau sẽ chết trước khi người ta động vào! Tau thà chết còn hơn.”
“Mày chẳng chết đâu.”
“Tau sẽ chết cho mi xem! Mùa đông ở đó - mi không tưởng nổi đâu. Cả đến không khí cũng tởm. Bốn bề toàn xi măng xám, mà gió...”
“Ừ thì cũng phải có lúc mùa hè chứ.”
“À, hè hả.” Nó với lấy thuốc lá, rít một hơi thật gắt, thở một làn khói lên trần nhà. “Muỗi này. Bùn thối hoăng. Cái gì cũng có mùi mốc. Tau vừa đói meo, vừa cô đơn muốn chết luôn - nói thật đấy, nhiều khi tau đói lả, tau đi trên bờ sông nghĩ hay là quăng mình xuống chết cho rảnh nợ.”
Đầu tôi đau dừ. Quần áo của Boris (đúng hơn là của tôi) đang quay trong máy sấy. Ngoài kia, mặt trời sáng rỡ, tai ác.
“Tao không biết mày thế nào,” tôi nói và lấy lại điếu thuốc, “nhưng tao đang thèm thức ăn thật chết được.”
“Vậy ta làm gì?”
“Lẽ ra ta nên đến trường.”
“Hừm.” Boris luôn nói rõ rằng nó chỉ đến trường vì tôi cũng đến, và vì ở nhà chẳng có việc gì làm.
“Không, nói thật đấy. Đáng ra phải đến. Hôm nay có pizza.”
Boris nhãn mặt, tiếc nuối thật lòng. “Mẹ kiếp.” Đây là một ưu điểm khác của trường học, ít ra chúng tôi cũng được cho ăn uống. “Giờ thì quá muộn.”
XXV
ĐÔI KHI TRONG ĐÊM, TÔI TỈNH DẬY, gào thét. Vụ nổ có điều đáng ghét nhất là tôi mang theo nó trong mình - cơn nóng, cú sốc và sức ép thấu xương. Trong mơ, lúc nào cũng có một đường sáng và một đường tối dẫn ra ngoài. Tôi phải đi theo đường tối, vì đường sáng vừa nóng vừa lập lòe lửa. Nhưng trong đường tối, có xác người.
Thật may là Boris chẳng bao giờ tỏ ra bực mình hay thậm chí có vẻ giật mình khi tôi khua nó tỉnh, cứ như nó xuất thân từ thế giới nơi đêm đêm rú rít vì đau là chuyện rất đỗi bình thường. Thỉnh thoảng nó bế Popchik lên - đang ngáy dưới chân giường - rồi thả thành một đống ủ rũ ngáp ngủ trên ngực tôi. Và dưới sức nặng ấy, giữa hơi ấm của cả hai bên mình, tôi nằm đếm bằng tiếng Tây Ban Nha hoặc cố điểm lại mọi từ tiếng Nga mình biết (chủ yếu là từ chửi tục) tới khi ngủ lại.
Hồi mới tới Vegas, tôi đã cố động viên mình bằng cách tưởng tượng mẹ vẫn sống, vẫn đang sinh hoạt bình thường ở New York - tán chuyện với mấy chú bảo vệ, mua cà phê và bánh muffin ở căng tin, đợi trên ke ga cạnh quầy báo chờ chuyến tàu số 6. Nhưng chẳng được hiệu quả bao lâu. Giờ khi úp mặt vào cái gối lạ có mùi chẳng tí nào giống mẹ, cũng chẳng giống nhà, tôi nhớ lại căn hộ nhà Barbour trên Đại lộ Công viên, hay thỉnh thoảng là ngôi nhà của Hobie ở Greenwich.
Bác rất tiếc khi biết bố cháu đã bán hết đồ của mẹ cháu. Nếu cháu nói trước với bác, có thể bác đã mua được vài món để giữ lại cho cháu. Khi chúng ta buồn - ít nhất như bác bây giờ - lòng ta sẽ được an ủi khi bám lấy những đồ vật thân thuộc, bám lấy những điều không thay đổi.
Những gì cháu tả về sa mạc - cái ánh chói gắt vô tận như đại dương ấy - thật kinh khủng, nhưng cũng thật đẹp. Có lẽ ta có thể thấy cái đẹp trong vẻ trống trải và tự nhiên thô tháp đó. Ánh sáng từ rất lâu vẻ trước thật khác với ánh sáng ngày nay, nhưng trong căn nhà này, bác vẫn được gợi nhắc vé quá khứ theo mỗi bước chân. Nhưng mỗi khi nghĩ tới cháu, bác có cảm giác cháu đã lên tàu ra biển -ra một chốn sáng loáng nơi ngoại quốc nào đó, không có đường, chỉ có bầu trời và ánh sao.
Lá thư này khi gửi đến, kẹp trong một cuốn Gió, cát và những vì sao[87] bìa cứng đã cũ của Saint-Exupéry, tôi đọc đi đọc lại. Tôi vẫn để nguyên thư trong sách, nó nhăn nhúm và đã bẩn sau nhiều lần đọc.
Boris là người duy nhất ở Vegas được tôi kể sự tình khi mẹ mất - một câu chuyện mà, phải thừa nhận, nó đã lắng nghe điềm tĩnh lạ thường: cuộc đời nó vốn đã quá bạo lực và huyên náo đến nỗi nó chẳng có vẻ gì là kinh sợ trước câu chuyện. Nó đã chứng kiến nổ lớn nhiều lần ở các khu mỏ của ông bố, ở Bantu, Hijau và đủ chỗ tôi chẳng biết là đâu, và dù không biết cụ thể, vẫn có thể suy đoán gần chính xác thứ thuốc nổ được dùng. Dù nói leo lẻo suốt ngày nhưng nó cũng có bản tính kín đáo, tôi tin nó sẽ không kể cho ai, không cần tôi yêu cầu. Có thể vì chính nó cũng mất mẹ và đã trở nên gắn bó với những người như Bami, Evgeny - tay “phó” của ông bố, và Judy, cô vợ tay chủ quán ở Karmeywallag, mà nó hoàn toàn không thấy việc tôi quyến luyến Hobie là kỳ cục. “Nhiều người hứa viết thư rồi quên,” nó nói khi chúng tôi ở trong bếp đọc lá thư mới nhất của Hobie. “Nhưng ông, ông viết suốt.”
“Ừ bác ấy dễ thương lắm.” Tôi đã bỏ ý định tìm cách miêu tả Hobie cho Boris: ngôi nhà, xưởng mộc, cách ông chăm chú lắng nghe rất khác với bố tôi, nhưng hơn hết là không khí tâm tư hiền hòa ở đó: như một màn sương mùa thu, một vi khí hậu dịu êm, chào đón, khiến tôi thấy được an toàn và yên ổn khi gần ông.
Boris thọc ngón tay vào hũ bơ lạc mở trên bàn giữa hai đứa, liếm sạch. Nó đã dần dà trở nên mê bơ lạc, món này - cũng như kẹo dẻo marshmallovv, một món khoái khẩu khác - hoàn toàn không có ở Nga “Ông bóng già hả?” nó hỏi.
Tôi giật mình. “Không có,” tôi đáp nhanh, rồi thì: “Tao không biết.”
“Chả sao,” Boris đáp và chìa hũ cho tôi. “Tau cũng quen nhiều ông bóng dễ thương lắm.”
“Tao nghĩ là không phải,” tôi do dự đáp.
Boris nhún vai. “Đã sao? Nếu ông tốt với mi? Lòng tốt dành cho chúng ta trên thế giới này chẳng gọi là thừa được, phải không?”
XXVI
BORIS ĐÃ DẦN MẾN BỐ TÔI và ngược lại. Nó hiểu rõ hơn tôi bố kiếm sống bằng cách nào, và dù tự giác biết tránh cho xa khi bố đang bị thua, thì nó cũng hiểu bố cần một thứ tôi không sẵn lòng đem lại: một kẻ tán thưởng khi ông đang đà thắng, những hôm ông đi đi lại lại trong bếp phấn khởi dậm dựt chỉ muốn có ai để tai nghe chuyện mình và ca tụng ông tài ba biết bao. Khi nghe thấy tiếng ông dưới nhà, hứng chí hồ hởi sau một đợt thắng - xô huých đồ đạc rất khoái trá, khua rộn rã cả nhà cửa lên - là Boris sẽ bỏ sách, xuống nhà, kiên nhẫn đứng nghe chuyện trò chán chết của bố, kể rõ từng lá bài hạ xuống bên bàn baccarat đêm ấy, và thường sẽ dẫn dắt sang những sự tích (tôi thấy) tẻ ngắt về những chiến công tương tự, trở ngược mãi về tận thời sinh viên và sự nghiệp màn ảnh chết yểu của ông.
“Mi chẳng kể với tau ông già mi từng diễn phim!” Boris nói khi trở lại lên phòng cầm tách trà đã nguội.
“Đâu có nhiều lắm. Hai bộ là cùng.”
“Nhưng mà nghĩ xem. Cái phim ấy, là phim nổi lắm đấy, cái phim cảnh sát ấy, mi biết mà, cái phim cảnh sát ăn hối lộ ấy. Tên là cái gì nhĩ?”
“Ông ấy đâu đóng vai to lắm đâu. Ló mặt ra có một giây là cùng. Ông ấy chỉ đóng vai luật sư bị bắn bòm trên phố.”
Boris nhún vai. “Đã sao? Vẫn thú vị. Nếu ông đến Ukraina sẽ được chào đón như ngôi sao.”
“Vậy thì bảo ông đi đi, xách luôn Xandra theo cũng được.”
Ngược lại, sự nhiệt tình của Boris dành cho cái nó gọi là “chuyên trò thông thái” cũng kiếm được một đối tượng hào hứng nơi bố tôi.
Bản thân vốn lạt lẽo với chính trị, nhất là chính trị theo quan điểm bố tôi thì càng không hứng thú, nên tôi rất ngán tham gia vào mấy trò tranh cãi vô bổ về những sự kiện quốc tế mà ông ưa thích. Nhưng Boris, dù say hay tỉnh, cũng rất ưa góp chuyện. Thường trong những cuộc nói chuyện kiểu đó, bố tôi hay khua chân múa tay, nhại lại chất giọng lơ lớ của Boris từ đầu đến cuối khiến tôi nghe mà ghê cả răng. Nhưng bản thân Boris có vẻ lại không lấy đó làm điều lo lắng. Thỉnh thoảng nó đi xuống nước đặt bếp đun mãi không lên, tôi xuống tìm sẽ thấy cả hai tranh luận háo hức trong bếp như một cặp kép hát trên sân khấu, về sự tan rã của Liên bang Xô viết hay cái gì đó kiểu như vậy.
“Ôi Potter!” nó nói khi trở lên. “Ông già mi, dễ thương không chịu được!”
Tôi gỡ tai nghe iPod ra. “Nếu mày nghĩ thế.”
“Tau nói thật đấy,” Boris nói và ngã xoài xuống sàn. “Ông nói hay lắm, thông minh lắm! Và ông yêu mi lắm.”
“Tao không hiểu mày lấy cái đó ở đâu ra.”
“Thôi nào! ông muốn làm điều phải với mi, nhưng không biết làm cách sao. ông ước chi là mi đang đứng nói chuyện với ông dưới đó chứ không phải là tau.”
“Ông ấy bảo mày thế à?”
“Không. Nhưng đúng mà! Tau biết rõ mà.”
“Suýt lừa được tao đấy.”
Boris tinh quái nhìn tôi. “Sao mi phải ghét ông thê?”
“Tao đâu có ghét ông.”
“Ông khiến mẹ mi suy sụp,” Boris dứt khoát nói. “Khi ông bỏ bả đi. Nhưng mi phải tha thứ cho ông đi chứ. Mọi chuyện đều qua rồi.”
Tôi quắc mắt. Bố tôi đi kể khắp với người khác những điều như thế ư?
“Vớ vẩn,” tôi ngồi dậy, gạt mấy cuốn truyện tranh qua một bên. “Mẹ tao…” làm sao giải thích được? “mày không hiểu đâu, ông ta cư xử như một thằng khốn, chúng tao mừng vì ông ta đi là khác. Ý tao là tao biết mày nghĩ ông ta ngon lành lắm, đủ thứ nữa...”
“Nhưng sao mà mi nghĩ ông tệ đến mức ấy? Bởi ông đi với bà khác à?” Boris hỏi - giơ hai tay ra, ngửa bàn tay. “Vẫn có chuyện đó mà. ông sống cuộc đời của ông. Thì liên quan gì đến mi?”
Tôi lắc đầu, không tin nổi. “Thần thánh ạ,” tôi nói, “ông ta thôi miên mày rồi.” Cho đến giờ tôi vẫn luôn sửng sốt về khả năng bắt hồn người đối thoại, cuốn họ vào phe mình của bố tôi. Người khác sẽ cho bố mượn tiền, đề bạt bố, giới thiệu bố với đủ hạng người tai to mặt lớn, cho bố sử dụng nhà nghỉ mùa hè của họ, tóm lại là hoàn toàn thần phục ông, mãi đến cái ngày tất cả vỡ vụn và ông sẽ chuyển sang nạn nhân kế tiếp.
Boris vòng tay ôm đầu gối, ngả người tì đầu vào tường. “Được rồi, Potter,” nó hòa nhã nói. “Kẻ thù của mi cũng là kẻ thù của tau. Mi ghét ông, tau cũng sẽ ghét ông. Nhưng mà... ” nó nghiêng đầu “tau đang ở đây. Ở trong nhà ông. Tau làm sao giờ? Tau nên nói chuyện và ngoan ngoãn dễ chịu? Hay nên bố láo với ông?”
“Tao đâu có bảo mày bố láo. Tao chỉ bảo mày đừng có tin mọi thứ ông ấy kể cho mày thôi.”
Boris cười khùng khục. “Tau chẳng tin mọi thứ người ta kể dù là bất kỳ ai,” nó đáp và thân thiện đá vào chân tôi. “Kể cả mi.”
XXVII
DÙ BỐ TÔI CÓ THÍCH BORIS mấy thì tôi vẫn phải thường xuyên đánh lạc hướng, không cho ông nghĩ đến chuyện Boris gần như đã chuyển hẳn vào ở trong nhà chúng tôi - cũng không khó khăn lắm, vì cờ bạc và ma túy đã khiến bố lãng trí đến mức tôi có mang hẳn một con báo đốm vào phòng ngủ trên nhà thì ông cũng chẳng để ý. Thuyết phục Xandra thì khó hơn, cô ta ưa cằn nhằn vì chuyên tiền bạc hơn, dù Boris cũng đóng góp dáng kể vào kho quỹ nhà lượng đồ ăn vặt nó ăn trộm được. Khi nào có cô ta ở nhà, nó sẽ ngồi tịt trên nhà cho khuất mắt, chau mày nhíu mắt đọc Thằng ngốc bằng tiếng Nga và nghe nhạc bằng loa bỏ túi của tôi. Tôi mang bia và thức ăn lên cho nó, học cách pha trà theo lối nó thích: đun thật nóng, bỏ ba viên đường.
Tới lúc đó thì đã gần Giáng sinh, dù nếu chỉ nhìn trời đất thì khó biết được: đêm lạnh nhưng ngày ấm và sáng sủa. Khi gió thổi, cây ô bên bể bơi sẽ đổ đánh đoàng như tiếng súng. Đêm đêm có chớp khan, không mưa, thỉnh thoảng cát lại bốc lên, cuộn thành xoáy lốc thổi đi ngả này ngả kia trên phố.
Tinh thần tôi xuống dốc khi kỳ nghỉ đến gần, dù Boris thì đương đầu dũng mãnh. “Mấy trò đó, cho con nít ấy mà,” nó khinh bỉ nói, chống khuỷu tay ngửa trên giường tôi. “Cây với chả đồ chơi. Tụi mình sẽ làm hẳn quả praznyky vào đêm Giáng sinh, mi nghĩ sao?”
“Praznyky?”
“Ờ thì một kiểu bữa tiệc ngày lễ ấy. Không phải là Bữa tối thần thánh đầy đủ đâu, chỉ là ăn tối thật ngon thôi. Nấu nướng hoành tráng một tí, mời ông già mi và Xandra ăn cùng. Mi có nghĩ hai người đó sẽ nhận lời không?”
Thật ngạc nhiên, bố tôi - và thậm chí cả Xandra - có vẻ rất hào hứng với để nghị này (bố tôi là chủ yếu vì ông thích chữ praznyky và thích xúi Boris nói to chữ đó). Ngày hăm ba tháng Chạp Boris và tôi đi mua đồ, bằng tiền thật do bố tôi cho (thật may, vì siêu thị quen của chúng tôi quá chật người đi mua sắm dịp lễ không thể tự tiện lấy đồ như mọi khi được), mang về nhà: khoai tây, một con gà, một lố những thành phần chán ngấy (dưa cải bắp, nấm, đậu, kem chua) cho món ăn
Ba Lan nào đó mà Boris khoe biết cách làm, bánh lúa mạch đen (Boris khăng khăng phải có bánh mì đen, mì trắng là sẽ lạc quẻ giữa bữa ăn, nó bảo thế), nửa ký bơ, dưa ngâm, và ít kẹo xanh đỏ.
Boris đã nói chúng tôi sẽ ăn ngay khi trên trời xuất hiện ngôi sao đầu tiên - sao Bethlehem. Nhưng chúng tôi chẳng quen nấu nướng cho ai ngoài chính mình, vì thế bị muộn. Đêm Giáng sinh, vào quãng tám giờ tối, món dưa cải bắp đã xong, con gà (chúng tôi đọc hướng dẫn nấu trên giấy bọc) chỉ còn mười phút nữa sẽ lấy khỏi lò thì bố tôi vừa huýt sáo bài Deck the halls[88] vừa vui nhộn gõ tay vào tủ bếp để chúng tôi nhìn ra.
“Đi nào hai chú!” ông nói. Mặt ông đỏ bừng, sáng bóng, giọng ông gấp gáp, có vẻ căng thẳng, gióng một mà tôi đã quá quen. Ông mặc một bộ vét Dolce & Gabbana cũ từ hồi ở New York nhưng không đeo cà vạt, áo sơ mi lùng thùng, cúc cổ không cài. “Đi chải đầu đi, mông má lên tí. Bố đưa cả nhà đi ăn. Con có áo quần gì đẹp hơn không, Theo? Phải có chứ.”
“Nhưng mà...” Tôi trơ mắt nhìn ông phật ý. Đúng là điển hình của ông, sẵn sàng ào vào đổi kế hoạch đúng phút chót.
“Thôi nào. Con gà đợi được. Không được ư? Được chứ.” Lời lẽ ông tuôn ra liến thoắng. “Các con cất luôn mấy thứ còn lại vào tủ lạnh đi. Chúng ta sẽ ăn ngày mai làm bữa trưa Giáng sinh - như thế có còn là praznyky không? Hay praznyky chỉ là tối Giáng sinh thôi? Có phải bố lẫn rồi không? Ừ, được rồi, thế thì mai chúng ta sẽ ăn... bữa Trưa Giáng sinh. Tập tục mới. Đằng nào món thừa cũng ngon hơn. Nào, sẽ hết sảy lắm. Boris…” ông đã kịp lùa Boris ra khỏi bếp “chú mặc sơ mi cỡ nào, hử đồng chí? Không biết à? Mấy chiếc Brooks Brothers cũ của bác, đáng ra bác phải sẻ tất cho chú, áo đẹp lắm, đừng có hiểu lầm, chắc phải dài đến đầu gối chú nhưng bác mặc hơi chật ở cổ và chú chỉ cần xắn tay áo lên là trông ngon ngay…
XXVIII
DÙ ĐÃ Ở LAS VEGAS gần nửa năm, nhưng tôi mới đến Dải chừng bốn hay năm bận - còn Boris (rất hài lòng quanh quẩn trong quỹ đạo nhỏ của cả hai, từ trường đến trung tâm mua sắm rồi về nhà) hầu như chưa vào đến trung tâm Vegas. Chúng tôi trố mắt nhìn những đèn chảy như suối, ánh điện sáng lóa hay phập phồng hay trút thác thành bong bóng khắp xung quanh, gương mặt Boris trông lên hóa đỏ rồi vàng tắm trong ánh sáng điên loạn.
Vào trong khách sạn Venice, những người chèo thuyền độc mộc lao đi trên những con kênh thật, có cả nước thật bốc mùi hóa chất, trong khi những ca sĩ thính phòng mặc đồ hóa trang hát Đêm thánh vô cùng và Ave Maria dưới bầu trời nhân tạo. Boris và tôi đi lại băn khoăn, cảm thấy mình thật quê mùa, lê giày, và nhìn chung là quá choáng váng không tiếp thu hết nổi. Bố tôi đã đặt bàn ở một nhà hàng Ý sang trọng, lát tường gỗ sồi - “người em trai xa xứ” của một nhà hàng nổi tiếng ở New York. “Muốn gọi gì cứ gọi nhé, cả nhà,” ông nói và kéo ghế cho Xandra. “Bác mời. Cứ xả láng.”
Và chúng tôi xả láng. Chúng tôi ăn pudding măng tây sốt dấm hẹ, cá hồi hun khói, gỏi cá than hun khói, mì sợi dài trộn rau ca-đông và nấm truýp đen, cá vược đen giòn tan với nghệ và đậu ngựa, thịt ngực bò nướng, sườn dẻ om, và tráng miệng bằng kem panna cotta, bánh bí đỏ và kem quả vả. Đây phải nói là bữa ăn tráng lệ nhất tôi từng ăn trong hàng tháng nay, có khi trong cả đời, còn Boris - mình nó đã ăn hai suất cá than - thì sướng điên lên được. “A, thật là tuyệt diệu? Nó nói đến lần thứ mười lăm, gần như kêu rừ rừ vì khoái chí, khi cô phục vụ xinh xắn mang thêm một đĩa kẹo và bánh quy hạnh nhân Ý khi mời cà phê. “Cảm ơn hai người! Cảm ơn ông Potter và Xandra,” nó nhắc lại. “Ngon quá.”
Bố tôi đẩy đĩa ra - ông hầu như chẳng ăn mấy so với hai đứa tôi (Xandra cũng vậy). Tóc bên thái dương ông ẩm mồ hôi, mặt đỏ và tươi đến nỗi gần như phát sáng. “Hãy cảm ơn cái thằng nhóc Tàu đội mũ đội Cubs cứ liên tục đặt toàn bộ trong sòng chiều nay ấy,” ông nói. “Ối trời ơi. Quả là các bác không thể nào thua nổi.” Trong xe lúc nãy, ông đã khoe chúng tôi mớ của trời cho ông: một cuộn dày bự toàn tờ trăm, buộc chun bên ngoài. “Bài thì cứ chia tới chia tới. Sao Thủy nghịch hành còn trăng lên cao! Nghĩ xem, thật đúng như ma thuật. Chú có biết là đôi khi có ánh sáng chiếu bên bàn, cứ như một vầng hào quang nhìn thấy được, và chú chính là nó, chú hiểu không? Chú chính là ánh sáng! Có một nhà cái xuất sắc cực kỳ, tên Diego, bác mê Diego, nghĩ xem, điên cực, trông ông ta y hệt họa sĩ Diego Rivera, chỉ có điều mặc bộ đuôi tôm lịch lãm đếch tả nổi. Bác đã kể về Diego chưa nhỉ? Ở đây bốn chục năm rồi, từ cái thời mở khách sạn Flamingo. To, đậm người, trông hoành tráng lắm. Người Mexico, hiểu không. Bàn tay nhanh thoăn thoắt đeo nhẫn to uỵch” - ông nhúc nhắc ngón tay -“ba-ca-RRRAT! Trời ạ, thật đến là mê mấy ông Mexico cựu trào kiểu ấy trong phòng baccarat, trông thanh lịch đếch chịu được. Già, tao nhã cứ như ướp trầm hương, đi đứng đĩnh đạc, hiểu không? Được rồi, tóm lại là bên bàn Diego, bác với thằng nhóc người Tàu, nó cũng là một thằng ngộ, kính gọng sừng, một chữ tiếng Anh bẻ đôi không biết, hiểu không, cứ la ‘San Bin! San Bin!’, uống cái thứ trà nhân sâm khỉ gió của đám ấy, vị như cát nhưng mùi thì rất dễ chịu, như mùi vận may, và không thể tin nổi, cả một chuỗi thắng kinh hồn, trời ạ, một đàn con gái Tàu xếp hàng đằng sau lưng, bọn bác chia bài nào ăn bài đấy -Em nghĩ,” ông quay sang Xandra, “đưa hai đứa quay về sòng gặp Diego có được không? Anh chắc là cả hai sẽ khoái Diego kinh lên cho mà xem. Không biết ông già còn đang ca không. Em thấy thế nào?”
“Ông ta không ở đấy đâu.” Xandra tối nay trông rất được - mắt sáng bừng, cả người lấp lánh, mặc đầm bó cắt ngắn bằng nhung và đi xăng đan đính đá, son môi đậm hơn lệ thường. “Giờ thì về rồi.”
“Đôi khi ngày lễ ông ấy làm hai ca đấy.”
“Ôi, chẳng ai muốn quay lại đâu. Cuốc bộ lâu lắm. Phải mất nửa giờ mới đi hết sàn sòng rồi quay lại.”
“Ừ, nhưng anh biết là ông ấy sẽ vui được gặp đám con anh mà.”
“Ừ, chắc vậy,” Xandra hòa nhã nói, di ngón tay quanh vành ly rượu. Con bồ câu vàng tí xíu trên sợi dây chuyền ánh lên trên hõm cổ cô ta. “Ông ấy rất dễ chịu. Nhưng Larry này, em nói thật đấy, em biết anh chẳng coi lời em ra gì đâu, nhưng nếu cứ bá vai bá cổ đám nhà cái thì một ngày nào đó anh đi vào sẽ có bảo vệ ra đón tiếp cho xem.”
Bố tôi cười lớn. “Trời!” ông hào hứng nói, đập bốp xuống bàn mạnh đến nỗi tôi giật mình. “Nếu không biết thì anh đã bảo Diego đúng là đang giúp một tay bên bàn hôm nay. Mà biết đâu được đấy. Baccarat thần giao cách cảm! Cứ bảo các chuyên gia Xô viết nhà chú nghiên cứu cái đó đi,” ông nói với Boris. “Như thế sẽ giúp nền kinh tế đằng đó duỗi ra được lắm.”
Boris hắng giọng khe khẽ và nhấc cốc nước. “Xin lỗi, cháu nói một câu được không?”
“Giờ đến lúc đọc diễn văn rồi à? Có phải chuẩn bị trước bài phát biểu không?”
“Cháu cảm ơn cả nhà đã quây quần ở đây. Và cháu chúc tất cả được mạnh khỏe, hạnh phúc, và chúc chúng ta đều còn sống cho tới Giáng sinh năm sau.”
Trong khoảng im lặng ngạc nhiên tiếp đó, tiếng nắp sâm-panh bật ra trong bếp, một chuỗi cười vang lên. Mới vừa qua nửa đêm: sang ngày Giáng sinh được hai phút. Rồi bố tôi ngửa người ra sau lưng cười lớn. “Chúc mừng Giáng sinh!” Ông rống lên và rút trong túi một hộp trang sức đẩy qua Xandra, hai cọc hai chục đỏ (Năm trăm! Mỗi đứa!) ném qua bàn cho Boris và tôi. Và dù trong đêm sòng bạc không đồng hồ, nhiệt độ không đổi, nhưng từ như ngày hay Giáng sinh nói chung chỉ là những khái niệm không mấy ý nghĩa, thì hạnh phúc giữa những ly tách đụng nhau lanh canh, chẳng có vẻ là một khái niệm quá xa vời hay yểu mạng.