Không phải máu thịt, mà chính trái tim biến chúng ta thành cha con[120]
—SCHILLER—
I
“ÔI THEO!” Kitsey nói, nhặt lên một chiếc trong đôi hoa tai lục bảo ngọc của mẹ tôi giơ lên ánh sáng, một chiều thứ Sáu sau Giáng sinh mấy ngày. Chúng tôi vừa ăn trưa thật lâu ở nhà hàng Fred sau khi dành cả sáng trong Tiffany nhìn những mẫu bạc và sứ. “Đẹp quá đi! Chỉ có điều...” trán cô nhăn lại.
“Sao...?” Đã ba giờ; nhà hàng vẫn còn ồn ào đông đúc. Khi nãy cô đi ra ngoài gọi điện, tôi đã lấy đôi hoa tai trong túi ra đặt lên khăn trải bàn.
“À, chỉ có điều... em không hiểu.” Cô nhướng mày, như nhìn một đôi giày không biết chắc muốn mua hay không. “Ý em là... đẹp lắm! Cảm ơn anh! Nhưng... không hiểu có hợp không? Nếu đeo hôm đấy?”
“À, tùy em thôi,” tôi nói và đưa tay lấy cốc Bloody Mary tu một hớp lớn để giấu nỗi ngạc nhiên và bực dọc.
“Vì là, ngọc lục bảo thì...” Cô so một chiếc lên tai, đánh mắt sang phía đó đăm chiêu. “Em thích lắm! Nhưng mà...” lại giơ lên nhìn nó lấp lánh trong ánh sáng tán xạ từ mấy ngọn đèn trên đầu “ngọc lục bảo không thật hợp với em. Em nghĩ là trông có vẻ hơi dừ, anh hiểu không? Cùng áo trắng? Màu da em nữa? Nước sông Nile à! Mẹ cũng không dùng được xanh lá cây.”
“Em coi sao cũng được.”
“Ồ, giờ thì anh cáu rồi.”
“Không, anh không cáu.”
“Có, anh cáu mà! Em làm anh phật lòng rồi!”
“Không, anh mệt mà thôi.”
“Tâm trạng anh đang có vẻ khá tệ.”
“Thôi nào Kitsey, anh mệt rồi.” Chúng tôi đã bỏ những cố gắng lay trời chuyển đất để săn tìm một căn hộ riêng cho hai đứa, một quá trình lắm bực bội mà cả hai đã chịu đựng chủ yếu với tinh thần vui vẻ, dù những sàn nhà trơ trụi và những căn phòng trống còn mang dấu vết bóng ma cuộc sống bị ruồng bỏ của những người khác đã làm dội lên (trong tôi) vô vàn dư âm khó chịu từ thời thơ ấu, những thùng giấy chuyển đồ và mùi bếp núc và những phòng ngủ chìm trong bóng tối, sự sống đã tắt lịm, nhưng còn hơn cả vậy, phập phồng bên dưới là một thứ tiếng ầm ì cơ khí ghê rợn mà (có vẻ như) chỉ mình tôi nghe thấy; những bóng ma với tiếng thở nặng nhọc, mà giọng người môi giới hớn hở vang âm giữa những bề mặt đánh bóng loáng khi họ vừa đi vừa bật khắp các đèn và ca tụng những món thiết bị bằng thép không gỉ chẳng thể nào xua đuổi được.
Mà vì sao phải thế? Đâu phải mỗi căn hộ chúng tôi đến xem đều đã bị rời bỏ sau một bi kịch như tôi hằng nghĩ. Việc tôi đánh hơi thấy ly dị, phá sản, ốm đau, chết chóc trong gần như mọi không gian ghé thăm rõ ràng chỉ là chứng hoang tưởng và hơn nữa, làm sao những phiền muộn của người thuê trước, dù là thật hay tưởng tượng, lại hại đến Kitsey hay tôi được?
“Đừng thoái chí,” Hobie nói (cũng như tôi, ông bị mẫn cảm quá mức với linh hồn của phòng ốc hay đồ vật, những luồng khí để lại sau thời gian). “Cứ coi đấy là một công việc được giao đi. Lục trong một hộp phụ kiện thừa thẹo. Cháu sẽ kiếm ra được trúng miếng cần thôi, miễn là nghiến răng tiếp tục tìm.”
Và ông nói đúng. Tôi đã giữ vững tinh thần từ đầu đến cuối, và cô cũng vậy, bền bỉ tiến từ đợt chào bán này sang đợt chào bán khác, trong những tòa nhà xây trước Thế chiến thứ hai u tối, đầy âm hồn những bà già Do Thái đơn côi, hoặc những con quái vật thủy tinh băng giá, khiến tôi biết mình sẽ không bao giờ sống nổi trong đó mà không tưởng như đang đứng trước vô số mũi súng bắn tỉa từ bên kia đường. Có ai nghĩ đi tìm nhà là việc chơi đâu.
So với đó, viễn cảnh đi cùng Kitsey lập danh sách quà mong muốn ở Tiffany ban đầu có vẻ sẽ là một việc đổi gió thú vị. Gặp gỡ người tư vấn, nhặt ra những gì mình thích, rồi tay trong tay lượn đi ăn bữa trưa Giáng sinh ư? Trái lại, và hoàn toàn không tính trước, tôi đã chao đảo tâm thần khi đi qua cửa hàng thuộc loại đông đúc nhất Manhattan trong một ngày thứ Sáu sát Giáng sinh: thang máy chật cứng, thang bộ cũng chật cứng, hàng đàn hàng lũ dân du lịch và người mua sắm quà cáp, chen lấn nhau đến năm sáu lớp bên các quầy trưng bày để mua đồng hồ đeo tay, khăn, túi xách, đồng hồ xách tay, sách dạy cung cách, cùng đủ thứ hàng vớ vẩn thừa thãi màu Xanh Trứng Sáo Của Tiffany. Chúng tôi lê chân quanh tầng năm hàng giờ liền, theo sát gót là một chuyên gia tư vấn đám cưới đang nai lưng uốn gối nhằm giúp chúng tôi có được Dịch Vụ Thượng Hảo Hạng và đề xuất những lựa chọn một cách tự tin đến mức tôi không thể không cảm thấy như bị theo dõi (“Mẫu vẽ sứ cần phải khiến cả hai người cảm thấy ‘đây chính là chúng mình, đây chính là chúng mình như một cặp uyên ương’... một lời tuyên bố quan trọng về phong cách của hai anh chị!”) trong khi Kitsey thì băn khoăn về phần trang trí: dải màu vàng nhé! không, màu lam! à khoan... cái ban đầu là gì nhỉ? bát giác có phải hơi quá đáng không? và cô nàng chuyên gia nhảy vào sốt sắng giải thích: hình kỷ hà thành thị... vân hoa lãng mạn... thanh tao phi thời gian... sặc sỡ cá tính... và dù tôi cứ nhắc đi nhắc lại ừ, cái đó hay lắm, cái đó cũng đẹp, em lấy cái nào anh cũng vui, em cứ chọn đi Kits, thì nàng chuyên gia không ngớt bày thêm hết cái này đến cái khác, rõ ràng mong có thể dụ dỗ tôi tỏ ra thiên vị hẳn về cái nào, và nhẫn nại giải thích từng điểm tinh tế của mỗi cái, điểm mạ vàng này, viền vẽ tay kia, cho đến khi tôi phải cắn vào lưỡi mới không thốt ra điều mình nghĩ: rằng có làm tài khéo mấy thì Kitsey có chọn mẫu x hay mẫu y cũng chẳng khác quái gì nhau cả, vì đối với tôi tất cả đều như nhau mà thôi: mới, thô kệch, 'một khối nặng chết chóc, chưa kể đến chi phí: tám trăm đô-la cho cái đĩa mới vừa ra lò hôm qua? Một cái đĩa? Có thể mua nguyên bộ đẹp tuyệt từ thế kỷ 18 với giá bằng một phần mấy thứ lấp lánh nhưng lạnh lẽo vừa nứt mắt này.
“Nhưng anh không thể nào thích tất cả mọi thứ tuyệt đối ngang nhau được! Và, vâng, đúng thế, tôi cứ quay lại mãi với kiểu Deco,” Kitsey quay sang cô nàng tiếp thị kiên nhẫn đeo đẳng, “nhưng thích lắm thì tôi cũng không nghĩ là nó thật hợp với chúng tôi,” rồi lại sang tôi: “Thế anh nghĩ sao?”
“Em muốn sao cũng được. Cái nào cũng ổn. Thật đấy,” tôi nói và thọc tay vào túi, nhìn đi chỗ khác khi thấy cô vẫn đứng đó kính cẩn chớp chớp mắt nhìn tôi.
“Trông anh có vẻ bức bối quá. Em mong anh nói anh thích gì.”
“Ừ, nhưng...” Tôi đã mở hộp quá nhiều đồ sứ từ những cuộc thanh lý sau một đám tang hay một gia đình tan vỡ, đến nỗi chỉ thấy cảm thương vô tận trước những giá bày hàng mới tinh khôi, lấp lánh, như một lời cam đoan ngầm rằng đồ bếp mới sáng bóng cũng hứa hẹn một tương lai không kém phần sáng bóng, không biết đến bi kịch.
“Sơn dương nhé? Hay là Chim sông Nile? Theo, anh nói đi, em biết anh phải thích một trong hai hơn chứ.”
“Cả hai đều là lựa chọn tối ưu. Cả hai đều thú vị, lạ mắt. Còn bộ này thì rất giản dị, để dùng hằng ngày,” cô tư vấn viên chêm vào trợ giúp, rõ ràng nghĩ giản dị là từ khóa để giải quyết các bậc chú rể đã cạn kiên nhẫn vì quá sức chịu đựng. “Hết sức giản dị, hết sức trung tính.” Có vẻ nguyên tắc của danh sách quà cưới là chú rể phải có quyền chọn bát ăn dùng hằng ngày (tôi nghĩ chắc là dùng trong bao nhiêu bữa tiệc xem siêu cúp bầu dục Super Bowl mà tôi sẽ tổ chức giữa cánh đàn ông với nhau, haha) còn các món “long trọng” thì phải dành cho chuyên gia: là các bà phụ nữ.
“Cái đó cũng được,” tôi nói gắt hơn ý muốn, khi nhận ra cả hai đang chờ tôi lên tiếng. Đồ đất nung trơn, trắng, hiện đại không phải là thứ bơm được quá nhiều hứng thú vào tôi, nhất là với cái giá bốn trăm đô-la một cái đĩa. Nó khiến tôi nghĩ đến những bà già dễ thương mặc đồ Marimekko mà thỉnh thoảng tôi tới thăm trong Ritz Tower: những bà góa giọng khàn khàn, đầu quấn khăn, đeo vòng tay hình con báo mong được chuyên tới Miami sống, trong những cán hộ đầy đồ đạc bằng kính mờ và thép mạ sáng loáng đã mua qua các công ty trang trí hồi những năm bảy mươi với giá ngang hàng nội thất Queen Anne[127] xịn, nhưng (trách nhiệm của tôi là phải thông báo với họ, một cách miễn cưỡng) không giữ được giá trị và nay bán lại còn không được giá bằng nửa số tiển họ bỏ ra ngày xưa.
“Đồ sứ…” Cô nàng tư vấn đưa ngón tay làm móng kiểu trung tính rà theo mép đĩa. “Tôi muốn các cặp vợ chồng đến gặp mình nghĩ về bạc đẹp, pha lê đẹp và đồ sứ như thế này...? Đấy là nghi lễ kết thúc ngày. Đấy là rượu vang, là vui vẻ, là gia đình, là bên nhau. Một bộ đồ sứ đẹp là cách tốt nhất để mang tới cuộc hôn nhân của anh chị một chút phong cách và lãng mạn vĩnh cửu.”
“Phải,” tôi đáp lại. Nhưng cái cảm xúc cô ta nói đến làm tôi khó chịu; và hai cốc Bloody Mary gọi ở Fred cũng chưa hoàn toàn giúp tôi nuốt trôi nó đi được.
Kitsey đang nhìn đôi khuyên tai, có vẻ còn nghi ngại. “Ừm, thế này nhé. Em sẽ đeo đôi này trong đám cưới. Nó rất đẹp, và em biết là của mẹ anh để lại.”
“Anh muốn em thích gì thì cứ đeo nấy.”
“Em sẽ cho anh biết em nghĩ gì.” Đùa cợt, cô đưa tay qua bàn nắm lấy tay tôi. “Em nghĩ anh nên đi ngủ.”
“Tất nhiên rồi,” tôi nói và áp bàn tay cô lên mặt mình, nhớ lại rằng mình đã hết sức may mắn.
II
MỌI CHUYỆN DIỄN RA RẤT NHANH. Chỉ sau hai tháng kể từ buổi tôi đến ăn ở nhà Barbour, Kitsey và tôi đã gặp gỡ gần như hằng ngày - những cuộc đi dạo dài, ăn tối (thỉnh thoảng là Match 65 hoặc Le Bilboquet, thỉnh thoảng ngồi trong bếp gặm bánh mì kẹp), nói chuyện về ngày xưa: về Andy, về những chủ nhật trời mưa bên bàn Cờ tỷ phú (“hai anh chơi ác không chịu được... cứ như là Shirley Temple đấu với Henry Ford và J. P. Morgan...”), về cái buổi tối cô khóc thút thít khi bị chúng tôi ép xem Hellboy chứ không phải Pocahontas, và những đêm đóng bộ muốn phát khùng - ít nhất là phát khùng với bọn con trai, khi phải ngồi lưng thẳng đơ ở Câu lạc bộ Du thuyền, uống Coca Cola pha chanh, còn ông Barbour thì dáo dác nhìn quanh phòng ăn tìm Amadeo, người phục vụ bàn ưa thích nhất, mà ông kiên quyết đòi giúp ông luyện thứ tiếng Tây Ban Nha dị hợm kiểu Xavier Cugat - bạn học ở trường những buổi liên hoan, lúc nào cũng có chuyện để nói, anh có nhớ cái này, anh có nhớ cái kia, có nhớ hồi chính mình... không phải như với Carole Lombard tất cả chỉ là rượu rồi lên giường và chẳng có gì để nói với nhau.
Không thể phủ nhận Kitsey và tôi cũng là hai kẻ rất khác nhau, nhưng cái đó không sao: suy cho cùng, như Hobie đã nhận xét rất có lý, chẳng phải hôn nhân luôn là sự hợp nhất của các mặt đối lập ư? Chẳng phải tôi cần mang những điều mới lạ đến cho cuộc đời cô và cô cũng thế? Và thêm nữa (tôi tự nhủ), chẳng phải đã đến lúc cần Bước Tiếp, Buông Tay, ngoảnh lưng lại với khu vườn đã khóa cửa cấm tôi vĩnh viễn? Sống Trong Hiện Tại, Tập Trung Vào Khoảnh Khắc chứ đừng sầu khổ tiếc thương điều mình sẽ không bao giờ có được? Hàng năm trời tôi tắm trong cái nhà kính của nỗi buồn hoài phí: Pippa Pippa Pippa, hoan hỉ chuyển qua tuyệt vọng, không có hồi kết, những sự việc hầu như chẳng có tí ý nghĩa gì cũng đủ khiến tôi lên tận mây xanh hoặc quẳng tôi xuống đáy sâu câm nín; tên cô trong điện thoại tôi, hoặc một bức email kết thư bằng “Yêu cậu nhiều” (mà Pippa kết như vậy trong mọi bức email, với bất kỳ người nào) sẽ khiến tôi lâng lâng cả mấy ngày trời, còn nếu khi gọi điện cho Hobie cô không yêu cầu chuyển máy gặp tôi (mà sao phải thế ?), tôi sẽ chìm dưới tầng tầng sầu não phi lý. Tôi chỉ lừa mị mình, và tôi biết vậy. Tệ hơn nữa: tình yêu của tôi dành cho Pippa bị khoắng dưới đáy sâu trộn lẫn với mẹ, với cái chết của mẹ, với việc đánh mất mẹ và không cách nào có lại. Nỗi khát khao mù lòa và ấu trĩ muốn cứu vớt và muốn được cứu vớt, muốn tua lại quá khứ khiến nó thay đổi đi, không hiểu vì sao đã đeo lấy cô ngấu nghiến. Trong việc đó có yếu tố bất ổn, như một cơn bệnh. Tôi nhìn thấy những điều không có thật. Tôi chẳng khác gì mấy so với một gã sống trong nhà di động, theo dõi từ xa một cô gái chỉ thoáng nhìn thấy trong cửa hàng. Bởi vì sự thực là: Pippa và tôi gặp nhau đâu chừng hai lần một năm; chúng tôi có email và nhắn tin nhưng không có gì đều đặn; khi nào cô về thăm thành phố, chúng tôi trao đổi sách và cùng nhau đi xem phim; chúng tôi là bạn bè và chấm hết. Hy vọng được bắt đầu một mối quan hệ với cô chỉ hoàn toàn là ảo tưởng, trong khi nỗi dằn vặt, thất vọng lâu dài thì lại là thực tế quá đớn đau. Chẳng lẽ lại lấy nỗi ám ảnh vô cớ, vô vọng và không hồi đáp ấy làm cơ sở cho suốt phẩn đời còn lại của mình?
Tôi đã quyết tâm một cách có ý thức là phải bứt ra. Điều ấy đã khiến tôi phải huy động từng giọt ý chí cuối cùng, như một con thú mắc bẫy tự cắn đứt chân để giải thoát. Và không hiểu sao tôi đã làm được; và ở bờ bên kia là Kitsey, đưa cặp mắt xám pha lá mạ thích thú nhìn tôi.
Chúng tôi ở bên nhau rất vui. Chúng tôi rất hợp. Đấy là mùa hè đầu tiên cô ở thành phố, “cả đời em, thật vậy” Ngôi nhà ở Maine khóa kỹ, chú Harry cùng mấy đứa em họ đã lên Canada tới quần đảo Madeleine “và ở đây với mẹ em thật chả biết phải làm gì nữa, và... ôi, xin anh đấy, hãy kiếm việc gì làm cùng em đi. Anh sẽ đi cùng em ra bãi biển cuối tuần này nhé, chịu không?” Vậy là vào các cuối tuần chúng tôi đến khu Đông Hampton, ở nhà mấy người bạn cô đang đi nghỉ hè ở Pháp, còn trong tuần chúng tôi hẹn gặp trong trung tâm sau khi tôi hết giờ làm, uống rượu vang hâm hẩm trong những quán cà phê vỉa hè, những chiều tối ở Tribeca vắng hoe với những vệ đường nóng như rang và gió nóng từ lưới sắt vỉa hè thổi bay tia lửa đầu điếu thuốc lá trên miệng tôi. Rạp phim thì lúc nào cũng mát rượi, hay phòng King Cole, hay Oyster Bar ở khách sạn Grand Central nữa. Hai buổi chiều mỗi tuần - đội mũ, đi găng, giày Jack Purcell và váy ngắn gọn gàng, trát từ đầu đến chân kem chống nắng y tế (vì cũng như Andy, cô bị dị ứng nắng), cô một mình lái chiếc Mini Cooper đen đi Shinnecock hay Maidstone, chiếc xe đã sửa phần đuôi đủ sức đựng một bộ gậy đánh gôn. Trái với Andy, cô nói chuyện huyên thuyên rối rít, bật cười ngượng ngùng trước câu đùa của chính mình, có phần phảng phất kiểu năng lượng tán loạn của ông bố nhưng không kèm theo lối bàng quan mỉa mai. Chỉ cần bôi phấn khắp mặt cô rồi vẽ nốt ruồi là cô sẽ biến thành một thị nữ ở Versailles, với cái làn da trắng và cặp má hồng ấy, cái miệng vui tươi liến thoắng ấy. Cô mặc váy suông lanh ngắn cũn, dù ở phố hay quê, thêm phụ kiện túi cá sấu kiểu cổ của Gaga, đính tên và địa chỉ vào mặt trong đôi giày Christian Louboutin cao đến giết người mà cô vẫn diễu khắp (“giày đau như đinh!”) phòng khi cần tuột giày ra nhảy nhót hay bơi và rồi quên mất để đâu: giày bạc, giày thêu, giày thắt nơ, giày mũi nhọn, mỗi đôi ngàn đô. (“Ky bo kẹt xỉ!” cô hét vọng xuống cầu thang, khi - ba giờ sáng, người mềm nhũn vì rum và Coca - cuối cùng tôi cũng loạng choạng đi xuống nhà vẫy taxi vì hôm sau phải làm việc.)
Chính là cô đã yêu cầu tôi cưới. Trên đường đi dự tiệc. Chanel số 19, váy thiên thanh. Chúng tôi vừa bước ra ngoài Đại lộ Công viên - cả hai đều hơi u mê sau mấy ly cocktail trên tầng - và đèn đường bật sáng đúng vào giây bước ra khỏi cửa, và cả hai dừng phắt lại nhìn nhau: là do chúng mình ư? Giây phút ấy buồn cười đến nỗi cả hai cùng phá ra cười như điên dại: cứ như là ánh sáng thoát ra từ chính chúng tôi, như là chúng tôi có thể cấp điện cho cả Đại lộ Công viên. Và khi Kitsey chộp lấy tay tôi mà hỏi: “Anh có biết em đang nghĩ chúng mình nên làm gì không, Theo?” thì tôi biết rõ cô định nói điều gì.
“Nên làm không?”
“Làm đi! Anh không thấy thế à? Em nghĩ là mẹ sẽ vui lắm đấy!”
Thậm chí còn chưa chốt ngày. Ngày cứ liên tục thay đổi, tùy xem nhà thờ có chỗ lúc nào, một vài nhân vật thiết yếu trong bữa tiệc rảnh rang ra sao, lại còn ai đó phải chạy đua giành cúp hay công việc đến hạn hay những cái gỉ cái gi cái gì đó nữa. Vì thế, làm sao mà đám cưới này hình như lại đang trên đà trở thành một vụ khá đình đám - danh sách khách mời đã kéo đến mấy trăm, tổn phí hàng mấy nghìn, phục trang và dàn dựng vũ điệu như một vở diễn trên Broadway, làm sao mà đám cưới này có vẻ lại đang nở ra thành nguyên một sự kiện như vậy, thì tôi cũng thực tình không hiểu. Tôi biết đôi khi bà mẹ cô dâu là thủ phạm trong những đám cưới mất kiểm soát, nhưng trường hợp này thì dù sao cũng không thể trách tội bà Barbour, người hầu như chỉ ở tịt trong phòng dính lấy giỏ đồ thêu, không bao giờ nghe điện thoại, không nhận lời mời đi đâu, và thậm chí còn chẳng ra ngoài cắt tóc nữa, trong khi ngày xưa bà có hẹn làm tóc cứ hai ngày một lần đều đặn, mười một giờ sáng trước khi đi ăn trưa.
“Mẹ sẽ thích mê đi mà xem!” Kitsey đã thì thầm và thúc khuỷu tay nhỏ nhọn hoắt vào sườn tôi khi cả hai hối hả chạy lại phòng bà Barbour. Và ký ức về niềm vui của bà Barbour khi nghe cái tin ấy (anh nói đi, Kitsey bảo thế, mẹ sẽ vui hơn nhiều nếu anh là người nói ra) là một khoảnh khắc tôi đã tua đi tua lại trong đầu không biết chán: ánh mắt bất ngờ, rồi niềm vui nở bừng không che giấu trên khuôn mặt lạnh lùng mệt mỏi. Một tay bà chìa cho tôi, tay kia cho Kitsey, nhưng nụ cười tuyệt đẹp - mà tôi sẽ mãi mãi không quên - thì dành cho tôi trọn vẹn.
Ai từng biết tôi lại có sức mạnh làm cho người khác vui mừng đến vậy? Hoặc chính tôi cũng có thể vui mừng đến thế? Tâm trạng tôi là một cái ná bắn thun; sau khi bị nhốt kín, đánh thuốc ngủ hàng năm trời, thì nay trái tim tôi đang bay vèo vèo cuống quýt như một chú ong trong cốc, cái gì cũng sáng rỡ, rõ nét, bối rối, sai lầm - nhưng đấy là một nỗi đau sắc ngọt, trái ngược với cảnh khổ sở lầm lũi đã đeo đẳng lấy tôi hàng năm trời dưới tác dụng của thuốc, như một chiếc răng sâu, một cơn nhức nhối âm ỉ khó chịu như một vật lấm bẩn. Sự sáng rõ là một niềm vui lớn, như thể tôi vừa gỡ cặp kính bị nhòe xước khiến mọi thứ trước mắt đều mù mờ. Suốt mùa hè tôi đã gần như mê muội: rung rinh, váng vất, ngập tràn năng lượng, năng lượng lấy từ rượu gin và tôm bóc nõn và tiếng bụp say người khi vợt đập vào bóng. Và trong đầu chỉ rộn ràng một chữ Kitsey, Kitsey, Kitsey!
Và bốn tháng đã trôi qua, đã đến tháng Mười hai, những sáng mát lạnh và âm hưởng Giáng sinh trong không khí, còn Kitsey và tôi đã đính hôn để chuẩn bị cưới và tôi may mắn chừng nào? Nhưng dù tất cả đều hoàn hảo, toàn những trái tim và hoa, như đoạn kết một vở nhạc kịch có hậu, tôi chợt thấy phát ớn. Vì những lý do không tên nào đó mà luồng năng lượng đã nhấc bổng tôi lên, đưa tôi qua khắp mùa hè nay lại bỏ tôi rơi đánh bịch khi vào tháng Mười, vào giữa cơn mưa phùn buồn thảm có vẻ như kéo dài vô tận về mọi hướng: chỉ trừ vài ngoại lệ cực ít ỏi (Kitsey, Hobie, bà Barbour), tôi ghét phải giao tiếp với mọi người, không thể chú ý đến bất ký điều gì ai đang nói, không nói chuyện được với khách hàng, không gắn nhãn được cho các món đồ bán, không đi nổi trên tàu điện ngầm, mọi hoạt động của con người đều dường như vô giá trị, không lý giải nổi, như một gò kiến nhung nhúc đen đặc giữa chốn hoang dã, khắp bốn phía đều không có lấy một đốm sáng, những loại thuốc chống trầm cảm ngoan ngoãn uống tám tuần nay cũng chẳng giúp được gì, và cả những loại trước đó cũng vậy (nhưng tôi đã thử từng loại một mà; rõ ràng tôi thuộc số 20% bất hạnh không được tưởng thưởng bằng đồng cỏ xuân bươm bướm bay mà bằng Đau Đầu Dữ Dội và Ý Muốn Tự Sát); và dù đôi khi, bóng tối hé màn vừa đủ cho tôi hình dung bối cảnh xung quanh, những dáng hình quen thuộc chợt rõ nét giống như đồ đạc trong phòng ngủ khi rạng sáng, nhưng nỗi mừng rỡ ấy bao giờ cũng chỉ là tạm thời, chẳng hiểu sao buổi sáng chói chang không bao giờ đến, bao giờ mọi thứ cũng tắt phụt trước khi tôi kịp định vị mình, và lại thấy mình ở đó, mực đen đổ ụp vào mặt, chới với sờ soạng giữa bóng tối.
Tại vì sao lại có cảm giác lạc lối đến như vậy thì tôi cũng không biết nữa. Tôi biết mình vẫn chưa quên được Pippa, và hẳn sẽ không bao giờ quên cô; đó là một việc tôi sẽ phải tìm cách sống chung, nỗi buồn khi yêu một kẻ không tài nào với tới; nhưng tôi cũng biết khó khăn trước mắt cấp thiết hơn là làm sao bắt kịp một nhịp điệu giao tiếp xã hội tăng vọt rất khó chịu (ít nhất là đối với tôi). Kitsey và tôi không còn được hưởng những tối tay đôi nhẹ nhõm khỏe khoắn, chỉ có hai người nắm tay nhau ngồi cùng một phía bàn trong nhà hàng lim dim đèn nữa. Thay vào đó, hầu như tối nào cũng là tiệc chiêu đãi, các bàn chật ních trong nhà hàng cùng bạn bè cô, nỗi căng thẳng khiến cho tôi (nhấp nhổm vì thiếu thuốc, tan nát từng sợi thần kinh) rất khó biểu lộ vẻ hào hứng cần có, nhất là khi đang mệt phờ sau giờ làm và rồi đến những việc chuẩn bị cho đám cưới, cả nghìn cả triệu chi tiết lặt vặt mà tôi phải tìm cách thể hiện mình cũng nhiệt tình như cô, một cơn bão màu giấy lót những tờ quảng cáo và hàng hóa. Đối vớì cô nó đã trở thành một công việc toàn thời gian: đi xem những hàng văn phòng phẩm và hoa, tìm hiểu về phòng tiệc và dịch vụ nấu tiệc, thu thập hàng thước mẫu vải và hàng hộp bánh ngọt con tí cùng mẫu bánh ga tô lớn, băn khoăn rồi liên tục tham vấn tôi về những sắc ngà hay oải hương gần hệt như nhau trên bảng màu, thiết kế một loạt buổi ngủ đêm “giữa con gái với nhau” cùng các cô phù dâu và một “cuối tuần cho các chàng trai” cho tôi (do Platt tổ chức?? ít nhất tôi cũng có thể tin tưởng là sẽ được say mèm từ đầu chí cuối), sau đó lại còn kế hoạch đi trăng mật, từng chồng sách giới thiệu giấy bóng (Fiji hay Nantucket? Mykonos hay Capri?). “Tuyệt vời,” tôi cứ nhắc đi nhắc lại bằng cái giọng hồn hậu dành riêng cho Kitsey mới có, “trông cái nào cũng tuyệt lắm,” mặc dù xét theo quan hệ giữa gia đình cô với các nước trong lịch sử, tôi thấy thật kỳ là cô lại không để mắt tới Vienna, hay Paris, hay Praha, hay bất kỳ chỗ nào cũng được miễn không phải một hòn đảo bé tí chìm nghỉm giữa lòng đại dương.
Nhưng chưa bao giờ tôi an tâm về tương lai như bây giờ, và mỗi lần nhắc mình nhớ lại con đường đúng đắn đã chọn, một việc tôi có dịp làm thường xuyên, thì tôi không chỉ nghĩ đến Kitsey mà thôi, mà tới cả bà Barbour; niềm hân hoan của bà đã là nguồn trấn an và nuôi dưỡng trái tim tôi, ngập tràn những ngóc ngách đã bấy lâu khô cạn. Tin đính hôn của hai chúng tôi đã làm bà hân hoan, tỉnh táo lên trông thấy; bà bắt đầu trở dậy đi quanh căn hộ, đã điểm trang bằng một chút môi hồng rất nhạt, và ngay cả những trao đổi thông thường với tôi cũng nhuốm một ánh sáng điều hòa, yên ổn, an lành khiến không gian quanh chúng tôi dường như rộng thêm ra, êm đềm soi tỏ những góc khuất tối tăm nhất trong lòng tôi.
“Bác chưa bao giờ nghĩ mình lại có thể vui đến mức này được nữa,” một đêm bà đã khẽ khàng thổ lộ, trong bữa tối, khi Kitsey bỗng dưng nhảy bật lên chạy ra ngoài lấy điện thoại như cô vẫn hay làm thế, chỉ còn có hai chúng tôi bên bàn đánh bài trong phòng bà, ngượng nghịu đẩy đẩy mấy miếng măng tây và cá hồi nướng. “ Vì - lúc nào cháu cũng thật tốt với Andy - nâng đỡ nó, bồi đắp lòng tự tin cho nó. Nó đã phô ra những mặt tốt nhất khi ở bên cháu, lúc nào cũng vậy. Và - bác thật mừng rằng cháu sẽ trở thành một phần chính thức của gia đình, rằng bây giờ chúng ta sẽ khẳng định nó bằng pháp lý, bởi vì - ôi, chắc là bác không nên nói điều đó đâu, và hy vọng cháu bỏ qua cho bác được nói ra lời từ đáy lòng trong một lúc, nhưng lúc nào bác cũng coi cháu như là con của chính mình, cháu biết không? Kể từ khi cháu còn nhỏ cũng vậy.”
Lời này khiến tôi ngỡ ngàng và cảm động đến mức chỉ có thể đáp lại rất vụng về, lắp bắp, bối rối khiến bà động lòng thương, chuyển câu chuyện sang hướng khác. Nhưng mỗi lần nhớ lại, tôi lại tràn ngập cảm giác ấm áp soi sáng cõi lòng. Một hồi ức cũng khoái chí (dù hơi nhỏ mọn) không kém là quãng lặng ngắn và kinh ngạc của Pippa khi tôi báo tin cho cô trên điện thoại. Hết lần này đến lần khác tôi đã tua lại quãng lặng ấy trong đầu, nhấm nháp cái im lặng sững người của cô: “Hả?” Rồi tỉnh lại: “Ôi, Theo, thật tuyệt vời quá! Tớ rất nóng lòng được gặp cô ấy!”
“Ôi, cô ấy là một người hoàn hảo” tôi nhận xét đầy nọc độc. “Tớ đã yêu cô ấy kể từ khi chúng tớ còn bé xíu.”
Mà, một điều tôi vẫn còn tiếp tục nhận ra bằng đủ cách khác nhau, đấy hoàn toàn là sự thật. Sự giao nhau giữa quá khứ và hiện tại trở nên đậm màu sắc dục: tôi khoái thú vô kể khi nhớ lại nỗi khinh miệt mà Kitsey lên chín dành cho tôi, con mọt sách tuổi mười ba (đảo tròn mắt và bĩu môi mỗi lần bị xếp cạnh tôi giờ ăn tối). Và tôi còn khoái trá hơn nữa vẻ choáng váng không che giấu của những ai đã biết chúng tôi hồi nhỏ: mày? Và Kitsey Barbour á? Thật hả? Cô đó? Tôi khoái cái niềm vui và sự ác ý trong chuyện đó, cái cơ hồ bất khả: chuồi vào phòng cô sau khi mẹ đã ngủ - chính căn phòng cô từng khóa trái ngăn tôi hồi còn nhỏ, vẫn giấy dán tường hồng ấy, chưa hề thay đổi từ thời Andy còn sống, những tấm biển vẽ tay - Ở NGOÀI, ĐỪNG LÀM PHIỀN - tôi đẩy cô vào, Kitsey đóng cửa sau lưng cả hai, đưa ngón tay lên miệng tôi, vẽ một đường theo môi tôi, cái lần đầu tuyệt diệu cùng ngã xuống giường cô, mẹ ngủ đấy, suỵt!!
Mỗi ngày tôi đều có vô số dịp nhắc nhở mình là người may mắn đến mức nào. Kitsey không bao giờ mệt mỏi; Kitsey không bao giờ âu sầu. Cô mời gọi, nhiệt huyết, tràn đầy âu yếm. Cô đẹp, vẻ đẹp sáng ngời và trắng như sữa khiến người người trên phố đều ngơ ngẩn. Tôi thán phục thấy cô giỏi chuyện trò đến thế, rất tích cực trong thế giới, rất thú vị và tự nhiên “cô bé đầu trên mây!” như Hobie gọi, trìu mến vô kể, cô quả là một ngụm khí lành! Ai cũng yêu cô. Và bất kể chứng phù phiếm dễ lây của cô, tôi biết đấy chỉ là một điều mắc mứu nhỏ, cái điều rằng Kitsey có vẻ không bao giờ thật xúc động vì thứ gì. Ngay cả cô nàng Carole Lombard cũng từng trào nước mắt vì những chàng bạn trai cũ hay những chó mèo bị hành hạ trên bản tin, hay khi một số quán bar kiểu cũ bị đóng cửa ở Chicago, nơi xuất thân của cô ả. Nhưng hình như không có thứ gì khiến Kitsey thấy đặc biệt bức thiết, cảm động hay thậm chí là đáng ngạc nhiên. Về chuyện đó thì cô giống hệt mẹ và anh trai mình, nhưng không hiểu sao sự dè dặt của bà Barbour hay Andy vẫn có gì rất khác với kiểu Kitsey buông những nhận xét đùa bỡn hay cười cợt bất kể khi nào ai nêu ra đề tài gì nghiêm trọng. (“Chán phèo,” tôi đã từng nghe cô thở dài nửa nhạo cợt và nhăn mũi khi có người hỏi thăm bà mẹ.) Thêm nữa - và chỉ cần nghĩ đến đã đủ khiến tôi váng đầu khó chịu - tôi cứ dõi tìm một dấu hiệu buồn thương nào về chuyện Andy hay ông bố, và dần dà đã bắt đầu hoang mang khi không tìm ra. Vậy cái chết của họ chẳng hề chạm tới cô chút nào ư? Chẳng phải đáng ra chúng tôi ít nhất thì cũng bàn đến chuyện ấy một lúc nào đó? Một mặt, tôi cảm phục sự dũng cảm của cô: ngẩng cao đầu sống tiếp khi đối diện với thảm kịch, hoặc đại loại vậy. Có thể chỉ là cô cực kỳ kín đáo, cực kỳ giấu mình, giỏi bày ra tấm mặt nạ cự phách. Nhưng vũng nước nông lấp lánh ấy, thoạt nhìn thì thật mời mọc, lại không hề thoải dần thành đáy sâu, khiến đôi khi tôi có cảm giác rất ức chế là đang bì bõm lội trong khoảng nước ngập đến gối, chỉ mong bước hụt, rơi vào một quãng đủ sâu để có thể bơi.
Kitsey đang đập nhẹ vào cổ tay tôi. “Sao thế?”
“Barneys. Ý em là chúng mình đã ở đây rồi? Có lẽ nên dạo qua cánh Nội thất nữa? Em biết là mẹ sẽ không thích chúng mình lập danh sách quà ở đây, nhưng cũng hay nếu chuyển sang cái gì đó bớt truyền thống một chút để dùng hằng ngày.”
“Không...” Tôi lấy cốc của mình và nuốt cạn “anh rất cần phải xuống trung tâm, nếu em không phiền. Có hẹn với khách.”
“Thế tối nay anh có lên bắc không?” Kitsey thuê chung căn hộ khu 70 Đông với hai người khác, không xa văn phòng tổ chức nghệ thuật mà cô làm việc.
“Không biết nữa. Có thể còn phải ăn tối. Nếu được anh sẽ kiếm cách chuồn.”
“Cocktail thì sao? Làm ơn? Hay ít nhất thì đi uống sau bữa tối cũng được? Mọi người sẽ buồn lắm nếu anh không xuẩt hiện ít nhất là một tí xíu. Charles và Bette…”
“Anh sẽ cố. Hứa đấy. Đừng quên cái kia,” Tôi nói và hất đầu về phía đôi khuyên tai, vẫn còn nằm trên khăn trải bàn.
“Ôi, không! Tất nhiên là không rồi!” Cô ăn năn nói và chộp lấy, ném vào trong túi như một nắm tiền lẻ.
III
KHI CHÚNG TÔI RA NGOÀI hòa vào dòng ngưởi sắm Giáng sinh, tôi thấy chông chênh và buồn bực; những tòa nhà thắt ruy-băng, những cửa sổ lấp lánh chỉ càng làm nỗi buồn đè trĩu thêm nặng nề: trời mùa đông tối thẫm, những vực thẳm xám toàn lông thú và nữ trang cùng tất cả quyền uy và sầu bi của tiền bạc.
Mình gặp chuyện gì thế này? tôi nghĩ, trong khi Kitsey và tôi ngang qua Đại lộ Madison, cái áo khoác Prada hồng nhấp nhô rực rỡ giữa dòng người. Sao mình phải ấm ức với Kitsey chỉ vì cô không có vẻ bị ám ảnh với Andy và bố, vì cô đang tìm cách sống tiếp cuộc sống của mình?
Nhưng, nắm lấy khuỷu tay Kitsey và được thưởng một nụ cười rạng rỡ, tôi lại nhất thời được nhẹ mình, tạm quên những nỗi lo âu. Đã tám tháng kể từ ngày tôi bỏ lại Reeve trong cái nhà hàng Tribeca ấy; vẫn chưa thấy ai liên lạc lại vì một trong những món đồ giả từng bán, dù tôi sẵn lòng nhận lỗi khi nào họ gọi: thiếu kinh nghiệm, mới vào nghề, tiền của ngài đây ạ, xin nhận lời tạ lỗi chân thành của tôi. Hằng đêm thức trắng, tôi an ủi mình rằng nếu tình hình có chuyển xấu thì ít ra tôi cũng không để lại dấu vết: tôi đã cố càng ít giấy tờ các vụ mua bán này càng tốt, những món nhỏ hơn còn đề nghị giảm giá nếu trả tiền mặt.
Tuy nhiên. Tuy nhiên. Đây chỉ là vấn đề thời gian. Chỉ cần một người xuất hiện, sẽ gây ra cả một trận núi lửa. Và phá tan tành danh tiếng của Hobie là một chuyện, nhưng chừng nào số người đòi hoàn đổi nhiều đến mức tôi không còn đủ tiền trả lại cho họ nữa, thì sẽ có kiện tụng: và khi kiện tụng thì Hobie, với tư cách đồng chủ nhân cửa hiệu, sẽ bị bêu tên. Thật khó mà thuyết phục tòa án rằng ông không biết những việc tôi làm, nhất là một số món tôi đã bán với giá Di Sản Mỹ và nếu chuyện đó xảy ra, tôi còn không nghĩ rằng Hobie sẽ thiết tha tự bào chữa cho mình, nếu như việc đó sẽ khiến tôi đơn độc. Tất nhiên, rất nhiều trong số những kẻ mua hàng của tôi thừa mứa tiền đến mức chẳng thèm để ý. Tuy nhiên. Tuy nhiên. Khi nào sẽ đến lúc có kẻ nghĩ ra phải ngó xuống mặt dưới mấy cái ghế ăn Heppelwhite (chẳng hạn) rồi phát hiện ra chúng không hoàn toàn như nhau? Rằng vân gỗ không khớp, rằng bốn chân không giống? Hay đưa một cái bàn đi thẩm định độc lập và phát hiện ra loại ván lạng ấy không được dùng, thậm chí còn chưa được phát minh ra, vào thập niên 1770? Mỗi ngày tôi lại tưởng tượng xem vụ lừa đảo đầu tiên bị phát hiện sẽ là bao giờ, và ra sao: thư của một tay luật sư, điện thoại của ban Nội thất Hoa Kỳ nhà Sotheby, một chuyên gia trang trí nội thất hay một nhà sưu tầm lao sầm vào cửa hiệu buộc tội, Hobie đi xuống xưởng, nghe này, chúng ta có vấn đề rồi, cháu có rảnh không?
Nếu những tin tức đủ sức phá nát hôn nhân này phát lộ trước đám cưới, thì tôi không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Điều ấy quá sức tôi nghĩ đến. Rốt cuộc có thể sẽ chẳng có đám cưới nào. Nhưng, vì Kitsey và vì bà mẹ - có vẻ nếu thông tin đến sau đám cưới thì sẽ còn tàn nhẫn hơn, nhất là vì nay nhà Barbour chẳng còn được dư dả như hồi ông Barbour còn sống. Dòng tiền bị mắc ở vài chỗ nào đó. Tiền bị giam trong các quỹ ủy thác. Mẹ đã phải giảm giờ cho một số kẻ ăn người làm, số còn lại cho nghỉ hẳn. Còn bố, như Platt tiết lộ khi tìm cách lôi kéo tôi chú ý đến những món đồ cổ khác trong căn hộ - dạo cuối đời đã phát rồ và đem đầu tư hơn 50% lượng cổ phiếu nắm giữ vào VistaBank, một con quái vật nhà băng thương mại, vì “những lý do tình cảm” (cụ năm đời của ông Barbour từng làm giám đốc một trong mấy ngân hàng gốc từ hồi xửa xưa, ở Massachusetts, đã từ lâu mất tên sau khi sáp nhập vào Vista). Không may thay, Vista đã ngừng chia cổ tức, và đóng cửa chỉ ít lâu sau khi ông mất. Vì thế mà bà Barbour đã giảm hẳn lượng đóng góp cho các quỹ từ thiện mà xưa kia bà từng quá hào hiệp, vì thế mà Kitsey phải đi làm. Và vị trí biên tập ở nhà xuất bản xinh xẻo có gu của Platt, như anh ta vẫn thường nhắc lại với tôi khi đã mềm môi, lương còn thấp hơn mẹ từng trả cho người làm ngày xưa. Nếu tình hình chuyển xấu, tôi tin chắc bà Barbour sẽ làm mọi cách giúp đỡ, còn Kitsey, là vợ tôi, sẽ bắt buộc phải giúp dù muốn hay không. Nhưng chơi xấu họ như vậy thì quá bẩn, nhất là vì những lời tán tụng tưng bừng của Hobie đã khiến tất cả tin chắc (nhất là Platt, người này phải lo xoay xỏa với năng lực chi tiêu ngày càng hẻo của gia đình) rằng tôi là một thứ thầy phù thủy tài chính đã giáng trần để cứu giúp cô em. “Cậu biết cách kiếm tiền,” anh ta đã nói thẳng toẹt khi cho tôi biết tất cả đều sướng tỉnh người khi Kitsey quyết định lấy tôi chứ không phải một trong mấy gã vẫn lượn lờ tán tỉnh quanh cô. “Còn nó thì không.”
Nhưng điều làm tôi lo lắng nhất là Lucius Reeve. Dù vẫn không thấy ỏ ê gì về cái tủ hai tầng, nhưng tôi bắt đầu nhận được, từ mùa hè, một chuỗi thư rất đáng lo ngại: viết tay, không chữ ký, trên thiếp viết thư viền xanh in tên ông ta trên cùng bằng kiểu chữ như khắc đồng: Lucius Reeve
Đã gần ba tháng kể từ khi tôi đưa ra một lời đề nghị có lý và công bằng xét theo mọi chuẩn mực. Làm sao anh lại có thể thấy đề nghị ấy là không hợp lý?
Và tiếp đó:
Lại thêm tám tuần nữa trôi qua. Chắc anh hiểu nỗi khó xử của tôi. Sự bực dọc càng lúc càng lớn.
Và rồi ba tuần nữa, đúng một dòng:
Sự im lặng của anh thật không chấp nhận được.
Những lá thư làm tôi khốn khổ, dù cố tìm cách xóa chúng ra khỏi tâm trí. Mỗi khi nhớ đến chúng, thường xuyên và không báo trước, giữa giờ ăn, khi đang đưa nĩa lên môi, tôi lại cảm giác như vừa bị tát cho tỉnh mộng. Tôi hoài công nhắc nhở mình rằng những tuyên bố của Reeve trong nhà hàng thật quá mức lạc đích. Đáp lại ông ta dù cách nào cũng là ngớ ngẩn. Chỉ có một cách là tảng lờ, như với một gã ãn mày dai dẳng trên đường.
Nhưng rồi liền một lúc xảy ra hai sự việc đáng ngại. Tôi vừa lên nhà hỏi Hobie có muốn ra ngoài ăn trưa không - “Được, đợi một chút,” ông nói; ông đang xem thư bên cái tủ búp phê, kính đung đưa chóp mũi. “Hừm,” ông nói và xoay ngược một phong bì xem mặt trước. Ông mở ra, nhìn tấm thiếp bên trong, giơ lên thật xa để nhìn nó qua đằng trên kính, rồi lại kéo sát mắt.
“Xem này,” ông nói. Ông đưa thiếp cho tôi. “Chuyện này là chuyện gì thế?”
Trên tấm thiếp là nét chữ đã quá quen thuộc của Reeve, chỉ đúng hai câu: không mào đầu, không chữ ký.
Đến lúc nào thì có thể coi sự chậm trễ này là vô lý? Bao giờ chúng ta mới có thể tiến tới về việc tôi đã đề xuất với cộng sự trẻ của ông, vì rõ ràng cả hai người đều chẳng được lợi ích gì khi tiếp tục thế giằng co này?
“Ôi giời ơi,” tôi đặt tấm thiếp xuống bàn rồi ngoảnh đi. “Cha mẹ trời đất.”
“Sao?”
“Ông ta đấy. Có cái tủ hai tầng ấy.”
“À, người đó,” Hobie nói. Ông chỉnh kính, lặng lẽ nhìn tôi. “Cuối cùng thì ông ta có rút tiền từ cái séc đó không?”
Tôi cào tay lên tóc. “Không.”
“Thế cái đề xuất này là sao? Ông ta nói chuyện gì vậy?”
“Cái này...” Tôi đi ra vòi nước lấy một cốc, đây là mẹo từ xưa của bố khi nào ông cần một giây trấn tĩnh lại “cháu không muốn làm phiền bác, nhưng gã này gần đây đã trở nên phiền toái ghê gớm. Dạo này cháu chỉ vứt thư đi không mở ra. Nếu bác còn thấy thư của ông ta thì cháu nghĩ tốt nhất bác cứ quẳng vào thùng rác.”
“Ông ta muốn gì?”
“ Ờ… ” Vòi nước rất ầm, tôi lấy đầy cốc, “à.” Tôi quay lại, lau tay qua trán. “Điên rồ lắm. Cháu đã viết séc để mua lại món đó, như có kể với bác. Nhiều hơn cả số tiền ông ta trả.”
“Thế còn vấn đề gì?”
“À...” Tôi nuốt ực một ngụm “tiếc thay ông ta còn đang mơ tưởng chuyện khác. Ông ta nghĩ rằng, ờm, chúng ta đang mở cả một dây chuyền sản xuất ở đây, và đang muốn dự phần vào đó. Bác hiểu không, thay vì đem séc của cháu ra ngân hàng? ông ta lại kiếm được một bà già nào đó, hộ lý trực từ sáng đến tối, và ông ta muốn chúng ta dùng căn hộ của bà kia để, ờm...”
Hobie nhướng cao mày. “Cắm à?”
“Vâng,” tôi đáp và mừng vì ông lại là người nói ra chữ đó. “Cắm” là một mánh trong đó hàng giả hay thứ cấp được cài vào các nhà riêng, thường là của người cao tuổi, để bán cho những tay kền kền đang bâu quanh giường hấp hối: những quân ăn bám quá háo hức muốn lột bà già chụp ống oxy đến nỗi không nhận ra chính mình mới là kẻ đang bị lột. “Lúc cháu định trả lại tiền cho ông ta, thì ông ta đề xuất như vậy. Chúng ta cấp hàng. Chia 50-50. Và ông ta cứ lằng nhằng mãi từ hồi đó đến giờ.”
Hobie ngớ ra. “Thế thì lố bịch quá.”
“Vâng…” Nhắm mắt, bóp mũi “nhưng ông ta dai lắm. Vì thế cháu mới nghĩ bác nên...”
“Bà này là ai?”
“Một bà, người thân cao tuổi gì đấy, ai chả thế.”
“Tên bà ta là gì?”
Tôi áp cốc nước lên thái dương. “Chịu.”
“Ở đây à? Trong thành phố à?”
“Cháu đoán thế.” Tôi không ưa phương hướng hỏi han này lắm. “Dù sao thì, bác cứ vứt đi là xong. Cháu xin lỗi không báo sớm hơn nhưng thực tình cháu không muốn làm bác lo lắng. Ta cứ lờ đi là ông ta sẽ chán thôi.”
Hobie nhìn tấm thiếp, rồi nhìn tôi. “Bác sẽ giữ cái này. Không,” ông sắc giọng khi tôi tìm cách ngắt lời, “thế này là quá đủ để mang đến cảnh sát nếu đến lúc. Bác không lo về cái tủ - không, không,” ông nói và giơ tay chặn tôi lại, “thế này không được đâu, cháu thì tìm cách sửa sai mà ông ta lại định tìm cách ép cháu vào việc phạm pháp. Chuyện này diễn ra được bao lâu rồi?”
“Cháu cũng chẳng biết. Vài tháng gì đó?” tôi nói khi ông vẫn nhìn tôi.
“Reeve.” Ông nhìn tấm thiếp, mày nhăn cả lại. “Để bác hỏi Moira.” Moira là tên bà DeFrees. “Nếu ông ta lại viết thì bảo bác.”
“Tất nhiên rồi.”
Tôi còn không dám nghĩ xem sẽ có chuyện gì xảy ra nếu nhỡ may bà DeFrees lại quen Lucius Reeve, hay là biết ông ta, nhưng may thay mặt trận đó không đưa lại thêm lời tiếng nào nữa. Quả thật chỉ là do may mắn mà lá thư gửi cho Hobie mới có lời lẽ mập mờ như vậy. Nhưng ý đe dọa bên trong thì quá rõ. Thật ngớ ngẩn nếu đi lo âu rằng Reeve sẽ làm theo ý đó và đi cầu viện luật pháp, bởi tôi không ngừng nhắc nhở mình, cơ may duy nhất để ông ta chạm được vào bức tranh, là tôi vẫn còn được tự do đi lấy nó.
Thế nhưng, kỳ quái sao, điều này lại chỉ càng khiến tôi khao khát được mang nó về sát bên mình, ngắm nghía nó bất cứ khi nào tôi muốn. Dù biết chuyện này là bất khả, tôi vẫn nghĩ về nó không ngừng. Có ngoảnh đi đâu, có cùng Kitsey tới thăm căn hộ nào, tôi cũng nhìn ra ngay những nơi có khả năng giấu nó: tủ chạn cao, lò sưởi giả, những xà nhà rộng phải bắc thang cao mới leo tới, ván sàn dễ dàng nậy lên. Hằng đêm tôi nằm nhìn bóng đêm, mơ tưởng một cái tủ ly chế tạo riêng, chống lửa, để cất nó đi an toàn kín kẽ, hoặc ảo tưởng hơn nữa, một căn buồng bí mật như kiểu Yêu Râu Xanh, môi trường điều hòa, khóa số ở ngoài.
Của tôi, của tôi. Sợ hãi, tôn sùng, giấu giếm. Nỗi mừng vui và kinh hoảng của kẻ ôm niềm đam mê bệnh hoạn. Tôi tải những bức hình chụp nó về máy tính và điện thoại, dù biết rõ làm vậy là điên rồ, để thỏa thuê ngắm nghía nó khi ở riêng, những nét bút số hóa, mảnh nắng trời thế kỷ 17 bị nén thành những chấm và điểm, nhưng màu sắc càng trong trẻo, ấn tượng về nét vẽ nổi gờ càng phong phú, thì tôi càng khao khát được chạm tay vào nguyên bản, vào vật thực tắm trong ánh nắng, huy hoàng, không gì thay thế được.
Môi trường sạch bụi. An ninh 24/24. Dù cố không nghĩ đến lão già người Áo đã nhốt người phụ nữ trong hầm suốt hai mươi năm[128], nhưng hại thay đấy lại chính là cách ví von thường xuyên xuất hiện trong đầu nhất. Nhỡ tôi chết đi? Bị xe buýt tông chẳng hạn? Liệu cái bọc gói xấu xí có bị tưởng là rác và vứt vào lò thiêu? Ba bốn lần, tôi đã gọi điện nặc danh đến nơi bảo quản để trấn an mình về một điều đã biết sau cả tá lần lo lắng xem đi xem lại website: nhiệt độ và độ ẩm được bảo đảm là trong ngưỡng an toàn cho việc bảo quản tác phẩm nghệ thuật. Đôi khi tỉnh giấc, tôi cảm giác toàn bộ chuyện ấy chỉ là một giấc mơ, dù chỉ nháy mắt sau đã nhớ ra không phải vậy.
Nhưng không thể dù chỉ nghĩ đến chuyện đi lên đó, khi Reeve đang rình như một con mèo chực đợi tôi chạy qua phòng. Tôi phải ngồi thật yên. Không may thay, tiền thuê ngăn tủ chỉ ba tháng nữa là đến hạn, và giữa mọi chuyện bận bịu khác tôi thấy không việc gì phải đích thân đến trả tiền. Ý định là để cho Grisha hay một anh nào đó khác tới trả thay, bằng tiền mặt, và tôi tin tưởng họ sẽ làm mà không thắc mắc gì. Nhưng tới lúc đó, chuyện không may thứ hai xảy ra: vì mới vừa mấy ngày trước Grisha đã làm tôi choáng váng khi xích lại gần, đầu hơi giật sang bên, khi tôi có một mình trong cửa hiệu đang tính hóa đơn trong tuần: “Mazhor, quấy quả cậu chút ít.”
“Vâng?”
“Cậu sạch tay chứ?”
“Gì cơ?” Trộn lẫn tiếng Do Thái gốc Đức với tiếng Nga đầu đường xó chợ, nhào cùng đặc ngữ Brooklyn và tiếng lóng học từ nhạc rap, thỉnh thoảng ngôn ngữ của Grisha tạo thành một thứ tiếng Anh tôi không hiểu nổi.
Grisha khịt mũi ầm ĩ. “Tôi nghĩ là cậu không hiểu ý tôi, cu ạ. Tôi đang muốn hỏi là tình hình của cậu vẫn trơn chứ. Với pháp luật ấy.”
“Đợi chút,” Tôi nói - đang dở một cột số liệu, rồi nhìn lên khỏi máy tính: “Mà anh đang nói cái gì thế?”
“Cậu, anh em tôi, tôi không kết tội, không phán xét. Chỉ hỏi cho biết thôi, hiểu chưa?”
“Sao thế? Có gì thế?”
“Có người lượn quanh cửa hiệu, để mắt nhìn. Cậu biết lý do gì không?”
“Ai?” Tôi liếc ra ngoài cửa sổ. “Gì cơ? Khi nào thế?”
“Tôi muốn hỏi cậu lâu rồi. Sợ không dám đi xe ra Công viên Borough gặp Genka em họ tôi vì mấy công chuyện của nó, sợ bị mấy thằng đó đeo tôi.”
“Đeo anh à?” Tôi ngồi xuống.
Grisha nhún vai. “Bốn năm lần rồi. Hôm qua xuống xe, tôi lại thấy một thằng lảng vảng ở ngoài, nhưng nó chuồn qua bên kia đường. Quần bò, khá già, ăn mặc đơn giản. Genka, nó không biết gì nhưng nó hoảng, tôi vừa bảo chúng tôi có chút công chuyện đấy, nó bảo tôi hỏi cậu có biết gì vụ đó không. Chẳng nói gì, cứ đứng đó đợi. Tôi nghĩ không biết có phải cậu lại vướng gì với ông đen không,” anh nói vẻ giữ kẽ.
“Không hề.” Ông đen là Jerome; tôi không gặp anh ta nhiều tháng rồi.
“Thế đấy. Tôi ghét phải báo tin cho cậu, nhưng nghĩ có thể là bọn cảnh chát đang đánh hơi. Mike - anh ấy cũng thấy. Anh ấy nghĩ có thể là vì vụ tiền nuôi con của anh ấy. Nhưng thằng đó chỉ loanh quanh ở đây, không làm gì.”
“Cái này đã bao lâu rồi?”
“Ai biết được? Nhưng ít nhất cũng một tháng. Mike bảo còn hơn.”
“Lần sau nhìn thấy, anh chỉ cho tôi được không?”
“Có thể là thám tử tư.”
“Sao anh nói thế?”
“Vì trông thằng đó kiểu như cựu cớm thì đúng hơn. Mike nghĩ vậy, dân Ireland ấy, thạo cớm lắm, Mike nói trông già, như kiểu cảnh chát về vườn gì đó?”
“Ừ,” Tôi nói và nghĩ đến kẻ có dáng người vạm vỡ từng nhìn thấy ngoài cửa. Sau đó tôi đã thấy thêm bốn năm lần nữa, hắn hoặc ai đó trông giống hắn, lảng vảng ngoài cửa trong giờ làm việc - luôn chọn đúng lúc tôi đang ở cùng Hobie hoặc khách hàng, rất khó chạy ra chặn đầu hắn ta - dù trông bộ dạng hắn ta thì ngây thơ vô số tội, áo có mũ và ủng thợ xây, tôi cũng chẳng biết có đúng không nữa. Một lần, dựng tóc gáy, tôi còn thấy một kẻ giống như vậy đu đưa trước cửa tòa nhà gia đình Barbour sống, nhưng khi nhìn rõ hơn thì lầm.
“Thằng đó ở đây cũng lâu lâu rồi. Nhưng có điều...” Grisha ngừng một lúc “bình thường tôi chẳng nói gì đâu, có thể chẳng có gì, nhưng hôm qua…”
“Có chuyện gì? Anh nói đi,” tôi nói khi thấy anh chỉ xoa cổ và ăn năn nhìn tránh đi.
“Một gã khác. Trông khác. Tôi từng thấy quanh quẩn ngoài hiệu một lần rồi. Ngoài cửa. Nhưng hôm qua thì hắn vào thẳng hiệu hỏi đích danh cậu. Và tôi không ưa bộ dạng thằng đó tí nào.”
Tôi ngồi phịch xuống ghế. Tôi đã nghĩ khi nào thì Reeve sẽ khùng tới mức đích thân ghé qua.
“Tôi không nói chuyện với hắn. Tôi ở ngoài” Gật đầu “thế đấy. Đang chất hàng. Nhưng tôi thấy hắn đi vào. Rất dễ đập vào mắt. Ăn mặc tử tế, nhưng không giống khách hàng. Cậu đi ăn trưa còn Mike ở hiệu một mình, thằng đó vào, hỏi, có Theodore Decker không? À, cậu không có nhà, Mike bảo vậy. ‘Thế nó ở đâu.’ Hỏi đủ thứ chuyện về cậu, như là cậu làm ở đây à, cậu sống ở đây à, từ bao lâu, cậu đang ở đâu, đủ thứ.”
“Hobie đâu?”
“Không hỏi Hobie. Hỏi cậu cơ. Rồi...” anh đưa ngón tay vạch trên mặt bàn “hắn bỏ ra ngoài. Đi vòng quanh hiệu. Nhìn chỗ này chỗ khác. Nhìn khắp mọi chỗ. Cái này, tôi thấy từ chỗ mình đứng, bên kia đường. Trông lạ lắm. Và... Mike không nhắc chuyện này với cậu vì nói có thể chẳng có gì, có thể là chuyện riêng tư, ‘tốt hơn là nên tránh đi’, nhưng tôi cũng nhìn thấy hắn và nghĩ tốt hơn là cho cậu biết. Vì, hừm, đồng loại nhận nhau, cậu hiểu không?”
“Trông hắn ta thế nào?” tôi hỏi, và khi Grisha không trả lời “hơi già chăng? Ục Ịch? Tóc bạc?”
Grisha thở hắt ra. “Không không không.” Lắc đầu quả quyết. “Không phải là dạng lão già.”
“Thế trông hắn như thế nào?”
“Như một kẻ tốt nhất là đừng gây sự, hắn trông như thế đấy.”
Trong quãng im lặng tiếp theo, Grisha đốt một điếu Kool và một điếu nữa cho tôi. “Vậy thì tôi nên làm gì, mazhor?”
“Xin lỗi?”
“Tôi và Genka có cần lo ngại không?”
“Tôi nghĩ là không. Ừ,” tôi nói và hơi vụng về đập vào bàn tay ngửa ra mà anh đắc thắng chìa cho tôi, “được rồi, nhưng anh giúp tôi chuyện này được không? Anh đi gặp tôi ngay khi nào lại thấy một trong hai kẻ đó nhé?”
“Tất nhiên.” Anh ngừng lại và chăm chú nhìn tôi. “Cậu chắc là tôi với Genka không phải lo gì chứ?”
“À, tôi không biết hai anh đang làm gì, có phải không?”
Grisha rút một cái khăn mùi xoa bẩn trong túi ra, lau cái mũi đã tím bầm. “Tôi không thích cậu trả lời vậy tí nào.”
“Ừm, hãy bảo trọng, thế thôi. Nhỡ may.”
“Mazhor, tôi cũng cần dặn cậu y như vậy.”
IV
TÔI ĐÃ NÓI DỐI KITSEY; tôi hoàn toàn chẳng có việc gì cần làm. Ra khỏi Barneys, chúng tôi hôn tạm biệt nhau ở góc Đại lộ 5 trước khi cô trở lại Tiffany ngó quầy pha lê - chúng tôi còn chưa kịp xem đến pha lê - còn tôi đi ra chờ tàu số 6. Nhưng thay vì nhập vào dòng người mua sắm đổ xuống cầu thang dẫn vào ga, tôi lại thấy bải hoải và lơ đễnh, lạc lối, mệt mỏi và ốm yếu tới mức lại dừng chân nhìn vào cửa kính Subway Inn bẩn thỉu, thẳng đối diện cửa lấy hàng ở Bloomingdale, một lỗ hổng thời gian y như trong The lost weekend[129] và còn nguyên không đổi từ những ngày rượu chè của bố tôi. Bên ngoài là đèn neon như phim noir. Bên trong vẫn những tường đỏ nhờn bẩn, bàn dính nhớp, sàn gạch vỡ, mùi nước tẩy nồng nặc, đức ông bụng phệ đứng quầy choàng tấm giẻ trên vai rót rượu cho gã cô độc mắt vằn đỏ bên quầy bar. Tôi nhớ mình và mẹ đã một lần mất dấu bố ở Bloomingdale, đối với tôi khi đó thật huyền bí, mẹ đã biết lối rời cửa hàng, đi thẳng qua đường tìm ra ông ở đây, đang nốc những ly bốn đô với một lão già công đoàn ho lao và một ông cụ buộc khăn trên đầu nhìn có vẻ dân sống vỉa hè. Tôi đứng đợi bên lối cửa vào, tái mặt trước mùi bia hẩm và mê hồn vì bóng tối ấm và bí ẩn bên trong, ánh lờ mờ phim ma trên máy hát tự động và máy chơi xèng Buck Hunter đang nhấp nhánh tít trong lòng quán “èo, mùi những lão già và nỗi tuyệt vọng,” mẹ tôi đã khủng khỉnh nhận xét và nhăn mũi khi ra khỏi quán, túi hàng trên tay, rồi nắm lấy tay tôi.
Một cốc Johnnie Walker nhãn đen nào, vì bố. Hoặc hai cốc. Tại sao không chứ? Những hốc tối trong bar trông ấm áp và đồng lõa, cái hào quang nồng hơi men sến nhão ấy vẫn giúp người ta quên đi trong một khắc mình là ai và cái gì đưa đẩy mình đến đây. Nhưng vào phút chót, giật mình giữa cửa khiến người phục vụ liếc nhìn ra, tôi quay người đi tiếp.
Đại lộ Lexington. Gió mang hơi nước. Buổi chiều ẩm và ma mị. Tôi đi thẳng qua bến tàu trên Phố 51, rồi lại bến Phố 42, mà vẫn đi tiếp, để đầu óc được quang quẻ. Những khối nhà chung cư trắng như tro. Những đoàn người rầm rập trên đường, những cây Noel sáng đèn lóng lánh tít trên ban công nhà tầng thượng và nhạc Giáng sinh hân hoan thoát ra từ cửa hàng cửa hiệu, và khi luồn lách qua những đám đông tôi chợt có cảm giác lạ kỳ là mình đã chết, mình đang di chuyển giữa một vỉa hè xám mênh mông hơn cả con phố hay cả thành phố này có thể bao bọc lấy, linh hồn tôi đã tách khỏi thể xác trôi lơ lửng giữa các hồn khác trong cõi mù sương đâu đó giữa quá khứ và hiện tại, QUA ĐƯỜNG DỪNG LẠI, từng người đi bộ lửng lơ bay lên trước mắt tôi, cách biệt và cô đơn lạ lùng, những khuôn mặt trống rỗng cắm tai nghe nhìn thẳng phía trước, môi mấp máy không ra tiếng, còn âm thanh thành phố ẩm và bít tiếng, dưới những tầng trời màu granite đè ngộp thở đã bịt hết mọi âm thanh trên phố, rác và giấy báo, xi măng và mưa phùn, một vẻ xám mùa đông bẩn thỉu trĩu như đá tảng.
Tôi đã nghĩ sau khi thoát được khỏi quán bar, mình sẽ đi xem phim, nghĩ sự cô độc trong rạp chiếu sẽ làm tôi tỉnh lại, một suất chiếu chiều gần như không người cho một bộ phim sắp qua giai đoạn nổi. Nhưng khi với cái đầu váng vất và sổ mũi, tôi đến được rạp trên giao lộ Phố 32 và Đại lộ 2, thì cái phim hình sự Pháp tôi muốn xem đã kịp bắt đầu và cả bộ phim ly kỳ về việc nhận nhầm người cũng vậy. Còn lại chỉ có một loạt những bộ phim ngày lễ cùng những phim ái tình lộn mửa, trên áp phích toàn những cô dâu phờ phạc, cô dâu đại chiến, một ông bố ỉu thìu đội mũ ông già Noel bế hai đứa nhóc gào thét điên cuồng.
Taxi đã dần tắt đèn nóc. Tít cao bên trên phố, trong bóng chiều muộn, đèn thắp lên trong những ván phòng và chung cư cao tầng cô đơn. Tôi ngoảnh đi, tiếp tục bước chân vô định vào trung tâm, không rõ mình định đi đâu hay vì sao nữa, và vừa đi tôi vừa có cảm giác dễ chịu đến kỳ quái là mình đang cởi bỏ chính mình, đang tuột mình ra như gỡ một cuộn len, từng sợi một, những mảnh giẻ vụn rơi lả tả khỏi người tôi chỉ nhờ động tác đi ngang qua Phố 32 và bay rập rờn giữa dòng người đi bộ giờ cao điểm nằm cuộn trên mặt đất từ phút trước tới phút sau.
Ở rạp phim kế, cách đó chừng mươi mười hai khối nhà, tình hình cũng không khác: bộ phim tình báo đã bắt đầu, cả phim tiểu sử rất được tán thưởng về một nữ minh tinh hồi thập niên 1940; cái phim hình sự Pháp phải đợi tiếng rưỡi nữa; và trừ khi thích xem phim về kẻ loạn trí hay phim gia đình lắng đọng, thứ tôi không tiêu hóa được, thì chỉ còn toàn là cô dâu cùng tiệc độc thân cùng mũ ông già cùng Pixar.
Tới lúc đến rạp phim trên Phố 17, tôi không buồn dừng lại ở phòng vé nữa mà cứ thế đi tiếp. Không hiểu sao, một cách bí ẩn, trên quãng đường đi qua Quảng trường Thống nhất vướng vào một luồng xoáy tối thâm không biết từ đâu ập tới cuốn mình đi, tôi đã hạ quyết tâm sẽ gọi Jerome. Trong ý nghĩ ấy có một niềm vui thần bí, một sự hành xác thiêng liêng. Gọi gấp như vậy liệu anh ta có thuốc kê đơn không, hay tôi sẽ phải mua loại hàng xáo vẫn bán ngoài đường? Tôi cóc cần biết. Tôi đã kiêng hàng tháng trời nay, nhưng vì lý do nào đó mà một buổi chiều gà gật bất tỉnh trong phòng ngủ của mình trên nhà Hobie xem ra là đáp án cực kỳ hợp lý đối lại những đèn đuốc ngày lễ, đám đông ngày lễ, tiếng chuông Giáng sinh không chịu im cái điệu cầu hồn chết chóc, và cuốn sổ màu kẹo hồng mua từ Kate’s Paperie của Kitsey chia trang đề những nào là Phù Dâu Cho Kits Khách Của Kits Chỗ Ngồi Của Kits Hoa Của Kits Nhà Cung Cấp Cho Kits Những Việc Cần Làm Của Kits Nhà Hàng Của Kits.
Giật mình lùi lại, đèn vừa chuyển xanh, tôi suýt bước xuống trước đầu xe - tôi lảo đảo, gần trượt chân. Chẳng việc gì phải ôm mãi cho rặm bụng nỗi kinh hoảng khó lý giải tôi cảm thấy trước một đám cưới lớn đông đảo, những không gian kín, nỗi sợ chật chội, những cử động bất chợt, đâu đâu cũng thấy những kích thích gây hoảng sợ, không hiểu sao tàu điện ngầm chẳng làm tôi bận tâm lắm nhưng còn những tòa nhà kín người, lúc nào cũng chờ đợi thứ gì đó sắp xảy ra, một luồng khói, một người vụt chạy bên rìa đám đông, tôi còn không thể vào rạp xem phim nếu có quá mươi mười lăm người bên trong, tôi sẽ quay mình cầm cái vé đã trả tiền đi ngay ra ngoài. Vậy mà không hiểu sao cái đám cưới ở nhà thờ khổng lồ chen chúc này đã mọc lên tua tủa quanh tôi như một đội nhảy flash mob. Tôi sẽ chiêu vài viên Xanax và vã mồ hôi chờ đến hết giờ vậy.
Nhưng mặt khác: tôi hy vọng cảnh giao tế ầm ào leo thang mà tôi đã đu theo như một con tàu giữa biển bão rồi sẽ dịu lại sau lễ cưới, vì tôi chỉ muốn một điều là trở về buổi đầu xanh ngát sắc hè khi tôi được sở hữu trọn vẹn Kitsey: những bữa tối hai người với nhau, những bộ phim xem trên giường. Mời ăn và tụ họp liên tục đã làm tôi phát ngán: đám bạn bè quay cuồng tươi rói và đổi thay liên tục của cô, những buổi chiều đông đúc, những cuối tuần hỗn loạn mà tôi cứng cỏi đương đầu, mắt nhắm tịt, cố sức bám víu: Linsey? không, Lolly? xin lỗi... còn đây là...? Frieda? Chào Frieda, và... Trev? Trav? rất vui được gặp anh! Tôi lễ độ đứng bên những bàn gỗ kiểu thôn quê cổ, uống rượu đến đần người trong lúc họ ríu rít chuyện trò nào là nhà nghỉ ở quê, ban quản lý chung cư, quận học đường, chương trình tập gym - đúng thế, cai sữa không một vấn đề dù gần đây chúng tôi xáo trộn lịch ngủ khá mạnh, cháu lớn vừa bắt đầu mẫu giáo và sắc thu ở Connecticut thật mê hồn, à vâng tất nhiên, chúng tôi đều đi cùng mấy cô bé hằng năm nhưng anh cũng biết với bọn con trai chúng tôi đi năm hai lần, trượt tuyết ở Vail hoặc xuống vùng biển Caribe, năm ngoái còn câu cá bằng mồi ở Scotland và vớ được vài sân gôn bảnh không gì bằng. Ồ! Nhưng phải rồi, Theo có chơi gôn đâu, cũng không trượt tuyết, cũng không chơi tàu, phải không.
“E rằng không.” Tư duy tập thể lớn đến mức (những chuyện đùa riêng, những trò giải trí riêng, tất cả cùng túm tụm quanh những video nghỉ mát trên iPhone) rất khó tưởng tượng có ai trong bọn họ lại đi xem phim một mình, hay một mình ăn ở quán bar; nhất là cảm giác hội đoàn thân thiện giữa đám đàn ông thỉnh thoảng còn khiến tôi thoáng có cảm giác đang phỏng vấn xin việc. Và - đâu ra lắm bà bầu thế kia? “Ôi Theo, nhìn xem có dễ yêu không!” Kitsey bất thình lình dúi một đứa bé sơ sinh con ai đó vào mặt tôi - còn tôi kinh hãi một cách thật thà, nhảy lùi lại như thấy lửa cháy.
“Ôi, thỉnh thoảng các chàng phải tập ít lâu mới quen,” Race Goldfarb hài lòng nói khi quan sát tôi lúng ta lúng túng, rướn cao giọng để nghe được trên nển tiếng trẻ la khóc vật lộn trong góc phòng khách dưới sự quản lý của các cô bảo mẫu. “Nhưng nghe tôi này Theo, khi nào anh bế cục vàng xinh xắn của mình trong tay lần đầu tiên ấy... ?” (vỗ vỗ cái bụng tròn vo của bà vợ bên cạnh) “thì trái tim anh như nứt ra một chút. Vì cái lần đầu tôi ngắm bé Blaine bé bỏng?” (mặt lem luốc, đang quanh quẩn rất vô duyên dưới chân anh ta) “và nhìn vào cặp mắt xanh to tròn ấy? Cặp mắt trẻ thơ tuyệt diệu ấy? Tôi trở thành một con người mới. Tôi biết thế nào là yêu. Chính là: chào bé con! con đến đây để dạy lại cho ta tất cả từ đầu! Và cho anh biết nhé, khi nhìn nụ cười đầu tiên ấy tôi cứ là đầu hàng vô điều kiện, giống như tất cả chúng ta thôi, có sai không nào Lauren?”
“Phải,” tôi lịch thiệp đáp rồi đi vào bếp rót một cốc vodka thật to. Cả bố tôi xưa cũng từng nhảy thon thót khi ở gần các bà bầu (thậm chí từng bị đuổi việc khi mấy câu nhận xét không phải lối đã tràn ly; mấy truyện cười “mắn đẻ” không được chỗ làm tiếp nhận hồ hởi gì) và trái với cái bài ca không quên “đầu hàng vô điều kiện”, ông chưa bao giờ chịu đựng được cả trẻ con lẫn trẻ sơ sinh, chưa nói đến cái hoạt cảnh cha mẹ xoắn xuýt, các bà mỉm cười ngây ngốc xoa bụng và các ông đeo trẻ con trên ngực; ông luôn đi ra ngoài hút thuốc hay lượn lờ cau có chầu rìa như kẻ buôn ma túy lậu mỗi lần bị buộc tham dự một buổi lễ ở trường học hay liên hoan của đám nhóc nào. Rõ ràng tôi cũng đã thừa kế được tính ấy từ bố, và biết đâu từ cả ông nội Decker; cái nỗi câm thù sinh sản man dại đang la thét trong dòng máu tôi có vẻ bẩm sinh, sẵn có trong gen.
Gật gù cho hết đêm. Sung sướng đến nghẹt họng. Thôi cảm ơn Hobie, cháu ăn rồi, chắc là lên nhà ôm sách thôi. Mấy chuyện mà đám người đó nói, cả đàn ông? Chỉ cần nghĩ đến cái đêm ở nhà Goldfarb là tôi đã chỉ muốn say đừ đến nhủn gối.
Khi đến gần Astor Place - dân châu Phi chơi trống, đám nhậu say vặc nhau, những thẻ hương bốc mù mịt từ quầy bán rong, tôi phấn chấn trở lại. Độ kháng thuốc của tôi chắc hẳn đã xuống rất thấp: một ý nghĩ thật thích thú. Chỉ cần một hai viên mỗi tuần, để giúp tôi qua những thử thách giao tế nghiệt ngã nhất, và cũng chỉ khi nào hết sức cực kỳ cần đến thôi. Để bù lại thuốc gần đây tôi uống rượu quá nhiều, và cách ấy chẳng ăn thua gì; khi dùng thuốc phiện, tôi thư thái, có thể chịu đựng và đương đầu tất cả, có thể đứng điềm nhiên hàng giờ liền qua những tình huống đáng ghét, nghe bất kỳ tràng chém gió nhạt như nước ốc hay dở hâm dở khùng nào mà không có nhu cầu ra ngoài tự bắn vỡ đầu.
Nhưng từ rất lâu rồi tôi không gọi cho Jerome, và khi lánh vào ô cửa một hàng bán đồ trượt, đứng đó gọi thì chỉ vào hộp thư thoại, một lời đáp ghi âm nghe chẳng giống giọng anh ta tí nào. Anh ta đã đổi số rồi ư? tôi lo lắng nghĩ sau cú điện thứ hai. Những người như Jerome - Jack trước anh ta cũng vậy - có thể biến khỏi mặt đất bất thình lình, kể cả có thường xuyên liên lạc.
Không biết phải làm gì, tôi bắt đầu theo Phố St. Mark’s Place đi tới quảng trường Tompkins. Suốt Ngày Suốt Đêm. Chỉ Mở Cho Người Hai Mốt Tuổi. Ở trung tâm, tránh xa khu nhà chọc trời đông đúc, gió quất mạnh hơn và trời có vẻ như cũng rộng hơn, dễ thở hơn. Những ông cơ bắp dắt chó bull thành đôi, những gái ăn mặc kiểu Bettie Page xăm trổ mặc váy bút chì đánh hông, những gã vụng dại mặc quần quết đất nhe hàm răng khấp khểnh đi giày quấn băng dính. Ngoài các cửa hiệu bày giá kính râm, lắc tay hình đầu lâu, tóc giả nhiều màu cho người chuyển giới. Ở đâu đó có một trạm kim tiêm[130], có thể không chỉ một trạm, nhưng tôi không rõ ở đâu; bọn Phố Wall cũng mua đồ trên phố đầy ra nếu tin lời đồn đại nhưng tôi không đủ am hiểu để biết nên đi đâu, nên hỏi ai, mà nữa, ai sẽ bán cho tôi - một kẻ lạ mặt đeo kính gọng sừng với kiểu tóc nửa bắc, ăn vận cho một buổi chọn đồ sứ đám cưới với Kitsey?
Trái tim không yên. Suy tôn bí mật. Những kẻ này hiểu giống như tôi - những ngõ tối của tâm hồn, những thì thầm và bóng tối, tiền lướt từ tay này sang tay khác, mã hiệu, mật khẩu, bộ mặt thứ hai, tất cả những an ủi ẩn hình khiến cuộc đời được nâng vượt lên khỏi cái bình thưởng và trở thành đáng sống.
Jerome - tôi dừng lại trên vỉa hè ngoài một quầy sushi rẻ tiền để định vị lại - Jerome từng cho tôi biết về một quán bar, có mái bạt đỏ, đâu đó quanh St. Mark’s - Đại lộ A chăng? Lúc nào anh ta cũng vừa từ đó đến, hoặc ghé vào trên đường đến gặp tôi. Người pha chế bán hàng sau quầy cho những khách không ngại phải trả gấp đôi để khỏi mua ngoài phố. Jerome lúc nào cũng đang dở giao hàng cho cô ta. Tên cô ta, tôi còn nhớ được nữa - Katrina! Nhưng hầu như một nửa các hàng quán trong khu này đều là bar cả.
Tôi bước trên Đại lộ A rồi lại xuống số Một, rẽ vào quán đầu tiên gặp có mái bạt có thể tạm gọi là đo đỏ, đúng hơn là màu nâu bầm như gan, nhưng có thể ngày xưa từng màu đỏ và hỏi “Có phải Katrina làm ở đây không?”
“Không,” Cô tóc đỏ cháy đứng quầy đáp, không thèm nhìn tôi, tay vẫn rót bia.
Những bà vô gia cư ngủ thiếp bên xe đẩy hàng là toàn bộ tài sản của mình, đầu đặt lên bọc vải. Những cửa kính bày Đức Mẹ rắc trang kim và hình nhân Lễ Vong Nhân. Những đàn bồ câu xám vỗ cánh không ra tiếng.
“Cậu biết là cậu mong, cậu biết là cậu muốn...” một giọng rủ rỉ vào tai tôi.
Tôi quay lại thấy một người da đen trọng tuổi, đậm người, miệng cười toe toét khoe cái răng cửa vàng đang dúi vào tay mình tấm thiếp: XĂM MÌNH VẼ MÌNH NGHỆ THUẬT XỎ KHOEN.
Tôi cười lớn, anh ta cũng vậy, tiếng cười rung cả người, hai bên cùng ngầm hiểu câu đùa và nhét tấm thiếp vào túi đi tiếp. Nhưng một giây sau tôi đã tiếc không hỏi anh ta cách tìm thấy chốn mình cần. Dù anh ta chưa chắc cho tôi biết, thì trông anh ta cũng có vẻ là một người am hiểu.
Bấm Khuyên. Mát Xa Chân Và Châm Cứu. Bạc Cũng Mua Vàng Cũng Nhận. Một bầy trẻ con còi cọc, và rồi cách xa một chút, có một mình, một con bé gầy meo tóc tết kiểu da đen, cùng một con chó bẩn thỉu và tấm biển bằng bìa đã mòn đến mức không đọc nổi. Tôi đang áy náy thò tay vào túi tìm tiền, cái kẹp tiền Kitsey cho tôi chặt đến nỗi mãi không lôi nổi tờ tiền ra, và vừa loay hoay tôi vừa biết cả khu đang dán mắt nhìn mình, và rồi “Ê!” tôi hét lên và nhảy lùi lại khi con chó gầm gừ lao tới, đớp trúng gấu quần dài trong hàm răng nhọn như kim.
Xung quanh cười lớn, cả bọn nhóc, một người bán hàng rong, một đầu bếp đeo lưới tóc ngồi trên thềm cầu thang gọi điện thoại. Giật gấu quần thoát ra, thêm một tràng cười rộ, tôi ngoảnh đi và để hoàn hồn, chui luôn vào quán bar trước mắt, mái bạt đen có vài vệt đỏ - hỏi người pha chế: “Katrina có làm ở đây không?”
Anh ta dừng tay lau cốc. “Katrina?”
“Tôi là bạn Jerome.”
“Katrina? Anh không muốn nói là Katya chứ?” Đám người quanh bar - toàn dân Đông Âu - lặng phắc.
“Có thể, ơ...”
“Họ của cô ta là gì?”
“Ừm...” Một gã mặc áo da đã nghiêm mặt, xoay hẳn người trên ghế chĩa cặp mắt Bela Lugosi[131] nhìn tôi.
Người pha chế cũng đang dán mắt vào tôi. “Cô gái anh tìm. Anh cần cô ấy làm gì?”
“Ờ, thực ra thì tôi...”
“Tóc màu gì?”
“Ừm... màu vàng chăng? Hay là, thực ra…” nhìn vẻ mặt anh ta thì thấy rõ tôi sắp sửa bị đá đít ra, hay tệ hơn; ánh mắt tôi đậu lại trên khẩu Louisville Slugger cưa nòng đặt sau quầy “tôi nhầm, bỏ qua đi... ”
Tôi đã kịp ra khỏi quán và đi rõ xa trên phố thì nghe đằng sau có tiếng hét: “Potter!”
Tôi cứng người, trong khi giọng ấy lại hét lên lần nữa. Rồi kinh ngạc, tôi quay lại. Và trong lúc tôi còn đứng đó không tin vào mắt mình, mọi người đi ào qua hai bên, thì nó cười lớn và lao bổ tới choàng tay ôm chầm lấy tôi.
“Boris.” Lông mày đen nhọn hoắt, mắt đen hớn hở. Nó cao hơn, mặt hóp hơn, áo khoác dài đen vẫn thế, vẫn vết sẹo cũ bên trên mắt cộng thêm vài vết mới. “Uầy.”
“Uầy cứt nhà mày ấy!” Nó nắm vai tôi đẩy ra. “Ha! Trông mày kìa! Lâu quá rồi hửm?”
“Tao...” Tôi sững sờ không nói nên lời. “Mi làm gì ở đây thế?”
“À, tau mới là người hỏi...” Bước lùi lại nhìn tôi một lượt, rồi khoát tay về phía đường như thể cả con phố này là của nó “mày làm gì ở đây mới phải? Cớ chi mà tau được cái ngạc nhiên này?”
“Sao?”
“Tau vừa đến hiệu nhà mi hôm trước xong!” Hất tóc khỏi mặt. “Tìm mi!”
“Hóa ra mày à?”
“Còn ai vào đây? Sao mi biết mà đến đây tìm tau?”
“Tao...” Tôi lắc đầu, không tin nổi.
“Không phải mi đến tìm tau à?” Giật lùi sửng sốt. “Không à? Ngẫu nhiên à? Tình cờ đụng nhau? Chúa ơi! Mà sao mi trắng bệch ra thế?”
“Hả?”
“Mi trông tởm quá!”
“Cút mẹ mày đi!”
“A,” nó nói và lại vắt tay qua cổ tôi. “Potter, Potter! Hai quầng đen xì này!” ngón tay lần dưới bọng mắt tôi. “Nhưng áo công nhận đẹp. Mà này...” thả tôi ra, búng ngón cái và ngón trỏ bên thái dương tôi “vẫn quả kính ấy hửm? Mi chẳng thèm thay bao giờ hửm?”
“Tao…”Tôi chỉ còn đủ sức lắc đầu.
“Sao?” Nó chìa hai tay ra. “Mi không trách tau đang sướng điên lên vì gặp mi hử?”
Tôi cười lớn. Tôi còn chẳng biết phải nói gì nữa. “Sao mày không để số lại?” Tôi hỏi.
“Tức là mi không giận tau chứ gì? Không ghét tau muốn đày xuống địa ngục?” Dù không cười nhưng nó cũng cắn môi dưới có vẻ thích thú. “Mi không…” hất đầu về phía đường “không muốn đập tau hay chi hết?”
“Ô kìa,” một người phụ nữ gầy gò mắt đanh thép, cặp hông gầy trong quần bò đen, lướt tới bên Boris khá đột ngột bằng phong thái khiến tôi nghĩ đây chắc là bạn gái hay vợ nó.
“Chàng Potter nức tiếng,” Cô ta nói và chìa một bàn tay trắng dài đeo nhẫn bạc đến tận khớp. “Mừng gặp. Tôi đã nghe đủ thứ chuyện về anh.” Cô ta có cao hơn nó chút đỉnh, tóc dài rũ xuống và thân thể dài yểu điệu mặc đồ đen, như một con trăn. “Tôi là Myriam.”
“Myriam? Chào cô! Thật ra tôi là Theo.”
“Tôi biết.” Bàn tay cô ta trong tay tôi lạnh toát. Tỏi nhận thấy hình ngũ giác màu xanh lam xăm ở mặt trong cổ tay. “Nhưng anh ấy luôn gọi là Potter khi kể về anh.”
“Kể về tôi? Thật à? Anh ấy kể gì thế?” Không ai từng gọi tôi là Potter nhiều năm nay rồi, nhưng cái giọng mềm mại của cô khiến tôi nhớ lại một chữ đã lãng quên từ những cuốn sách xa xưa ấy, ngôn ngữ của rắn và những phù thủy hắc ám: Xà ngữ.
Boris, trước đó còn quàng tay qua vai tôi, đã buông ra khi cô ta xuất hiện như vừa nghe một mệnh lệnh. Cái nhìn trao nhau giữa họ, mà tôi nhận ra sức nặng kể từ những ngày ăn trộm xưa kia, khi chúng tôi có thể bảo nhau chạy thôi hay hắn đến kìa mà không cần nói một chữ và Boris có vẻ bối rối, lùa tay qua tóc rồi chăm chú nhìn tôi.
“Mi còn ở đây không?” nó hỏi và bước lùi lại.
“Đây là đâu?”
“Khu này này.”
“Nếu cần.”
“Tau muốn…” nó ngừng lại, nhíu mày, nhìn qua đầu tôi ra phố “tau muốn nói chuyện với mi. Nhưng bây giờ…” trông nó có vẻ lo lắng “không tiện lắm. Một tiếng nữa được chứ?”
Myriam liếc nhìn tôi, nói gì đó bằng tiếng Ukraina. Hai bên trao đổi chốc lát. Rồi Myriam luồn tay qua tay tôi, điệu bộ gần gũi một cách kỳ cục, và dẫn tôi đi trên phố.
“Kia kìa.” Cô ta chỉ. “Đi theo đường kia, bốn năm ngã tư. Có một quán bar ở gần Đại lộ 2. Chỗ Ba Lan ngày xưa. Anh ấy sẽ đến gặp anh.”
V
GẦN BA TIẾNG SAU tôi vẫn còn ngồi trong ngăn ghế bọc PVC đỏ trong quán bar Ba Lan, đèn Giáng sinh chớp tắt, punk rock và nhạc polka Giáng sinh trộn hổ lốn rất khó chịu từ hộp nhạc bắn ra, đã chờ lâu đến phát ngán và nghĩ không hiểu rồi nó có ra mặt không, hay tốt nhất là đi về nhà. Tôi còn chưa hỏi được thông tin gì của nó, mọi thứ diễn ra quá nhanh. Ngày xưa tôi từng ngồi Google Boris để giải trí - chẳng bao giờ thấy chút manh mối nào - nhưng mặt khác, tôi cũng chẳng hình dung Boris sống cuộc đời để lại dấu vết gì trên mạng. Nó có thể ở bất kỳ đâu, làm bất cứ thứ gì: kỳ cọ sàn bệnh viện, giắt súng lẩn giữa rừng rậm một nước nào đó, hay nhặt đầu mẩu thuốc lá trên phố.
Đã gần hết giờ Happy Hour, vài kẻ trông típ sinh viên hay nghệ sĩ lác đác đi vào giữa những ông già Ba Lan bụng bia và đám hippie trung niên tóc bạc. Tôi vừa xong vại vodka thứ ba; ở đây rót rất đầy, gọi thêm một vại nữa thật là dại; tôi biết đáng ra phải kiếm thức gì ăn, nhưng tôi không đói, và mỗi giây tâm trạng tôi càng ủ ê căm ghét. Cảm giác bị cho leo cây sau ngần ấy năm thật là kiệt quệ không chịu được. Nếu cần phải tự an ủi mình thì ít nhất tôi cũng đã lạc hướng khỏi mục tiêu ma túy: vẫn chưa sốc thuốc chết, chưa nôn ọe vào thùng rác nào đấy, chưa bị trấn lột sạch trơn hay bị một tên cớm chìm giả dạng dân buôn tóm cổ...
“Potter.” Nó đây rồi, đang chuồi vào ghế đối diện tôi, hất tóc trên mặt bằng một dáng vẻ khiến cả quá khứ đột nhiên sống dậy.
“Tao suýt đi rồi đấy.”
“Xin lỗi.” Vẫn nụ cười gớm ghiếc và quyến rũ. “Vướng tí việc. Myriam không giải thích hả?”
“Không.”
“À. Tau có làm trong sở kế toán đâu. Này,” nó nói và chồm người tới, cả hai tay úp xuống bàn, “mi đừng cáu! Đâu có nghĩ sẽ đụng phải mi! Tau đã cố nhanh thật nhanh rồi! Tau còn chạy nữa!” Nó đưa bàn tay khum qua mặt bàn, tát nhẹ lên má tôi. “Chúa ơi! Lâu quá rồi còn gì! Gặp mi tau mừng hết lớn! Mi gặp tau không mừng ư?”
Lớn lên trông nó rất điển trai. Từ độ còm cõi ốm yếu trông nó đã có cái vẻ ma lanh dễ thương, cặp mắt sống động và trí óc sắc sảo, nhưng nay cái vẻ sống sượng đói ăn ấy đã biến mất, mọi thứ còn lại đã khớp với nhau rất chuẩn. Da nó dãi dầu nhưng quần áo có vẻ xịn, các đường nét sắc và khỏe khoắn, hiệp sĩ trung cổ pha nghệ sĩ dương cầm, và hàm răng cưa nhỏ xám xỉn, tôi nhận thấy, đã được thay bằng một bộ chuẩn không cẩn chỉnh, trắng bong đặc Mỹ.
Nó thấy tôi nhìn, đưa móng tay gại một chiếc răng nanh sáng loáng. “Bộ nhá mới.”
“Tao thấy rồi.”
“Nha sĩ Thụy Điển đấy,” Boris nói và vẫy bồi bàn. “Tốn cả gia tài. Bà xã cứ nhằng nhẵng bên tai - Borya, cái miệng anh, trông kinh quá! Tau bảo đừng hòng tau làm, nhưng đấy quả là khoản tiêu hợp lý nhất trên đời của tau.”
“Mày lấy vợ lúc nào?”
“Hừm?”
“Nếu muốn thì dẫn theo cũng được mà.”
Nó có vẻ giật mình. “Mi nói Myriam á? Không, không...” thò tay vào túi áo vét, bấm bấm điện thoại, “Myriam không phải vợ tau! Đây,” nó đưa tôi cái điện thoại, “đây mới là bà xã tau. Mi uống chi?” nó hỏi trước khi quay sang gọi đồ bằng tiếng Ba Lan.
Trên chiếc iPhone là ảnh một căn nhà nghỉ mát đội mũ tuyết, và đằng trước nhà có một cô gái tóc vàng tuyệt đẹp xỏ ván trượt băng. Đứng bên cô và cũng xỏ ván là một cặp nhóc tì tóc vàng khăn áo xù xù, giới tính không xác định. Trông ít giống ảnh chụp mà giống quảng cáo một món thực phẩm bổ dưỡng Thụy Sĩ như sữa chua hay ngũ cốc Bircher hơn.
Tôi ngước nhìn nó kinh ngạc. Nó ngoảnh đi, cử chỉ rất Nga từ những ngày xưa: ờ, chậc, tình hình là thế đấy.
“Vợ mày á? Thật hả?”
“Ờm,” nó nói và nhướng một bên mày. “Con tau nữa. Sinh đôi.”
“Vãi.”
“Ừ,” nó đáp, nuối tiếc. “Đẻ hồi tau còn trẻ - trẻ quá. Thời cơ không tốt lắm - cổ muốn giữ - ‘Borya, sao anh có thể…’- tau còn làm gì được? Nói thực là tau chẳng biết rõ chúng nó mấy. Thực ra thằng út - không có trong ảnh đâu - thằng út tau còn chưa thấy mặt. Tau nghĩ là nó khoảng, ờm, bao nhiêu nhỉ? Sáu tuần tuổi gì đó?”
“Hả?” Tôi lại nhìn tấm ảnh, chật vật tìm cách kết nối gia đình Bắc Âu lành mạnh này với Boris. “Mày ly dị rồi à?”
“Không không không...” vodka đã tới, bình thắt miệng bỏ đá và hai cái cốc tí hon, nó đang rót cho mỗi đứa một cốc “Astrid với lũ nhóc ở Stockholm là chủ yếu. Thỉnh thoảng cổ đến nghỉ đông ở Aspen, trượt tuyết - cổ là quán quân trượt tuyết đấy, mười chín tuổi đã là tuyển thủ Olympics ...”
“Hả?” tôi đáp và cố hết sức không lộ ra mình thấy khó tin. Nhìn gần, thấy rõ là lũ trẻ trông quá Bắc Âu và gầy gò, so với Boris thì bắn đại bác cũng không tới.
“Ừ, ừ,” Boris nói rất thành khẩn, đầu gật lia lịa. “Lúc nào cổ cũng đòi tới chỗ có đồi trượt, còn tau thì ghét tuyết, mi lạ gì! Ông già cổ ‘hữu’ lắm, gọi là phát xít cũng không sai. Tau nghĩ, có ông bô như vậy Astrid có tí trầm cảm cũng chẳng lạ! Lão già siêu siêu đáng ghét! Nhưng họ là một giống người siêu buồn thảm bất hạnh, mấy người Thụy Điển ấy, ai cũng vậy! Phút trước vừa tu rượu cười đùa, phút sau đã rúc vào bóng tối câm như hến. Dziękuję,” nó nói với người bồi vừa tái xuất, bưng một khay đầy những đĩa nhỏ: bánh mì đen, xa lát khoai, hai loại cá trích, dưa chuột sốt kem chua, bắp cải nhồi thịt, một loại trứng muối gì đó.
“Tao không biết ở đây cũng bán đồ ăn đấy.”
“Không bán,” Boris đáp, phết bơ lên một miếng bánh mì đen và rắc muối lên trên. “Nhưng tau đói meo rồi. Bảo họ qua nhà bên mua đỡ cái gì đó.” Nó cụng cốc với tôi. “Sto lat!”nó nói như hồi trước.
“Sto lat.” Vodka rất thơm, bỏ một thứ rau thơm gì đó cay cay, tôi không nhận ra được.
“Thế là,” tôi nói và lấy chút thức ăn. “Myriam?”
“Hửm?”
Tôi xòe hai bàn tay, động tác thời còn nhỏ: giải thích xem.
“À, Myriam! Cổ là cấp dưới của tau. Cánh tay phải của tau, mi gọi vậy cũng được. Dù nói mi biết, cổ còn hơn đứt ối thằng đàn ông. Một người đàn bà rất cừ! Chẳng có mấy người như cổ đâu, nói mi biết. Đáng ngàn vàng luôn. Nào, nào,” nó rót đầy lại cốc tôi rồi đẩy sang. “Za vstrechu!” nâng cốc mình về phía tôi. “Mừng gặp lại!”
“Đáng ra phải đến lượt tao chứ?”
“Ừ, đúng... ” cụng cốc tôi “nhưng tau đói rồi mà mi rề rà quá.”
“Vậy thì mừng gặp lại.”
“Mừng gặp lại! Và cảm ơn số mệnh! Đã lại đưa chúng mình gặp nhau!”
Ngay khi cả hai đã hơi say, Boris lao bổ vào chỗ đồ ăn. “Thế chính xác là mày làm nghề gì?” tôi hỏi.
“Cái này cái khác.” Nó vẫn ăn với cái vẻ ham hố ngây thơ như một đứa bé. “Đủ thứ cái. Cho qua ngày, mi hiểu không?”
“Thế mày sống ở đâu? Stockholm à?” tôi hỏi khi thấy nó không đáp.
Nó huơ tay thành một vòng rộng. “Khắp luôn.”
“Như là...?”
“Ờ, thì đó. Châu Âu, châu Á, Bắc Mỹ Nam Mỹ...”
“Đấy là rất nhiều đấy.”
“À,” nó nói, nhồm nhoàm cá trong mồm, lau một cục kem chua trên cằm, “còn làm chủ doanh nghiệp nhỏ nữa, nếu mi hiểu.”
“Là sao?”
Nó chiêu miếng cá bằng một ngụm bia tổ bố. “Thì mi biết đấy. Cơ sở chính thức thì kêu là công ty dọn nhà. Chủ yếu là thợ Ba Lan. Tên cũng vui lắm. ‘Hãng dọn nhà Ba Lan Kin kít[132].’ Hiểu không?” Nó cắn một miếng trứng muối. “Mà mi biết khẩu hiệu là gì không? ‘Chúng tôi dọn sạch nhà quý vị’, ha!”
Tôi quyết định bỏ qua câu đó. “Vậy là mày ở Mỹ từ hồi nào đến giờ à?”
“À không!” Nó đã rót cho mỗi bên một cốc nữa, và đang nâng cốc chúc tôi. “Đi khắp chứ. Tau ở đây sáu đến tám tuần một năm. Còn lại thì... ”
“Về Nga?” tôi hỏi và cạn cốc, đưa mu bàn tay quệt mép.
“Không hẳn. Bắc Âu. Thụy Điển, Bỉ. Thỉnh thoảng Đức.”
“Tao cứ tưởng mày quay lại Nga.”
“Hửm?”
“Vì... à, tao chẳng được tin của mày bao giờ cả.”
“À.” Boris ngượng nghịu quẹt mũi. “Độ ấy rối tung beng lên cả. Nhớ ở nhà mi không - đêm cuối ấy?”
“Nhớ chứ.”
“À. Cả đời tau chưa thấy nhiều thuốc như vậy bao giờ. Phải đến lạng rưỡi tuyết mà chẳng bán tí nào, một mẩu cũng không. Đem cho rất nhiều, tất nhiên, được cả trường mê tít, ha! Ai cũng yêu tau! Nhưng phần chủ yếu, chui tọt lên mũi! Rồi - cái túi mình tìm thấy, đủ loại thuốc viên ấy - nhớ không? Xanh xanh be bé ấy? Mấy viên cực nặng, thuộc loại cho người bệnh ung thư sắp xuống lỗ ấy, ông bô mi chắc nghiện có cỡ rồi mới đi xài cái loại ấy.”
“Ừa, tao cũng dính phải một ít.”
“Ấy, thế mi biết đấy! Giờ chúng nó chẳng còn làm loại oxy xanh tuyệt hảo ấy nữa! Giờ chỉ có loại chống nghiện không tiêm cũng chẳng hít được! Nhưng ông già mi ấy? Ừm, nhảy từ rượu sang cái đó? Làm thằng say sống đầu đường xó chợ còn hơn nhiều. Miếng đầu tiên tao thử - ngất luôn, chưa kịp sang đường thứ hai, nếu không có Kotku ở đó… ” Nó làm bộ cắt ngón tay ngang cổ “tau đứt tại chỗ rồi.”
“Ờm,” tôi nói và nhớ lại mình đã lử lả một cách ngu xuẩn, dí mặt xuống bàn ở tầng trên nhà Hobie.
“Dù sao thì...” Boris uống ực một ngụm hết cốc vodka và rót cho cả hai thêm cốc nữa “Xandra bán cái của ấy. Không phải chỗ đó đâu.”
Đấy thì của ông già mi. Xài riêng. Nhưng bả, bả bán ở chỗ làm. Cái cặp Stewart với Lisa ấy? Cặp trông như dân buôn bất động sản siêu đứng đắn ấy? Đấy là cái mỏ tiền của bả.”
Tôi bỏ nĩa xuống. “Sao mày biết?”
“Thì bả bảo tau! Và tau đoán họ cũng giở mặt khi bả kẹt nguồn hàng. Ông Mã Luật Sư và bà Túi Hoa Cúc dễ thương vô tội vạ ở nhà mi... xoa đầu bả... ‘chúng tôi giúp gì được chị’... ‘tội nghiệp Xandra’... ‘thương chị quá chừng’... rồi hết thuốc - xẹt! Hát giọng khác tức thì! Tau thật tình ân hận khi nghe bả kể, vì chuyện chúng mình làm ấy! Khiến bả gặp phiền to! Nhưng tới lúc đó… ” búng vào mũi “đã lên đây hết sạch rồi. Hết ráo.”
“Khoan - Xandra kể với mày như thế à?”
“Ừ. Sau khi mi đi. Hồi tau ở đấy với bả.”
“Mày phải tua lùi lại một chút.”
Boris thở dài. “Ờ, được thôi. Chuyện dài lắm. Nhưng chúng mình cũng không gặp nhau lâu lắm rồi, phải không?”
“Mày sống với Xandra à?”
“Mi hiểu đấy - ất ơ ấy mà. Bốn năm tháng gì đấy. Trước khi bả chuyển lại về Reno. Xong tau mất liên lạc với bả. Ông già tau về Úc rồi, hiểu không, mà Kotku với tau lại đang hục hặc…”
“Tình thế quả là dị.”
“Ờ, cũng hơi dị,” nó bứt rứt nói. “Hiểu không…” ngả người, lại vẫy bồi bàn “tau thì đang quẫn quá. Tau thức mấy ngày liền rồi. Mi biết lúc giã cocaine rồi đấy - ghê chết được. Tau có một mình, sợ phát điên. Mi biết cái kiểu bệnh đến tận linh hồn ấy - thở gấp, hoảng hốt, nghĩ Thần chết sắp với tay ngắt mi đi dễ như bỡn? Gầy nhom, bẩn thỉu, sợ kinh thiên địa. Như con mèo chết dở! Lại còn đang Giáng sinh nữa chứ, xung quanh ai nấy mất tích! Gọi cả đống người, chả ma nào bốc máy - đến chỗ gã Lee thỉnh thoảng cho tao sống trong khu bể bơi, cũng đi nốt, cửa khóa. Cuốc bộ hàng dặm, lảo đà lảo đảo. Vừa lạnh vừa sợ! Chả ai ở nhà! Nên tau qua chỗ Xandra. Kotku tới lúc đó đã nghỉ nói chuyện với tau rồi.”
“Mày cũng gan gớm. Tao thì cho tiền cũng chẳng dám quay lại đó.”
“Ừa, nói chung cũng phải vận hết thành công lực, nhưng tau cô đơn và ốm kinh lên được. Miệng nghiến trèo trẹo! Như kiểu - mi chỉ muốn nằm yên nhìn đồng hồ đếm nhịp tim ấy? Nhưng chẳng có chỗ nào mà nằm im? Cũng chẳng có đồng hồ? Muốn phát khóc lên ấy! Chả biết làm cái chi! Còn chả biết bả có ở đấy không. Nhưng đèn sáng - cả phố mỗi nhà đó có đèn sáng - đi vào đằng cửa kính trượt, bả có nhà, vẫn mặc cái áo Cá heo Miami, pha margarita trong bếp.”
“Rồi sao?”
“Ha! Ban đầu đếch cho tau vào! Đứng giữa cửa chửi một bài dài, nguyền rủa tau, ném đủ thứ tên thối! Xong rồi tau khóc. Đến lúc tau hỏi tau ở đây với bả được không?” Nó nhún vai “bả bảo được.”
“Hử?” tôi với tay lấy cốc nó vừa rót cho. “Ý mày là ở lại hẳn á?”
“Tau sợ khiếp! Bả cho tau ngủ trong phòng bả! Bật tivi chiếu phim Giáng sinh!”
“Hừm.” Tôi thấy rõ nó muốn tôi gặng hỏi chi tiết, có điều từ vẻ mặt khoái trá kia tôi không rõ nên tin câu chuyện “ngủ trong phòng bả” đến đâu. “Hừm, mừng là mày lại thành công. Bả có nói gì tao không?”
“À, có, có chút chút.” Nó cười khùng khục. “Thật ra là có rất nhiều. Vì, nói đừng cáu nhé, tau cũng đổ qua mi vài chuyện.”
“Rất mừng được biết tao có ích cho mày.”
“Tất nhiên rồi!” Nó hào hứng cụng cốc với tôi. “Tau nợ mi cái đó! Mà phải mi thì cũng làm vậy thôi. Tau không để bụng đâu. Nhưng nói thật tình, Xandra ấy, tội nghiệp bả, tau nghĩ bả cũng mừng thấy tau. Thấy ai cũng vậy. Ý tau là...” nốc cạn cốc “đến phát điên... bạn cả bè như củ kiệu... bả thì có một mình ngoài đó. Uống rượu tràn, sợ không dám đi làm. Hoàn toàn có thể gặp vụ gì đó - hàng xóm chẳng có, siêu rùng rợn. Vì Bobo Silver - à, hóa ra Bobo cũng không đến nỗi tệ quá. ‘Người hùng’ hả? Ổng được gọi thế không phải vô cớ! Xandra thấy ổng đã khiếp vía, nhưng ổng không đeo bả đòi bằng được nợ của ông già mi, ít ra cũng không đeo dữ. Không hề. Mà ông già mi thì nợ lên trời. Hẳn ổng cũng nhận ra bả cháy túi rồi - ông già mi cũng lột sạch sẽ của bả. Thế thì chi bằng cư xử đàng hoàng. Làm sao vắt cổ chày ra tiền được. Nhưng đám còn lại, mấy kẻ tự xưng là bạn bè bả, thì bám cứng như nhà ngân hàng. Mi tưởng tượng nổi không? ‘Cô nợ tôi’, đòi kèn kẹt, quan với chả hệ, đến hãi. Tởm hơn cả Bobo! Cũng có nhiều nhặn lắm đâu, nhưng bả thiếu vẫn thiếu, đám đó đòi vẫn đòi, kinh như gì...” (nghiêng đầu làm bộ, xỉa ngón tay vào mặt) “ ‘đéo mẹ, chúng tôi đéo đợi, cô nghĩ mau ra cách đi’, kiểu đó. Dù sao thì - may tau lại quay lại đúng lúc ấy, vì tau giúp được bả.”
“Giúp kiểu gì?”
“Trả lại bả số tiền tau đã lấy.”
“Mày còn giữ à?”
“Ờ không,” Nó đáp vẻ có lý. “Tiêu sạch rồi. Nhưng - đang làm một vụ khác, hiểu không? Vì ngay khi hết thuốc? Tau mang tiền đến chỗ Jimmy bán súng mua thêm. Hiểu không, cho tau với Amber - hai bọn tau thôi. Đẹp thôi rồi, trong sáng lắm, đặc biệt lắm. Trẻ nữa, hình như mới mười bốn! Chỉ một đêm ấy thôi, ở MGM Grand, bọn tau thật là gần với nhau, cả đêm ngồi trên sàn nhà tắm phòng suite của ông già KT nói chuyện. Chẳng thiết hôn luôn! Nói nói nói! Hôm đó tau thật muốn khóc òa lên. Mở lòng ra với nhau luôn. Rồi... ” đặt tay lên ngực “bình minh đến, tau buồn kinh, như là sao lại phải chấm dứt? Vì bọn tau có thể ngồi đó nói chuyện đến thiên thu luôn! hạnh phúc và hoàn hảo! Bọn tau đã thân với nhau bao nhiêu, hiểu không, chỉ cần một đêm đó. Rồi - đấy là lý do tau đến chỗ Jimmy. Hàng của hắn là đồ vớ vẩn, chẳng bằng một góc của Stewart và Lisa. Nhưng ai cũng biết, hiểu không, ai cũng nghe đồn về kỳ nghỉ cuối tuần ở MGM Grand, về tau phân phát cái món đó. Thế là đổ xô đến tìm tau. Phải đến cả chục đứa hôm đầu tiên tau đi học lại. Tiền cứ là ấn vào tay. ‘Kiếm cho tao một tí... kiếm cho tao một tí... kiếm cho bạn tao một tí... tao bị hội chứng suy giảm tập trung, tao không dùng thì không làm bài được…’ Vèo cái tau đã làm mối bán cho cầu thủ bóng bầu dục năm cuối, luôn cả nửa đội bóng rổ. Cả một lũ con gái nữa... bạn của Amber và KT... cả bạn của Jordan... cả sinh viên Đại học Nevada! Mấy lượt đầu tiên thì mất tiền - không biết phải đòi bao nhiêu, hàng xịn mà giá thấp lè tè, muốn được mọi người thích, kiểu đó. Nhưng một khi tính ra - thì tau trúng lớn! Jimmy giảm giá mạnh, hắn cũng thu được khối tiền. Tau làm lợi lớn cho hắn, hiểu không, tau bán thuốc cho lũ nhóc nhát không dám mua - sợ những người bán như Jimmy. KT... Jordan... mấy bà đó có cả mớ tiền! Lúc nào cũng sẵn sàng trả trước. Tuyết không phải như kẹo - tao cũng bán kẹo, nhưng cái đó thất thường lắm, có khi có cả đống rồi có khi mấy ngày không thấy gì, tuyết thì tau có cả lố khách quen, gọi hai ba lần một tuần. Mi nghĩ, chỉ cần KT...”
“Uầy.” Sau từng ấy năm, cái tên ấy vẫn còn ngân vang.
“Phải! Mừng KT!” Chúng tôi cùng nâng cốc uống.
“Thế mới là mỹ nhân chứ!” Boris đập cốc xuống bàn. “Tau vẫn xây xẩm mặt mày khi ở gần bả. Chỉ cần hít chung bầu không khí với bả.”
“Mày có ngủ với bả không?”
“Không... tau cố rồi đấy chứ... nhưng bả cũng có lần xóc lọ tau trong phòng ngủ em trai bả một đêm bả say lử rồi và đang rất vui tính.”
“Trời, đúng là tao bỏ đi không phải lúc rồi.”
“Chứ gì nữa. Tau xịt ra trong quần từ lúc bả còn chưa kịp kéo khóa xuống. Mà tiền tiêu vặt của KT…”- với lấy cốc tôi đã cạn. “Hai nghìn một tháng! Chỉ tính riêng tiền quần áo! Mà quần áo thì KT đã có chật tủ rồi, mua thêm vào đâu nữa? Dù sao thì đến Giáng sinh, đời tau đã đến đoạn như trong phim có tiếng kính coong rồi hiện ra cả đống ký hiệu đô-la. Điện thoại réo liên miên. Bạn tốt của mọi nhà! Bọn con gái chưa gặp bao giờ ôm tau hôn hít, tháo vòng vàng ngay trên cổ tặng tau! Tau thì hít từ sáng đến tối, hằng ngày, hằng đêm, những đường dài bằng cả bàn tay, mà tiền thì vẫn tới tấp bay đến. Tau đúng là ngôi sao rap trong trường! Một thằng cho tau cái mô tô, thằng khác cả cái ô tô cũ. Tau nhặt bất kỳ món đồ nào trên sàn, trong túi rơi ra cả mấy trăm đồ luôn, cóc biết từ đâu ra nữa.”
“Đây quả là rất nhiều thông tin cùng một lúc đấy.”
“Thề luôn! Quá trình học bình thường của tau đúng thế đấy. Người ta cứ bảo kinh nghiệm là thầy dạy tốt nhất, và thường thì đúng thế, nhưng tau thấy may là cái kinh nghiệm này chưa giết chết mình. Thỉnh thoảng... nếu có ít bia vào... tau cũng làm một hai đường? Nhưng nói chung giờ tau không chơi nữa. Cháy trụi rồi. Mi mà gặp tau quãng năm năm trước? Tau giống y như...” hóp má vào “thế này. Nhưng…” bồi bàn đã xuất hiện, mang thêm cá và bia “thế là đủ rồi. Còn mi…”Nó nhìn tôi khắp lượt “thì sao? Tau dám nói là cũng đang bảnh ra phết?”
“Cũng ổn, chắc vậy.”
“Ha!” Nó ngửa người, gác tay dọc lưng ghế. “Thế giới cổ giả hử? Buôn đồ cổ à? Ông bóng già à? Đưa mi vào ngành phải không?”
“Đúng thế.”
“Tau nghe bảo chỗ oách xà lách lắm.”
“Đúng thế.”
Nó lại nhìn khắp tôi. “Mi vui không?” nó hỏi.
“Không vui lắm.”
“Thế thì nghe này! Tau có ý hay cực! Mi đến làm cho tau!”
Tôi cười phá.
“Không, không đùa đâu! Không không,” nó nói và xùy một tiếng rất kênh kiệu khi tôi định cắt lời, rót thêm cốc nữa, đẩy qua bàn về phía tôi, “ổng trả mi nhiêu? Tau sẽ trả gấp đôi, tau thật.”
“Không, tao thích công việc của tao...” Nhấn quá mạnh chữ đó, chẳng lẽ trông tôi cũng bệ rạc như giọng mình? “Tao thích những thứ tao làm”
“Hử?” Nó nâng cốc mời tôi. “Vậy sao mà còn không vui?”
“Tao không muốn nói chuyện đó.”
“Tại sao chứ?”
Tôi phẩy tay gạt đi. “Vì...” Tôi không còn biết mình đã uống bao nhiêu nữa. “Vì thế thôi.”
“Nếu không phải vì công việc, thì vì cái chi?” Nó đã cạn cốc của mình bằng một cái hất đầu vương giả, bắt đầu tấn công sang đĩa cá mới. “Tiền à? Hay gái?”
“Cả hai đều không.”
“Vậy là gái rồi,” nó đắc thắng reo. “Tau biết mà.”
“Nghe này...” Tôi cạn nốt cốc rồi đập tay xuống bàn - mình thật là thiên tài, tôi cười ngoác, tôi vừa nghĩ ra ý tưởng hay nhất trong nhiều năm! “nói chuyện này đủ rồi. Đi thôi! Tao có một bất ngờ lớn dành cho mày.”
“Đi ư?” Boris nói, xù lông lên thấy rõ. “Đi đâu?”
“Đi với tao. Rồi mày thấy.”
“Tau muốn ở lại đây.”
“Boris...”
Nó ngồi lại. “Bỏ qua đi, Potter,” nó nói và giơ hai tay lên. “Thư thả nào.”
“Boris!” Tôi nhìn khắp đám đông như mong họ sẽ rộ lên phản đối, rồi lại nhìn nó. “Tao ngán ngồi đây lắm rồi! Tao đã ngồi đây hàng tiếng rồi!”
“Nhưng...” Trông nó thật cáu kỉnh. “Tau đã sắp lịch cả đêm nay cho mi! Bỏ cả việc phải làm! Mi đi luôn à?”
“Ừ! Và mày sẽ đi cùng tao. Bởi vì...” tôi vung tay lên “mày phải được thấy bất ngờ ấy!”
“Bất ngờ?” Nó quẳng cái khăn ăn vo tròn xuống. “Bất ngờ gì?”
“Mày sẽ thấy.” Nó bị sao vậy? Đã quên cách vui chơi rồi ư? “Nào, đi thôi, chúng mình hãy ra khỏi đây.”
“Tại sao? Bây giờ ư?”
“Tại vì thế thôi!” Phòng bar chỉ là một tiếng ầm ầm tối thẫm; đời tôi chưa bao giờ tin tưởng vào mình như thế, thích chí vì sự khôn ngoan của mình như thế. “Đi nào. Uống nốt đi!”
“Có nhất thiết không?”
“Mày sẽ thích đấy. Hứa luôn. Đi nào!” Tôi nói, vươn tay ra lắc vai nó một cách tôi cho là thân tình. “Tao thề, đây là một bất ngờ mà mày không hình dung nổi là hay ho thế nào đâu.”
Nó ngả người ra ghế, khoanh tay nhìn tôi nghi ngờ. “Tau nghĩ là mi có bực tau.”
“Boris, cái quái gì vậy.” Tôi đã say đến mức lảo đảo, đứng lên, phải chống tay vào bàn. “Đừng cãi nữa. Đi thôi.”
“Tau nghĩ đi với mi đến đâu đó là một sai lầm.”
“Hử?” Tôi nhìn nó, một mắt nhắm hờ. “Vậy mày có đi hay là không?”
Boris lạnh lẽo nhìn tôi. Rồi nó bóp mũi, bảo: “Mi không muốn cho tau biết là đi đâu.”
“Ừ.”
“Vậy mi không phiền nếu lái xe của tau chở đi chứ?”
“Lái xe của mày?”
“Ừ. Ảnh đang đợi cách đây hai ba khối nhà.”
“Vãi.” Tôi ngoảnh đi, bật cười. “Mày có cả lái xe ư?”
“Vậy tức là mi không ngại đi với ảnh?”
“Sao lại ngại?” Tôi đáp, sau một quãng ngưng. Đang say mèm nhưng thái độ nó cũng làm tôi giật nảy: nó đang nhìn tôi với một vẻ kỳ quặc, tính toán, không điệu bộ chưa bao giờ chứng kiến.
Boris nốc cạn cốc vodka rồi đứng dậy. “Được thôi,” nó nói và quay điếu thuốc chưa châm giữa những ngón tay lỏng lẻo. “Vậy hãy làm cho xong trò mèo này xem nào.”
VI
BORIS LÙI LẠI tít đằng sau trong lúc đợi tôi mở cửa trước nhà Hobie, cứ như thể nó nghĩ chìa khóa vặn trong ổ sẽ kích nổ cả tòa nhà lớn này không bằng. Người tài xế của nó đậu bên chiếc xe khác ngay trước cửa, phả khói xăng mù mịt. Lúc ở trong xe, những lời trao đổi giữa nó và người lái toàn bằng tiếng Ukraina: tôi chẳng nghe thủng lấy một mẩu, bất chấp đã qua hai khóa Tiếng Nga giao tiếp ở đại học.
“Vào đi,” tôi nói và khó lắm mới nén được nụ cười. Nó nghĩ gì, thằng ngốc, tôi sẽ vật nó xuống hay bắt cóc nó à? Nhưng nó vẫn còn ở ngoài phố, nắm đấm thọc sâu vào túi áo, ngoái lại nhìn người tài xế có cái tên là Genka hay Gyuri hay Gyorgi hay cái khỉ mẹc gì đấy tôi không nhớ nổi.
“Chuyện gì vậy?” tôi hỏi. Nếu không say đứ đừ như thế thì thói đa nghi của nó chắc đã khiến tôi tức điên, nhưng hiện tại tôi chỉ thấy buồn cười quá thể.
“Mi nói lại coi, sao ta lại phải đến đây?” nó hỏi, vẫn đứng né tít đằng xa.
“Rồi mày thấy.”
“Thế mi sống ở đây à?” Nó ngờ vực hỏi, ngó vào trong phòng khách. “Đây là nhà mi đấy à?”
Tôi đã mở cửa ổn ã hơn ý muốn. “Theo?” Hobie gọi với từ trong nhà. “Cháu về đấy à?”
“Vâng.” Ông đang ăn mặc dự tiệc tối, đủ cả áo vét cà vạt. Chết mẹ, tôi nghĩ, có khách không? Giật mình nhận ra vẫn chưa đến giờ ăn tối; cảm giác như đã ba giờ sáng.
Boris đã thận trọng lẩn vào sau lưng tôi, tay bỏ trong túi áo khoác, để cửa mở toang đằng sau lưng, mắt dán vào cặp bình tro bằng đá ba zan lớn, cỗ đèn chùm.
“Hobie,” Tôi nói, ông đã đi vào hành lang, mày nhướng lên, bà DeFrees lạch bạch đằng sau dè chừng “bác Hobie, bác nhớ cháu từng kể về...”
“Popchik!”
Cái quả bông xù trắng, đang cần mẫn chạy dọc hành lang ra cửa - như hóa đá. Rồi một tiếng thét chói tai khi nó bắt đầu phi hết tốc lực (dù bây giờ cũng chẳng nhanh là mấy) còn Boris - cười rú lên sung sướng - quỳ sụp xuống sàn.
“Ôi!” bế bổng nó lên, còn Popchik giãy giụa. “Mi béo lên à! Nó béo lên à!” nó căm phẫn nói khi Popchik nhảy nhổm lên hôn vào mặt nó. “Mi để nó béo lên à! Này, chào mi, poustyshka, cái cục bông bé tí này, chào mi! Mi vẫn nhớ tau, phải không?” Nó đã lăn ngửa ra sàn, duỗi dài người cười lớn, còn Popchik - vẫn đang rú lên sung sướng - thì nhảy tưng tưng khắp người. “Nó nhớ tau!”
Hobie chỉnh kính, đứng bên cạnh nhìn thích thú - bà DeFrees, không được thích thú bằng, thì đứng sau Hobie hơi nhíu mày trước quang cảnh vị khách sặc mùi vodka của tôi đang lăn lộn trên thảm cùng con chó.
“Mi đừng nói,” nó bảo và thọc tay vào túi áo vét. “Đây chính là...?”
“Chính thế.”
VII
CHÚNG TÔI KHÔNG Ở LẠI LÂU - Hobie đã nghe kể rất nhiều về Boris qua các năm, chúng ta làm một ly nào! và Boris thì cũng quan tâm, và tò mò, ngang với tôi sẽ tò mò nếu Judy ở Karmeywallag hay một nhân vật kỳ bí nào đó trong quá khứ nó đột ngột hiện ra - nhưng chúng tôi đã quá say và ồn ào, và tôi nghĩ hình như đang thử thách thần kinh bà DeFrees, bà này dù mỉm cười lịch thiệp nhưng đang ngồi cứng dơ trên ghế trong hành lang, đôi tay bé tí đầy nhẫn bỏ trong lòng, không nói năng mấy.
Nên chúng tôi đi - dẫn theo Popchik, đang bì bạch khoái chí đằng sau lưng, còn Boris la thét hớn hở, vẫy xe bảo hãy đi một vòng quanh khu nhà đón chúng tôi: “Ừ, poustyshka, đúng thế!” - với Popper - “của chúng mình đấy! Chúng mình đi xe!”
Rồi bỗng nhiên hóa ra là người tài xế của Boris cũng nói tiếng Anh giỏi như Boris, và cả ba chúng tôi đều là bạn tốt - bốn chúng tôi chứ, nếu tính cả Popper đang đứng trên chân sau, hai chân trước đặt trên kính cửa sổ nghiêm nghị quan sát những ngọn đèn trên đường cao tốc West Side trong lúc Boris nựng nịu nó, ôm ấp nó, hôn lên gáy nó và cùng lúc giảng giải cho Gyuri (người lái xe) bằng cả tiếng Anh và tiếng Nga rằng thì là tôi là một cậu tuyệt vời, bạn thân hồi trai trẻ và là một nửa trái tim của nó! (Gyuri thò tay trái qua người nó, vắt ngang ghế ngồi để long trọng bắt tay tôi ở băng sau) và đời mới quý hóa làm sao khi cho hai người bạn như vầy, trong thế giới rộng lớn như vầy, tìm lại được nhau sau khi xa xôi cách trở như vầy?
“Vâng,” Gyuri xầm xì nói khi ngoặt vào Phố Houston nhanh và gấp đến nỗi tôi bị trôi ra cửa, “tôi và Vadim cũng vậy. Ngày ngày tôi đều thương khóc cậu ấy, thương khóc đến nỗi tỉnh dậy giữa đêm thương khóc. Vadim là anh em của tôi…” - ngoảnh lại nhìn tôi, khiến khách bộ hành dạt ra khi chiếc xe càn lên lối qua đường, những bộ mặt khiếp hãi bên ngoài cửa sổ đen “Người anh em còn hơn ruột thịt của tôi. Như là Borya và tôi. Nhưng Vadim...”
“Đấy là một chuyện khủng khiếp,” Boris lặng lẽ bảo tôi, và rồi quay sang Gyuri: “phải, phải, khủng khiếp...”
“... chúng tôi đã thấy Vadim xuống mồ quá sớm. Nói đúng lắm, cái bài trên radio ấy, anh biết chứ? Người hát Piano Man ấy? ‘Chỉ có người tốt mới chết trẻ’.”
“Ảnh sẽ chờ chúng ta bên kia.” Boris an ủi và với qua ghế vỗ vai Gyuri.
“Phải, tôi đã dặn anh ấy như thế.” Gyuri lẩm bẩm và tạt đầu xe khác bất ngờ đến nỗi tôi ngã dúi vào dây bảo hiểm còn Popchyk bay vèo khỏi chỗ. “Mấy thứ đó sâu lắm - không ca tụng bằng lời được. Ngôn ngữ con người không tả được. Nhưng rốt cuộc - dùng xẻng đưa anh ấy vào giấc ngủ - tôi đã nói với anh từ đáy linh hồn. ‘Tạm biệt Vadim. Hãy đợi cổng cho tôi, anh bạn. Giữ ghế cho tôi trên đó bên cạnh anh.’ Chỉ có điều Chúa...”Trời ơi, tôi nghĩ, cố giữ vẻ mặt bình thản trong lúc ôm lấy Popchyk trong lòng, Chúa chiếc cái mẹ, nhìn đường đi - “Fyodor, xin hãy giúp tôi, tôi có hai câu hỏi lớn về Chúa. Anh là giáo sư đại học” (hử?) “ Có lẽ anh sẽ trả lời được cho tôi. Thứ nhất…” mắt gặp mắt tôi trong kính chiếu hậu, giơ một ngón tay lên - “Chúa có biết đùa không? Thứ hai: Chúa có biết đùa ác không? Ví dụ như: Chúa có đùa bỡn với chúng ta, hành hạ chúng ta chỉ để giải trí, như lũ trẻ tai ác nghịch côn trùng trong vườn?”
“Ờ,” tôi nói, hoảng hốt khi thấy anh ta đang chĩa con mắt dữ dội nhìn tôi chứ không nhìn ngã rẽ sắp tới, “Ừm, có thể, tôi không biết, tôi hy vọng là không.”
“Đây không phải người cho anh hỏi mấy câu ấy đâu,” Boris nhận xét, chìa thuốc lá cho tôi và một điếu khác cho Gyuri bên kia ghế trước. “Chúa cũng hành Theo đã đời ra rồi. Nếu đau khổ làm nên cao quý thì cậu ta đã thành ông hoàng rồi đấy. Gyuri à,” Ngả người trong luồng khói “tui nhờ anh một vụ.”
“Điều gì cũng được.”
“Nhờ anh trông con chó sau khi thả bọn tui xuống được không? Chở nó đi chơi trong băng sau, nó muốn đi đâu cũng được?”
Câu lạc bộ ở tít ngoài quận Qụeens, tôi không biết đích xác chỗ nào. Trong phòng khách trải thảm đỏ, trông như một cái phòng cho người ta tới hôn má ông nội mình vừa được thả khỏi nhà tù, những nhóm bợm nhậu lớn kiểu gia đình tụ họp trong những ghế bành kiểu Louis 16, ăn uống, hút thuốc, hò hét và thụi vào lưng nhau quanh những bàn trĩu xuống dưới vải vàng kim loại. Đằng sau, trên những tường đỏ thẫm như sơn dầu, treo đầy những vòng hoa Giáng sinh hay vòng trang trí kiểu thời Liên Xô bằng bóng đèn dây tóc và nhôm nhuộm màu - gà trống, chim làm tổ, sao đỏ, tàu vũ trụ, búa liềm, cùng những khẩu hiệu sến sáo bằng chữ Nga (Chúc mừng năm mới đồng chí Stalin) - trông vừa hoành tráng vừa tạm bợ. Boris (bản thân cũng đã khá lử khử; khi nãy nó ngồi nốc chai rượu để dưới ghế sau) choàng tay ôm lấy tôi, và nói tiếng Nga, giới thiệu tôi với khắp lượt già trẻ là anh em nó, mà tôi đoán là xung quanh đã hiểu theo nghĩa đen vì mọi đàn ông đàn bà đều tới ôm hôn tôi, tìm cách đổ rượu cho tôi từ những chai vodka trong hũ đá bằng pha lê.
Không hiểu sao mà cuối cùng chúng tôi cũng tới được cuối phòng: rèm nhung đen, với một gã đầu trọc, mắt như mắt rắn, xăm đặc đến tận quai hàm những ký tự tiếng Nga. Bên trong, phòng kín nghe thùng thùng tiếng nhạc và không khí đậm đặc mùi mồ hôi, nước hoa, cần sa và khói xì gà Cohiba: đồ Armani và đồ chạy bộ, kim cương và đồng hồ Rolex vàng trắng. Tôi chưa từng chứng kiến từng ấy đàn ông đeo từng ấy vàng trên người: nhẫn vàng, dây chuyền vàng, răng cửa vàng. Cứ như thể một giấc mơ lạ lẫm, rối loạn, lấp lánh chói mắt; còn tôi thì đang say đến khó chịu, không thể tập trung nhìn hay làm bất cứ gì mà chỉ biết gật đầu len lỏi và cho phép Boris lôi tôi đi qua đám đông. Đến một thời điểm nào đó trong đêm khuya Myriam tái xuất như một bóng ma; sau khi chào tôi bằng một nụ hôn trên má có vẻ vừa trịnh trọng vừa ma quái, đông cứng trong thời gian như một cử chỉ nghi lễ, thì cô ta và Boris cùng biến mất, vứt lại tôi ở một cái bàn chật cứng những người Nga say bí tỉ, đốt thuốc liên hồi, mà hình như ai cũng biết tôi là ai (“Fyodor!”), vỗ lưng tôi, rót rượu cho tôi, mời đồ ăn, mời thuốc lá, hét gọi tôi bằng tiếng Nga rất thân tình mà rõ là không cần đáp lại...
Bàn tay trên vai tôi. Ai đó đang gỡ kính. “Chào?” Tôi nói với cô gái lạ mặt bỗng thình lình ngồi lọt thỏm trong lòng mình.
Zhanna. Chào Zhanna! Anh đang làm gì đấy? Không làm gì mấy. Em thì sao? Bộ ngực dao kéo phim con heo rám nắng nhân tạo muốn nhảy ra khỏi cổ áo. Gia đình em có máu tiên tri: anh cho phép đọc lòng bàn tay anh nhé? Xin mời: tiếng Anh của cô ta khá tốt dù rất khó nghe ra cô ta đang nói gì giữa mớ âm thanh đinh tai nhức óc trong câu lạc bộ.
“Em thấy anh về bản chất là triết gia.” Lần theo đường chỉ tay tôi bằng đầu móng tay hồng như Barbie. “Thông minh cực kỳ. Nhiều trắc trở - trong đời đã làm mỗi thứ một chút. Nhưng anh cô đơn. Anh mơ được gặp một cô gái ở bên mình cho đến hết đời, phải không?”
Rồi Boris quay lại, một mình. Nó kéo ghế ngồi xuống. Một cuộc chuyện trò ngắn ngộ nghĩnh bằng tiếng Ukraina diễn ra giữa nó và cô bạn mới của tôi, kết thúc bằng việc cô nàng trả lại cặp kính trên mặt tôi và đi mất, nhưng còn lập xin điếu thuốc của Boris và hôn lên má nó.
“Mày quen à?” tôi hỏi Boris.
“Chưa từng gặp bao giờ,” Boris đáp và đốt một điếu cho mình. “Chúng mình đi được rồi, nếu mi muốn. Gyuri đang đợi ngoài kia.”
VIII
ĐẾN GIỜ THÌ ĐÃ KHUYA. Băng ghế sau thật nhẹ nhõm sau cảnh ầm ào trong câu lạc bộ (bảng điều khiển sáng dịu nhẹ, radio vặn nhỏ) và chúng tôi đi loanh quanh hàng giờ, Popchik ngủ thiếp trong lòng Boris đang nói nói cười cười - Gyuri cũng chêm vào, khàn khàn hét những câu chuyện về việc lớn lên ở Brooklyn trong cái mà anh ta gọi là “thùng gạch” (khu nhà ở xã hội) trong khi Boris và tôi uống vodka ấm trong bình và hít tuyết từ cái túi nó lấy ra trong túi áo khoác, chốc chốc lại chuyền lên cho Gyuri. Điều hòa mở nhưng trong xe nóng rực; Boris đã vã mồ hôi còn đôi tai thì đỏ ửng. “Mi biết không,” nó nói - nó đã kịp tuột cái áo khoác, giờ đang tháo nút cổ tay áo, thả vào túi và xắn tay áo lên - “chính ông già mi đã dạy tau biết ăn mặc đường hoàng. Tau rất biết ơn ông cụ vụ đó.”
“Ừ, bố tao dạy cả hai đứa mình đủ mọi điều.”
“Ừ,” nó nói thành thực - gật lấy gật để, không hề mỉa mai, đưa mé bàn tay lau mũi. “Lúc nào trông ổng cũng quý phái. Như là - cả lố bọn ở câu lạc bộ - áo khoác da, đồ chạy nhung, hệt như mới vượt biên vào đây. Tốt hơn là ăn mặc giản dị, như ông già mi, áo đẹp, đồng hồ đẹp nhưng klássnyy - đơn giản, mi hiểu không, tìm cách hòa vào.”
“Ừ.” Vì việc của tôi là phải để ý mấy điều này, nên tôi đã kịp để ý thấy đồng hồ trên cổ tay Boris - hàng Thụy Sĩ, giá bán lẻ khoảng năm chục nghìn, loại đồng hồ của một gã dân chơi châu Âu - quá phô trương so với gu của tôi, nhưng còn dè dặt chán so với những khối vàng hay vàng trắng khảm ngọc ngà nhan nhản khắp câu lạc bộ. Tôi còn thấy một ngôi sao David xanh xăm ở mặt trong cánh tay.
“Cái gì thế?” Tôi hỏi.
Nó giơ tay lên cho tôi xem. “Của IWC. Đồng hồ tốt giống như tiền trong ngân hàng ấy. Bất cứ lúc nào cũng có thể đem cầm hay thế chấp nếu cần gấp. Cái này bằng vàng trắng, nhưng trông như thép không gỉ. Tốt nhất nên đeo thứ gì trông ít tiền hơn hẳn thực tế.”
“Không, hình xăm cơ.”
“À.” Nó vạch tay áo lên, nhìn xuống tay rầu rĩ - nhưng giờ thì tôi không để ý cái hình xăm nữa. Trong xe ánh sáng yếu, nhưng tôi cũng đủ thạo để nhận ra nhiều vết kim. “Cái ngôi sao ấy à? Chuyện dài lắm.”
“Nhưng...” Tôi biết là không nên hỏi vết kim thì hơn. “Mày có phải người Do Thái đâu.”
“Không!” Boris phẫn nộ nói và bỏ ống tay xuống. “Tất nhiên là không rồi!”
“Ừ, thế nên tao nghĩ là nên hỏi tại sao...”
“Vì tau bảo với Bobo Silver tau là Do Thái.”
“Hử?”
“Vì tau muốn ổng thuê tau! Nên tau nói dối.”
“Vãi chưởng.”
“Tao thật! Chuyện thế đấy! Ổng lượn lờ quanh nhà Xandra cả lố - lần mò khắp phố, đánh hơi tìm cái đáng nghi, như là ông già mi còn sống nhăn hay gì đó - nên một hôm tau góp can đảm tới gặp ổng. Đề nghị cho một chỗ làm. Mọi thứ đang mất kiểm soát - ở trường có lắm chuyện, mấy đứa phải đi cai, bọn còn lại bị đuổi - tau cần tách khỏi Jimmy, hiểu không, làm cái khác - một thời gian. Và, ừ, họ của tau thì rành rành không phải, nhưng ở Nga, đầy đứa Do Thái có tên thánh Boris, nên tau nghĩ tại sao không? Ổng cách gì biết được? Tau nghĩ xăm vậy là ý hay - để thuyết phục ổng, hiểu không, rằng tau sạch. Nhờ một đứa làm hộ, nó nợ tau trăm đô. Kể chuyện sướt mướt, mẹ tau dân Do Thái Ba Lan, ông bà ngoại trong trại tập trung, khóc lóc khóc lóc - ngu quá, tau chẳng biết luật Do Thái cấm xăm mình. Mi cười cái chi?” nó cự nự. “Một đứa như tau - rất có ích cho ổng, hiểu không? Tau biết tiếng Anh, Nga, Ba Lan, U. Tau có học. Dù sao ổng cũng biết tỏng tau chẳng phải Do Thái cái mốc chi, ổng cười vào mặt tau, nhưng ổng vẫn nhận tau, rõ tử tế.”
“Làm sao mày lại có thể làm việc cho một kẻ muốn giết bố tao?”
“Ổng không muốn giết bố mi! Nói thế không đúng, không công bằng. Chỉ định dọa thôi! Nhưng mà, đấy, tau cũng làm cho ổng, gần một năm.”
“Mày làm gì cho lão?”
“Không có gì bẩn tay cả, tau thật! Chỉ làm trợ lý thôi - đưa tin, chạy việc này việc kia, kiểu thế. Dắt lũ chó con đi dạo! Lấy đồ giặt khô! Bobo rất tử tế và hào hiệp với tau trong lúc khốn cùng gần như là cha luôn, tau có thể đặt tay lên ngực mà thề với mi như thế. Ít nhất cũng giống cha tau hơn ông bố đẻ của tau. Bobo lúc nào cũng công bằng với tau. Hơn cả công bằng nữa. Tốt bụng. Tau học được khối điều từ ổng, quan sát ổng làm việc. Nên tau cũng chẳng phiền mang ngôi sao này trên người vì ổng. Còn cái này...” Nó vạch tay áo lên tận bắp tay, hoa hồng bị gai đâm, dòng chữ tiếng Nga - “Đây là cho Katya, tình yêu của đời tau. Tau yêu nàng hơn bất kỳ người đàn bà nào tau đã gặp.”
“Cô nào mày chả nói vậy.”
“Ừ, nhưng Katya là chân thành! Sẵn sàng chạy trên thủy tinh để đến với nàng! Đi qua địa ngục, qua lửa cũng được tuốt! Biếu cả đời tau cũng được! Tau sẽ không bao giờ yêu ai trên mặt đất này đến như Katya, một nửa cũng không. Nàng là người duy nhất. Tau sẽ vui lòng chết để đổi lấy thêm một ngày ở bên nàng. Nhưng...” bỏ tay áo xuống “mi không bao giờ được xăm tên người khác lên mình, vì sau đó mi sẽ mất điều ấy. Tau còn quá trẻ nên không biết điều này.”
IX
TÔI CHƯA TỪNG HÍT THUỐC từ hồi Carole Lombard rời thành phố, nên giờ chuyện đi ngủ là bất khả. Sáu rưỡi sáng, Gyuri còn đang lao vù vù khắp Lower East Side chở theo Popchik sau xe (“tôi sẽ đưa nó đến quán ăn sẵn! Làm một đĩa thịt hun khói, trứng và phô mai!”) còn hai đứa tôi thi phê lên mây và tán nhảm trong cái quán mở cả ngày ẩm ướt nào đó trên Đại lộ C, tường đầy những hình vẽ nguệch ngoạc, cửa sổ dán vải gai để chặn ánh mặt trời, Câu lạc bộ Ali Baba, Ba Đô Một Chén, Happy Hour 10h Sáng-Trưa, cố gắng uống đủ bia để ngất được một lúc.
“Mày biết hồi ở đại học tao làm gì không?” Tôi kể. “Tao học Tiếng Nga giao tiếp trong một năm. Hoàn toàn chỉ vì mày thôi. Tao học như cứt, thật. Không bao giờ đủ để đọc, mày hiểu không, để cầm cuốn Evgeni Onegin - mày phải đọc bằng tiếng Nga, người ta bảo thế, bản dịch chẳng đưa lại được cái gì. Nhưng - tao nghĩ đến mày nhiều biết mấy! Tao từng nhớ mọi điều ngớ ngẩn mà mày nói - đủ thứ trở lại trong đầu tao. Ồ, người ta đang bật ‘Comfỵ in Nautica’ kìa, mày nghe thấy không? Panda Bear! Tao đã quên béng cái album ấy rồi. Kế tiếp. Tao viết về Thằng ngốc[133]làm bài cuối kỳ - cho lớp Văn học Nga - Văn học Nga qua bản dịch - tao muốn nói là, suốt thời gian đọc cuốn đó tao nghĩ về mày, đang ở trên phòng tao, hút thuốc của bố tao. Mớ tên riêng ấy dễ nhớ hơn nhiều nếu tao tưởng tượng trong đầu là mày đang nói - thực ra là cả cuốn sách tao đều đọc bằng giọng của mày! Hồi ở Vegas mày đọc Thằng ngốc suốt khoảng sáu tháng, nhớ không? Bằng tiếng Nga. Một hồi lâu mày chẳng làm việc gì khác ngoài việc đó. Có nhớ một hồi mày không thể xuống nhà được vì có Xandra, tao phải mang thức ăn lên cho mày, cứ như Anne Frank ấy, nhớ không? Dù sao thì, tao đọc cuốn đó bằng tiếng Anh, Thằng ngốc ấy, nhưng tao cũng muốn tới được đó, tới được lúc, mày biết đấy, tiếng Nga của tao đủ giỏi. Nhưng chẳng bao giờ tới được.”
“Trường với chả lớp,” Boris đáp, rõ ràng không thấy hào hứng. “Mi muốn nói tiếng Nga, đi Moskva với tau. Hai tháng là sõi.”
“Thế mày có định cho tao biết mày làm gì không?”
“Tau đã bảo rồi. Cái này cái nọ. Đủ sống thôi.” Rồi đá vào chân tôi dưới gầm bàn. “Giờ thì trông mi phấn chấn hơn rồi, hửm?”
“Hử?” Trong phòng ngoài chỉ có hai người nữa ngoài chúng tôi - những người rất đẹp, trắng như thiên giới, một đàn ông, một đàn bà, cả hai đều để tóc ngắn, tóc đen, mắt dán lấy nhau, người đàn ông đang nắm tay người đàn bà kéo qua bàn, đang hôn và cắn vào mặt trong cổ tay cô ta. Pippa, tôi nghĩ và lòng lại đau nhói. Ở London đã gần đến giờ ăn trưa rồi. Cô đang làm gì?
“Khi tau thấy mi, trông mi như kiểu muốn nhảy xuống sông ấy.”
“Xin lỗi, một ngày khó chịu quá.”
“Nhưng mi cũng có chỗ ngon quá còn gì,” Boris đang nói. Từ chỗ nó ngồi không nhìn thấy đôi kia. “Vậy mi với ổng sống với nhau hả?
“Không! Không phải kiểu đó.”
“Tau có nói kiểu đó đâu!” Boris săm soi nhìn tôi. “Trời ơi, Potter, đừng có động tí lại nhảy dựng thế. Dù sao thì cái bà đó, bả là vợ ổng, phải không?”
“Ừ,” tôi bứt rứt nói và ngả người ra ghế. “Ờ, gần như thế.” Mối quan hệ giữa Hobie và bà DeFrees vẫn còn là một bí ẩn lớn, cả cuộc hôn nhân chưa tới hồi kết của bà với ông DeFrees cũng vậy. “Tao cứ tưởng bà ấy góa chồng từ cả thế kỷ nay rồi, nhưng hóa ra không phải. Bà ấy…” tôi cúi người tới và quẹt mũi “thế đấy, bà ấy sống trên nửa bắc còn bác ấy sống dưới trung tâm, nhưng lúc nào họ cũng ở bên nhau... bà ấy có nhà ở Connecticut, thỉnh thoảng hai người cùng đi nghỉ cuối tuần. Bà ấy kết hôn rồi, nhưng... Tao chưa bao giờ thấy chồng bả. Tao còn chưa đoán ra rốt lại là sao. Nói thật với mày, tao nghĩ cả hai chỉ là bạn tốt thôi. Xin lỗi vì tao nói dài dòng quá. Tao cũng chẳng hiểu tại sao nói với mày những thứ này nữa.”
“Và ổng dạy nghề cho mi! Ổng có vẻ là người tử tế đấy. Quý ông thực thụ.”
“Hử?”
“Ông chủ mi ấy.”
“Không phải ông chủ! Tao là cộng sự của bác ấy.” Hào quang của món thuốc đã nhạt rồi, giờ máu đang réo trong tai tôi, rin rít như tiếng dế kêu. “Thực tế là tao gần như quản mọi việc mua bán ở cửa hiệu.”
“Xin lỗi!” Boris nói và giơ tay. “Không việc gì phải cáu. Tau chỉ muốn nói tau mời mi về làm là rất chân thành.”
“Thế tao cần trả lời câu ấy như thế nào?”
“Nào, tau muốn đền bù cho mi mà. Muốn mi cũng có phần trong bao nhiêu thứ đẹp đẽ đến với tau. Bởi vì,” nó nói và chặn lời tôi một cách kiêu kỳ, “tau nợ mi mọi thứ. Mọi thứ tốt đẹp từng xảy ra trong đời tau, Potter ạ, đều là nhờ có mi.”
“Sao? Tao đã đưa mày vào sự nghiệp bán ma túy à? Uầy, được thôi,” tôi nói, châm một điếu thuốc của nó rồi đẩy trả gói thuốc, “nghe hay lắm, làm tao thấy rất đỗi tự hào về bản thân, cám ơn mày.”
“Ma túy nào? Ai nói gì đến ma túy nào? Tau muốn bù đắp lại cho mi! Vì những điều tau đã làm. Nói cho mi biết, cuộc sống tuyệt vời lắm. Chúng mình sẽ cùng nhau làm cả đống điều hay ho.”
“Mày đang điều hành đường dây gái gọi à? Đúng thế phải không?”
“Này, tau nói mi nghe một điều nhé?”
“Mời.”
“Tau thực lòng hối hận vì đã làm thế với mi.”
“Bỏ đi. Tao không chấp đâu.”
“Sao mi không chia phần lời lãi tau kiếm được nhờ mi? Kiếm một ít phần ngon lành về cho bản thân?”
“Này, tao nói một điều được không Boris? Tao không muốn dính vào bất kỳ thứ gì hắc ám nữa. Không phải chê trách gì mày đâu,” tôi nói, “nhưng tao đang cố gắng thoát ra khỏi một thứ, và hơn nữa, tao đã bảo đấy, tao đính hôn rồi, tình hình đã khác, thực lòng tao không muốn...”
“Thế sao mi không chịu để tau giúp mi?”
“Ý tao không phải thế. Ý tao là... ờ, tốt hơn không nói nhiều nhưng tao đã làm những việc không nên làm, tao muốn sửa lại. À, tức là tao đang nghĩ cách sửa lại.”
“Sửa lại khó lắm. Không có nhiều cơ hội đâu. Nhiều khi cơ hội duy nhất dành cho mi chỉ là tránh bị chộp thôi.”
Cặp đôi tuyệt đẹp kia đã đứng dậy đi ra, tay trong tay, rẽ tấm rèm hạt cườm, cùng nhau trôi vào buổi bình minh lành lạnh. Tôi nhìn những viên cườm va vào nhau, rung rinh trong sóng khí sau khi họ biến mất, còn đung đưa theo nhịp đưa hông của cô gái.
Boris ngồi lại. Mắt nó dán vào tôi. “Tau vẫn cố đền bù lại cho mi,” nó nói. “Tau ước gì tau làm được.”
“Cái gì?”
Nó nhíu mày. “À - tau đến cửa hàng mi vì cái đó. Mi biết mà. Chắc chắn là mi nghe rồi chứ, vụ Miami ấy. Tau lo không biết mi nghĩ gì khi nó lên báo - và nói thật, hơi sợ chúng nó sẽ dò ra mi nữa, từ tau, mi hiểu không? Giờ thì không, không lo quá nữa, nhưng mà... Đã lún tận cổ vào rồi, tất nhiên - nhưng tau biết là thế trận tồi mà. Đáng lẽ phải tin vào bản năng. Tau…” nó nhúng chìa khóa vào bột để hít nhanh một hơi nữa; chúng tôi là những người duy nhất còn lại trong quán; cô phục vụ nhỏ xăm mình, hay là chủ quán, hay là gì gì nữa đã lại biến mất vào phòng trong ọp ẹp mà - như tôi thoáng nhìn thấy - một đám người đang tụ tập trên mấy cái ghế xô pha hàng si đa, hình như đang mở hội xem phim với một bộ phim khiêu dâm thập niên 1970 “sao cũng vậy. Đáng ra tau phải biết chứ. Có người bị hại,' còn tau bị thiệt, nhưng tau đã học được bài lớn. Luôn là sai lầm - này, khoan, đợi tau làm mũi kia đã - tau thề đấy, luôn là sai lầm nếu làm việc với đám không quen.” Nó ấn chặt mũi, chuyển cái túi dưới bàn cho tôi. “Điều đó tau biết, nhưng cứ suốt ngày quên. Việc lớn thì đừng làm với kẻ lạ! Đừng bao giờ! Người ngoài có thể bảo, ‘ồ thằng này khá lắm,’ còn tau thì muốn tin, đấy là bản chất của tau. Nhưng việc xấu đều sinh ra từ đấy cả. Này nhé - tau biết bạn bè tau. Nhưng bạn bè của chúng nó? Tau không biết rõ đến thế! Người ta lây AIDS là vì thế đấy, phải không?”
Đúng là một sai lầm - tôi biết ngay khi đang làm vậy - khi hít thêm một miếng: đến giờ tôi đã làm quá nhiều rồi, hàm nghiến chặt, máu đập trong thái dương ngay giữa khi cơn xuống dốc khó chịu đã bắt đầu tí tách chảy qua tôi, yếu đuối như phiến thủy tinh mỏng đang run lên.
“Dù sao thì,” Boris đang nói. Nó nói rất nhanh, chân gõ nhịp hối hả dưới bàn. “Đang nghĩ mãi xem lấy lại cách nào. Nghĩ-nghĩ-nghĩ! Tất nhiên giờ thì tau chẳng dùng đến nó được nữa. Chặt hết cầu sau lưng rồi. Tất nhiên... ” nó cựa quậy không yên “đấy không phải lý do tau đến gặp mi, tau thật. Phần là tau muốn xin lỗi. Muốn nói tận mặt ‘xin lỗi mi’. Bởi vì, tau thật, tau ân hận lắm. Phần nữa, chuyện đã lên khắp các báo như vậy - tau muốn bảo mi đừng có lo, vì có thể mi đang nghĩ - à tau cũng chẳng biết mi đang nghĩ gì nữa. Chỉ có điều, tau không muốn mi nghe đủ chuyện như vậy, rồi lại hoảng vì không hiểu. Nghĩ người ta có thể dò ra mi. Khiến tau cảm thấy rất ăn năn. Nên tau muốn nói với mi. Bảo mi biết rằng tau vẫn cạch mi ra không ai biết mi có quan hệ với tau. Với bảo mi biết tau vẫn đang làm hết sức, cố gắng lấy lại nó. Cố gắng kinh khủng. Bởi vì… ấn ba ngón tay lên trán “nó đã giúp tau có cả gia tài, và tau rất muốn mi được lấy lại nó trọn vẹn cho mi như ngày xưa - mi biết đấy, chính bản thân nó ấy, vì những ngày xưa, chỉ để có nó thôi, của riêng mi thôi, giấu vào tủ hay gì cũng được, thỉnh thoảng lấy ra ngắm, như ngày xưa, mi hiểu không? Vì tau biết mi yêu nó lắm. Chính tau cũng đã đến mức yêu nó, tau thật.”
Tôi trân trối nhìn nó. Trong quãng đầu óc trong trẻo sau khi dùng thuốc, điều nó nói cuối cùng cũng ngấm vào. “Boris, mày nói cái gì thế?”
“Mi biết mà.”
“Không, tao không biết.”
“Đừng bắt tau nói toạc ra.”
“Boris...”
“Tau đã cố tìm cách bảo cho mi biết rồi. Tau đã năn nỉ mi đừng đi. Lẽ ra tau đã trả lại được cho mi, nếu mi chịu khó chờ thêm một hôm nữa.”
Tấm rèm cườm vẫn đang rung rinh lanh canh trong luồng gió. Những đợt sóng thủy tinh nhấp nhô. Nhìn nó, tôi chết sững trong cảm giác váng vất thoáng qua khi một giấc mơ va chạm với giấc mơ khác: tiếng đồ bạc va lanh canh giữa buổi trưa nắng gắt trong nhà hàng Tribeca, Lucius Reeve mỉm cười nhìn tôi bên kia bàn.
“Không,” Tôi nói, đẩy ghế và vã mồ hôi lạnh, úp cả hai tay lên mặt. “Không.”
“Sao, mi tưởng là ông già mi lấy à? Tau cũng hơi hơi hy vọng mi tưởng thế. Vì ổng thì lụt quá chừng. Mà ổng cũng lấy trộm của mi đủ thứ rồi.”
Tôi vuốt hai bàn tay xuống mặt, nhìn nó, không nói nên lời.
“Là tau tráo nó đấy. Phải. Chính tau. Tau cứ tưởng mi biết rồi. Này, tau xin lỗi!” nó nói khi thấy tôi vẫn há hốc mồm nhìn mình. “Tau để nó trong tủ khóa ở trường. Chỉ định đùa thôi. Ờ...” mỉm cười yếu ớt “hoặc có thể là không. Một phần là đùa. Nhưng nghe này…” gõ xuống bàn để khiến tôi chú ý - “tau thề, tau không định giữ đâu. Ban đầu tau không hề có ý đó. Làm sao tau đoán ông già mi sẽ đến nước đó? Chỉ cần mi ở lại tối hôm đó thôi…” nó vung hai tay lên trời “tau đã trả lại cho mi rồi, tau thề đấy. Nhưng không cách nào giữ mi lại được. Phải đi! Đi ngay! Phải đi thôi! Bây giờ, Boris ạ, ngay bây giờ! Thậm chí không buồn đợi đến sáng nữa! Phải đi, đi ngay, ngay giây này! Và tau quá hãi không dám kể với mi vụ đó.”
Tôi nhìn nó. Cổ họng khô khốc, tim đập thình thịch đến nỗi tôi chỉ có thể ngồi im một chỗ hy vọng nó sẽ dịu lại.
"Giờ thì mi nổi điên rồi,” Boris cam chịu nói. “Mi muốn giết tau.” “Mày đang nói với tao cái gì thế?”
“Tau...”
“Mày nói tráo nghĩa là sao?”
“Thế này...” Lo lắng nhìn quanh “tau xin lỗi! Tau đã biết hai chúng mình cùng phê là không hay mà! Tau biết rồi sẽ dẫn đến kết quả không ra sao! Nhưng... ” chúi người tới, đặt hai tay lên bàn “tau thực tình ăn năn lắm, thề đấy. Nếu không, tau đến tìm mi làm gì? Hét tên mi trên phố làm gì? Và khi tau nói muốn đền bù lại mi ấy? Tau thật. Tau sẽ bù đắp cho mi. Vì mi biết đấy, cái tranh ấy đã khiến tau phất lên, đã giúp tau...”
“Thế cái gì ở trong cái bọc tao để ngoài ngoại thành?”
“Hử?” Nó nói, lông mày nhíu xuống, và rồi xích ghế ra, nhìn tôi, đầu ngửa ra: “Mi xạo chắc. Từ bấy đến giờ mi chưa hề...?”
Nhưng tôi không đáp nổi. Môi tôi mấp máy, nhưng không phát ra tiếng nào.
Boris đập bàn. “Thằng ngốc này. Mi nói thậm chí mi còn chưa mở nó ra hả? Sao mi có thể...?”
Khi thấy tôi không đáp, chỉ vùi mặt vào hai bàn tay, nó với qua bàn lắc vai tôi.
“Thật à?” Nó khẩn thiết hỏi, tìm cách nhìn vào mắt tôi. “Chưa hề ư? Mở ra nhìn cũng chưa?”
Từ phòng trong: tiếng ré phụ nữ, ngớ ngẩn, trống rỗng, tiếp theo là những tiếng hú huýt đàn ông cũng ngớ ngẩn không kém. Rồi, ầm ĩ như cưa máy, cái máy xay đâu đó rộ lên bên quầy có vẻ như kéo dài bất tận.
“Mi không biết à?” Boris hỏi, khi tiếng ầm ĩ cuối cùng cũng lắng xuống. Phòng trong vọng ra tiếng cười và vỗ tay. “Sao lại có thể...”
Nhưng tôi không nói được lời nào. Những hình graffiti nhiều lớp trên tường, nhãn dính mang chữ ký và câu viết, những kẻ say mắt là hai dấu x. Phòng trong, một tiếng rì rầm khàn đục đã nổi lên, tới đi tới đi. Bao nhiêu thứ đang loang loáng ập vào tôi một lúc, đến nỗi tôi không thở nổi.
“Từ bấy đến giờ?” Boris hỏi, nhíu mày. “Mà không một lần mi... ?”
“Ôi Chúa ơi.”
“Mi có sao không?”
“Tao...” Tôi lắc đầu. “Mà sao mày còn biết là tao có nó? Làm sao mày biết?” tôi nhắc lại, khi nó không trả lời. “Mày lục phòng tao ư? Lục đồ của tao?”
Boris nhìn tôi. Rồi nó lùa cả hai tay lên tóc, bảo, “Mi thuộc loại say mất trí, mi biết không, Potter?”
“Lạy mày,” tôi nói sau một quãng im lặng không tin.
“Không, thật đấy,” nó hiền lành nói. “Tau là thằng nghiện. Tau biết chứ! Tau nghiện rượu từ hồi lên mười, từ hồi tau lần đầu uống rượu. Nhưng còn mi, Potter à - mi thì y như ông già tau. Ổng uống rượu - ổng bất tỉnh trong khi vẫn đi khắp nơi, làm những việc chính ổng cũng không nhớ. Đâm nát xe, đập tau nhừ tử, gây lộn với người khác, tỉnh dậy đã thấy vỡ mũi hoặc có khi ở cả thị trấn khác, ngủ trên ghế đá nhà ga.
“Tao không làm mấy việc đó.”
Boris thở dài. “Ừ, ừ, nhưng trí nhớ mi cũng tắt ngúm luôn. Hệt như ổng. Và tau không bảo mi làm chuyện xấu, làm chuyện bạo lực đâu, mi không có máu điên như ổng, nhưng hiểu không, ờ... có cái lần chúng mình vào phòng trẻ ở McDonald, cho bọn con nít ấy, mi say khướt trên cái phồng phồng đó đến nỗi bà ở đó kêu cảnh sát đến túm mi, và tau phải lôi mi khỏi đó thật lẹ, đứng ở Wal Mart cả nửa giờ đồng hồ giả vờ xem bút chì học sinh, rồi lại lên xe về trạm, rồi mi chẳng nhớ cái ma toi gì cả? Không nhớ tí gì hết? ‘McDonald hả, Boris? McDonald nào?’ Hay là,” nó nói và khịt mũi ầm ĩ, nói tràn cả lời tôi, “hay là cái hôm mi say lử, say tướt bơ, rồi bắt tau đi với mi ‘dạo quanh sa mạc’ ấy? OK, dạo thì dạo. Được thôi. Chỉ có điều mi say đến nỗi chân đi không vững, mà trời thì bốn mươi độ. Rồi thì mi chán đi tiếp, mi nằm xuống cát. Mi yêu cầu tau vứt mi lại đấy cho chết. ‘Cứ để tao ở đây, Boris ạ, mày đi đi.’ Nhớ không?”
“Nói thẳng vào vấn đề đi.”
“Tau nói gì nữa giờ? Mi buồn. Uống đến bất tỉnh suốt.”
“Mày cũng vậy.”
“Ừ. Tau nhớ mà. Té xỉu trên cầu thang, mặt cắm xuống đất, nhớ chứ? Tỉnh dậy trên mặt đất, cách nhà hàng dặm, nằm giữa bụi cây chân thò ra ngoài, cóc biết mình làm thế nào mà lê ra tận đó được? Đệt, tao còn có lần email cho Spirsetskaya giữa đêm hôm, như kiểu thằng say phát điên điển hình, ca tụng sắc đẹp tuyệt trần của bả, thú nhận tau yêu bả phát cuồng, mà lúc ấy, thì đúng là thế thật. Hôm sau ở trường, đầu váng mắt hoa: ‘Boris, Boris, cô cần nói chuyện với em.’ Ừm, nói chuyện thì nói chuyện. Và bả đứng trước mặt tau hiền từ gượng nhẹ khôn kể, kiếm cách làm tau tỉnh mộng nhẹ nhàng. Email? Email nào? Chẳng nhớ cái mẽo gì hết! Đứng đó mặt đỏ tía tai, trong khi bả đưa tau một mớ bài thơ photo và bảo tau hãy yêu lấy lũ con gái cùng tuổi! Ừ, tau cũng làm đủ trò ngu ngốc. Ngu hơn cả mi! Nhưng mà tau,” nó nói và loay hoay với điếu thuốc lá, “tau say chỉ muốn tìm vui thôi. Còn mi tìm chết. Khác nhau ở chỗ đấy.”
“Sao tao lại có cảm giác mày đang đánh trống lảng nhỉ?”
“Không phán xét mi nhé! Chỉ là - hồi ý chúng mình làm cả mớ trò điên khùng. Những trò chắc cả mi cũng không nhớ. Không, không!” Nó vội vàng nói và lắc đầu khi nhìn thấy vẻ mặt tôi. “ Cái đó thì không. Dù tau cũng phải nói, mi là thằng con trai duy nhất tau từng ngủ chung giường!”
Tiếng cười tức giận buột ra khỏi họng tôi, như thể tôi vừa bị ho hay bị nghẹn thứ gì đó.
“Cái đó…” Boris khinh khỉnh tựa vào ghế, bóp chặt hai lỗ mũi “Phì. Tau nghĩ thỉnh thoảng cũng gặp ở tuổi ấy. Chúng mình còn nhỏ, cần con gái. Có thể mi đã coi đấy là một thứ gì khác. Nhưng mà, không, đợi đã,” nó nói nhanh, đổi sắc mặt - tôi vừa đẩy ghế định đi “đợi đã,” nó nhắc lại và níu áo tôi, “đừng đi, xin mi, nghe nốt điều tau đang nói với mi đã, mi không nhớ tí nào cái đêm bọn mình xem Dr. No phải không?”
Tôi đã lấy áo vắt trên lưng ghế. Nhưng nghe đến câu này, tôi khựng lại.
“Nhớ không?”
“Tao phải nhớ à? Vì sao?”
“Tau biết là mi không nhớ mà. Vì ngày xưa tau hay thử mi. Nhắc đến Dr. No, nói đùa. Để coi mi bảo sao.”
“Thế Dr. No thì có gì?”
“Tí chút sau khi tau gặp mi!” Đầu gối nó đang nhịp lên nhịp xuống như điên. “Tau nghĩ là mi chưa quen uống vodka - mi chẳng biết rót bao nhiêu là vừa. Mi đi vào, cầm cái cốc đại tướng, từng này này, như cốc nước ấy, rồi tau nghĩ: chết mẹ! Mi không nhớ hửm?”
“Có hàng đống đêm như thế.”
“Mi không nhớ. Tau vẫn lau bãi mửa cho mi - vứt quần áo vào máy giặt hộ mi - mi còn chẳng biết tau làm thế. Mi chỉ khóc rồi kể tau nghe đủ thứ chuyện.”
“Chuyện gì?”
“Chuyện như là…nó nhăn mặt sốt ruột “ờ, lỗi tại mi mà mẹ mi mới chết... mi ước chi là mi đã chết thay... nếu mi chết, biết đâu may ra mi sẽ được ở với bả, bên nhau trong bóng tối... không nên đào sâu mấy cái đó làm gì, tau không muốn mi suy sụp. Mi đúng là cái giẻ rách, Theo ạ - chơi với mi nói chung rất vui! Sẵn sàng làm bất kỳ trò gì! Nhưng đúng là giẻ rách. Đáng ra mi phải vào viện mới phải. Trèo lên mái nhà rồi nhảy xuống hồ bơi? Đáng ra phải gãy cổ rồi, quá rồ! Mi hay nằm ngửa giữa đường ban đêm, không đèn đường, không cách nào cho người ta thấy hết, đợi xe đến cán mi chết, tau phải vật lộn với mi để lôi dậy, kéo vào trong nhà.
“Tao phải nằm trên cái phố quỷ tha đấy cả triệu năm thì mới hòng có xe đến. Tao có ngủ luôn ở đấy cũng được. Mang theo túi ngủ.”
“Tau không định cãi vụ đó đâu. Mi bị khùng. Mi đã có thể khiến cả đôi chết quay. Một đêm mi còn lấy diêm dọa đốt nhà, nhớ chứ?”
“Tao đùa thôi mà,” Tôi bứt rứt đáp.
“Thế còn thảm? Đốt thủng một lỗ to đùng trên xô pha? Đấy cũng là đùa à? Tau phải lộn trái nệm để Xandra không thấy.”
“Cái của bỏ đi đó rẻ tiền đến nỗi thậm chí không chống lửa.”
“Ừ, ừ. Mi nói sao cũng được. Nhưng rồi đến một đêm. Chúng mình đang xem Dr. No, tau chưa xem bao giờ nhưng mi xem rồi, và tau đang khoái cái phim lắm còn mi thì đã V gavno, đang đến đoạn ổng ở trên đảo, ngầu vãi lúa, xong rồi ổng bấm nút cho lộ ra cái tranh ổng trộm được?”
“Ôi trời ơi.”
Boris cười lục khục. “Thế đấy! Cầu Chúa phù hộ mi! Thú vị thế! Mi say mèm rồi bắt đầu lảm nhảm - tao có cái này cho mày xem! Mê hồn lắm! Vĩ đại lắm! Đứng chắn trước mặt tivi. Ờ, thật thế! Tau thì đang mải phim, đến phán hay nhất, mi thì không chịu im mồm. Cút nhà mi đi! Thế là, mi đi, điên điên dở dở, ‘chó nhà mày’ làm rầm cả lên. Rầm rầm rầm. Rồi thì mi xuống, cầm theo cái tranh, hiểu không?” Nó cười. “Cười cái là - tau tin chắc mi chỉ trộ tau. Tác phẩm bảo tàng lừng lẫy thế giới à? Có khối. Nhưng - lại là thật cơ chứ. Nhìn là thấy ngay.”
“Tao không tin mày.”
“Ổ, thật mà. Tau biết ngay. Vì nếu tranh giả được như thế ấy à? Las Vegas chắc đã là thành phố đẹp nhất quả đất! Nhưng mà - buồn cười vãi! Tau kiêu hãnh dạy mi cách ăn trộm táo với kẹo ở cửa hàng, còn mi thì đã đi trộm tác phẩm nghệ thuật vĩ đại.”
“Không phải tao ăn trộm.”
Boris khúc khích cười. “Không, không phải. Mi giải thích rồi. Bảo quản an toàn. Bổn phận lớn trong đời. Mi nói tau coi,” nó nói và chồm người tới, “thực sự mi chưa hề mở ra xem à? Từ đó giờ? Mi bị sao vậy?”
“Tao không tin mày,” tôi nhắc lại. “Mày lầy nó lúc nào tôi hỏi khi nó đảo mắt ngoảnh đi. “Làm cách nào?”
“Thì, tau đã bảo...”
“Làm sao mày lại nghĩ tao sẽ tin một lời nào trong đó?”
Boris lại đảo mắt. Nó thò tay vào túi áo khoác, mở ra một tấm ảnh trên iPhone. Rồi nó đưa cho tôi qua mặt bàn.
Đấy là mặt sau của bức tranh. Mặt trước có thể tìm thấy hình ảnh ở khắp mọi nơi. Nhưng mặt sau thì độc nhất như một dấu vân tay: những vệt sáp dấu chảy đậm màu, nâu và đỏ; những cái nhãn châu Âu nhằng nhịt không đều (số La Mã; chữ ký loằng ngoằng bằng bút lông vũ) tạo cảm giác như một cái rương đi biển, hay là một hiệp ước quốc tế từ lâu lắm rồi. Những lớp màu nâu và vàng rạn vỡ trông thật đến mức gần như hữu cơ, như lá héo.
Nó bỏ lại điện thoại vào túi. Chúng tôi ngồi im lặng hồi lâu. Rồi Boris với lấy điếu thuốc.
“Giờ thi tin chưa?” Nó hỏi và phà ra một luồng khói ở khóe miệng.
Những nguyên tử trong đầu tôi đang quay vù vù; khoảng thời gian trong trẻo đầu óc đã bắt đầu đổi hướng, bối rối và lo sợ lén lút dâng lên như không khí đen trước trận giông bão. Trong một giây dài nghiêm nghị chúng tôi nhìn nhau: sóng hóa học cao tần, cô độc truyền tới cô độc, như hai vị khổ tu Tây Tạng trên đỉnh núi.
Rồi tôi đứng dậy không nói một lời, xỏ áo. Boris cũng bật dậy.
“Đợi đã,” nó nói khi tôi lách qua. “Potter? Đừng đùng đùng bỏ đi như thế. Tau đã bảo sẽ bù lại cho mi mà? Tau nói thật đấy...
“Potter?” nó nhắc lại khi tôi đi qua tấm rèm đầy những hạt cườm lanh canh, ra phố, vào màn sáng xám mờ bẩn lúc bình minh. Đại lộ C vắng hoe, chỉ có một chiếc taxi đơn côi có vẻ cũng mừng rỡ khi thấy tôi như tôi mừng khi thấy nó, và chạy vụt đến đứng chờ tôi. Trước khi nó kịp nói thêm một lời, tôi vào xe, đi mất, bỏ lại nó đứng đó trong cái áo choàng bên một dãy thùng rác.
x
ĐÃ TÁM RƯỠI SÁNG khi tôi đến được kho trữ đồ, quai hàm đau nhức vì nghiến răng và trái tim muốn vỡ tung. Ban ngày mang vẻ bàn giấy: ánh chói buổi sáng tầm thường, sáng sủa đe dọa. Đến mười giờ mười lăm tôi đã ngồi trên sàn phòng ở nhà Hobie, đầu óc như con quay đang lảo đảo văng từ bên này qua bên khác. Vứt quanh tôi trên thảm là hai chiếc túi mua hàng, một cái lều bạt chưa bao giờ dùng đến, một cái vỏ gối vải percale màu be vẫn còn bốc mùi phòng ngủ của tôi ở Vegas, một hộp thiếc toàn Roxicodone và morphine đủ loại mà tôi biết cần giật nước cho trôi, và một nắm méo mó băng dính gói hàng mà tôi đã khổ công cắt ra bằng con dao X-Acto, hai mươi phút vất vả tỉ mỉ, mạch máu đập dồn trên đầu ngón tay, khiếp sợ không dám quá mạnh tay nhỡ làm sứt mẻ bức tranh, cuối cùng cũng rạch được một bên, xé băng dính từng vòng, từng vòng, từng vòng cẩn trọng, bằng bàn tay run rẩy: và chỉ thấy, kẹp giữa hai lớp bìa và quấn giấy báo bên ngoài - một cuốn bài tập Công dân đã viết nhằng nhịt (Dân chủ, Đa dạng, và Em!).
Đám đông đa văn hóa rạng rỡ. Trên bìa, trẻ da vàng, trẻ La tinh, trẻ da đen, trẻ da đỏ, một cô bé quấn khăn Hồi giáo và một đứa bé da trắng ngồi xe lăn cùng mỉm cười nắm tay nhau trước lá cờ Mỹ. Bên trong cuốn sách, trong phạm vi thế giới hớn hở, buồn chán của đời sống công dân đứng đắn, nơi những người thuộc mọi sắc tộc cùng vui vẻ tham gia xây dựng cộng đồng, những đứa bé sống ở nội thành đứng khắp khu nhà ở xã hội cầm bình tưới cây, chăm sóc một cái cây cảnh xòe cành biểu thị những nhánh khác nhau của nhà nước. Boris đã vẽ những mũi dao găm có để tên nó, hình hoa hồng và trái tim vây quanh tên tắt của Kotku, và một cặp mắt dò la, ranh mãnh liếc ngang, bên trên một mẫu đề thi điền dở.
Tại sao con người cần có chính quyền? Để áp đặt hệ tư tưởng, trừng phạt kẻ làm bậy, phát huy bình đẳng và hữu ái giữa các dân tộc. Kể tên một số bổn phận của công dân Mỹ? Bỏ phiếu bầu Quốc hội, ủng hộ tính đa dạng, chiến đấu chống lại kẻ thù của nhà nước
May thay, Hobie không có nhà. Mấy viên thuốc tôi uống chẳng có tác dụng, và sau hai giờ đồng hồ dằn lên vật xuống trong giường, nửa mơ nửa tỉnh, chao đảo, tra tấn - những ý nghĩ vùn vụt, mệt lử vì tim đập thình thình, giọng Boris còn ong ong trong đầu - tôi buộc mình đứng dậy, dọn hết đống bừa bộn trong phòng, tắm và cạo râu: trong lúc đó còn làm sứt mặt, vì môi trên đang cứng đờ như xông thuốc tê sau cú đổ máu mũi vừa xong. Rồi tôi pha một ấm cà phê cho mình, kiếm được cái bánh rán hẩm trong bếp và ép mình ăn, đến trưa đã có thể xuống cửa hiệu mở cửa - vừa kịp đón đường bà phát thư đang mặc áo mưa ni-lông (trông có vẻ hơi hoảng hốt, đứng tránh xa cái thằng tôi mắt toét nhèm, sứt môi trên, cầm tờ giấy ăn đẫm máu), dù khi nhận lá thư từ bàn tay đi găng cao su tôi mới nhận ra: để làm gì chứ? Giờ thì Reeve cứ viết cho Hobie tùy thích - gọi cho Interpol cũng được - ai cần biết làm gì.
Trời đang mưa. Khách bộ hành hối hả lúp xúp chạy. Mưa quất mạnh vào cửa sổ, nối nhau đọng trên những túi ni-lông đựng rác bên hè. Trong này, ngồi bên bàn trong cái ghế bành mốc ẩm, tôi cố tìm cách định vị mình, hay ít nhất cũng kiếm chút an ủi trong sắc lụa bạc màu và cảnh tối tăm của cửa hiệu, vẻ âm u nửa buồn nửa ngọt lịm như những lớp học tối trong mưa ngày thơ bế, nhưng cú vã dopamine đã vứt tôi đánh ầm xuống đất, trơ ra trong những run rẩy đón chờ một thứ gì đó rất giống như cái chết, một nỗi buồn cảm thấy trước tiên trong dạ, rồi đập ầm ầm trên trán từ trong ra, tất cả bóng tối tôi đã khóa cửa nhốt ở ngoài thì nay sầm sầm tràn lại trở vào.
Chứng hẹp trường nhìn. Bao nhiêu năm qua tôi đã dật dờ sống, quá mê muội và cách âm khiến hiện thực dù thuộc loại gì cũng không thể xuyên qua: một cơn mê đã cuốn tôi đi trên làn sóng chầm chậm, thư thả của nó từ ngày thơ ấu, nằm phê thuốc trên cái thảm lông cứng ở Vegas cười với quạt trần, chỉ có điều giờ tôi không cười được nữa, Rip van Winkle[134] chớp mắt và thò đầu lên mặt đất muộn chừng trăm năm.
Còn cách nào khiến mọi thứ trở về ổn thỏa? Chẳng có cách nào. Mặt nào đó, Boris đã giúp tôi bằng cách lấy nó đi, ít nhất thì tôi cũng biết phần lớn mọi người sẽ cho là vậy; tôi đã được giải phóng, không ai còn có thể trách cứ gì, những vấn đề lớn nhất của tôi trong chớp mắt đã được giải quyết; nhưng dù biết bất kỳ ai tỉnh táo cũng sẽ nhẹ người khi bức tranh được gỡ khỏi tay mình, tôi lại chưa bao giờ cảm thấy tả tơi đến thế vì tuyệt vọng, tự hận, hổ thẹn.
Cửa hiệu ấm áp, uể oải. Tôi không ngồi yên được; tôi đứng lên rồi ngồi xuống, đi ra cửa sổ rồi lộn lại. Cái gì cũng thấm đẫm nỗi khủng khiếp. Một bức tượng Pulcinella bằng sứ liếc mắt thù địch nhìn tôi. Ngay cả các món đồ gỗ cũng có vẻ bệnh hoạn và méo mó. Làm sao tôi lại có thể nghĩ mình tốt hơn, thông thái hơn, cao cả hơn, giá trị hơn và xứng đáng sống hơn mình thực tế chỉ vì cái bí mật cất giấu ở ngoại thành trên mạn bắc? Nhưng đúng là tôi đã nghĩ như vậy đây. Bức tranh đã khiến tôi cảm thấy mình ít trần tục hơn, ít tầm thường hơn. Nó vừa là chỗ dựa, vừa là lời thanh minh, vừa là chất liệu vừa là tổng số. Đấy là hòn đá móng đã nâng đỡ cả tòa giáo đường. Và thật khủng khiếp khi nhận ra, nhận ra bằng cách thấy nó thình lình biến mất dưới chân, rằng cả cuộc đời người lớn của tôi đã ngầm duy trì bằng niềm vui khủng khiếp, man dại, giấu kín này: niềm tin rằng cả cuộc đời mình đang thăng bằng trên một bí mật bất cứ lúc nào cũng có thể khiến nó đổ sụp.
XI
KHI HOBIE VỀ ĐẾN NHÀ khoảng hai giờ chiều, ông đi từ phố vào nhà trong tiếng chuông leng keng như có khách.
“Chà, tối qua đúng là một bất ngờ lớn.” Má ông đỏ hồng vì mưa; ông tuột áo mưa rồi rũ nước; ông ăn mặc đẹp để đi mua đấu giá, cà vạt thắt nút Windsor trên một trong mấy cái áo vét cũ rất đẹp. “Boris!” Rõ ràng cuộc đấu giá là một thành công, tôi thấy ngay từ tâm trạng ông; dù ít khi đặt giá cao nhưng ông biết mình muốn gì, và thi thoảng trong những buổi ít kịch tính khi không có ai đấu lại, thì ông mang về nhà cả một lô hàng xinh đẹp. “Bác đoán là hai cháu đã có một đêm ra trò phải không?”
“À.” Tôi đang ngồi rúc vào một góc nhấp trà, đầu đau muốn vỡ ra.
“Thật buồn cười, gặp cậu ta sau khi đã được nghe kể bao nhiêu điều về cậu ta. Cứ như gặp nhân vật trong sách vậy. Lúc nào bác cũng hình dung cậu ta là cậu trộm giỏi tránh né trong Oliver Tivist - à, cháu biết đấy, thằng bé con, thằng nhóc đường phố ấy, diễn viên đóng là ai nhỉ, Jack gì đấy. Áo choàng rách. Má có vệt đất bẩn.”
“Bác cứ tin cháu, hồi ấy cậu ta bẩn phết.”
“À, cháu biết đấy, Dickens cũng không cho ta biết số phận của cậu nhóc đó sau này ra sao. Lớn lên thành một vị doanh nhân khả kính, biết đâu đấy? Và Popper đúng là hóa điên phải không? Bác chưa bao giờ thấy con vật nào sướng cuồng lên như thế.
“À, mà này,” Hơi ngoảnh đi, còn đang mải chỉnh áo; ông không thấy tôi ngừng phắt lại khi nghe tên Popper “tí thì quên, Kitsey gọi đấy.”
Tôi không đáp, không đáp nổi. Tôi còn chưa hề nghĩ đến Popper.
“Khá muộn - mười giờ. Bảo con bé là cháu gặp Boris, vừa ghé về, đi ra ngoài rồi, hy vọng thế là ổn.”
“Tất nhiên,” tôi nói sau một lúc ép mình tập trung, còn đang vật lộn sắp xếp các ý nghĩ trong đầu đang mải chạy về mấy hướng rất tồi tệ cùng một lúc.
“Bác phải nhắc cháu gì nhỉ.” Hobie đặt ngón tay lên môi. “Bác được giao phó việc gì đó. Để nghĩ xem.
“Bác không nhớ ra,” sau khi khẽ giật mình ông nói, lắc đầu. “Cháu phải gọi cho nó thôi. Tối nay có tiệc, bác nhớ là thế, ở nhà ai đấy. Tiệc tối lúc tám giờ! Đến đó thì bác nhớ. Nhưng không nhớ ở đâu.”
“Nhà Longstreet,” Tôi nói và tim đập rộn.
“Nghe có vẻ đúng. Mà dù sao thì, Boris! Thú vị ghê, quyến rũ gớm - cậu ta ở thành phố bao lâu? Cậu ta ở đây bao lâu?” ông vui vẻ nhắc lại khi thấy tôi không trả lời - ông không thấy vẻ mặt tôi đang kinh hoảng nhìn ra phố. “Chúng ta phải mời cậu ấy ăn tối chứ, cháu nghĩ thế không? Hay là cháu bảo cậu ta dành lại cho ta một hai đêm khi nào rảnh? Tất nhiên, đấy là nếu cháu muốn,” ông nói khi thấy tôi không đáp. “Tùy cháu thôi. Cứ nói cho bác biết.”
XII
KHOẢNG HAI TIẾNG SAU - mệt bã người, cơn nhức đầu khiến mắt căng ra vì đau - tôi vẫn còn hối hả nghĩ cách làm sao mang được Popper về, trong lúc vừa phải bịa ra rồi gạt bỏ những lời giải thích về sự vắng mặt của nó. Tôi bỏ quên nó, bị buộc vào trước cửa hàng nào đó? Có ai đã tóm nó đi? Thật là nói dối rành rành: ngoài chuyện trời đang mưa như trút nước, thì Popper nay đã già và ghét bị xích đến mức khó mà lôi đi dù chỉ ra trụ cứu hỏa. Đi chăm sóc chăng? Người lo việc chăm sóc cho Popper, một bà già có vẻ thiếu thốn tên Cecelia làm việc ngay tại nhà, lúc nào cũng trả nó về lúc ba giờ. Thú y? Ngoài chuyện Popper không hề ốm ra (và nếu nó ốm, tại sao tôi không nói với ông?) thì nó luôn đi khám ở bác sĩ mà Hobie đã quen từ thuở Welty còn nuôi Chessie. Phòng khám của bác sĩ McDermott ở ngay cuối phố. Việc gì tôi còn phải đưa nó đi đâu?
Tôi rên lên, đứng dậy rồi đi ra cửa sổ. Hết lần này đến lần khác, tôi vẫn đâm phải ngõ cụt đó, một việc ắt phải xảy ra trong một hai giờ nữa thôi, Hobie đi vào, bối rối, nhìn quanh cửa hàng: “Popper đâu? Cháu có thấy nó đâu không?” Và thế là xong: vòng quay vô tận, không cách nào Alt-Tab thoát ra. Có thể đóng chương trình, tắt máy tính, khởi động lại từ đầu, nhưng trò chơi vẫn sẽ đóng băng và treo tại điểm ấy. “Popper đâu?” Không có mã ăn gian. Game over. Không có đường nào vượt qua thời điểm đó.
Màn mưa như kim châm đã ngớt đi thành mưa phùn, vỉa hè loáng ướt, nước nhỏ giọt từ mái bạt, mọi người trên phố có vẻ đều nhân lúc này mà ụp áo mưa lên người dắt chó chạy vọt đến góc phố: chó hiện ra ở bất cứ chỗ nào tôi nhìn đến, chó chăn cừu nhảy tỡn, chó xù đen thông thường, bọn săn thỏ, bọn tha mồi, một con bull Pháp già khự và một cặp lạp xưởng kiêu kỳ, mặt hếch lên trời, nối đuôi nhau khệnh khạng qua đường. Bức xúc, tôi quay lại ghế, ngồi xuống, nhặt ca-ta-lô bán thanh lý của Christie lên giở xoàn xoạt: những bức màu nước hiện đại chủ nghĩa kinh tởm, hai nghìn đô cho một cặp trâu húc nhau bằng đồng thời Victoria, ngớ ngẩn.
Tôi sẽ bảo Hobie thế nào đây? Popper đã già và điếc, thỉnh thoảng nó ngủ quên trong những xó xỉnh nào đó không nghe thấy ngay tiếng người gọi, nhưng chẳng mấy chốc sẽ đến giờ ăn tối của nó và tôi sẽ nghe thấy Hobie đi lại trên gác, tìm nó đằng sau xô pha, trong phòng Pippa và những chỗ thường lệ. “Popsky? Này, chó ngoan! Đến giờ ăn rồi!” Giả vờ không biết có được không? Vờ cùng ông tìm quanh nhà, vò đầu thắc mắc? Biến mất bí ẩn? Tam giác Bermuda? Tôi vừa quay trở lại với ý tưởng gửi đi chăm sóc, lòng chùng xuống, thì nghe tiếng chuông bên cửa.
“Tau đã định giữ nó rồi.”
Popper - người ướt đẫm, nhưng nhìn chung không có gì suy suyển sau cuộc phiêu lưu - duỗi cẳng ra khá trịnh trọng khi Boris đặt nó xuống sàn, rồi lót tót chạy đến chỗ tôi, ngửa đầu giục tôi gãi cằm cho nó.
“Nó chẳng nhớ mi tí nào,” Boris nói. “Bọn tau đi chơi với nhau cả ngày cực vui.”
“Chúng mày làm gì?” tôi hỏi, sau một hồi lâu im lặng, vì chẳng nghĩ ra phải nói gì nữa.
“Chủ yếu là ngủ. Gyuri thả bọn tau xuống...” Nó dụi đôi mắt thâm quầng, ngáp dài “và bọn tau đã ngủ rất ngon bên nhau, chỉ hai đứa tau. Mi có biết - ngày xưa nó hay cuộn tròn người lại? Như một cái mũ bông trên đầu tau?” Popper chẳng bao giờ thích ngủ gối cằm lên đầu tôi như vậy, chỉ với Boris thôi. “Rồi - bọn tau dậy, rồi tau tắm và dẫn nó đi dạo - không xa lắm, nó không muốn đi quá xa - rồi tau gọi điện cho mấy người, bọn tau ăn bánh kẹp thịt hun khói rồi lái xe về. Này, tau xin lỗi!” nó buột ra khi thấy tôi không đáp, thọc ngón tay vào mái tóc bù xù. “Thật đấy. Và tau sẽ tìm ra cách sửa sai, thật thế, tau thề.”
Im lặng kéo dài tưởng đến ngạt thở.
“Mà thế tối qua mi vui chứ? Tau thì rất vui. Nhưng sáng nay thì bớt phởn rồi. Làm ơn nói gì đi,” nó thốt lên khi thấy tôi không đáp. “Tau đã khổ sở vì chuyện này cả ngày hôm nay rồi.”
Popper đã ngửi ngửi rồi chạy qua phòng đến chỗ đĩa nước. Ngoan hiền, nó bắt đầu uống. Một lúc lâu chẳng có tiếng động nào trong phòng ngoài tiếng liếm láp và nuốt ực đều đều.
“Thật mà, Theo… tay đặt lên trái tim “tau thấy phiền muộn lắm. Cảm xúc trong tau - nỗi hổ thẹn trong tau - không lời nào tả xiết,” nó nói, vẻ trầm trọng hơn nữa, khi thấy tôi vẫn không đáp. “Và phải, tau thừa nhận, một phần trong tau cũng tự hỏi, ‘sao mi lại làm hỏng bét vậy Boris, sao mi phải múa cái lưỡi làm gì’. Nhưng làm sao mà tau nói dối, lén lút được? Ít nhất mi cũng chấm điểm cho tau vụ đó chứ?” nó nói và xoa tay bứt rứt. “Tau không hèn. Tau đã bảo mi. Tau đã thừa nhận. Tau không muốn mi lo lắng vì không biết chuyện gì xảy ra. Và tau sẽ đền bù lại cho mi bằng cách nào đó, tau hứa.”
“Tại sao...” Hobie đang bận rộn chạy máy hút bụi dưới nhà nhưng tôi vẫn hạ giọng, thì thầm cáu giận như hồi Xandra ở dưới nhà và chúng tôi không muốn cô ta nghe thấy tiếng cãi vã “tại sao?”
“Tại sao gì?”
“Tại sao mày lại lấy nó đi chứ?”
Boris chớp mắt, ra vẻ chính đáng. “Tại vì có Mahya Do Thái mò đến nhà mi, chứ tại sao!”
“Không, đấy không phải là cớ tại sao.”
Boris thở dài. “Ừm, đấy là một phần tại sao - một chút. Ở nhà mi nó có an toàn không? Không! Ở trường thì cũng thế. Lấy cuốn sách cũ của tau, quấn trong giấy báo, dán băng dính cho mập lên...”
“Tao đang hỏi tại sao mày lấy nó.”
“Tau biết nói gì đây. Tau không phải đứa ăn trộm.”
Popper vẫn còn ồn ã uống. Mệt lả, tôi nghĩ không hiểu Boris có nhớ bỏ bát nước cho nó trong cả ngày vui vẻ cùng nhau hay không.
“Và...” Nó nhún vai nhẹ không “tau muốn nó. Ừ đấy. Ai không muốn chứ?”
“Muốn nó, vì sao? Tiền à?” tôi hỏi, khi nó không trả lời.
Boris trề môi. “Tất nhiên không phải. Một thứ như thế làm sao bán được. Mặc dù - phải thừa nhận - một lần tau gặp phiền lớn, bốn năm năm trước, tau suýt bán tháo, giá rẻ như bèo, gần như đem cho, chỉ để tống nó đi. May mà không bán. Lúc đó tau bí, đang cần tiền. Nhưng...” khịt mũi, quẹt mũi - “tìm cách bán mấy thứ đó là cách vào tù nhanh nhất. Mi cũng biết mà. Làm công cụ mặc cả - lại là chuyện khác! Họ giữ nó coi như thế chấp - ứng trước hàng cho mình. Mi bán món hàng, gì cũng được, mang vốn lại, chia phần cho họ, tranh trả lại mi, xong chuyện. Hiểu chưa?”
Tôi không nói gì, bắt đầu giở lại cuốn ca-ta-lô vẫn đang mở trên bàn.
“Mi biết người ta nói gì đấy.” Giọng nó vừa buồn vừa mơn trớn. “ ‘Thời cơ làm nên kẻ trộm’. Ai còn hiểu rõ hơn mi nữa? Tau mở tủ mi ở trường tìm tiền ăn và tau nghĩ: hửm? Ô này? Cái gì đây? Thật dễ lấy nó ra giấu đi. Rồi tau mang cái vở bài tập cũ đến lớp thủ công của Kotku, cùng cỡ, cùng độ dày - cùng loại băng dán đủ thứ nữa! Kotku giúp tau một tay. Nhưng tau không bảo là tại sao. Những chuyện như thế không nói cho Kotku được.”
“Tao vẫn không tin nổi mày lại ăn trộm nó.”
“Này. Tau không lấy cớ này nọ đâu. Đúng là tau đã lấy nó. Nhưng…” nó mỉm cười tươi rói “tau có lừa mi không? Tau có nói dối không?”
“Có,” tôi nói, sau một lúc im lặng hồ nghi. “Có, mày có nói dối.”
“Mi không bao giờ hỏi thẳng tau! Nếu mi hỏi, tau đã nói mi rồi!”
“Boris, đừng điêu nữa. Mày đã nói dối.”
“Ờ, giờ thì không dối nữa,” Boris nói và cam chịu nhìn quanh. “Tau tưởng tới giờ mi phải phát hiện ra rồi chứ! Từ hàng năm trời! Tau tưởng mi đã biết đấy là do tau!”
Tôi lảng đi, ra chỗ cầu thang, sau lưng là Popchik: Hobie đã tắt máy hút bụi, chỉ còn sự im lặng rùng mình, và tôi không muốn ông nghe thấy chúng tôi.
“Tau không rõ lắm…” Boris hỉ mũi ầm ĩ, quan sát sản phẩm trên tờ giấy ăn, nhíu mày “nhưng khá chắc là nó ở đâu đấy trong châu Âu.” Nó gập tờ giấy ăn, nhét lại vào túi. “Genoa, ít có khả năng nhưng vẫn là có. Nhưng tau đoán khả năng cao nhất là Bỉ với Đức. Hà Lan cũng có thể. Ở đây sẽ mặc cả được giá cao hơn, vì người ta ấn tượng hơn.”
“Vậy cũng không thu hẹp phạm vi được lắm.”
“Này, nghe tau! Hãy mừng là nó không ở Nam Mỹ! Vì đến lúc ấy tau thề mi sẽ không cách nào thấy lại nó đâu.”
“Tao tưởng mày bảo nó mất rồi mà.”
“Tau không bảo gì ngoài việc là có khả năng mình sẽ biết nó đang ở đâu. Có khả năng. Cái đó khác hẳn với biết cách lấy lại nó. Tau chưa hề làm việc với mấy người này.”
“Mấy người nào?”
Boris lúng túng im lặng, mắt nhìn quanh quất khắp phòng: những tượng chó bull nhỏ bằng sắt, những chồng sách, hàng cuộn thảm nho nhỏ.
“Nó không tè lên đồ cổ à?” Nó hỏi, hít hàm về phía Popchik. “Hàng đống đồ đạc đẹp này?”
“Không.”
Ngày xưa nó đi ra khắp nhà mi. Cả cái thảm dưới nhà toàn mùi nước giải. Tau nghĩ chắc là tại Xandra không thường xuyên cho nó ra ngoài hồi chúng mình chưa đến.”
“Mấy người nào?”
“Hửm?”
“Mấy người nào mày chưa hề làm việc.”
“Phức tạp lắm. Tau sẽ giải thích nếu mi muốn,” nó vội thêm, “chỉ có điều tau nghĩ cả hai chúng mình đều mệt lử rồi, và bây giờ không phải lúc. Nhưng tau sẽ gọi vài cú rồi cho mi biết tau phát hiện được gì, hửm? Và khi nào được tau sẽ quay lại cho mi biết, hứa đấy. Thêm nữa… đập ngón tay lên môi trên.
“Gì?” tôi giật mình hỏi.
“Có gì ở đấy. Dưới mũi mi ấy.”
“Tao bị đứt môi khi cạo râu.”
“Ồ.” Nó đứng đó trông có vẻ băn khoăn, như sắp sửa lại xộc ra cả một tràng xin lỗi hay thổ lộ nồng nhiệt hơn nữa, nhưng cái im lặng giữa hai chúng tôi có vẻ đã dứt điểm câu chuyên, và nó thọc tay vào túi. “Thế đấy.”
“Thế đấy.”
“Vậy hẹn gặp mi sau.”
“OK.” Nhưng khi nó bước ra khỏi cửa, còn tôi đứng bên cửa sổ nhìn nó nghiêng người tránh nước rỏ từ mái bạt và lắc lư đi mất - dáng điệu chuyển sang thả lỏng và hớn hở hẳn khi nó nghĩ đã ra ngoài tầm mắt tôi - tôi nghĩ xác suất rất cao là sẽ không bao giờ thấy nó lần nữa.
XIII
XÉT THEO TÂM TRẠNG CỦA TÔI, mà về cơ bản là gần chết, đầu đau như búa bổ, và chìm trong khổ não đến mức coi như không nhìn thấy gì, thì chẳng ích gì mà mở cửa hiệu. Vậy nên dù mặt trời đã ló ra còn mọi người lại đổ xuống phố, tôi đã quay biển “Đóng cửa”, và có Popper chạy theo đằng sau lo âu, tôi lê mình lên nhà, nôn nao vì cơn đau thình thình sau hốc mắt, để hưởng vài tiếng bất tỉnh trước bữa tối.
Kitsey và tôi đã hẹn nhau ở căn hộ nhà mẹ cô lúc 7 giờ 45 trước khi đi qua nhà Longstreet, nhưng tôi đến sớm một chút, phần vì muốn gặp cô một mình trong vài phút trước khi đi, phần vì tôi có thứ này mang cho bà Barbour - một tập ca-ta-lố triển lãm hơi hơi hiếm, đã tìm được cho bà ở một trong mấy nơi bán thanh lý của Hobie, Thuật in thời Rembrandt.
“Không, không,” Etta nói khi tôi vào bếp nhờ bà gõ cửa, “bà đã trở dậy đi lại rồi. Tôi vừa mang trà cho bà mới mười lăm phút trước.”
“Trở dậy đi lại” với bà Barbour chỉ có nghĩa là đồ ngủ và dép đi trong nhà bị chó gặm, quẳng ra ngoài một thứ trông như cái áo choàng cũ mặc đi nhà hát. “Ôi, Theo!” mặt bà rạng rỡ lên với cái vẻ bình dị không đề phòng rất cảm động, khiến tôi nghĩ đến Andy trong những dịp hiếm hoi nó thực sự vui lòng về việc gì - ví dụ như kính viễn vọng Nagler 22 mm được bưu điện gửi đến, hay mừng rỡ vì phát hiện ra một website khiêu dâm giả trang có diễn viên thực, với những thiếu nữ đồ sộ xách kiếm đang tập thể dục cùng hiệp sĩ phù thủy đủ loại. “Thật may là may sao!”
“Con hy vọng là bác chưa có chứ?”
“Chưa...” Vui mừng lật lật các trang “con đúng là của báu! Con không tin được đâu, nhưng bác đã đi xem triển lãm này ở Boston hồi sinh viên đấy.”
“Hẵn là một buổi đáng chú ý lắm,” tôi nói và lút người xuống ghế bành. Tôi đang vui tới mức mà một giờ trước không hình dung nổi là có thể. Điên đảo vì bức tranh, điên đảo vì nhức đầu, tuyệt vọng vì viễn cảnh bữa tối ở nhà Longstreet, tự hỏi làm thế quái nào mà sống sót qua một buổi tối ăn cua sốt kem và Forrest trình bày các quan điểm về nền kinh tế trong khi mọi điều tôi muốn chỉ là hít đến khi đầu óc mụ mị đi, tôi đã tìm cách gọi Kitsey hòng mong có thể năn nỉ cô cùng tôi giả ốm, để cùng trốn ở nhà dành cả buổi tối trong căn hộ của cô, trên giường. Nhưng - như vẫn thường xảy ra rất đáng ghét trong những ngày Kitsey có hẹn - mọi cuộc gọi đều không ai nhấc máy, tin nhắn và email không được trả lời, suốt ngày gặp phải hộp thư thoại - “em phải kiếm cái điện thoại mới thôi,” cô đã than thở khi tôi phàn nàn về những vụ đứt liên lạc quá thường xuyên đó, “điện thoại này bị làm sao ấy” - và dù đã mấy lần tôi rủ cô, trên phố, hãy tạt vào cửa hàng Apple mua một chiếc mới, thì lúc nào cô cũng có lý do: xếp hàng dài quá, phải đi đâu đó, đang không có hứng, cô đói, cô khát, cô cần đi tiểu, để lúc khác được không?
Ngồi trên giường, mắt nhắm nghiền, bực dọc vì không liên lạc được với cô (mà hình như bao giờ cũng vậy, đúng những lúc tôi cần cô nhất), tôi đã tính hay là gọi cho Forrest bảo rằng tôi ốm. Nhưng dù khó chịu đến vậy tôi vẫn muốn được thấy cô, dù là ngồi bên kia bàn ăn giữa những kẻ tôi không thích. Vì thế - để buộc mình ra khỏi giường, lên nửa bắc, qua phần đáng tắc thở nhất của buổi tối - tôi đã nuốt một lượng mà ngày xưa, với tôi, chỉ là một liều ma túy nhẹ. Nhưng dù không thanh toán được cơn nhức đầu, nó đã khiến tôi rơi vào trạng thái phấn chấn khó hiểu. Hàng tháng nay tôi chưa hể cảm thấy vui thế này.
“Hôm nay con với Kitsey ra ngoài ăn à?” bà Barbour hỏi, vẫn đang thích thú lật các trang ca-ta-lô. “Forrest Longstreet à?”
“Vâng.”
“Học cùng lớp con và Andy, phải không?”
“Đúng thế.”
Không phải thuộc về đám con trai cư xử đáng ghét ấy chứ?"
“Ờ...” Cơn lâng lâng đã khiến tôi rộng lượng hơn. “Không hẳn.” Forrest, lùn xủn và đầu óc hơi thiếu muối (“Thưa thầy, cây có được coi là thực vật không?”) chưa bao giờ đủ khôn để hành hạ Andy và tôi một cách thực tập trung hay khéo léo. “Nhưng mà, ờ, bác nói đúng đấy, cậu ta cũng thuộc về cả nhóm ấy, bác biết mà, Temple và Iharp và Cavanaugh và Scheffernan.”
“Ừ. Temple. Nó thì bác nhớ rõ. Con nhà Cable nữa.”
“Hửm?” Tôi đáp có phần ngạc nhiên.
“Nó thì đúng là đã thành đứa chẳng ra gì,” bà nói mà không ngẩng lên khỏi cuốn ca-ta-lô. “Sống nợ nần... suốt ngày lông bông, rắc rối với pháp luật, nghe bảo thế. Viết mấy tấm séc không có tiền bảo chứng, rõ ràng là mẹ nó đã rất vất vả mới ngăn được họ khỏi đâm đơn kiện. Lại Win Temple nữa,” bà nói và ngẩng lên, trước khi tôi kịp giải thích rằng Cable không hẳn thuộc về nhóm ăn hiếp hung hăng kia. “Nó là đứa đã đập đầu Andy vào tường trong nhà tắm.”
“Vâng, chính là nó.” Điều tôi nhớ nhất trong vụ nhà tắm không phải là Andy bất tỉnh nhân sự trên gạch bông, mà là Scheffernan và Cavanaugh đang vật tôi ngã xuống, kiếm cách thọc que lăn khử mùi vào đít tôi.
Bà Barbour, gầy guộc trong cái áo khoác kín người, phủ khăn trên lòng như đang ngồi xe trượt tuyết đi dự tiệc Giáng sinh, vẫn đang giở cuốn sách. “Con biết thằng Temple đó nói gì không?”
“Dạ?”
“Thằng Temple đó.” Mắt bà vẫn nhìn cuốn sách, giọng bà hớn hở, như đang nói chuyện với người lạ ở buổi chiêu đãi. “Lý do nó đưa ra. Khi bị hỏi vì sao đánh Andy bất tỉnh.”
“Không, con không biết.”
“Nó bảo, ‘Vì thằng nhóc đó làm cháu ngứa mắt.’ Bây giờ nó làm trạng sư rồi, người ta bảo thế, bác thật mong là nó biết giữ bình tĩnh hơn trong phòng xử.”
“Win còn chưa phải đứa tệ nhất trong số đó,” tôi nói sau một hồi im lặng lững lờ. “Thua xa. Còn Cavanaugh và Scheffernan…”
“Bà mẹ còn không lắng nghe nữa. Mải nhắn tin trên điện thoại. Việc gì đó rất gấp với khách hàng.”
Tôi nhìn cổ tay áo sơ mi. Tôi đã cẩn thận thay áo mới sau giờ làm, nếu có điều gì những năm chơi thuốc đã dạy tôi (chưa kể những năm gian lận đồ cổ), thì đấy là sơ mi hồ cứng và áo vét sạch bóng từ chỗ thợ giặt về sẽ làm nên điều kỳ diệu khi muốn che giấu ngàn thứ tội lỗi - nhưng tôi đã ngơ ngẩn và cẩu thả do mấy vỉ morphine, đi vơ vẩn trong phòng ngủ khe khẽ hát theo Elliott Smith khi mặc đồ, nắng mai... giúp anh tươi vui ngày lại ngày... và (giờ tôi nhận ra) một bên cổ tay áo cài lệch. Thêm nữa, hai nút áo tôi chọn còn không cùng cặp: một bên tím, một bên xanh.
“Lẽ ra đã kiện được,” bà Barbour lơ đãng nói. “Bác không nhớ tại sao không kiện nữa. Chance bảo ông ấy nghĩ làm thế sẽ khiến Andy còn bị rắc rối hơn ở trường.”
“Ờ...” Tôi không có cách nào kín đáo cài cổ tay áo lên được. Sẽ phải chờ lên taxi thôi. “Vụ ở trong phòng tắm thực ra là lỗi của Scheffernan.”
“Ừ, Andy cũng bảo thế, cả thằng bé nhà Temple nữa, nhưng còn cú đánh trực tiếp ấy, vụ đập đầu ấy, thì không còn nghi ngờ gì...”
“Scheffernan là một đứa giảo hoạt. Nó đẩy Andy vào Temple - Scheffernan đã ở đầu kia phòng thay đồ và cười nổ ruột cùng Cavanaugh với bọn kia rồi, khi bắt đầu ẩu đả.”
“Ừ, bác không biết chuyện đó, nhưng David...” David là tên của Scheffernan “nó chẳng giống đám kia tí nào, lúc nào cũng cực kỳ dễ thương, lễ độ hết sức, nó sang đây nhiều lắm, và lúc nào cũng rất tử tế chăm sóc Andy. Con biết là nhiều đứa trong bọn trẻ con thế nào mà, khi tổ chức sinh nhật...”
“Vâng, nhưng SchefFernan đã để bụng thù Andy, từ rất lâu rồi. Vì mẹ Scheffernan lúc nào cũng ấn Andy vào tay nó. Bắt nó mời Andy, bắt nó sang bên này.”
Bà Barbour thở dài đặt chén xuống. Trà có hương nhài, ngồi ở đây tôi cũng ngửi thấy.
“Ôi, trời biết được, con hiểu Andy hơn là bác,” bỗng dưng bà nói, kéo sát thêm cổ áo choàng thêu. “Bác không bao giờ nhìn nhận được nó là người thế nào, mà về nhiều mặt nó lại là đứa con bác yêu nhất. Bác ước gì mình không suốt ngày tìm cách biến nó thành kẻ khác. Tất nhiên là con đã chấp nhận được nó như bản thân nó, hơn cả bố nó hay bác, hay, Chúa ạ, anh trai nó. Nhìn này,” bà nói, giọng không đổi, trong quãng im lặng có phần băng giá sau nhận xét này. Bà vẫn đang xem cuốn sách. “Đây là thánh Peter. Dẫn bọn trẻ con rời khỏi đức Ki-tô.”
Tôi ngoan ngoãn đứng dậy, đi vòng ra sau bà. Tôi biết bức này, một trong những bản khắc ngòi khô trông rất dữ dội, quan trọng ở viện Morgan, bức Trăm Đồng Ghin-đơ là tên gọi của nó: giá tiền mà nghe đồn chính bản thân Rembrandt đã phải móc ra để mua lại.
“Ông ấy thật lạ lùng, Rembrandt ấy. Ngay cả những đề tài tôn giáo, cứ như là các thánh đã hiện ra làm mẫu cho ông trong đời thực. Hai thánh Peter này…” bà khoát tay chỉ bức vẽ mực của chính mình trên tường “tác phẩm hoàn toàn khác nhau và vẽ cách nhau hàng năm trời, nhưng con người vẫn vậy, cả thể xác linh hồn đều giống hệt, con nhìn giữa đám đông là nhận ra ngay, phải không? Cái đầu đang hói kia. Vẫn khuôn mặt ấy - châm chú, thành khẩn. Tính thiện hiện rõ khắp người ông nhưng lại nữa, lúc nào cũng có chút gì lo âu và nhức nhối. Cái bóng tinh vi của kẻ phản bội.”
Bà vẫn nhìn xuống quyển sách, nhưng tôi lại thấy mình đang nhìn bức ảnh lồng khung bạc chụp Andy và ông bố trên bàn bên cạnh chúng tôi. Chỉ là ảnh chụp vội thôi, nhưng để nói lên cảm giác tiên báo, vô thưởng và định mệnh thì không danh họa Hà Lan nào có thể dựng một bố cục kín kẽ hơn được nữa. Andy và ông Barbour đứng trước cái nền tối, nến đã tắt trong chúc đài trên tường, tay ông Barbour đặt trên mô hình tàu. Hiệu ứng cũng có tính phúng dụ cao và gây rùng mình y như ông đặt tay trên cái đầu lâu. Trên cao, thế chỗ cái đồng hồ cát ưa chuộng của những thợ vẽ tranh vanitas[135]
“Mẹ ơi...” Platt, chạy xổ vào, sững lại khi thấy tôi.
“Đừng mất công gõ cửa làm gì, con yêu,” bà Barbour nói mà không ngẩng lên khỏi sách, “lúc nào cửa cũng mở rộng cho con.”
“Con...” Platt trợn mắt nhìn tôi. “Kitsey.” Anh ta có vẻ rối trí. Anh ta thọc tay vào hai bên túi lồng phồng của cái áo choàng dã chiến. “Nó bị kẹt,” anh ta nói với bà mẹ.
Bà Barbour có vẻ giật mình. “Ồ,” bà nói. Hai người nhìn nhau, và dường như có điều gì đó không lời vừa chạy qua giữa họ.
“Bị kẹt à?” Tôi vui vẻ hỏi, không nhìn cả hai. “Ở đâu thế?”
Chẳng ai trả lời. Platt - vẫn đâm đăm nhìn bà mẹ - mở miệng rồi lại ngậm miệng. Khá thoải mái, bà Barbour đặt sách xuống rồi nói mà không nhìn tôi: “À, con biết không, bác hình như nhớ là hôm nay nó đi chơi gôn.”
“Thật à?” Tôi nói, có phần ngạc nhiên. “Không phải thời tiết này khó chơi lắm sao?”
“Đường sá nữa,” Platt sốt sắng nói và liếc nhìn mẹ. “Nó bị tắc. Đường cao tốc thật là khốn nạn. Nó có gọi cho Forrest rồi,” anh ta quay sang tôi, “nhà đó đã hoãn bữa tối.”
“Có lẽ,” bà Barbour đăm chiêu nói sau một lúc yên lặng, “có lẽ con với Theo ra ngoài uống chút gì đi? ừ,” bà kiên quyết nói với Platt, như thể thế là xong việc, và đan tay vào nhau. “Mẹ nghi đấy là cách tuyệt nhất đấy. Hai đứa ra ngoài uống gì đi. Còn con!” bà lại quay sang tôi mỉm cười. “Con thật là một thiên thần! Cảm ơn con đã mang quyển sách cho bác,” bà nói và giơ tay siết lấy tay tôi, “Món quà tuyệt nhất trên đời.”
“Nhưng...”
“Sao?”
“Không phải cô ấy cần quay lại đây trang điểm ư?” Tôi hỏi sau một lúc im lặng hơi lúng túng.
“Là sao?” Cả hai đều quay sang nhìn tôi.
“Nếu cô ấy vừa chơi gôn? Không phải cô ấy cần thay đồ à? Cô ấy không mặc đồ chơi gôn đến nhà Forrest chứ,” tôi nói thêm, nhìn lui nhìn tới hai người bọn họ, và rồi - khi không thấy ai đáp lại - “con đợi ở đây cũng không sao.”
Băn khoăn, bà Barbour bĩu môi, đôi mắt có vẻ trĩu xuống - và thinh lình tôi hiểu. Bà mệt rồi. Bà không chủ tâm ngồi đây tiếp tôi, có điều bà quá lịch thiệp không muốn nói vậy.
“Mặc dù,” tôi ngượng nghịu đứng dậy nói, “giờ đã muộn rồi, con nghĩ làm chút cocktail cũng hay…
Đúng lúc đó, điện thoại trong túi tôi đã im thít cả ngày chợt réo lên: có tin nhắn. Vụng về - tôi mệt đến nỗi không nhớ nổi túi ở đâu nữa - tôi đưa tay lần tìm.
Quả nhiên, đấy là Kitsey, tràn ngập những biểu tượng cảm xúc. <3 <3 chào kưng <3 bị muộn một tiếng rồi! “£$%A&*!!!! Hy vọng nhắn cho anh vẫn kịp! Forrest & Cella hoãn bữa tối, hẹn anh 9h nhé, iu anh ngàn lần! Kits xoxoxo <3<3<3
XIV
NĂM SÁU HÔM SAU, tôi vẫn chưa hoàn hồn sau buổi tối gặp Boris, phần vì bận bịu khách hàng, đi dự đủ thứ đấu giá, xem xét các nhà thanh lý, phần vì phải chịu trận các sự kiện của Kitsey hầu như đêm nào cũng nổ ra: tiệc tùng đập phá, chiêu đãi tối trịnh trọng, Pelléas etMélisande[136] ở Bảo tàng Trung tâm, mỗi sáng dậy sáu giờ và đi ngủ rất lâu sau nửa đêm, có lần còn đi đến hai giờ sáng, hầu như chẳng có phút nào cho bản thân và (tệ hơn nữa) chẳng có phút nào ở một mình với cô, mà bình thường sẽ khiến tôi phát điên nhưng trong tình cảnh này, lại giúp tôi lặng lờ và rã rời đến mức không còn thời gian nghĩ ngợi.
Suốt tuần tôi đã mong ngóng tới ngày thứ Ba khi Kitsey có hẹn với đám bạn gái - không phải vì không muốn gặp cô, mà vì Hobie cũng ra ngoài và tôi đang mong được ở một mình, ăn chút đồ thừa trong tủ lạnh rồi đi ngủ sớm. Nhưng đến giờ đóng cửa, là bảy giờ tối, tôi vẫn còn mấy việc phải làm nốt trong hiệu. Thần kỳ làm sao, một chuyên gia trang trí đã ghé vào hỏi một cái bình nước thiếc hợp kim đắt tiền, lỗi mốt, không cách nào bán được nằm phủ bụi trên nóc tủ ly từ thời đại Welty. Bình thiếc không phải thứ tôi hiểu biết mấy, và tôi đang lục tìm bài báo liên quan trong một số Cổ vật cũ thì Boris từ vỉa hè tạt vào, gỗ lên cửa kính, chưa đầy năm phút sau khi đóng cửa. Mưa quất như điên; trong cơn thác dồn dập nó chỉ là một cái bóng mặc áo choàng không nhận ra được, nhưng nhịp gõ thì đã quen thuộc từ thuở xa xưa, khi nó hay đi vòng qua hiên ở nhà bố tôi, gõ nhanh để tôi mở cửa cho vào.
Nó chui vào, lắc mình dữ dội làm nước bắn tứ phía. “Mi đi cùng tau lên nửa bắc không?” Nó hỏi luôn không vòng vèo gì hết.
“Tao bận rồi.”
“Bận hả?” Nó hỏi bằng giọng vừa trìu mến, vừa bực dọc, lại vừa ấm ức một cách quá hiển nhiên và quá trẻ con khiến tôi quay từ giá sách lại nhìn. “Mi còn không thèm hỏi tại sao à? Tau nghĩ có thể mi muốn đi đấy.”
“Trên nửa bắc là chỗ nào?”
“Tau tính nói chuyện với vài người.”
“Nói chuyên về...?”
“Ừ,” nó nói, hơn hớn, khịt mũi rồi chùi mũi. “Chính thế. Mi không bắt buộc đi đâu, tau đã định gọi thằng đệ Toly, nhưng tau lại nghĩ mi đi cùng sẽ tốt, vì vài lý do - Popchyk, ừ ừ! Nó hụp xuống bế con chó vừa nhúc nhắc đi ra chào nó. “Tau cũng mừng được gặp mi ! Nó thích thịt hun khói,” nó bảo tôi, gãi đằng sau tai con chó và cọ mũi vào sau gáỵ nó. “Mi có cho nó thịt hun khói bao giờ không? Ăn cả bánh mì nữa, nếu tưới đẫm sốt.”
“Nói chuyện với ai? Người này là ai?”
Boris gạt mái tóc ướt đẫm khỏi mặt. “Một lão tau quen. Tên là Horst. Bạn cũ của Myriam. Cũng bị xỏ trong vụ này - nói thật, tau không nghĩ lão giúp gì được đâu, nhưng Myriam bảo có nói chuyện lại cũng không thiệt? Tau nghĩ có lẽ cổ nói đúng.”
XV
TRÊN ĐƯỜNG ĐI LÊN NỬA BẮC, ở băng sau cái xe con, mưa đập mạnh đến mức Gyuri phải hét lớn chúng tôi mới nghe thấy (“Thời tiết quỷ tha!”), Boris khe khẽ kể về Horst. “Chuyện buồn lắm. Lão người Đức. Thú vị lắm, thông minh nhạy cảm thôi rồi. Gia đình quyền chức... có lần giảng giải nhưng tau quên béng rồi. Bố lão lai Mỹ, để lại cả đống tiền cho lão nhưng khi bà mẹ tái hôn… đến đấy nó kể tên một dòng họ công nghiệp nổi tiếng thế giới, phảng phất hơi hám Quốc xã ngày xưa. “Hàng triệu. Tau nói thật mi không tưởng tượng nổi đám người ấy lắm tiền thế nào đâu. Họ ngụp trong tiền luôn. Rặn ra tiền.”
“Ừ, quả là chuyện buồn thật.”
“Ưm - Horst nghiện nặng. Mi biết tau mà… rùn vai triết lý “tau không phán xét cũng không kết tội. Muốn làm gì thì làm, không quan tâm! Nhưng Horst - buồn lắm. Lão yêu một ả, ả chơi, làm lão cũng chơi theo. Bám lão bòn rút, hết tiền thì chạy. Gia đình Horst - đã từ mặt lão nhiều năm rồi. Mà lão vẫn còn vật lên vật xuống vì cái con bé kinh khủng khốn nạn đó. Tau bảo con bé - nhưng ả phải gần bốn chục. Tên là Ulrika. Mỗi lần Horst có tí tiền - ả quay lại một chặp. Rồi lại lượn đi.”
“Lão thì liên quan gì chuyện này?”
“Người quen của Horst là Sascha dựng lên vụ này. Tau gặp thằng đó rồi, có vẻ ổn, tau biết đâu được? Horst nói chưa bao giờ đích thân làm việc với người của Sascha, nhưng tau đang vội nên không kỹ như mọi khi và… nó vung tay lên trời “Bùm! Myriam nói đúng - lúc nào cũng đúng - đáng ra tau phải nghe cổ.”
Nước chảy xuống dọc cửa sổ, nặng như thủy ngân, bưng kín chúng tôi trong xe, đèn nhấp nháy rồi tan chảy xung quanh trong một tiếng gầm khiến tôi nhớ lại hồi Boris và tôi ngồi ghế sau chiếc Lexus ở Vegas, khi bố cho xe đi qua hiệu rửa.
“Thường thì Horst khá chặt về những người làm cùng, nên tau nghĩ là OK. Nhưng... lão ta tính dè dặt, mi hiểu không? ‘Hơi lạ đời’, lão bảo thế. ‘Ngoài quy chuẩn’. Thế là thế quái nào chứ? Rồi khi tau xuống đó - mấy thằng đó bị khùng. Ý tau là khùng tới cái mức xả súng vào chuồng gà ấy. Và những cú như này, ta muốn mọi thứ đều bình lặng yên ổn! Như kiểu, có phải chúng nó xem tivi nhiều quá không? Như là hành động phải tưng bừng lên như thế...? Bình thường tình huống như này ai cũng rất rất lịch sự, nhỏ nhẹ, cực kỳ yên ả! Myriam bảo và cổ nói đúng - bỏ vụ súng sang một bên! Mấy người này khùng đến mức nào mới đi nuôi gà ở Miami chứ? Ngay cả những việc nhỏ tí như vậy, ở vùng này nhà cửa có bể sục, có sân tennis, mi hiểu không, rồi đi nuôi gà? Hàng xóm gọi điện tố có tiếng gà trong sân là đủ đứt! Nhưng đến lúc ấy…nó nhún vai “thì tau đã ở đó rồi. Tau đã vào cuộc rồi. Tau cứ tự nhủ đừng có lo quá nhưng rồi hóa ra lo là phải.”
“Rồi chuyện gì xảy ra?”
“Tau cũng không rõ. Nhận được nửa số hàng đã hứa, hẹn tuần sau lấy nốt. Như thế cũng bình thường. Nhưng rồi chúng bị tóm, và tau mất luôn nửa sau và cũng tuột luôn cả cái tranh. Horst - chà, Horst cũng muốn tìm ra lắm, lão cũng thiếu tiền trầm trọng. Dù sao thì tau cũng hy vọng lão có thêm thông tin sau lần gặp vừa rồi.