Con Sẻ Vàng

Lượt đọc: 1299 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
gió, cát và những vì sao.

SUỐT NĂM TIẾP THEO, tôi quá bận rộn tìm cách xóa sạch khỏi đầu mình New York và cuộc đời cũ đến nỗi hầu như không nhận ra bước đi thời gian. Ngày nối ngày trong ánh trắng lóa không mùa: những buổi sáng khật khừ sau đêm say trên xe buýt tới trường, lưng hồng lên rát buốt vì ngủ quên bên bể, mùi vodka hôi như xăng và mùi lông chó ướt lẫn clo muôn thuở trên mình Popper, Boris dạy tôi đếm, hỏi đường và mời nước bằng tiếng Nga cũng kiên nhẫn như dạy tôi chửi thề trước đó. Vâng, xin phép, tôi thích lắm. Cảm ơn, anh tốt quá. Govorite li vy po angliyskiy? Anh có biết tiếng Anh không? Ya nemnogo govoryu po-russki. Tôi có biết tiếng Nga một chút.

Dù đông hay hè, ngày cũng sáng lóa mắt; không khí sa mạc đốt khô lỗ mũi, khiến cổ họng khô rát. Cái gì cũng buồn cười, cái gì cũng khiến chúng tôi bò ra cười. Đôi lúc ngay trước khi mặt trời lặn, khi sắc xanh trên trời chuyển thẫm đổ về tím, chúng tôi thấy những đám mây điên cuồng viền chớp điện kiểu Maxheld Parrish cuồn cuộn vàng và trắng đổ về sa mạc như Thần khải đang dẫn người Mormon đi về tây. Govorite medlenno, tôi nói, nói chậm đi, và Povtorite, pozhaluysta. Xin nhắc lại. Nhưng chúng tôi đã bắt sóng nhau tốt đến mức hoàn toàn không cần nói chuyên nếu không muốn; chúng tôi biết cách đẩy nhau vào cơn cười nghiêng ngả chỉ cần nếp mày khẽ nhướng hay giật giật khóe môi. Đêm đêm, chúng tôi ngồi xếp bằng trên sàn mà ăn, để lại những vết ngón tay nhờn mỡ trên sách học. Chế độ ăn uống khiến cả hai đều suy dinh dưỡng, những vết bầm nâu xuất hiện trên chân tay chúng tôi - thiếu vitamin, y tá ở trường bảo thế rồi cắm phập kim tiêm vào mông chúng tôi, phát cho mỗi đứa một hũ kẹo nhai đủ màu của trẻ con. (“Mông tau đau quá,” Boris vừa nói vừa xoa xoa bàn tọa, lẩm bẩm chửi xe buýt lắp ghế kim loại.) Cả người tôi nổi tàn nhang vì suốt ngày tắm táp dưới bể; tóc tôi (sau này sẽ không bảo giờ còn dài đến thế) xuất hiện những lọn sáng màu vì ngấm hóa chất dưới nước, và nhìn chung, tôi vui, dù khối nặng trĩu trong ngực vẫn không bao giờ tan đi, còn răng thì đang ruỗng từ trong ra vì ăn lắm kẹo. Ngoài ra thì tôi khỏe. Và cứ thế, ngày tháng vui vẻ trôi qua, nhưng rồi - chẳng mấy chốc sau ngày sinh nhật lần thứ mười lăm của tôi - Boris gặp một đứa con gái tên Kotku, và tất cả đã khác.

Cái tên Kotku (kiểu Ukraina là Kotyku) khiến cô ta có vẻ thú vị hơn thực tế, nhưng đấy không phải là tên thật, mà chỉ là biệt danh (“mèo con” trong tiếng Ba Lan) được Boris đặt cho. Họ cô ta là Hutchins, tên thật là Kylie hay Keiley hay Kaylee gì đó, và cả đời cô ta đã sống ở hạt Clark bang Nevada. Dù cũng đi học cùng trường, chỉ trên một khóa, nhưng cỏ ta lớn tuổi hơn nhiều - hơn tôi tận ba tuổi. Xem ra Boris đã để mắt tới cô ta được lâu lâu rồi, nhưng tôi hoàn toàn không biết có tồn tại nhân vật ấy cho đến cái buổi chiều nó quăng mình xuống chân giường tôi, tuyên bố: “Tau đang yêu.”

“Thế cơ hả? Yêu ai?”

“Bả lớp Công dân. Từng cho tau ít cỏ. Ờ, bả mười tám nữa chứ, mi tưởng tượng nổi không? Trời, người đâu mà đẹp

“Mày có cỏ à?”

Nó đùa cợt nhào tới, túm lấy vai tôi; nó biết đấy là chỗ tối yếu nhất, một điểm ngay dưới xương bả vai nơi nó có thể thọc ngón tay vào khiến tôi la oai oái. Nhưng tôi không có hứng đùa, và nện lại nó thật mạnh.

“Oái! Trời đất quỷ thần!” Boris kêu lên và lăn đi, đưa ngón tay xoa xoa hàm. “Sao mi làm thế?”

“Mày đau thì tốt,” tôi nói. “Cỏ đâu?”

Chúng tôi không nói gì về người trong mộng của Boris nữa, ít ra thì trong hôm ấy, nhưng rồi mấy hôm sau ra khỏi lớp Toán tôi thấy nó đang đứng nhìn xuống một đứa con gái bên dãy tủ. Dù Boris so với tuổi không hẳn là cao, nhưng con bé này thì tí tẹo, dù có vẻ trông già hơn chúng tôi nhiều: ngực lép, hông hẹp, gò má cao, trán bóng, khuôn mặt hình tam giác nhọn hoắt sáng bóng. Mũi xỏ khuyên. Áo hai dây đen. Sơn móng tay đen đã sứt sẹo, tóc đen highlight cam, mắt sáng vô cảm màu xanh clo, vẽ viền đen rất đậm. Hẳn là xinh xẻo - có thể coi là hấp dẫn nữa, nhưng ánh mắt nó đánh qua tôi chỉ tổ gợi lo âu, như một đứa bán hàng thức ăn nhanh cắm cảu hoặc một cô trông trẻ hay quát lác.

“Thế mi thấy sao?” Boris háo hức hỏi khi chạy lại chỗ tôi sau giờ học.

Tôi nhún vai. “Thấy cũng xinh xẻo.”

“Mi nghĩ thế à?”

“Ôi, Boris, nghĩ xem, trông bà đó như kiểu đã hăm lăm.”

“Tau biết! Thế mới tuyệt chứ!” nó nói, trông choáng ngợp. “Mười tám tuổi! Thành niên rồi! Có thể mua rượu thoải mái! Hơn nữa bả đã sống ở đây cả đời, biết rõ chỗ nào không kiểm tra tuổi.”

II

HADLEY, CON BÉ ÁO KHOÁC thể dục lắm mồm ngồi cạnh tôi trong lớp Lịch sử Hoa Kỳ nhăn mũi khi nghe tôi hỏi về người tình già của Boris. “Con đó hả?” nó đáp. “Chúa đĩ.” Chị gái Hadley là Jan học cùng khóa với Kyla hoặc Kayleigh gì đó. “Còn mẹ nó tớ nghe bảo là đĩ có nghề đấy. Bạn cậu cẩn thận đừng mang bệnh vào người.”

“À,” tôi chỉ đáp vậy, ngạc nhiên khi thấy nó hung hăng như thế, mặc dù đáng ra phải đoán trước mới phải. Hadley là con nhà binh, nó tham gia đội bơi và còn hát trong dàn đồng ca trường, nó có gia đình tử tế, ba anh chị em, một con chó giống Weimaraner tên Gretchen mang từ tận Đức qua đây, và một ông bố sẵn sàng phạt nếu nó về tối quá giờ quy định.

“Tớ không nói điêu đâu,” Hadley tiếp. “Nó hôn hít bạn trai của bọn con gái khác - nó còn hôn hít cả bọn con gái khác - ai nó cũng hôn hít được. Chưa kể hình như nó còn hút cần sa nữa đấy.”

“Ổ,” tôi đáp. Đối với tôi, chẳng cái nào trong số đó là nguyên do hợp lý khiến phải không ưa Kylie hay gì đó, nhất là khi cả Boris và tôi đã hào hứng tham gia hút cần mấy tháng qua. Nhưng điều làm tôi bận lòng, bận lòng lắm, đấy là Kotku (tôi sẽ vẫn gọi tiếp bằng cái tên Boris đặt cho vì bây giờ tôi chẳng nhớ tên thật nó là gì nữa) trong chớp mắt đã nhảy vào, gần như chiếm hữu hoàn toàn Boris rồi.

Ban đầu, nó bận vào tối thứ Sáu. Rồi đến nguyên cả cuối tuần - không chỉ tối mà cả ngày nữa. Chẳng mấy chốc đã chỉ toàn nghe Kotku thế này Kotku thế kia, và nháy mắt sau đã chỉ còn tôi với Popper, ăn tối trước tivi một mình.

“Bả tuyệt trần đời không chứ?” Boris hỏi tôi lần nữa, sau hôm đầu tiên nó dẫn cô nàng tới nhà tôi - phải nói là một buổi tối khá tệ, cả bả phê thuốc đến không nhúc nhắc được, rồi hai kẻ đó lán lê trên xô pha dưới nhà còn tôi ngồi trên sàn, quay lưng lại chúng và gắng chú tâm xem The outer limit[89]phát lại trên tivi. “Mi thấy sao?”

“Ờ, tao thì...” Nó muốn nghe gì nhỉ? “Bả thích mày. Hẳn rồi.”

Nó xoay người sốt ruột. Chúng tôi đang ngồi ngoài bể bơi, dù trời lạnh và gió quá không bơi được. “Không, tau hỏi thật đấy! Mi thấy bả thế nào? Nói thật đi, Potter,” nó ra lệnh khi thấy tôi chần chừ.

“Tao không biết nữa,” tôi băn khoăn đáp, và rồi khi thấy nó vẫn nhìn tôi: “Thành thật à? Tao không biết, Boris ạ. Bả có vẻ tuyệt vọng.”

“Ờ? Cái đó xấu lắm à?”

Giọng nó có vẻ tò mò thật tình - không ra bực tức cũng chẳng mỉa mai. “Ờ,” tôi giật mình đáp. “Có thể không xấu.”

Boris, má hồng lên vì vodka, đặt bàn tay lên tim. “Tau yêu bả, Porter à. Tau nói thật đấy. Đây là điều chân thực nhất mà tau từng trải qua từ khi sinh ra tới giờ.”

Tôi ngượng ngùng tới mức phải quay đi chỗ khác.

“Một nàng phù thủy gầy nhẳng!” Nó thở dài sung sướng. “Trong tay tau, bả nhẹ bỗng, da bọc xương! Cứ như không khí.” Thật quái lạ, Boris dường như mê mệt Kotku vì chính những lý do tôi thấy gớm ở cô ả: cái thân thể mèo hoang uốn éo, cái vẻ người lớn gầy khẳng, ỉ eo. “Mà lại thật dũng cảm, khôn ngoan, rộng lượng làm sao! Tau chỉ muốn một điều là bảo vệ bả, canh chừng bả khỏi bị thằng Mike đó quấy rầy. Mi biết chứ?”

Tôi lặng lẽ rót cho mình thêm một cốc vodka, dù không thực sự cần. Vụ Kotku càng thêm khó hiểu, vì như chính Boris đã cho tôi biết, giọng tự hào không lẫn vào đâu được, Kotku đã có bạn trai rồi: một gã 26 tuổi tên là Mike McNatt, có xe mô tô, làm trong hãng vệ sinh bể bơi. “Tuyệt vời,” tôi đã nhận xét khi Boris thông báo tin này trước đó. “Chúng mình cần lôi hắn đến đây giúp làm sạch bể.” Tôi đã phát ngấy việc chăm sóc cái bể bơi (một nhiệm vụ chủ yếu rơi vào đầu tôi), nhất là vì Xandra không bao giờ mang đúng loại thuốc tẩy cần thiết về nhà.

Boris ấn gót tay lên mắt. “Nghiêm trọng lắm, Potter ạ. Tau nghĩ là bả khiếp thằng đó lắm. Bả muốn cắt đứt với hắn, nhưng bả sợ. Bả đang cố thuyết phục hắn đi đăng lính.”

“Mày phải cẩn thận không thằng đó săn mày đấy.”

“Tau à!” Nó khịt mũi. “Tau lo là lo cho bả kìa. Bả gầy nhóc! 37 ký!”

“OK, OK.” Kotku kêu mình mắc chứng “chớm biếng ăn” và lúc nào cũng khiến Boris lo sốt vó khi than cả ngày chưa ăn gì.

Boris bợp vào đầu tôi. “Mi ngồi lì ở đây một mình cả ngày,” nó nói và ngồi xuống bên tôi, thõng chân xuống bể. “Tối nay qua Kotku đi. Mang ai đó theo.”

“Ai giờ?”

Boris nhún vai. “Thế cái con nhỏ tóc vàng đẹp ngời tóc tém kiểu con trai ở lớp lịch sử của mi thì sao? Con nhỏ trong đội bơi ấy?”

“Hadley hả?” Tôi lắc đâu. “Quên đi.”

“Đúng! Mi mang nó đến đi! Nó đẹp! Và thế nào nó cũng chịu!”

“Tin tao đi, không phải ý hay đâu.”

“Để tau hỏi cho! Thôi nào. Nó rất dễ chịu với mi, lúc nào cũng nói chuyện. Mình gọi cho nó luôn nhé?”

“Không! Không phải là... thôi ngay,” tôi chụp lấy ống tay áo khi nó dợm đứng dậy.

“Đồ thỏ đế!”

“Boris.” Nó đã bắt đầu đi vào nhà kiếm diện thoại. “Đừng. Tao nói thật đấy. Nó không đến đâu.”

“Tại sao chứ?”

Giọng nhạo cợt của nó khiến tôi bực mình. “Nói thật nhé? Bởi vì...” Tôi suýt nói vì Kotku là đồ điếm mà đấy là sự thật rành rành, nhưng chỉ nói: “Thế này, Hadley thuộc tốp xếp đầu lớp và đủ thứ nữa. Nó không ham đến chơi ở nhà Kotku đâu.”

“Hử?” Boris thốt lên, quay ngoắt lại, tức giận. “Con đượi con đó. Nó nói gì?”

“Có gì đâu. Chỉ là...”

“Có đấy!” Giờ nó đã lao sầm sầm lại chỗ bể. “Mi nói ngay cho tau.”

“Thôi nào. Không có gì đâu. Bình tĩnh nào, Boris,” tôi nói khi nhận ra nó đang lồng lộn lên. “Kotku lớn hơn cả đống tuổi. Hai người đó còn không học cùng lớp nữa mà.”

“Cái con điên mũi tẹt ấy. Kotku có làm gì nó bao giờ?”

“ Yên nào.” Mắt tôi nhận ra chai vodka, sáng lóng lánh dưới tia nắng trong veo như một lưỡi gươm ánh sáng. Nó đã uống nhiều quá rồi, mà tôi thì chẳng muốn đánh nhau. Nhưng tôi cũng đã say mèm, chẳng nghĩ ra nổi cách nào dễ dàng hay buồn cười để đánh lạc hướng nó.

III

RẤT NHIỀU ĐỨA CON GÁI KHÁC tầm tuổi chúng tôi, đàng hoàng hơn, thích Boris - đáng chú ý nhất là Saffi Caspersen, người Đan Mạch, nói tiếng Anh bằng giọng Anh chói vói, từng diễn vai phụ ở Cirque du Soleil, và là hoa khôi của khóa, vượt xa bọn con gái khác. Saffi học lớp Ngữ văn nâng cao với chúng tôi (từng phát biểu rất hay ho về tiểu thuyết The heart is a lonely hunter[90]) và dù có tiếng là chảnh, nó vẫn thích Boris. Ai cũng thấy sờ sờ. Nó cười khi Boris nói giễu, cư xử kỳ cục trong tổ học nhóm của Boris, và tôi từng thấy có lần nó nói chuyện hào hứng với Boris trong hành lang - Boris đáp chuyện cũng hào hứng không kém, khua tay chân loạn xạ theo kiểu Nga. Nhưng, kỳ bí thay, nó có vẻ chẳng hề để ý đến con bé.

“Nhưng tại sao không?” tôi hỏi nó. “Đấy là đứa xinh nhất lớp.” Tôi lúc nào cũng nghĩ người Đan Mạch phải to cao tóc vàng, nhưng Saffi lại nhỏ nhắn, tóc nâu, phảng phất vẻ tiên sa, càng được tô đậm do lớp trang điểm kiểu sân khấu lấp lánh trong bức ảnh tôi thấy nó chụp hồi diễn.

“Ừ thì có xinh. Nhưng không hấp dẫn lắm.”

“Nó nóng bỏng rãy lên được ấy chứ, Boris. Mày điên rồi à?”

“À, nhỏ đó chăm quá,” Boris đáp và thả người cạnh tôi, một tay cầm bia, tay kia với lấy điếu thuốc của tôi. “Ngoan quá. Lúc nào cũng học hành với chả diễn tập khỉ gió gì đây. Kotku...” nó phà một hơi thuốc rồi trả điếu cho tôi, “Kotku giống tụi mình.”

Tối im lặng. Làm sao mà tôi đã đi từ học vượt lớp đến chỗ bị bỏ chung rọ với một đứa dặt dẹo như Kotku?

Boris huých tôi. “Tau nghĩ là mi thích nhỏ đó. Saffi ấy.”

“Không, đâu có.”

“Mi thích mà. Rủ nó đi chơi đi.”

“Ừ, hay đấy,” tôi đáp, dù biết mình không có gan. Ở trường cũ của tôi nơi học sinh nước ngoài hay lớp trao đổi thường lặng lẽ đứng ngoài rìa, chắc một người như Saffi sẽ dễ tiếp cận hơn, nhưng ở Vegas nó quá nổi tiếng, lúc nào cũng có cả đống người xung quanh - lại còn chưa kể đến vấn đề hơi hơi nghiêm trọng, là đi đâu làm gì. Ở New York thì dễ ợt, tôi có thể dẫn nó đi trượt băng, xem phim, hay đến trung tâm thiên văn. Nhưng ở đây tôi không thể hình dung Saffi hít keo hay uống bia đựng trong túi giấy ở sân chơi, hoặc làm bất cứ thứ gì tôi với Boris vẫn hay làm.

IV

TÔI VẪN THƯỜNG ĐI VỚI BORIS, chỉ có điều không nhiều như trước. Càng ngày nó càng hay qua đêm ở nhà Kotku và mẹ ở dãy căn hộ Hai R - thực tế là một thứ nhà trọ tạm thời, một quán ven đường từ thập niên 1950 đã xập xệ, nằm trên đường lớn dẫn từ sân bay đến Dải, sân trước đầy những người trông như dân nhập cư bất hợp pháp đứng cạnh bể bơi cạn khô, cãi cọ về phụ tùng xe hơi. (“Hai R à?” Hadley hỏi. “Cậu biết nó là viết tắt của cái gì không? ‘Rắn rít’.”) May phước thay, Kotku không cặp kè cùng Boris đến nhà tôi nhiều lắm, nhưng cả khi cô ả không có mặt thì Boris vẫn nói triền miên về ả. Kotku nghe thứ nhạc rất ngầu và đã ghi một đĩa CD tổng hợp đầy những bản hip hop cực thịnh mà tôi không thể không nghe được. Kotku thích pizza chỉ bỏ ớt tiêu xanh và ô liu thôi. Kotku cực kỳ cực kỳ muốn có một cây piano điện - và cả mèo Xiêm nữa, hay có lẽ là chồn, nhưng ở Hai R không được nuôi thú. “Thật đấy, mi đáng phải gặp bả nhiều hơn, Potter ạ,” nó nói và đụng vai vào vai tôi. “Mi sẽ khoái bả cho coi.”

“Thôi đi,” tôi đáp và nghĩ tới cái kiểu trịch thượng của cô ta khi ở gần tôi - cười không đúng lúc và rất khó chịu, hơi một tí là sai tôi ra tủ lạnh lấy bia.

“Không! Bả khoái mi mà! Thề luôn! Ý tau là bả thấy mi như một đứa em trai thì đúng hơn. Bả bảo thế mà.”

"Bả có bao giờ nói gì với tao đâu.”

"Đấy là vì mi không nói gì với bả.”

“Mai đứa mày đã ngủ với nhau chưa?”

Boris khụt khịt một tiếng bực bội, như những lúc mọi chuyện không theo ý nó muốn.

“Đầu óc đen tối,” nó nói, gạt tóc ra khỏi mắt rồi nói thêm: “Sao? Mi nghĩ sao? Mi muốn tau kẻ sơ đồ cho mi chắc?”

Vẽ sơ đồ cho mày.”

“Hửm?”

"Nói đúng là như thế. ‘Mày muốn tao vẽ sơ đồ cho mày chắc.’”

Boris đảo mắt. Vung vẩy tay, nó lại bắt đầu một tràng nào là Kotku thông minh làm sao, “khôn phát sợ luôn”, thông thái cực kỳ, đã sống qua bao nhiêu chuyện, và tôi phải bất công lắm thì mới phán xét cô ả, coi thường cô ả dù chưa thèm làm quen để hiểu cô ả; nhưng trong khi tôi ngồi, nửa lắng nghe nó huyên thuyên, nửa xem bộ phim noir cũ trên truyềh hình (Pallen angel có Dana Andrevvs), tôi không thể dừng nghĩ đến chuyện nó gặp Kotku chính là trong lớp có thể gọi là Công dân Bổ túc, lớp riêng dành cho những học sinh không thật sáng dạ (ngay cả trong trường học cực kỳ dễ dãi này) để có thể lên lớp không cần quá cố gắng. Boris có trí thông minh về toán bẩm sinh và giỏi ngoại ngữ hơn bất kỳ ai tôi từng gặp, đã bị ép vào học lớp công dân loại dốt vì nó là người nước ngoài: đấy là quy định của nhà trường, mà nó cực kỳ ghét, (“Để làm chi? Chẳng lẽ hôm nào đấy tau sẽ đi bỏ phiếu bầu Quốc hội à?") Nhưng Kotku - Mười tám tuổi! sinh ra lớn lên ở hạt Clark! công dân Mỹ y như trong phim Cops! - làm gì có cớ nào.

Tôi cứ liên tục bắt gặp trong đầu những ý nghĩ kém khoan dung như thế, và cố hết sức rũ bỏ chúng đi. Quan tâm làm gì? Phải, Kotku đúng là khốn; phải, cô ả quá đần nên mới không qua được lớp Công dân bình thường và lại đeo thứ khuyên tai vòng rẻ tiền mua ở hàng tạp phẩm, lúc nào cũng mắc vào đủ mọi thứ, và phải, dù chỉ nặng có 37 ký thì cô ả vẫn khiến tôi sợ khiếp vía, như là nếu tức điên lên cô ả có thể dùng đôi bốt mũi nhọn đá tôi chết quay. (“Đúng là một nàng da đen thiện chiến,” Boris có lần huênh hoang, đi đâu cũng làm bộ điệu găng tơ, hoặc cái mà nó nghĩ là bộ điệu găng tơ, rồi đãi tôi câu chuyện Kotku có lần giật tóc đứa con gái nào đó rách bê bết máu - đây lại một đặc điểm nữa của Kotku, lúc nào cũng gây sự đánh nhau với đám con gái rất khiếp, chủ yếu là với bọn da trắng dưới đáy xã hội giống như nó nhưng vài lần cũng gặp gái băng đảng thứ thiệt, da đen hoặc gốc La tinh.) Nhưng ai mà quan tâm Boris thích loại con gái vứt đi nào? Không phải chúng tôi vẫn là bạn sao? Bạn thân? Gần như là anh em ruột?

Lại đấy: không có chữ nào có thể diễn tả đích xác Boris và tôi. Trước khi xuất hiện Kotku, tôi chưa bao giờ nghĩ nhiều về chuyện đó. Chỉ là những buổi chiều lờ đờ trong không khí máy lạnh, say mèm, lười biếng, mành kéo xuống chặn ánh lóa, những gói đường dốc hết, những vỏ cam quắt queo vứt trên thảm sàn, Dear Prudence trong Album Trắng[91] (mà Boris mê mệt) hoặc những bài của nhóm Radiohead cũ não nuột bật đi bật lại:

Trong một phút anh đã mất mình, anh đã mất mình...

Thứ keo chúng tôi hít làm dấy lên một tiếng gầm đen của máy móc, như tiếng động cơ phản lực chợt dậy gió: đã bật! Chúng tôi ngã ngửa xuống giường, xuống đêm tối, như những người nhảy dù bật người ra sau rời khỏi máy bay, mặc dù - đã phê đến mức ấy, xỉu đến mức ấy - phải coi chừng cái túi bịt trên mặt, nếu không sẽ phải cậy những mảng keo khô khỏi tóc và chóp mũi khi tỉnh lại. Giấc ngủ kiệt quệ, lưng áp lưng, giữa lớp ga giường bốc mùi tàn thuốc và mùi chó, Popchik nằm phơi bụng ngáy ran, để ý nghe kỹ sẽ thấy những tiếng thì thầm vô thức trong luồng không khí phả vào từ lỗ thông khi trên tường. Hàng tháng trời trôi qua và gió không bao giờ ngừng nghỉ, cát theo gió bay lạo xạo trên mặt kính cửa, mặt hồ bơi nhăn nhúm trông rất nanh ác. Trà đặc vào sáng sớm, sô-cô-la ăn trộm về. Boris nắm tóc tôi mà dứt rồi đá vào sườn tôi. Dậy đi Potter. Dậy chào bình minh coi.

Tôi cứ tự nhủ mình không nhớ nó, nhưng rất nhớ. Tôi say thuốc một mình, xem Chương trình người lớn và kênh Playboy một mình, đọc Chùm nho nổi giận[92]và Ngôi nhà bảy đầu hồi[93] một mình, hai địch thủ có thể tranh giải cuốn sách buồn chán nhất trên đời, và suốt phải đến nhiều nghìn giờ - đủ để học tiếng Đan Mạch hay chơi ghi-ta nếu tôi bỏ công vào đó - vất vơ một mình trên phố với một chiếc ván trượt hỏng nát tìm thấy khi cùng Boris khám xét một ngôi nhà trong dãy bị ngân hàng xiết nợ gần đây. Tôi đi cùng Hadley tới những bữa tiệc của đội bơi - những bữa tiệc không rượu bia, có cả cha mẹ - và tới cuối tuần, dự những bữa tiệc không cha mẹ của bọn trẻ con hầu như không quen, viên an thần Xanax và bia thảo dược Jagermeister, trở về nhà trên chuyến xe buýt CAT rú rít lúc hai giờ sáng, đờ đẫn đến nỗi phải nắm chặt lưng ghế trước mặt mới khỏi ngã lăn ra lối đi. Đến lúc tan học, nếu chán, tôi hoàn toàn có thể ra giao lưu với một trong đám say thuốc phật phờ giữa Del Taco và khu trò chơi cho trẻ con trên Dải.

Nhưng tôi vẫn cô đơn. Boris mới là thứ tôi nhớ, cái thằng lộn xộn bốc đồng là nó: u ám, bạt mạng, nóng đầu, vô tâm đến điên người. Boris tái nhợt như bột, cùng những quả táo lấy trộm và những tiểu thuyết tiếng Nga, những móng tay bị gặm trụi và dây giày lê trong bụi cát. Boris, tên nghiện rượu tập sự, kẻ chửi bậy thành thần bằng bốn thứ tiếng, ưa thó đồ ăn trong bát tôi bất cứ khi nào muốn và lăn kềnh ra say khướt trên sàn, mặt đỏ bầm như bị tát. Và cho dù nó lấy đồ không thèm hỏi, một điều nó làm suốt ngày - các thứ lặt vặt liên tục bị mất, DVD và đồ dùng học tập trong tủ của tôi, mấy lần tôi đã thấy nó lục túi mình tìm tiền - thì những vật sở hữu của nó cũng có quá ít ý nghĩa với nó, đến nỗi cái đó không thể tính là ăn cắp; bất cứ khi nào có tiền nó lại chia đôi sòng phẳng với tôi, bất cứ thứ gì nó có, nó vui lòng biếu ngay khi tôi hỏi (và cả những khi tôi không hỏi, như lần cái bật lửa vàng của ông Pavlikovsky mà tôi từng tỏ lòng hâm mộ đã xuất hiện ở ngăn ngoài ba-lô của tôi).

Một điều kỳ dị là: tôi sẽ chỉ thấy lo ngại nếu chính Boris lại tỏ ra quá âu yếm, nếu âu yếm là từ đúng. Lần đầu tiên nó trở mình trong giường vắt tay qua eo tôi, tôi đã nằm một lúc nửa thức nửa ngủ, không hiểu nên làm gì: nhìn trân trân mấy cái tất cũ trên sàn, những chai bia rỗng không, cuốn The Red Badge of Courage[94] bìa mềm. Cuối cùng, ngượng ngập, tôi vờ ngáp và lăn đi, nhưng nó chỉ thở dài thườn thượt và kéo tôi sát lại hơn, động tác ngái ngủ ôm ấp.

Suỵt, Potter, nó thầm thì vào gáy tôi. Chỉ là tau thôi mà.

Thật kỳ cục. Có kỳ cục không? Vừa có, mà lại vừa không. Mấy giây sau tối đã lại ngủ mất, thiếp đi trong cái mùi bia chua lâu ngày không tắm của nó và hơi thở nó thản nhiên trong tai mình. Tôi biết là mình không thể kể ra mà không khiến chuyện có vẻ to tát hơn sự thực. Trong những đêm tôi choàng dậy, nghẹt thở vì sợ hãi, nó đã ở bên, tóm lấy khi tôi bật dậy kinh hãi trên giường, kéo tôi nằm xuống lại đống chăn bên nó, lầm bầm những từ Ba Lan vô nghĩa, giọng nghèn nghẹt lạc đi giữa cơn ngủ. Chúng tôi lại ngủ thiếp trong vòng tay nhau, cùng nghe tiếng nhạc từ iPod của tôi (Thelonious Monk[95], Velvet Underground[96], những loại nhạc mẹ vẫn thích), và đôi khi tỉnh dậy đang ôm nhau rất chặt, như những kẻ đắm tàu hoặc trẻ con bé tí.

Thế nhưng (đây mới là phần tối ám, đây là phần làm tôi băn khoăn), cũng còn có những đêm khác, bối rối hơn và khốn nạn hơn nhiều, vần vò nhau trong quẩn áo xộc xệch, từ nhà tắm lọt vào ánh sáng yếu ớt, mọi thứ lẫn trong vầng sáng bất định vì không đeo kính: tay chạy trên người nhau, nhanh nhẹn, thô bạo, bia bị đá văng sùi bọt trên thảm - vui và chẳng có gì quan trọng trong lúc đang thực sự diễn ra, rất đáng với tiếng hít mạnh cuối cùng khi mắt dường như đảo điên và quên hết mọi điều; nhưng khi tỉnh lại sáng hôm sau, nằm sấp bụng và rên rẩm ở hai đầu giường, lại rút vào một góc giữa những mảng chập chờn trên nền sáng lộn xộn không mạch lạc, giật cục, mờ tỏ như một cuốn phim thể nghiệm, những méo mó không quen thuộc trên gương mặt Boris đã vội lùi khỏi trí nhớ và chẳng hề tác động đến đời sống thực của chúng tôi hơn gì một giấc mơ. Chúng tôi không bao giờ nhắc đến nó, nó như không có thực, chúng tôi mặc đồ chuẩn bị đi học và ném giày, té nước vào người nhau, nhai aspirin trị cơn đau đầu vì rượu, cười đùa suốt quãng đường đến chỗ chờ xe buýt. Tôi biết, nếu biết được, mọi người sẽ nghĩ điều không nên nghĩ, tôi không muốn ai được biết, và tôi biết Boris cũng không, nhưng không hiểu sao nó vẫn tỏ ra hoàn toàn chẳng bận tâm đến chuyện đó tới nỗi tôi hầu như tin chắc đấy chỉ là cho vui thôi, không có gì phải quá nghiêm trọng hay quá xoắn xít. Thế nhưng, hơn một lần, tôi đã nghĩ giá thử tôi can đảm hơn một chút, nói ra gì đó: vạch rõ một đường, phân tách rạch ròi, chỉ để biết chắc Boris không mang ý nghĩ gì không phải. Nhưng giây phút ấy không bao giờ đến. Giờ thì chẳng ích gì mà nói lên khiến mọi thứ ngượng ngập hết cả, mặc dù làm thế cũng chẳng đem cho tôi chút an ủi nào.

Tôi ghét mình vì nhớ nó đến vậy. Ở nhà tôi rượu chè ngày càng nhiều, ít ra là về phần Xandra, liên tục có tiếng sầm cửa (“Hừ, nếu không phải do tôi thì chắc chắn là do anh,” tôi nghe tiếng cô ta hét), và vì không có Boris ở đó (cả hai đều kiềm chế hơn khi có nó trong nhà), sự tình khó chịu đựng hơn nhiều. Một phần vấn đề là do giờ giấc đi làm của Xandra đã thay đổi, quán bar sắp xếp lại lịch, cô ta bị áp lực rất nhiều, những người làm việc chung nay đã bị đuổi hoặc chuyển ca khác, vào thứ Tư và thứ Hai khi dậy đi học tôi thường thấy cô ta vừa mới đi làm về, ngồi một mình trước tivi mở chương trình yêu thích, quá kích động không ngủ được và tu Pepto-Bismol thẳng từ bình.

“Con mụ già mệt mỏi,” cô ta nói và cố gắng mỉm cười khi thấy tôi đi xuống cầu thang.

“Cô đi bơi một chút đi. Như thế sẽ buồn ngủ đấy.”

“Thôi, cảm ơn, tôi sẽ ngồi đây với Pepto một lúc thôi. Thật là một món thần kỳ. Đây quả là một điều kỳ diệu mang vị kẹo cao su.”

Còn bố tôi, gần đây ông ở nhà liên tục - nói chuyện với tôi, tôi rất thích, dù tâm tính thất thường của ông khiến tôi mệt lả. Đang vào mùa bóng, ông đi lại nhún nhảy trong nhà. Xem BlackBerry xong ông đập tay tôi và gần như múa quanh phòng khách: “Bố có phải là thiên tài không? Sao hả?” Ông nghiên cứu những bài phân tích tỷ lệ cược, những bảng kết quả trận đấu, và thỉnh thoảng, còn cả một cuốn sách bìa mềm tên là Thiên Yết: Dự đoán năm của bạn trong thể thao. “Lúc nào cũng phải tìm ưu thế,” ông nói khi tôi bắt gặp ông đang dò xem bảng biểu và bấm máy tính bỏ túi tanh tách như đang tính thuế thu nhập cá nhân. “Chỉ cần đạt khoảng 53, 54% là có thể sống nhòe bằng thứ này - hiểu không, baccarat chỉ thuần là giải trí mà thôi, không có kỹ năng nào cả, bố đặt giới hạn trên để không bao giờ vượt quá, nhưng cá cược thể thao thì hoàn toàn có thể ra tiền nếu thực hành có kỷ luật. Phải chơi bằng tư duy nhà đầu tư. Chứ không phải người hâm mộ, con bạc cũng không được, bởi bí mật ở đây là đội giỏi hơn thường thắng và người ra kèo rất giỏi chọn tỷ lệ đúng. Nhưng người ra kèo cũng có hạn chế, đấy là dư luận. Hắn ta không dự đoán vì nghĩ đội nào sẽ thắng, mà dự đoán vì công chúng nghĩ rằng đội nào sẽ thắng. Vậy nên khoảng chênh lệch ấy giữa tình cảm yêu chuộng và kết quả thực tế - mẹ kiếp, thấy cái thằng bắt bóng trong vùng cấm địa không, khác gì mở cửa mời bọn Pittsburgh vào xơi, giờ mà chúng nó ghi bàn thì chúng ta chỉ có tạch - được rồi, bố đang nói đấy, nêu bố thực tình ngồi làm toán chứ không bắt chước thằng Joe Bò Viên chọn đội cá bằng cách đọc mục thể thao năm phút? Ai có lợi hơn? Này nhé, bố không thuộc vào lũ trẻ nít chỉ thích mơ màng về đội Khổng lồ New York dù nắng hay mưa - hừ, đến cả mẹ con cũng có thể bảo con biết thế. Bọ Cạp ưa nắm kiểm soát, bố là thế đấy. Bố rất thích cạnh tranh. Muốn thắng bằng bất kỳ giá nào. Tài diễn của bố là xuất phát từ đó, hồi bố còn diễn. Mặt trời ở cung Bọ Cạp, Sư Tử đang mọc. Có hết trong tử vi rồi. Còn con, con là Cự Giải, một con cua, lúc nào cũng chỉ thích bí mật rúc kín trong hang, phương thức hành động; trái ngược hẳn. Không xấu cũng không tốt, chỉ là thế thôi. Được rồi, dù sao đi nữa, lúc nào bố cũng xem xét tỷ lệ tấn công phòng thủ, nhưng thế nào thì cũng không hại nếu chú ý đến các hành tinh đi qua nhau và vị trí mặt trời trên đường hoàng đạo vào ngày đấu...”

“Xandra đã khiến bố quan tâm đến mấy thứ này à?”

“Xandra gì? Một nửa số bầu thể thao ở Vegas có đường dây nóng trực tiếp đến một thầy chiêm tinh. Dù sao thì như bố vừa nói, nếu mọi thứ khác đều như nhau, thì liệu các sao có ảnh hưởng gì không? Có. Bố tuyệt đối cho là có. Ví như là, nếu tuyển thủ đang vào một ngày tốt, hoặc một ngày xấu, hoặc không đủ phong độ, kiểu kiểu đó. Thành thật là ưu thế đó sẽ rất có ích vào những khi đang, hừm, nói thế nào nhỉ, ha ha, đang một tí, cho dù...” — ông chìa cho tôi xem xấp tiền dày bự hình như toàn tờ trăm, buộc chun ở ngoài - “năm nay thật là một năm cực kỳ đối với bố. 53%, một năm một ngàn trận. Đấy là điểm ma thuật.”

Chủ nhật là những ngày có trận lớn. Khi thức dậy, tôi xuống nhà sẽ thấy ông ở giữa một biển báo rải khắp phòng, chạy vun vút hơn hớn quanh phòng cứ như đang là buổi sáng Giáng sinh, hết mở lại đóng cửa tủ bếp, nói chuyện với người ghi số trên điện thoại và nhai khoai tây chiên thẳng trong túi. Nếu đi xuống nhìn ông chỉ một tí thôi, khi các trận lớn đang chiếu, thỉnh thoảng ông sẽ cho tôi “một mẩu” - 20, 50 đô-la, nếu ông đang thắng. “Để con có cớ để tâm,” ông giải thích, chồm người tới trước trên xô pha và xoa tay lo âu. “Thấy chưa - ta chỉ cần đội Ngựa non Indianapolis bị đá khỏi bảng xếp hạng trong hiệp đầu này. Bị đánh bẹp. Còn Cao bồi Dallas và Dân ’49 San Francisco thì cần lên quá 30 điểm trong hiệp hai - được!” ông hét và nhảy chồm chổm phấn chí, tung nắm đấm lên trời. “Ngã rồi! Da đỏ Washington lấy được bóng rồi. Chúng ta lại chạy!”

Nhưng thật khó hiểu, vì Da đỏ mới là đội ngã. Tôi cứ nghĩ Cao bồi sẽ phải thắng trên ít nhất là mười lăm điểm. Cú thay ngựa giữa dòng đột ngột của ông khiến tôi không bắt kịp, và thỉnh thoảng tôi đã làm mình mất mặt vì cổ vũ đội bên kia, nhưng trong khi cả hai ào lên ngẫu nhiên giữa các trận, giữa các bàn, tôi khoái dõi theo vẻ mê man của ông, cơn nhồi nhét thức ăn đầy dầu mỡ cả ngày của ông, nhận những tờ hai chục năm chục ném về phía mình như trên trời rơi xuống. Nhưng lần khác - lên đỉnh rồi đổ ập trên một cơn sóng hào hứng khản giọng nào đó - ông lại rơi vào cơn bồn chồn lờ mờ mà như tôi thấy dường như chẳng liên quan gì lắm tới diễn biến trận đấu, và ông đi đi lại lại vì cớ gì đó tôi không hiểu nổi, đan tay vào nhau trên đầu, trừng mắt nhìn tivi với vẻ một người đã mất sạch tài sản trong thương trường: cãi nhau với huấn luyện viên, với cầu thủ, hỏi họ bị tâm thần hay sao vậy, cái chó gì đang diễn ra ở đây. Đôi khi ông còn theo tôi vào bếp, với vẻ quy thuận lạ lùng. “Chúng nó đang giết bố ở trong kia,” ông hài hước nói, tựa người vào bếp, dáng vẻ đùa cợt, gập người lại như một tên cướp nhà băng bị đạn găm trúng ruột quỵ xuống.

Kèo x. Kèo y. Chạy sân, vượt chấp. Vào ngày đấu, cho đến chừng năm giờ chiều hay gì đó, ánh sáng trắng của sa mạc còn cưỡng lại bóng u ám Chủ nhật cuối cùng cũng sập xuống - thu chìm vào đông, niềm cô đơn trong giờ chập choạng tháng Mười trước ngày trở lại đi học - nhưng lúc nào về cuối những buổi chiều đấu bóng ấy cũng có một giây dài tĩnh lặng, khi tâm trạng đám đông thay đổi và mọi thứ trở thành hoang tàn bất định, cả trên tivi lẫn bên ngoài, ánh lóa kim loại trên cửa kính ra hiên chuyển dần sang vàng rồi xám, bóng ngả dài, đêm rơi vào cảnh im phắc của sa mạc, một nỗi buồn tôi không rũ bỏ nổi, nghĩ về những người lặng lẽ theo nhau đi về phía cửa ra khán đài, mưa lạnh đang rơi xuống những thành phố đại học tít về phía đông.

Nỗi sợ hãi choáng lấy tôi khi ấy thật khó mà giải thích. Những ngày đấu bóng chấm dứt gọn, trong một cảm giác gần như mất máu, khiến tôi nhớ lại cái ngày nhìn căn hộ ở New York bị đóng dần vào hộp chở đi: mất điểm tựa, chảy trôi, không có gì bám víu. Trên tầng, đóng chặt cửa phòng, tôi bật hết đèn, hút cỏ nếu có, nghe nhạc trên loa xách tay - những thứ nhạc chưa từng nghe như Shostakovich và Erik Satie từng cóp vào iPod cho mẹ rồi chưa bao giờ bắt tay xóa đi - và bắt đầu đọc sách ở thư viện: chủ yếu là sách nghệ thuật, vì khiến tôi nhớ lại mẹ.

Tuyệt phẩm hội họa Hà Lan. Thời hoàng kim của Delft. Ký họa của Rembrandt cùng những học sinh vô danh. Dùng máy tính ở trường, tôi phát hiện có một cuốn sách về Carel Fabritius (rất ngắn, chỉ độ trăm trang), nhưng thư viện trường không có và thời gian dùng máy ở trường bị quản lý sát sao đến độ tôi kinh hãi không dám tra cứu gì trên mạng - nhất là sau khi bất cẩn bấm vào đường dẫn (Het Puttertje (Con sẻ vàng), 1654) và mở ra một trang trông quan cách rợn người gọi là Cơ sở dữ liệu nghệ thuật mất tích bắt tôi phải đăng nhập bằng tên và địa chỉ thật. Tôi đã hoảng vía khi đột ngột hiện ra những chữ InterpolĐang mất đến nỗi vội vàng tắt phụt máy tính, dù không được phép làm vậy. “Cậu vừa làm cái gì thế?” ông Ostrow trông thư viện gặng hỏi trước khi tôi kịp bật lại. Ông ta thò tay qua vai tôi, bắt đầu gõ mật khẩu.

“Cháu...” Dù không muốn nhưng tôi vẫn nhẹ mình vì không phải vừa xem web đen, khi thấy ông kiểm tra lịch sử truy cập. Tôi đã định tự mua một cái máy tính rẻ tiền bằng 500 đô-la bố cho hồi Giáng sinh, nhưng thế nào đó mà số tiền ấy đã biến đâu hết sạch - Nghệ thuật mất tích, tôi tự nhủ, không việc gì phải cuống lên vì hai chữ mất tích, bị cháy hủy cũng là mất tích, phải không? Dù chưa nhập tên nhưng tôi cũng lo lắng vì đã thử truy cập từ IP của trường. Biết đâu đấy, có thể mấy tay thanh tra từng đến gặp tôi vẫn tiếp tục theo dõi và biết tôi đang ở Vegas, mối liên hệ dù nhỏ nhưng có thực.

Bức tranh đã bị giấu theo một cách tôi nghĩ là rất thông minh, trong cái vỏ gối vải bông sạch, dùng băng dính dán vào sau ván đầu giường. Nhờ Hobie tôi đã học được thói phải thật gượng nhẹ cẩn trọng với các đồ vật cổ (đôi khi, với những món đồ đặc biệt mong manh, ông còn đeo găng tay vải trắng để cầm) và không bao giờ trực tiếp sờ tay vào, chỉ cầm ở mép. Tôi chẳng bao giờ lấy nó ra, trừ khi bố và Xandra đã đi ra ngoài và biết chắc còn lâu họ mới về - dù không nhìn thấy, tôi vẫn thích biết rằng nó ở đấy, vì nó tạo cho tất cả một độ sâu thẳm và vững chắc, củng cố thêm hạ tầng, như một sự đúng đắn vô hình nhưng là nền tảng nâng đỡ và an ủi tôi, cũng như khi biết rằng ở nơi xa xôi cá voi vẫn vô tư bơi giữa làn nước biển Baltic và các thầy tu tại những múi giờ kỳ quái vẫn không ngừng tụng niệm cầu cho thế giới được cứu chuộc.

Lấy nó ra, cầm nó trong tay, nhìn ngắm nó, là một việc không thể làm cẩu thả. Ngay cả động tác đưa tay cầm lấy nó cũng đem lại cảm giác như lớn rộng thêm, như mùi hương thoảng qua, như cất mình bay lên, và đến một thời điểm lạ lùng nào đó khi đã nhìn thật lâu, mắt mờ đi vì không khí sa mạc qua máy lạnh, thì hình như không gian đã biến mất giữa tôi và nó, khiến khi ngẩng lên, chính bức tranh chứ không phải tôi mới là có thật.

Sống từ năm 1622 đến1654. Con một người thầy giáo. Chưa đến một tá bức được xác định đúng là thuộc về ông. Theo Van Bleyswijck, tác giả cuốn lịch sử về Delft, Fabritius đang ở trong xưởng vẽ người phu đào huyệt thành Delft là Oude Kerk vào mười rưỡi sáng, thì xưởng thuốc súng phát nổ. Xác ông được lôi ra khỏi xưởng vẽ đổ nát nhờ những người hàng xóm “trong nỗi tiếc thương sâu sắc”, cuốn sách cho biết, “và với nỗ lực không nhỏ”. Điểu khiến tôi nín thở từ những bản tường thuật trong sách thư viện ấy là yếu tố ngẫu nhiên: thảm họa trên trời rơi xuống, của cả tôi và ông, chập lại tại một điểm không nhìn thấy được, vụ nổ lớn như lời bố tôi gọi - không phải kiểu mỉa mai hay chê bai mà với vẻ cung kính, ghi nhận những uy lực số mệnh vẫn chỉ đạo chính cuộc đời ông. Có thể nghiên cứu các mối liên hệ mất hàng năm, hàng năm mà vẫn không bảo giờ ra được kết luận - đấy là do những thứ hợp lại với nhau, phân tán khỏi nhau, lỗ hổng thời gian, mẹ đứng trước bảo tàng khi thời gian nhấp nháy và ánh sáng múa may, những điều bất định lơ lửng chờ bên mép một cõi sáng loáng mênh mông. Cái ngẫu nhiên vơ vẩn có thể, hoặc có thể không, thay đổi mọi điều.

Ở tầng trên, nước từ vòi bồn rửa phòng tắm đầy clo nên không thể uống được. Trong đêm, luồng gió khô thổi rác rến lon bia lăn trên phố. Độ ẩm không khí và hơi nước, như Hobie dạy tôi, là kẻ thù lớn nhất trên đời của đồ cổ; trên cái đồng hồ tủ đứng đang sửa dở khi tôi đi, ông đã chỉ cho tôi xem dưới bề mặt, gỗ đã mục hết vì ẩm (“ai đó đã tạt xô nước rửa sàn đá, cháu thấy chỗ gỗ này mềm không, mòn đi không?”)

Lỗ hổng thời gian: gặp lại thứ gì đó lần thứ hai, hoặc không chỉ hai. Cũng như các nghi lễ của bố tôi, hệ thống cá cược của ông, những tiên tri và ma thuật đều được suy nghiệm trong một ý thức tổng quan về những mô hình không nhìn thấy, vụ nổ ở Delft thuộc về một chuỗi sự kiện phức tạp đã để lại dư hưởng đến tận giờ. Những hậu quả trùng điệp đủ làm người ta chóng mặt. “Tiền không quan trọng,” bố tôi nói. “Tiền chỉ là biểu hiện của năng lượng chứa trong sự vật, con hiểu không? Vấn đề là làm sao theo dõi nó. Dòng chảy của ngẫu nhiên.” Cặp mắt con sẻ vàng găm vào tôi, cặp mắt sáng ánh không thay đổi. Tâm ván gỗ bé tí xíu, “chỉ hơi nhỉnh hơn một tờ giấy khổ A4” như nhận xét của một trong mấy cuốn sách mỹ thuật, dù tất cả những thông tin về ngày tháng hay kích cỡ ấy, những thông tin chết trong sách vở ấy, cũng ít liên quan chẳng kém gì những số liệu trong mục thể thao khi các tuyển thủ Green Bay Packers[97] đã vượt hai điểm ở hiệp thứ tư và một màn tuyết mỏng lạnh giá bắt đầu hạ xuống sân. Bức tranh, cái ma thuật và sức sống trong đó, cũng không khác gì thời khắc bồng bềnh lạ lùng khi tuyết xuống, ánh sáng và bông tròn ánh sắc xanh quay vòng trước máy quay, khi ta không còn quan tâm đến trận đấu, đến thắng thua, mà chỉ muốn uống vào người cái giây gió tạt không thốt nổi nên lời ấy. Nhìn bức tranh tôi lại trải qua cảm giác vạn vật đang tụ về một điểm: một giây phút nắng chói thoáng qua, tồn tại chớp mắt và vĩnh viễn. Chỉ thi thoảng lắm tôi mới nhận ra sợi xích buộc chân chú chim, hay nhận ra thật là một cuộc đời tàn nhẫn đối với một sinh linh bé bỏng như thế - chấp chới một khắc rồi bị ép phải đậu lại một nơi duy nhất, vô vọng trong muôn thuở.

V

ĐIỂM TỐT LÀ: TÔI ĐANG RẤT VUI khi thấy bố dễ thương như vậy. Gần đây bố liên tục đưa tôi đi ăn tối - ăn tối hoành tráng ở những nhà hàng trải khăn bàn trắng, chỉ có hai người với nhau - ít nhất tuần một lần. Đôi khi ông còn mời cả Boris theo, những lần ấy Boris luôn sốt sắng nhận lời: sức quyến rũ của bữa ăn ngon còn hơn cả sức hút dính như keo từ Kotku, nhưng lạ thay, tôi thấy mình vui hơn nếu chỉ có hai bố con với nhau.

“Con biết không,” một lần trong bữa tối ấy, bố nói, khi chúng tôi còn nấn ná lại ăn tráng miệng, nói đủ chuyện tào lao từ nhà trường đến các thứ khác (cái ông bố mới toanh rất mực ân cần này! ông ta từ đâu mà ra vậy?), “con biết không, bố đã rất vui được làm quen dần với con từ hồi con đến đây, Theo ạ.”

“Ừm, ờ, hừm, con cũng thế,” tôi đáp, ngượng ngập, nhưng chân thật.

“Bố muốn nói là... ” bố lùa tay qua tóc “cảm ơn đã cho bố một cơ hội nữa, bé con à. Vì bố đã sai lầm trầm trọng. Lẽ ra bố không bao giờ được để quan hệ giữa bố với mẹ con ảnh hưởng đến quan hệ giữa bố với con. Không, không,” ông nói và giơ tay lên, “bố không trách cứ gì mẹ con đâu, thời ấy đã qua lâu lắm rồi. Chỉ có điều là mẹ yêu con quá mức, lúc nào bố cũng cảm giác như đang xen vào giữa hai mẹ con. Là người thừa trong nhà, kiểu đó. Hai mẹ con thân thiết nhau quá,” bố bật cười buồn, “khiến chẳng còn chỗ cho người thứ ba nữa.”

“Ờ...” Mẹ con tôi luôn rón rén đi trong nhà, thì thà thì thào tìm cách tránh mặt bố. Những bí mật, những tiếng cười. “Con định nói, chỉ là...”

“Không, không, bố không cần con xin lỗi gì hết. Bố là bố, đáng ra bố phải xử sự đúng đắn hơn. Chỉ có điều, nó trở thành một vòng tròn luẩn quẩn, con hiểu không. Bố cảm thấy bị bỏ rơi, bị ra rìa nên uống rượu liên tục. Và lẽ ra bố không bao giờ được để chuyện đó xảy ra. Ừm, bố đã bỏ qua vài năm hết sức quan trọng trong cuộc đời con. Bố mới là người phải ghi nhớ chuyện đó.”

“Ừm...” Tôi thấy tội nghiệp đến nỗi không biết nói gì nữa.

“Không định đánh úp con đâu, cậu bé à. Chỉ muốn nói là bố rất mừng vì ta lại là bạn với nhau.”

“À thì,” tôi nói và dán mắt xuống đĩa caramel kiểu Pháp đã vét sạch, “con cũng thế.”

“Mà, bố nói thật đấy, bố muốn bù đắp lại cho con. Hiểu không năm nay bố đang thắng trận giòn giã.- ông nhấp một ngụm cà phê - “và bố muốn mở tài khoản tiết kiệm cho con. Con hiểu không, chỉ là để dành ra một chút. Vì là, con hiểu đấy, bố thực sự đã không phải với con nhiều lắm về chuyện mẹ con, con hiểu đấy, và bao nhiêu tháng vắng mặt nữa.”

“Bố,” tôi bối rối nói. “Không cần phải thế đâu.”

“Ồ, nhưng bố muốn mà! Con có số an sinh xã hội rồi chứ?”

"Có rồi.”

“Ừ, bố đã để riêng ra được mười nghìn rồi. Bắt đầu như thế cũng được. Nếu khi nào về nhà con nghĩ tiếp chuyện đó, thì cho bố số an sinh của con, lần sau qua nhà băng bố sẽ mở tài khoản đứng tên con, đồng ý chứ?”

VI

NGOÀI GIỜ HỌC THÌ KHÔNG MẤY KHI tôi gặp Boris nữa, ngoại trừ một chuyến đi chơi chiều Chủ nhật, bố tôi đưa cả hai đến quán Carnegie ở khách sạn Mirage ăn cá than và bánh nhân thịt Ba Lan. Nhưng rồi mấy tuần trước lễ Tạ ơn, nó rầm rầm đi lên tầng dù tôi không hề hẹn gặp nó, và bảo: “Ông già mi gần đây đang gặp hạn, mi biết không?”

Tôi bỏ Silas Mame[98] xuống, đấy là cuốn đang học ở trường. “Hả?”

“Hừm, dạo này ổng toàn chơi ở bàn 200 - tức là 200 đô mỗi kèo,” nó nói. “Năm phút mất cả ngàn như bỡn.”

“Ngàn đô-la với ông cũng là muỗi thôi,” tôi nói, và khi thấy Boris không trả lời: “Ông bảo thua bao nhiêu?”

“Không bảo,” Boris đáp. “Nhưng nhiều lắm.”

“Mày chắc là không phải ông bịp mày chứ?”

Boris cười lớn. “Có thể,” nó nói, ngồi xuống giường, chống tay lên khuỷu dựa ra đằng sau. “Mi không biết gì thật hà?”

“Ừ...” Theo như tôi biết thì bố vừa trúng lớn khi đội Buffalo Bill thắng cuộc tuần trước. “Tao cũng không thấy làm sao mà ông thua nhiều quá được. Ông vẫn đưa tao đi ăn Bouchon kiểu thế.”

“Ừ, nhưng cũng có thể có lý do khác,” Boris đáp vẻ trải đời.

“Lý do à? Lý do gì?”

Boris có vẻ chực nói gì đó, rồi đổi ý.

“Ừ, ai biết được,” nó nói và châm thuốc rồi rít một hơi. “Ông già mi, ổng có máu Nga đấy.”

“Ừ,” tôi đáp và với lấy điếu thuốc. Tôi đã chứng kiến nhiều lần những cuộc “chuyện trò thông thái” hoa chân múa tay giữa Boris và bố tôi, bình phẩm về những tay bạc vĩ đại trong lịch sử Nga: Pushkin, Dostoyevsky, đủ thứ tên nữa tôi không biết.

“Ờ, thói Nga điển hình, mi biết đấy, than vãn từ sáng đến tối! Mọi thứ có lên hương mấy cũng vậy - phải giấu cho kín. Nếu không sẽ là bỡn cợt số phận.” Nó đang mặc cái áo sơ mi vía do bố tôi thải ra, đã giặt gần như trong suốt và to đến nỗi phồng tướng trên người nó như một món đồ của người Ả rập hay Ấn giáo. “Có điều, ông già mi, nhiều lúc không biết ổng đùa hay thật.” Rồi quan sát tôi thật kỹ: “Mi đang nghĩ cái chi thế?”

“Có nghĩ gì đâu?”

“Ổng biết tụi mình vẫn nói chuyện với nhau. Nên ổng mới bảo tau. ổng mà không muốn mi biết thì đã chả nói rồi.”

“Ừ.” Tôi cũng tin chắc đây không phải là sự thực. Bố tôi là kiểu người gặp hứng có thể tùy tiện kể đời sống riêng tư với cả vợ của ông; chủ hoặc bất kỳ người nào không nên kể.

“Hẳn là ổng đã tự kể với mi rồi,” Boris nói, “nếu ổng nghĩ là mi muốn nghe.”

“Thế này. Như mày nói đấy...” Bố tôi có thói quen tự đày đọa, ưa những cử chỉ khoa trương: trong những bữa Chủ nhật đi ăn, ông thường phóng đại những khổ ải của ông, càu nhàu, loạng choạng, ầm ĩ than vãn vừa bị “lột sạch” hay “chết tốt” sau một trận thua, ngay giữa lúc vừa thắng nửa tá trận khác và đang tính toán lợi lộc trên máy tính. “Thỉnh thoảng ông cũng hơi thổi phồng một tí.”

“Ừ, đúng, cái đó cũng đúng,” Boris đáp rất duy lý. Nó lấy lại điếu thuốc, hít vào, rồi thân thiện chìa cho tôi. “Mi nốt đi.”

“Thôi, cảm ơn.”

Lặng yên một lúc, chúng tôi nghe thấy cả tiếng đám khán giả đang rộ lên trong trận bóng bố đang xem. Rồi Boris lại ngả người, hỏi: “Dưới nhà có gì ăn không?”

“Chẳng có cái mẹ gì cả.”

“Có đồ Tàu còn thừa thì phải.”

“Hết rồi. Ai đấy ăn rồi.”

“Chết tiệt. Vậy chắc tau qua đằng Kotku đây, mẹ bả có pizza đông lạnh. Mi đi không?”

“Khỏi, cảm ơn.”

Boris cười, lại làm mấy điệu bộ găng tơ trông rất dỏm. “Tùy chế thôi, yồ,” nó nói bằng giọng “găng tơ” (chỉ khác giọng thường ở động tác bàn tay và chữ “yồ”) rồi đứng dậy nửa lăn nửa đi ra. “Tui đói như sói rồi đa.”

VII

ĐIỂM KỲ QUÁI NHẤT LÀ chẳng mấy chốc mối quan hệ giữa Boris và Kotku đã rơi vào tình trạng bẳn gắt cáu kỉnh. Hai đứa vẫn đi đâu cũng khóa môi, và tay chân chẳng mấy khi ngưng sờ soạng nhau, nhưng chỉ cần mở miệng ra là nghe y hệt như những cặp vợ chồng sống chung 15 năm có lẻ. Chúng cãi cọ về từng món tiền nhỏ nhặt, như ai đã trả tiền ăn trưa ở khu ẩm thực lần gần nhất, và những cuộc đối thoại lọt vào tai tôi đều kiểu như thế này:

Boris: “Gì! Anh đang cố tỏ ra dễ thương mà!”

Kotku: “Hừ, cái đó chẳng dễ thương tí nào.”

Boris (chạy theo, cố bắt kịp cô ả): “Anh thề đấy, Kotyku! Thật đấy! Đang cố dễ thương mà!”

Kotku: (bĩu môi)

Boris (tìm cách hôn cô ả nhưng không được): “Anh đã làm gì nào?

Có chuyện gì thế? Sao em lại nghĩ anh không dễ thương nữa?”

Kotku: (không nói gì)

Bài toán về gã cọ bể tên Mike - tình địch của Boris - đã được giải quyết gọn ghẽ nhờ quyết định hợp tình không chịu được của Mike là gia nhập lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ. Nhưng xem ra Kotku vẫn dành hàng giờ buôn điện thoại với hắn mỗi tuần, mà dù cớ gì thì cũng không làm Boris để tâm (“Bả chỉ đang cố nâng đỡ tinh thần hắn thôi, hiểu không”). Nhưng vụ ghen tuông của nó ở trường thì thật kinh khủng. Nó thuộc lòng thời khóa biểu của cô nàng, và ngay giây chúng tôi tan lớp đã phóng vụt đi tìm cô nàng, như thể ngờ cô nàng bắt cá hai tay trong giờ tiếng Tây Bản Nha công sở hay gì đấy. Một hôm, tan học, khi Popper với tối ở nhà một mình với nhau, nó gọi điện qua hỏi: “Mi có biết thằng nào tên Tyler Olowska không?”

“Không.”

“Học cùng lớp sử Mỹ với mi đấy.”

“Xin lỗi. Lớp đông lắm.”

“Tau bảo. Mi tìm hiểu về nó hộ tau được không? Nó sống ở đâu, chẳng hạn?”

“Nó sống ở đâu à? Lại chuyện Kotku phải không?”

Thình lình - khiến tôi giật nảy người - chuông cửa vang lên: bốn tiếng đinh đoong đường bệ. Suốt từ hồi tôi tới Las Vegas tới giờ chưa có một ai từng rung chuông cửa nhà chúng tôi, chưa bao giờ. Ở đầu dây bên kia, Boris cũng nghe thấy. “Cái gì thế?” Nó hỏi. Con chó thì chạy vòng quanh và sủa loạn lên.

“Có người gọi cửa.”

“Gọi cửa” Trên con phố trống huơ trống hoác của chúng tôi - hàng xóm không, vệ sinh dọn rác không, đến cả đèn đường cũng không - đây thật là sự kiện lớn. “Mi nghĩ là ai?”

“Tao không biết. Để tao gọi lại sau.”

Tôi túm lấy Popchyk - lúc này đang phát rồ phát dại - và trong lúc nó uốn éo rú rít trong tay tôi, vùng vẫy đòi thả xuống, cũng loay hoay mở được cửa bằng một tay.

“Nhìn kia,” một giọng Jersey tươi tỉnh nói. “Nhóc con này mới xinh xẻo tchứ

Trong ánh lóa cuối chiều làm tôi chớp chớp mắt là một người rất cao, rất rất đen, rất gầy, tuổi tác không xác định. Trông hắn nửa giống cao bồi chơi rodeo, lại nửa giống diễn viên phòng trà mạt thời. Cặp kính chuồn chuồn gọng vàng nửa trên mắt kính nhuộm tím, một chiếc áo vét dày trắng trùm ra ngoài áo sơ mi cao bồi đỏ cúc bấm nắp trong, quần bò đen, nhưng đập vào mắt tôi nhất là mái tóc: nửa như tóc giả, nửa như cấy tóc hay dán vào, chất tóc như sợi thủy tinh cách nhiệt còn màu nâu sẫm thì như xi đánh giày trong hộp.

“Nào, thả nó xuống đi,” hắn nói và hất hàm về phía Popper, nó vẫn giãy giụa đòi xuống. Giọng hắn trầm, tư thế điềm đạm thân thiện, trừ giọng nói ra thì đúng là người Texas chính hiệu, đủ cả đôi bốt. “Cứ để nó tchạy! Không ngại đâu. Bác thích tchó

Khi tôi thả Popchyk xuống, hắn cúi người xoa đầu nó, cử chỉ như một gã cao bồi chân dài bên đống lửa. Trước người lạ mặt kỳ quặc từ tóc tai trở xuống ấy, tôi không thể không thán phục cách hắn có vẻ thật thoải mái với bề ngoài của mình.

“Rồi, rồi,” hắn nói. “Thật là một nhóc tì xinh xẻo. Đúng thế!” Cặp má đen vì nắng trông nhăn nheo như da táo khô, hằn lên những nếp nhăn tí xíu. “Bác cũng ba đứa ở nhà. Pinny mini.”

“Xin lỗi?”

Hắn đứng thẳng, cười với tôi, lộ ra hàm răng đều đặn, trắng lóa.

Tchó Pinscher mini,” hắn nói. “Một lũ điên dại, nhai nát cả nhà khi bác không ở nhà, nhưng bác khoái tchúng nó. Tên tcháu là gì?”

“Theodore Decker,” tôi đáp và tự hỏi đây là ai.

Hắn lại cười; cặp mắt nhỏ xíu sau cặp kính nửa râm lấp lánh. “Ê này! Đồng hương New York đây mà! Bác nghe thấy qua giọng tcháu, đúng tchứ?

“Vâng, đúng.”

“Dân Manhattan nữa, theo bác đoán. Tchuẩn tchứ?”

“Vâng, chuẩn,” tôi đáp, tự hỏi đích xác thì hắn nghe thấy cái gì trong giọng tôi. Chưa ai từng đoán được tôi vốn ở Manhattan chỉ qua giọng nói cả.

“Ờ, đấy, bác người Canarsie. Từ nhỏ đến lớn luôn. Lúc nào được gặp một kẻ miền Đông khác cũng vui lòng. Bác là Naaman Silver.” Hắn chìa tay.

“Rất vui được gặp bác Silver ạ.”

“Ạ cơ à!” Hắn cười tán thưởng. “Bác rất thích bọn trẻ lễ phép. Giờ thì không gặp được mấy ai như tcháu nữa. Tcháu phải Do Thái không, Theodore?”

“Không ạ,” tôi nói, và tiếc rằng không trả lời “vâng”.

“Thế à, bảo tcháu này. Mỗi người ở New York, theo bác đều là một người Do Thái danh dự. Đấy bác nghĩ như thế đấy. Tcháu tới Canarsie bảo giờ tchưa

“Chưa ạ.”

“Ừ, ở đấy ngày xưa là một cộng đồng tuyệt vời lắm, dù giờ thì… Hắn nhún vai. “Gia đình bác, ở đấy suốt bốn thế hệ. Ông nội bác Saul từng mở tchuỗi nhà hàng Do Thái đầu tiên ở Mỹ, hiểu không. Lớn lắm, nổi tiếng lắm. Nhưng từ hồi bác còn nhỏ đã đóng cửa rồi. Rồi đến lúc mẹ bác đưa cả nhà đến Jersey sau khi bố mất, để ở gần bác Harry và gia đình hơn.” Hắn chống tay lên cái hông gầy, nhìn tôi. “Bố tcháu có nhà không, Theo?”

“Không ạ.”

“Không à?” Hắn nhìn qua tôi vào trong nhà. “Tiếc thật. Biết lúc nào về không?”

“Không ạ,” tôi đáp.

“Ạ cơ đấy. Bác thích đấy. Tcháu thật là trẻ ngoan. Biết sao không, tcháu làm bác nhớ lại mình hồi bé. Vừa ra khỏi trường đạo…” hắn chìa hai tay, vòng vàng quấn quanh hai cổ tay rám đen lông lá “và hai bàn tay này? Trắng như sữa ấy. Như tay tcháu.”

“Ừm... ” tôi vẫn đứng rất vướng víu bên cửa “bác có muốn vào nhà không?” Tôi không hiểu có nên mời người lạ vào nhà không, chỉ có điều tôi có một mình và đang chán ngấy. “Bác có thể đợi trong nhà. Nhưng cháu không biết lúc nào thì bố mới về”

Lần này, hắn cũng mỉm cười. “Không cần đâu. Bác còn phải ghé mấy tchỗ nữa. Nhưng mà cho tcháu biết này, bác sẽ nói thật với tcháu, vì tcháu là một cậu bé ngoan. Bố tcháu thiếu bác năm điểm. Tcháu hiểu thế là sao không?”

“Không ạ.”

“Hừm, mừng cho tcháu. Tcháu không cần biết đâu, và bác cũng hy vọng không bao giờ biết. Thôi thì bác cứ nói rằng như thế không phải là chính sách làm ăn khôn ngoan.” Hắn thân mật đặt tay lên vai tôi. “Theodore, tcháu tin không thì tùy, nhưng bác rất giỏi làm việc với mọi người. Bác ghét phải đến nhà ai đó nói tchuyện với con cái họ, như đang làm bây giờ. Như thế không phải lối. Bình thường bác sẽ đến nơi làm việc của bố tcháu và trò tchuyện tchút đỉnh ở đó. Tchỉ có điều ông ấy thuộc loại rất khó lùng ra, mà tchắc tcháu cũng biết rồi.”

Trong nhà, điện thoại đang reo: Boris, tôi cầm chắc là vậy. “Có lẽ tcháu nên đi nghe máy đi,” Silver thân mật nói.

“Không sao đâu ạ.”

“Đi đi. Có lẽ như thế tốt hơn. Bác sẽ đợi ngay ở đây.”

Cảm thấy càng lúc càng bất an, tôi quay vào nghe máy. Đúng như dự đoán, đấy là Boris. “Ai thế?” nó hỏi. “Không phải Kotku chứ?”

“Không. Này...”

“Tau nghĩ là nó đi về nhà với thằng Tyler Olowska đó rồi. Tau có linh cảm xấu lắm. Hừm, có thể nó không đi về nhà mình với thằng kia. Nhưng cả hai đứa nó ra khỏi trường với nhau - nó còn nói chuyện với thằng kia trong bãi xe nữa. Hai đứa nó học tiết cuối với nhau, kỹ thuật gỗ ghiếc mẹ gì đấy..

“Boris, tao xin lỗi, lúc này tao không thể nói chuyện được. Để tao gọi lại cho mày sau, đồng ý chứ?”

“Bác sẽ tin lời tcháu rằng không phải bố tcháu vừa phôn về,” Silver nói khi tôi trở ra cửa. Tôi nhìn ra sau hắn ta, thấy chiếc Cadillac trắng đỗ bên lề. Trong xe có hai người - một người lái và một người nữa ngồi ghế trước. “Không phải bố tcháu phải không?”

“Không ạ.”

Tcháu sẽ nói ngay nếu đúng là bố tcháu, phải không?”

“Vâng ạ.”

“Sao bác lại không tin tcháu nhỉ?”

Tôi im lặng, không biết đáp lại thế nào.

“Không sao hết, Theodore.” Lần nữa, hắn lại cúi xuống gãi sau tai Popper. “Sớm muộn gì bác cũng lần ra thôi. Tcháu sẽ nhớ tchuyển lại lời bác tchứ? Rằng bác đã ghé qua tchứ?

“Vâng ạ.”

Hắn xía ngón tay dài vào mặt tôi. “Tên bác là gì nào?”

“Bác Silver.”

“Bác Silver. Tchính xác. Kiểm tra lại thôi.”

“Bác muốn chuyển lời gì ạ?”

“Bảo ông ấy rằng bác nói đánh bạc là trò của khách du lịch,” hắn nói. “Tchú không phải của người trong vùng.” Thật nhẹ, thật khẽ, bàn tay nâu gây gò của hắn chạm lên đầu tôi. “ Tchúa ban phước cho Tcháu.

VIII

KHI BORIS TỚI BÊN CỬA nửa giờ sau, tôi tìm cách kể nó nghe vụ Silver đến gõ cửa, nhưng dù có lắng nghe một chút, nó còn đang nổi đóa vì Kotku ỡm ờ với thằng Tyler Olowska nào đó, một đứa nghiện cần, con nhà giàu, hơn chúng tôi một tuổi và thuộc đội chơi gôn. “Mẹ kiếp nhà nó,” nó khàn khàn nói khi chúng tôi ngồi trên sàn dưới nhà, hút cỏ lấy của Kotku. “Nó không nghe điện thoại. Tau biết nó đang ở với thằng kia, tau chắc luôn.”

“Thôi nào.” Đúng là đang lo ngại về Silver thật, nhưng tôi còn ngán nói về Kotku hơn. “Chắc thằng đó chỉ đang hỏi mua cỏ thôi.”

“Ờ, nhưng không chỉ có vậy đâu, tau chắc mà. Nó chẳng muốn tau ngủ lại nhà nó nữa, mi có để ý không? Giờ lúc nào nó cũng có việc. Nó còn không thèm đeo cái vòng tau mua tặng.”

Kính xệ xuống mặt, tôi đẩy lên sống mũi. Boris đâu có mua tặng cái vòng chết tiệt ấy, mà ăn cắp ở trung tâm thương mại, nhét túi chạy ù ra trong khi tôi (một công dân mẫu mực mặc áo khoác đồng phục) đang làm cô bán hàng bận bịu bằng những câu hỏi ngớ ngẩn nhưng lịch thiệp, bố con tôi nên mua gì tặng mẹ sinh nhật nhỉ. “Hờ,” tôi đáp, cố ra vẻ đồng cảm.

Boris cau mày, vầng trán là một cơn bão. “Nó đúng là đồ điếm. Vừa hôm trước? Làm bộ khóc trong lớp - để cái thằng Olowska chết giẫm đó thấy thương nó. Con phò rẻ tiền.”

Tôi nhún vai - không định tranh cãi gì về chuyện đó - chuyển lại cho nó bi thuốc.

“Nó chỉ khoái thằng kia vì nhà có tiền thôi. Nhà nó có hai con Mẹc. Hạng E.”

“Đấy là xe dành cho mấy bà già.”

“Vớ vẩn. Ở Nga, đấy là xe của băng đảng. Chưa hết...” nó rít thật sâu, ngậm khói trong miệng, tay huơ lên, mắt trào nước, chờ đã, đây mới là đoạn hay nhất, đợi đấy, nghe này, chịu không? “mi có biết thằng kia gọi nó là gì không?”

“Kotku?” Boris cứ nhất nhất gọi cô ả là Kotku, đến nỗi mọi người ở trường cả các thầy cô giáo cũng bắt đầu gọi theo.

“Chính thế!” Boris đùng đùng thốt lên, khói phì ra miệng. “Tên của tau! Cái kliytschka của tau tặng nó! Và hôm trước, trong hành lang? Tau thấy thằng kia quậy đầu nó.”

Có mấy viên bạc hà ngậm đã chảy trong túi bố tôi để trên bàn cà phê, bên hóa đơn và đống tiền lẻ, tôi bóc một viên bỏ vào miệng. Tôi đang phê như tê tê và vị ngọt râm ran khắp người như lửa lan. "Quậy à?” tôi hỏi, viên kẹo đâp cành cạch vào răng. “Lại đi?”

“Thế này này,” nó nói và đưa tay làm bộ vò tóc, rít miếng cuối cùng rồi dụi điếu cần. “Chẳng biết từ đó.”

“Tao thấy có gì đáng lo đâu,” tôi đáp và lại ngật đầu áp vào xô pha. “Này, mày thử cái kẹo bạc hà này xem. Ngon cực.”

Boris chùi tay lên mặt, rồi lắc đầu như con chó rũ nước. “Uầy,” nó nói và thọc cả hai tay vào mớ tóc rối tinh.

“Ờ. Tao cũng thế,” tôi nói sau một quãng nghỉ rung cả người. Những ý nghĩ trong đầu tôi căng ra, nhũn nhẽo, mãi không chịu trồi lên mặt.

“Sao?”

“Tao lên mẹ nó rồi.”

“Thế hửm?” Nó cười lớn. “Lên tới mức nào?”

“Tới chín tầng mây luôn, bạn ạ.” Viên kẹo trên lưỡi tôi cảm giác thật đậm và to bự, như một tảng đá lớn, tôi cảm thấy khó mà nói chuyện được khi có nó trong mồm.

Tiếp đó là một quãng lặng yên thư thái. Đã khoảng năm rưỡi chiều, nhưng ánh sáng còn tinh tuyền chói gắt. Mấy cái áo của tôi phơi cạnh bể, màu trắng lóa mắt, căng phồng lật phật như cánh buồm. Tôi nhắm mắt, màu đỏ chói chang xuyên qua mi, để người chìm lún vào cái xô pha (chợt cảm thấy dễ chịu kinh lên được) như lún vào con thuyền đang bập bềnh, nghĩ về bài Hart Crane đang học ở lớp Ngữ văn. Cầu Brooklyn. Sao tôi lại chưa bảo giờ đọc bài thơ ấy khi còn ở New York nhỉ? Và tại sao chưa bao giờ tôi chú ý đến cái cầu dù thấy nó gần như hằng ngày? Mòng biển, những cú thả rơi chóng mặt. Tôi nghĩ về rạp phim, những góc máy quay toàn cảnh...

“Tau muốn bóp cổ nó,” Boris bất thần nói.

“Hả?” Tôi giật mình đáp, chỉ nghe thấy mỗi chữ bóp cổ và âm điệu độc ác không lầm được của Boris.

“Con phạch trơ xương đó. Nó làm tau phát điên.” Boris lấy vai huých tôi. “Nào, Potter. Mi không muốn xóa cái nụ cười khinh khỉnh trên mặt nó đi ư?”

“À...” tôi đáp sau một khoảng lặng mơ hồ; rõ ràng đây là một câu đố mẹo. “Phạch là gì?”

“Về cơ bản là phò.”

“Ồ.”

“Ý tau là, ngoài ra còn đứa nào.”

“Đúng.”

Tiếp đó là một khoảng lặng dài rất kỳ quái làm tôi nghĩ hay là dậy bật nhạc lên, dù không nghĩ ra nhạc gì. Phấn khởi quá thì có vẻ không hợp lý, mà tôi cũng chẳng muốn bật thứ gì ủ ê hoặc nóng giận khiến nó lại càng hăng hái báo thù.

“Hừm,” sau một lúc lâu mà tôi nghĩ là thích hợp, “15 phút nữa sẽ có Đại chiến thế giới[99].”

“Rồi tau sẽ cho nó biết thế nào là đại chiến thế giới,” Boris hằn học nói. Nó đứng lên.

“Mày đi đâu thế?” Tôi hỏi. “Hai R à?”

Boris chau mày. “Cứ cười đi,” nó chua chát đáp và thọc tay vào cái áo mưa xám sovietskoye của mình. “Ông già mi rồi sẽ được Ba R nếu không trả tiền nợ cho lão kia.”

“Ba R?”

“Ra cám, ra bã, ra ma,” Boris đáp, với một tiếng cười đen đúa kiểu Xlavơ.

IX

ĐÂY CÓ PHẢI TRONG PHIM nào không? Tôi nghĩ. Ba R? Làm sao mà nó nghĩ ra cái đó được? Mặc dù đã đẩy được kha khá những sự kiện chiều nay khỏi đầu, nhưng tôi vẫn bị nhận xét cuối của a sủa lấy sủa để khiến tôi chết khiếp.

Nhưng chỉ là bố tôi về thôi. Trông ông nhàu nhĩ, ngơ ngẩn, tâm trạng không thể gọi là tốt.

“Bố à?” Tôi vẫn còn say thuốc, giọng thoát ra có vẻ quá ồn và quái lạ.

Ông dừng lại dưới chân cầu thang, nhìn tôi.

“Có một người đến đây. Silver gì đó.”

“Ồ thế hả?” Bố tôi đáp lại khá thản nhiên. Nhưng ông đứng im sững, tay đặt trên tay vịn câu thang.

“Ông ta bảo đang tìm cách liên lạc với bố.”

“Lúc nào?” Bố hỏi và đi vào phòng.

“Khoảng bốn giờ chiều nay thì phải.”

“Xandra có ở nhà không?”

“Con chưa thấy cô về.”

Ông đặt tay lên vai tôi, có vẻ suy nghĩ một lúc. “Ừ,” ông nói, “Bố sẽ cảm ơn nếu con không nhắc đến chuyện này.”

Mẩu tàn thuốc của Boris vẫn còn trong gạt tàn, tôi nhận ra. Ông thấy tôi nhìn, nhặt lên ngửi.

“Biết là có mùi gì đó mà,” ông nói và thả vào túi áo khoác. “Con bốc mùi đấy Theo ạ. Hai đứa lấy cái này ở đâu ra?”

“Có vấn đề gì không bố?”

Mắt bố hơi đỏ, hơi mất hồn. “Không đâu,” ông đáp. “Bố sẽ lên nhà gọi mấy cú điện thoại thôi.” Ông nồng nặc mùi khói thuốc lá hả và món trà nhân sâm suốt ngày uống, học từ những thương gia Tàu trong phòng baccarat, khiến mồ hôi ông bốc ra một mùi gắt, xa lạ. Nhìn ông theo cầu thang đi lên chiếu nghỉ, tôi thấy ông rút mẩu tàn thuốc trong túi, đưa qua mũi lần nữa vẻ đăm chiêu.

X

KHI ĐÃ LÊN PHÒNG, cửa đã khóa, Popper vẫn khó chịu và đi lại cứng nhắc quanh nhà - tôi trở lại nghĩ về bức tranh. Tôi đã rất đắc ý về chuyện giấu nó trong vỏ gối dán sau giường, nhưng giờ thì nhận ra thật ngu ngốc nếu để bức tranh bất cứ chỗ nào trong nhà - dù cũng không có mấy lựa chọn, trừ khi giấu trong đống rác cách đó mấy căn (chưa bao giờ được dọn từ khi tôi đến Vegas tới giờ) hoặc trong nhà bỏ hoang nào đó bên kia đường. Nhà Boris cũng không an toàn hơn, và ngoài ra thì chẳng có ai tôi quen biết rõ hoặc tin cậy cả. Chỉ còn một chỗ nữa là trường, cũng là ý tưởng tồi, nhưng mặc dù biết phải có lựa chọn nào khác chứ, tôi không nghĩ ra là lựa chọn gì. Cứ thỉnh thoảng ở trường lại có kiểm tra đột xuất tủ đồ, và bây giờ, nhờ Boris, tôi đã có liên hệ xa gần với Kotku, rất có thể đã thuộc vào tầng lớp dưới đáy thi thoảng bị kiểm tra. Dù thế, có bị phát hiện bức tranh trong tủ - dù là hiệu trưởng hay thầy dạy bóng rổ Detmars rất đáng sợ, hay thậm chí mấy viên cảnh sát thuê ở công ty an ninh thỉnh thoảng vẫn được lôi đến dọa lũ học sinh chết khiếp, thì vẫn cứ hơn bị bố hay Silver tìm ra.

Bức tranh bên trong vỏ gối được quấn vài lớp giấy vẽ dán băng dính nữa - giấy tốt, giấy để bảo quản, tôi lấy từ phòng mỹ thuật ở trường - trong còn lót hai lớp vải bông lau bát trắng sạch để phòng mặt tranh bị thấm axit trong giấy (dù không có). Nhưng tôi quá chăm chỉ lôi bức tranh ra ngắm - mở chỗ gấp trên mép dán luồn nó ra - khiến giấy đã rách, băng còn không dính chặt. Nằm trên giường vài phút nhìn trần nhà, tôi trở dậy lấy cuộn băng dính đóng thùng siêu dai siêu lớn còn lại từ đợt chuyển nhà, gỡ cái vỏ gối khỏi giường.

Thật quá sức - quá dụ dỗ - không thể không mở bức tranh ra xem một khi đã cầm trong tay. Thật nhanh, tôi tuột nó ra, và hầu như lập tức đắm vào ánh sáng bảo bọc phả ra từ bức tranh, du dương gần như tiếng nhạc, vị dịu dàng bên trong, tuyệt đối không thể giải thích được là gì ngoài một độ hài hòa xác đáng dưới tầng sâu ngút ngát khiến máu ta chao đảo, như khi trái tim đập chậm rãi và chắc chắn bên một người khiến ta cảm thấy an toàn và được yêu. Từ bức tranh toát ra một mãnh lực, một luồng sáng, một sự tươi mát như ánh ban mai trong căn hộ cũ nhà tôi ở New York, êm đềm nhưng lại hân hoan hết sức, một ánh sáng tô cho vạn vật đều sắc nét hơn, mà lại cũng vừa dịu dàng âu yếm hơn thực tế, càng thêm âu yếm vì nó thuộc về quá khứ, quá khứ không thể nào lấy lại: ánh sáng trên giấy dán tường, quả địa cầu Rand McNally cũ khuất trong bóng tối.

Con chim nhỏ, con chim vàng óng. Rũ mình tỉnh cơn mơ, tôi luồn trở lại bức tranh vào trong lớp khăn lau bát quấn giấy, bọc lại bằng hai ba (bốn? năm?) tờ báo thể thao cũ của bố, và rồi - do kích thích, do đã vào cơn trong trạng thái say thuốc đầy quyết tâm hiện tại, quấn lấy quấn để cho đến khi không còn một mẩu báo nào lộ ra và toàn bộ cuộn băng dính siêu lớn đã hết sạch. Sẽ không ai tình cờ mà mở được gói ấy ra. Dù có dùng dao, dao sắc, chứ không phải kéo, cũng phải rất lâu mới lột ra được. Cuối cùng, khi đã xong - cái gói trông như một thứ kén kỳ quái trong truyện viễn tưởng nào đấy - tôi luồn bức tranh xác ướp, cả vỏ gối các kiểu, vào cặp sách, nhét vào dưới chăn cạnh chân tôi. Cáu kỉnh, Popper gầm gừ rồi dịch ra chừa chỗ. Dù bé tí trong một hình hài ngớ ngẩn, nó vẫn rất nỏ mồm và quyết tâm bảo vệ cái lãnh thổ bên cạnh tôi, và nếu có ai mở cửa phòng khi tôi đang ngủ - kể cả Xandra hay bố tôi, cả hai nó đều không ưa lắm, thì tôi biết nó cũng sẽ bật lên báo động.

Cái ban đầu là một ý nghĩ yên dạ ấy lại nhanh chóng biến hình thành ý nghĩ về những kẻ lạ mặt đột nhập vào nhà. Điều hòa để lạnh tới nỗi tôi run lẩy bẩy; và khi nhắm mắt tôi cảm giác bị nhấc bổng lên khỏi thân thể - bẩy đi rất nhanh như một quả bóng bay đứt dây - để rồi lại giật nảy toàn thân và mở mắt. Vì thế tôi cứ nhắm tịt mắt, cố nhớ lại những gì nhớ được từ bài thơ của Hart Crane, cũng không nhiều lắm, dù vài từ rời rạc như mòng biểnxe cộđảo lộnbình minh cũng mang theo ít nhiều cái khoảng cách giữa không trung, cái bổ nhào từ cao xuống thấp trong bài thơ, và khi dần dần thiếp ngủ, tôi rơi vào một cảm giác pha ký ức ngộp thở về cái công viên hẹp lộng gió sặc mùi xăng xe gần căn hộ cũ, bên sông Đông, tiếng gầm dưới đường sá phảng phất lơ lửng trên con sông đang cuộn trôi qua thành từng dòng ào ạt và rối rắm, đôi khi dường như chảy về hai hướng khác nhau.

XI

ĐÊM ẤY TÔI CHẲNG NGỦ ĐƯỢC MẤY, đến khi tới trường nhét được bức tranh vào tủ thì đã kiệt sức, đến nỗi còn chẳng nhận ra là Kotku (bám cứng lấy Boris như không có chuyện gì xảy ra) mới sắm được quả môi dày mọng. Chỉ tới lúc nghe thằng lớp trên rắn mặt là Eddie Riso bảo, “Xe đụng à?” thì mới nhận ra đã có ai đó nện khá kỹ vào giữa mặt cô ả. Cô ả cứ không ngớt cười run rẩy, thanh minh với mọi người rằng bị cái cửa xe đập vào mặt, nhưng cái lối xấu hổ ấy xem ra (ít nhất tôi thấy thế) chẳng thật chút nào.

“Của mày đấy à?” tôi hỏi Boris ngay khi gặp nó một mình (một cách tương đối) trong lớp Ngữ văn.

Boris nhún vai. “Không cố ý.”

“Mày nói ‘không cố ý’ là sao?”

Boris có vẻ ngỡ ngàng. “Bả ép tau mà!”

“Nó ép mày,” tôi nhắc lại.

“Này, mặc dù mi ghen tức với bả… ”

“Cút mẹ mày đi,” tôi nói. “Tao đếch quan tâm mày với Kotku thế nào - tao có đầy việc riêng phải lo. Mày có thể đập vỡ đầu nó ra cũng được.”

“Ôi trời, Potter,” Boris bất chợt tỉnh ra. “Lão có quay lại không?

Cái lão đấy?”

“Không,” ngưng một lát tôi đáp. “Chưa. Hừ, ý tao là, mặc mẹ nó,” tôi đáp khi thấy Boris vẫn nhìn. “Đấy là vấn đề của ổng, không phải tao. Ổng sẽ phải tự kiếm ra cách thôi.”

“Ổng thiếu bao nhiêu?”

“Chịu.”

“Mi không kiếm được tiền giúp ổng à?”

Tao á?”

Boris ngoảnh đi. Tôi kéo tay nó. “Không, ý mày là gì, Boris? Tao không kiếm được giúp ổng à? Ý mày là sao vậy?” tôi hỏi khi thấy nó không đáp.

“Bỏ qua đi,” nó nói nhanh, ngồi lại trong ghế, và tôi không kịp tiếp tục câu chuyện vì lúc đó cô Spirsetskaya đã bước vào phòng, sẵn sàng mở máy về cuốn Silas Marner chán ngắt, và thế là xong.

XII

ĐÊM ĐÓ BỐ TÔI VỀ SỚM, mang theo mấy túi đồ ăn gọi về từ cửa hàng Tàu yêu thích, gồm cả một suất thêm món bánh bao cay tôi vẫn thích - và tâm trạng hào hứng đến mức hình như tất cả Silver và mấy chuyện đêm qua đều chỉ diễn ra trong giấc mơ của tôi.

“Ờm...” tôi nói và ngưng lại. Xandra đã ăn xong món nem rán, đang xả cốc nước ở bổn rửa, nhưng trước mặt cô ta tôi chỉ có thể thốt ra được chừng ấy.

Ông nhoẻn cười với tôi, cái nụ cười ông-bố-tốt thỉnh thoảng vẫn làm các cô tiếp viên hàng không thăng ông lên hạng ghế thương gia.

“Ờm sao?” ông hỏi, gạt hộp tôm Tứ Xuyên ra với lấy cái bánh bói.

“Ờm...” Xandra đang vặn nước rất ồn “Bố đã xử lý được hết chưa?”

“Hử,” bố đáp nhẹ bỗng, “vụ với Bobo Silver hả?”

“Bobo?”

“Nào, bố hy vọng là không phải con lo vụ đó. Con không lo, phải không?”

“Ừm...”

“Bobo...” ông cười lớn “người ta vẫn gọi là ‘Người Hùng’. Thực ra đấy là một người hay lắm - ừm, chính con cũng đã nói chuyện rồi - chẳng qua có hiểu lầm tí chút, thế thôi.”

“Năm điểm nghĩa là sao?”

“Này, chỉ là lệch nhau thôi. Ý bố là,” ông nói, “mấy người này là một loại nhân vật. Họ có ngôn ngữ riêng, có lối làm việc riêng. Nhưng mà này,” ổng cười to, “có cái này hay lắm - khi gặp ông ấy ở Caesars, đấy là chỗ mà Bobo bảo là ‘văn phòng’ của ông ấy, con biết đấy, bên bể bơi khách sạn Caesars - ờ, khi bố gặp, con có biết ông ấy cứ nhắc đi nhắc lại cái gì không? ‘Anh có một cậu con rất ngoan đấy, Larry.’ ‘Một cậu thiếu gia đích thực.’ Ý bố là, bố không biết con đã nói gì với ông ta, nhưng đúng là bố nợ con lần này đây.”

“Hừm,” tôi đáp bằng giọng trung dung, lấy thêm cơm. Nhưng trong lòng tôi thấy nao nao khi chứng kiến tâm trạng phấn chấn của ông - vẫn cái náo nức tràn tới như hồi còn nhỏ, khi im lặng lại bị phá vỡ, khi bước chân của ông lại chuyển sang nhẹ nhõm và lại nghe ông cười về chuyện gì đấy, hay ngâm nga hát khi đứng cạo râu trước gương.

Bố bẻ đôi cái bánh bói và cười lớn. “Nhìn này,” ông nói, vo viên lại vứt qua chỗ tôi. “Không hiểu ai là người ở Phố Tàu chuyên ngồi nghĩ ra mấy thứ này?”

Tôi đọc thành tiếng: “Bạn có bộ đồ nghề phi thường cho số phận, hãy thi hành cẩn trọng!”

“Bộ đồ nghề phi thường à?” Xandra hỏi, tiến lại gần quàng tay quanh cổ ông. “Nghe có vẻ đen tối nhỉ.”

“À...” bố quay lại hôn cô ta. “Đầu óc đen tối. Suối nguồn tươi trẻ.”

“Chắc chắn rồi.”

XIII

“TAU ĐÃ ĐẬP DẬP MÔI mi bữa hôm ấy,” Boris nói, rõ ràng là ăn năn về chuyện Kotku vì bỗng thình lình lôi ra nhắc lại, trong cảnh lặng lẽ thân thiện trên xe buýt đến trường buổi sáng.

“Ừa, còn tao thì dộng đầu mày vào tường.”

“Tau không cố tình!”

“Không cố tình gì cơ?”

“Đập vào miệng mi!”

“Thế với nó thì cố tình à?”

“Ờ, phần nào đó,” nó tìm cách lảng tránh.

“Phần nào đó?”

Boris thở hắt ra tuyệt vọng. “Tau đã xin lỗi bả rồi! Hai bọn tau ổn thỏa xong xuôi rồi, không có chi hết! Mà dù sao thì liên quan quái gì đến mi chứ?”

“Mày khơi lại chuyện đó chứ đâu phải tao.”

Nó nhìn tôi một khắc kỳ kỳ, rồi cười. “Tau kể cho mi cái này nhé?” “Gì?”

Nó ghé sát lại đầu tôi. “Đêm qua tau với Kotku chơi,” nó thì thầm. “Bùa lưỡi, cả hai luôn. Đã lắm.”

“Thật hả? Kiếm đâu ra thế?” Kẹo[100] thì ở trường khá dễ kiếm - Boris và tôi đã chơi cả tá lần rồi, những đêm diệu kỳ không tiếng nói khi chúng tôi lang thang vào sa mạc, nửa mê sảng nhìn trời sao - nhưng chưa ai từng có LSD[101] cả.

Boris dụi mũi. “À. Hừm. Mẹ bả quen một gã rất đáng sợ tên Jimmy làm ở hiệu súng. Hắn kiếm được cho bọn tau năm suất - tau không hiểu sao lại mua năm nữa, đáng ra nên mua sáu. Dù sao thì tau vẫn còn một ít đấy. Uầy, phê lòi.”

“Thế hả?” Giờ ghé nhìn kỹ hơn tôi nhận ra đồng tử nó đang nở lớn rất lạ. “Mày vẫn còn đang phê à?”

“Có thể còn tí chút. Tau chỉ ngủ đâu có hai tiếng. Mà dù sao bọn tau cũng làm hòa hẳn rồi. Cứ như là... ngay cả hoa trên ga trải giường của mẹ bả cũng đáng yêu ấy. Còn bọn tau cũng làm từ chất liệu giống như hoa, và bọn tau nhận ra mình yêu nhau biết bao, và dù có thế nào thì cũng cần nhau, và tất cả những thứ đáng ghét giữa tau với bả từ trước đến nay chỉ là vì yêu nhau quá thôi.”

“Uầy,” tôi nói, chắc là giọng nghe có vẻ buồn bã hơn tôi muốn, vì Boris nhíu mày nhìn tôi.

“Sao?” tôi hỏi khi thấy nó cứ nhìn hồi lâu. “Cái gì?”

Nó chớp mắt, lắc đầu. “Không, tau nhìn thấy hẳn hoi đấy. Một màn sương mù buồn bã, hay gì đấy, quây quanh đầu mi. Như kiểu mi là một người lính gì đấy, một người thuộc về lịch sử, đi trên chiến trường gì đấy, lòng cảm thấy rất nhiều thứ sâu sắc.

“Boris, mày vẫn còn điên đấy.”

“Không hẳn,” nó mơ màng nói. “Tau cứ nhập vào rồi trôi ra. Nhưng tau vẫn thấy tia lửa màu bắn ra từ đủ thứ nếu tau liếc mắt đúng cách.”

XIV

MỘT TUẦN TRÔI QUA mà không có biến gì, cả về phía bố tôi lẫn trên mặt trận Boris-Kotku, đủ để tôi thấy có thể mang cái vỏ gối về lại nhà. Khi lấy từ tủ đồ, tôi đã nhận ra nó cổng kềnh (và nặng) bất thường; tới lúc lên trên nhà lôi tranh ra khỏi vỏ gối, tôi mới nhận ra vì sao. Rõ ràng là tôi đã phát khùng khi quấn nó lại: hàng bao nhiêu lớp báo, dán nguyên một cuộn băng dính đóng đồ siêu dai, trong lúc tôi đang phê thuốc và hoảng loạn thì đấy có vẻ là một sự đề phòng khôn ngoan, nhưng giờ về lại phòng, trong ánh sáng buổi chiều tỉnh táo, lại trông như tác phẩm của một kẻ điên và/hoặc lang thang ngoài đường: đúng là một cái xác ướp, lắm băng dính đến nỗi còn không thể coi là vuông vắn nữa; cả các góc cũng tròn. Tôi lấy con dao sắc nhất tìm thấy trong bếp, cưa thử một góc - ban đầu rất thận trọng, vì sợ dao tuột rồi rạch vào bức tranh - nhưng rồi mạnh tay hơn. Nhưng mới chỉ được nửa chừng, một khúc chừng 8 cm, tay bắt đầu mỏi thì tôi nghe tiếng Xandra đi vào dưới nhà, bèn bỏ lại vào vỏ gối dán sau giường như cũ tới chừng nào biết họ sẽ vắng nhà lâu lâu.

Boris đã hứa với tôi sẽ cùng làm hai suất LSD còn lại ngay khi nào đầu óc nó bình thường trở lại, đấy là cách nó diễn đạt; nó vẫn còn hơi lú và nhìn thấy các hình dạng di chuyển trên mặt bàn giả vân gỗ ở trường, nó thổ lộ thế, và mấy lần hút cỏ kế đó nó đã lại trượt thẳng vào ảo giác.

“Nghe có vẻ dữ hả,” tôi nói.

“Không, chúa lắm. Tau có thể dừng lúc nào muốn. Tau nghĩ tốt nhất là bọn mình ra sân chơi,” nó nói thêm. “Vào đợt nghỉ Tạ ơn chẳng hạn.” Cái sân chơi bỏ hoang, chúng tôi đã dùng để chơi thuốc lắc mỗi lần, trừ lần đầu tiên bị Xandra tới đập cửa phòng nhờ chúng tôi xuống giúp sửa máy giặt, và tất nhiên chúng tôi không làm được, nhưng 45 phút đứng lớ ngớ bên cô ta trong phòng giặt mất toi giai đoạn ngon nhất đã là một nỗi thất vọng ê chề.

“Nó có nặng hơn kẹo nhiều lắm không?”

“Không... ờ, thì có, nhưng tuyệt lắm, tin tau đi. Tau cứ muốn rủ Kotku ra ngoài hứng gió chỉ có điều có quá nhiều thứ khi ở gần đường cao tốc, đèn, xe - cuối tuần này nhé?”

Vậy là có thứ để trông ngóng. Nhưng vừa khi bắt đầu vui vẻ và thậm chí thấy có hy vọng về đời trở lại - Kênh ESPN chưa bật lên suốt một tuần, phải coi là một thứ kỷ lục - tôi lại từ trường về nhà thì bắt gặp bố đang chờ.

“Bố cần nói chuyện với con, Theo ạ,” ông nói ngay khi tôi bước vào. “Con có rảnh một phút không?”

Tôi dừng bước. “À, vâng, được ạ.” Phòng khách trông không khác gì vừa bị trộm đột nhập - giấy má vung vãi khắp nơi, cả đệm xô pha trông cũng có vẻ xô lệch.

Ông thôi đi đi lại lại - tư thế có vẻ cứng nhắc, như là đầu gối bị đau. “Lại đây,” ông nói giọng hòa nhã. “Ngồi xuống nào.”

Tôi ngồi. Bố thở hắt, ngồi xuống đối diện tôi, luồn tay qua tóc.

“Ông luật sư,” ông nói, chúi người tới trước, tay đan vào nhau bỏ giữa đầu gối, mắt nhìn thẳng vào tôi.

Tôi đợi.

“Luật sư của mẹ con. Ừm... bố biết là như này hơi gấp, nhưng thực sự bố rất cần con gọi cho ông ta giúp bố.”

Trời gió; ngoài kia cát lạo xạo cọ vào cửa kính, mái chìa trên hàng hiên lật phật, như cờ bị quật. “Sao ạ?” tôi hỏi sau một quãng dừng thận trọng. Mẹ từng nói chuyện đi gặp luật sư sau khi bố bỏ đi - để làm thủ tục ly dị, tôi đoán vậy - nhưng kết quả thế nào thì tôi không biết.

“Ờ...” Bố hít thật mạnh, rồi nhìn trần nhà. “Chuyện thế này. Chắc là con đã thấy bố không cá cược bóng bảnh gì nữa, phải không? Ờ,” ông nói, “bố muốn thôi cá độ. Trong lúc còn đang thắng, thế đấy. Không phải là…- ông dừng lại, tỏ vẻ suy nghĩ - “ý bố là, thật đấy, bố đã trở nên khá giỏi mấy thứ này nhờ nghiên cứu cẩn thận và làm việc có kỷ luật. Bố tính toán. Bố không cược theo cảm tính. Và, ý bố là, bố vừa nói đấy, tình hình đang khá được. Bố đã bỏ ống được kha khá mấy tháng rồi. Chẳng qua là...”

“Ừm,” tôi ngần ngừ đáp khi thấy ông im lặng, không hiểu mục đích câu chuyện là gì.

“Ý bố là, sao lại đùa cợt số phận? Bởi vì...” tay đặt lên tim “bố đúng là một kẻ nghiện rượu. Bố sẵn sàng thừa nhận ngay tức thì. Bố hoàn toàn không được phép uống. Một cốc đã là quá nhiều, nghìn cốc cũng sẽ không đủ. Bỏ rượu là quyết định sáng suốt nhất trong đời bố. Và, bố muốn nói là, đánh bạc ấy, ngay cả với xu hướng nghiện ngập của bố, thì trước giờ vẫn hơi khác, tất nhiên bố cũng có vài lần bị kẹt nhưng chưa bảo giờ giống như mấy cái thằng mà, thế nào nhỉ, đã lún quá sâu đến mức biển thủ công quỹ hay phá tung cơ nghiệp gia đình. Nhưng mà...” ông cười to “nếu không muốn sớm muộn gì cũng cắt tóc, thì tốt hơn đừng lảng vảng gần hiệu làm đầu, phải không?”

“Tức là?” tôi thận trọng hỏi, sau một lúc đợi ông nói tiếp.

“Tức là... phù.” Bố lùa cả hai tay vào tóc; trông ông trẻ thơ, ngơ ngẩn, không tin nổi. “Vấn để là thế này. Giờ bố đang rất muốn có thể thay đổi mình thực sự. Bởi bố đã có cơ hội bước vào từ đầu trong vụ làm ăn lớn thế này. Bạn bố, mở nhà hàng mới. Và bố nghĩ là, thực sự đây sẽ là một việc tốt thực tình đối với tất cả nhà ta - một cơ hội đổi đời, thật thế. Con hiểu không? Xandra thì đang gặp khó khăn kinh khủng ở chỗ làm với một thằng sếp như cứt, và, bố cũng không biết, nhưng; bố nghĩ vụ này sẽ đàng hoàng hơn rất nhiều.”

Bố tôi? Chủ nhà hàng ư? “Uầy... quá tốt,” tôi nói. “Uầy.”

“Ừ." Bố gật đầu. “Tốt kinh khủng. Nhưng vấn đề là, để mở một cái như thế...”

“Nhà hàng kiểu gì?”

Bố ngáp và dụi đôi mắt đỏ vằn. “Ờ, con biết đấy, đồ ăn Mỹ thông thường thôi. Bít tết, hamburger, vân vân. Thật đơn giản và nấu thật ngon. Cái chính là, để bạn bố có thể mở cửa và trả được thuế nhà hàng... ”

“Thuế nhà hàng?”

“Ồ phải, Chúa ơi, con không tưởng tượng nổi ở đây có những thể loại thuế phí gì đâu. Phải trả thuế nhà hàng, thuế kinh doanh rượu, bảo hiểm tai nạn – cần một lượng tiền mặt lớn khổng lồ để dựng lên một thứ như thế.”

“À.” Tôi đã nhận ra câu chuyện dẫn tới đâu. “Nếu bố cần tiền tiết kiệm của con...”

Bố tôi có vẻ giật mình. “Gì?”

“Bố biết mà. Cái tài khoản tiết kiệm định mở cho con ấy. Nếu cần tiền, bố cứ lấy.”

“À ừ.” Bố tôi im lặng một lúc. “Cảm ơn. Bố thật sự rất biết ơn, cậu bé ạ. Nhưng thực tình…- bố đã đứng dậy và đang đi quanh phòng - “tình hình là, bố nghĩ ra một cách rất thông minh để tiếp cận vụ này. Là giải pháp tình thế thôi, để khởi động nhà hàng ấy mà, con hiểu chứ. Chúng ta sẽ gỡ lại chỉ trong vài tuần thôi - ý là, một chỗ như thế, với vị trí đó, không khác gì mở nhà máy in tiền vậy. Chỉ có khoản mở đầu là khó thôi. Cái thành phố này thật có những thể loại thuế má trên trời. Ý bố là... ” - ông cười vẻ ngượng nghịu - “con biết đấy, nếu không gấp đến vậy thì bố chẳng hỏi đâu...”

“Sao cơ?” tôi hỏi sau một giây khó hiểu.

“Thì, như vừa nói đấy, bố rất cần con gọi hộ bố một cú. Số đây.” Ông đã viết sẵn ra giấy cho tôi - đầu số 212 như tôi vừa nhận ra.

“Con cần gọi ông này, đích thân nói chuyện với ông ta. Tên ông ta là Bracegirdle.”

Tôi nhìn tờ giấy, lại nhìn ông. “Con không hiểu.”

“Con không phải hiểu. Con chỉ cần nhắc lại theo lời bố.”

“Thế thì liên quan gì đến con?”

“Này, cứ gọi đi. Chỉ cần nói con là ai, cần gặp ông ta một chút, công chuyện khẩn cấp, vân vân và vân vân…

“Nhưng mà...” Người này là ai? “Bố muốn con nói gì chứ?”

Bố tôi hít một hơi dài; ông đang rất cẩn trọng kiềm chế vẻ mặt mình, điều này thì ông làm khá giỏi.

“Đấy là luật sư,” ông nói khi thở ra. “Luật sư của mẹ con. Ông ta cẩn thu xếp để chuyển khoản tiền này...” mắt tôi muốn lồi ra khi nhìn thấy con số dưới ngón tay ông - 65-000 đô-la “vào tài khoản này” - ngón tay rê xuống dãy số ở dưới. “Cứ nói với ông ấy là bố quyết định cho con đi học trường tư. Ông ấy sẽ hỏi tên và số an sinh xã hội của con. Thế là đủ.”

“Trường tư à?” tôi hỏi sau một lúc lúng túng.

“Ừ, con hiểu đấy, để tính thuế ấy mà.”

“Con không muốn đi học trường tư.”

“Khoan - khoan đã - nghe bố nói nốt. Miễn là khoản tiền này được dùng vào lợi ích của con, theo nghĩa chính thức, thì không làm sao cả. Mà nhà hàng thì mang lại lợi ích cho tất cả, hiểu chưa? Có thể rốt cuộc lợi ích của con là nhiều nhất. Mà ý bố nói là, tự bố gọi cũng được, nhưng nếu chúng ta sắp xếp cho hợp lý thì sẽ tiết kiệm được phải đến 30.000 đô-la khỏi rơi vào tay chính phủ ấy chứ. Hừ, bố sẽ gửi con đi học trưởng tư thật nếu con muốn. Trường nội trú luôn. Với từng ấy tiền dôi ra con có muốn đi Andover cũng được. Bố chỉ không muốn nửa số ấy chui vào túi sở thuế, con hiểu không? Hơn nữa... ý bố là, nếu cứ để như thế, thì đến lúc con đến tuổi đi học đại học, nó sẽ làm con mất tiền là khác, vì có từng ấy tiền trong quỹ thì con sẽ không đủ điều kiện nhận học bổng. Mấy đứa phụ trách học bổng sẽ thấy ngay cái tài khoản đó, xếp con vào bậc thu nhập khác, vớ bẫm 75% ngay năm đầu. Như thế này thì, ít nhất, con cũng sử dụng được trọn vẹn, hiểu không? Ngay bây giờ. Khi nó còn có lợi ích thực tế.”

“Nhưng mà...”

“Nhưng mà... ” giọng léo nhéo, lưỡi thè ra, mắt lác xệch. “Thôi nào, Theo,” ông trở lại giọng bình thường, khi thấy tôi cứ nhìn. “Thề có Chúa, bố không có thời gian đâu. Bố muốn con gọi ngay lập tức, trước khi bên bờ Đông hết giờ làm việc. Nếu con phải ký cọt gì thì cứ bảo chuyển phát nhanh giấy tờ đến đây. Hoặc fax cũng được. Chỉ có ta phải làm xong vụ này càng sớm càng tốt, hiểu không?”

“Nhưng tại sao lại là con?

Bố tôi thở dài, đảo mắt. “Thôi đừng đùa với bố, Theo,” ông nói. “Bố biết con biết tình hình ra sao vì bố thấy con đi xem thư - ừ,” ông nói bất chấp tôi phản đối, “ừ đúng thế, ngày nào con cũng ra ngó cái hòm thư đó liên chi tùng tục.”

Tôi quá bối rối đến nỗi không biết đáp lại ra sao nữa. “Nhưng mà... ” Tôi lại ngó xuống tờ giấy và con số kia lại bật lên: 65.000 đô-la.

Bất đồ, bố tôi bùng nổ, tát đúng giữa mặt tôi, nhanh và mạnh tới mức trong một giây tôi còn không biết vừa có chuyện gì. Rồi, trước khi tôi kịp chớp mắt, ông lại đấm thêm một cú nữa, binh một cái như truyện tranh, sáng lòa như ánh flash máy ảnh. Đương khi tôi lảo đảo - đầu gối nhũn ra, xung quanh trắng bệch - ông túm lấy cổ họng tôi bằng một cú móc ngược rất gắt, nâng tôi đẩy lên trên khiến tôi hổn hển không thở nổi.

“Nghe đây.” Ông đang hét vào mặt tôi - mũi ông cách mũi tôi năm tấc - nhưng Popper đang nhảy cẫng sủa loạn xung quanh và tiếng ù ù trong tai tôi đã lên cao đến mức cứ như ông hét vào tôi qua tiếng lạo xạo radio. “Mày sẽ gọi cho thằng này” dứ dứ tờ giấy vào mặt tôi “và nói những gì tao bảo với mày. Đừng có làm tình hình trở nên xấu hơn cần thiết vì tao sẽ khiến mày phải làm, Theo ạ, tao thề, tao sẽ bẻ tay mày, tao sẽ đập cho nát nhừ người mày ra nếu mày không cầm lấy cái điện thoại kia ngay lập tức. Hiểu chưa? Hiểu chưa?” ông nhắc lại trong cảnh im lặng choáng váng ù tai. Hơi thở đầy mùi thuốc lá chua loét dội vào mặt tôi. Ông buông cổ tôi ra, đứng lùi lại. “Mày nghe tao nói không? Nói gì xem.”

Tôi chùi cánh tay qua mặt. Nước mắt chảy ròng ròng xuống má, nhưng đấy là thứ nước mắt tự động, như mở vòi, không kèm theo thứ cảm xúc nào hết.

Bố tôi nhắm tịt mắt lại, rồi lại mở ra, lắc đầu. “Nghe này,” ông nói, giọng linh hoạt, dù vẫn thở gấp. “Bố xin lỗi.” Giọng ông không có âm điệu xin lỗi, một góc tỉnh táo nào đó trong đầu tôi ghi nhận, mà nghe như vẫn còn muốn đập cho nát nhừ người tôi ra. “Nhưng mà, thề đấy, Theo ạ. Con cứ tin bố lần này thôi. Con phải giúp bố mới được.”

Mọi thứ đều đang mờ ảo, và tôi đưa cả hai tay lên chỉnh lại kính. Tôi thở to đến nỗi đấy là tiếng duy nhất nghe được trong phòng.

Bố tôi, tay chống hông, ngước mắt lên trần. “Ôi, thôi đi,” ông nói. “Dừng lại.”

Tôi không đáp. Chúng tôi đứng đó thêm vài giây thăm thẳm nữa. Popper đã thôi sủa, giờ đang chăm chú quan sát từ người này qua người kia như muốn đoán xem có chuyện gì.

“Chỉ là... con hiểu không?” Giờ thì ông đã lại nói năng gãy gọn. “Bố xin lỗi, Theo à, bố thề là bố xin lỗi, nhưng bố đang kẹt quá rồi, chúng ta cần khoản tiền này, ngay lập tức, ngay phút này, cần lắm.”

Ông đang cố nhìn vào mắt tôi: ánh mắt thẳng thắn, có lý lẽ. “Người này là ai?” tôi hỏi, không nhìn ông mà nhìn bức tường sau đầu ông, giọng tôi vì lý do gì thì thoát ra nghe cũng khô rốc, méo mó.

“Luật sư của mẹ con. Bố phải nói thêm bao nhiêu lần nữa?” Ông đang xoa xoa khớp tay cứ như đánh tôi đã bị đau. “Hiểu không, vấn đề là, Theo ạ… ” lại thở dài “bố muốn nói là, xin lỗi, nhưng bố thề, bố không tức giận đến thế đâu, nếu tình hình không nghiêm trọng cỡ này.

Vì lần này đúng là, thực tình, bố vô kế khả thi rồi. Đây chỉ là chuyện tức thời thôi, con hiểu không - chỉ cần tới khi bắt đầu hoạt động thôi. Vì tất cả vẫn có thể đổ sập, ngang nhiên... ” bật ngón tay “trừ khi bố làm cho vài trong số mấy của nợ ấy bù tiền được. Còn phần còn lại - bố thề sẽ dùng cho con đi học trường tốt hơn. Trường tư cũng được. Con sẽ thích mà, phải không?”

Được động viên bởi bài ca của bản thân, ông đã bắt đầu quay số rồi. Ông đưa máy cho tôi, và trước khi có ai kịp nhấc máy, ông đã chạy vọt đến nhấc máy thông ở đầu kia phòng.

“Xin chào,” tôi nói với người phụ nữ trả lời máy, “ừm, xin lỗi,” giọng tôi khò khè không vững, vẫn còn chưa trấn tĩnh nổi để thẩm thấu điều đang diễn ra. “Cho cháu nói chuyện với ông... ừm...”

Bố tôi xỉa tay chỉ tờ giấy: Bracegirdle.

“Ông, ừm, Bracegirdle,” tôi nói to.

“Vậy xin phép hỏi ai đang gọi tới ạ?” Cả giọng tôi và giọng bà ta đều quá lớn, vì bố tôi đang nghe từ máy phụ bên kia.

“Theodore Decker.”

“À, phải,” giọng người đàn ông trả lời khi cầm máy ở đầu kia. “Chào cháu, Theodore! Cháu thế nào rồi?”

“Cháu khỏe ạ.”

“Nghe giọng cháu như đang bị cảm lạnh vậy. Nói đi. Có phải cháu hơi bị cảm không?”

“Ờm, vâng,” tôi ấp úng nói. Bố tôi ở đầu kia đang mấp máy “Viêm thanh quản”.

“Tệ thật,” giọng nói âm vang ở đầu dây, lớn đến nỗi tôi phải kéo ống nghe ra xa một chút. “Tôi không bao giờ nghĩ người ta lại có thể bị cảm ở nơi nhiều ánh nắng như chỗ cháu. Dù sao thì tôi cũng rất mừng vì cháu gọi cho tôi - tôi không có cách nào liên lạc trực tiếp với cháu được. Tôi hiểu là tình hình chắc vẫn rất khó khăn. Nhưng tôi cũng hy vọng đã khá hơn so với lần cuối cùng tôi gặp cháu.”

Tôi im lặng. Mình đã gặp người này rồi ư?

“Lúc đó thật tệ,” ông Bracegirdle nói, rất tinh tường đoán được ý nghĩa sự im lặng của tôi.

Cái giọng trơn tru êm như nhung khiến tôi nhớ ra. “Đúng thế, ồ,” tôi đáp.

“Bão tuyết, nhớ chưa?”

“Vâng.” Ông ta xuất hiện đâu chừng một tuần sau khi mẹ mất: luống tuổi, đầu đầy tóc trắng phớ, ăn mặc không chê vào đâu được, sơ mi sọc, thắt nơ bướm. Ông ta và bà Barbour xem ra quen nhau, hoặc ít ra là ông có vẻ quen bà. Ông ngồi đối diện tôi trong cái ghế bành cạnh xô pha, nói rất nhiều, lung tung cả lên, mặc dù thứ duy nhất còn đọng lại trong đầu tôi là câu chuyện ông kể về sự tích gặp mẹ như thế nào: bão tuyết cùng trời, không một chiếc taxi, thì, một vệt tuyết ướt trào qua, một chiếc taxi có người lao bổ đến góc Phố 84 và Đại lộ Công viên. Cửa kính hạ xuống: mẹ (“một bóng hình duyên dáng tuyệt vời!”) đang đi đến Phố 57 Đông, ông có tình cờ đi về phía ấy không?

“Mẹ cháu kể mãi về cơn bão ấy,” tôi nói. Bố tôi - ống nghe áp vào tai - liếc xéo sang tôi. “Lần ấy cả thành phố bị tê liệt.”

Ông ta cười lớn. “Quả là một thiếu phụ đáng yêu! Tôi vừa xong một cuộc họp muộn - một bà già là bên hưởng lợi quỹ ủy thác ở đằng Đại lộ Công viên giao Phố 92, thừa kế xưởng đóng tàu, giờ thì chết rồi, lạy Chúa. Vậy đó, tôi vừa xuống, từ căn hộ thông tầng sát mái xuống đường, lôi theo cả cái vali bánh xe, tất nhiên - và tuyết đã rơi nửa cẳng chân. Xung quanh lặng phắc. Trẻ con kéo xe trượt trên Đại lộ Công viên. Dù sao thì tàu cũng không chạy quá Phố 72, còn tôi thì đứng đây, tuyết đến đầu gối, ì ạch bước, thì oàng! cái taxi vàng xuất hiện mang theo mẹ cháu! Đạp tuyết mà dừng. Cứ như cô ấy được đoàn cứu hộ cử đi tìm. ‘Nhảy vào đi, tôi cho bác đi nhờ.’ Khu trung tâm vắng vẻ tuyệt đối... tuyết ào ào trút xuống, đèn thắp sáng khắp thành phố. Còn chúng tôi trong xe, lăn bánh chừng ba cây số một giờ - cứ như trong xe trượt - đi phăm phăm qua đèn đỏ, dừng lại cũng chẳng làm gì. Tôi nhớ là chúng tôi đã nói về Fairfield Porter - vừa tới diễn ở New York - rồi qua tiếp Frank O’Hara và Lana Turner và năm nào họ đã đóng cửa cái Hom & Hardart cũ, cửa hàng ăn tự phục vụ ấy. Và rồi chúng tôi phát hiện ra nơi làm việc của hai bên ngay đối diện nhau bên đường! Đấy là khởi đầu của một tình bạn đẹp, như người ta vẫn nói.”

Tôi liếc qua bố. Trông mặt bố có vẻ rất kỳ cục, môi mím chặt cứ như sắp phun ra giữa thảm.

“Chúng ta có nói chuyện đôi chút về tài sản để lại của mẹ cháu, nếu cháu còn nhớ,” giọng nói ở đầu dây bên kia vẫn tiếp tục. “Không mấy. Không phải lúc. Nhưng tôi đã hy vọng cháu sẽ tới tìm tôi khi nào sẵn sàng nói chuyện. Đáng ra tôi đã gọi điện cho cháu trước khi cháu đi, nếu biết là cháu sẽ đi.”

Tôi nhìn sang bố, rồi nhìn tờ giấy trong tay. “Cháu muốn đi học trường tư,” tôi bật ra.

“Thật à?” ông Bracegirdle nói. “Tôi nghĩ đấy có lẽ là ý tưởng tuyệt vời đấy. Cháu dự định học ở đâu? Về lại bên Đông à? Hay là trường nào đó đằng ấy?”

Chúng tôi còn chưa nghĩ tới việc này. Tôi nhìn sang bố.

“Ờm,” tôi nói, “ờm,” trong lúc bố nhăn nhó mặt mày và vung tay loạn xạ.

“Bên bờ Tây cũng có thể có trường nội trú tốt, mặc dù tôi không biết nơi nào,” ông Bracegirdle thì vẫn nói tiếp. “Tôi đi học ở Milton, quả là một quãng thời gian tuyệt vời. Con trai cả của tôi cũng học ở đó, ít ra cũng được một năm, dù đấy không phải là nơi thích hợp cho nó...”

Trong lúc ông ta cứ nói tràng giang - từ Milton đến Kent, đến đủ thứ trường khác của con cái bạn bè người quen - thì bố tôi ngoáy mấy chữ ra giấy, rồi ném sang tôi. Gửi tiền cho cháu, trên giấy viết. Đặt cọc.

“Ừm,” tôi nói, không biết làm cách nào chuyển qua đề tài này, “mẹ cháu có để lại chút tiền nào không?”

“À, không hẳn thế,” ông Bracegirdle nói, có vẻ lạnh nhạt đi chút đỉnh khi nghe câu hỏi, hoặc có lẽ là do tôi ngắt lời quá vụng. “Về sau cô ấy cũng có rắc rối về tài chính, tôi nghĩ chắc là cháu cũng biết rõ. Nhưng cháu cũng có tài khoản 529[102]. Và cô ấy cũng lập một giấy UTMA[103] nhỏ dành cho cháu ngay trước khi chết.”

“Cái đó là gì ạ?” Bố tôi - mắt dán vào tôi - đang lắng nghe rất kỹ.

“Đạo luật đồng nhất về chuyển nhượng cho trẻ em. Tiền đó để dùng cho việc học của cháu. Nhưng không thể dùng vào việc gì khác - ít nhất thì chừng nào cháu chưa đến tuổi thành niên.”

“Tại sao lại không ạ?” tôi hỏi sau một quãng dừng ngắn, vì có cảm tưởng ông đã nhấn mạnh vào vế cuối cùng.

“Vì luật là thế,” ông đáp cụt ngủn. “Nhưng dĩ nhiên ta có thể thu xếp cách nào đó nếu cháu muốn đi học. Tôi có một khách hàng đã dùng một phần tiền 529 của con trai đầu để đưa con út vào một trường mẫu giáo sang trọng. Mặc dù tôi không nghĩ 20.000 đô-la một năm là một khoản chi khôn ngoan ở cỡ tuổi ấy - hẳn nhiên toàn Manhattan không có bút sáp nào đắt hơn! Nhưng, phải, để cháu hiểu rõ, thì là thế đấy.”

Tôi nhìn sang bố. “Vậy là không có cách nào bác có thể, chẳng hạn như, chuyển cho cháu 65.000 đô-la,” tôi nói. “Nếu cháu cần ngay lúc này.”

“Không! Tuyệt đối không thể. Nên cháu hãy quên chuyện đó đi.” Thái độ ông thay đổi hẳn - rõ ràng đã sửa lại đánh giá về tôi, không còn là con trai của mẹ tôi, một Cậu Bé Ngoan, mà là một thằng lỏi tham lam. “Tiện đây, cho tôi hỏi sao cháu lại nêu ra con số cụ thể đó?

“Ờm...” Tôi nhìn qua bố, lúc này đang đưa tay bưng mắt. Chết tiệt, tôi nghĩ, rồi nhận ra mình đã thốt thành tiếng.

“Ừ, sao cũng được,” ông Bracegirdle nói ngọt xớt. “Đơn giản là không có cách nào cả.”

“Không cách nào?”

“Tuyệt đối không cách nào.”

“Ờm, được thôi... ” Tôi cố bóp óc, nhưng đầu tôi đang chạy cả hai đằng một lúc. “Thế bác có thể gửi cho cháu một phần được chứ? Một nửa chẳng hạn?”

“Không. Sẽ phải làm việc trực tiếp với nhà trường mà cháu chọn. Nói cách khác là bác sẽ phải được thấy hóa đơn, và thanh toán hóa đơn đó. Ngoài ra còn rất nhiều giấy tờ thủ tục nữa. Và trong trường hợp ít có khả năng là nếu cháu không muốn lên đại học... ”

Trong lúc ông ta tiếp tục giải thích dài dòng về những ngóc ngách khuất nẻo của những quỹ mẹ đã lập cho tôi (tất cả đều khá chặt, khó có thể cho bố hoặc tôi cầm nắm trực tiếp vào tiền thật, tiền mặt đem tiêu được) thì bố tôi, cầm ống nghe tránh xa tai, mang một vẻ mặt có thể gọi là kinh hoảng.

“À, ờ, rất cảm ơn đã cho cháu biết mấy điều đó, cảm ơn bác,” tôi nói, tìm cách kết thúc câu chuyện.

“Tất nhiên sẽ có lợi về mặt thuế. Với những quỹ theo cách này. Nhưng điều mẹ cháu thực sự muốn là để bố cháu không bao giờ động tới được số tiền ấy.”

“À?” tôi ngập ngừng đáp, trong khoảng im lặng dài thăm thẳm sau đó. Giọng ông có gì đó khiến tôi ngờ rằng ông biết, bố tôi có thể đang là chúa tể bóng tối đứng phì phò (trong tai tôi - không biết ông có nghe thấy không) ngay bên đầu máy kia.

“Còn có cả những vấn đề khác nữa. Ý tôi là... ” im lặng lịch sự “tôi không biết có nên cho cháu biết không, nhưng có một bên không có quyền đã hai lần tìm cách rút một số tiền lớn từ tài khoản này.”

“Hả?” tôi hỏi sau một quãng dừng khó chịu.

“Cháu biết đấy” ông Bracegirdle tiếp, giọng xa vắng như cất lên từ đáy biển, “tôi là người được chỉ định giám hộ tài khoản này. Và chừng hai tháng sau khi mẹ cháu qua đời, có ai đó đã vào nhà băng ở Manhattan trong giờ làm việc, tìm cách giả chữ ký của tôi rút tiền. Ừm, ở trụ sở chính người ta quen tôi, nên đã gọi cho tôi ngay lập tức, nhưng trong lúc còn đang gọi điện thoại thì kẻ kia đã chuồn ra cửa, trước khi bảo vệ kịp giữ lại kiểm tra nhân thân. Lần đó, lạy Chúa, đã gần hai năm rồi. Nhưng rồi, mới tuần trước thôi - cháu có nhận được thư tôi viết cho cháu không?”

“Không ạ,” tôi nói, khi cuối cùng cũng nhận ra mình phải trả lời.

“Ừ, không cần cụ thể quá, nhưng có một cú điện thoại rất kỳ dị. Do ai đó tự xưng là người đại diện của cháu ở đó, đòi phải chuyển tiền. Và rồi, khi khảo sát, chúng tôi phát hiện ra ai đó biết số an sinh xã hội của cháu đã yêu cầu và được chấp thuận mở một tài khoản nợ khá lớn mang tên cháu. Cháu có biết gì về chuyện đó không?

“À, không phải lo nữa,” ông nói tiếp khi thấy tôi không đáp. “Tôi có bản sao giấy khai sinh của cháu ở đây, nên đã fax cho ngân hàng cho vay và đã hủy tài khoản ấy ngay rồi. Đồng thời tôi cũng thông báo cho Equifax và mọi trung tâm tín dụng khác. Dù còn vị thành niên và về mặt luật pháp, không được phép giao dịch những việc kiểu ấy, cháu vẫn có thể phải chịu trách nhiệm về những khoản nợ như vậy thực hiện dưới tên cháu khi nào đến tuổi. Dù sao đi nữa thì tôi cũng khuyên cháu hãy thật cẩn thận bảo mật thông tin an sinh xã hội trong tương lai. Cháu có thể đăng ký lấy một số an sinh mới, trên lý thuyết, mặc dù thủ tục thì lằng nhằng lắm nên tôi cũng không khuyên làm vậy.

Tôi vã mồ hôi như tắm khi dập máy - và hoàn toàn không lường trước tiếng rú mà bố tôi buột ra. Tôi tưởng ông đang tức giận - tức tôi - nhưng khi thấy ông đứng nguyên đó, vẫn cầm điện thoại trong tay, tôi nhìn kỹ hơn và nhận ra ông đang khóc.

Thật kinh hoàng. Tôi không biết phải làm sao. Ông rú lên như thể bị dội nước sôi vào đầu - như đang sắp biến thành ma sói - như đang bị tra tấn. Tôi cứ để ông như thế, và - có Popchik hối hả chạy đằng trước lên cầu thang; hẳn nhiên nó cùng không muốn ở gần vụ rú rít này - đi lên phòng mình, đóng cửa lại, ngồi trên giường gục đầu vào tay, thèm aspirin nhưng không muốn phải đi xuống phòng tắm lấy, và cầu mong Xandra hay nhanh nhanh về nha đi. Tiếng thét dưới cầu thang nghe thật ma quỷ, như thể ông đang bị súng phun lửa dí vào người, rồi bật iPod, cố tìm thứ nhạc nhẽo ồn ào nào đó không khó chịu (bản số Bốn của Shostakovich, dù là nhạc cổ điển nhưng thực tình cũng hơi khó ưa), nằm lên giường nhét tai nghe và nhìn chăm chăm lân trần nhà, trong khi Popper đứng, tai dỏng lên, nhìn ra cánh cửa đóng chặt, lông trên cổ xù lên dựng đứng.

XV

“ỔNG BẢO MI CÓ CẢ một gia tài,” Boris nói đêm đó ở sân chơi, trong lúc chúng tôi đang ngồi chờ món thuốc phát huy tác dụng. Tôi có phần ước giá mà lùi xuống một đêm khác, nhưng Boris khăng khăng nó sẽ giúp tôi cảm thấy dễ chịu hơn.

“Mày nghĩ tao có cả một gia tài mà lại không kể cho mày nghe à?” Chúng tôi ngồi trên xích đu phải đến cả thế kỷ rồi, tôi cũng chẳng biết đang chờ cái gì nữa.

Boris nhún vai. “Tau không biết. Có cả mớ chuyện mi không kể cho tau. Tau thì sẽ kể cho mi. Nhưng không sao.”

“Tao không biết phải làm gì nữa.” Tôi đã bắt đầu nhận thấy, dù rất khó nhận ra, những hình dáng vạn hoa xám lấp lánh đang trở mình nằng nặng trong lớp đá dăm dưới chân: băng bẩn, kim cương, ánh lấp lánh thủy tinh vỡ. “Mọi thứ càng ngày càng kinh sợ.”

Boris huých tôi. “Tau cũng có điều không kể cho mi, Potter à.”

“Điều gì?”

“Ông già tau phải đi. Do công việc. Mấy tháng nữa ổng sẽ về lại Úc. Rồi thì tau nghĩ là đi Nga.”

Im lặng, có lẽ chừng năm giây, nhưng cảm giác phải đến cả giờ. Boris? Ra đi ư? Dường như mọi thứ đã đóng băng, dường như trái đất đã ngừng quay.

“Ờ, tau thì không đi đâu,” Boris điềm nhiên nói. Khuôn mặt nó dưới ánh trăng bắt đầu rung rinh như điện rất rợn người, như một cuốn phim câm đen trắng. “Kệ mẹ nó. Tau sẽ bỏ nhà đi.”

“Đi đâu?”

“Không biết. Mi đi cùng không?”

“Có,” tôi đáp mà không nghĩ, rồi tiếp: “Kotku có đi không?”

Nó nhăn mặt. “Tau không biết.” Khung cảnh phim đã chuyển thành sân khấu, trần trụi đến nỗi cảm tưởng về đời thực đã mất biến; chúng tôi đã bị trung tính hóa, hư cấu hóa, vuốt bẹt xuống; trường nhìn của tôi đóng khung giữa một hình chữ nhật đen; tôi nhìn thấy dưới cùng có chạy cả phụ đề những câu nó vừa nói. Rồi gần như ngay lúc đó, người tôi hẫng xuống. Trời ơi, tôi nghĩ và luồn cả hai tay vào tóc, những cảm xúc trong lòng quá mức choáng ngợp không thốt nên lời nào được.

Boris vẫn nói, và tôi nhận ra nếu không muốn biến mất vĩnh viễn trong cái thế giới phim kinh dị lạo xạo này giữa những bóng đen rất nét và các sắc độ xám, thì điều tối cần thiết là bám lấy lời nó nói mà không bị đánh lạc hướng bởi bề mặt nhân tạo của mọi vật.

“... tau nghĩ là mình hiểu được thôi,” nó vẫn rầu rĩ nói trong khi những đốm xám và những giọt phân hủy đang vờn đuổi nhau quanh người nó. “Bả còn chả phải bỏ nhà đi nữa, vì bả thành niên rồi mà, hiểu không? Nhưng bả từng sống ngoài đường rồi, và bả không thích.”

“Kotku từng sống ngoài đường à?” Tôi bất chợt thương cảm cô ta dễ sợ - một đợt trào dâng tình cảm gần như theo chỉ đạo, như thể kèm theo một khúc nhạc phim trỗi lên, dù bản thân nỗi buồn thì rất thật.

“Ờ, tau cũng thế, ở U. Nhưng tau có bạn bè, Maks và Seryozha - chẳng bao giờ quá vài ngày. Thỉnh thoảng cũng sướng lắm. Bọn tau ở ké dưới hầm các nhà bỏ hoang - uống rượu, chơi butorphanol, đốt lửa trại đủ trò. Nhưng ông già tỉnh rượu là tau lại về. Kotku thì khác. Cái lão bạn trai của mẹ bả, lão giở trò với bả. Thế là bả đi. Ngủ ở ngưỡng cửa nhà người ta. Xin tiền lẻ - thổi kèn bọn đàn ông ngoài đường lấy tiền. Bỏ học mất một thời gian - bả thật là can đảm mới quay lại, ráng học nốt, sau mấy chuyện đó. Bởi, mi biết đấy, người ta nói này nói nọ. Mi biết mà.”

Chúng tôi lặng im, ngẫm nghĩ về tất cả những chuyên kinh khủng đó, tôi cảm giác như chỉ sau vài lời ấy mình đã trải qua toàn bộ sức nặng và kích cỡ cuộc đời Kotku, và cả Boris.

“Tao rất tiếc từng không thích Kotku!” tôi nói chân thành thực sự.

“Ừ, tau cũng rất tiếc,” Boris bình thản đáp. Giọng nó dường như xuyên thẳng vào não tôi không cần qua tai. “Nhưng bả cũng chẳng ưa mi đâu. Nghĩ mi được chiều quá sinh hư. Nghĩ mi chưa bao giờ qua mấy chuyện như tau với bả.”

Lời chê ấy nghe chừng chính đáng. “Nghe cũng đáng,” tôi nói.

Dường như có một quãng thời gian ở lưng chừng, vừa nặng nề vừa nhấp nháy đi qua: những cái bóng run rẩy, tiếng nhiễu, tiếng xoèn xoẹt của máy chiếu giấu ở đâu đó. Giơ tay ra nhìn vào nó, tôi thấy bàn tay lấm tấm bụi và sáng rực như một miếng phim đang hỏng.

“Uầy, tau cũng thấy rồi này,” Boris nói và quay sang tôi - một động tác quay tay rất chậm, mười bốn hình một giây. Mặt nó trắng bệch như sáp, đồng tử đen xì nở lớn.

“Thấy...?” tôi thận trọng hỏi.

“Mi biết mà.” Nó vung vẩy bàn tay đen trắng ngập ánh đèn pha. “Thấy tất cả đểu phẳng ra, như một bộ phim.”

“Nhưng mày...” Hóa ra không phải chỉ tôi? Nó cũng thấy?

“Tất nhiên,” Boris nói, mỗi giây càng bớt giống người thật mà thêm giống một tấm phim nitrat bạc đã hỏng nào đấy từ thời thập niên 1920, ánh sáng chiếu đằng sau nó, từ một nguồn không nhìn thấy. “Nhưng giá có cái gì đó có màu vẫn hơn. ‘Mary Poppins’ chẳng hạn.”

Đến câu đó thì tôi bắt đầu phá lên cười không nhịn được, cười dữ đến mức suýt rơi khỏi xích đu, vì tới lúc đó tôi biết chắc rằng nó cũng thấy thứ tôi nhìn thấy. Không chỉ có thế: chúng tôi đang tạo ra cái đó. Dù liều thuốc có khiến chúng tôi thấy gì, thì cũng chính là chúng tôi đang dựng lên cùng nhau. Và khi cả hai nhận ra điều đó, cỗ máy mô phỏng thực tế ảo lập tức chuyển sang chế độ màu. Cả hai chúng tôi đều chuyển cùng một lúc: bụp! Chúng tôi nhìn nhau, càng cười rộ: cái gì cũng buồn cười kinh khủng khiếp, cả cái cầu trượt trên sân chơi cũng mỉm cười nhìn chúng tôi, và đến một lúc nào đó, khi đã khuya lắc, cả hai đang tung người trên cái nhà leo trèo và miệng phát ra từng chùm tia lửa, tôi chợt đốn ngộ, rằng tiếng cười là ánh sáng, ánh sáng là tiếng cười, và chính đó là bí mật của vũ trụ. Hàng giờ liền, chúng tôi ngắm mây sắp xếp trên trời thành những hình thù có trí tuệ, lăn tròn trong đất mà tin là lăn trong tảo biển (!), nằm ngửa hát Dear Prudence cho những vì sao hào hứng tán thưởng trên cao. Thật là một đêm tuyệt diệu - một trong những đốm tuyệt nhất đời tôi, thật thế, bất chấp việc xảy ra sau đó.

XVI

BORIS NGỦ LẠI NHÀ TÔI, nhà gần sân chơi, còn nó thì đã (từ nó ưa dùng nhất để chỉ tình trạng ngấm thuốc) v gavno, nghĩa là “đần mặt” hay “não cứt” hay cái gì đó từa tựa thế, tóm lại là quá xìu không thể tự mình lê về nhà trong đêm được. Và đấy hóa ra lại là may mắn, vì nhờ thế mà tôi không một mình ở nhà lúc ba giờ rưỡi chiều hôm sau, khi Silver ghé lại.

Dù hầu như không ngủ được và còn hơi lẩy bẩy, nhưng mọi thứ hình như vẫn còn chút màu nhiệm và tràn đầy ánh sáng. Chúng tôi đang uống nước cam, xem phim hoạt hình (ý rất hay, vì kéo dài thêm tâm trạng phim màu cười no ruột từ tối hôm trước), và - ý rất không hay - vừa chia nhau điếu cần thứ hai trong buổi chiều, thì chuông cửa reo. Popchyk đang cực kỳ nóng nảy, nó cảm nhận được chúng tôi bất thường kiểu gì đó và nãy giờ đã sủa ầm ĩ như sủa ma - lập tức gào ông ổng, gần như nó đoán được sắp có chuyện ấy xảy ra.

Trong một giây, tất cả đổ ập về đầu tôi. “Mẹ kiếp,” tôi nói.

“Để tau ra,” Boris đáp lập tức và cắp Popchyk vào nách. Nó bật đi, không áo, không giày, vẻ hoàn toàn dửng dưng. Nhưng chưa đến một giây nó đã trở vào, mặt tái dại.

Nó không nói gì, cũng không cần phải nói gì. Tôi đứng lên, đi giày vào, thắt dây thật chặt (gần đây tôi đã có thói quen làm thế trước mỗi chuyến thăm thú siêu thị, đề phòng phải bỏ chạy sau khi lấy đồ), đi ra cửa. “Bác Silver” đã lại đứng đó - áo vét dày màu trắng, tóc màu xi đánh giày, vẫn nguyên như trước - chỉ có điều lần này đứng bên cạnh là một gã to con, hình xăm màu xanh lam đã phai chạy ngoằn ngoèo khắp hai cánh tay, cầm một cây gậy bóng chày nhôm.

“A, Theodore!” Silver nói. Nghe giọng có vẻ thật tình vui lòng lại gặp tôi. “ Tcháu dạo này thế nào?”

“Tốt ạ,” tôi đáp và kinh ngạc thấy mình tỉnh ra lập tức. “Bác thế nào?”

“Không thể tốt hơn. Tcháu có vết bầm ghê quá, cậu bé ạ.”

Theo phản xạ, tôi đưa tay lên sờ má. “Vâng... ”

“Nên để ý kỹ hơn. Bạn tcháu bảo là bố tcháu không có nhà.”

“Ừm, không có.”

“Hai người vẫn ổn chứ? Có gặp rắc rối gì ở đây tchiều nay không?”

“Ừm, không, không có gì,” tôi đáp. Kẻ kia không vung vẩy gậy, cũng không làm gì tỏ ý hăm dọa, nhưng tôi vẫn không thể không để ý rất rõ rằng gã đang cầm nó.

“Vì nếu có tchuyện ấy xảy ra?” Silver tiếp. “Có bất kỳ rắc rối thuộc bất kỳ loại nào? Bác có thể hô biến cho tcháu trong nháy mắt.”

Hắn đang nói cái gì vậy? Tôi nhìn ra đằng sau hắn, trên đường phố, về phía xe. Dù cửa xe bằng kính đen nhưng tôi vẫn thấy mấy kẻ khác đang ngồi đợi.

Silver thở dài. “Bác rất mừng là tcháu không gặp rắc rối gì, Theodore ạ. Bác ước gì mình cũng được như thế.”

“Xin lỗi ạ?”

“Vì có một việc thế này,” hắn tiếp, như thể không nghe thấy tôi nói. “Bác thì có rắc rối đấy. Rắc rối cực lớn nữa cơ. Với bố của tcháu

Không biết đáp sao, tôi nhìn đôi ủng cao bồi. Ủng bằng da cá sấu đen, gót độn, mũi rất nhọn và đánh bóng loáng đến nỗi khiến tôi nhớ đến thứ ủng cao bồi cho phái nữ yểu điệu mà Lucie Lobo, một cô chuyên gia trang điểm lập dị trong công ty mẹ đi quanh năm.

Tcháu hiểu không, vấn đề là thế này,” Silver tiếp. “Bác đang cầm năm xịch giấy của bố tcháu. Và đấy là một rắc rối khá nghiêm trọng với bác.”

“Bố cháu đang đi thu xếp tiền,” tôi lúng búng nói. “Chắc là, cháu không biết, nếu bác đợi thêm một chút nữa thôi...”

Silver nhìn tôi. Hắn chỉnh lại kính.

“Này nhé,” hắn nói giọng hiểu biết. “Bố tcháu muốn đưa đầu ra cược vào tchuyện mấy thằng não lợn vần quả bóng - xin lỗi, ăn nói hơi thô tí. Nhưng bác rất khó thông cảm với một người như vậy. Không tôn trọng thỏa thuận, muộn hoa hồng ba tuần, gọi điện thoại không nghe...- hắn đang đếm các tội lỗi của bố tôi trên ngón tay - “đã hẹn gặp bác lúc trưa hôm nay và rồi không thấy mặt đâu. Tcháu có biết bác đã ngồi đợi cái thằng già vô dụng ấy bao lâu không? Một tiếng rưỡi đồng hồ. Cứ như thể bác không có việc gì khác hay ho hơn cần làm.” Hắn ngoẹo đầu. “ Tchính những kẻ như bố tcháu mới khiến những người như bác và Yurko đây có việc mần ăn đấy. Tcháu nghĩ bác thích đến nhà tcháu lắm hả? Đi xe ròng rã đến tận đây?”

Tôi đã ngỡ đấy chỉ là một câu hỏi tu từ - hẳn nhiên không ai đầu óc bình thường mà lại muốn lái xe đến tận chỗ ngoài rìa như nhà tôi cả - nhưng vì thời gian cứ đằng đẵng trôi qua mà hắn vẫn chĩa mắt vào tôi như thực sự cần nghe câu trả lời, cuối cùng tôi cũng chớp mắt bất an và đáp, “ Không ạ”

“Không. Đúng rồi đấy Theodore. Đúng là bác không muốn tchút nào. Bác còn lắm việc phải làm, cả Yurko nữa, cứ tin lời bác, tchứ không thể mất cả tchiều rượt theo thằng già vô dụng như bố tcháu được. Vậy nên phiền tcháu một việc nhé, tchuyển lời cho bố tcháu rằng tchúng ta có thể dàn xếp tchuyện này như những người quân tử, miễn là ông ấy tchịu ngồi xuống dứt điểm với bác.”

“Dứt điểm?”

“Ông ấy phải mang đến những gì còn nợ bác.” Hắn đang cười, nhưng ánh xám ở nửa trên cặp kính khiến hai con mắt có vẻ như đội mũ sùm sụp. “Và bác muốn nhờ tcháu giúp bác tchuyển lời đến ông ấy, Theodore ạ. Bởi lần sau bác còn phải tới đây nữa, thì cứ tin đi, bác sẽ không nhẹ nhàng đến thế này đâu.”

XVII

KHI TÔI QUAY TRỞ VÀO phòng khách, Boris đang ngồi lặng lẽ, nhìn phim hoạt hình tắt tiếng trên tivi và ve vuốt Popper - con chó mới đây còn nhặng xị lên thì bây giờ đã ngủ khò trong lòng nó.

“Ngớ ngẩn,” nó nói độp.

Nó phát âm từ đó kiểu gì khiến một khắc sau tôi mới nhận ra ý nó muốn nói gì. “ừ,” tôi đáp, “tao đã bảo mày là thằng cha rợn lắm mà.”

Boris lắc đầu, lại thả mình dựa vào ghế. “Tau không nói cái lão già mặt Leonard Cohen đội tóc giả.”

“Mày nghĩ đấy là tóc giả à?”

Nó nhăn mặt, ra bộ: ai thèm biết. “Cả lão cũng ngớ, nhưng tau nói cái thằng Nga lớn cầm đồ bằng kim loại, mi gọi là cái chi ấy nhỉ?”

"Gậy bóng chày.”

“Cái đó chỉ để khoe mẽ thôi,” nó nói giọng miệt thị. “Chỉ định hù mi sợ thôi, cha nội đó.”

“Làm sao mày biết là Nga?”

Nó nhún vai. “Tau biết vậy thôi. Ở Mỹ làm đếch gì có ai xăm trổ kiểu đó. Dân Nga đứt đuôi. Hắn cũng thấy tau mở miệng là cũng biết dân Nga liền.”

Một chốc sau tôi mới nhận ra mình vẫn đang ngồi đờ một chỗ, mắt nhìn trần vào khoảng không. Boris đỡ Popchyk lên đặt xuống xô pha, nhẹ nhàng không làm nó tỉnh giấc. “Mi muốn ra ngoài một lúc không?”

“Trời,” tôi nói và thình lình lắc đầu - không hiểu vì cớ gì ý nghĩa của chuyến viếng thăm vừa rồi giờ mới đột ngột ập lên tôi, như một phản ứng muộn - “mẹ kiếp, tao ước gì bố tao có ở nhà lúc nãy. Mày hiểu không? Tao ước gì thằng cha kia đã đập cho ổng một trận. Thật đấy. Ổng đáng phải bị thế.”

Boris đá vào mắt cá tôi. Chân nó dính đất đen xì, cả móng chân cũng sơn đen, tác phẩm của Kotku.

“Mi biết tối qua tau ăn gì không?” nó hòa nhã hỏi. “Hai thanh Nestlé và một lon Pepsi.” Mọi loại kẹo Boris đều coi là “thanh Nestlé”, cũng như mọi loại nước ngọt đều là “Pepsi” đối với nó. “Và mi biết hôm nay tau ăn gì không?” Nó giơ ngón tay cái và trỏ làm một vòng tròn. “Zero.”

“Tao cũng vậy. Dùng món này làm mình không thấy đói.”

“Ờ, nhưng tau cần ăn cái gì đó. Bao tử tau…- nó nhăn nhó.

“Mày muốn đi kiếm bánh xèo không?”

“Ờ - gì cũng được - giống nhau cả. Mi có tiền không?”

“Để tao ngó xem.”

“Tốt. Tau thì có nhõn 5 đô.”

Trong lúc Boris đang lục tìm giày và áo, tôi vã ít nước lên mặt, soi gương xem xét đồng tử mắt và vết bầm trên hàm, cài lại khuy áo khi nhận ra đang cài lệch, rồi đi mở cửa thả Popchyk ra ngoài, quăng bóng tennis cho nó chơi đùa một lúc vì gần đây nó không được dắt đi chơi đàng hoàng và tôi biết nó đang thấy cuồng cẳng. Khi chúng tôi quay lại, Boris đã ăn mặc tử tế và xuống nhà; chúng tôi soát nhanh một vòng phòng khách, cười đùa giỡn nghịch một hồi, gom góp mớ xu lẻ rồi nghĩ xem nên đi đâu và đường nào nhanh nhất thì thình lình nhận ra Xandra vừa vào đằng cửa trước, đang đứng giữa cửa với vẻ mặt hết sức khó tả.

Cả hai đứa lập tức ngưng bặt, tiếp tục đếm tiền trong lặng im. Đấy không phải giờ Xandra về nhà theo thông lệ, nhưng lịch của cô ta rất trái khoáy và đã mấy lần bắt quả tang chúng tôi rồi. Nhưng sau đó, bằng giọng lưỡng lự không rõ, cô ta gọi tên tôi.

Chúng tôi bỏ đống tiền lẻ xuống. Bình thường Xandra vẫn gọi tôi là bé con hay ê hay đủ thứ khác, nhưng không bao giờ là Theo. Tôi để ý thấy cô ta vẫn còn mặc đồng phục chỗ làm.

“Bố cháu vừa bị tai nạn xe,” cô ta nói. Gần như thể nói với Boris chứ không phải với tôi.

“Ở đâu?” tôi hỏi.

“Hai tiếng trước. Bệnh viện gọi cho tôi ở chỗ làm.”

Boris và tôi nhìn nhau. “Uầy,” tôi đáp. “Thế sao rồi? Cái xe tiêu tùng rồi hả?”

“Lượng cồn trong máu ông ấy là 0,39%.”

Con số này chẳng tạo ấn tượng gì với tôi, mặc dù chuyện ông đã uống rượu lại thì có. “Uầy,” tôi đáp, bỏ chỗ tiền lẻ vào túi, rồi tiếp: “Vậy bao giờ bố cháu được về?”

Cô ta nhìn tôi, không hiểu. “Về?”

“Ở bệnh viện về ấy ”

Cô ta lắc đầu quẩy quậy, nhìn quanh tìm ghế rồi ngồi xuống. “Cháu không hiểu à?” Mặt cô ta trơ ra, rất lạ. “Ông ấy chết rồi. Bố cháu đã chết.”

XVIII

SÁU BẢY TIẾNG ĐỒNG HỒ tiếp đó như trôi đi trong màn sương. Bạn bè Xandra có vài người ghé đến: Courtney, bạn thân của cô ta, cô đồng nghiệp Janet, một cặp vợ chồng Stewart và Lisa có vẻ đàng hoàng hơn, bình thường hơn gấp bội so với đám vẫn thăm viếng Xandra khi thường. Boris rất hào hiệp xuất ra số cỏ còn thừa từ phần Kotku cung cấp, được sự tán thưởng của mọi bên có mặt, và ai đó, may thay (nhiều phần chắc là Courtney) đã gọi pizza - làm thế nào cô ta khiến được Domino chuyển phát đến tận đây vẫn còn là một bí ẩn với tôi, vì suốt một năm Boris và tôi đã năn nỉ, vòi vĩnh, thử đủ kiểu mè nheo và sáng tác đủ thứ lý do lý trấu mà không được.

Trong lúc Janet ngồi, vòng tay ôm lấy Xandra, Lisa vuốt ve đầu cô ta, còn Stewart pha cà phê trong bếp, Courtney vấn một bi trên bàn cà phê với độ lanh lẹn chuyên nghiệp gần bằng Kotku, thì tôi và Boris lảng vảng ở bên rìa, choáng váng. Khó mà tin được rằng bố tôi đã chết, trong khi thuốc lá của ông còn để trên mặt bếp, đôi giày thể thao cũ màu trắng còn ở cửa sau. Theo lời kể thì - các thông tin đến rất lộn xộn, tôi phải chắp nhặt lại trong đầu - bố đã gặp nạn trên đường quốc lộ, khoảng gần hai giờ chiều, khi điều khiển con Lexus lấn sang làn ngược chiều đâm thẳng vào một chiếc xe 18 bánh khiến ông chết ngay lập tức (người tài xế xe kia thì không, may thay, và cả những hành khách trong cái xe con đã cắm đầu vào đuôi xe ấy, dù người lái chiếc xe này bị gãy một chân). Thông tin về lượng cồn trong máu ông vừa đáng ngạc nhiên vừa chẳng có gì lạ - tôi đã ngờ có thể bố đã uống rượu lại, dù không tận mắt chứng kiến - nhưng điều có vẻ làm Xandra ngỡ ngàng nhất lại không phải là mức độ say xỉn của ông (ông đã ngồi vào sau tay lái không còn biết trời trăng gì cả) mà là vị trí xảy ra tai nạn - đã ra ngoài Vegas, trên con đường dẫn về phía tây vào sâu trong sa mạc. “Hẳn anh ấy sẽ bảo tôi chứ, hẳn anh ấy sẽ bảo tôi chứ,” cô ta đang não nùng đáp lại một câu hỏi gì đó từ Courtney, nhưng tại sao, tôi ngơ ngẩn nghĩ khi ngồi trên sàn tay bưng mắt, tại sao cô ta lại nghĩ bố tôi là loại người sẽ nói thật bất kỳ điều gì?

Boris vòng tay qua vai tôi. “Bả không biết, phải không?”

Tôi biết ý nó nói đến Silver. “Tao có nên...”

“Anh ấy đi đâu chứ?” Xandra đang hỏi Courtney và Janet, gần như sấn sổ, như chính họ mới đang giấu giếm điều gì với cô ta. “Anh ấy đi đâu mà lại ra tít tận đó?” Cô vẫn trong đồng phục quán bar trông thật lạ mắt, bởi thường thì cô ta sẽ thay đồ ngay sau khi bước vào nhà.

“Ổng không đi gặp lão kia, như đã hẹn,” Boris thì thầm.

“Tao biết rồi.” Cũng có thể ông đã thực tình định đến gặp Silver, dứt điểm với hắn. Nhưng như mẹ đã quá nhiều lần, và quá cay đắng học được về ông - hẳn là ông đã ghé lại quán nào trên đường để làm một hai quắn ổn định thần kinh như ông vẫn nói. Tới lúc đó - ai mà biết những ý nghĩ nào đã chạy qua đầu ông? Chẳng phải là điều có ích nên nói cho Xandra trong tình thế ấy, nhưng trong lịch sử ông đã có thói quen hô biến để chạy khỏi nghĩa vụ rồi.

Tôi không khóc. Dù nỗi sửng sốt và kinh hoàng như những đợt sóng không ngớt ập lên tôi, nhưng tất cả đều có vẻ quá phi thực, và tôi vẫn liên tục liếc nhìn quanh tìm ông, liên tiếp giật mình khi nhận thấy không có giọng ông trong dàn đồng ca xung quanh, cái giọng nói lý trơn truội như trong quảng cáo aspirin (bốn trong số năm bác sĩ khuyên dùng...) lúc nào cũng nổi trội lên trên hết các giọng khác trong phòng. Xandra khi thì khá bình tĩnh - lau mắt, kiếm đĩa đựng pizza, rót cho mọi người những cốc rượu đỏ không biết đã từ đâu xuất hiện - lúc lại sụp xuống khóc lóc thảm não. Chỉ mỗi mình Popchyk là hí hửng; thật chẳng mấy khi nhà đông khách khứa thế này, cu cậu chạy tới bên hết người này đến người khác, không hề nhụt chí khi liên tục bị suỵt đi. Đến một lúc nào đó mắt đã nhòe nhoẹt, mãi tận tối muộn - Xandra khóc lóc trong vòng tay an ủi của Courtney đến lần thứ hai chục, ôi trời ơi, anh ấy mất rồi, tôi không thể nào tin nổi - thì Boris kéo tôi qua một bên và bảo: “Potter, tau phải đi đây.”

“Đừng, tao xin mày đấy.”

“Kotku sẽ lo sốt vó lên mất thôi. Lẽ ra giờ này tau phải ở nhà mẹ bả rồi! Bả đã không gặp tau đến 48 giờ rồi.”

“Này, cứ bảo bả đến đây nếu bả muốn - nói bả biết đã có chuyện gì xảy ra. Nếu mày đi ngay bây giờ thì khốn nạn lắm.”

Xandra đã túi bụi vì khách và đờ đẫn vì khổ sở, đến nỗi Boris có thể lẻn lên tầng gọi điện trong phòng ngủ cô ta - ngày thường vẫn khóa, khiến Boris và tôi chưa bao giờ nhìn thấy bên trong. Khoảng mười phút sau nó đã lạch bạch chạy xuống cầu thang.

“Kotku bảo ở lại,” nó nói và luồn vào ngồi cạnh tôi. “Bả nói tau gửi lời chia buồn tới mi.”

“Uầy,” tôi đáp và suýt trào nước mắt, bèn chùi vội tay lên mặt để nó không thấy mình ngỡ ngàng cảm động đến thế nào.

“Ừ, ý tau là, bả cũng trải qua chuyện này rồi. Bố bả cũng chết rồi mà.”

“Thế hả?”

“Ừ, mấy năm trước. Cũng tai nạn giao thông. Hai người đó không thân lắm...”

“Ai chết?” Janet hỏi khi đứng đưa đẩy trên đầu chúng tôi, một hình hài tóc xù trong chiếc áo cánh lụa sặc mùi mỹ phẩm và mùi cỏ. “Có ai chết nữa à?”

“Không,” tôi đáp cụt ngủn. Tôi không ưa Janet - đấy chính là cái kẻ đã xung phong chăm Popper rồi nhốt nó trong phòng với cái máy nhả đồ ăn.

“Không hỏi mày, hỏi thằng kia,” cô ta đáp, bước lùi một bước rồi dán con mắt lờ đờ vào Boris. “Có ai chết? Thân với mày à?”

“Vài người là khác.”

Cô ta chớp mắt. “Mày người đâu?”

“Sao vậy?”

“Giọng mày buồn cười quá. Cứ như ở Anh hay gì đó - mà không. Như là Anh trộn với Transylvania.”

Boris hú lên. “Transylvania?” nó hỏi và nhe răng nanh ra. “Muốn tôi đớp cho không?”

“À, hai thằng bé ngộ ghê,” cô ta mập mờ đáp rồi cụng cái cốc rượu lên đỉnh đầu Boris trước khi đi ra chào Stewart và Lisa, lúc này đang chuẩn bị ra về.

Có vẻ là Xandra đã làm một viên. (“Có vẻ là nhiều hơn một viên,” Boris thì thầm vào tai tôi.) Cô ta xem chừng đã sắp gục. Boris - tôi quả là đồ khốn, nhưng thực sự tôi không muốn làm việc đó - lấy điếu thuốc lá khỏi miệng cô ta rồi dụi đi, sau đó giúp Courtney đỡ cô ta lên gác, vào phòng, đặt cô ta nằm sấp trên tấm ga giường và để ngỏ cửa.

Tôi đứng trên ngưỡng cửa nhìn Boris và Courtney tháo giày cho cô ta - tò mò được lần đầu tiên nhìn thấy căn phòng mà cô ta và bố vẫn khóa chặt. Tách bẩn, gạt tàn bẩn, từng chồng tạp chí Giamour, ga giường xanh lục lồng phồng, cái máy tính xách tay tôi không bao giờ được động vào, xe đạp tập thể dục - ai mà ngờ được có cả một cỗ xe đạp tập thể dục trong này?

Giày Xandra đã tháo ra, nhưng hai người quyết định cứ để cô ta mặc nguyên quần áo. “Cậu có muốn tôi ở lại đêm nay không?” Courtney khẽ hỏi Boris.

Boris vươn vai, ngoác miệng ngáp không giấu giếm. Áo nó tốc lên, quần trễ xuống đủ thấy nó không mặc đồ lót gì cả. “Cảm ơn cô,” nó đáp. “Nhưng chắc là bả ngất luôn rồi.”

“Không sao đâu.” Có thể tôi đã say thuốc - đúng là tôi đã say thuốc - nhưng cô này đang ghé sát vào nó đến nỗi trông cứ như thể cô ta đang tìm cách hôn hít nó hay gì đó, hết sức tức cười.

Chắc là tôi đã bật ra tiếng khùng khục trong họng, vì Courtney đã quay lại, vừa kịp thấy tôi làm cử chỉ đùa cợt với Boris, chĩa ngón tay về phía cửa - đẩy bả đi mau!

“Cậu có sao không?” cô ta lạnh lùng hỏi và nhìn khắp người tôi. Boris cũng đang cười cợt, nhưng đến lúc cô ta quay lại nhìn nó đã kịp vuốt phẳng mặt mũi, trở nên hết sức âu sầu lo lắng, chỉ tổ khiến tôi cười dữ hơn.

XIX

XANDRA ĐÃ NGỦ LỊM khi tất cả ra về - ngủ kỹ đến mức Boris phải lấy cái gương con trong túi cô ta (chúng tôi đã lục tìm thuốc và tiền), giơ trước mũi xem còn thở không. Trong ví có 229 đô-la, mà tôi không ngại ngần bỏ túi vì cô vẫn còn mở thẻ tín dụng, cùng một tờ séc chưa thanh toán ghi 2.025 đô-la.

“Tao biết Xandra không phải là tên thật mà,” tôi nói và quẳng cho nó tờ bằng lái xe: khuôn mặt màu vỏ cam, tóc làm phồng kiểu khác, tên Sandra Jaye Terrell, không có tiền sự gì. “Không hiểu mấy cái chìa này dùng vào đâu?”

Boris, như một gã bác sĩ kiểu xưa trong phim, ngón tay giữ mạch Xandra, ngồi bên cô ta trên giường, giơ cái gương lên trước ánh sáng. “Da, da,” nó lẩm nhẩm rồi nói gì đó nữa tôi không hiểu.

“Hử?”

“Ngất trên cành quất rồi.” Nó chọc chọc một ngón tay vào vai cô ta, rồi sà tới ngó vào ngăn kéo táp đầu giường mà tôi đang bới qua một đống những thứ ngớ ngẩn: tiền lẻ, xèng, dưỡng môi, lót cốc, mi giả, thuốc rửa sơn móng tay, những cuốn bìa mềm đọc nát (Vùng nhạy cảm trên người bạn), những lọ nước hoa hàng mẫu, bảng cát-xét cũ, thẻ bảo hiểm đã hết hạn mười năm nay, một đống những bao diêm quà tặng của văn phòng luật ở Reno nào đấy Chuyên bào chữa các vụ lái xe khi say và mọi vi phạm liên quan đến chất gây nghiện.

“Này, cho tau cái đó,” Boris nói và nhoài người tới, thủ luôn một bọc bao cao su. “Cái gì thế này?” Nó nhặt lên một thứ thoạt nhìn thì như lon Coca, nhưng lắc có tiếng lạch xạch. Nó áp tai vào nghe. “Ha!” nó nói và ném cho tôi.

“Giỏi lắm.” Tôi vặn nắp - rõ ràng là nắp giả - rồi đổ hết những gì bên trong lên mặt bàn. Thấy ngay đây là két tiền boa của Xandra - nửa phần là tiền mặt, nửa phần là xèng. Có cả một đống thứ khác, đến nỗi tôi chật vật một lúc mới phân biệt được là những gì, nhưng đập ngay vào mắt tôi trước hết là đôi hoa tai kim cương khảm ngọc lục bảo mà mẹ mất ngay trước khi bố cao chạy xa bay.

“Uầy,” tôi nhắc lại và nhón lấy một chiếc giơ lên. Đôi hoa tai này là vật bất ly thân của mẹ trong hầu như mọi bữa tiếp tân hay mọi dịp sang trọng nào khác: sắc xanh lục lam trong suốt của viên ngọc, ánh trời lúc ba giờ sáng tai quái của chúng cũng là một phần của mẹ không khác nào màu mắt hay cái vị hăng nồng tối sẫm trên mái tóc.

Boris đang cười khành khạch. Giữa mớ tiền nó đã lập tức liếc thấy và nhót lên một hộp đựng phim máy ảnh, hai bàn tay run run mở ra. Nó thò ngón tay út vào trong nhấm thử. “Eureka!” nó đắc thắng nói và cọ đầu ngón tay lên lợi. “Giờ thì Kotku tha hồ tức điên vì đã không qua đây.”

Tôi xòe bàn tay đựng đôi hoa tai cho nó xem. “Ờ, đẹp đó,” nó nói mà chẳng buồn nhìn. Nó còn mải rắc một ít bột thành đụn nhỏ trên bàn. “Mi bán được vài ngàn đô như chơi.”

“Của mẹ tao đấy.” Ở New York bố đã bán gần hết đồ nữ trang của mẹ, cả chiếc nhẫn cưới. Nhưng giờ thì tôi nhận ra Xandra đã thủ túi vài món, và không rõ làm sao tôi lại thấy buồn khi nhận ra cô ta đã chọn thứ gì - không phải ngọc trai, cũng không phải cái trâm hồng ngọc, mà là những món rẻ tiền từ thời mẹ còn niên thiếu, có cả cái lắc tay hồi đầu cấp ba lủng lẳng những miếng lấy khước nhỏ hình móng ngựa, giày ba-lê và cỏ bốn lá.

Boris duỗi người dậy, bóp lỗ mũi và đưa tôi tờ tiền vê thành ống. “Làm ít không?”

“Thôi.”

“Làm đi. Mi sẽ dễ chịu hơn đấy.”

“Thôi khỏi.”“Ở đây phải có đến bốn năm viên ba rưỡi[104]. Có thể còn hơn ấy! Tụi mình có thể giữ một rồi đem bán nốt.”

“Mày từng làm cái đó rồi à?” tôi ngờ vực hỏi và đưa mắt nhìn thân hình Xandra đang nằm sấp trên giường. Dù thấy rõ là cô ta đã bất tỉnh nhân sự, tôi vẫn hơi gợn khi bàn mấy chuyện ấy có cô ta ngay trong phòng.

“Ờ. Kotku ưa lắm. Nhưng mà đắt.” Nó có vẻ ngẫn ra một lúc rồi chớp mắt lia lịa. “Uầy. Làm đi,” nó bật cười. “Cầm lấy này. Mi không biết đang từ chối cơ hội gì đâu.”

“Như giờ thì tao cũng đủ khốn nạn lắm rồi,” tôi đáp trong lúc bới chỗ tiền.

“Ờ, nhưng có cái này mi sẽ tỉnh ra.”

“Boris, tao không ườn oài nữa được đâu,” tôi nói và bỏ túi đôi hoa tai cùng cái lắc. “Nếu chúng mình định đi thì phải đi ngay thôi. Trước khi người ta mò đến.”

“Người ta nào?” Boris nghi ngờ hỏi và quẹt tay dưới mũi.

“Cứ tin tao, mấy vụ này nhanh lắm. Sở bảo vệ trẻ em, các kiểu.” Tôi đã đếm xong tiền: 1.321 đô có lẻ, xèng thì nhiều hơn nữa, phải đến 5.000 đô, nhưng cái đó tốt hơn là để lại cho cô ta. “Mày nửa, tao nửa,” tôi nói và chia số tiền thành hai phần bằng nhau. “Đủ mua hai vé đấy. Chắc chuyên cuối đã bay rồi nhưng chúng mình cứ thử bắt xe ra sân bay xem.”

“Bây giờ? Đêm nay á?”

Tôi ngừng đếm, nhìn nó. “Ở đây tao chẳng có ai cả. Không ai hết. Không gì hết. Chúng nó sẽ nhét tao vào trại mồ côi trước cả khi kịp chớp mắt.”

Boris hất đầu về phía Xandra - trông cô ta rất ghê sợ, cái tư thế nằm rũ trên đệm chẳng khác gì một người đã chết. “Bả thì sao?”

“Chết tiệt,” tối đáp sau một lúc im lặng. “Chúng mình phải làm gì với bả chứ? Đợi đến khi bả tỉnh lại phát hiện mình đã lột tiền ư?”

“Chả biết nữa,” Boris nghi ngại nhìn cô ta. “Chỉ là tau thấy thương thôi.”

“Dẹp đi. Bả chẳng muốn nuôi tao đâu. Bả sẽ gọi cho bọn nó ngay lập tức khi nhận ra đã bị tao tròng vào cổ.”

“Bọn nó nào? Tau không hiểu là bọn nó nào.”

“Boris, tao vẫn chưa đến tuổi thành niên.” Tôi có thể cảm thấy cơn hoảng loạn quá sức quen thuộc đang dội lên trong mình - không thể gọi đây là một tình huống sống chết theo nghĩa đen, nhưng cảm giác thì đúng là thế, khói bốc đầy nhà, mọi lối đi đều bị chặn hết. “Tao không biết ở nước mày thì thế nào nhưng ở đây tao không có họ hàng gì, không cả bạn bè...”

“Tau nè! Mi có tau!”

“Mày thì làm được gì? Nhận nuôi tao à?” Tôi đứng dậy. “Này, nếu mày muốn đi cùng thì chúng mình phải nhanh lên thôi. Mày có hộ chiếu đấy không? Phải có thì mới bay được.”

Boris giơ hai tay lên, một động tác kiểu Nga có nghĩa là đủ rồi đấy. “Gượm đã! Thế này thì nhanh quá!”

Tôi dừng khựng bên ngưỡng cửa. “Mày có vấn đề chó gì vậy hả Boris?”

Tau có vấn đề á?”

Mày là đứa muốn bỏ nhà đi! Chính mày yêu cầu tao đi với mày! Đêm qua ấy!”

“Mi định đi đâu? New York à?”

“Còn đâu được nữa?”

“Tau muốn đến chỗ nào ấm,” nó đáp lập tức. “California.”

“Điên à. Chúng mình đâu có biết ai...”

“California!” nó rống lên.

“Ừ thì...” Dù tôi hầu như chẳng biết gì về California cả, nhưng cũng có thể đoán rằng Boris (ngoài mấy câu nhạc “California Uber Alles” nó suốt ngày ư ử) còn biết ít hơn. “California, ở đâu? Thành phố nào?”

“Ai biết?”

“Bang đó lớn lắm.”

“Tuyệt trần! Ta sẽ tha hồ quậy. Tụi mình sẽ lên mây từ sáng đến tối - đọc sách - đốt lửa trại. Ngủ trên bãi biển.”

Tôi nhìn nó thật dài, á khẩu. Mặt nó đỏ phừng phừng, miệng dính vết đen thẫm do rượu vang.

“Được,” tôi đáp và biết rằng mình đang bước qua bờ vực, chuẩn bị rơi xuống sai lầm lớn nhất đời mình, những vụ ăn cắp vặt, cốc tiền ăn xin, những giây chợp mắt vỉa hè và cảnh không nhà, một đáy sâu mà tôi sẽ không bao giờ trồi lên được.

Nó sướng điên. “Vậy là ra biển nhá? Thế nhá?”

Người ta phạm sai lầm bao giờ cũng chớp mắt như vậy đó. “Mày muốn chỗ nào cũng được,” tôi đáp và gạt tóc khỏi mắt. Tôi đã mệt bã ra rồi. “Nhưng phải đi thôi. Xin mày.”

“Hả, ngay phút này à?”

“Ừ. Mày có cần về nhà lấy đồ gì không?”

Đêm nay hả?”

“Tao có đùa đâu, Boris.” Đôi co với nó khiến nỗi hoảng hốt trong tôi trở lại. “Tao không thể cứ ngồi đây mà chờ...” Bức tranh là một trở ngại, tôi còn chưa biết sẽ làm cách nào, nhưng chừng nào đẩy được Boris ra khỏi nhà thì thế nào cũng nghĩ ra cách gì đó. “Nào, đi thôi.”

“Dịch vụ chăm sóc trẻ em ở Mỹ tệ thế cơ à?” Boris ngờ vực hỏi. “Nghe mi thì cứ tưởng là cảnh sát vậy.”

“Mày có đi với tao không? Có hay không?”

“Tau cần chút thời gian đã. Ý tau là,” nó vừa đi theo tôi vừa nói, “tụi mình không thể đi ngay bây giờ được! Thật đấy - tau thề đấy. Đợi thêm chút đã. Cho tau một ngày! Một ngày thôi!”

“Tại sao?”

Nó trông có vẻ rối trí. “Ờ, thì tất nhiên, tại vì..

“Tại vì...?”

“Tại vì... tại vì tau còn phải gặp Kotku! Và... và đủ thứ nữa! Thề đấy, mi không đi ngay đêm nay được đâu,” nó nhắc lại khi thấy tôi không đáp. “Tin tau đi. Rồi mi sẽ hối hận cho mà xem. Qua nhà tau! Đợi đến sáng hãy đi!”

“Không đợi được,” tôi nói cộc lốc, cầm lấy nửa chỗ tiền phần mình rồi quay lại phòng.

“Potter...” nó đuổi theo tôi.

“Gì?”

“Tau phải nói với mi một điều quan trọng.”

“Boris,” tôi quay lại đáp, “Cái chết mẹ gì nữa đây. Cái gì?” Tôi hỏi trong lúc chúng tôi đứng đó giương mắt nhìn nhau. “Nếu mày định nói gì thì nói mẹ luôn đi.”

“Sợ mi tức điên mất.”

“Cái gì đấy? Mày đã làm gì?”

Boris im lặng và cắn móng tay.

“Nào, nói đi?”

Nó ngó lơ. “Mi cần ở lại,” nó mơ hồ đáp. “Mi đang phạm sai lầm đấy.”

“Dẹp,” tôi quặc và lại quay đi. “Nếu mày không muốn đi với tao, thì khỏi, hiểu chứ? Nhưng tao không thể đứng đây cả đêm được.”

Boris - tôi nghĩ - biết đâu sẽ hỏi trong cái vỏ gối có gì, nhất là vì trông nó thật dày và dị hợm sau công cuộc bọc đồ quá hăng hái của tôi. Nhưng khi tôi gỡ nó khỏi ván đầu giường bỏ vào túi ba-lô nhỏ (cùng iPod, vở học, đồ sạc, Gió, cát và những vì sao, mấy tấm ảnh mẹ, bàn chải đánh răng, cùng một bộ quần áo sạch) nó chỉ chau mày không nói gì. Khi lấy từ trong cùng tủ ra chiếc áo khoác đồng phục (giờ thì đã quá chật, dù hồi mẹ mua cho tôi còn rất rộng), nó gật đầu và bảo: “Ý hay đó.”

“Gì?”

“Mặc trông đỡ giống dạt vòm.”

“Tháng Mười một rồi,” tôi nói. Tôi chỉ mang theo đến đây có một chiếc áo len ấm từ New York, liền bỏ vào túi kéo khóa lại. “Sẽ rất lạnh.”

Boris tựa người vào tường, vẻ thách thức. “Vậy mi định làm cái chi? Sống ngoài đường à, hay nhà ga, hay đâu?”

“Tao sẽ gọi cho bạn tao, lúc trước tao ở đó.”

“Nếu họ muốn nuôi mi, mấy người đó, họ đã nhận nuôi rồi.”

“Họ không nhận được! Làm sao họ nhận được?”

Boris khoanh tay. “Họ không muốn nuôi mi, cái gia đình ấy. Chính mi bảo tau thế còn gì, cả tỉ lần rồi. Mà mi cũng chẳng bao giờ nhận được tin họ cả.”

“Không phải thế,” tôi đáp sau một lúc im lặng bối rối. Mới vài tháng trước Andy còn gửi cho tôi một email khá dài (so với kiểu của cậu ta) kể cho tôi vụ gì đó ở trường, một xì căng đan với lão thầy tennis hay sờ soạng mấy con bé trong lớp, dù cuộc đời ấy có vẻ đã ở một thế giới khác, như một lá thư về những người không quen biết.

“Nhiều con quá?” Boris tiếp, có vẻ khinh khỉnh. “Không có chỗ? Nhớ vụ đó không? Mi còn bảo hai ông bà đó mừng vì thấy mi đi mất.”

“Cút mẹ mày đi.” Chưa chi tôi đã đau đầu kinh khủng. Phải làm gì đấy nếu bên Dịch vụ Xã hội đến đây nhét tôi vào xe? Ở Nevada, tôi biết gọi cho ai ở Nevada chứ? Bà Spear à? Tay Chơi ư? Hay lão bán hàng béo ị ở cửa hàng mô hình đồ chơi đã bán keo dán cho chúng tôi dù không mua mô hình?

Boris theo tôi xuống nhà, đến giữa phòng khách thi bị chắn đường bởi một con Popper trông thật tơi tả - nó chạy thẳng đến trước mặt chúng tôi, rồi ngồi xuống giương mắt nhìn, như thể nó biết chính xác chuyện gì đang diễn ra.

“Ôi mẹ kiếp,” tôi đặt túi xuống. Im lặng hồi lâu.

“Boris,” tôi nói, “mày có thể... ”

“Không.”

“Kotku thì...”

“Không.”

“Hừ, mặc mẹ nó,” tôi nói và nhặt con chó lên cắp vào tay. “Tao không bỏ nó ở lại đây cho chết đói trong phòng kín với bà kia đâu.”

“Còn mi định đi đâu?” Boris hỏi khi tôi bước về phía cửa trước. “Hử?”

“Đi bộ ra sân bay à?”

“Đợi đã,” tôi đặt Popchik xuống. Bỗng nhiên tôi lại thấy buồn nôn, như sắp phun hết rượu vang đỏ lên thảm. “Máy bay có cho chó lên không?”

“Không,” Boris tàn nhẫn đáp và phụt cái móng tay vừa cắn khỏi miệng.

Nó chỉ đang giở trò khốn nạn, tôi những muốn đập cho nó mấy cái. “Được thôi,” tôi nói. “Có thể ai đó ở sân bay sẽ muốn nhận nuôi nó. Hoặc mẹ kiếp, tao sẽ đi tàu vậy.”

Nó định mỉa câu gì đó, môi đã nhọn ra cái kiểu tôi biết quá rõ, nhưng rồi rất thình lình, mặt nó xịu xuống, và tôi ngoảnh lại thấy Xandra, cặp mắt hoang dại, mặt chảy đấy mascara, đang đứng lắc lư trên chiếu nghỉ cầu thang.

Chúng tôi nhìn cô ta, chết điếng. Sau một quãng dài phải đến thế kỷ, cô ta mở miệng, lại ngậm miệng, tóm lấy tay vịn để đứng cho vững, rồi cất giọng khào khào hỏi: “Larry có để chìa khóa lại trong két nhà băng không?”

Chúng tôi trợn trừng mắt vài giây kinh hoảng trước khi nhận ra cô ta đang chờ trả lời. Tóc cô ta dựng đứng như cây rơm, trông mặt có vẻ hoàn toàn mất định hướng và chao đảo đến nỗi có thể lộn nhào xuống cầu thang bất kỳ lúc nào.

“Ơ, có,” Boris đáp lớn. “À, thực ra là không.” Và rồi thấy cô ta vẫn đứng đó: “Không sao đâu. Quay lại ngủ tiếp đi.”

Cô ta lầm bầm gì đó, rồi trở lên trên, bước chân lảo đảo. Hai chúng tôi đứng im phắc một lúc. Rồi, lặng lẽ, gáy nhột nhạt như châm kim, tôi nhấc túi lên lẻn ra ngoài cửa trước (đấy là lần cuối tôi nhìn thấy căn nhà ấy, cũng như cô ta, dù thậm chí còn không ngoảnh lại nhìn lần cuối), Boris và Popchik ra theo. Cả ba bên nhau bước thật nhanh, rời khỏi căn nhà đó, đi tới cuối phố, tiếng móng chân Popchik đập lách tách trên vỉa hè.

“Được rồi,” Boris nói bằng cái giọng hài hước ngấm ngầm như mỗi khi chúng tôi vừa chết hụt ở siêu thị. “Được. Có thể không ngất lịm đến mức như tau tưởng.”

Tôi đang vã mồ hồi lạnh, nên không khí đêm lạnh ngắt xung quanh lại khiến trở nên dễ chịu. Ở đằng tây, những chớp sáng Frankenstein lặng tiếng rạch ngoằn ngoèo vào bóng đêm.

“Ờ, ít ra bả cũng chưa chết, hửm?” Nó khúc khích cười. “Tau còn lo cho bả cơ đấy. Chúa ạ.”

“Cho tao mượn phôn,” tôi nói và tròng áo khoác vào người. “Tao phải gọi xe.”

Nó sờ sẫm trong túi rồi đưa cho tôi. Đấy là loại điện thoại rẻ tiền vứt đi, nó mua chỉ để canh chừng Kotku.

“Không, mi cầm luôn đi,” nó nói và giơ hai tay lên khi tôi định trả lại lúc gọi xong: Lucky Cab, 777-7777, con số dán trên khắp mọi nhà chờ xe buýt đáng ngờ ở Vegas. Rồi nó lôi ra cọc tiền - số tiền nó được chia từ xấp của Xandra - tìm cách dúi cho tôi.

“Bỏ đi,” tôi nói và lo lắng nhìn lại căn nhà. Tôi chỉ sợ cô ta có thể lại thức dậy, đi ra phố kiếm bọn tôi. “Của mày mà.”

“Không! Có thể mi sẽ cần đấy!”

“Tao không muốn,” tôi nói rồi thọc tay vào túi để nó khỏi ấn cho nữa. “Mà có thể mày cũng cần mà.”

“Thôi nào Potter! Tau chỉ ước chi mi đừng có phải đi ngay bây giờ!' Nó huơ tay về phía con phố, chỉ những dãy nhà vô chủ. “Nếu mi không muốn đến nhà tau thì cứ trốn trong đó một hai hôm! Cái nhà gạch kia có đủ đồ đạc đấy. Tau sẽ mang thức ăn đến nếu mi muốn.”

“Hoặc là, ờ, tao có thể gọi Domino,” tôi nói và nhét điện thoại vào túi áo khoác. “Vì giờ họ cũng giao hàng đến tận đây rồi.”

Mặt nó rúm lại. “Đừng giận tau.”

“Tao không giận.” Và thực tế là tôi không giận - chỉ hoang mang đến mức nghĩ biết đâu chừng mình sắp thức dậy bây giờ, phát hiện ra mới vừa nằm ngủ với cuốn sách úp lên mặt.

Boris đang ngẩng nhìn trời, tôi nhận ra, và ngâm nga hát một mình, một câu trong mấy bài Velvet Underground của mẹ: Nhưng nếu ngươi đóng cửa... đêm sẽ dài thiên thu...

“Mày thì sao?” tôi hỏi và dụi mắt.

“Hửm?” nó đáp và nhìn tôi mỉm cười.

“Mày thế nào? Tao có bao giờ gặp lại mày nữa không?”

“Có thể,” nó đáp bằng cái giọng tươi vui mà tôi nghĩ hẳn nó đã dùng với Bami và cô vợ chủ quán, Judy ở Karmeyvvallag, cùng tất cả những ai nó từng nói lời từ biệt trong đời. “Ai biết được?”

“Mày sẽ theo tao sau một hai ngày chứ?”

“Ờ...”

“Đến chỗ tao đi. Đi máy bay ấy - mày có tiền mà. Tao sẽ gọi điện, báo mày tao đang ở đâu. Đừng từ chối.”

“Được thôi,” Boris đáp vẫn bằng cái giọng tươi vui đó. “Tau không từ chối.” Nhưng âm điệu giọng nó cho thấy rõ rằng nó đang từ chối.

Tôi nhắm mắt. “Ôi trời.” Tôi mệt đến nỗi đầu óc quay cuồng, phải cố cưỡng lại ham muốn được nằm luôn xuống đất, như có một lực hút có thực kéo tối xuống vệ đường. Khi tôi mở mắt, Boris đang nhìn tôi vẻ lo âu.

“Nhìn mi kìa,” nó nói. “Muốn té đến nơi rồi.” Nó thò tay vào túi.

“Không, không, không,” tôi nói và lùi lại, khi nhận ra nó cầm cái gì trong tay. “Không đâu. Bỏ đi.”

“Mi sẽ thấy khá hơn mà!”

“Mày cũng nói vậy về thứ kia.” Giờ tôi không có lòng dạ nào cho tảo biển hay sao biết hát nữa. “Thật đấy, tao không muốn đâu.”

“Nhưng cái này khác. Khác hẳn cơ. Nó sẽ làm mi tỉnh ra. Đầu óc trong trẻo hơn – thề đấy.”

“Ừ.” Một món thuốc có thể làm người ta tỉnh ra và đầu óc trong trẻo hơn không có vẻ là loại của Boris tí nào, dù đúng là trông nó đứng vững hơn tôi chút ít.

“Nhìn tau này,” nó nói rất có lý. “Phải không.” Nó biết tôi đã xiêu lòng. “Tau có đang lảm nhảm không? Sùi bọt mép không? Không - lại còn khuyên bảo mi nữa! Này,” nó nói và dốc một ít lên mu bàn tay, “nào, để tau làm cho mi.”

Tôi gần như tin rằng đây là một mẹo lừa - rồi tôi sẽ ngất xỉu tại chỗ và tỉnh dậy ở chỗ mà biết được là đâu, có khi trong một cái nhà vô chủ bên kia đường cũng nên. Nhưng tôi đã quá mệt không muốn nghĩ nữa, và cũng có thể như vậy cũng chẳng sao. Tôi cúi người tới, cho phép nó đưa ngón tay bịt một bên mũi mình. “Nào!” nó cổ vũ. “Đúng rồi. Hít đi.”

Gần như ngay lập tức tôi cảm thấy đỡ hơn. Đúng như một phép màu. “Uầy,” tôi đáp và bóp chặt mũi để giữ cảm giác nhoi nhói rất dễ chịu.

“Tau đã bảo mà.” Nó đã dốc ra thêm một chút rồi. “Nào, bên kia. Đừng thở ra. Được rồi, hít?

Mọi thứ hình như sáng rõ hẳn ra, cả Boris cũng vậy.

“Tau đã bảo thế nào?” Giờ thì nó lại đổ thêm cho mình. “Không nghe thì có phí không?”

“Mày sẽ bán thứ này ư?” tôi hỏi và ngước lên trời. “Tại sao phải thế?”

“Vì nó có giá lắm. Vài nghìn đô là ít.”

“Có tí thế á?”

“Đâu có tí! Đây là rất nhiều gam - có khi phải đến hai mươi hoặc hơn. Thế là cả gia tài đấy, nêu tau chia nhỏ ra rồi bán cho những đứa như K. T. Bearman.”

“Mày quen K. T. Bearman à?” Katie Bearman trên chúng tôi một lớp, con nhỏ có xe riêng - bỏ mui, màu đen, cách xa giai tầng của chúng tôi tới nỗi tưởng như nó là ngôi sao điện ảnh.

“Tất nhiên. Skye, KT, Jessica, mấy đứa đó. Dù sao thì...” - nó lại chìa cái ống cho tôi - “giờ thì tau có thể mua cho Kotku cái đàn, bả khoái rồi. Không phải lo thiếu tiền nữa.”

Chúng tôi cứ chuyển qua chuyển lại cho tới khi tôi bắt đầu cảm thấy tương lai, cũng như vạn vật, đều có vẻ tươi sáng hơn nhiều. Và trong lúc chúng tôi đứng đó, vừa quẹt mũi vừa ba hoa trên phố, Popper dưới chân tò mò nhìn lên, thì nỗi diệu kỳ mang tên New York dường như đậu ngay trên chót lưỡi tôi, cảm giác lâng lâng sẵn sàng truyền đạt lại. “Cực kỳ lắm, tao thật,” tôi nói. Chữ nghĩa đang đổ ồng ộc ra qua miệng tôi. “Mày phải tới đó mới được. Chúng mình có thể ra bãi biển Brighton - bọn Nga đều ra đấy hóng nắng cả. Ờ, tao thì chưa bao giờ. Nhưng có tàu đi ra đấy - đấy là trạm cuối. Có cả một cộng đồng Nga to đùng, nhà hàng có cá xông khói, trứng cá tầm nữa. Mẹ với tao suốt ngày hẹn nhau ra đấy ăn, cái ông làm nữ trang mà mẹ làm cùng đã chỉ hết những chỗ ngon rồi, nhưng chả bao giờ đi được. Chỗ đó phải cực kỳ lắm. Mà nữa, nghĩ xem - tao có tiền đi học - mày có thể đi học trường tao. Không, thề đấy. Tao có học bổng mà. Ờ thì ngày xưa. Nhưng ông kia bảo chỉ cần tiền trong quỹ được dùng vào việc học hành - học hành cho ai mà chẳng được. Không chỉ có tao. Có thừa cho cả hai bọn ta. Mặc dù, ý tao là, trường công ấy, ở New York trường công tốt, tao quen nhiều người, trường công cũng OK.”

Tôi vẫn còn lải nhải thì nó ngắt lời; “Potter.” Trước khi tôi kịp đáp lại thì nó đã đặt cả hai tay lên mặt tôi, hôn lên miệng tôi. Và trong lúc tôi còn đứng đó chớp mắt - vèo một cái, tôi còn chưa biết là chuyên gì - thì nó đã bế Popper dưới chân lên, và cũng hôn nó, đang lơ lửng, đánh chụt một cái ngay chóp mũi.

Rồi nó trao con chó cho tôi. “Xe của mi kìa,” nó nói và vò đầu con chó lần cuối. Và đúng thế, khi tôi quay lại, một chiếc xe con đang bò lại bên kia đường, vừa đi vừa nhìn địa chỉ.

Chúng tôi vẫn còn đứng nhìn nhau - tôi đang thở mạnh, cực kỳ choáng váng.

“Chúc may mắn,” Boris nói. “Tau không quên mi đâu.” Rồi nó vỗ đầu Popper. “Chào Popchyk. Mi hãy chăm sóc nó nhé?” - câu này với tôi.

Rồi mãi sau - trong xe, và sau nữa - tôi còn tua lại cảnh đó trong đầu, và kinh ngạc là mình có thể vẫy chào rồi bước đi thản nhiên như vậy. Tại sao tôi không chộp lấy tay nó, nản nỉ nó lần cuối hãy vào xe, đi nào, mẹ kiếp nó chứ Boris, cứ như trốn học ấy, chúng mình sẽ ăn sáng trên đồng ngô khi mặt trời lên? Tôi biết rõ nó, đủ để hiểu rằng chỉ cần hỏi đúng cách, chọn đúng lúc, nó sẽ có thể làm bất cứ điều gì, và ngay trong lúc quay đi tôi vẫn biết nó sẽ chạy theo, nhảy vào xe và cười rộ nếu tôi mở miệng hỏi lần cuối.

Nhưng tôi không hỏi. Và thật sự, có lẽ không hỏi là tốt hơn - nay thì tôi nghĩ vậy, dù đã có một thời gian tôi tiếc cay tiếc đắng. Hơn hết, tôi nhẹ người vì trong trạng thái lảm nhảm điên dại không quen thuộc tôi đã chặn được mình khỏi buột ra cái câu đã lấp ló nơi vành miệng, cái câu tôi sẽ không đời nào thốt ra, dù đó là một điều cả hai cùng biết rõ, chẳng cần tôi phải nói thành tiếng với nó giữa đường phố - tất nhiên, là câu tao yêu mày.

xx.

TÔI MỆT ĐẾN NỖI MẤY LIỀU THUỐC cũng chẳng nâng đỡ lâu được, ít ra là về tác dụng gây phấn khích. Anh tài, một tay New York phiêu lưu nếu căn cứ theo giọng nói, lập tức đánh hơi thấy có điều không ổn và tính chìa cho tôi tấm thé ghi số tổng đài Trẻ Em Bỏ Nhà Quốc Gia, nhưng tôi từ chối. Khi tôi bảo hãy chở tôi ra nhà ga (còn không biết ở Vegas có tàu không, nhưng chắc phải có chứ), anh ta lắc đầu bảo: “Bốn mắt ạ, cậu biết là Amtrak không cho chó lên tàu chứ?”

“Không ư?” tôi hỏi và lòng chùng xuống.

“Máy bay... ừ, tôi cũng không biết.” Anh ta còn khá trẻ, miệng liến thoắng, mặt búng sữa, người hơi phị, áo phông có chữ XEM PENN VÀ TELLER TẬN MẮT TẠI KS RIO. “Cậu sẽ phải đóng thùng hay gì đó. Có lẽ đi xe khách là tốt nhất. Nhưng trẻ em dưới một độ tuổi nào đó không được đi mà không có cha mẹ chấp thuận đâu.”

“Em đã nói rồi mà! Bố em vừa mất! Bạn gái bố em muốn em về ở với gia đình bên mạn Đồng.”

“Ờ, thì cậu chẳng có gì phải lo lắng nữa rồi, phải không?”

Tôi ngậm miệng cho đến hết chuyến đi. Việc bố mất còn chưa hẳn ngấm vào đầu tôi, nhưng cứ chốc chốc, nhờ ánh sáng veo véo trên đường cao tốc mà nó lại ập xuống tôi choáng váng. Tai nạn giao thông, ít ra hồi ở New York, mẹ con tôi cũng không phải lo đến chuyện lái xe khi say rượu - nỗi sợ lớn nhất là ông sẽ ngã lăn quay trước mũi xe người ta, hay bị xơi một dao của bọn cướp ví khi lảo đảo rời một quán bar đèn mờ nào đó lúc ba giờ sáng. Mà xác ông rồi sẽ đi về đâu? Tro của mẹ, tôi đã rải ở Công viên Trung tâm, dù hình như là có luật cấm; một buổi tối khi trời vừa chập choạng, tôi cùng Andy đi tới một góc hoang vắng mé phía tây hồ công viên, và trong lúc Andy canh chừng, tôi đổ bình tro. Điều để lại ấn tượng nặng nề lên tôi hơn cả việc rải tro là bình tro đã được bọc bằng những mảnh quảng cáo khiêu dâm xé vụn: Em xinh châu Á nhẵn nhụi và Sướng, nóng, ướt là hai cụm từ tình cờ đập vào mắt tôi trong lúc thứ bột xám màu đá mặt trăng nghẽn lại, xoay vòng trong bóng chiều tà tháng Năm.

Rồi có ánh đèn, xe dừng lại. “Được rồi đấy, bốn mắt,” anh tài nói và quay lại, tay vắt trên lưng ghế. Chúng tôi đã vào đến bãi gửi xe của bến xe khách đường dài Greyhound. “Cậu vừa nói tên là gì nhỉ?”

“Theo,” tôi đáp mà không nghĩ, rồi lập tức hối hận.

“Ờ, Theo. J. p.” Anh ta đưa tay qua ghế sau bắt tay tôi. “Muốn nghe lời khuyên không?”

“Được thôi,” tôi đáp, hơi chùn lại. Bất chấp tất cả những việc đang xảy ra, những việc hệ trọng đang xảy ra, tôi vẫn thấy cực kỳ bất an vì tay này hẳn đã nhìn thấy Boris hôn tôi trên phố.

“Không phải việc của tôi, nhưng cậu sẽ cần thứ gì để bỏ chú Bông Xù kia vào đấy.”

“Xin lỗi?”

Anh ta hất đầu về phía cái túi của tôi. “Chú ta có chui được vào đấy không?”

“Ừm...”

“Cả túi đó chắc cũng sẽ phải gửi đấy. Có thể người ta sẽ bảo túi lớn quá không mang lên xe được - sẽ phải nhét dưới gầm xe. Không phải như máy bay đâu.”

“Em…Cái này thật quá sức suy nghĩ. “Em chẳng có gì cả.”

“Đợi chút. Để tôi xem lại trong ‘văn phòng’ đằng sau đã.” Anh ta đứng dậy, đi vòng xuống đuôi xe, cầm lên một cái túi vải mua đồ lớn từ một cửa hàng thực phẩm có lợi cho sức khỏe, trên ghi Xanh hóa Hoa Kỳ.

“Nếu là cậu,” anh ta nói, “tôi sẽ vào mua vé một mình không có chú Xù. Cứ để chú ta ở đây với tôi cho chắc ăn, OK?”

Anh bạn mới của tôi đoán đúng, về việc không được lên xe Greyhound nếu không có giấy Trẻ em đi một mình do cha mẹ ký - và lại còn lắm hạn chế cho trẻ con khác nữa. Người bán vé ở cửa, một bà gốc Mễ ốm yếu có mái tóc bó chít sau đầu, giọng đều đều bắt đầu điểm danh cả một chuỗi ác hại. Không được chuyển tuyến. Không được đi chuyến nào quá năm tiếng. Trừ khi chính người ký đơn đến đón tôi ở cửa, mang theo giấy tờ chứng minh nhân thân, thì tôi sẽ ra khỏi ga trong vòng tay Cơ quan Bảo vệ Trẻ em hoặc cảnh sát địa phương ở điểm đến.

“Nhưng mà...”

“Mọi trẻ em dưới 15 tuổi. Không có ngoại lệ.”

“Nhưng mà cháu không phải dưới 15 tuổi,” tôi nói và loay hoay tìm giấy chứng minh do chính quyền bang New York cấp, trông rất ư là chỉn chu. “Cháu đúng 15. Bác xem đi.” Enrique - có lẽ do ước lượng khả năng tôi bị đưa vào cái mà ông ta gọi là Hệ Thống - đã đưa tôi đi chụp ảnh thẻ ngay ít lâu sau khi mẹ mất; và dù lúc đó tôi cảm ghét cái móng vuốt vươn dài của Anh Cả ấy (“Ô, cậu có mã vạch cá nhân cơ đấy,” Andy đã bình phẩm khi tò mò nhìn nó) thì giờ tôi thấy biết ơn ông ta đã sáng suốt mà lôi tôi vào trung tâm thành phố, đem tôi đăng ký như một chiếc ô tô sang tay. Cảm lặng như một người tỵ nạn, tôi chờ dưới ánh đèn neon ám muội trong lúc bà bán vé săm soi tấm thẻ, xoay đủ mọi góc độ dưới các kiểu ánh sáng khác nhau, cuối cùng cũng kết luận là hàng xịn.

“15,” bà ta nghi ngờ nói và đưa lại tôi.

“Vâng.” Tôi biết trông mình không đến 15. Và tôi cũng nhận ra là không có cửa nào thú nhận về chuyện Popper, bởi ngay cạnh bàn là một tấm biển lớn chữ đỏ chói CẤM CHÓ, MÈO, CHIM, CHUỘT, BÒ SÁT HOẶC MỌI CON VẬT KHÁC LÊN XE.

Còn riêng chuyện đi xe thì tôi đã gặp may: có một chuyến lúc 1:45 sáng, có đi qua New York, sẽ rời bến sau 15 phút nữa. Khi cái máy nhả vé ra đánh xoạch, tôi đứng ngơ ngẩn, nghĩ không biết phải làm sao với Popper bây giờ. Bước ra ngoài, tôi gần như hy vọng người lái xe đã chạy mất, có thể còn mang theo Popper tới một căn nhà thương yêu, ổn định hơn - nhưng chỉ thấy anh ta đang uống Red Bull và gọi điện thoại, còn Popper thì bặt tăm. Anh ta tắt máy khi thấy tôi đứng đó. “Cậu nghĩ sao?”

“Nó đâu rồi?” Tôi đờ đẫn nhìn vào ghế sau. “Anh làm gì nó rồi?”

Anh ta cười lớn. “Úm ba la xì bùa!” Hất tay một cái, anh ta nhặt mấy tờ USA Today gập nháo nhào phủ lên cái túi vải bạt trên ghế lái phụ, và trong đó, chĩnh chện trong cái hộp các tông ở đáy túi và đang nhai mấy miếng khoai tây chiên, là Popper.

“Đây là phép đánh lạc hướng,” anh ta nói. “Cái hộp choán hết chỗ cái túi, không nhìn thấy hình dạng con chó, lại có thêm chỗ để cu cậu rộng cẳng. Và tờ báo là đạo cụ hết sảy. Vừa che, vừa khiến túi có vẻ đầy, vừa không nặng.”

“Anh nghĩ có ổn không?”

“Ờ thì, chú ta bé tí như thế, được bao nhiêu? Hai ký? Hai rưỡi?

Chú ta có trật tự không?”

Tôi nghi hoặc nhìn nó đang nằm cuộn tròn dưới đáy hộp. “Không phải lúc nào cũng vậy.”

J. P. lấy mu bàn tay lau miệng, đưa cho tôi gói khoai chiên. “Cứ quẳng cho chú một hai miếng nếu chú ngó ngoáy. Khoảng hai ba giờ xe dừng một lần. Chỉ cần kiếm chỗ ngồi dưới đuôi xe, và hãy mang nó rời khỏi bến thật nhanh rồi mới thả ra cho chú ta làm phận sự.”

Tôi đeo túi lên vai, vòng tay ôm lấy. “Nhìn có thấy không?” Tôi hỏi.

“Không. Không biết thì không thấy. Nhưng mách nước nhỏ nhé? Giữa ảo thuật gia với nhau?”

“Vâng.”

“Phải tránh đừng có suốt ngày nhìn cái túi như thế. Nhìn đâu cũng được, đừng nhìn túi. Cảnh ngoài đường, đôi giày - đấy, chính thế - đúng rồi đấy. Tự tin, tự nhiên, bí quyết ở đó. Mặc dù lóng ngóng mò tìm mắt kính áp tròng đánh rơi cũng tốt, nếu nghĩ xung quanh đang để mắt. Đánh đổ khoai, vấp chân vào ghế, ho sặc nước, gì cũng được.”

Uầy, tôi nghĩ. Rõ ràng đặt tên là Lucky Cab không phải đùa.

Lần nữa anh ta lại cười lớn, như thể tôi vừa nghĩ thành tiếng. “Đấy, quy định dở hơi quá chứ, sao lại không cho chó lên xe,” anh ta nói và tu thêm một ngụm Red Bull lớn. “Nghĩ xem, nếu không thì phải làm sao? Vứt nó lại bên đường à?”

“Anh có phải nhà ảo thuật hay gì không?”

Anh ta cười lớn. “Sao cậu biết? Tôi có show diễn bài tây ở quán bar đằng sông Orleans - nếu cậu đủ tuổi thì tôi đã bảo cậu thỉnh thoảng đi vào xem tôi diễn rồi. Dù sao đi nữa thì bí quyết là: lúc nào cũng hướng người ta chú ý vào đâu đó tránh xa vị trí mờ ám. Đấy là luật cơ bản của ảo thuật, bốn mắt à. Đánh lạc hướng. Đừng bao giờ quên.”

XXI

UTAH. VÁCH SAN RAFAEL, khi mặt trời lên, mở ra những khung cảnh phi nhân như trên sao Hỏa: đá cát kết và phiến sét, hẻm vực và núi mặt bàn đỏ như gỉ sắt hoang liêu. Tôi không ngủ được, phần vì còn say thuốc, phần vì sợ Popper sẽ lục sục hay rên rỉ, nhưng nó im phăng phắc trong lúc xe chạy theo những con đường núi ngoằn ngoèo, lặng im ngồi trong túi đặt trên ghế bên cạnh sát cửa sổ. Thực tế là vali của tôi đủ nhỏ để được mang lên xe, khiến tôi rất hoan hỉ vì nhiều cớ: cái áo len, quyển Saint-Ex, nhưng trên hết là bức tranh, mà dù đã quấn chặt khuất mắt vẫn là một thứ cần bảo vệ, như một bức tranh thiêng được kẻ thánh chiến mang vào trận. Ở đuôi xe không có ai khác ngoài một đôi vợ chồng dân La tinh dáng điệu thẹn thò, bỏ trong lòng một mớ hộp nhựa đựng đồ ăn, cùng một lão già say rượu nói lảm nhảm, và chúng tôi yên ổn đi qua những con đường ngoằn ngoèo qua hết bang Utah vào đến thành phố Grand Junction ở Colorado, nơi đó xe nghỉ lại năm mươi phút. Cất vali trong một tủ khóa bỏ xu xong, tôi đưa Popper ra đằng sau bến xe, tránh thật xa con mắt người lái, mua một cặp bánh ở Burger King cho cả đôi và cho nó uống nước bằng nắp hộp đựng thức ăn nhựa nhặt được trong thùng rác. Từ Grand Junction trở đi tôi ngủ, cho tới khi lại nghỉ ở Denver, một giờ mười sáu phút, đúng lúc mặt trời đang lặn - và Popper với tôi chạy chơi cuống cuồng vì mừng rỡ được rời khỏi xe, chạy thật xa trên những con phố rợp bóng cây xa lạ khiến tôi suýt thì sợ sẽ lạc, dù đã rất vui tìm thấy một quán cà phê bụi bặm có người phục vụ đều trẻ tuổi thân thiện (“Cứ cho nó vào!” cô gái tóc tím đứng quầy nói khi thấy Popper bị buộc trước cửa, “chúng tớ thích chó lắm!”) và tôi mua không chỉ hai cái bánh kẹp gà tây (cho tôi và cho nó) mà cả bánh quy ăn chay và một túi giấy đầy mỡ đựng bánh ăn chay cho chó tự làm.

Tôi đọc sách đến khuya, giấy màu kem ngả vàng trong vòng sáng yếu, giữa lúc bóng đêm không quen thuộc vùn vụt bên ngoài, đi qua đường phân thủy, rời khỏi dãy Thạch Sơn, Popper mãn nguyện sau chuyến chạy rông ở Denver ngủ khò trong túi.

Tới một lúc thì tôi cũng ngủ, rồi tỉnh dậy lại đọc sách tiếp một chút. Khoảng hai giờ, đúng khi Saint-Ex đang kể chuyện rơi máy bay trong sa mạc, chúng tôi vào đến thành phố Salina ở Kansas (“Ngã tư nước Mỹ”), nghỉ hai mươi phút, dưới ánh đèn hơi dùng natri bu kín bướm đêm, Popper và tôi chạy nhảy trong bóng tối một bãi xe trống trơn, đầu tôi còn mải miết nghĩ về quyển sách và đồng thời cũng sung sướng vì cảm giác lạ lẫm, lần đầu tiên trong đời được đến bang sinh quán của mẹ - không hiểu mẹ trong những lần đi rong với ông ngoại có bao giờ từng đến thành phố này, nơi những xe cộ chạy vèo qua trên Phố 9 rời khỏi đường liên tiểu bang, những tháp ủ ngũ cốc thắp đèn như tàu vũ trụ sáng lóa giữa cảnh hoang vắng từ cách hàng dặm? Trở lại xe - buồn ngủ, bẩn thỉu, mệt rũ và lạnh - Popchik với tôi ngủ vùi từ Salina đến Topeka, lại từ Topeka đến Kansas City, Missouri, nơi chúng tôi tấp vào vừa lúc trời hửng.

Mẹ vẫn thường kể với tôi rằng nơi mẹ lớn lên cực kỳ bằng phẳng - phẳng đến nỗi có thể nhìn thấy lốc xoáy chạy trên đồng cỏ suốt hàng dặm - nhưng tôi vẫn chưa hình dung hết vẻ mênh mông, bầu trời không ngơi nghỉ, lớn rộng đến mức ta như bị đè bẹp, bị nghiến nát bởi cái vô tận. Ở St. Louis quãng giữa trưa, chúng tôi nghỉ một tiếng rưỡi (thừa thời gian cho Popper chạy chơi, một cái bánh kẹp bò nướng kinh tởm cho bữa trưa, dù không gian quanh đó có vẻ quá hắc ám nên tôi không dám đi chơi vơ vẩn) và rồi về bến, chuyển qua xe khác. Rồi, mới chỉ chạy chừng một hai tiếng, tôi tỉnh giấc, xe đã dừng, và thấy Popper đang ngồi im phắc, chỏm mũi ló ra khỏi túi, một bà da đen trung niên đánh son hồng chói lóa đứng đằng trước tôi và oang oang: “Cậu không được để con chó kia trên xe.”

Tôi nhìn bà hoang mang. Rồi kinh hoảng, tôi nhận ra đấy chẳng phải một hành khách ất ơ nào đấy mà chính là tài xế, đủ cả áo mũ đồng phục.

“Cậu có nghe tôi nói không?” bà nhắc lại, đầu giật sang hai bên rất tức tối. Bà to con như một võ sĩ nhà nghề, bảng tên trên bộ ngực đồ sộ viết Denese. “Cậu không được để con chó trên xe" Rồi sốt ruột, bà phẩy tay như muốn bảo: nhét ngay nó trở lại vào túi!

Tôi kéo báo che đầu nó - có vẻ nó chẳng bận tâm - và ngồi đó, ruột gan múa may lộn nhào hết cả. Chúng tôi đang dừng ở một thị trấn tên là Effingham, bang Illinois: những ngôi nhà kiểu Edward Hopper, một tòa án trông như trên sân khấu, một tấm biển viết tay: Ngã tư cơ hội!

Bà tài xế chỉ ngón tay một vòng xung quanh. “Có ai trong số mấy người ở đây muốn phản đối con vật này không?”

Những người còn lại ở đuôi xe - một anh chàng nhếch nhác để ria mép xù, một bà đeo niểng răng, một thiếu phụ da đen lo lắng ngồi bên cô con gái tiểu học, một ông già trông như w. c. Fields đeo ống thở cùng bình ô xy - ai nấy đều có vẻ quá sửng sốt không đáp lời được, dù cô bé con mắt to tròn khẽ lắc đầu rất khó nhận thấy: không.

Bà lái xe đợi. Rồi nhìn xung quanh. Rồi quay lại phía tôi. “Được rồi. May cho cậu và con khuyển kia, cậu nhỏ ạ. Nhưng nếu bất kỳ ai...” - bà ta khẽ lúc lắc ngón tay dọa tôi - “nếu bất kỳ ai trong số mấy hành khách dưới này mà than phiền về chuyện cậu mang theo thú vật lên xe, vào bất kỳ lúc nào, tôi sẽ buộc phải mời cậu xuống. Hiểu chưa?”

Bà không đuổi tôi đi ư? Tôi chớp chớp mắt, sợ không dám nhúc nhích cũng không dám nói gì.

“Hiểu chưa ?” bà lặp lại, đáng sợ hơn nữa.

“Cảm ơn bác.”

Có phần hiếu chiến, bà lắc đầu. “À, không. Đừng cảm ơn tôi, cậu nhỏ ạ. Vì tôi sẽ mời cậu xuống xe ngay nếu có một lời than phiền. Một lời.”

Tôi ngồi, run rẩy, trong lúc bà bước qua lối đi lên ghế cho xe chạy. Khi xe đánh ra khỏi bãi gửi, tôi không dám cả liếc sang mấy hành khách khác, dù cảm thấy tất cả họ đều đang nhìn mình.

Bên đầu gối tôi, Popper hực lên một tiếng tí xíu rồi nằm yên trở lại. Mặc dù rất thích Popper và thương nó, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng so với giống chó nói chung thì nó thuộc loại rất đáng kể hoặc rất thông minh. Ngược lại, biết bao nhiêu lần tôi ước nó là giống chó gì oách hơn, chó chăn cừu hay Labrador hay chó cứu nạn chẳng hạn, một con pitbull hỗn chủng khôn ngoan, trải đời, hay một con nhãi thích gây gổ, ưa đuổi bóng và cắn người - tóm lại là gì cũng được chứ không phải như nó hiện giờ: thứ chó của bọn con gái, thứ đồ chơi, thứ xăng pha nhớt, một con chó khiến tôi ngượng khi phải dắt nó đi dạo trên phố. Không phải là Popper không dễ thương; ngược lại, nó đích xác là cái thứ bông xù bé xíu nhảy tâng tâng mà lắm người ưa thích - không phải tôi, nhưng chắc hẳn một ai như cô bé con ngồi dãy ghế bên kia có thể bắt gặp nó bên vỉa hè, dắt nó về nhà và thắt nơ cho chứ?

Tôi cứ ngồi như phỗng, liên tục tua lại nỗi sợ hãi kinh hoàng: gương mặt bà lái xe, cơn sốc. Điều khiến tôi sợ nhất là giờ đã biết, nếu bà ta bắt tôi vứt Popper xuống xe, tôi sẽ phải xuống cùng nó (để làm gì?) ngay giữa vùng đồng không mông quạnh Illinois. Mưa, đồng ngô, đứng một mình ở ven đường. Làm sao mà tôi lại đi gắn bó với một con vật dở hơi thế này? Một con chó cảnh do Xandra chọn?

Suốt qua bang Illinois và Indiana, tôi cứ ngồi lắc lư, cảnh giác: quá sợ không dám ngủ. Cây cối xác xơ, bí Halloween đã ruỗng trên hiên nhà. Ở dãy ghế bên kia, bà mẹ trẻ ôm lấy cô bé và hát khe khẽ: Con là mặt trời của mẹ. Tôi chẳng còn gì ăn ngoài những mẩu khoai tây chiên vụn từ chỗ anh lái xe cho, và với vị muối rất khó chịu trong miệng, những vạt đất công xưởng rộng và những xóm nhỏ hoang vu lướt qua trước mắt, tôi thấy lạnh, thấy đơn côi khi nhìn ra đồng ruộng ủ rũ, nhớ lại những bài mẹ hay hát cho tôi, từ tận hồi ấy: Bé con ơi chào nhau, bé con à đừng khóc. Cuối cùng, ở Ohio, khi trời đã tối và những căn nhà nhỏ buồn rầu cách nhau cả dặm đã lên đèn, tôi cũng thấy an toàn đến mức có thể gà gật ngủ, thỉnh thoảng chúi về phía trước, cho đến khi tới Cleveland, thành phố lạnh lẽo sáng đèn, nơi tôi phải chuyển xe lúc hai giờ sáng. Tôi sợ không dám thả Popper chạy xa dù biết nó cần được chạy, nhỡ có ai trông thấy (vì chúng tôi sẽ làm gì nếu bị phát hiện? ở lại Cleveland vĩnh viễn ư?). Nhưng có vẻ là nó cũng sợ, và sau khi đứng rét run ở góc phố suốt mười phút tôi cho nó ít nước, bỏ lại vào túi, rồi quay về bến lên xe.

Đã nửa đêm, hình như ai cũng đã lơ mơ ngủ, nhờ vậy chuyển xe thuận tiện hơn, và đến trưa ngày hôm sau lại chuyển xe lần nữa, ở Buffalo, nơi bánh xe lăn xào xạo qua mưa đá chất đống trong bến. Trong gió buốt có bụi nước - sau hai năm trong sa mạc tôi đã quên mùa đông thực sự, rét căm căm, là như thế nào. Boris chưa hề trả lời tin nhắn của tôi, cũng dễ hiểu vì tôi chỉ gửi được tới máy Kotku, nhưng tôi vẫn nhắn tiếp: Buffalo roi, toi nay toi nyc. Hy vong m ok, Xan noi j ko?

Buffalo còn cách New York rất xa, nhưng ngoài một chặng đỗ mơ màng ngây ngấy sốt ở Syracuse, nơi tôi cho Popper đi dạo và uống nước, mua cho cả đôi hai cái bánh nhân kem vì chẳng còn thứ gì khác, thì hầu như cả quãng đường tôi ngủ, qua cả Batavia, Rochester, Syracuse, Binghamton, má áp vào cửa sổ, không khí lạnh lọt vào qua khe hở, nhịp đung đưa khiến tôi trở lại với Gió, cát và những vì sao cùng một buồng lái đơn độc tít trên cao sa mạc.

Tôi nghĩ chắc là mình đã âm ỉ ốm từ chặng dừng ở Cleveland, nhưng tới khi rốt cuộc cũng xuống xe ở Cơ quan quản lý cảng, trời đã tối còn tôi thì đang đùng đùng sốt. Cả người rét run, tôi đi đứng lảo đảo, và thành phố từng mong mỏi dữ dội biết mấy nay có vẻ thật xa lạ, ồn ào, lạnh lẽo, nhìn chỗ nào cũng thấy khí thải xe cộ cùng rác rưởi và người lạ đi ào ào xung quanh.

Bến xe đầy chật cảnh sát. Nhìn đâu cũng thấy biển quảng cáo những nhà tình thương dành cho trẻ em bỏ nhà ra đi, đường dây tư vấn cho trẻ em bỏ nhà ra đi, và đặc biệt có một bà cảnh sát liếc nhìn ngờ vực khi tôi hối hả đi ra ngoài - sau hơn sáu chục giờ trên xe, tôi thật bẩn thỉu và mệt mỏi, và biết trông mình hẳn chẳng mấy đàng hoàng - nhưng cũng không ai chặn lại, và tôi không ngoái nhìn sau lưng cho tới khi đã ra khỏi cửa, thật xa. Có vài người thuộc đủ các độ tuổi và quốc tịch khác nhau gọi với theo tôi trên phố, những giọng mềm dịu vọng đến từ đủ hướng (ê này nhóc con! đi đầu đấy? cần xe không?) nhưng dù có một người tóc đỏ hình dáng bình thường, tử tế và không hơn tuổi tôi là mấy, trông dường như có thể đánh bạn được, thì máu New York vẫn đủ nhắc tôi lờ đi tiếng chào vui vẻ của anh ta, và bước tiếp như thể biết chắc mình đi đâu.

Tôi cứ tưởng Popper sẽ sướng cuồng lên khi được thả ra ngoài chạy, nhưng khi tôi đặt nó xuống vỉa hè, Đại lộ 8 quá rợn ngợp khiến nó hãi không dám chạy quá một khu nhà - nó chưa bao giờ ra đường ở một thành phố lớn, và cái gì cũng khiến nó khiếp đảm (xe cộ, tiếng còi, chân cẳng người lạ, những túi ni-lông rỗng bay trên hè phố) và cứ chốc chốc lại chạy vọt lên trước, hoặc nhào tới ngã tư, nhảy tránh chỗ này chỗ kia, vụt ra sau lưng tôi ẩn nấp, quấn vòng sợi dây quanh chân khiến tôi bị vấp, suýt ngã trước mặt một cỗ xe tải đang phóng lên để kịp đèn xanh.

Sau khi bế nó lên, chân đạp chới với, và nhét lại vào túi (nó cào cấu và hục hặc một hồi khổ sở rồi mới im), tôi đứng giữa đám đông giờ cao điểm, tìm cách xác định phương hướng. Mọi thứ đều có vẻ bẩn hơn, thù địch hơn so với trong trí nhớ của tôi - lạnh hơn nữa, phố xá xám xịt như báo cũ. Que faire?[105] như mẹ vẫn ưa nói. Tôi gần như nghe được tiếng mẹ nói câu đó bằng cái giọng nhẹ tênh vô sự mọi khi.

Tôi vẫn thường băn khoăn, những lúc bố tôi lồng lộn đi lại trong nhà, đập cửa tủ bếp và càu nhàu thèm một ly, rằng cảm giác “thèm một ly” là như thế nào - phải thế nào thì mới thèm uống rượu đến mức không một thứ gì khác có thể thay thế được, nước hay Pepsi hay gì cũng không. Giờ thì, tôi chua chát nghĩ, mình biết rồi. Tôi muốn uống bia phát điên, nhưng tôi đủ khôn không đi vào một quán nào đó mua bia mà không có giấy chứng minh. Tôi luyến tiếc nghĩ tới món vodka của ông Pavlikovsky, luồng hơi ấm hằng ngày mà tôi đã cho là tất yếu.

Sát sườn hơn: tôi đang đói ngấu. Chỉ cách vài nhà là tới một quán cupcake trang trí lòe loẹt, tôi đói đến nỗi rẽ ngay vào đó, mua thử đầu tiên đập vào mắt (hóa ra là vị trà xanh, có nhân vani kiểu gì đó, ăn kỳ kỳ nhưng vẫn ngon tuyệt trần đời). Gần như lập tức chất đường làm tôi phấn chấn lên, và vừa ăn, liếm kem trên ngón tay, tôi vừa kinh ngạc ngắm nhìn bầy người hăm hở trước mặt. Khi rời khỏi Vegas, không hiểu sao tôi đã hết sức tự tin về kết quả của quyết định này. Liệu bà Barbour có gọi ngay cho Sở Dịch vụ Xã hội báo rằng tôi vừa đến gõ cửa không? Tôi đã nghĩ là không, nhưng giờ thì không dám chắc. Lại còn có vấn đề không hề nhỏ là Popper, bởi vì (bên cạnh bơ sữa, quả hạch, băng dính, mù tạc, cùng chừng hai chục món đồ thông dụng trong nhà khác) Andy bị dị ứng chó kinh khủng - không chỉ chó mà cả mèo, ngựa, các con thú ở rạp xiếc, chuột lang ở lớp (“Newton lợn”) chúng tôi nuôi tận hồi cấp hai, chính vì thế mà nhà Barbour không bao giờ nuôi con vật gì. Không hiểu sao ở Vegas tôi không có cảm giác đây là một trở ngại khó lòng vượt qua được, nhưng khi đứng đây trên Đại lộ 8, trời đang lạnh và tối dần, thì có.

Không biết phải làm gì, tôi nhấc chân đi về phía đông, về hướng Đại lộ Công viên. Gió quất vào mặt đau buốt, mùi mưa trong không khí khiến tôi hoảng sợ. Bầu trời ở New York có vẻ thấp hơn, nặng nề hơn nhiều so với miền tây: mây đen thẫm với những nét viền nhòe, như bút chì vẽ trên giấy thô. Như thể sa mạc rộng rãi đã dạy mắt tôi biết nhìn xa hút. Ở đây cái gì cũng có vẻ ẩm thấp và chật hẹp.

Đi bộ giúp chân tôi đỡ tê. Tôi đi về hướng đông, tới chỗ thư viện (hai con sư tử! Tôi đứng sững một lúc, như người lính từ chiến trận chợt thấy dấu hiệu đầu tiên của quê nhà) rồi rẽ vào Đại lộ 5 - đèn đường đã bật, đường vẫn tấp nập, dù đang vợi bớt người trở về nhà - đến tận mặt nam Công viên. Dù mệt và lạnh, tim tôi vẫn hẫng khi nhìn thấy công viên, và tôi chạy ào qua Phố 57 (Phố Vui!) đến bên bóng tối rợp lá. Mùi hương và bóng cây, cùng những thân cây tiêu huyền trắng lốm đốm đã khiến tối vui trở lại, nhưng vẫn cảm giác như đang thấy một công viên khác bên dưới công viên nhìn tận mắt này, một tấm bản đồ quá khứ, một công viên ma đen thẫm vì ký ức, những đợt dã ngoại của trường, những chuyến thăm vườn bách thú từ lâu lắm. Tôi đang đi trên vỉa hè phía Đại lộ 5 nhìn vào trong, mỗi con đường đều chạy giữa bóng cây, phả xuống từng quầng đèn sáng, vừa bí ẩn vừa mời gọi như những cánh rừng Narnia. Nếu quay lại, đi theo một trong những con đường sáng ấy, liệu tôi có trở ra vào một năm khác, biết đâu đấy, vào một tương lai khác, nơi mẹ - vừa ở công ty về - đang đứng chờ tôi, rạp người trước gió trên băng ghế (ghế của chúng tôi) bên hồ, cất điện thoại đi, đứng dậy hôn tôi - chào cún con, ờ trường vui không, tối nay muốn ăn gì nào?

Rồi thình lình, tôi đứng lại. Một vóc người quen thuộc mặc vét doanh nhân vừa đi vượt qua, đang hối hả trên vỉa hè đằng trước tôi. Mớ tóc trắng đập vào mắt trong bóng tôi, tóc trắng theo kiểu đáng phải để dài, thắt ruy băng đuôi ngựa đằng sau; ông đang mải mê suy nghĩ, trông tiều tụy hơn lệ thường, nhưng tôi vẫn nhận ra ông lập tức, với cái đầu nghiêng nghiêng rất giống Andy: ông Barbour, đủ cả cặp táp các kiểu, đang từ chỗ làm về nhà.

Tôi chạy theo đuổi kịp ông. “Bác Barbour à?” tôi gọi. Ông đang lẩm bẩm nói chuyện một mình, dù tôi không nghe ra là nói gì. “Bác Barbour, cháu Theo đây,” tôi nói lớn và nắm lấy ống tay áo ông.

Hung dữ đến ngạc nhiên, ông quay lại rẩy tay tôi ra. Đúng là ông Barbour, đi đâu cũng không lẫn được. Nhưng ánh mắt nhìn tôi lại là ánh mắt của kẻ lạ: sáng quắc, khắc nghiệt, khinh bỉ.

“Không bố thí nữa!” ông rít lên. “Cút xéo!”

Đáng ra tôi phải nhận ra ngay chứng bệnh cuồng. Đấy chẳng qua là một phiên bản tăng cường của vẻ mặt bố tôi trong một vài ngày có trận đấu - hoặc là cái lần ông đã sững lại rồi đánh tôi. Tôi chưa bao giờ ở gần những lúc ông Barbour không dùng thuốc (Andy, đúng kiểu cậu ta, thường rất kiệm lời khi miêu tả những đợt “hưng phấn” của bố; hồi đó tôi còn chưa biết mấy vụ ông tìm cách gọi điện cho Bộ trưởng Ngoại giao hay mặc đồ ngủ đến công ty), nên cơn điên giận của ông có vẻ trái ngược với ông Barbour ngơ ngác, lơ đễnh lệ thường đến nỗi tôi chẳng biết làm gì ngoài giật lùi lại, bẽ bàng. Ông trừng mắt nhìn tôi, rồi phủi phủi tay (như thể tôi bẩn thỉu, như thể tôi đã nhiễm bẩn sang ông khi chạm vào ông) rồi lừ lừ đi mất.

“Cậu xin tiền cha đó à?” Không biết từ đâu một người khác đã sán lại khi tôi đứng trên vỉa hè ngơ ngác. “Phải không?” Hắn gặng hỏi khi tôi ngoảnh đi. Hắn mập lùn, áo vét trông rõ ra lối doanh nhân và gợi nghĩ đến một gia đình đông con, còn dáng điệu rầu rĩ của hắn khiến tôi sởn gáy. Khi tôi tìm cách đi vòng qua, hắn đứng chắn đường rồi đặt bàn tay nặng trịch lên vai tôi, và khiếp hãi, tôi nhao người tránh rồi chạy ù vào công viên.

Tôi đi vào bên hồ, theo những con đường đầy lá vàng sũng nước, và theo bản năng đi thẳng tới Điểm Hẹn (như mẹ và tôi vẫn gọi cái băng ghế) rồi ngồi đó, run rẩy. Gặp ông Barbour trên đường đã có vẻ như là vận may không gì sánh nổi, và trong khoảng năm giây tôi đã nghĩ hẳn là sau quãng lúng túng và băn khoăn ban đầu, ông sẽ mừng rỡ chào tôi, hỏi vài câu, Ồ! Bỏ qua đi, bỏ qua đi, cứ từ từ nói tiếp, và cùng tôi đi lên căn hộ. Ôi trời đất ạ, đúng là một cuộc phiêu lưu. Andy thấy cháu sẽ mừng lắm đấy !

Chúa ơi, tôi nghĩ, luồn tay qua tóc, người vẫn còn lẩy bẩy Trong một thế giới lý tưởng thì ông Barbour mới là người tôi mong tình cờ gặp được nhất trong gia đình - mong hơn Andy, chắc chắn là hơn anh em của Andy, mong hơn cả bà Barbour với những quãng im lặng lạnh giá, những kiểu cách xã giao và những chuẩn mực cư xử tôi hoàn toàn không biết, với ánh mắt lạnh lẽo không tài nào hiểu được.

Do thói quen, tôi lấy điện thoại kiểm tra tin nhắn đến lần thứ một triệu - và không muốn mà cũng vui lên khi cuối cùng cũng có một tin nhắn - số lạ, nhưng hẳn phải là Boris. Eh! Hy vong m ok. Ko tuc wa. Goi Xan di, ba suot ngay quay t.

Tôi tìm cách gọi lại - lúc trên đường tôi đã nhắn cho nó cỡ năm chục cái tin - nhưng không có ai nhấc máy, tôi được chuyển thẳng đến hộp thư thoại của Kotku. Xanda đợi cũng không sao. Cùng Popper trở lại Công viên Trung tâm, tôi mua ba que xúc xích từ một người bán hàng đang bắt đầu cất đồ đi về (một cho nó, hai cho tôi) và trong lúc ăn, trên băng ghế khuất mắt ngay phía trong Cổng Học Giả, cân nhắc các lựa chọn trước mắt. Trong những ảo tưởng về New York hồi ở sa mạc, thỉnh thoảng tôi đã hình dung những điều quái dị nào là Boris và tôi sống ngoài đường, ờ chỗ St. Mark hay Quảng trường Tompkins, rất có thể còn đứng xóc cốc xin tiền với chính bọn chơi ván trượt xưa từng giễu cợt Andy và tôi mặc đồng phục đi qua. Nhưng tương lai thực sự của việc ngủ ngoài phố có vẻ bớt phần quyến rũ hơn nhiều khi người ta có một mình, lại đang sốt trong cái giá lạnh tháng Mười một.

Điều bực mình là: tôi chỉ đứng cách nhà Andy chừng năm khối nhà. Tôi đã nghĩ hay là gọi cho cậu - bảo cậu xuống gặp tôi chẳng hạn - rồi lại thôi. Tất nhiên, tôi có thể gọi cậu ta khi nào đến nước tuyệt vọng; cậu ta sẵn lòng chuồn ra, mang cho tôi quần áo sạch và tiền lấy từ túi mẹ, và biết đâu đấy, có thể còn ít bánh thịt cua hay lạc tẩm dầu còn thừa mà nhà Barbour ăn suốt. Nhưng chữ bố thí vẫn còn rát bỏng trong đầu tôi. Dù tôi thích Andy đến mấy thì đến nay cũng gần hai năm rồi. Và tôi cũng không quên được ánh mắt ông Barbour ném vào tôi. Rõ ràng là có cái gì đó không ổn, không ổn lắm, có điều tôi không biết chắc đấy là gì - chỉ biết rằng mình cũng chịu trách nhiệm sao đó, trong cái màn sương mù đại thể những cảm giác hổ thẹn, không xứng đáng, và thấy mình là gánh nặng chưa bao giờ thực sự rời bỏ tôi.

Dù không chủ ý - chỉ đang nhìn bâng quơ xa xôi - tôi đã tình cờ giao mắt với một kẻ ngồi ở băng ghế đối diện. Tôi vội vã nhìn ra xa, nhưng quá muộn; hắn đã đứng dậy và đi lại chỗ tôi.

“Con quỷ con xinh gớm,” Hắn nói, cúi người xoa đầu Popper, và khi thấy tôi không đáp: “Em trai tên là gì? Anh ngồi được không?” Hắn ta người dẻo dai, nhỏ con nhưng có vẻ khỏe, và bốc mùi rất tởm. Tôi đứng dậy, tránh nhìn hắn, nhưng khi quay người định đi hắn đã phóng tay ra chộp lấy cổ tay tôi.

“Sao vậy,” hắn nói, giọng nhừa nhựa, “em trai không thích anh à?”

Tôi giằng ra và chạy - Popper chạy đằng sau, ào ra phố, nhanh quá, nó không quen xe cộ ở thành phố, đã có xe lại gần - tôi chộp lấy nó vừa đúng lúc, rồi chạy qua Đại lộ 5, lại chỗ khách sạn Pierre. Kẻ kia bị kẹt lại bên kia đường khi đèn chuyển đỏ, khiến người đi đường ngoái cả lại nhìn, nhưng khi nhìn lại trong quầng sáng che chở tỏa xuống từ lối vào ấm áp và sáng rực của khách sạn - những cặp nam nữ ăn mặc đẹp, những người bồi cửa vẫy taxi - tôi thấy hắn ta đã lại chìm vào công viên.

Đường phố ồn hơn nhiều so với những gì tôi nhớ - cũng hôi hám hơn nữa. Đứng ở góc đường bên A La Vielle Russie, tôi thấy ngợp vì cái mùi quen thuộc của khu trung tâm: ngựa kéo xe, khói xăng xe buýt, nước hoa, nước tiểu. Bao lâu nay tôi vẫn nghĩ Vegas chỉ là tạm thời, cuộc đời thực của tôi là ở New York, nhưng có thật vậy không? Giờ thì khác rồi, tôi nghĩ buồn rầu, nhìn đám bộ hành ngày một thưa thớt đang vội vã đi qua Bergdorf.

Dù cả người đang vừa nhức vừa lạnh vì cơn sốt, tôi vẫn cuốc bộ qua chừng mười khối nhà, vừa đi vừa tìm cách rũ bỏ cảm giác tê ran nhẹ bỗng khỏi chân, cùng độ rung lắc choán toàn thân trên xe khách. Nhưng cuối cùng thì cái lạnh cũng chiến thắng, tôi vẫy taxi; nếu đi xe buýt cũng rất đơn giản, chỉ mất chừng nửa giờ, thẳng từ Đại lộ 5 sang Làng Greenwich, chỉ có điều sau ba ngày trời ngồi xe khách tôi không chịu nổi ý nghĩ phải lắc lư trên xe buýt thêm một giây nào nữa.

Tôi cũng không thật thoải mái với ý nghĩ xuất hiện không báo trước ở nhà Hobie - chẳng thoải mái chút nào, vì đã lâu nay chúng tôi không liên lạc, lỗi tại tôi chứ không phải tại ông, đến một lúc tôi đã ngừng trả lời thư. Một mặt, đấy là do trình tự thông thường của cuộc đời, mặt khác, những phỏng đoán bừa bãi của Boris (“ông bóng già?”) đã khiến tôi lánh xa ông, dù không nhận thấy, và hai ba lá cuối tôi không trả lời.

Tôi thấy rất tệ, tệ kinh khủng. Dù chặng đường rất ngắn nhưng chắc tôi đã ngủ thiếp ở ghế sau, bởi khi tài xế dừng xe và hỏi “đây phải không?” tôi đã giật mình choàng tỉnh, mất một lúc ngồi ngơ ngẩn và cố lắm mới nhớ được mình đang ở đâu.

Cửa hiệu - như tôi nhận thấy khi xe lái đi - đã đóng kín và tối ám, cứ như chưa hề mở lại lấy một lần trong suốt khoảng thời gian tôi rời khỏi New York. Cửa sổ đều cáu bẩn, và khi nhìn vào trong, tôi nhận ra vài món đồ gỗ bọc vải bên ngoài. Ngoài ra thì không có gì thay đổi, chỉ trừ trên những cuốn sách cũ và mấy món lặt vặt - con vẹt mào hoa cương, những cột định hướng - lớp bụi đã dày hơn.

Tim tôi chùng xuống. Tôi đứng trên phố phải một hai phút rất lâu rồi mới thu đủ can đảm bấm chuông. Hình như tôi đã đứng cả thiên thu lắng nghe tiếng vọng xa vắng bên trong, dù thực tình thì chắc cũng nhanh thôi - tôi đã gần như thuyết phục được mình tin rằng không có ai ở nhà (và tôi sẽ làm gì đây? Quay trở lại Quảng trường Thời đại, tìm một khách sạn rẻ tiền đâu đấy, hay tự nộp mình cho đám cảnh sát quản lý trẻ trốn nhà?) thì cánh cửa mở đột ngột, và trước mặt tôi không phải Hobie, mà là một cô gái trạc tuổi tôi.

Chính là cô - Pippa. Vẫn còn nhỏ choắt (tôi đã cao hơn cô rất nhiều) và gầy, dù trông có vẻ mạnh khỏe hơn nhiều so với lần cuối tôi gặp, mặt tròn trịa hơn, rất nhiều tàn nhang, và tóc cũng khác, hình như mọc lại đã chuyển sang màu và chất tóc khác nhiều, không phải đỏ pha vàng kim nữa mà đậm hơn, như màu gỉ sắt, hơi xơ, như tóc bà Margaret. Cô ăn mặc kiểu con trai, chân đi tất, quần nhung kẻ cũ, áo len thùng thình, có điều thêm một cái khăn sọc hồng cam điên rồ loại chỉ thấy trên người các bà già hơi khùng. Mày nhíu lại, lịch thiệp nhưng dè dặt, cô nhìn tôi bằng cặp mắt nâu vàng vô cảm: người lạ mặt. “Tôi giúp gì được cậu?” Cô hỏi.

Cô ấy quên mình rồi, tôi buồn bực nghĩ. Làm sao mà cô nhớ được? Đã rất lâu rồi, và tôi biết trông mình cũng khác. Cứ như nhìn thấy một ai đó mà mình ngỡ đã qua đời.

Và rồi, huỳnh huỵch xuống cầu thang, xuất hiện sau lưng cô, mặc quần chino lấm sơn và áo len mỏng đã sờn khuỷu, là Hobie. Bác ấy cắt tóc là ý nghĩ đến trước hết trong đầu tôi: tóc xén mỏng hơn, trắng hơn nhiều so với tôi nhớ. Vẻ mặt ông thoáng nét cáu bẳn, và trong một giây chết điếng, tôi nghĩ cả ông cũng không nhận ra mình, nhưng rồi: “Chúa ơi,” ông nói và đột ngột lùi lại.

“Cháu đây,” tôi nói nhanh. Tôi chỉ sợ ông sẽ đóng ập cửa trước mặt mình. “Theodore Decker. Bác nhớ không?”

Thật nhanh, Pippa ngước lên nhìn ông - rõ ràng là cô nhận ra tên tôi, dù không nhận ra tôi - và ánh ngạc nhiên thân thiết trên mặt họ làm tôi kinh ngạc đến nỗi òa lên khóc.

“Theo.” Vòng tay ông siết lấy như một người cha, ôm chặt đến nỗi làm tôi càng khóc tợn. Rồi tay ông đã đặt trên vai tôi, bàn tay nặng như điểm tựa, tự nó đã cho thấy an toàn và uy lực; ông đang dẫn tôi vào, qua xưởng, ánh mạ vàng tối xỉn và mùi gỗ nồng trong giấc mờ của tôi, lên cầu thang vào phòng khách đã tưởng từ lâu đánh mất, giữa những vải nhung, bình tro và đồ đồng thau. “Gặp cháu thật tuyệt diệu quá!” ông luôn miệng nói, cả “trông cháu bết thế này” và “Cháu về lúc nào vậy?” và “Cháu có đói không?” và “Trời ơi, cháu lớn bổng lên rồi!” và “tóc tai mới khiếp chứ! Cứ như Mowgli cậu bé rừng xanh!” và (giờ đã lo âu) - “ở đây cháu có thấy ngộp quá không? bác có nên mở cửa không?” - và khi Popper ngóc đầu ra khỏi túi: “Aha! Ai thế này?”

Pippa, cười vang, bế bổng nó lên đu đưa trong vòng tay. Tôi cảm thấy đầu váng vất vì sốt - đỏ lên và phát sáng, như những thanh ngang trong lò sưởi điện, mất kiểm soát đến nỗi tôi còn không thấy xấu hổ vì đã khóc. Tôi chẳng thấy gì nữa, ngoại trừ nỗi nhẹ nhõm vì được ở đây, cùng trái tim nhức nhối tràn đầy cảm kích.

Trong bếp có súp nấm, mà tôi chẳng thèm nhạt gì, nhưng súp ấm còn tôi thì đang chết rét, và trong lúc ăn (Pippa ngồi xếp bằng trên sàn, chơi với Popchik, lúc lắc quả bông trên cái khăn bà già vào mặt nó, Popper/Pippa, sao tôi chưa bao giờ nhận thấy hai cái tên gần gũi nhau thế nhỉ?) tôi kể ông nghe một chút, rất lộn xộn, về cái chết của cha và những chuyện diễn ra sau đó. Hobie vừa nghe, đôi tay khoanh lại, vừa làm bộ mặt hết sức lo âu, đôi mày ương bướng càng lúc càng nhăn lại khi nghe tôi kể.

“Cháu phải gọi cho cô ấy,” ông nói. “Vợ của bố cháu ấy.”

“Nhưng có phải vợ đâu! Chỉ là bạn gái thôi! Cô ta chẳng hề quan tâm đến cháu chút nào.”

Ông cương quyết lắc đầu. “Cũng vậy thôi. Cháu phải gọi cho cô ấy và báo rằng cháu vẫn ổn. Phải, đúng thế,” ông nói át đi khi tôi định phản đối. “Không nhưng nhị gì hết. Gọi ngay. Ngay lập tức. Pips...” Có một cái điện thoại cũ gắn tường trong bếp “lại đây, chúng ta ra khỏi đây một phút nào.”

Dù Xandra đúng là người tôi ít muốn nói chuyện nhất vào thời điểm hiện tại - nhất là sau khi đã lục tung phòng ngủ và ăn cắp tiền boa của cô ta - thì tôi vẫn nhẹ lòng vì được ở đây đến nỗi sẵn sàng làm bất cứ điều gì ông yêu cầu. Khi quay số, tôi tự nhủ chắc là cô ta chẳng nhấc máy đâu (có quá nhiều người quảng cáo và nhân viên thu tiền gọi đến nhà suốt ngày, đến nỗi cô hầu như không nghe máy từ những số lạ). Thế nên tôi giật cả mình khi chuông vừa reo cô đã nhấc máy.

“Cậu để cửa mở,” cô ta nói gần như tức khắc, giọng kết tội.

“Sao?”

“Cậu để con chó ra ngoài. Nó chạy mất rồi - tôi không tìm thấy đâu hết. Chắc chắn là bị xe tông phải hay sao đó rồi.”

“Không.” Tôi đang nhìn dán vào màn đêm ngoài sân gạch. Trời đang mưa, mưa đập ầm ầm vào ô cửa, cơn mưa đầu tiên tôi nhìn thấy từ gần hai năm nay. “Nó đang ở với cháu.”

“Ồ.” Cô ta có vẻ nhẹ người. Rồi lại gắt lên: “Cậu ở đâu? Đâu đó với Boris à?”

“Không.”

“Tôi có gọi cậu ta - phê phát rồ rồi thì phải. Cậu ta không chịu nói cậu đang ở đâu. Tôi biết là cậu ta biết mà.” Dù ở đó vẫn còn sớm, giọng cô ta đã khê như vừa uống rượu, hay vừa khóc. “Lẽ ra tôi phải báo công an Theo ạ. Tôi biết chính hai thằng cậu đã ăn cắp tiền và đồ của tôi.”

“Ừa, cũng như cô đã ăn cắp hoa tai của mẹ tôi thôi.”

“Cái gì...”

“Đôi lục bảo ấy. Đấy là hoa tai của bà ngoại tôi.”

“Tôi không ăn cắp nó.” Giờ thì cô ta đã nổi giận. “Sao cậu dám nói thế? Larry tặng nó cho tôi, tặng cho tôi sau khi...”

“Ừa. Sau khi ăn cắp của mẹ tôi.”

“Ừm, xin lỗi nhé, nhưng mẹ câu chết rồi.”

“Phải, nhưng mẹ tôi còn chưa chết khi ông ấy ăn cắp nó. Phải đến cả năm trước khi mẹ chết. Mẹ đã báo với công ty bảo hiểm,” tôi nói và lớn giọng át tiếng cô ta. “Và nộp đơn lên cảnh sát.” Vụ cảnh sát thì tôi không chắc lắm, nhưng cũng rất có thể.

“Ừm, chắc là cậu chưa bao giờ nghe biết cái gọi là tàỉ sản chung sau hôn nhân.”

“Đúng. Và chắc là cô chưa bao giờ nghe biết cái gọi là tài sản thừa kế. Cô với bố tôi thậm chí còn chưa lấy nhau. Ông ấy không có quyền gì cho cô thứ đó.”

Im lặng. Tôi nghe thấy cả tiếng bật lửa ở đầu dây bên kia và tiếng rít thuốc mệt mỏi. “Này nhóc. Tôi nói câu này được không? Không phải về chuyện tiền đâu, thề đấy. Cũng không phải chuyện chỗ tuyết. Dù tôi có thể nói chắc với cậu một điều, tôi không hề làm mấy trò đó hồi còn tuổi cậu. Cậu cứ nghĩ mình thông minh lắm, và tôi nghĩ cũng đúng thế, nhưng cậu đang đi vào một con đường xấu đấy, cả cậu với cái thằng kia. Ừ , ừ,” cô ta lớn giọng át tiếng tôi, “tôi cũng thích cậu ta lắm, nhưng cậu ta gây ảnh hưởng xấu đấy.”

“Cô thì thông thạo rồi.”

Cô ta cười nhàn nhạt. “Này nhóc, cậu biết không? Tôi đã qua cầu vài lần rồi - tôi thông thạo thật đấy. Đến năm mười tám tuổi cậu ta sẽ ngồi tù, và cá trăm ăn một cậu cũng sẽ ngồi ngay cạnh. Mà thực ra, cũng không trách cậu được,” cô ta lại lớn giọng, “tôi yêu bố cậu, nhưng ông ấy thật là của bỏ đi, và cứ như những gì ông ấy kể thì mẹ cậu cũng là của bỏ đi nốt.”

“Được rồi. Đủ lắm. Mẹ kiếp nhà cô.” Tôi tức điên đến nỗi run lẩy bẩy. “Tôi dập máy đây.”

“Không... khoan đã. Khoan đã. Xin lỗi. Đáng ra tôi không nên nói thế về mẹ cậu. Mà đấy không phải lý do tôi muốn nói chuyện với cậu. Làm ơn. Cậu có thể chờ thêm một giây thôi?”

“Tôi đang chờ đây.”

“Trước hết là - nếu cậu quan tâm - tôi định hỏa táng bố cậu. Cậu OKchứ?”

“Muốn làm gì thì làm.”

“Cậu chẳng bao giờ mất công nghĩ về ông ấy, phải không?”

“Hết rồi chứ?”

“Còn một việc. Tôi cóc cần biết cậu đang ở đâu, thật đấy. Nhưng tôi cần một địa chỉ để có thể liên lạc với cậu.”

“Làm cái gì?”

“Đừng có tài khôn. Đến lúc nào đấy sẽ có người ở trường hay đâu đó gọi đến...”

“Tôi chẳng nghĩ là vậy đâu.”

“... và khi đó tôi sẽ cần, không biết là gì nữa, một lời giải thích về nơi cậu ở bây giờ. Trừ khi cậu muốn cảnh sát phát tờ rơi trẻ mất tích hay kiểu vậy.”

“Tôi nghĩ là không có xác suất ấy đâu.”

Không có xác suất ấy đâu,” cô ta lặp lại, kéo dài giọng nhại tôi rất ác ý. “Cũng có thể. Nhưng cứ cho tôi địa chỉ, và chúng ta sẽ coi như hòa. Ý tôi là,” cô ta nói tiếp khi tôi không đáp, “nói luôn cho vuông, cậu có ở đâu thì tôi thấy cũng vậy. Nhưng tôi chỉ không muốn nắm đằng lưỡi ở đây, nếu nhỡ may có vấn đề gì tôi cần liên lạc với cậu.”

“Có một luật sư ở New York. Tên ông ta là Bracegirdle. George Bracegirdle.”

“Cậu có số không?”

“Tự tra đi,” tôi đáp. Pippa đã vào phòng lấy bát nước cho chó, và lúng túng, để khỏi phải nhìn cô, tôi quay đi nhìn vào tường.

“Brace girdle? Xandra nói. “Viết đúng như đọc thế à? Tên với tuổi gì quỷ quái thế?[106]”

“Này, tôi tin chắc là cô sẽ tìm ra thôi”

Im lặng một lúc. Rồi Xandra bảo: “Cậu biết sao không?”

“Sao?”

“Người vừa chết là bố cậu. Bố đẻ của cậu. Và cậu cư xử như thế là, chẳng biết phải nói sao nữa, tôi định nói là như con chó vừa chết, nhưng thậm chí còn không được như con chó. Vì tôi biết cậu sẽ thương tiếc nếu con Pop bị xe tông chết, hoặc ít nhất là tôi nghĩ vậy.”

“Cứ cho là tôi để tâm đến ông ấy đúng bằng với ông ấy để tâm đến tôi.”

“Này, để tôi cho cậu biết một điều. Cậu với bố cậu giống nhau hơn cậu tưởng nhiều đấy. Cha nào con nấy, giống như đúc.”

“À, cô là đồ điêu trá khốn nạn,” tôi đáp sau một khoảng lặng ngắn khinh bỉ - một lời đáp mà theo tôi đã tóm gọn toàn bộ tình hình. Nhưng rất lâu sau khi tôi dập máy, khi đang ngồi hắt hơi run rẩy trong bồn tắm nóng, và trong màn sương mù hoà ánh sáng tiếp sau (uống aspirin Hobie đưa, theo ông đi qua hành lang tới căn phòng trống ẩm mốc, trông cháu êm ấm rồi đấy, trong rương vẫn còn chăn thôi không nói gì nữa, bác sẽ yên cho cháu), câu chốt của cô ta còn vang âm trong tai, khi tôi áp mặt vào gối toả mùi xa lạ. Câu đó không đúng - cũng như điều cô ta nói về mẹ là không đúng. Ngay cả cái giọng khô khan lạo xạo của cô ta ở đầu dây bên kia, ký ức về cái giọng đó, cũng khiến tôi khó chịu. Mặc mẹ cô ta, tôi nghĩ trong cơn ngái ngủ. Quên nó đi, cô ta đã cách cả triệu dặm. Nhưng dù tôi mệt muốn lả đi, và cái giường đồng ọp ẹp có cảm giác cả đời chưa nằm giường nào êm bằng, thì câu nói của cô ta vẫn là sợi chỉ đen xuyên suốt những giấc mơ của tôi đêm đó.

« Lùi
Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang