Con Sẻ Vàng

Lượt đọc: 1303 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9 (tt) XVI

GYURI THẢ CHÚNG TÔI Ở KHU 60, không quá Xa nhà Barbour. “Là chỗ này à?” Tôi hỏi, lắc cho mưa rơi khỏi ô của Hobie Chúng tôi đang ở trước một trong mấy tòa nhà bằng đá vôi gần Đại lộ 5 - cửa sắt đen, miếng gỗ cửa đầu sư tử to bự.

“Ừ - nhà bố lão đấy - gia đình đang tìm cách gọi pháp luật bẩy lão ra nhưng đời nào được, hà.”

Chúng tôi được bấm chuông cho vào, đi thang máy hộp lên tầng hai. Tôi ngửi thấy mùi hương, cần sa, sốt mì Ý đang nấu. Một người đàn bà tóc vàng gầy guộc - tóc cúp sát, đôi mắt nhỏ trên khuôn mặt thanh tĩnh trông như mặt lạc đà - ra mở cửa. Chị ta ăn mặc như kiểu một thằng nhóc đường phố hay trẻ bán báo ngày xưa: quần dài vải nanh sói, bốt thấp, áo giữ nhiệt bẩn thỉu, dây quần. Vắt vẻo trên đỉnh mũi là một cặp kính Ben Franklin gọng to.

Không nói một lời, chị ta mở cửa rồi bỏ đi, để lại chúng tôi một mình trong cái phòng khách tối tăm cáu bẩn rộng bằng cả phòng khiêu vũ, trông như di tích tiều tụy từ một trường quay thượng lưu nào đấy trong phim Fred Astaire: trán cao, trang trí thạch cao nát vụn, đàn đại dương cầm, đèn chùm đã xỉn màu và nửa số pha lê đã vỡ hay bay mất, cầu thang uốn kiểu Hollywood rắc đầy đầu mẩu xì gà. Tiếng tụng kinh Sufi rì rầm đâu đây: Allahu Allahu Allahu Haqq. Allahu Allahu Allahu Haqq. Ai đó đã dùng than vẽ lên tường một xê ri những hình khỏa thân to bằng người thật, dẫn dần lên cầu thang như các cảnh cắt ra từ phim, còn về đồ đạc thì chẳng có gì mấy, chỉ một chiếc đệm kiểu Nhật sặc mùi chuột cùng ít bàn ghế trông như nhặt nhạnh ngoài đường về. Trên tường là những khung không có tranh, cùng một cái sọ cừu đực. Trên tivi, một bộ phim hoạt hình chớp tắt rồi bùng nổ với vẻ năng động của kẻ động kinh, những hình kỷ hà xoay tít xen lẫn chữ và hình xe đua thật. Ngoài tivi và cánh cửa nơi bà chị tóc vàng vừa đi khuất, nguồn sáng duy nhất là cái đèn bàn hắt quầng sáng trắng gắt lên những nến đã chảy, dây nối máy tính, chai bia rỗng và bình ga mi ni, những hộp bút sáp dầu màu nhạt còn đóng hộp hoặc bỏ rời, rất nhiều danh mục tác phẩm, sách bằng tiếng Đức và Anh, có cả Tuyệt vọng[137] của Nabokov và Hiện hữu thời gian[138] của Heidegger đã mất bìa, sổ vẽ ký họa, sách về nghệ thuật, gạt tàn, giấy thiếc đã cháy, cái gối trông bẩn thỉu ở trên có con mèo mướp xám đang ngủ gà gật. Bên trên cánh cửa, như chiến tích từ một buổi săn nào đấy trên núi Schwarzwald, một cỗ sừng hươu hắt- những cái bóng méo mó lên trần nhà, xoãi ra và trổ nhánh trong một không khí cổ tích Bắc Âu hắc ám.

Tiếng nói chuyện ở phòng bên. Cửa sổ che bằng ga giường treo lên, vừa đủ mỏng để ánh sáng tím nhàn nhạt lọt vào từ đường phố. Khi tôi nhìn quanh, những hình thù dần hiện ra trong bóng tối và biến hình với một cảm giác lạ lùng như mơ: đầu tiên là tấm rèm tạm bợ chia đôi phòng, một tấm thảm treo dây câu trĩu xuống từ trên trần nhà, như ở các nhà trọ, khi nhìn gần hóa ra là một tấm thảm thêu rất đẹp, phải từ thế kỷ 18 hay cổ hơn, gần như bản sao của một tấm ở Amiens tôi đã từng thấy đem ra đấu giá ước chừng bốn mươi ngàn bảng. Và không phải khung tranh nào cũng để trống. Vài khung có tranh, và một bức - dù trong ánh sáng yếu ớt - trông có vẻ là Corot[139]

Tôi vừa định đi về phía đó nhìn thử thì một người xuất hiện bên cửa, độ tuổi bảo ba mươi cũng được mà năm chục cũng không sai: bơ phờ, mảnh khảnh, tóc thẳng màu cát chải lật về sau đầu, mặc quần bò đen kiểu punk rách gối và cái áo len dày kiểu Anh nhếch nhác, ngoài quàng thêm áo vét rộng thùng thình.

“Chào anh,” anh ta bảo tôi, giọng Anh lặng lẽ có pha chút âm gắt Đức, “anh chắc là Potter,” rồi chuyển qua Boris, “Mừng anh đã tới. Hai người hãy ở lại chơi chút đi. Candy và Niall đang làm cơm tối với Ulrika.”

Có ai nhúc nhích bên kia tấm thảm, ngay sát chân, khiến tôi giật lùi lại: những bọc người quấn kỹ trên sàn, túi ngủ, mùi cuộc sống ngoài đường.

“Cảm ơn, bọn tui không ở được,” Boris nói, đang nhặt con mèo lên gãi gãi tai nó. “Nhưng cho xin chút rượu vang đó, cảm ơn anh.”

Không nói một lời, Horst chuyển ly của chính anh ta cho Boris rồi gọi với sang phòng bên bằng tiếng Đức. Quay sang tôi, anh ta bảo: “Anh là nhà buôn phải không?” Trong ánh tivi, con mắt mòng biển màu nhạt nhỏ tí lóe lên không chớp, soi xét.

“Ờ, phải,” tôi lúng túng đáp, rồi “Ơ, cảm ơn.” Một người đàn bà khác - tóc nâu tém, bốt cao màu đen, váy ngắn vừa đủ khoe con mèo đen xăm trên bắp vế trắng nõn vừa hiện ra với cái chai và hai cốc: một cho Horst, một cho tôi.

Danke em gái,” Horst nói. Quay sang Boris anh ta hỏi: “Hai người quý vị muốn một bi không?”

“Giờ thì không,” Boris đáp, nó vừa ghé tới hôn vội cô gái tóc nâu đang bỏ đi. “Chỉ đang thắc mắc. Anh nghe được tin gì từ Sascha?”

“Sascha...” Horst ngồi thụp xuống cái đệm Nhật, đốt xì gà. Trong cái quần bò phủi và bốt quân đội, trông anh ta như một phiên bản xơ xác hơn của một diễn viên phụ Hollywood thập niên 1940 chưa bao giờ lên được bảng tên nào đó, một mitteleuropãischer[140] hạng ruồi chuyên diễn các vai nghệ sĩ vĩ cầm xấu số và dân tỵ nạn chán đời nhưng hào hoa. “Có vẻ như các mối đều chỉ về Ireland. Đấy là tin tốt, theo ý tôi.”

“Nghe có vẻ không hợp lý.”

“Tôi cũng thấy vậy, nhưng tôi đã nói chuyện với vài người và có vẻ khớp.” Cách nói của anh ta có đầy đủ vẻ lặng lẽ, lạc phách, mất nhịp điệu của kẻ nghiện, nhưng không bị lè nhè. “Nghĩa là - ít lâu nữa chúng ta sẽ có thêm thông tin, tôi hy vọng vậy.”

“Bạn Niall à?”

“Không. Niall nói chưa bao giờ nghe đến mấy người đó. Nhưng cũng là một đầu mối.”

Rượu vang rất kinh: Syrah loại bán siêu thị. Vì không muốn ở gần mấy thân người trên sàn, tôi lảng đi xem một nhóm phôi tượng của điêu khắc gia trên cái bàn kẽo kẹt: một thân trên đàn ông, một Vệ Nữ quấn áo tựa người vào tảng đá, một bàn chân đi xăng đan. Dưới ánh sáng yếu trông chúng chỉ như những khối thạch cao bán đầy ở Pearl Paint - dùng trong phòng vẽ, làm mẫu cho sinh viên vẽ theo - nhưng khi vạch ngón tay qua mặt bàn chân tôi cảm thấy cái mềm mại của hoa cương, mịn màng không hề sần.

“Sao chúng nó phải mang đi Ireland làm gì?” Boris đang bứt rứt nói. “Làm gì có thị trường sưu tập nào ở đó? Tui vẫn tưởng người ta tìm cách mang đồ ra khỏi đó chứ không phải mang vào.”

“Ừ, nhưng Sascha nghĩ hắn dùng bức tranh để thanh toán một khoản nợ.”

“Nghĩa là hắn có mối quen ở đó?”

“Rõ là vậy.”

“Tui thấy vụ này khó tin.”

“Về chuyện mối quen ư?”

“Không, chuyện nợ. Tên này - trông hắn như mới sáu tháng trước còn đang ăn trộm nắp bánh xe ngoài đường.”

Horst ơ thờ nhún vai: cặp mắt ngái ngủ, trán hằn sâu. “Ai mà biết được. Cũng không chắc là thông tin đúng, nhưng hẳn nhiên tôi không sẵn lòng đặt niềm tin ở số phận. Liệu tôi có chịu chặt bàn tay vì việc dó không?” Anh ta nói, lười biếng gõ tàn thuốc xuống sàn. “Không.”

Boris cau mày với ly rượu. “Tên này là gà mờ. Cứ tin tui. Nếu anh tận mắt thấy, anh sẽ hiểu.”

“Phải, nhưng hắn ta ưa cờ bạc, Sascha bảo thế.”

“Anh không nghĩ là Sascha có thể biết nhiều hơn nữa à?”

“Tôi nghĩ là không.” Dáng điệu anh ta có vẻ xa vắng, như phần nào anh ta đang nói một mình. “ ‘Cứ chờ xem.’ Tôi chỉ được nghe thế thôi. Một câu trả lời rất không thỏa đáng. Dột từ trên nóc dột xuống, theo ý tôi. Nhưng tôi đã nói đấy, chúng ta còn chưa đi đến tận cùng đâu.”

“Vậy khi nào Sascha về lại thành phố?” Anh sáng yếu trong phòng khiến tôi bị đẩy lùi về thơ ấu, Vegas, như cảm giác mơ hồ từ một giấc mơ còn lưu lại khi tỉnh dậy: màn khói thuốc lảng vảng, quần áo bẩn trên sàn nhà, gương mặt Boris khi xanh khi trắng trong ánh lập lòe màn hình tivi.

“Tuần sau. Tôi sẽ gọi anh. Lúc đó anh có thể tự mình nói chuyện với cậu ta.”

“Phải. Nhưng tui nghĩ tốt hơn là cả hai chúng ta đến nói chuyện với cậu ta.”

“Ừ. Tôi cũng nghĩ vậy. Cả hai chúng ta sẽ khôn ngoan hơn, trong tương lai... điều này không đáng phải diễn ra... nhưng dù sao,” Horst nói, vừa gãi cổ chậm rãi, lơ đãng, “anh cũng hiểu là tôi ngại không muốn ép cậu ta quá đáng.”

“Như vậy là rất tiện cho Sascha.”

“Anh đang nghi ngờ điều gì. Cho tôi biết đi.”

“Tui nghĩ là…Boris đánh mắt về phía cửa.

“Sao?”

“Tui nghĩ là...” Boris thấp giọng “anh quá dễ dãi với cậu ta. Phải phải...” giơ tay lên “tui biết. Nhưng - quá tiện là người của cậu ta lại biến mất, không một manh mối, cậu ta chẳng biết gì!”

“À, có thể,” Horst nói. Anh ta có vẻ thờ ơ không chú tâm, như người lớn đang ở cùng phòng với lũ trẻ nhỏ. “Chuyện này đang tạo áp lực rất lớn cho tôi, cho tất cả chúng tôi. Tôi cũng muốn đi đến tận cùng chuyện này như anh thôi. Dù biết đâu được, tay này có thể là cảnh sát.”

“Không,” Boris dứt khoát nói. “Không phải. Không phải. Tui biết.”

“À... nói thật với anh, tôi cũng không nghĩ vậy, trong chuyện này còn lắm uẩn khúc ta không biết. Tuy nhiên, tôi vẫn có hy vọng.” Anh ta vừa lấy cái hộp gỗ trên bàn vẽ và đang loay hoay với nội dung bên trong. “Quý vị có chắc là không muốn dùng chút gì không?”

Tôi ngoảnh đi. Tôi thì không mong gì hơn. Tôi cũng muốn xem bức Corot nữa, dù không muốn phải đi vòng qua những thân người trên sàn nhà đến chỗ đó. Bên kia phòng, tôi còn thấy hai ba bức khác tựa vào ván ốp tường: một tĩnh vật, vài phong cảnh nhỏ.

“Cứ ra xem nếu anh muốn.” Là Horst. “Bức Lépine thì giả. Nhưng bức Claesz và Berchem sẵn sàng bán nếu anh quan tâm.”

Boris cười lớn, lấy một điếu thuốc của Horst. “Cậu ta không trong thị trường đó.”

“Không ư?” Horst thân mật hỏi. “Tôi có thể đặt giá rất tốt cho cặp đó. Người bán chỉ mong rũ đi.”

Tôi bước lại gần nhìn: tĩnh vật, nến và ly vang cạn một nửa. “Claesz-Heda à?”

“Không - Pieter.” Mặc dù… Horst bỏ hộp xuống, ra đứng bên tôi nhấc ngọn đèn bàn còn nguyên dây lên, khiến cả hai bức tranh tắm trong ánh sáng gắt “phần này...” vẽ ngón tay thành đường cong trong không khí “ánh phản chiếu ngọn lửa ở đây? Cả mép bàn và tấm trải nữa? Có thể gần như là Heda trong một ngày khó ở.”

“Đẹp thật.”

“Phải. Đẹp so với kiểu của nó.” Đứng gần, anh ta toát mùi chua và hôi hám, mùi nồng như phòng nhập khẩu bụi bặm, như lòng hộp gỗ khảm Trung Quốc. “Hơi đơn điệu so với gu hiện tại. Phong cách giả cổ điển. Dàn dựng quá tay. Nhưng bức Berchem thì khá tốt.”

“Đầy Berchem giả ngoài thị trường,” tôi nhận xét khách quan.

“Phải...” Ánh sáng chiếc đèn cầm trên tay phả lên bức phong cảnh một màu hơi xanh, rờn rợn “nhưng bức này đáng yêu lắm... nước Ý 1655... màu hoàng thổ rất đẹp, không phải sao? Bức Claesz thì không bằng, tôi nghĩ thế, từ giai đoạn đầu, dù giấy tờ xuất xứ thì không chê vào đâu được. Để chúng bên nhau sẽ tốt nhất... chúng chưa bao giờ ở xa nhau, hai bức này. Như hai cha con. Cùng truyền lại từ một gia đình Hà Lan xưa, đậu lại ở Áo sau Thế chiến. Pieter Claesz...” Horst giơ cao chiếc đèn. “Claesz phong độ quá không ổn định, phải nói thật. Kỹ thuật tuyệt vời, bề mặt tuyệt vời, nhưng bức này có gì đó hơi chệch, anh đồng ý không? Bố cục không vững. Rời rạc thế nào đó. Hơn nữa... ” vẩy ngón cái chỉ ánh lóa quá mức hắt lên từ mặt vải: véc ni quá tay.

“Tôi đồng ý. Và đây nữa...” Lần theo trong không khí một vệt cong rất xấu do người cọ quá sốt sắng khiến sơn bị cào mòn xuống tận lớp nền.

“Phải.” Ánh nhìn đáp trả của anh ta vừa thân tình vừa lơ đãng. “Chính thế. Acetone. Kẻ nào làm việc này đáng đem bắn. Thế nhưng một bức tranh hạng trung như thế này, ở tình trạng xấu, thậm chí là một bức vô danh cũng được - lại còn giá trị hơn cả một siêu phẩm, mỉa mai là ở chỗ đó, ít ra cũng giá trị hơn với tôi. Nhất là phong cảnh. Cực kỳ dễ bán. Nhà chức trách không để ý nhiều... khó nhận ra qua bản miêu tả... mà vẫn trị giá có khi đến vài trăm nghìn. Còn bức Fabritius...” một quãng nghỉ dài, thanh thản “là một cấp độ khác hẳn. Tác phẩm đáng kể nhất từng đi qua tay tôi, và tôi có thể nói chắc như vậy.”

“Phải, và đấy là lý do tại sao bọn tui sẽ rất vui được lấy lại nó,” Boris làu nhàu trong bóng tối.

“Cực kỳ phi thường,” Horst vẫn thanh thản nói tiếp. “Một bức tĩnh vật như bức này…” anh ta chỉ bức Claesz bằng một cú phẩy tay chầm chậm (móng tay cáu đen, mạng gân chằng chịt đầy sẹo trên mu bàn tay) “à, đúng là một bức trompe l’oeil toàn diện. Kỹ thuật tuyệt vời, nhưng tỉa tót quá đáng. Chính xác đến bệnh hoạn. Tạo cảm giác chết. Chúng được gọi là nature morte là có lý do, phải không? Nhưng còn bức Fabritius...” thuận chân lùi lại sau “tôi biết lý thuyết về Con sẻ vàng, tôi nhớ rõ nó, mọi người bảo đấy là trompe l’oeil và quả là đứng từ xa con mắt có thể thấy như vậy. Nhưng tôi không cần biết các nhà viết sử hội họa nghĩ gì. Phải: có những mảng rất thành công nếu coi là tranh ảo giác... bức tường, giá đậu, ánh lóe lên trên đồng, và rồi... phần lông trên ức, cực kỳ giống thật. Lông tơ, lông mịn. Mềm khó tả. Claesz thì sẽ đầy sự hoàn thiện và chính xác ấy đến mức chết cứng - một họa sĩ như van Hoogstraten sẽ đi xa hơn nữa, đóng rịt nắp quan tài. Nhưng Fabritius... ông ấy đang đùa cợt với thể loại... một đòn phản kháng bậc thầy với chính ý tưởng trompe l’oeil... bởi, tại những mảng khác trong bức tranh - Đầu? Cánh? Không hề có cái chất vật sống hay tính giống thực chút nào hết, ông chủ tâm dỡ tung hình ảnh ra để cho chúng ta thấy mình đã vẽ như thế nào. Những vết trát, những mảng xoa, tạo hình rất rõ, dấu vết bàn tay rất rõ, đặc biệt là đường viền quanh cổ, một vệt sơn đặc, cực kỳ trừu tượng. Chính vì thế mà ông mới là thiên tài không phải của thời đại ông, mà thời chúng ta. Đấy là tính hai nghĩa. Anh vừa thấy dấu cọ, vừa thấy nét sơn là nét sơn, lại vừa thấy đấy là con chim đang sống.”

“Ờ, được rồi,” Boris gầm gừ trong bóng tối đằng sau luồng sáng, đóng nắp bật lửa đánh tách, “nếu không có sơn thì lấy đâu ra gì để xem.”

“Chính thế.” Horst quay người, mặt chìm nửa vào bóng tối. “Đấy là một trò đùa, bức Fabritius ấy. Về bản chất bức tranh giấu một trò đùa. Và mọi bậc thầy lớn nhất đều làm vậy. Rembrandt. Velázquez. Titian thời kỳ cuối. Họ đùa bỡn. Họ tiêu khiển. Họ xây cả một ảo tượng, một mẹo lừa, nhưng đến gần hơn? Tất cả rời ra thành từng nét cọ. Trừu tượng và thoát trần. Là một kiểu cái đẹp khác, sâu sắc hơn hẳn. Là vật ấy mà lại không phải là vật ấy. Tôi phải nói rằng chỉ một bức tranh tí xíu này thôi đã đủ đưa Fabritius lên hàng những họa sư vĩ đại nhất từng sống trên đời. Và với Con sẻ vàng? Ông đã làm ra phép màu trong một không gian hết sức thanh tú. Dù tôi cũng thừa nhận rằng mình đã ngạc nhiên… quay lại nhìn tôi “khi cầm nó trong tay lần đầu tiên? Sức nặng ấy?”

“Vâng...” Tôi không thể không cảm thấy mơ hồ biết ơn, rằng anh ta đã nhận ra chi tiết này, một chi tiết quan trọng lạ lùng với tôi, tạo ra cả một mạng lưới giấc mơ và liên tưởng thơ ấu, một sợi đàn cảm xúc - “tấm ván nặng hơn người ta tưởng. Nó có độ đằm.”

“Độ đằm. Chính thế. Đúng là từ ấy. Còn nền, ít vàng hơn nhiều so với khi tôi được nhìn hồi bé. Bức tranh đã được lau rửa - đầu thập niên 90, tôi nghĩ vậy. Sau khi trùng tu, có nhiều ánh sáng hơn.”

“Cũng khó nói. Tôi thì không có gì để so sánh cả.”

“À,” Horst đáp. Khói thuốc lá của Boris vơ vẩn bay tới từ chỗ nó ngồi trong bóng tối, khiến vòng tròn ánh sáng nơi chúng tôi đứng mang dáng dấp sân khấu cabaret lúc nửa đêm. “Có thể tôi nhớ nhầm.

Lần đầu thấy nó tôi mới là một đứa bé quãng mười hai tuổi.”

“Vâng, tôi cũng khoảng tuổi ấy khi thấy nó lần đầu tiên.”

“À,” Horst nói vẻ cam chịu, gãi gãi lông mày, những vết bầm cỡ đồng xu trên mu bàn tay “đấy là lần duy nhất tôi được đi theo trong một chuyến công tác của cha tôi, lần đó là ở La Hay. Phòng họp lạnh như nước đá. Không có lấy một cái lá rung rinh. Buổi chiều duy nhất cả hai ở với nhau, tôi muốn đến Drievliet, công viên giải trí ấy, nhưng ông lại đưa tôi đến bảo tàng Mauritshuis. Và - bảo tàng tuyệt diệu, rất nhiều bức tranh tuyệt vời, nhưng bức duy nhất tôi còn nhớ là con sẻ của cậu. Một bức tranh dễ thu hút trẻ nhỏ, phải không? Der Distelhnk. Lần đầu tôi biết nó là như thế, bằng cái tên tiếng Đức.”

“Ờ, được rồi, tốt lắm,” Boris từ bóng tối cất giọng chán ngấy. “Bắt đầu giống như kênh giáo dục trên ti vi rồi.”

“Anh có buôn nghệ thuật hiện đại bao giờ không?” Tôi nói trong khoảng im lặng tiếp theo.

“Ờ…” Horst dán vào tôi con mắt đồng giá, cạn sức sống; buôn không hẳn là từ chính xác, anh ta có vẻ buồn cười vì cách chọn từ của tôi “thỉnh thoảng.” Có một bức Kurt Schwitters cách đây không lâu - Stanton Macdonald-Wright - anh biết không? Một họa sĩ rất thú vị. Phụ thuộc rất nhiều vào việc cái gì được đưa đến chỗ tôi. Thành thực là - anh có bao giờ mua bán tranh tí nào không?”

“Ít lắm. Các nhà buôn nghệ thuật đã tới trước tôi rồi.”

“Thật không may. Trong nghề của tôi, quan trọng là phải xách tay được. Có vô khối bức tầm trung tôi có thể bán đàng hoàng nếu giấy tờ có vẻ tử tế.”

Hương tỏi, nồi chậu va nhau trong bếp, mùi nước tiểu và hương trầm gợi nhớ khu chợ Ma Rốc thoảng qua. Lâm râm lâm râm, tiếng tụng kinh Sufi phơ phất và quấn quýt quanh chúng tôi trong bóng tối, những lời cầu khấn không dứt dâng lên Thánh đế.

“Hoặc bức Lépine này. Làm giả khéo lắm. Có một tay - người Canada, thú vị lắm, cậu sẽ thích là chắc - làm theo đơn đặt hàng. Pollock, Modigliani - sẵn sàng giới thiệu nếu cậu muốn. Không đem lại mấy tiền cho tôi, dù cũng có khả năng làm nên gia tài nếu có một bức bỏ trong cuộc thanh lý thích hợp.” Rồi nhẹ như không, trong cái im lặng tiếp sau: “Thời xưa hơn thì tôi từng thấy rất nhiều bức Ý, nhưng sở thích của tôi - thiên về miền Bắc hơn, anh thấy đấy. Giờ, bức Berchem này là một điển hình rất tuyệt cho Berchem, nhưng tất nhiên những phong cảnh kiểu Ý này, với những cột vỡ nát và những cô vắt sữa thơ ngây không hẳn hợp với gu thẩm mỹ hiện đại, phải không? Tôi ưa bức van Goyen kia hơn nhiều. Thật buồn là lại không bán.”

“Van Goyen à? Tôi dám thề đấy là Corot.”

“Đứng từ đây thì, phải, có thể đấy.” Anh ta có vẻ hài lòng với so sánh đó. “Hai phong cách rất tương đồng - chính Vincent đã từng nhận xét như vậy - anh biết lá thư ấy chứ? ‘Corot người Hà Lan’? Cũng hơi nước dịu nhẹ ấy, cũng sương mù mênh mông ấy, anh hiểu tôi nói gì không?”

“Từ đâu...” tôi đã suýt hỏi câu đặc trưng của kẻ buôn, từ đâu anh bức này, thì ngậm miệng lại kịp.

“Họa sĩ tuyệt vời. Cực kỳ năng suất. Và đây là một bức đặc biệt đẹp,” anh ta nói với lòng tự hào hệt như một nhà sưu tập. “Rất nhiều chi tiết kỳ thú nếu nhìn gần - thợ săn tí xíu, chó đang sủa. Thêm nữa - rất điển hình - chữ ký trên mũi tàu. Đáng yêu lắm. Nếu anh không ngại… gật đầu về phía những thân người sau tấm thảm. “Cứ qua đi. Anh không làm phiền họ đâu.”

“Không, nhưng...”

“Không...” Giơ tay lên “tôi hiểu rõ mà. Vậy tôi mang lại cho anh nhé?”

“Vâng, tôi rất mong được xem.”

“Phải nói là, tôi đã quyến luyến nó tới mức sẽ rất buồn khi nó bị mang đi. Bản thân ông cũng là nhà buôn tranh, van Goyen ấy. Rất nhiều bậc thầy Hà Lan đều vậy. Jan Steen. Vermeer. Rembrandt. Nhưng Jan van Goyen thì...” anh ta mỉm cười “không khác gì anh bạn Boris của chúng ta. Làm mỗi thứ một ít. Tranh, địa ốc, hợp đồng tương lai hoa tulip.”

Boris, trong bóng tối, phát ra một tiếng làu nhàu và hình như chực nói gì đó thì thình lình, một thằng nhóc lỏng khỏng tóc tai bù xù chừng hăm hai tuổi, miệng ló ra một cái nhiệt kế thủy ngân kiểu cũ, khật khừ bước ra khỏi bếp, giơ tay che mắt tránh ánh đèn giơ lên. Nó đang mặc một cái áo len đan kỳ dị, đàn bà, to bự, dài đến gần đầu gối như một cái áo choàng tắm, vẻ mặt ốm yếu và ngơ ngác, tay áo xắn lên, đang đưa hai ngón tay gãi mặt trong cánh tay thì đùng một cái hai đầu gối xoạc ra, nó đã lăn xuống sàn, cái nhiệt kế văng ra loảng xoảng trên sàn gỗ nhưng không vỡ.

“Cái quái gì...?” Boris nói, dụi điếu thuốc rồi đứng lên, con mèo nhảy vọt từ trên lòng nó vào bóng tối. Horst chau mày, đặt đèn xuống sàn, ánh sáng rung lắc điên cuồng trên tường và trần nhà. “Ach,” anh ta phiền muộn nói, gạt tóc khỏi mắt, quỳ xuống xem xét thằng trai trẻ. “Quay lại đi,” anh ta bực bội bảo đám đàn bà vừa hiện ra trên ngưỡng cửa, cùng một gã đô con lạnh lùng, tóc đen, vẻ mặt chăm chú và hai đứa nhóc học sinh ngơ ngác trông không quá mười sáu, và khi thấy cả đám vẫn đứng đó lõ mắt nhìn, anh ta phẩy tay. “Vào bếp hết đi! Ulrika anh ta nói với bà chị tóc vàng, “haltsie zuruck[141]”

Tấm thảm lay động; đằng sau, những khối hình quấn chăn, những giọng ngái ngủ: eh? was ist los?[142]

Ruhe, schlaft weiter[143]” Bà chị tóc vàng gọi với ra rồi quay sang Horst, bắt đầu tuôn một tràng tiếng Đức gấp rút hối hả.

Tiếng ngáp, tiếng rên; tít đằng sau, một cục chăn nhỏm dậy, giọng Mỹ nhõng nhẽo; “Hử? Klaus? Bà ta nói gì vậy?”

“Im đi nhỏ và schlafen tiếp đi.”

Boris đã nhặt áo khoác lên tròng vào người. “Potter,” nó nói, và khi thấy tôi vẫn không nhúc nhích mà chỉ kinh hoàng nhìn xuống sàn, nơi thằng bé đang thở từng hơi sòng sọc; “Potter.” Nắm lấy tay tôi. “Nào, đi thôi.”

“Ư, xin lỗi. Chúng ta sẽ phải nói chuyện sau thôi. Schiesse,” Horst nuối tiếc nói, lắc bên vai mềm oặt của thằng bé, giọng điệu như một người cha làm điệu mắng mỏ đứa con nhưng không quá thuyết phục. “Dummer Wichser! Dummkopf![144]Nó dùng bao nhiêu thế, Niall?” anh ta hỏi gã đồ con vừa tái xuất hiện bên cửa, đang quan sát với vẻ chê trách.

“Thế đéo nào tôi biết được,” gã Ireland đáp, đầu gục gặc một bên khá hăm dọa.

“Đi thôi Potter,” Boris nói và nắm tay tôi. Horst đang áp tai vào ngực thằng bé, còn bà chị tóc vàng mới quay lại thì quỳ bên cạnh, đang kiểm tra hơi thở.

Trong lúc họ hối hả thảo luận bằng tiếng Đức, có thêm nhiều âm thanh và chuyển động sau tấm thảm Amiens lúc này bỗng thình lình phồng lên: hoa đã phai, bữa tiệc trong vườn, những nàng tiên núi hoang tàng nô giỡn giữa suối và dây nho. Tôi đang nhìn một dương thần ranh mãnh ngó họ sau cái cây thì thình lình - có gì cọ vào chân - tôi nhảy phắt lại khi một bàn tay quờ bên dưới bỗng túm chặt lấy ống quần. Từ dưới sàn, một trong mấy bọc vải bẩn - khuôn mặt sưng đỏ bầm chỉ lờ mờ thấy dưới mép thảm - hỏi tôi bằng một giọng ngái ngủ nhưng trang nhã: “Ngài ấy là bá tước đấy, chàng trai ạ, biết không?”

Tôi giật quần lại, bước lùi. Thằng bé trên sàn đang lắc lư đầu sang hai bên, phát ra tiếng ùng ục như chết sặc.

Potter.” Boris đã nhặt lấy áo tôi, gần như dúi vào mặt tôi. “Nào! Đi thôi! Ciao” nó hất cằm hét với vào bếp (cái đầu tóc đen xinh xẻo hiện ra giữa cửa, bàn tay chấp chới: chào anh Boris! Chào!) trong lúc nó đẩy tôi đằng trước, chúi đầu đằng sau ra khỏi cửa. “ Ciao, Horst!” nó nói và làm cử chỉ gọi cho tôi nhé, giơ tay lên tai.

Tschau Boris! Xin lỗi vì vụ này! Chúng ta sẽ sớm nói tiếp! Lên nào,” Horst nói, trong lúc tay Ireland đi lại tóm lấy phía dưới tay bên kia thằng bé; cả hai cùng nhấc bổng nó lên, chân oặt xuống, ngón chân rê trên sàn - và giữa cảnh lộn xộn trên ngưỡng cửa, hai thằng nhóc vị thành niên lúng túng hoảng hốt lùi lại - lôi nó qua ô cửa sáng đèn dẫn sang phòng bên, nơi cô bé tóc nâu của Boris đang chuẩn bị ống tiêm bằng chất gì đó trong cái lọ thủy tinh tí xíu.

XVII

ĐI XUỐNG CÁI THANG MÁY HỘP, chúng tôi bỗng chìm trong im lặng: tiếng bánh xe cọ vào nhau, tiếng ròng rọc kèn kẹt.

Ra ngoài, trời đã quang. “Đi thôi,” Boris nói với tôi - lo âu nhìn khắp đường - nó đã lấy điện thoại khỏi túi áo khoác - “sang đường, đi...”

“Hử,” tôi hỏi - nếu đi nhanh thì vừa kịp đèn - “mày gọi 911 à?”

“Không, không,” Boris lơ đễnh nói, quẹt mũi nhìn quanh, “tau không muốn đứng đợi xe ở đây, tau gọi bảo ảnh đón mình ở đầu kia công viên. Chúng mình sẽ đi bộ qua đó. Thỉnh thoảng mấy thằng nhóc vẫn chơi quá liều,” nó nói khi thấy tôi băn khoăn nhìn lại phía ngôi nhà. “Không phải lo. Nó sẽ ổn thôi.”

“Trông nó không ổn chút nào.”

“Không, nhưng nó vẫn thở còn Horst có Narcan. Tiêm vào nó sẽ tỉnh ngay. Y như ma thuật ấy, mi thấy bao giờ chưa? Khiến mi rơi vào cơn vật lập tức. Khó chịu như cứt, nhưng sẽ sống.”

“Đáng phải đưa nó đi cấp cứu.”

“Để làm gì?” Boris đáp một cách rất có lý. “Mấy người ở phòng cấp cứu sẽ làm gì nào? Tiêm Narcan chứ sao. Horst tiêm cho nó còn nhanh hơn họ. Và, phải, nó sẽ tỉnh dậy nôn ọe ầm ĩ, cảm giác như bị dao xuyên vào đầu, nhưng còn hơn là vào xe, UỲNH, áo bị cắt đứt, mặt nạ ụp vào mũi, đủ loại người tát bôm bốp vào mặt cho tỉnh, luật pháp sờ gáy, ai cũng khắc nghiệt chỉ trích - cứ tin tau, Narcan, cảm giác tởm lắm, tỉnh dậy đã đủ tệ rồi chứ không cần phải ở giữa bệnh viện đèn sáng trưng khắp xung quanh đều chê bai thù địch, đối xử với mi như cứt, ‘thằng nghiện, ‘quá liều, ai cũng nhìn nhỏ hầm hè, có khi muốn về còn không cho về, bị tống sang khoa thần kinh nữa không chừng, nhân viên công tác xã hội kéo vào ca bài ‘Bao nhiêu điều đáng sống’ gì đấy và có khi thêm vào đó, còn có vài gã cớm hỏi han nữa... đợi đã,” nó nói, “một giây thôi,” rồi bắt đầu nói tiếng Ukraina vào điện thoại.

Bóng tối. Dưới vầng hào quang đèn đường mờ sương, những ghế đá công viên trơn nhẫy vì mưa, lách tách lách tách, cây sũng nước đen kịt. Những lối đi bộ ướt rượt, lá phủ dày, vài kẻ nhân viên văn phòng lẻ loi trở về hối hả. Boris, đầu cúi xuống, tay thọc vào áo, nhìn xuống đất - đã gọi xong, giờ đang lẩm bẩm một mình.

“Ừm, gì cơ?” Tôi hỏi và liếc sang nó.

Boris bặm môi, hất đầu. “Ulrika,” nó hậm hực nói. “Ả bánh bèo đó. Chính là ả ra mở cửa.”

Tôi vuốt trán. Người tôi chộn rộn, nôn nao và vã mồ hôi lạnh. “Làm sao mày lại quen mấy người đó?”

Boris nhún vai. “Horst hả?” nó hỏi và đá tung một đống lá lả tả. “Bọn tau quen nhau hàng năm nay rồi. Tau biết Myriam là nhờ lão - tau thật biết ơn lão đã giới thiệu.”

“Còn...?”

“Gì?”

“Trên sàn ở đó?”

“Nó? Thằng ngã á?” Boris nhăn mặt kiểu ma mới biết ngày xưa. “Họ sẽ lo cho nó thôi, khỏi lo. Chuyện thường ấy mà. Lúc nào cũng khỏe lại thôi. Thật đấy,” nó nói, chuyển giọng thành khẩn hơn. “Vì là, nghe này, nghe này,” nó nói và thọc khuỷu tay vào sườn tôi, “Horst có cả mớ trẻ nít như thế láng cháng bên cạnh - thay đổi liên tục, chốc lại một đứa mới - tuổi sinh viên, hay học sinh. Chủ yếu là tụi nhãi nhà giàu, tiêu tiền quỹ ủy thác, có khi muốn bán cho lão cái tranh tượng gì đó ở nhà chẳng hạn? Chúng nó biết phải tìm đến lão. Vì...” lắc đầu, gạt tóc khỏi mắt - “chính Horst, hồi còn bé, mi hiểu không - lâu lắm rồi, từ thập niên 80 của thế kỷ trước - lão đi học một năm, hai năm, ở một trong mấy cái trường con trai hoành tráng gần đây ấy, bắt phải mặc vét ấy. Ở đâu đó không quá xa đây. Một lần chỉ cho tau xem rồi, khi đi taxi. Dù sao thì,” nó khịt mũi, “thằng nhóc trên sàn ấy? Không phải thằng cu nghèo rớt đầu đường xó chợ nào đâu. Và họ không để nó gặp chuyện gì đâu. Hy vọng là nó học được một bài. Nhiều đứa lắm. Nó sẽ thấy cả đời chưa bao giờ khốn khổ như khi được nhận mũi Narcan đó. Thêm nữa Candy là y tá, cổ sẽ lo cho nó khi nó tỉnh thôi. Candy ấy? Tóc nâu ấy?” nó nói và lại thúc khuỷu tay vào sườn tôi khi thấy tôi không đáp. “Mi có nhìn thấy cô bé không?” Nó cười khúc khích. “Như là...?” Nó đưa ngón tay vẽ trên đầu gối mô phỏng đường cong của cô ta. “Cổ hơi bị siêu. Trời, tau mà giật được cổ khỏi thằng Niall người Ireland đó thì đã làm ngay. Có lần bọn tau đi đảo Coney, chỉ hai người thôi, và chưa bao giờ tau vui đến thế. Cổ thích đan áo len, mi tưởng tượng được không?” nó nói và ranh mãnh liếc nhìn tôi. “Một cô gái như thế - mi có nghĩ là típ đàn bà thích đan len không? Vậy mà thế đấy! Còn đòi đan cho tau một cái ! Mà là nói thật đấy! ‘Boris, em sẽ đan cho anh một cái áo len bất kỳ lúc nào anh muốn. Chỉ cần nói anh thích màu gì, em sẽ làm ngay!’ ”

Nó đang tìm cách khiến tôi vui lên, nhưng tôi vẫn đang run lẩy bẩy không nói được. Một hồi lâu chúng tôi chỉ cúi đầu đi tiếp, không có tiếng động nào ngoài tiếng giày của cả hai trên lối mòn công viên trong bóng tối, tiếng bước chân hình như vang vọng đến vô cùng, vượt qua cả màn đêm thành phố khổng lồ bao quanh, tiếng còi xe và báo động nghe như cách đây cả nửa dặm.

“Ừm,” Boris bỗng nói và lại liếc nhìn tôi, “ít nhất thì giờ tau nghĩ ra rồi, hửm?”

“Gì?” Tôi giật mình đáp. Đầu óc tôi vẫn còn đang luẩn quẩn với thằng bé và mấy lần hút chết của chính mình: ngất xỉu trong phòng tắm ở tầng trên nhà Hobie, đầu bê bết máu do đập vào cạnh bồn rửa; tỉnh lại trên sàn bếp ở nhà Carole Lombard, Carole vừa lắc tôi vừa gào rú, may quá vì mới bốn phút, nếu năm mà anh chưa dậy em đã gọi 911.

“Hầu như chắc luôn. Chính là Sascha đã lấy cái tranh.”

“Ai cơ?”

Boris quắc mắt. “Em trai Ulrika chứ ai, thế đấy,” nó nói và khoanh tay trên bộ ngực hẹp. “Và lòng vả cũng như lòng sung, nếu mi hiểu ý tau. Sascha và Horst khắng khít lắm - Horst không đời nào chịu nghe ai nói xấu nó - hừm. Khó mà không ưa Sascha, ai cũng mến nó - nó thân thiện hơn Ulrika, nhưng tính cách của tau với nó không bao giờ hợp nhau. Horst sống đàng hoàng, ai cũng bảo thế, tới khi rơi vào tay chị em nhà nó. Học triết ở trường... chuẩn bị lãnh lấy công ty của cụ bố... thế mà giờ mi thấy đấy. Tuy thế, tau cũng không bao giờ tưởng tượng Sascha lại trở giáo đâm Horst, cả ngàn năm cũng không. Mi hiểu hết mấy chuyện nói trong đó chứ?”

“Không.”

“Thế này, Horst nghĩ lời Sascha là vàng là ngọc nhưng tau thì không. Và tau cũng không nghĩ cái tranh đang ở Ireland. Ngay cả Niall là thằng Ireland cũng không nghĩ vậy. Tau ghét cái là ả quay lại, Ulrika ấy - tau không thể nói thẳng điều ở trong đầu tau được. Bởi vì... ” tay thọc sâu vào túi “tau cũng hơi ngạc nhiên là Sascha lại dám làm trò này, và tau không dám bảo thẳng Horst, nhưng tau không nghĩ ra cách nào khác - tau nghĩ toàn bộ vụ lầm người, bị bắt, bắn nhau với cảnh sát, từ đầu chí cuối chỉ là dàn cảnh cho Sascha ôm cái tranh biến đi. Horst có cả mấy chục người sống bám vào mình, lão ta quá hiền lành tin người - tâm hồn dịu dàng, mi hiểu không, gặp ai cũng nghĩ họ tốt đẹp lắm - hừ, lão thì có thể mặc cho Sascha và Ulrika ăn cắp của mình, kệ lão, nhưng tau không để chúng nó cướp của tau đâu.”

“Hừm.” Tôi vẫn chưa ở bên Horst quá lâu, nhưng cũng không thấy anh ta tâm hồn dịu dàng cho lắm.

Boris cau mày và đá vào vũng nước. “Nhưng vấn đề duy nhất là gì? Người của Sascha? Cái thằng móc nối cho tau ấy? Tên thật là...? Bó tay. Nó xưng là ‘Terry’, xạo bà cố - tau cũng không dùng tên thật, nhưng mà ‘Terry’ người Canada, vái cả nón! Nó là dân Séc, chẳng ‘Terry White’ hơn đếch gì tau! Tau nghĩ nó là dân lưu manh đường phố, vừa ở tù ra - dốt đặc cán mai, học hành không có, loại du côn đơn thuần. Tau nghĩ Sascha nhặt nó ở đâu đó về, làm hỏa mù, chia cho nó một phần để bày ra vố đó, phần bằng cái móng tay thôi, dĩ nhiên. Nhưng tau biết ‘Terry’ mặt mũi ra sao và tau biết nó có người quen ở Antwerp và tau sẽ gọi cho thằng đệ Anh Đào lo mặt đó.”

“Anh đào?”

“Ừ - là kliytchka của thằng đệ Victor, bọn tau gọi vậy vì mũi nó đỏ như anh đào, nhưng cũng vì tên nó bằng tiếng Nga là Vitya nghe khá giống chữ anh đào. Hơn nữa ở Nga có cái phim truyền hình rất nổi tiếng, Anh đào mùa đông - thôi, lằng nhằng lắm. Tau hay chọc Vitya vì cái phim này, làm nó cáu điên. Dù sao thì - Anh Đào biết mọi thứ, quen mọi người, nghe hóng được hết mọi chuyện nội bộ. Hai tuần trước khi có chuyện đã nghe Anh Đào kể sạch. Nên là không phải lo về chú chim của mi, OK? Tau tin chắc là chúng mình sẽ lo liệu được thôi.”

“Mày nói ‘lo liệu được thôi’ là sao?”

Boris thở hắt ra. “Vì đây là vòng tròn kín, mi hiểu chưa? Chuyện đó thì Horst đoán trúng phóc rồi. Sẽ không ai mua bức tranh này hết. Nó là thứ không bán được. Nhưng, thị trường chợ đen, vật trao đổi? Có thể chuyển qua chuyển lại đến vô tận! Vừa giá trị, vừa gọn nhẹ. Các phòng khách sạn - đi đi về về. Ma túy, vũ khí, bé gái, tiền mặt - gì cũng được.”

“Bé gái?”

“Bé gái, bé trai, gì cũng được. Nào, nào,” nó nói và giơ một tay lên, “tau không dính gì đến vụ đó đâu. Chính bản thân tau cũng mấy lần bị bán hụt hồi bé - lũ rắn rết ấy trườn khắp Ukraina, hay ít ra là hồi ấy, xó nào ga nào cũng thấy và cho mi biết nếu mi rất trẻ và rất không vui thì sẽ thấy đấy là độ quá tốt. Một bác vẻ sạch sẽ hứa hẹn công việc ở nhà hàng London hay gì đó, tặng vé máy bay và hộ chiếu - ha. Chớp mắt một cái là mi đã tỉnh dậy tay bị xiềng trong tầng hầm đâu đó rồi. Sẽ không đời nào tau dính vào chuyện như vậy. Cái đó rất khốn. Nhưng vẫn có. Và một khi cái tranh đã rời tay tau, và tay Horst - thì ai biết nó sẽ được đưa ra trao đổi lấy cái gì? Nhóm này giữ, nhóm kia giữ. Quan trọng là...” giơ ngón trỏ lên “cái tranh của mi sẽ không mất tích vào bộ sưu tập của gã đại gia mê nghệ thuật nào. Nó nổi tiếng quá. Không ai muốn mua nó cả. Mua làm gì? Có dùng được làm gì? Chẳng làm gì cả. Trừ khi cảnh sát tìm được - và họ vẫn chưa tìm được, cái này thì ta biết...”

“Tao muốn cảnh sát tìm được nó.”

“À…” Boris quẹt mũi nhanh “ừ, mi thì cao quý lắm. Nhưng hiện giờ, điều tau cố biết là nó sẽ di chuyển, mà chỉ di chuyển trong một mạng lưới khá nhỏ thôi. Và Victor Anh Đào thì là bạn tốt, và nợ tau khá nhiều. Vậy nên, tươi lên!” nó nói và túm tay tôi. “Đừng có trắng bệch mặt ra thế! Và chúng mình lại sớm nói chuyện với nhau thôi, tau hứa.”

XVIII

ĐỨNG DƯỚI ĐÈN ĐƯỜNG nơi bị Boris bỏ lại (“không tiễn mi về nhà được! bị muộn rồi! Tau phải đến chỗ này đã!”) tôi choáng váng đến mức phải nhìn quanh định vị, mặt tiền xám lỗ chỗ của tòa nhà Alwyn, như một cơn mất trí ma quái thời Baroque - và ánh đèn pha chiếu trên giấy cắt, những hình trang trí Giáng sinh trên cửa nhà hàng Petrossian đã gõ lên tiếng cồng nào đó chôn sâu trong trí: tháng Mười hai, mẹ tôi đội một cái mũ len: nào cu con ơi, để mẹ chạy ù ra đường mua ít bánh sừng ăn sáng nhé...

Tôi lơ đãng đến mức một người đi vèo qua góc phố đâm sầm vào tôi: “Nhìn đường chứ!”

“Xin lỗi,” tôi nói và rũ mình. Dù tai nạn là lỗi của người kia - còn quá mải bấm bấm vuốt vuốt điện thoại đến nỗi không thấy gì trước mặt nữa - nhưng vài người trên vỉa hè vẫn nhìn tôi chê trách. Hụt hơi và bối rối, tôi nghĩ xem nên làm gì. Tôi có thể bắt tàu điện ngầm về nhà Hobie nếu muốn đi tàu điện, nhưng căn hộ của Kitsey gần hơn. Cô cùng hai bạn cùng nhà Francie và Em chắc đã ra đường hết, Đêm Bạn Gái Với Nhau (nhắn tin gọi điện cũng vô ích, kinh nghiệm đã cho tôi biết; hội đó thường đi xem phim), nhưng tôi có chìa khóa, có thể tự vào nhà pha đồ uống và nằm nghỉ trong lúc chờ cô về.

Trời đã tạnh, trăng mùa đông rõ nét qua kẽ hở giữa những đám mây giông, và tôi lại bắt đầu đi về phía đông, chốc chốc dừng lại tìm cách bắt taxi. Nói chung tôi ít khi tạt qua chỗ Kitsey mà không gọi trước, phần vì tôi không ưa lắm hai cô bạn cùng nhà, mà họ với tôi cũng tương tự. Nhưng bất kể Francie và Em và những chuyện trò xã giao giật cục trong bếp, căn hộ của Kitsey vẫn là một trong vài chốn an toàn thật tình ở New York đối với tôi. Không ai biết mà đến tìm tôi ở chỗ Kitsey. Lúc nào ở đây cũng có cảm giác tạm thời; cố không để nhiều quần áo lắm, đồ đạc chính là một chiếc vali trên giá hành lý cuối chân giường; và vì những lý do nào đó không giải thích nổi tôi lại thích vẻ vô danh trống rỗng, yên ả trong căn hộ, trang trí vui tươi nhưng dè sẻn bằng những tấm thảm hoa văn trừu tượng và đồ đạc hiện đại từ một cửa hàng nội thất vừa tiền. Giường cô êm, đèn đọc sách đủ sáng, lại có tivi màn hình plasma lớn để nếu muốn chúng tôi có thể nằm lăn xem tivi trên giường; tủ lạnh thép không gỉ lúc nào cũng để đầy Đồ Ăn Con Gái: gà nghiền, ô liu, bánh ngọt, sâm-panh, đủ loại xa lát ăn chay mua về dở hơi và kem chừng nửa tá vị.

Tôi lần tìm chìa khóa trong túi, rồi lơ đễnh mở cửa vào (chỉ đang nghĩ xem mình có thể kiếm được gì ăn, liệu có phải gọi thức ăn tới? Cô chắc chắn đã ăn tối rồi, đợi cũng vô ích) và suýt đập mũi vào cửa khi sợi xích bên trong chắn lại.

Tôi đóng cửa, đứng một phút hoang mang, rồi lại mở, cửa mắc vào xích kêu lạch xạch: xô pha đỏ, những ảnh in nhà cửa treo tường và nến thắp trên bàn cà phê.

“Xin chào?” Tôi gọi, rồi thử lại: “Xin chào?” lớn hơn khi nghe tiếng đi lại trong nhà.

Đợi đến lúc tôi đập cửa mạnh đến mức hẳn hàng xóm cũng phải dậy thì Emily, sau một khoảng thời gian hình như rất lâu, mới ra nhìn tôi qua khe cửa. Cô ta đang mặc áo len ở nhà xấu xí và quần có hoa văn rất rợ khiến mông trông bự hơn nhiều. “Kitsey không có nhà,” cô ta nói toẹt, cũng không mở cái xích.

“Ừ, anh biết rồi,” Tôi cáu kỉnh nói. "Cũng không sao.”

“Em không biết bao giờ nó mới về.” Emily, mà lần đầu tôi gặp còn là con bé lên chín mặt béo nẫn đập cửa vào mặt tôi trong căn hộ nhà Barbour, chưa bao giờ giấu giếm ý nghĩ rằng tôi với Kitsey thật là đũa mốc chòi mâm son.

“Ừ, thế cho anh vào, được chứ?” Tôi nói, hơi bực mình. “Anh muốn đợi cô ấy.”

“Xin lỗi. Giờ không phải lúc.” Mái tóc màu nâu lúa mì của Em vẫn cắt ngắn và để mái, y như hồi còn nhỏ, và hình dáng quai hàm cô ta - hệt như hồi lớp 2 - khiến tôi lại nhớ đến Andy, người luôn luôn câm ghét cô ta, con Em Phòm Phèm, con Em Lem Nhem.

“Dở hơi quá. Nào, cho anh vào đi,” tôi cáu kỉnh nói, nhưng cô ta chỉ đứng đơ sau khe cửa, không nhìn thẳng vào mắt tôi mà đâu đó bên nửa mặt. “Nào, Em, anh chỉ định vào phòng cô ấy nằm nghỉ thôi... ’

“Em nghĩ là anh quay lại sau thì tốt hơn. Xin lỗi,” Cô ta thêm vào trong khoảng im lặng khó tin sau đó.

“Này, anh không cần biết em đang làm gì...” Francie, cô bạn còn lại, ít nhất cũng còn biết giả vờ lịch thiệp “anh chẳng định làm phiền em đâu, chỉ muốn.

“Xin lỗi, em nghĩ anh nên về đi là hơn. Bởi vì, này nhé, em sống ở đây,” cô ta nói và lớn giọng át tiếng tôi...

“Trời ạ. Em không nghĩ thế thật chứ?”

“... em sống ở đây,” cô ta đang chớp mắt khó xử, “đây là nhà em và anh không thể cứ lúc nào muốn là xông vào được.”

“Đừng dở hơi thế!”

“Và, và... ” Cô ta cũng có vẻ rất bực bội “này, em không giúp anh được đâu, bây giờ là lúc rất không tiện, em nghĩ anh đi đi thì hơn. Được không? Xin lỗi nhé.” Cô ta đang đóng cửa vào mặt tôi. “Hẹn gặp anh trong buổi tiệc.”

“Sao cơ?”

“Tiệc đính hôn của anh ấy?” Emily hỏi, hé cửa ra một tí đủ khiến tôi thấy con mắt xanh đảo lia đang nhìn mình trước khi lại đóng cửa.

XIX

MẤT MỘT LÚC TÔI ĐỨNG GIỮA HÀNH LANG trong cảnh yên ắng đột ngột vừa rơi xuống, trừng mắt nhìn mắt thần trên cánh cửa đóng, và trong im lặng tưởng như nghe thấy Em chỉ cách vài phân ở bên kia cửa, cũng đang thở hồng hộc như tôi.

Hừ, được lắm, gạch tên mày khỏi danh sách phù dâu, tôi nghĩ và quay đi, cố gắng nện gót sầm sầm xuống dưới nhà, cảm thấy vừa tức điên vừa vui mừng kỳ lạ về cuộc giáp mặt này, lời khẳng định tuyệt đối cho mọi ý nghĩ không hay về Em từng lướt qua đầu. Kitsey đã hơn một lần xin lỗi về thói “cộc lốc” của Em nhưng việc này, theo cách nói của Hobie, là giọt nước tràn cốc rồi. Sao cô ta không đi xem phim với đám còn lại? Cô ta đang ở với thằng nào khác trong đó chăng? Em, bất chấp vẻ ngoài không quá hấp dẫn và mắt cá chân thô kệch, cũng có bạn trai tên là Bill gì đó làm chức to ở Citibank.

Đường phố đen bóng loáng. Ra khỏi tiền sảnh, tôi ghé vào dưới cửa hàng bán hoa cạnh nhà xem tin nhắn và nhắn cho Kitsey trước khi vào trung tâm, để đề phòng; nếu cô vừa xem phim xong tôi vẫn có thể đi đón cô ăn tối và uống gì đó (một mình, không có đám bạn gái đi cùng: vụ việc kỳ quái kia xem ra xứng đáng được thưởng), và chắc chắn rồi sẽ buôn chuyện, phỏng đoán và cười nhạo hành vi của Em.

Cửa sổ sáng đèn. Tủ mát sáng nhờ nhờ màu nhà xác. Bên kia tấm kính mờ sương có những dòng nước chảy dọc, những bó lan xòe cánh run rẩy trong luồng gió quạt: trắng như ma, như trăng, như thiên thần. Ngoài cùng là những loại kỳ quái hơn, nhiều cái bán đến hàng nghìn đô: loại có tơ, loại có gân, loại có đốm, loại có nanh, loại lấm chấm máu, loại mặt quỷ, màu sắc từ nấm mốc xác chết đến hồng bầm dập - lại còn cả một đóa lan đen kỳ tuyệt vươn dài rễ xám loằng ngoằng khỏi cái bình lót rêu lù xù. (“Xin anh, anh yêu,” Kitsey từng nói khi đoán trúng kế hoạch Giáng sinh của tôi, “đừng có mơ đến chuyện đó, mấy thứ đó quá đẹp và em sờ vào là chúng chết lập tức.”)

Không có tin mới. Tôi nhanh chóng nhắn cho cô (Gọi cho anh, phải nói chuyện, vừa có việc buồn cười lắm xxx) và để kiểm tra cho chắc cô vẫn chưa ra khỏi rạp phim, tôi gọi lại. Nhưng vừa khi đầu dây vang lên tiếng hộp thư thoại, tôi nhìn thấy bóng người trong cửa kính, giữa cánh rừng xanh tít sâu trong đáy cửa hàng, và ngỡ ngàng quay lại.

Chính là Kitsey, đầu cúi xuống, mặc cái áo khoác Prada hồng, tay ghì lấy tay và thì thầm bên tai một thằng đàn ông mà tôi nhận ra - chưa từng gặp hắn hàng năm nay rồi, nhưng biết ngay lập tức - vẫn dáng vai ấy, vẫn kiểu đi lén lút lả lướt ấy - Tom Cable. Mái tóc nâu xoăn tít vẫn để dài; hắn vẫn mặc chính những thứ mà đám sái nghiện lắm, tiền từng mặc ở trường (giày Tretorn, áo len Ireland to sụ mắt dày không có áo khoác) và tay lồng vào cái túi của cửa hàng rượu, chính cửa hàng đôi khi Kitsey và tôi vẫn ghé qua mua một chai. Nhưng điều làm tôi sửng sốt là: Kitsey, vốn lúc nào cũng nắm tay tôi hơi cách quãng - lôi theo đằng sau cô, vung vẩy tay tôi rất đáng yêu như một đứa trẻ chơi dung dăng dung dẻ - thì nay đang nép sát vào người hắn ta rầu rĩ. Trong lúc tôi nhìn, ngơ ngác vì cảnh tượng không sao hiểu thấu ấy - cả hai đang đợi đèn, xe buýt vù vù đi qua, quá đắm đuối với nhau đến nỗi không để ý thấy tôi - thì Cable, đang rì rầm nói chuyện, vuốt tóc cô và quay lại kéo cô sát vào mình rồi hôn cô, một nụ hôn được cô đáp lại dịu dàng và sầu muộn hơn bất kỳ nụ hôn nào từng dành cho tôi.

Thêm nữa, tôi thấy - hai người họ đang qua đường; tôi nhanh chóng quay lưng lại; tôi thấy rất rõ cả hai trong cửa sổ cửa hàng thắp đèn khi họ đi vào cửa trước chung cư của Kitsey chỉ cách tôi mấy bước - Kitsey đang buồn bực, cô đang nói rất khẽ, giọng khản đặc vì xúc động, áp sát vào Cable, má tì vào tay áo hắn khi hắn vòng tay siết chặt lấy cánh tay cô âu yếm; và dù không nghe ra nói gì nhưng âm điệu lời cô đã quá rõ: vì bất chấp nỗi buồn, thì niềm vui cô cảm thấy khi ở bên hắn, và hắn khi ở bên cô, là một điều không thể làm giả. Bất cứ kẻ qua đường nào cũng đều nhận thấy. Và - khi cả hai đi lướt qua tôi, trong ô cửa sổ tối om, một cặp bóng ma trìu mến tựa vào nhau - tôi thấy cô vụt đưa tay gạt giọt nước mắt lăn trên má, và nhận ra mình đang chớp mắt kinh ngạc khi chứng kiến cảnh này: vì không hiểu sao, thật là bất khả, lần đầu tiên trên đời, Kitsey đang khóc.

XX

TÔI THỨC GẦN TRẮNG ĐÊM; và khi đi xuống mở cửa hàng ngày hôm sau, tôi tư lự đến mức ngồi nhìn trời cả nửa tiếng đồng hồ mới nhận ra mình quên quay bảng “Đóng cửa” lại.

Những chuyến đi tuần hai lần của Kitsey đến nhà ở Hampton. Những số lạ lóe lên rồi vội dập máy. Kitsey chau mày nhìn điện thoại giữa giờ ăn rồi tắt đi: “À, Em ấy mà. À, mẹ ấy mà. À, một đứa tiếp thị qua điện thoại vớ vẩn ấy mà, số của em bị cho vào danh sách nào đấy.” Những tin nhắn nửa đêm, tiếng bíp tàu ngầm, sóng siêu âm xanh nhấp nháy trên tường, Kitsey nhổm dậy, cặp mông trần rời khỏi giường tắt đi, đôi chân trắng lóa lên trong tối: “À, nhầm số. À, Toddy ấy mà, lại đi say sưa ở đâu thôi.”

Và rồi, không kém phần khiến trái tim trĩu nặng: bà Barbour. Tôi biết rõ bàn tay khéo léo của bà Barbour trong những tình huống khó khăn - khả năng điều khiển những vấn đề tế nhị sau hậu trường - và dù đến giờ bà chưa hề trực tiếp nói dối tôi, theo như tôi biết, thì chắc chắn đã có nhiều thông tin được ỉm đi hay tô vẽ lên. Đủ thứ chuyện nhỏ nhặt giờ đang trở lại trong đầu, như là cái giây phút vài tháng trước, tôi bước vào nghe thấy bà nói nhỏ và khẩn thiết với người bảo vệ, qua máy bộ đàm, sau khi có chuông reo dưới sảnh: Không, tôi không cần biết, đừng cho anh ta lên, giữ anh ta lại dưới đó. Và rồi Kitsey, chưa đầy ba chục giây sau, kiểm tra tin nhắn rồi nhảy tưng lên bất ngờ tuyên bố cô sẽ đưa Lanh Canh và Clemmy đi dạo một vòng quanh phố! Tôi chẳng hề nghĩ gì về chuyên đó, bất chấp vẻ lạnh lẽo bất bình không lẫn vào đâu được thoáng qua mặt bà Barbour, đã lập tức khôi phục vẻ ấm áp khi cánh cửa đóng lại sau lưng Kitsey, bà quay lại bên tôi bắt tay nồng nhiệt.

Đêm đó chúng tôi đã hẹn gặp nhau: tôi sẽ đưa cô đến dự sinh nhật một người bạn, rồi sau đó lại ghé qua tiệc ở nhà người bạn khác. Kitsey không gọi, nhưng đã nhắn tin có vẻ dò hỏi: Theo, sao rồi? Em đang làm việc. Gọi em nhé. Tôi vẫn còn ngơ ngẩn nhìn điện thoại, không biết có nên đáp lại hay không - mà đáp thế nào đây? - thì Boris lao ầm vào cửa trước. “Tau có tin mới.”

“Thế à?” Tôi đáp, sau một giây lơ đãng.

Nó lau trán. “Ở đây nói chuyện được không?” nó hỏi và nhìn quanh.

“Ờ…” lắc đầu cho tỉnh. “Được chứ.”

“Hôm nay tau buồn ngủ dữ,” nó nói và dụi mắt. Tóc nó đang dựng đứng về mọi hướng. “Cần cà phê. Không, không có thời gian,” nó ngáp ngủ nói và giơ một tay lên. “Cũng không ngồi được. Chỉ ở lại được một phút thôi. Nhưng - tin mừng đây - tau có đầu mối về cái tranh của mi.”

“Đầu mối thế nào?” tôi hỏi, choàng tỉnh khỏi cơn mê mụ mang tên Kitsey.

“À, ta sẽ thấy nhanh thôi,” nó tránh né.

“Nó ở đâu…” gắng sức tập trung “có lành lặn không? Chúng nó để nó ở đâu?”

“Mi hỏi vậy tau chịu.”

“Nó...” Tôi đang khó khăn lắm mới sắp xếp ý nghĩ được; tôi hít thật sâu, đưa ngón cái vạch một đường trên mặt bàn để trấn tĩnh, ngước nhìn lên...

“Sao?”

“Nó cần một khoảng nhiệt độ nhất định và một độ ẩm nhất định - mày biết mà, phải không?” Giọng ai đó khác chứ không phải tôi. “Chúng nó không thể để bừa trong một ga ra ẩm mốc nào đó được.”

Boris dẩu môi, cái vẻ khinh thị ngày xưa. “Tin tau đi, Horst chăm bẵm nó như chính con mình ấy. Mặc dù thế…” nó nhắm hờ mắt “tau không rõ mấy thằng kia thì thế nào. Rất buồn phải thông báo với mi rằng chúng chẳng phải thiên tài gì đâu. Ta đành hy vọng chúng có đủ đầu óc để không nhét nó sau lò pizza gì đó vậy. Tau đùa thôi,” nó kiêu ngạo nói khi thấy tôi há hốc mồm hoảng hốt. “Tuy rằng như tau được nghe, nó đang giấu trong một nhà hàng, hay gần một nhà hàng gì đó. Ít nhất cũng là một tòa nhà có nhà hàng. Chuyện đó để sau nói đi,” nó nói và giơ tay lên.

“Ở đây ư?” Tôi hỏi, sau thêm một quãng im lặng không tin nổi. “Trong thành phố luôn ư?”

“Để sau. Cái đó đợi được. Nhưng còn chuyện thế này,” nó nói, giọng nhỏ hẳn và gấp gáp, vừa nói vừa nhìn quanh phòng và qua đầu tôi. “Nghe này, nghe này. Đây mới là điều tau cần nói với mi. Horst - lão chưa hề biết họ mi là Decker, ít ra là đến lúc vừa hỏi tau trên điện thoại hôm nay. Mi có biết một gã tên là Lucius Reeve không?”

Tôi ngồi xuống. “Sao mày hỏi thế?”

“Horst bảo tránh xa hắn ra. Horst biết mi buôn đồ cổ nhưng chưa hề liên hệ qua chuyện kia cho đến khi biết tên mi.”

“Chuyện kia là chuyện gì?”

“Horst không chịu nói kỹ. Tau không biết mi dính dấp gì với gã Lucius này, nhưng Horst nhắc phải tránh xa hắn ra và tau nghĩ mi cần biết ngay lập tức. Hắn đã làm phật lòng Horst ghê gớm trong một vụ khác, và Horst cử Martin bám đuôi hắn.”

“Martin?”

Boris phẩy tay. “Mi chưa gặp Martin. Yên trí đi, mi mà gặp là sẽ không quên được. Dù sao thì gã Lucius này là loại không nên dây vào với người trong nghề mi.”

“Tao biết rồi.”

“Mi dính đến lão vụ gì? Nếu tao hỏi được?”

“Tao...” Lần nữa tôi lại lắc đầu, một câu chuyện không thể trình bày nổi. “Rắc rối lắm.”

“Hừm, tau không biết gã có thù gì với mi. Nếu mi cần tau giúp, dĩ nhiên là tau sẽ giúp - tau hứa chân thành với mi đấy - Horst nữa, tau dám nói thế, vì lão khoái mi. Thật vui khi thấy lão hào hứng và lắm lời như thế, hôm qua ấy! Tau nghĩ là lão chẳng quen nhiều người cho lão bộc lộ chính mình và chia sẻ sở thích của mình. Tội nghiệp lão. Thông minh lắm, Horst ấy. Có rất nhiều điều để cho người khác. Nhưng...” nó nhìn đồng hồ “xin lỗi, không định thất lễ, nhưng tau phải lượn cái đã - tau đang thấy rất tự tin về chuyện cái tranh! Tau nghĩ, có khả năng, có thể chúng mình sẽ lấy lại được! Thế nên...” nó đứng dậy, hùng dũng đập nắm đấm lên ngực “dũng cảm lên! Chúng minh sẽ gặp nhau sớm.”

“Boris?”

“Hử?”

“Mày sẽ làm gì nếu bạn gái mày phản bội mày?

Boris - trên đường ra cửa - quay ngoắt lại. “Nói lại coi?”

“Nếu mày nghĩ là bạn gái mày đang phản bội mày.”

Boris cau mày. “Không chắc à? Mi không có chứng cứ à?” “Không,” tôi nói, trước khi nhận ra điều ấy không chính xác.

“Vậy thì mi phải hỏi thôi, hỏi thẳng,” Boris nói dứt khoát. “Vào một thời điểm thân thiện nào đấy khi cô không đề phòng. Trên giường chẳng hạn. Nếu mi chọn đúng thời điểm, thì dù cổ có nói dối - mi cũng biết ngay. Cổ sẽ bị dao động.”

“Người này thì không đâu.”

Boris cười lớn. “Chà, vậy là mi đã tìm được một người rất khá rồi! Rất hiếm! Cổ có đẹp không?”

“Có.”

“Giàu không?”

“Có.”

“Thông minh?”

“Phần lớn mọi người sẽ cho là vậy, có.”

“Nhẫn tâm?”

“Hơi hơi.”

Boris cười lớn. “Và mi yêu cổ, phải. Nhưng không yêu quá.”

“Sao mày lại bảo thế?”

“Vì mi không phát điên phát dại, hay khóc lóc sụt sùi! Mi không tức điên lên muốn lao đến tự tay bóp cổ chết! Thế nghĩa là linh hồn mi còn chưa gắn chặt lấy cổ. Và như thế là tốt. Kinh nghiệm của tau đây. Hãy tránh xa những người mi yêu quá. Đấy là những người sẽ giết chết mi. Điều mi cần để được sống hạnh phúc trên đời là một người đàn bà biết sống cuộc sống của cổ, để mi sống cuộc sống của mi.”

Nó vỗ vai tôi hai lần rồi đi mất, mặc cho tôi thẫn thờ nhìn cái vỏ bạc trong nỗi tuyệt vọng vừa trở lại về cuộc đời bết bát của mình.

XXI

KITSEY, KHI RA MỞ CỬA CHO TÔI ĐÊM ĐÓ, thực tế không bình tĩnh được như đáng lý: cô đang nói mấy chuyện cùng một lúc, áo mới muốn mua, đã thử vào người, không quyết định được, lại treo ở đó, có bão đằng Maine - hàng đống cây đổ, cây già trên đảo, chú Harry gọi, buồn ghê! “Ôi anh yêu…” chấp chới quanh tôi rất dễ thương, kiễng chân lên lấy ly rượu “giúp em? Được không?” Em và Francie, hai cô bạn cùng phòng, mất tăm mất tích, như thể họ cùng đám bạn trai đã khôn ngoan hô biến trước khi tôi đến. “Ôi, khỏi lo - em lấy được rồi. Này, em có ý kiến hay lắm. Đi ăn cà ri trước khi ghé qua nhà Cynthia đi. Em đang thèm chết đi được. Cái chỗ vắng vẻ trên Lex anh dẫn em đến - mà anh thích ấy? Gọi là gì nhỉ? Mahal gì đó?”

“Em nói cái nhà chấy rận hả?” Tôi đanh giọng nói. Tôi còn chưa thèm bỏ áo ra.

“Sao cơ?”

“Có món cà ri rogan josh đầy mỡ. Và toàn ông bà già khiến em phát sầu. Đám bán hàng của Bloomingdale.” Nhà hàng Jal Mahal (họ viết là “nhà hành”) là một quán Ấn tồi tàn hẻo lánh ngụ tại tầng hai một cửa hiệu trên Đại lộ Lexington, nơi không có gì thay đổi từ thuở tôi còn bé tới nay: cả bánh đa pappadum, cả giá, cả tấm thảm hồng đã bạc vì bị nước đổ quá nhiều gần cửa sổ, cả đám bồi bàn: vẫn những khuôn mặt xệ hiền từ, thánh thiện mà tôi nhớ từ thời bé, hồi mẹ và tôi hay tới đó sau khi xem phim, ăn bánh gối samosa và kem xoài. “Được thôi, nếu em muốn. ‘Nhà hàng buồn thảm đệ nhất Manhattan. Thật là một ý kiến hay.”

Cô quay nhìn tôi, chau mày. “Sao cũng được. Baluchi còn gán hơn. Hay là - anh muốn đi đâu thì ta đi đấy.”

“Thế hả?” Tôi đứng dựa vào khung cửa, tay bỏ trong túi. Hàng năm trời sống với một tay tổ dối trá đã khiến tôi mất hết tính thương xót. “Anh muốn đi đâu à? Nghe thú vị làm sao.”

“Xin lỗi. Em cứ nghĩ là cà ri sẽ vui. Bỏ đi vậy.”

“Được rồi đấy. Giờ em thôi được rồi.”

Cố nhìn lên, một nụ cười trống rỗng. “Sao kia?”

“Đừng có sao kia với anh. Em biết thừa là anh đang nói chuyện gì.”

Cô không nói gì. Một vạch kẻ xuất hiện trên vầng trán xinh đẹp.

“Có lẽ điều này sẽ dạy cho em biết mở máy khi ở cùng hắn ta. Anh tin chắc là cô ta đã cố gọi em trên phố.”

“Xin lỗi, em không hiểu...?”

“Kitsey, anh thấy em.”

“Ôi trời ơi,” cô nói và chớp mắt, sau một quãng dừng ngắn. “Anh đùa thôi phải không? Anh nói đến Tom hả? Thôi nào, Theo,” cô nói trong quãng im lặng chết người sau đó, “Tom là bạn cũ của em, từ ngày xưa, chúng em thân với nhau lắm...”

“Ừ, cái đó anh thấy rồi.”

“... và anh ấy cũng là bạn Em nữa, và, và, em nghĩ là,” mắt chớp liên hồi, dáng vẻ như bị buộc tội vô cớ, “em biết là có thể tưởng tượng thành thế nào, em biết là anh không thích Tom và anh cũng có lý do chính đáng. Bởi vì, em biết chuyện hồi mẹ anh mất, và đúng là anh ấy xử sự thật tệ, nhưng hồi đó anh ấy còn nhỏ và giờ anh ấy thấy rất ân hận về những điều mình đã làm...”

Thấy ân hận?”

“... nhưng, nhưng tối qua anh ấy được tin xấu,” cô vẫn nói tràn, như một diễn viên bị ngắt lời khi đang đọc thoại, “được tin xấu về chuyện nhà...”

“Em nói với hắn ta về anh? Hai người ngồi nói chuyên về anh rồi thương cảm cho anh?”

"... và Tom, anh ấy đến đây gặp chúng em, Emily và em, cả hai chúng em, đùng một cái, ngay trước khi bọn em định đi xem phim, vì thế chúng em mới ở lại chứ không đi cùng mọi người khác, anh có thể hỏi Em nếu không tin em, anh ấy chẳng có nơi nào để đi cả, anh ấy vừa bị một cú ghê gớm, một chuyện cá nhân, anh ấy chỉ cần người nói chuyện thôi, mà bọn em còn có thể làm gì...”

“Em không nghĩ là anh sẽ tin chuyện đó chứ, phải không?”

“Nào, em không biết Em đã nói gì với anh...”

“Nói đi. Mẹ của Cable có còn cái nhà ở Đông Hampton đó không? Anh nhớ bà ta thường vứt hắn lại ở câu lạc bộ hàng giờ liền sau khi đuổi cổ cô trông trẻ, hay đúng hơn là sau khi cô ta bỏ việc. Dạy tennis, dạy gôn. Hẳn là cuối cùng hắn trở thành một tay gôn rất khá, phải không?”

“Phải,” cô lạnh lùng nói, “phải, anh ấy chơi khá.”

“Anh có thể nói một câu rẻ tiền ngay bây giờ, nhưng anh sẽ không nói.”

“Theo, chúng mình đừng cãi nhau thế này.”

“Anh có thể trình bày qua giả thiết của anh không? Em không phiền chứ? Anh tin chắc có sai vài tiểu tiết nhưng anh nghĩ về cơ bản là đúng. Vì anh biết rằng em từng hẹn hò với Tom, Platt đã bảo anh thế hôm đụng nhau trên phố, và cả anh trai em cũng không hào hứng gì với chuyện đó. Và phải,” tôi nói khi cô tìm cách ngắt lời, giọng nói cũng cứng rắn và chết chóc như tâm trạng tôi. “Phải. Không phải thanh minh làm gì. Con gái lúc nào cũng thích Cable. Rất hài hước, cực kỳ thú vị khi nào hắn muốn. Cho dù nếu gần đây hắn thường viết séc khống hay ăn trộm của những người ở câu lạc bộ hay bao nhiêu điều khác anh được nghe.

“... không phải thế! Đấy là nói dối! Anh ấy không bao giờ ăn trộm gì của ai...”

“... và bố mẹ cũng chẳng bao giờ ưa Tom lắm, hay đúng hơn là chẳng ưa tí nào, và rồi sau khi bố cùng Andy chết, em không thể cứ tiếp tục được nữa. Sẽ khiến mẹ quá thất vọng. Và, như Platt đã nhận xét, vô số lần...”

“Em sẽ không gặp lại anh ấy nữa.”

“Vậy là em đang thừa nhận.”

“Em không nghĩ là điều đó có gì quan trọng chừng nào chúng ta chưa lấy nhau.”

“Tại sao thế?”

Cô gạt tóc khỏi mắt và không nói gì.

“Không nghĩ điều đó có gì quan trọng? Tại sao? Em nghĩ anh sẽ không phát hiện ra à?”

Cô tức giận ngước lên. “Anh đúng là một kẻ không tim, anh biết không?”

“Anh à?” Tôi ngoảnh đi, cười lớn. “Anh mới là kẻ không tim à?” “À phải. ‘Bên bị hại’. ‘Tuân thủ nguyên tắc cao quý’.”

“Cũng cao quý hơn một số kẻ.”

“Anh đang thích thú việc này lắm hả.”

“Không đâu, thề với em.”

“Thật à? Nhìn nụ cười khẩy kia thì em tin lắm đấy.”

“Thế anh phải làm gì? Ngồi im như thóc à?”

“Em đã nói là sẽ không gặp anh ấy nữa. Thực ra là em đã bảo vậy cách đây khá lâu rồi.”

“Nhưng anh ấy cứ dai dẳng. Anh ấy yêu em. Anh ấy sẽ không chấp nhận em từ chối.”

Kinh ngạc làm sao, cô đỏ mặt. “Đúng vậy.”

“Tội nghiệp Kits bé bỏng.”

“Đừng quá quắt thế.”

“Cô bé đáng thương,” tôi nhắc lại giễu cợt, bởi không nghĩ ra phải nói gì khác.

Cô đang lục lọi ngăn kéo tìm cái mở nút chai, thì quay lại và nhìn tôi tha thiết. “Nghe này,” cô nói, “em không nghĩ là anh hiểu được đâu, nhưng rất khốn khổ khi yêu phải người không đáng.”

Tôi lặng im. Khi đi vào nhà, tôi đã lạnh ngắt vì giận điên lên nhìn thấy cô, đến nỗi tự nhủ rằng cô hoàn toàn không có khả năng làm tôi bị tổn thương hay - Chúa chứng giám - làm tôi thấy xót thương cô. Nhưng có ai hiểu hơn tôi sự thật trong điều cô vừa nói?

“Nghe này,” cô nhắc lại, đặt cái mở nút chai xuống. Cô đã nhìn thấy đột phá khẩu và đang nhằm vào đó: giống y như trên sân tennis, tàn nhẫn, dò theo điểm yếu của đối phương...

“Tránh xa anh ra.”

Nóng nảy quá. Nhầm giọng rồi. Tinh thế đang chuyển hướng bất lợi. Tôi cần lạnh lẽo, kiểm soát.

“Theo. Xin anh.” Cô đã tới, tay đặt trên tay áo tôi. Mũi ửng hồng, mắt đỏ lên rơm rớm: giống y như Andy ngày xưa mỗi lần đến mùa dị ứng, như một người bình thường có thể khiến người ta thấy thực lòng thương. “Em xin lỗi. Thật đấy. Từ tận đáy lòng. Em không biết phải nói gì nữa.”

“Không à?”

“Không. Em đã phạm phải một thiếu sót rất lớn với anh.”

“Thiếu sót. Từ ngữ hay đấy.”

“Và, em nghĩ là, em biết anh không thích Tom...”

“Cái đó thì có liên quan gì?”

“Theo. Chuyện đó có quan trọng với anh như những chuyện còn lại không? Không, anh biết mà,” cô nói nhanh. “Nếu nghĩ kỹ anh sẽ thấy là không. Hơn nữa…” cô ngừng một chốc trước khi xông tới “không phải muốn bắt bí anh đâu, nhưng em cũng biết mọi trò của anh mà em có để tâm đâu?”

Trò của anh?”

“Thôi nào,” cô mệt mỏi đáp. “Cứ qua lại với đám bạn bè gớm chết, chơi đủ thứ thuốc mà anh muốn đi. Em không để tâm đâu.”

Đằng xa xa, máy sưởi bắt đầu lạch xạch rồi kêu váng lên ầm ĩ.

“Thế này. Chúng mình rất hợp nhau. Cuộc hôn nhân này đúng là thứ cần thiết cho cả hai chúng ta. Anh biết thế và em cũng biết thế. Bởi vì - em muốn nói là, này, em biết mà. Anh không cần phải nói cho em. Và, em nói thật đấy - tình trạng của anh đã tốt hơn từ khi chúng mình hẹn hò nhau, phải không? Anh đã đàng hoàng hơn rất nhiều.”

“Thế ư? ‘Đàng hoàng hơn’? Phải hiểu câu đó ra làm sao đây?”

“Nào...” cô thở dài chán nản “giả vờ làm gì, Theo. Martina, Em, Tessa Margolis, nhớ không?”

“Mẹc.” Tôi không nghĩ lại có ai biết về Tessa.

“Ai cũng cố cảnh cáo em. ‘Tránh xa hắn ra. Hắn dễ thương khủng khiếp, nhưng hắn nghiện.’ Tessa bảo với Em là cô ấy đã cắt anh sau khi bắt quả tang anh hít heroin ở bàn bếp nhà cô ấy.”

“Không phải heroin,” tôi gắt lên. Đấy là morphine nghiền nát và đem hít thật là ý tưởng tồi, phí hoài cả viên thuốc. “Hơn nữa Tessa hoàn toàn chẳng phản đối gì chuyện hít, cô ta suốt ngày nhờ anh kiếm cho cô ta một ít...”

“Nào, việc đó thì khác và anh biết mà. Mẹ... ” cô tìm cách nói tràn qua tôi...

“... thế hả? Khác hả?” Lớn tiếng át lời cô. “Khác thế nào? Khác sao?”

“... mẹ em, em thề - nghe em này Theo - mẹ yêu anh rất nhiều. Rất nhiều. Anh đã cứu đời mẹ khi xuất hiện vào lúc ấy. Mẹ đã nói chuyện, ăn uống, quan tâm đến xung quanh, đi dạo trong công viên, mẹ mong đến lúc gặp anh, anh không hình dung nổi trước kia mẹ ra sao đâu. Anh là một phần của gia đình,” cô nói, được thể dấn tới. “Thật thế. Bởi vì, em muốn nói là, Andy...”

Andy tôi cười khinh thị. Andy không hề có chút ảo tưởng nào về cái gia đình thần kinh của cậu ta.

“Nào, Theo, đừng như thế.” Giờ cô đã hồi phục rồi: thân thiện và biết phải trái, thẳng thắn hao hao giống cha cô. “Đấy là việc cần làm.

Lấy nhau ấy. Chúng mình hợp với nhau. Đây là điều hợp lý với tất cả những bên liên quan, trên hết là chúng mình.”

“Thế cơ hả? Tất cả?”

“Phải.” Cực kỳ điềm tĩnh. “Đừng tỏ thái độ như thế, anh hiểu ý em mà. Việc gì phải để cái đó làm hỏng tất cả? Suy cho cùng thì chúng mình trở thành người tốt hơn khi ở bên nhau, phải không? Cả hai chúng mình? Và... ” mỉm cười tái nhợt, đúng là mẹ cô “chúng mình là một cặp ăn ý. Chúng mình ưa nhau. Chúng mình hòa hợp được.”

“Vậy là bằng đầu, không phải bằng trái tim.”

“Nếu anh muốn diễn tả như vậy thì cũng được,” cô nói và nhìn tôi, nỗi thương cảm và trìu mến lồ lộ đến mức - hoàn toàn bất ngờ - tôi cảm thấy cơn giận trong mình tan biến: do trí thông minh lạnh lùng của cô, thuộc về mình cô, trong như chuông bạc. “Giờ thì...” kiễng chân, hôn lên má tôi “cả hai ta hãy thật là ngoan, và thành thật, và tử tế với nhau, và hãy vui vẻ bên nhau hưởng thụ cuộc sống.”

XXII

VẬY LÀ ĐÊM ĐÓ TÔI Ở LẠI - chúng tôi gọi thức ăn về, sau đó, rồi quay lại giường. Nhưng dù trên một cấp độ nào đó thật dễ giả vờ như mọi thứ vẫn còn như cũ (bởi vì, xét theo cách nào đó, chẳng phải chúng tôi vẫn giả vờ từ đầu đến cuối hay sao?) thì trên cấp độ khác, tôi thấy muốn ngạt thở dưới sức nặng của mọi điều chưa biết, hay chưa nói ra, đè xuống giữa đôi bên, và về sau khi cô cuộn người nằm bên tôi trong giấc ngủ thì tôi thức trắng, nằm nhìn ra cửa sổ, cảm thấy cô đơn biết mấy. Những quãng lặng trong buổi tối (lỗi của tôi, không phải Kitsey - kể cả trong hoàn cảnh cực điểm thì Kitsey cũng không bao giờ ngừng cái lưỡi của cô) và khoảng cách dường như không cách nào nối liền giữa đôi bên khiến tôi vụt nhớ lại thời mười sáu tuổi, không bao giờ biết nên nói gì hay làm gì khi ở với Julie, người dù tuyệt đối không thể gọi là bạn gái nhưng vẫn là người đầu tiên tôi coi là bạn gái. Chúng tôi đã gặp nhau ngoài cửa hàng rượu mạnh Phố Hudson, tôi đứng ngoài cửa, cầm tiền trong tay mong có ai đi vào mua cho tôi một chai gì đó, còn cô thì xuất hiện sau ngã rẽ, bộ áo phồng căng như một con dơi đến từ tương lai rất không hợp với dáng đi lúi xùi và gương mặt gái quê, đơn sơ nhưng dễ chịu của một bà vợ miền thảo nguyên hồi đầu thế kỷ 20. “Này nhóc…” lôi chai rượu của chính mình ra khỏi túi “tiền lẻ của nhóc đây. Không, thật tình, không phải nhắc chuyện đó. Nhóc định đứng đó trong giá rét mà uống à?” Cô hai mươi bảy tuổi, hơn tôi gần mười hai, có bạn trai sắp học xong trường kinh tế ở California - và không có gì nghi ngờ rằng khi anh chàng bạn trai trở lại tôi sẽ không được đến gần hay liên hệ với cô bao giờ nữa. Cả hai đều biết vậy. Cô còn không phải nói ra. Chạy năm tầng cầu thang lên căn hộ độc thân của cô, trong những buổi chiều hiếm hoi (với tôi) được phép tới gặp cô, tôi lúc nào cũng tràn đầy những lời lẽ và cảm xúc quá lớn lao không cách nào kìm được, nhưng mọi điều tôi dự định nói ra lúc nào cũng bốc hơi mất tích ngay khi cô mở cửa, và thay vì trò chuyện với cô dù chỉ hai phút như một người bình thường, tôi sẽ lảng vảng sau lưng cô ba bước câm lặng và tuyệt vọng, tay giấu kỹ trong túi, căm ghét bản thân mình, trong lúc cô lượn chân trần khắp nhà, trông rất mốt, nói chuyện dễ dàng, xin lỗi vì quần áo bẩn trên sàn hay vì quên lấy một thùng bia - tôi có muốn cô chạy xuống nhà không? - đến khi tới một lúc nào đó, tôi sẽ gần như quăng mình vào cô giữa câu nói mà đẩy cô ngã nhào xuống chiếc xô pha giường, đôi khi thô bạo đến mức rơi cả kính. Mọi thứ đều tuyệt vời đến mức tôi nghĩ mình có thể chết ngay bây giờ, nhưng sau đó khi nằm thức tôi những muốn nôn mửa vì trống rỗng, cánh tay cô trắng ngần vắt trên ga giường, đèn đường bật sáng, kinh sợ khi đến tám giờ tối là lúc cô sẽ phải trở dậy mặc đồ chuẩn bị đi làm, ở một quán bar Williamsburg nào đó mà tôi chưa đủ tuổi ghé vào thăm cô. Và thậm chí tôi còn không yêu Julie nữa. Tôi hâm mộ cô, ám ảnh vì cô, ghen tị với sự tự tin của cô, có phần sợ cô nữa; nhưng tôi không thực sự yêu cô, cũng như cô chẳng yêu tôi. Tôi cũng không biết mình có yêu Kitsey hay không (hay ít nhất thì cũng không như tôi từng ước, mình sẽ yêu cô) nhưng vẫn thật ngạc nhiên là mình lại cảm thấy nản lòng như thế, trong khi đây là một chuyên đã từng trải qua rồi.

XXIII

MỌI CHUYỆN VỚI KITSEY đã tạm thời làm chuyến thăm của Boris phai nhạt khỏi đầu óc tôi, nhưng một khi đi ngủ, tất cả trở lại như đã rình sẵn trong giấc mộng. Hai lần tôi tỉnh giấc ngồi bật dậy: một lần do cánh cửa bật mở trong ác mộng vào ngăn tủ trữ đồ, trong khi những đàn bà bịt khăn ở bên ngoài đánh nhau giành một chồng quần áo cũ; rồi gà gật ngủ lại, sang một chặng khác của cùng giấc mơ ấy, những kho trữ đồ trở thành những không gian che rèm yếu ớt mở thẳng ra ngoài trời, những bức tường vải phồng căng không đủ dài để chạm xuống cỏ. Đằng sau là một khung cảnh những đổng cỏ xanh và các cô gái mặc váy trắng lướt thướt: một hình ảnh (bí ẩn thay) ngập tràn nỗi khủng khiếp nghi lễ và đậm màu chết chóc khiến tôi choàng dậy thở hổn hển.

Tôi xem đồng hồ: mới bốn giờ sáng. Sau nửa tiếng đồng hồ khổ sở nữa, tôi ngồi lại trên giường trong bóng tối, ngực trần, cảm thấy mình như một tên lưu manh trong một bộ phim Pháp khi đốt thuốc và nhìn ra ngoài Đại lộ Lexington gần như trống rỗng vào giờ ấy: taxi vừa vào ca, hay vừa rời đi, ai biết được. Nhưng giấc mơ phảng phất vẻ tiên tri lại nhất quyết không chịu tan đi, mà lửng lơ trên đầu như một đám mây nọc độc, tim tôi vẫn còn đập thình thịch vì hiểm họa trên không ấy, cảm giác rộng mở và nguy ngập ấy.

Đáng đem bắn. Tôi đã đủ lo âu vì bức tranh từ hồi còn tin nó đang được gìn giữ an toàn quanh năm (như người ta đã cam đoan như vậy, trong tờ rơi quảng cáo ấy, bằng những ngôn ngữ súc tích chuyên nghiệp) ở điều kiện bảo quản được phê chuẩn 21 độ C và 50% độ ẩm. Một thứ như thế không thể bạ đâu để đó được. Nó không chịu được lạnh hay nóng, hơi nước hay ánh nắng trực tiếp. Nó cần một môi trường điều hòa, như những đóa lan trong cửa hàng hoa. Chỉ cần tưởng tượng nó bị nhét vào sau lò nướng pizza là đủ cho trái tim thờ phụng của tôi đập thình thình một cách, dù không phải, nhưng cũng tương tự như nỗi kinh hoàng đã cảm thấy khi nghĩ người lái xe khách sẽ vứt Popper tội nghiệp xuống xe: giữa cơn mưa, giữa nơi vô định, bên vệ đường.

Vì suy cho cùng: Boris đã giữ bức tranh được bao lâu? Boris? Ngay cả với Horst, tay mê nghệ thuật kỳ cựu, thì cái căn hộ ấy cũng không tạo cho tôi cảm giác anh ta cực kỳ kỹ tính với các chuẩn bảo quản. Hàng đống những tai họa có khả năng xảy ra: bức Bão biển Galileel[145] của Rembrandt, bức cảnh biển duy nhất ông vẽ, theo lời đồn thì đã hầu như bị hủy hoại chỉ vì lưu giữ không đúng cách. Tuyệt phẩm Thư tình[146] của Vermeer bị một tay bồi khách sạn cắt khỏi khung căng, đã nhăn nhúm và lở lói sau khi bị kẹp giữa hai lớp đệm. Cảnh nghèo[147] của Picasso và Phong cảnh Tahiti[148] của Gauguin bị thấm nước hỏng sau khi một thằng đần nào đó đem giấu trong nhà vệ sinh công cộng. Trong quá trình mê mải đọc, câu chuyện khiến tôi mất ngủ nhất là bức Cảnh Giáng sinh với Thánh Francis Thánh Laivrence[149] của Caravaggio, bị ăn trộm từ nhà nguyện San Lorenzo và bị rạch khỏi khung cẩu thả đến mức nhà sưu tập thuê trộm đã khóc òa lên khi nhìn thấy nó và nhất quyết không chịu nhận.

Điện thoại của Kitsey đã vắng bóng khỏi vị trí mọi khi, tôi chợt nhận ra: ổ sạc điện bên bệ cửa sổ, nơi cô luôn chộp lấy vào mỗi sáng. Thỉnh thoảng tôi tỉnh giấc giữa đêm, nhìn thấy ánh sáng xanh mờ trong bóng tối bên phía giường cô, dưới lớp chăn, trong cái ổ kín đáo quây bằng ga giường kín đáo. “À, xem giờ thôi ấy mà,” cô nói nếu tôi ngái ngủ quay sang hỏi cố làm gì. Tôi hình dung nó đã bị tắt đi, chìm tận đáy cái túi cá sấu giữa mớ lộn xộn mọi khi của Kitsey, son bóng và danh thiếp và những mẫu nước hoa cùng tiền mặt để lung tung, những tờ hai chục nát nhàu bay ra mỗi lần cô lấy lược. Trong đó, giữa bãi chiến trường thơm phức ấy, Cable sẽ gọi liên hồi trong đêm, để lại hàng mớ lời nhắn và tin thoại để cô đọc được khi thức dậy vào buổi sáng.

Họ nói chuyện gì? Họ có gì để nói với nhau? Thật kỳ là: rất dễ tưởng tượng cuộc trao đổi giữa họ. Huyên thuyên vớ vẩn, cảm giác ranh mãnh và âm mưu. Cable gọi cô những cái tên dớ dẩn trên giường và cù đến lúc cô ré lên.

Dụi tắt thuốc. Không hình dạng, không lý do, không ý nghĩa. Kitsey ghét tôi hút thuốc trong phòng ngủ của cô, nhưng tôi không nghĩ là cô sẽ mở miệng nói gì khi thấy đầu mẩu thuốc nát bét trong hộp nữ trang Limoges trên tủ kéo. Để tìm cách hiểu được thế giới, đôi khi ta chỉ có thể tập trung vào một phần nhỏ của nó, nhìn thật kỹ cái gì sát gần mình coi là đại diện cho toàn thể; nhưng kể từ khi bức tranh biến mất dưới chân mình tôi cảm thấy bị nhấn chìm, bị dụi tắt trong cái mênh mông - không chỉ là cái mênh mông ước đoán được của không thời gian, mà là khoảng cách vô phương rút gọn giữa người với người, giữa những người cách nhau chưa đầy một gang tay, và - cơn nôn nao chóng mặt trồi lên - tôi nghĩ đến mọi nơi mình từng đến, mọi nơi mình chưa ghé qua, một thế giới đã mất, mênh mông, không cách nào biết được, một mê lộ tồi tàn những thành phố và ngõ ngách, tro tàn bay xa và sự chen chúc thù hằn, những mối dây bị lỡ, những đồ vật mất đi không bao giờ tìm thấy, mà giữa dòng biển hùng mạnh ấy bức tranh của tôi cũng bị cuốn trôi về tít đâu đó ngoài kia: một mảnh linh hồn bé tẻo teo, một vết mờ mờ bập bểnh trên mặt biển đen thảm.

XXIV

VÌ KHÔNG NGỦ LẠI ĐƯỢC, tôi đi mà không gọi Kitsey, trong cái giờ lạnh giá tối om khi mặt trời chưa trở dậy, vừa run vừa mặc đồ trong bóng tối; một trong hai ả cùng nhà đã về, đang bật nước tắm và tôi tuyệt đối không muốn đụng phải bất cứ ả nào trên đường ra.

Tới khi tôi xuống tàu F thì trời đã tang tảng sáng. Lê thân về đến nhà trong cái lạnh cắt da - tuyệt vọng, mệt phờ, tự mở cửa ngách vào, lảo đảo lên phòng ngủ, kính mờ bẩn, đầy mùi khói thuốc và làm tình và cà ri và Chanel số 19 của Kitsey, dừng chân chào Popchik vừa lạch bạch qua hành lang đang xoắn xuýt quanh chân tôi với vẻ phấn khích thường lệ, lôi cục cà vạt cuộn tròn trong túi ra treo lên giá đằng sau cửa - máu tôi suýt đông lại khi nghe giọng nói cất lên trong bếp: “Theo? Cậu đấy à?”

Cái đầu tóc đỏ, ló ra từ góc hành lang. Chính là cô, tay cầm cốc cà phê.

“Xin lỗi, tớ làm cậu sợ à? Không định thế.” Tôi đứng chết sững, ngớ người, khi cô chìa tay cho tôi với một âm thanh kiểu như gù gù sung sướng, Popchik đang ư ử và nhảy cỡn khoái chí dưới chân chúng tôi. Cô vẫn còn mặc nguyên bộ đồ đi ngủ, quần pyjama sọc kẹo hồng và áo thun dài tay dưới cái áo len cũ của Hobie, và vẫn tỏa mùi giường và ga giường xáo lộn: ôi Chúa ơi, tôi nghĩ, nhắm mắt vùi mặt vào vai cô, lòng dậy lên vừa sung sướng vừa sợ hãi, cơn gió lẹ từ Thiên đàng gửi đến, Chúa ơi.

“Gặp cậu vui quá!” Cô đang ở đây. Tóc cô - mắt cô. Móng tay gặm sát như Boris và môi dưới bĩu ra như một đứa bé thích mút tay, cái đầu tóc đỏ xù tung như một bông thược dược. “Cậu khỏe chứ? Tớ nhớ cậu lắm!”

“Tớ...” Toàn bộ quyết tâm trong tôi tan biến tức khắc. “Cậu làm gì đây thế?”

“Tớ đang trên đường bay đến Montreal!” Tiếng cười gắt của một cô bé nhỏ hơn nhiều, tiếng cười the thé ở sân chơi. “Ghé lại thăm Sam bạn tớ mấy hôm rồi sẽ đi gặp Everett ở California.” (Sam nào? tôi nghĩ.) “Nhưng máy bay bị đổi lịch…” cô uống một ngụm cà phê, chìa cho tôi không một lời, uống không? không à? Lại một ngụm “và tớ bị kẹt sân bay Newark, và tớ nghĩ, sao lại không nhỉ, tớ sẽ chớp cơ hội này vào thành phố thăm mọi người.”

“Ờm. Tốt quá.” Mọi người. Vậy là có tính cả tôi.

Nghĩ là ghé vào thì cũng tốt, vì đến Giáng sinh tớ không về được đây. Với lại vì mai đã là tiệc của cậu nữa. Cưới rồi đấy! Chúc mừng cậu!” Cô đặt mấy đầu ngón tay lên tay tôi, và khi cô kiễng chân hôn lên má, tôi cảm thấy cái hôn chạy khắp người mình. “Khi nào thì tớ được gặp cô ấy hả? Hobie bảo cô ấy đúng là một tiên nữ. Cậu có háo hức không?”

“Tớ...” Tôi choáng váng đến nỗi đưa tay lên sờ má, nơi môi cô đã chạm vào, nơi tôi vẫn còn cảm thấy sức ép ngời sáng ấy, và rồi sau khi nhận ra trông mình như thế nào vội vã rụt lại. “Có. Cảm ơn cậu.”

“Được gặp cậu thật vui. Trông cậu rất tuyệt.”

Có vẻ như cô không nhận ra tôi ngơ ngác, tôi quay cuồng, tôi ngờ nghệch ngốc nghếch thế nào khi vừa thoạt nhìn thấy cô. Hoặc có thể cô có nhận ra, và không muốn làm tôi buồn lòng.

“Hobie đâu rồi?” tôi hỏi. Tôi không hỏi để biết, mà chỉ vì có vẻ thật ngoài sức tưởng tượng là được ở một mình trong nhà với cô, và lại cũng hơi đáng sợ nữa.

“À... ” cô đảo tròn mắt “bác ấy cứ nằng nặc chạy ra hàng bánh. Tớ đã bảo là chẳng cần đâu, nhưng cậu biết bác ấy thế nào mà. Bác ấy thích kiếm cho tớ mấy cái bánh quy việt quất mà mẹ với Welty vẫn hay mua hồi tớ còn bé tí ấy. Không thể tin nổi là họ vẫn còn làm thứ ấy - không phải hôm nào cũng có đâu, bác ấy bảo vậy. Cậu chắc là không muốn uống cà phê chứ?” đi lại phía bếp lò, bước chân chỉ hơi khập khễnh khó nhận thấy.

Thật phi thường - tôi gần như không để lọt tai chữ nào cô nói nữa. Lần nào ở trong cùng một phòng với cô cũng vậy, cô át hết tất cả mọi điều: da cô, mắt cô, cái giọng khàn khàn của cô, mái tóc màu lửa và điệu nghiêng nghiêng đầu khiến đôi lúc trông như thể cô đang khe khẽ ngân nga một mình; và ánh sáng trong bếp hòa lẫn vào ánh sáng từ cô, vào sắc màu, sự tươi mát và vẻ đẹp.

“Tớ có vài đĩa CD ghi cho cậu đấy!” Quay lại nhìn tôi qua vai. “Giá mà tớ mang đi. Không biết sẽ đi qua đây. Tớ sẽ nhớ bỏ bưu điện khi nào về nhà.”

“Tớ cũng có đĩa cho cậu.” Có cả một chồng to tướng trong phòng tôi, những thứ tôi mua chỉ vì chúng khiến tôi nhớ đến cô, nhiều đến mức tôi thấy nếu gửi đi sẽ kỳ lắm. “Sách nữa.” Nữ trang nữa, tôi không nói nốt. Khăn nữa, áp phích, nước hoa, đĩa than, bộ trò chơi làm diều, một ngôi chùa đổ chơi nữa. Một chiếc vòng topaz thế kỷ 18. Một cuốn Ozma xứ Oz[150] ấn bản đầu tiên. Mua những thứ đó chủ yếu là một cách nghĩ về cô, một cách ở bên cô. Một số tôi đem cho Kitsey, nhưng dù sao cũng không có cách nào mang ra khỏi phòng mớ đồ hàng đại tướng đã thực sự mua cho cô qua nhiều năm, vì trông sẽ rất xuẩn ngốc.

“Sách à? Ồ, thế thì tốt quá. Tớ đọc xong sách mang theo trên máy bay rồi, cần thứ gì đó khác. Chúng mình có thể đổi cho nhau.”

“Tất nhiên rồi.” Chân trần. Tai hồng ửng. Da trắng như ngọc trai ở mé cổ áo thun khoét tròn.

Những vành đai sao Thổ. Everett bảo có thể cậu thích. Nhân thể, anh ấy gửi lời chào.”

“Ờ phải, chào.” Tôi ghét cô cứ giả bộ như thế, như là Everett với tôi là bạn. “Tớ đang, ờ...”

“Sao?”

“Thực ra là...” Tay tôi run lên, tuy thậm chí còn chưa uống rượu. Tôi chỉ hy vọng cô không để ý. “Thực ra là tớ định chạy vào phòng một tí đã, nhé?”

Cô có vẻ giật mình, chạm đầu ngón tay lên trán: tớ ngốc quá. “Ờ phải, xin lỗi nhé! Tớ ở đây chờ.”

Tôi không thở lại nổi đến khi đã vào trong phòng đóng chặt cửa. Bộ vét của tôi thì ổn, sau ngày hôm qua, nhưng tóc rất bẩn và tôi phải tắm qua. Có nên cạo râu không? Thay áo sơ mi không? Mà cô có để ý không? Có thấy kỳ cục là tôi phải chạy vào nhà tìm cách rửa ráy để xuất hiện trước mặt cô? Tôi có cách nào chạy vào nhà tắm đánh răng mà cô không để ý? Nhưng rồi thình lình tôi lại cuống lên vì nỗi lo ngược lại, rằng tôi đang ngồi trong phòng đóng chặt cửa, phí hoài những giây phút quý giá ở gần cô.

Tôi lại đứng dậy mở cửa. “Này,” tôi hét vọng qua hành lang.

Đầu cô lại ló ra. “Gì?”

“Tối nay đi xem phim với tớ không?”

Hẫng một nhịp ngạc nhiên. “Được thôi. Phim gì thế?”

“Phim tài liệu về Glenn Gould. Đang thèm xem muốn chết.” Thực tế là tôi đã xem rồi, đã ngồi trong rạp từ đầu đến cuối mà giả bộ là cô đang ở cạnh tôi: tưởng tượng phản ứng của cô ở phần này phần khác, tưởng tượng cuộc đối thoại tuyệt vời giữa chúng tôi sau khi xem xong.

“Nghe có vẻ hay quá nhỉ. Mấy giờ thế?”

“Quãng bảy gì đấy. Để tớ xem lại.”

XXV

SUỐT CẢ NGÀY tôi như phách lạc hồn xiêu vì phấn hứng khi nghĩ về buổi tối đang chờ. Xuống nhà, trong cửa hiệu (quá bận rộn với các khách hàng dịp Giáng sinh nên không thể dành trọn vẹn suy nghĩ cho kế hoạch), tôi tính xem nên mặc gì (cái gì thân tình thôi, không mặc vét, không phải thứ nào tỉ mỉ quá) và nên đưa cô đi ăn ở đâu - không hào nhoáng quá, không khiến cô để phòng hay có vẻ quá giữ ý về phần tôi nhưng vẫn thật là đặc biệt, đặc biệt và đáng yêu và đù yên tĩnh để chúng tôi trò chuyên mà lại không quá xa rạp Film Forum - hơn nữa, cô đã rời thành phố khá lâu rồi, chắc sẽ thích đến một nơi nào mới (“À, cái góc này hả? Ừ, tuyệt lắm, rất vui là cậu thích nó, một phát hiện thật sự đấy”) nhưng ngoài tất cả những chuyện đó (và yên tĩnh là cái chính, hơn cả đồ ăn hay vị trí, tôi không muốn đến nơi nào phải hét lên mới nghe thấy nhau) thì đây cũng phải là nơi có thể đên không cần đặt trước - và lại nữa, còn vụ ăn chay của cô. Một nơi đáng yêu. Không được quá đắt đỏ để gây cảnh giác. Không thể tỏ vẻ như tôi đã bỏ ra quá nhiều cố gắng: phải toát lên vẻ tùy tiện, không chuẩn bị. Làm sao cô lại sống được với thằng Everett ngu ngơ kia? Với quần áo xấu và bộ răng thỏ và cặp mắt lúc nào cũng nhớn nhác? Với cái vẻ như khái niệm của hắn về “một buổi tối vui vẻ” là gạo đỏ ăn với rong biển mua ở quầy tận cùng cửa hàng thực dưỡng?

Cứ thế cả ngày nhích đi, rồi đã đến sáu giờ, và Hobie đã về nhà sau một ngày đi dạo với Pippa, và ông đang thò đầu vào hiệu.

“Thế đấy!” ông nói sau một quãng ngừng, bằng cái giọng vui vẻ nhưng thận trọng khiến tôi (cảnh giác) nhớ lại cái giọng mẹ vẫn dùng mỗi lần về đến nhà thấy bố đang xăng xái, trên đà một cơn hưng phấn. Hobie biết tình cảm của tôi dành cho Pippa - tôi chưa bao giờ kể với ông, chưa bao giờ hé răng một chữ, nhưng ông biết, và kể cả nếu không biết, thì việc đó cũng sờ sờ (với ông cũng như với bất kỳ người qua đường nào ngó vào) rằng tôi gần như tóe lửa trên đầu vì cô. “Tình hình thế nào?”

“Vui lắm! Bác hôm nay thế nào?”

“Ôi, tuyệt vời!” nhẹ mình. “Bác cũng lấy được bàn ở Quảng trường Thống nhất ăn trưa, hai bác cháu ngồi ở quầy bar, giá mà cháu cũng đi cùng. Rồi cả hai đi sang nhà Moira, và ba người cùng đi bộ tới Hội châu Á, và bây giờ nó đang đi mua sắm chút ít cho Giáng sinh. Nó bảo cháu, ờ, cháu có hẹn với nó tối nay hả?” Bình thường, nhưng có chút âu lo của bậc phụ huynh không biết đứa con mới lớn bất trị có thật an toàn khi lấy ô tô đi không. “Film Forum à?”

“Vâng,” tôi ấp úng nói. Tôi không muốn ông biết mình định đưa cô đi xem phim Glenn Gould, bởi ông biết tôi đã xem rồi.

“Nó bảo hai đứa đi xem phim Glenn Gould à?”

“À, vâng, cháu đang muốn xem lại quá. Đừng bảo cô ấy là cháu xem rồi nhé,” tôi buột miệng, rồi thì “Hay là bác đã, ờ...?”

“Không, không…” vội vã, tỉnh lại “bác không nói đâu.”

“À, ờ...”

Hobie xoa mũi. “Ờ, nghe này, bác biết là phim ấy chắc hay lắm. Bác cũng đang rất muốn xem. Tất nhiên không phải hôm nay,” ông vội chêm vào. “Lúc nào đó.”

“Ôi...” cố hết sức làm bộ thất vọng, nhưng diễn hỏng.

“Dù sao thì. Có muốn bác trông giúp cửa hiệu một lúc không? Nếu cháu muốn lên lầu tắm rửa sửa sang một chút? Cháu phải rời khỏi đây muộn nhất là sáu rưỡi nếu muốn đi bộ qua đằng đó, cháu biết mà.”

XXVI

TRÊN ĐƯỜNG ĐI, tôi không thể không mỉm cười và ư ử hát. Và khi rẽ qua góc đường thấy cô đang đứng trước nơi chiếu phim, tôi căng thẳng đến mức phải đứng lại trấn tĩnh một lúc rồi mới chạy ùa tới chào cô, giúp cô mang túi (cô nặng tay những món hàng mua được, liến thoắng kể về các việc trong ngày), hạnh phúc tuyệt vời, tuyệt đối được đứng trong hàng bên cô, sát bên nhau vì trời lạnh, và rồi vào trong, thảm đỏ và cả buổi tối trải dài trước mắt, cô vỗ hai tay đi găng vào nhau: “à, cậu ăn bắp rang bơ không?” “Có chứ!” (tôi chạy vụt tới quầy) “Ở đây bắp ngon lắm...” và rồi, bên nhau đi vào rạp chiếu, tôi bâng quơ chạm vào lưng cô, lưng áo nhung mềm, áo khoác nâu hoàn hảo, mũ xanh hoàn hảo, cái đầu tóc đỏ nhỏ xinh hoàn hảo, hoàn mỹ “đây này - cạnh lối đi hả? cậu thích ngồi cạnh lối đi không?” chúng tôi đã đi xem phim nhiều lần (năm lần) đủ để tôi chú ý ghi nhớ xem cô thích ngồi đâu, vả lại, tôi đã biết khá rõ sau hàng năm trời len lén dò hỏi Hobie tất cả những gì dám hỏi về sở thích của cô, những điều cô thích hay ghét, thói quen của cô, lồng câu hỏi vào điềm nhiên, mỗi lúc một câu, suốt gần một thập niên, cô có thích cái này, có thích cái kia; và giờ cô ngay cạnh, xoay sang cười với tôi, với tôi! và trong rạp có quá nhiều người vì đang là suất chiếu bảy giờ, quá nhiều khiến tôi bức bối từ chứng lo âu nói chung và nỗi ghét những nơi đông đúc, và thêm nhiều người nữa lục tục đi vào cả sau khi phim đã bắt đầu nhưng tôi chẳng quan tâm, đây có là một hố tránh bom giữa trận Somme dưới làn mưa đạn của quân Đức cũng mặc, vì tất cả những gì quan trọng là cô ở bên tôi trong bóng tối, tay cô sát cạnh tay tôi. Và tiếng nhạc! Glenn Gould ngồi trước dương cầm, tóc xổ tung, toàn thân sôi sục, đầu ngả ra sau, phái sứ từ vương quốc các thiên thần, mê đắm và hóa thân vào cái trác việt! Tôi cứ chốc chốc lại liếc sang phía cô, không đừng được; nhưng cũng phải nửa tiếng sau khi phim bắt đầu tôi mới đủ gan quay sang nhìn thẳng vào cô - khuôn mặt trông nghiêng tắm trong luồng sáng trắng từ màn chiếu - và nhận ra, trong nỗi kinh hoàng, rằng cô không thích bộ phim. Cô thấy chán. Không phải: cô thấy buồn bực.

Từ đó đến hết phim tôi ngồi khổ sở, gần như không xem được gì. Hay đúng hơn, tôi đang xem bộ phim và thấy một thứ hoàn toàn khác: không phải vị thần đồng say sưa, không phải nhà thần bí, nhà ẩn sĩ, kiên cường rời sân khấu trên đỉnh cao danh vọng để về ẩn dật trong miền tuyết phủ Canada - mà là gã bệnh tưởng, gã trốn đời, gã cô độc. Gã hoang tưởng bị hại. Gã cắn thuốc viên. Không: gã nghiện ma túy. Gã bị bệnh cuồng: lúc nào cũng đeo găng do mắc chứng sợ vi khuẩn, cả năm quấn lút khăn, cà giật và khốn khổ vì chứng ám ảnh. Gã khùng gù lưng sống về đêm, không biết cách thực hành ngay cả những mối quan hệ cơ bản với con người đến nỗi (trong một đoạn phỏng vấn mà tôi chợt thấy như tra tấn) từng hỏi một kỹ thuật viên ghi hình có thể cùng mình đến luật sư để được công nhận là anh em trước pháp luật hay không - gần giống một phiên bản bi kịch kiểu thiên tài về già của Tom Cable và tôi áp ngón cái cứa đứt vào nhau trên sân vườn đen đặc sau nhà hắn, hoặc - lạ lùng hơn nữa - Boris tóm lấy tay tôi, những khớp khuỷu tay lõa máu vì vừa đấm nó trên sân chơi, ấp lên cái miệng đầm đìa máu của chính mình.

XXVII

“PHIM LÀM CẬU BỰC MÌNH,” tôi buột ra khi chúng tôi ra khỏi rạp. “Tớ xin lỗi.”

Cô liếc nhìn tôi, như ngạc nhiên vì tôi lại nhận ra. Chúng tôi đã thoát ra trở vào một thế giới ánh sáng trong mơ thoảng sắc xanh - tuyết đầu mùa, đọng cả mười phân trên mặt đất.

“Lẽ ra mình có thể về sớm nếu cậu muốn.”

Đáp lại, cô chỉ lắc đầu có vẻ hơi ngơ ngác. Tuyết xoay tròn rơi xuống như ma thuật, như ý tưởng tinh thuần về phương Bắc, về phương Bắc tinh thuần trong bộ phim.

“Ờ, không,” cô ngập ngừng nói. “Ý tớ là, không phải tớ không thích nó... ”

Bì bạch đi trên phố. Cả hai chúng tôi đều không có giày đi tuyết. Tiếng lép bép dưới chân rất to và tôi lắng nghe, chăm chú, đợi cô nói tiếp, sẵn sàng tóm ngay lấy khuỷu tay nếu cô trượt chân, nhưng khi quay lại nhìn tôi cô chỉ nói: “Ôi trời ơi. Chúng mình sẽ chẳng bao giờ gọi xe được, phải không?”

Trí óc chạy phi mã. Còn ăn tối thì sao? Làm sao bây giờ? Cô muốn về nhà ư? Chết tiệt! “Không xa quá đâu.”

“Ôi, tớ biết, nhưng mà... ồ, có xe rồi!” Cô kêu lên - và tim tôi chùng xuống tới khi nhìn thấy, may thay, đã có người khác vẫy trước.

“Này,” tôi nói. Chúng tôi đã gần đến Phố Bedford - ánh sáng, quán cà phê. “Cậu có muốn thử rẽ vào kia không?”

“Để gọi xe ấy à?”

“Không, để kiếm chút gì ăn.” (Cô có đói không? Lạy Chúa: hay cho cô đói.) “Hay ít nhất là tí gì uống.”

XXVIII

VÌ CỚ NÀO ĐÓ - gần như vì sự sắp đặt của các thần - quán rượu trống nửa mà chúng tôi rẽ bừa vào lại ấm áp, vàng ươm, thắp nến, và hay hơn, hơn rất nhiều bất cứ cái nào trong những nhà hàng tôi đã dự tính.

Bàn bé tẹo. Đầu gối tôi sát đầu gối cô -cô có nhận ra không? Cô nhận ra rõ như tôi không? Lửa nến nở bừng trên mặt cô, ánh sáng dát màu kim lên tóc cô, tóc sáng ngời trông như chực bùng lửa. Mọi thứ đều cháy bùng, mọi thứ đều tuyệt diệu. Nhạc chơi Bob Dylan ngày xưa, quá thích hợp cho những phố trong Làng Greenwich hẹp gần ngày Giáng sinh khi tuyết đang rơi xuống thành vòng xoáy, những bông tuyết lớn nhẹ như tơ, thứ mùa đông khiến người ta những muốn dạo trên đường thành phố với một cô gái trong vòng tay như trên những bìa đĩa hát cũ - bởi Pippa chính là cô gái ấy, không phải người xinh nhất, nhưng là cô gái không điểm trang, nhan sắc có phần xoàng xĩnh mà anh đã chọn làm người đem lại cho mình hạnh phúc, và thực tế bức tranh ấy chính là lý tưởng về hạnh phúc theo cách riêng, nếp gù trên vai anh và nụ cười có phần ngượng nghịu trên môi cô, cái khung cảnh rộng mở như thể họ có thể rẽ về bất kỳ hướng nào họ muốn, bên nhau, và - cô đang trước mặt! Chính cô! Cô đang nói về mình, ấm áp và thân thuộc, hỏi tôi về Hobie cùng cửa hiệu và tinh thần tôi và dạo này tôi đọc gì hay nghe gì, hàng lô hàng lốc câu hỏi nhưng có vẻ còn nóng lòng muốn hé mở đời cô cho tôi nữa, căn hộ lạnh giá vì sưởi rất tốn tiền, ánh sáng buồn rũ và mùi ẩm mốc khó chịu, quần áo rẻ tiền mua ở trung tâm và bao nhiêu cửa hàng Mỹ ở London đến nỗi không khác gì một trung tâm thương mại, và cậu đang dùng thuốc gì còn mình đang dùng thuốc gì (cả hai chúng tôi đều mắc trầm cảm hậu sang chấn, một chứng bệnh mang những tên gọi khác ở châu Âu, có vẻ vậy, và nếu không cẩn thận có thể bị đưa đến một bệnh viện dành cho các cựu chiến binh); mảnh vườn bé tẹo của cô, chăm chung với nửa tá người, và mụ người Anh khùng đã thả vào đó một lũ rùa đau yếu mang lậu từ miền Nam nước Pháp về (“chúng nó chết hết, vì lạnh và suy dinh dưỡng - thật độc ác - mụ ta không cho ăn đàng hoàng, vụn bánh mì, cậu tưởng tượng xem, tớ mua thức ăn cho rùa ở cửa hàng thú cảnh không cho mụ biết”) và cô thèm có một con chó biết mấy, nhưng tất nhiên ở London khó vì có luật cách ly giống như ở Thụy Sĩ ấy, sao cô toàn đến sống ở những nơi không ưa chó thế nhỉ? Và ôi, trông tôi khá khẩm hơn cô từng biết từ hàng năm nay rồi, cô nhớ tôi, nhớ tôi kinh khủng đi được, thật là một buổi tối tuyệt vời - chúng tôi đã ở đây mấy giờ rồi, cười đau bụng vì những chuyện nhỏ nhít nhưng cũng rất nghiêm nghị, rất nghiêm trọng, cô vừa cởi mở vừa chăm chú (đây là một điểm đặc biệt khác của cô; cô biết nghe, khả năng chú ý của cô thật phi thường - tôi chưa bao giờ có cảm giác rằng có ai nghe tôi kỹ bằng nửa cô; trước mặt cô tôi cảm thấy như một người khác, một người tốt hơn, có thể nói với cô những chuyện không nói được với ai khác, càng không phải là Kitsey, người chuyên có lối rất rối rít châm xẹp lép những nhận định nghiêm túc bằng cách đùa, hay đổi chủ đề, hay ngắt lời, hay thỉnh thoảng vờ như không nghe thấy), và ở bên cô thật là sung sướng, tôi yêu cô từng giây từng phút, bằng cả trái tim lý trí tâm hồn và tất cả, và đêm đang về khuya và tôi mong nơi này đừng bao giờ đóng cửa, đừng bao giờ.

“Không không,” Cô đang nói, đưa ngón tay miết trên vành ly vang - hình dáng bàn tay cô khiến tôi cảm động không tả xiết, chiếc nhẫn của Welty trên ngón trỏ của cô, tôi có thể ngồi ngắm tay cô dầu không thể ngắm gương mặt cô mà không làm cô phát hãi. “Tớ thích phim ấy, thật đấy. Cả nhạc nữa…- cô cười, và tiếng cười trong tai tôi mang toàn bộ niềm vui của khúc nhạc đằng sau nó. “Khiến tớ muốn nín thở. Welty từng xem ông ấy chơi một lần, ở Carnegie. Một trong những đêm đáng nhớ nhất đời mình, bác ấy bảo thế. Chỉ là.

“Sao?” Hương rượu từ phía cô. Vết đỏ trên miệng. Đây là một trong những đêm đáng nhớ nhất đời tôi.

“À…” cô lắc đầu “mấy cảnh hòa nhạc ấy. Khung cảnh những phòng hòa nhạc ấy. Bởi vì, cậu biết đấy…” xoa cánh tay “cái đấy rất rất khó. Tập mãi, tập mãi, tập mãi - sáu tiếng một ngày - tay tớ đau nhức chỉ vì cầm cây tiêu - và, hừm, tớ chắc cậu cũng phải nghe kha khá rồi, cái trò suy nghĩ tích cực mà các giáo viên với bác sĩ vật lý trị liệu cứ ca mãi ấy - ‘ôi em làm được mà!’ ‘mọi người tin vào em!’ - rồi thì cậu cắn câu rồi luyện tập chăm rồi chăm hơn nữa rồi căm ghét mình vì luyện tập chưa đủ chăm, rồi nghĩ là lỗi của mình vì không khá hơn được rồi luyện tập còn chăm hơn nữa và rồi... ờm.”

Tôi im lặng. Tôi đã biết hết chuyện này nhờ Hobie, ông từng kể khá kỹ và vô cùng phiền não. Xem ra bác Margaret đã tính đúng hoàn toàn khi gửi cô đến cái trường rồ ở Thụy Sĩ có cả mớ bác sĩ và khóa trị liệu. Dù theo mọi tiêu chuẩn thông thường thì cô đã hồi phục hoàn toàn sau tai nạn, nhưng vẫn còn một chút thương tổn thần kinh, chỉ đủ để gây áp lực khi căng thẳng, một chút tổn hại nhẹ với kỹ năng vận động đòi hỏi sự chuẩn xác. Rất khó thấy, nhưng có thật. Với hầu hết mọi nghề nghiệp hay thú chơi nào khác - ca sĩ, làm gốm, trông sở thú, bác sĩ gì cũng được chỉ cần không phẫu thuật - nó sẽ chẳng ảnh hưởng gì. Nhưng với cô thì nó ảnh hưởng.

“Và, tớ cũng không biết nữa, ở nhà tớ nghe nhạc rất nhiều, đi ngủ cũng nghe iPod, nhưng... lần cuối cùng tớ đi nghe hòa nhạc là bao giờ?” Cô buồn rầu nói.

Ngủ cũng nghe iPod? Thế nghĩa là cô với thằng cha tên tuổi kỳ cục kia không nằm với nhau? “Thế sao cậu không đi nghe nhạc?” Tôi hỏi, cất tạm thông tin này để dùng sau. “Khán giả làm cậu khó chịu à? Sợ đám đông à?”

“Tớ biết ngay là cậu hiểu mà.”

“Ờ, tớ tin là cậu đã được nghe khuyến cái này, vì chắc chắn là tớ thì đã có...”

“Cái gì?” Sao nụ cười buồn dường này lại có thể đáng yêu nhường ấy? Có cách nào giải thích đậy? “Xanax? Thuốc ức chế beta? Thôi miên?”

“Tất cả đám đó.”

“À - nếu chỉ là một cơn hoảng sợ cấp tính, thì chắc được. Nhưng không phải thế. Nuối tiếc. Đau khổ. Ghen tị - cái đó là tệ nhất. Ý tớ là - một con bé tên Beta - tên thật ngớ ngẩn phải không? Beta? Chơi rất xoàng, tớ không muốn tỏ ra kiêu đâu, nhưng hồi nhỏ nó còn không đuổi kịp cả ban nữa, và giờ thì nó ở trong Dàn giao hưởng Cleveland rồi và tớ buồn bực quá mức về chuyện đó nhưng lại không thể kể với những người quen bình thường. Nhưng chẳng có loại thuốc nào trị được thứ đó cả, phải không?”

“Ờ...” thực ra là có, và Jerome ở trên đằng Adam Clayton Powell đang hái ra tiền nhờ thứ đó.

“Dàn nhạc - khán giả - tất cả kích thích điều gì đấy - tớ về nhà, thấy ghét tất cả mọi người, nói chuyện với mình, cãi cọ với mình bằng các giọng khác nhau, tớ ngơ ngẩn hàng tuần liền. Và... ờ, thành thực với cậu, đi dạy ấy, tớ đã thử rồi, nhưng không hợp với tớ.” Pippa thì không phải đi làm, nhờ có tiền của bác Margaret và bác Welty (Everett cũng không đi làm, cùng lý do ấy - cái trò “thủ thư âm nhạc”, tôi đã dần đoán ra, mặc dù ban đầu kể ra như là một lựa chọn nghề nghiệp khác thường, nhưng thực ra là một thứ thực tập không công thì đúng hơn, còn tiền nong Pippa trả hết). “Bọn vị thành niên - trời, tớ không muốn than về cái cảm giác tra tấn ấy đâu, khi phải nhìn chúng nó đi nhạc viện hay Mexico City mỗi mùa hè chơi trong dàn nhạc. Còn bọn trẻ nhóc hơn thì không tha thiết. Tớ ghét chúng nó chỉ vì chúng nó là trẻ con. Trước mắt tớ, cứ như là chúng nó đang coi thường quá ấy - chúng nó phí phạm những gì mình có.”

“Ừ, dạy học là một nghề khốn nạn. Nếu là tớ cũng chẳng muốn làm.”

“Ừ nhưng…” một hớp rượu “nếu tớ không chơi được thì còn gì nữa đâu? Vì là - tớ vẫn ở gần âm nhạc, kiểu đó, vì có Everett, và tớ vẫn đến trường, vẫn học thêm - nhưng thành thật là tớ chẳng thích London lắm, ở đó vừa tối vừa lắm mưa và tớ chẳng có mấy bạn bè, trong căn hộ đôi khi đêm đêm tớ còn nghe có tiếng ai đó khóc, cứ nức nở rất đáng thương ở nhà sát bên cạnh, còn tớ... tớ thấy là cậu đã tìm ra việc gì đó cậu thích làm, và tớ thật mừng, vì đôi khi tớ thực sự không hiểu mình đang làm gì với đời mình nữa.”

“Tớ...” Tuyệt vọng, tôi cố nghĩ xem nói gì mới là đúng. “Về nhà đi.”

“Nhà? Ý cậu là về đây á?”

“Tất nhiên.”

“Còn Everett thì sao?”

Tôi không biết đáp lại thế nào.

Cô trách móc nhìn tôi. “Cậu quả là chẳng ưa anh ấy phải không?”

“Ừm...” Nói dối làm gì? “Không.”

“À... nếu biết rõ anh ấy hơn, cậu sẽ ưa thôi. Anh ấy tốt lắm. Rất thư thái và lành tính - rất ổn định.”

Tôi cũng chẳng biết đáp lại thế nào. Tôi thì hoàn toàn đối ngược với tất cả những cái đó.

“Và nữa, London - ý tớ là, tớ từng nghĩ đến chuyện về New York rồi...”

“Thật à?”

“Tất nhiên. Tớ nhớ Hobie. Nhớ lắm. Bác ấy vẫn đùa là có thể thuê cho tớ một căn hộ ở đây chỉ bằng số tiền gọi điện thoại - tất nhiên bác ấy vẫn còn sống trong cái thời mà gọi điện đường dài đi London mất tới năm đô một phút gì đó. Hầu như mỗi lần gọi điện bác đều tìm cách dụ tôi về đây... à cậu biết Hobie mà, bác ấỵ chẳng nói thẳng ra đâu, nhưng ám chỉ này khác, suốt ngày kể với tớ về các cơ hội việc làm, chỗ trống ở Columbia các kiểu...”

“Thế à?”

“À - về mặt nào đó tớ không thể mường tượng nổi sao mình lại sống xa như thế. Weity là người đưa tớ đi học nhạc hay đi xem hát, nhưng Hobie mới là người luôn ở nhà, cậu hiểu không, lên tầng làm cho tớ bữa ăn nhẹ khi đi học về, giúp tớ trồng cúc vạn thọ cho lớp Sinh vật. Đến tận bây giờ - khi tớ bị cảm nặng? Khi tớ không nhớ ra phải nấu ác ti sô như thế nào, hay là cạy sáp nến trên khăn trải bàn? Tớ sẽ gọi cho ai? Bác ấy. Nhưng…” có phải tôi tưởng tượng không, có phải rượu đã làm cô hơi kích động không? “nói thật với cậu nhé? Lý do tớ không về nữa? Ở London...” có phải cô sắp khóc không? “Không phải ai tớ cũng nói đâu, nhưng ở London ít nhất không phải giây nào tớ cũng nghĩ về nó. ‘Đây là đường mình đi về nhà ngày hôm trước đó.’ ‘Đây là nơi Welty và Hobie và mình đã ăn tối lần áp chót cùng nhau.’ ít ra ở đó tớ cũng không nghĩ quá nhiều: đến đây mình có nên rẽ trái không? Hay, rẽ phải? Toàn bộ cuộc đời tớ phụ thuộc vào việc lên tàu F hay tàu số 6. Những dự cảm kinh khủng. Mọi thứ đều hóa đá. Khi quay lại đây tớ lại hóa thành mười ba tuổi - và tớ không có ý nói theo nghĩa hay đâu. Mọi thứ đều đứng lại ngày hôm đó, thật sự, cả tớ cũng dừng không lớn nữa. Vì cậu biết sao không? Tớ không cao lên được lấy một phân sau chuyện đó, không một phân.”

“Chiều cao của cậu là hoàn hảo rồi.”

“Mà, chuyện đó cũng khá phổ biến,” Cô bỏ qua lời khen vụng về của tôi. “Trẻ em bị thương hoặc bị sang chấn - rất thường không đạt đến chiều cao trọn vẹn.” Cô chuyển qua chuyển lại cái giọng bác sĩ Camenzind mà không tự biết - dù chưa bao giờ gặp bác sĩ Camenzind nhưng tôi có thể cảm thấy khi nào ông ta choán chỗ, như một cơ chế cách ly lạnh lùng. “Các nguồn lực bị phân tán. Hệ tăng trưởng ngưng hoạt. Có một cô bé ở trường tớ - công chúa Ả rập Xê út, bị bắt cóc hồi mười hai tuổi? Mấy kẻ bắt cóc bị chặt đầu rồi. Nhưng... tớ gặp cô ta hồi cô ta mười chín, dễ thương lắm, nhưng bé tí tẹo, chỉ khoảng mét rưỡi gì đó, cô ấy hoảng sợ đến nỗi không cao thêm được một phân nào sau ngày bị đám kia bắt.”

“Hử. Cái cô gái bị nhốt dưới lòng đất đấy á? Học cùng trường với cậu à?”

“Mont-Haefeli kỳ lắm. Có những đứa bị bắn trên đường chạy trốn khỏi phủ tổng thống, lại có những đứa bị đưa đến đó vì bố mẹ muốn chúng nó giảm cân hay luyện tập để đăng ký thi Thế vận hội mùa đông.”

Cô nhận lấy bàn tay tôi trong hai tay cô, không nói lời nào - vẫn trùm kín người, cô không chịu đưa áo cho người giữ cửa. Áo dài tay giữa mùa hè - lúc nào cũng quấn cả tá khăn, như một thứ côn trùng trong kén, bọc hàng lớp - những lớp bảo vệ cho một cô gái đã bị vỡ tan, rồi khâu lại, dán lại với nhau. Làm sao tôi lại mù lòa thế? Cái phim khiến cô buồn bực cũng đâu có gì lạ: Glenn Gould suốt cả năm sùm sụp áo choàng to nặng, những lọ thuốc viên ngày càng nhiều, những sân hòa nhạc bỏ vắng, tuyết rơi mỗi năm một dày thêm quanh ông.

“Vì - ý tớ là, tớ từng nghe cậu nói chuyện, tớ biết là cậu cũng bị ám ảnh như thế. Nhưng cả tớ cũng nghĩ đi nghĩ lại.” Cô phục vụ đã lặng lẽ rót thêm rượu cho cô, đầy đến tận mép cốc không cần Pippa yêu cầu, mà dường như cô cũng chẳng hề hay biết: cảm ơn gái, tôi nghĩ, cầu Chúa ban phước cho , tôi sẽ để lại tiền boa đủ khiến ngập túi. “Giá mà tớ đã đăng ký diễn thử vào thứ Ba, hay là thứ Năm. Giá mà tớ đã đồng ý cùng Welty đi bảo tàng hôm bác muốn... bác ấy đã kèo nài tớ đi xem triển lãm ấy từ mấy tuần rồi, nhất quyết muốn tớ xem trước khi nó kết thúc... Nhưng lúc nào tớ cũng có việc khác đáng làm hơn. Đáng làm hơn, như là xem tivi với bạn thân Lee Ann của tớ, chẳng hạn. Cái kẻ đã mất tích luôn sau vụ tai nạn của tớ - không bao giờ gặp nó lần nữa sau cái buổi chiều xem bộ phim Pixar ngu ngốc ấy. Cả một lô một lốc những dấu hiệu tí xíu mà tớ đã bỏ qua, hay không hoàn toàn nhận ra - mọi thứ đã có thể khác hẳn nếu chỉ cần tớ chú ý - như là, Welty đã nằng nặc đòi tớ đi xem trước đấy, phải đến cả tá lần, cứ như là bác ấy cảm nhận được ấy, sẽ có việc gì không hay xảy ra, bác cháu tớ ở đó hôm ấy hoàn toàn là lỗi của tớ... ”

“Ít nhất thì cũng không phải do cậu bị đuổi khỏi trường.”

“Cậu bị đuổi à?”

“Bị đình chỉ học. Thế là tệ lắm rồi.”

“Nghĩ lại thật kỳ - nếu chuyện đó không xảy ra. Nếu cả hai chúng mình đều không ở đó ngày hôm ấy. Có thể chúng mình còn không quen nhau. Cậu nghĩ nếu vậy bây giờ cậu đang làm gì?”

“Tớ không biết,” tôi hơi giật mình đáp. “Tớ chịu không nghĩ được.” “Ừ, nhưng cũng phải hình dung láng máng chứ.”

“Tớ có phải như cậu đâu. Không có tài năng nào hết.”

“Thế cậu giải trí bằng gì?”

Cũng chẳng có gì lạ. Những thứ bình thường thôi. Chơi máy tính, đọc sách giả tưởng. Khi người khác hỏi tớ muốn làm nghề gì thì tớ toàn khua môi múa mép, bảo là tớ muốn đi săn người máy như trong Tội phạm người máy[151]

“Ôi trời, tớ thật đến ám ảnh với cái phim ấy. Tớ cứ nghĩ mãi về cháu gái của Tyrell.”

“Cậu nói vậy là sao?”

“Cái cảnh cô ấy nhìn mấy cái ảnh xếp trên đàn dương cầm ấy. Lúc cô ấy cố đoán xem ký ức của mình là của mình hay của cháu gái Tyrell. Tớ cũng quay lại quá khứ, chỉ có điều là để tìm các dấu hiệu, cậu hiểu không? Những thứ lẽ ra tớ phải bắt lấy, nhưng để lỡ mất?”

“Thế này, cậu nói đúng đấy, tớ cũng nghĩ vậy, nhưng mà - điềm triệu, dấu hiệu với những dự báo một phần kiểu thế, không có cách hợp lý nào có thể khiến cậu…” tại làm sao mà ở bên cô tôi không thốt ra nổi lấy một câu trọn vẹn? “... thôi thì tớ cứ hỏi là cậu có biết câu đó điên khùng thế nào không? Nhất là khi nghe người khác nói? Đi trách cứ chính mình vì không dự đoán được tương lai?”

“À... có thể, nhưng bác sĩ Camenzind bảo con người ai cũng vậy. Tai nạn hay thảm họa - khoảng ba phần tư các nạn nhân thảm họa đều tin chắc rằng có những dấu hiệu báo trước mà họ đã gạt đi và không hiểu đúng, và ở độ tuổi dưới mười tám tỷ lệ còn cao hơn nữa. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa là không có các dấu hiệu ấy, phải không?”

“Tớ không nghĩ là như vậy đâu. Từ tương lai nhìn lại, thì đúng vậy. Nhưng tớ nghĩ đúng hơn là như một cột số liệu, mình tính nhẩm hai số lúc bắt đầu khiến cả tổng số bị sai luôn, Nếu lần ngược lại, thì mình có thể thấy chỗ sai - là chỗ đáng ra phải dẫn đến kết quả khác.”

“Ừ, nhưng vậy cũng đáng ghét không kém, phải không? Nhìn thấy chỗ sai, nhìn thấy điểm bắt đầu bị trệch đi, nhưng lại không thể nào đi ngược về sửa được? Buổi diễn thử của tớ... ” uống một ngụm rượu lớn “dàn nhạc dự bị đại học ở Juilliard, thầy xướng âm đã bảo tớ chắc sẽ được ghế phụ nhưng nếu chơi thật tốt, tớ còn có cơ may lên ghế chính. Và tớ nghĩ đấy là một chuyện lớn, khá lớn. Nhưng Welty…” đúng, quả thế, nước mắt, đôi mắt lóng lánh trong ánh lửa “tớ biết là kỳ kèo đòi bác lên nửa bắc với tớ là sai, chẳng có tí lý do nào bác phải đến cả - Welty đã chiều tớ khủng khiếp kể từ hồi mẹ còn sống, nhưng sau khi mẹ mất bác ấy còn chiều chuộng tớ hơn nữa, và hôm đó là một ngày quan trọng của tớ, tất nhiên rồi, nhưng có quan trọng đến mức như tớ làm toáng lên không? Không hề. Bởi vì...” giờ thì cô đang khóc rồi, khe khẽ, “tớ còn chẳng muốn đến bảo tàng, tớ chỉ muốn bác đi với tớ vì biết sẽ được bác đưa đi ăn trưa trước buổi diễn, ở đâu cũng được - đáng ra hôm đó bác đã ở nhà, bác còn bao nhiêu việc khác, mà họ có cho gia đình ngồi xem đâu, đằng nào bác cũng sẽ phải đợi trong hành lang...”

“Ông biết mình đang làm gì mà.”

Cô ngước lên nhìn như thể tôi đã nói đúng điểu không nên nói; chỉ có điều tôi biết đấy chính là điều nên nói, chỉ cần tôi chọn được đúng cách nói.

“Suốt thời gian tớ ở bên ông, ông chỉ toàn nói về cậu. Và.

“Và sao?”

“Không sao!” Tôi nhắm mắt, lảo đảo vì rượu, vì cô, vì không có cách nào nói được ra. “Chỉ là vì... giây phút cuối ông còn tại thế, cậu hiểu không? Và giữa cuộc sống của tớ, với ông, khoảng cách vô cùng, vô cùng ngắn. Không hề có khoảng cách. Như thể là có gì đó mở ra giữa đôi bên. Như là một luồng chớp chói lòa cho thấy cái gì mới là thật - mới quan trọng, Không có tớ, cũng không có ông. Cả hai là một người. Cùng chung ý nghĩ - không cần phải nói nữa. Chỉ có vài phút thôi nhưng cũng không khác gì hằng năm, cứ như là chúng tớ vẫn đang ở đấy. Và, ờ thì, tớ biết là nghe rất dị…- đúng hơn là một so sánh hoàn toàn điên khùng, tâm thần, bại não, nhưng tôi không nghĩ ra cách nào khác để dẫn tới điều tôi muốn nói -“nhưng cậu có biết Barbara Guibbory, cái bà hay giảng trên Rhinebeck, về chuyện kiếp trước hồi chuyển ấy không? Đầu thai rồi duyên phận rồi đủ thứ như thế? Các linh hồn đã ở bên nhau suốt kiếp này qua kiếp khác? Tớ biết, tớ biết” tôi nói trước vẻ mặt ngỡ ngàng (và hơi hoảng hốt) của cô - “mỗi lần nhìn thấy Barbara bà ta sẽ bảo tớ phải tụng Um hoặc Rum hoặc cái khỉ gì đó để hàn gắn - ờ - các luân xa bị nút lại - ‘suy giảm luân xa gốc’, nói thật không đùa, bà ta chẩn bệnh cho tớ như thế đấy - ‘trốc rễ… ‘tim thu hẹp...’ ‘trường năng lượng rạn nứt...’ tớ đang đứng đấy uống cocktail một mình thì bà ta lướt đến bên cạnh kể tên cả loạt thức ăn tớ cần nạp vào người để mọc rễ trở lại...” tôi đang khiến cô chán, có thể thấy “xin lỗi, tớ đi lạc đề chút, chỉ là, ờm, chúng tớ đang nói mấy chuyện đó khiến tớ phát bực cả lên. Cả Hobie cũng đứng đó uống một vại scotch to bự và bác hỏi, ‘Còn tôi thì sao hả Barbara? Tôi có nên ăn thứ rễ củ nào đấy không? Hay là đứng lộn đầu xuống đất?’ còn bà ta thì vỗ lên tay bác bảo rằng, ‘ôi, không phải lo đâu James, ông là một Chân Nhân.”’

Câu đó cũng khiến cô bật cười.

“Nhưng mà Welty - ông đúng là thế đấy. Một Chân Nhân. Ý tớ là - thật đấy. Không đùa đâu. Khác hẳn quần chúng xoàng xĩnh. Những chuyện mà Barbara kể ấy - đại sư A B C nào đấy đặt tay lên đầu bà ta ở Miến Điện và trong phút ấy bà hứng trọn tri thức ở đâu đấy trở thành một con người khác hẳn.

“Ờ, tớ định bảo là, Everett ấy - dĩ nhiên anh ấy chưa bao giờ gặp Krishnamurti nhưng...”

“Ừ, được rồi.” Everett - sao lại khiến tôi bực mình đến mức đó thì tôi cũng không biết nữa - đã đi học một cái trường nội trú kiểu tu tập gì đó ở miền Nam nước Anh, với những môn học kiểu như Chăm Lo Cho Trái Đất và Nghĩ Về Tha Nhân. “Nhưng tớ muốn nói là - cứ như là năng lượng của Welty, hay là trường lực gì đấy - Chúa ơi, nghe thật rồ, nhưng tớ cũng không biết phải gọi là gì nữa - nó đã ở trong tớ từ lúc đó trở đi. Tớ ở bên ông và ông ở bên tớ. Đấy là một điều vĩnh cửu.” Tôi chưa bao giờ nói thành tiếng điều này, với bất kỳ ai, tuy đấy là một điều tôi cảm thấy rất sâu sắc. “Như là -tớ nghĩ về ông, ông ở đây, nhân cách của ông ở trong tớ. Ý tớ là – hầu như ngay từ giây đầu tiên về đây sống với Hobie, tớ đã lên trên cửa hiệu - nó hút lấy tớ - đấy là một việc rất bản năng, tớ không giải thích nổi. Vì - tớ có quan tâm đến đồ cổ không? Không hề. Làm sao mà thế được? Thế mà tớ lại ở đó. Lục tìm trong danh sách đồ của ông. Đọc những ghi chú bên lề ca-ta-lô đấu giá. Lời lẽ của ông, đồ vật của ông. Mọi thứ ở trên đó - nó hút lấy tớ như lửa hút mối. Thậm chí còn chẳng phải tớ đi tìm nó nữa - đúng hơn là nó đi tìm tớ. Và, tớ muốn nói, từ trước khi tớ lên mười tám, chẳng ai dạy cho tớ, như là tớ biết sẵn rồi, tớ lên đó một mình làm thay việc của Welty. Như là…- tôi bắt tréo chân bức bối - “cậu có bao giờ nghĩ thật kỳ quái là ông lại đẩy tớ đến nhà cậu không? Do tình cờ - có thể. Nhưng tớ không có cảm giác đấy là một sự tình cờ. Mà như là ông thấy tớ là ai, và phái tớ đến chính nơi cần đến, bên những người tớ cần ở bên. Thế nên, ờ...”- hơi tỉnh lại, tôi đang nói liến thoắng - “Ờ. Xin lỗi. Không định ca một bài dài như thế.”

“Không sao.”

Im lặng. Mắt cô nhìn mắt tôi. Nhưng khác với Kitsey - người lúc nào cũng để một nửa tâm trí ở nơi khác, người ghét chuyện trò nghiêm túc, người đến một thời điểm thế này sẽ quay tìm phục vụ hoặc thốt ra bất cứ câu ngớ ngẩn và/hoặc khôi hài nào cô nghĩ ra để câu chuyện khỏi trở nên nghiêm trọng quá - cô đang nghe, cô đang toàn tâm toàn ý bên tôi, và tôi thấy quá rõ rằng cô thương cảm cho tình trạng của tôi, nỗi thương cảm chỉ càng thêm nặng vì cô ưa tôi thực sự: chúng tôi có rất nhiều điểm chung, một mối dây liên hệ về tâm lý và cũng về cảm xúc, cô thích ở bên tôi, tin cậy tôi, mong điều tốt cho tôi, mong, trên hết, được làm bạn tôi, và cho dù một vài người đàn bà khác chắc sẽ tự đắc và khoái chí thấy tôi sầu não dường này, nhưng với cố chẳng có gì thú vị khi thấy tôi nát lòng nát dạ vì cô.

XXIX

HÔM SAU - tức là ngày lễ đính hôn - cảm giác gần gũi của đêm hôm trước đã mất sạch, chỉ còn để lại (trong bữa sáng, trong những lời chào vội trên hành lang) nỗi ẩn ức vì biết mình sẽ không bao giờ được ở một mình với cô nữa; chúng tôi ngượng ngùng trước mặt nhau, đi đi đến đến cứ đụng phải nhau, nói chuyện hơi to tiếng quá, hơi vồn vã quá, tất cả với tôi dường như (thật buồn) giống như chuyến thăm của cô mùa hè trước, bốn tháng trước khi cô dắt về nhà gã “Everett”, và câu chuyên tha thiết chân tình giữa chúng tôi ngoài bậc thềm, chỉ hai người với nhau, khi trời trở tối: nép sát vào nhau (“như hai lão già lang thang”), đầu gối tôi sát đầu gối cô, cánh tay tôi chạm vào tay cô, cả hai cùng nhìn người qua lại trên phố và nói đủ mọi chuyện: thời thơ ấu, những buổi đi chơi ở Công viên Trung tâm, trượt băng ở sân Woilman (liệu chúng tôi từng thấy nhau hồi xưa ấy? Lướt qua nhau trên sân trượt?), về Góa phụ trẻ[152] vừa xem trên tivi với Hobie, hay Marilyn Monroe mà chúng tôi cùng thích (“một nàng ma mùa xuân”), về Montgomery Clift tội nghiệp, tàn lụi, đi khắp nơi mang theo một nắm thuốc viên trong túi (điều này tôi chưa từng biết, và không bình luận gì), về cái chết của Clark Gable và nỗi ăn năn khủng khiếp của Marilyn, cảm giác của cô cho trách nhiệm thuộc về mình - và không hiểu sao, rất lạ, câu chuyện chuyển sang nói về số mệnh, về hắc thuật, và bói toán: ngày sinh có liên quan gì đến vận may hay bất hạnh không? Những giao hội tối, những sao ở vị trí không thuận lợi? Chỉ tay của chúng tôi nói lên gì? Cậu đi xem tay bao giờ chưa? Chưa - cậu thì sao? Có lẽ bây giờ chúng mình nên đi ra cửa hiệu Tâm Linh Chữa Bệnh trên Đại lộ 6 đặt đèn màu tím với cầu thủy tinh ấy, hình như nó mở cửa suốt đêm - à cậu nói cái chỗ thắp đèn lava có bà già di-gan điên đứng ợ hơi trước cửa hả? Nói chuyện đến lúc tối mịt không còn nhìn thấy nhau nữa, thầm thì dù không việc gì phải thầm thì: cậu muốn vào chưa? Chưa, chốc nữa, và mặt trăng mùa đông tròn mẫm tỏa ánh sáng trắng trinh tuyền trên đầu, và tình yêu dành cho cô cũng trinh tuyền như thế, giản đơn và vững bền như trăng. Nhưng rồi chúng tôi cũng phải đi vào và gần như ngay lập tức phép thần đã tan, trong ánh sáng chói nơi hành lang chúng tôi cư xử với nhau rất ngượng nghịu gượng gạo, gần giống như khi đèn trong rạp bật sáng lên cuối vở kịch, và sự gần gũi giữa hai bên bị phơi bày mặt thực: chỉ là giả vờ mà thôi. Hàng tháng trời tôi khao khát muốn lặp lại giây phút ấy, và - trong quán bar lúc nãy, suốt một hai giờ đồng hồ - đã có được. Nhưng giờ tất cả lại thành ảo vọng, chúng tôi đã bị trả về nơi xuất phát, và tôi phải tự nhủ rằng thế là đủ rồi, có cô trọn vẹn cho mình trong vài tiếng là đủ. Nhưng không.

XXX

ANNE DE LARMESSIN - mẹ đỡ đầu của Kitsey - là người tổ chức buổi tiệc của chúng tôi ở một câu lạc bộ tư mà ngay cả Hobie cũng chưa từng đặt chân đến, dù thuộc lòng lý lịch nó: lịch sử của nó (cực khả kính), các kiến trúc sư xây nên nó (hết sức đáng trọng), và các thành viên của nó (siêu phàm, đủ bộ từ Aaron Burr tới nhà Wharton). “Được coi là một trong những nội thất kiểu Phục hưng Hy Lạp thời kỳ đầu đẹp nhất bang New York,” ông đã hớn hở chân thành cho chúng tôi biết. “Cầu thang à - khung lò sưởi à - bác không biết liệu mình có được cho vào phòng đọc không? Các mẫu thạch cao quả thật độc đáo, bác được cho biết như thế, cực kỳ đáng xem.”

“Ở đó sẽ có bao nhiêu người?” Pippa hỏi. Cô vừa phải đi ra tận Morgane Le Fay mua đầm vì không chuẩn bị đồ cho buổi tiệc.

“Vài trăm.” Trong số đó, có lẽ khoảng mười lăm khách (kể cả Pippa và Hobie, ông Bracegirdle và bà DeFrees) là do tôi mời, một trăm người là khách của Kitsey, số còn lại ngay cả Kitsey cũng bảo là không biết.

“Bao gồm,” Hobie nói, “ngài thị trưởng. Và cả hai thượng nghị sĩ bang. Và Albert Thân vương Monaco, có phải không nhỉ?”

“Họ đã mời Thân vương Albert. Cháu thực tình không tin là ông ta sẽ đến.”

“Ồ, hóa ra chỉ là một dịp thân mật. Dành riêng cho gia đình thôi.

Nào, cháu chỉ có mỗi một việc là đến đó làm đúng những gì người ta yêu cầu.” Chính Anne de Larmessin đã chiếm quyền tổng chỉ huy đám cưới giữa cơn “khủng hoảng” (bà ta bảo vậy) là sự thờ ơ tuyệt đối của bà Barbour. Chính Anne de Larmessin đã kỳ kèo lấy được nhà thờ thích hợp, ông mục sư thích hợp; chính Anne de Larmessin đã lên danh sách khách mời (lóa mắt) và biểu đồ chỗ ngồi (rắc rối khó tả), và, có vẻ, sẽ là người rốt cuộc có tiếng nói cuối cùng về mọi thứ từ cái đệm để nhẫn cho tới bánh ga tô. Chính Anne de Larmessin đã túm được đúng nhà thiết kế cần thiết để lên bộ váy, và đã mời chào điền trang của bà ta ở St. Barth để chúng tôi về trăng mật, và là người Kitsey gọi đến khi có bất kỳ vấn đề nào nảy sinh (và rất nhiều vấn đề đã nảy sinh, mỗi ngày vài lần), là người (theo bình phẩm của Toddy) đã oai vệ thượng lên ngai Nguyên Soái Lễ Cưới. Điều khiến chuyện này càng trở nên khôi hài và quái gở là, Anne de Larmessin vẫn cực kỳ khó ở trước tôi đến nỗi hầu như không nhìn tôi được. Tôi thật một trời một vực so với đám mà bà đã nhắm cho cô con đỡ đầu. Ngay cả tên tôi cũng có vẻ quá thô tục không đáng thốt ra. “Thế chú rể nghĩ gì?” “Chẳng hay chú rể đã sắp cho tôi được danh sách khách mời hay chưa?” Hẳn nhiên, lấy một người như tôi (một kẻ buôn đồ nội thất!) là một số phận cũng ngang ngửa như chết rồi; vì thế mà nghi thức phải xa hoa và hào nhoáng đến vậy, lễ lạt có vẻ nghiêm trang đến vậy, như thể Kitsey là một nàng công chúa xứ Ur bạc phận cần phải phục sức trang hoàng sang trọng, rồi - có một đoàn ca công thị nữ đi theo - được đưa rước tưng bừng xuống Địa phủ.

XXXI

BỞI KHÔNG THẤY CÓ LÝ DO GÌ cần giữ đầu óc sắc sảo trong buổi tiệc, tôi đã đảm bảo cho mình được say mềm đến nơi đến chốn trước khi đi, một viên oxy nhét vào túi bộ Turnbull và Asser bảnh nhất phòng trường hợp khẩn cấp.

Câu lạc bộ đẹp đến mức tôi căm thù đám khách kín đặc, chỉ tổ khó theo dõi những chi tiết kiến trúc, những bức chân dung treo san sát nhau - nhiều bức cực kỳ tinh xảo - và những sách hiếm trên kệ. Màn rủ nhung đỏ, những vòng nhựa thơm Giáng sinh - trên cây kia là nến thật ư? Tôi đứng váng mắt trên đầu cầu thang, không muốn chào cũng không muốn nói chuyện với ai cả, hoàn toàn không muốn ở đây...

Bàn tay trên ống tay áo tôi. “Sao thế?” Pippa hỏi.

“Sao gì?” Tôi không dám nhìn vào mắt cô nữa.

“Trông cậu buồn thế.”

“Đúng thế mà,” tôi đáp, nhưng không biết cô có nghe thấy không, tôi gần như không nghe thấy mình nói nữa, vì đúng giây phút ấy thì Hobie - cảm thấy chúng tôi tụt lại đằng sau - đã lộn lại tìm giữa đám người và hét lên: “À, hóa ra cháu đó…”

“Đi, ra chào khách khứa đi,” Ông hiền từ và oai vệ thúc tôi, “ai cũng hỏi cháu đâu!” giữa đám người lạ, ông và Pippa thuộc về số rất ít ỏi những người thực sự nổi bật hay có vẻ thú vị: cô như một nàng tiên trong bộ áo màu xanh như bóng mây với ống tay vải tơ, ông trang nhã và khả ái trong chiếc máng tô hai hàng cúc màu lam tím, đi đôi giày cũ tuyệt đẹp của Peal &Co.

“Cháu...” Tôi tuyệt vọng ngó quanh.

“Không phải lo cho bọn bác đâu. Chúng ta sẽ gặp nhau sau.”

“Phải,” Tôi nói và gồng mình tiến lên. Nhưng - để yên cho họ ngắm một bức chân dung tổng thống John Adams gần quầy giữ áo, chờ bà DePrees xong việc với cái áo lông chồn - tôi luồn lách qua những căn phòng chật chội mà chẳng thấy gương mặt nào quen thuộc trừ bà Barbour, một người tôi thực lòng không đủ dũng khí đối mặt, chỉ có điều bà nhìn thấy trước khi tôi kịp lánh đi và túm lấy tay áo tôi. Bà đứng lùi trong một ô cửa với cốc gin pha chanh, đang tiếp chuyện một ông già quý phái hoạt bát, nom rầu rĩ, có khuôn mặt đỏ trông hơi hắc cùng giọng nói đanh và mỗi bên tai một túm tóc bạc.

“Ồ, Medora à,” ông ta đang nói và đu đưa trên gót chân. “Vẫn là một niềm vui thú bất tuyệt. Một bà già dễ mến. Hiếm có, độc đáo. Gần chín chục rồi! Gia đình bà ta, tất nhiên, thuộc dòng Knickerbocker thuần khiết như bà ấy lúc nào cũng phải nhắc nhở ta - ôi, bà phải thấy bà ấy mới được, lúc nào cũng đầy sinh khí với những người hầu cận…- đến đây ông tự cho phép mình bật cười nhỏ - “thật là kinh khủng, bà thân mến ạ, nhưng buồn cười quá đỗi, hoặc ít ra tôi cũng nghĩ bà sẽ thấy buồn cười - giờ thì họ không thể thuê người hầu da màu, đúng là từ đó phải không, bây giờ ấy? da màu bởi Medora quá thường xuyên trở lại với, ta nên nói thế nào nhỉ, thứ đặc ngữ tuổi thanh xuân . Nhất là khi họ cố tìm cách giữ bà lại hay đưa bà vào bồn tắm. Chiến đấu hăng ra phết khi nào vào tâm trạng, tôi nghe kể vậy! Từng đuổi theo một trong mấy hộ lý người gốc Phi ấy, vác theo que cời bếp lò. Ha ha ha! Ờ... bà biết đấy... ‘nếu không nhờ ân điển Thiên Chúa[153]’. Bà ấy thuộc về cái thế hệ mà tôi nghĩ có thể gọi là Cabin in the sky[154], Medora ấy. Còn ông cụ bà thì quả là có một dinh cơ ở Virginia - hạt Goochland, phải không nhỉ? Một cuộc hôn nhân vị lợi điển hình tôi từng chứng kiến. Tuy nhiên ông con trai - bà gặp ông con trai rồi, phải không nhỉ? - thì quả đáng thất vọng, phải không? Rượu chè ấy. Còn bà con gái nữa. Đúng là thất bại về mặt giao tế. Đấy là nói tế nhị rồi đấy. Hơi bị quá cân. Sưu tập mèo, nếu bà hiểu ý tôi. Lại nói đến em trai Medora, là Owen - Owen là một ông già đáng yêu vô kể, chết vì đau tim trong phòng thay đồ câu lạc bộ Athletic... đang hưởng một giây phút thân mật trong phòng thay đồ câu lạc bộ nếu bà hiểu ý tôi... Owen, ông dễ thương lắm, nhưng lúc nào cũng là một linh hồn lầm lạc, giã từ cuộc đời mà chưa tìm được mình là ai, tôi thấy vậy.”

“Theo,” bà Barbour nói và thình lình chìa tay ra đúng lúc tôi định lẻn đi, như một người mắc kẹt trong ô tô cháy trong phút cuối cố chộp lấy nhân viên cứu nạn. “Theo, bác muốn giới thiệu cháu với Havistock Irving.”

Havistock Irving quay lại găm vào tôi một tia nhìn chăm chú - và tôi thấy không hẳn là đầm ấm. “Theodore Decker.”

“Tôi e rằng vậy,” tôi giật mình đáp.

“Hiểu rồi.” Tôi càng lúc càng không ưa ánh mắt ông ta. “Anh ngạc nhiên vì tôi biết anh. À, như anh thấy, tôi biết vị cộng sự đáng kính của anh, ông Hobart. Và vị cộng sự đáng kính của ông ấy trước anh là ông Blackwell.”

“Thế ư,” tôi đáp, quyết chí vô cảm; trong ngành buôn đồ cổ tôi đã hằng ngày phải đối diện đám quý tộc già ưa rào đón thuộc giống này, và bà Barbour không những không buông tay tôi mà còn siết chặt hơn.

“Hậu duệ dòng đích của Washington Irving, Havistock ấy,” bà chêm vào giúp đỡ. “Đang viết tiểu sử ngài.”

“Thú vị thật.”

"Phải, khá thú vị,” Havistock lạnh nhạt đáp. “Dù trong giới nghiên cứu hiện đại Washington Irving đã phần nào bớt được ưa chuộng rồi. Bị đẩy ra ngoại vi,” ông ta nói, khoái chí đã tìm ra được từ. “Không phải một giọng điệu Mỹ, đám học giả bảo vậy. Hơi quá chủ nghĩa thế giới - quá châu Âu. Một điều tất nhiên thôi, tôi đoán thế, vì Irving học nghể chủ yếu từ Addison và Steele. Dù sao thì, vị tổ tiên cao quý của tôi hẳn sẽ tán thành những công việc hằng ngày của tôi.”

“Là...?”

“Làm việc trong thư viện, đọc báo cũ, nghiên cứu tài liệu của các cơ quan công quyền xưa.”

“Sao lại phải tài liệu của cơ quan công quyền?”

Ông ta phẩy tay uốn éo. “Vì tôi quan tâm đến chúng. Và một đối tác thân thiết của tôi còn quan tâm hơn nữa, và thỉnh thoảng ông ấy khai quật được rất nhiều thông tin thú vị trong quá trình nghiên cứu... tối nghĩ hẳn là hai người có quen biết nhau?”

“Người đó là?”

“Lucius Reeve?”

Trong khoảng im lặng tiếp sau đó, tiếng láo nháo của đám đông và tiếng lanh canh chạm cốc trào lên ầm ĩ, như thể vừa có một luồng gió quét qua phòng.

“Phải. Lucius.” Nhướng mày thích thú. Đôi môi dày dẩu ra. “Chính thế. Tôi biết là tên ông ấy cũng không lạ lẫm bên tai anh. Anh đã bán cho ông ta một cái tủ hai tầng độc đáo hết sức, như anh hẳn còn nhớ.”

“Đúng thế. Và tôi sẵn lòng mua lại nếu ông ấy chịu thuận ý.”

“À, tất nhiên rồi. Chỉ có điều ông ấy không muốn thế, giống như, giống như,” ông ta nói, suỵt, tôi rất ác ý, “giống như tôi cũng vậy. Trong khi còn có món kia bên cạnh, thú vị hơn rất nhiều.”

“Chà, tôi e rằng ông ấy phải quên món đó đi thôi,” tôi vui vẻ đáp. Giật mình khi nghe tên Reeve mới đây hoàn toàn là một phản xạ vô thức, như nhảy lên khi gặp phải dây cáp hoặc sợi thừng nằm cuộn tròn trên sàn.

“Quên à?” Havistock tự cho phép mình lên tiếng cười. “À, tôi không nghĩ rằng ông ấy sẽ quên đâu.”

Tôi cũng mỉm cười đáp trả. Nhưng Havistock trông chỉ càng cao ngạo thêm.

“Thật đáng phải ngạc nhiên, thời buổi này người ta có thể tìm ra trên mạng những gì,” ông ta nói.

“Thế à?”

“À, anh biết đấy, Lucius gần đây đã khám phá ra thêm thông tin về một vài món rất kỳ thú mà anh đã bán nữa. Thực tế là tôi không nghĩ người mua biết chúng kỳ thú đến mức nào đâu. Mười hai chiếc ghế ăn ‘Duncan Phyfe’ đi Dallas à?” ông ta nói và nhấp sâm-panh. “Món ‘Sheraton cực kỳ quan trọng’ cho người mua ở Houston? Và bao nhiêu thứ cùng loại đó đi Los Angeles nữa?”

Tôi cố giữ không đổi nét mặt.

“ ‘Những món hàng chất lượng bảo tàng. Tất nhiên…- kéo cả bà Barbour vào câu chuyện - “chúng ta đều biết, phải không, rằng ‘chất lượng’ ấy còn tùy thuộc xem anh nói đến loại ‘bảo tàng’ nào. Ha ha! Nhưng Lucius quả đã rất thành công khi theo dõi mấy thương vụ táo bạo hơn của anh gần đây. Và chừng nào kỳ nghỉ lễ qua đi, ông đang tính sẽ làm một chuyến thăm Texas để... A!” ông ta nói và quay khỏi tôi bằng một bước khiêu vũ lẹ chân khi Kitsey, mặc bộ váy xa tanh xanh như nước đá, ào tới chào chúng tôi. “Quả là một món trang sức xinh đẹp đáng hoan nghênh! Trông cháu dễ thương lắm, cháu yêu ạ,” ông ta nói và ghé tới hôn cô. “Bác đang nói chuyện với anh chồng tương lai cực kỳ quyến rũ của cháu. Thật kinh ngạc làm sao khi biết cả hai có những bạn chung nào!”

“Ồ?” Phải đến khi cô thực tình quay lại nhìn tôi - đối diện hẳn với tôi, hôn phớt lên má - thì tôi mới nhận ra Kitsey không hề tin chắc rằng tôi sẽ đến đây. Vẻ nhẹ người khi cô nhìn thấy tôi thật quá rõ rệt.

“Vậy là bác đang kể với Theo cùng mẹ cháu đủ những vụ bê bối mới chăng?” cô nói và trở lại với Havistock.

“Ôi Kitty, cháu đúng tai quái.” Thân mật, ông ta luồn tay qua khuỷu tay cô, tay kia đưa sang vỗ nhẹ lên bàn tay cô: một con quỷ loắt choắt với ngoại hình Thanh giáo, gầy gò, linh hoạt, thân tình. “Nào, cháu yêu, bác thấy là cháu đang cần uống gì đó, bác cũng vậy. Bác cháu ta hãy bỏ đi riêng xem nào” - lại liếc nhanh về phía tôi - “tìm một chốn vắng vẻ dễ chịu để chúng mình bàn tán thật dài, thật lâu về anh chồng cháu.”

XXXII

“CẢM ƠN CHÚA LÀ ÔNG TA ĐI RỒI,” bà Barbour thầm thì khi họ đã đi lại bàn rượu. “Chuyên tán nhảm khiến bác mệt đầu ghê gớm.”

“Con cũng vậy.” Mồ hôi tôi đang vã như tắm. Làm sao ông ta biết được? Tất cả những món vừa kể tên tôi đã dùng cùng một hãng chuyên chở. Kể cả vậy - tôi đang thèm một hớp rượu đến chết - làm sao ông ta biết?

Tôi nhận ra bà Barbour vừa nói gì. “Xin lỗi ạ?”

“Bác nói là, thế có kỳ lạ không? Bác thấy sửng sốt trước đám người đông đúc này.” Bà ăn mặc rất giản dị - váy đen, giày cao gót đen, một chiếc trâm bông tuyết tuyệt diệu - nhưng màu đen không hợp với bà Barbour, chỉ tạo cho bà vẻ lánh đời, ốm yếu và tang tóc. “Bác có phải tham dự vào câu chuyện không? Bác nghĩ là có. Ôi trời ơi, kia, chồng của Anne đấy, một kẻ buồn chán kinh khủng. Nếu bảo rằng bác chỉ ước được ở nhà thì có quá đáng lắm không?”

“Người lúc nãy là ai thế?” Tôi hỏi.

“Havistock ư?” Bà vuốt tay qua trán. “Bác mừng là ông ta cứ khăng khăng nói tên mình như vậy, nếu không bác sẽ khó khăn lắm mới giới thiệu con được.”

“Con đã tưởng đấy là một người bạn thân của bác.”

Bà chớp mắt không vui, dáng vẻ lúng túng khiến tôi chợt áy náy vì đã dùng giọng đó với bà.

“Chà,” bà dứt khoát nói. “Ông ta rất thân tình. Nghĩa là, ông ta có thói cư xử kiểu rất thân tình. Ông ta làm vậy với tất cả mọi người.”

“Làm sao mà bác lại biết ông ta?”

“Ô - Havistock làm tình nguyện ở Hội Sử học New York. Biết mọi thứ, quen mọi người. Dù nói riêng với nhau nhé, bác không nghĩ ông ta là con cháu gì của Washington Irving đâu.”

“Không ư?”

“Hừm - ông ta quả thật rất dễ thương. Nghĩa là, ông ta quen tất tật mọi người - kêu rằng có họ hàng với nhà Astor nữa ngoài Washington Irving, mà ai bảo rằng không phải cho được? Một số người trong giới đã để ý thấy một điều thú vị, là rất nhiều họ hàng mà ông ta nhắc tới đều chết rồi. Tuy thế, Havistock cũng rất dễ mến, hoặc thể tỏ ra như thế. Rất rất chịu khó đi thăm các bà già - ờ, con vừa nghe thấy ông ta kể đấy. Cả một kho thông tin đích thực về lịch sử New York - ngày tháng, tên tuổi, dòng tộc. Trước khi con đến ông ta đang thuật lại cho bác lịch sử từng ngôi nhà một trên phố này - từng vụ bê bối một trong đó - vụ sát nhân giữa đám thượng lưu ở ngôi nhà bên cạnh, từ thập niên 1870 - ông ta biết mọi thứ. Tuy thế, trong một bữa trưa mấy tháng trước ông ta đãi cả bàn một câu chuyện tuyệt đối lố bịch về Fred Astaire mà bác cho rằng không thể sự thực được. Fred Astaire ư! Chửi tục như một gã thủy thủ, hờn lẫy toáng lên ư! Ừ, bác chẳng ngại nói với con rằng bác không tin - tất cả bọn bác không một ai tin. Bà của Chance quen Fred Astaire từ hồi bà làm ở Hollywood và nói rằng ông ấy thật là người dễ thương nhất thế giới. Chưa từng nghe thấy ai mảy may ám chỉ rằng không phải. Nhiều ngôi sao thời đại cũ thì thật đáng ghét, tất nhiên, và những chuyện ấy chúng ta đã nghe hết cả rồi. Ôi,” bà thảm não nói liền một mạch, “bác mới mệt và đói làm sao.”

“Đây…” thấy thương hại bà, dẫn đến bên một ghế trống “bác ngồi xuống đi. Con lấy gì cho bác ăn nhé?”

“Thôi, cảm ơn. Con hãy ở đây với bác đi. Tuy rằng bác nghĩ cũng không nên giữ rịt con cho mình,” bà nói có vẻ không chắc chắn lắm. “Vị khách chính của bữa tiệc mà.”

“Thật đấy, không mất đến một phút đâu.” Mắt tôi đảo quanh phòng. Những khay điểm tâm đang được chuyển quanh và phòng bên cạnh có một bàn đặt món chính, nhưng tôi cần nói chuyện với Hobie ngay tức khắc. “Con sẽ quay lại thật nhanh.”

May là Hobie rất cao - cao hơn hầu như tất cả mọi người còn lại - nên chẳng khó khăn gì tôi đã nhìn thấy ông, một ngọn hải đăng báo hiệu an toàn giữa đám đông.

“Này,” ai đó tóm lấy tay tôi khi tôi vừa đến gần ông. Đấy là Platt, mặc áo khoác nhung xanh bốc mùi băng phiến, trông nhàu nhĩ, lo âu và chưa chi đã say ngà ngà. “Hai người vẫn ổn hết chứ?”

“Sao?”

“Cậu với Kits đã nói chuyện xong với nhau rồi chứ?”

Tôi không rõ phải đáp câu này ra sao nữa. Sau vài giây im lặng, anh ta vén một sợi tóc vàng đang ngả bạc ra sau tai. Khuôn mặt hồng đã sưng lên vì tuổi trung niên đến sớm, và tôi nghĩ, không phải lần đầu, rằng Platt khi từ chối không chịu trưởng thành lên cũng không có được chút tự do nào cả, rằng vì lười biếng quá lâu mà nay anh ta đã giết chết từng mẩu vụn cuối cùng của cái danh giá đáng ra đã được truyền lại anh ta, và sẽ vĩnh viễn lấp ló bên lề các bữa tiệc cùng cốc gin pha chanh trong khi đứa em út Toddy - còn chưa tốt nghiệp - đứng trò chuyện trong một nhóm gồm cả hiệu trưởng một trường Ivy League, một tỷ phú trong lĩnh vực tài chính, một chủ bút tờ tạp chí quan trọng.

Platt vẫn đang nhìn tôi. “Nghe này,” anh ta nói. “Tôi biết đây không phải việc của tôi, về cậu và Kits...”

Tôi nhún vai.

“Tom không yêu nó,” anh ta chợt xổ ra. “Cậu xuất hiện là việc tốt nhất trần đời từng đến với Kitsey và nó cũng biết vậy. Ý tôi là, cứ nhìn hắn đối xử với nó ra sao! Nó đang ở với hắn buổi cuối tuần mà Andy chết, cậu biết chứ? Đấy là lý do quan trọng khiến nó phải nhờ Andy lên trông bố, mặc dù Andy thì chẳng biết xoay xở thế nào với bố, đấy là lý do nó không tự mình đi. Tom, Tom, Tom. Lúc nào cũng Tom. Và, phải, tất nhiên, hắn ta là ‘Tình Yêu Vĩnh Cửu’ trong mắt nó, ‘Mối Tình Duy Nhất’ của em, nó bảo thế, nhưng tin tôi đi, sau lưng nó lại là một việc khác hẳn. Vì... ” - anh ta ngưng lại bực bội - “câu hãy tưởng tượng hắn dắt mũi nó - liên tục moi tiền, qua lại với bọn con gái khác rồi nói dối - khiến tôi phát tởm, cả bố mẹ cũng phát tởm. Vì, về cơ bản, nó chỉ là cái mỏ cho hắn đào thôi. Hắn coi con bé là thế đấy. Nhưng - đừng có hỏi tôi tại sao - nó thì cuồng lên vì hắn. Mất trí thật rồi.”

“Có vẻ bây giờ vẫn vậy.”

Platt nhăn mặt. “Thôi nào. Cậu mới là người nó sắp lấy mà.”

“Cable có vẻ không phải típ ưa kết hôn, theo ý tôi.”

“À…”anh ta tu một ngụm to “dù Tom có lấy ai đi nữa thì tôi cũng thấy thương cô ả. Kits có thể bốc đồng, nhưng nó không ngu đâu.”

“Không hề.” Kitsey hoàn toàn không ngu. Cô không chỉ dựng lên một cuộc hôn nhân khiến mẹ cô hài lòng nhất, mà còn được ngủ với người cô yêu thật sự.

“Rồi sẽ chẳng đi đến đâu đâu. Như mẹ nói đấy. ‘Chỉ là máu bốc lên đầu thôi’. ‘Ảo tưởng mà thôi’.”

“Cô ấy bảo tôi rằng cô ấy yêu hắn.”

“À, bọn con gái lúc nào cũng yêu lũ khốn,” Platt nói, không buồn cãi lại lời tôi. “Cậu còn chưa biết sao?”

Không, tôi âu sầu nghĩ, không phải thế. Nếu không thì vì sao Pippa không yêu tôi?

“Này, cậu cần một ly, bố ạ. Thực tế là…” nốc hết chỗ còn lại “tôi cũng cần.”

“Thế này nhé, tôi phải đi nói chuyên với một người đã. Thêm nữa mẹ anh...” tôi quay người chỉ về hướng đã đặt bà ngồi lại “bác cũng cần một ly và cần ăn gì đó nữa.”

Mẹ,” Platt thốt lên, vẻ mặt như thể tôi vừa nhắc anh ta để quên ấm nước đang sôi trên bếp, và vội vàng chạy đi.

xxxiii.

“HOBIE?”

Ông có vẻ giật mình khi tay tôi chạm vào tay áo, quay phắt lại. “Mọi thứ vẫn ổn chứ?” Ông lập tức hỏi.

Chỉ cần đứng cạnh ông tôi đã thấy khá hơn - chỉ cần hít thở không khí sạch sẽ bên cạnh Hobie. “Nghe này,” tôi nói và dáo dác nhìn quanh, “bác cháu mình cần một chỗ...”

“A, đây là chú rể phải không?” Một người đàn bà trong toán người háo hức vây quanh ông reo lên.

“Phải rồi, chúc mừng anh!” Thêm nhiều kẻ lạ mặt nữa chen tới.

“Trông anh ấy trẻ quá! Trông anh thật là trẻ làm sao.” Một bà tóc vàng, cỡ giữa năm chục, bóp chặt tay tôi. “Và xinh trai nữa chứ!” quay sang bạn. “Quả là một hoàng tử dễ thương! Nói xem anh ấy có thể nào quá hai mươi hai được không chứ?”

Lịch lãm, Hobie giới thiệu tôi một vòng - hiền từ, khéo léo, thong dong, một con sư tử hiền lành bậc nhất giữa giới giao tế.

“Ừm,” tôi nói và nhìn quanh phòng, “xin lỗi phải kéo bác đi, Hobie à, cháu hy vọng bác không thấy là cháu quá vô duyên... ”

“Cần nói chuyên riêng à? Được thôi. Xin phép các vị.”

“Hobie,” tôi nói ngay khi tìm được một góc tương đối yên tĩnh. Tóc mai tôi đã ướt nhẹp. “Bác có biết ai tên là Havistock Irving không?”

Cặp mày nhạt nhíu lại. “Ai cơ?” Ông nói, rồi nhìn tôi kỹ hơn, “Cháu có thật là ổn không thế?”

Giọng điệu và vẻ mặt ông khiến tôi nhận ra ông biết rõ về trạng thái tinh thần tôi hơn là để lộ. “Có chứ,” tôi nói và đẩy kính trên sống mũi. “Cháu ổn. Nhưng mà, nghe này, Havistock Irving, cái tên ấy có quen thuộc tí gì không?”

“Không. Vì sao vậy?”

Có phần lộn xộn - tôi đang thèm muốn chết có một ly, thật là xuẩn mới quên ghé lại ở quầy bar trên đường qua đây - tôi giải thích. Tôi càng nói, mặt Hobie càng thêm nghiêm lại.

“Hử,” ông nói và nhìn quanh đầu đám đông. “Cháu có thấy ông ta không?”

“Ừm...” Cả một bầy đàn chen chúc quanh quầy búp phê, những chậu đá vụn, những người phục vụ xúc hàu ra hàng xô “kia kìa.”

Hobie - ông bị cận, không mang kính - chớp mắt hai cái rồi nheo lại. “Ai,” ông nói gắt, “cái kẻ có...” ông giơ hai tay lên ngang đầu ám chỉ hai túm tóc.

“Vâng chính thế.”

“Ái chà.” Ông khoanh tay, với vẻ lẹ làng thô tháp không giả trang khiến trong một thoáng tôi thấy Hobie kia - không phải chuyên gia đồ cổ mặc đồ may đo, mà là viên cảnh sát hay mục sư bặm trợn trong cuộc đời khác, giá ông chưa từng rời khỏi Albany.

“Bác quen à? Ai thế?”

“À.” Hobie, không vui, vỗ vào túi áo ngực tìm điếu thuốc mà ở đây ông không được hút.

“Bác có quen ông ta không?” Tôi hỏi dồn, không thể không liếc về phía quầy bar nơi Havistock đang đứng. Đôi khi rất khó moi thông tin từ Hobie về những vấn đề nhạy cảm - ông thường đổi chủ đề, ngậm miệng, chuyển qua lơ đãng, và có nơi nào khó gặng hỏi ông điều gì đó nhất thì chính là cán phòng chật người lúc nào cũng có ai đó chực vui vẻ bước tới ngắt câu chuyện.

“Không thể gọi là quen được. Từng có việc với nhau. Hắn làm gì ở đây?”

“Bạn của cô dâu,” tôi nói - và nhận thêm một ánh mắt giật mình trước giọng điệu của tôi. “Làm sao bác quen ông ta?”

Ông chớp mắt lia lịa. “À,” ông đáp có phần miễn cưỡng, “không biết tên thật là gì. Welty và bác biết hắn dưới cái tên Sloane Griscam. Nhưng tên thật - là một thứ khác hẳn.”

“Ông ta là ai?”

“Tu hú,” Hobie nói cụt lủn.

“À,” tôi đáp, sau một thoáng ngỡ ngàng. “Tu hú” là tiếng lóng trong nghề chỉ lũ cá mập chuyên nhờ thớ lợ mà lọt vào nhà những người già: để lừa họ lấy những đồ quý giá, hay nhiều khi cướp thẳng cánh.

“Bác...” Hobie đu đưa chân, lúng túng nhìn đi chỗ khác “ở đây thì có nhiều món ngon lành cho hắn, hẳn rồi. Lừa đảo hạng siêu - hắn cùng tên đồng bọn nữa. Cả hai đều khôn như quỷ.”

Một nhân vật đầu hói cười rạng rỡ đeo cổ áo thầy tu đang len lỏi đến chỗ chúng tôi; tôi khoanh tay, cố đứng nghiêng xoay người lại ông ta, chặn đường tiến, hy vọng Hobie sẽ không nhìn thấy mà bỏ ngang cầu chuyện để chào ông ta.

“Lucian Race. Hoặc ít nhất đấy là tên hắn dùng. Ồ, một cặp đôi hoàn hảo. Cháu hiểu không - Havistock, hay là Sloane, hay là bất cứ bộ mặt nào của hắn, sẽ tán tỉnh các bà già, và cả các ông già nữa, nắm thông tin họ sống ở đâu, ghé lại thăm nom... chúng sẽ săn đuổi họ trong các bữa tiệc tôi gây quỹ, đám tang, buổi đấu giá Di Sản Mỹ, khắp mọi nơi. Dù sao thì...” - chăm chú nhìn ly rượu - “hắn sẽ ghé thăm cùng ông bạn đáng quý của hắn, là ông Race, và trong lúc các cụ già đang mải chuyện... thực tình, kinh khủng lắm. Nữ trang, tranh vẽ, đồng hồ, đồ bạc, bất kỳ thứ gì chúng sờ tới được. Hừm,” ông chợt đổi giọng nói. “Từ lâu lắm rồi.”

Tôi khao khát muốn uống gì đấy đến nỗi khó mà không liên tục nhìn về phía quầy bar. Chưa chi đã thấy Todd chỉ trỏ tôi cho một cặp ông bà già đang toét miệng cười với tôi, như chỉ chực lập cập đến gần tự giới thiệu, và tôi bướng bỉnh xoay lưng lại. “Người già ư?” Tôi nhắc lại với Hobie, hy vọng có thêm được chút thông tin.

“Phải - bác không muốn nói vậy, nhưng chúng rình rập nhiều người thuộc loại bất lực. Bất kỳ ai mở cửa cho chúng vào. Và phần lớn các ông bà già không có nhiều đồ lắm, chỉ một lượt là chúng khoắng sạch sành sanh, nhưng nơi nào mà có của ngon vật lạ ấy ư?... à, chúng sẽ xúc tiến những giỏ hoa quả và chuyên trò thần tín và vỗ về bàn tay hàng tuần liền...”

Ông thầy tu, hay mục sư, hay gì cũng được, đã thấy tôi đang bận và giơ tay chào thân tình - “Gặp sau nhé!” - rồi lách qua đám đông đi mất, khi tôi dành cho ông một nụ cười cảm tạ. Đấy có phải ông giám mục Tân giáo tên Gì Không Nhớ được chọn làm người cử hành hôn lễ cho chúng tôi không nhỉ? Hay là một trong mấy ông cha Công giáo ở nhà thờ St. Ignatius mà bà Barbour đã mê mẩn từ hồi Andy cùng ông Barbour qua đời?

“Miệng lưỡi ngọt ngào kinh khủng. Đôi khi chúng sắm vai người thẩm định đồ đạc, tự nguyên định giá miễn phí cho họ, nhờ thế lọt được vào nhà. Hoặc với những ca thực sự tệ hại - nằm liệt giường, ngu ngu ngơ ngơ - thì chúng gạt các hộ lý tại nhà, xưng là họ hàng. Tuy thế đi nữa... ” Hobie lắc đầu. “Cháu đã ăn gì chưa?” Ông đổi giọng, tỏ ra muốn chuyển đề tài.

“Rồi ạ,” tôi nói, dù thực ra là chưa, “cảm ơn bác, nhưng còn...” “Ôi, tốt quá!” nhẹ mình. “Có cả hàu kìa, cả trứng cá nữa. Món cua cũng ngon lắm. Hôm nay cháu không đến ăn trưa. Bác để lại đĩa thịt bò hầm cho cháu, đậu xanh và xa lát nữa - cháu không ăn, bác thấy còn nguyên trong tủ lạnh...”

“Thế bác với Welty thì có việc gì với ông ta?”

Hobie chớp mắt. “Xin lỗi?” Ông nói bằng cái giọng lơ đễnh thường lệ. “À…- hất hàm về phía Griscam - “Hắn ư?”

“Vâng.” Ánh sáng hội hè trong phòng - đèn đóm, gương, lò sưởi cháy bừng bừng, đèn chùm lấp lánh - đã đem lại cho tôi cảm giác kinh dị là bị dồn ép và theo dõi từ khắp các phía.

“À...” Ông ngoảnh đi - người ta vừa bưng ra một bát trứng cá mới, ông đã dợm chân muốn đi lại bàn ăn - rồi nhượng bộ. “Hắn xuất hiện ở cửa hiệu với cả đống nữ trang đồ bạc muốn bán, nhiều năm trước rồi, thế đấy. Kêu là đồ trong gia đình. Chỉ có điều, một hũ rắc muối - cái đó rất xưa, rất quan trọng, và Welty biết, vì ông biết bà già đã được ông bán cho. Và ông cũng biết bà vừa trúng quả lừa của một cặp tu hú lọt vào nhà, giả vờ quyên góp sách cũ cho từ thiện. Dù sao thì Welty đã nhận mấy món đó coi như ký gửi, rồi gọi cho bà già, và gọi cho cảnh sát. Còn bác, hừm, về phần bác…” thấm mồ hôi trán bằng miếng khăn hoa Liberty trong túi áo, khẽ đến mức tôi gần như không nghe thấy, nhưng sợ không dám bảo ông nói lớn lên “mười tám tháng trước đó bác còn mua hẳn một một gói thanh - toàn bộ nhà từ hắn, đáng ra bác phải nhận ra có điều không ổn, nhưng... không xác định nổi là gì, không hẳn. Tòa nhà mới tinh ở Khu 80 Đông - một bộ sưu tập kỳ dị đồ cổ Mỹ chồng đống vào nhau giữa phòng, hộp đựng trà, đồng hồ hình đàn banjo, hình người gọt bằng xương cá voi, ghế Windsor đủ để trang bị cho cả cái trường - nhưng không có thảm, không xô pha, không có chỗ nào để ăn, không có nơi để ngủ - hừm, bác tin là cháu thì sẽ nhận ra trước bác. Không có nhà, không có bà già nào. Chỉ là một căn hộ hắn thuê mấy ngày để chứa đống đồ ăn cắp. Và còn một vấn đề nữa, chính điều đã làm bác sơ ý là, bác biết tên tuổi hắn vì lúc đó hắn có cái cửa hiệu nho nhỏ, thực ra chỉ là chỗ trưng bày thôi, một phòng kho nhỏ xíu ngay trên Madison không quá xa nhà đấu giá Parke-Bernet cũ, một chỗ rất xinh, chỉ mở cửa theo hẹn. Đồ cổ Chevallet. Nhiều món Pháp thực sự kinh điển - không phải thứ bác sành. Mỗi lần qua đó, cửa đều đóng, bác thường đứng nhìn vào cửa sổ. Không hề biết ai là chủ nơi đó cho tới khi hắn ta liên hệ với bác muốn bán hàng.”

“Và?” Tôi nói, lại xoay lưng, gửi lời thần giao cách cảm mong Platt sẽ tránh xa tôi cùng với giám đốc nhà xuất bản mà anh ta đang đắc thắng dẫn về phía tôi.

“Và…” ông thở dài “nói vắn tắt, vụ đó ra tòa, bác với Welty làm chứng. Sloane - tên delapilateur[155]như Welty gọi - tới lúc đó đã mất tăm không tung tích - cửa hàng chớp mắt đã dọn sạch, ‘cải tạo lại’, không bao giờ mở lại, tất nhiên. Nhưng còn Race thì bác nhớ đã đi tù.”

“Đấy là bao giờ?”

Hobie nhấm ngón trỏ, suy nghĩ. “Ôi trời đất, phải đến... ba mươi năm? Ba mươi lăm là khác?”

“Còn Race?”

Lông mày ông sầm lại. “Hắn cũng ở đây ư?” Lại nhìn qua đám đông.

“Cháu chưa thấy.”

“Tóc thế này.” Hobie làm hiệu bằng đầu ngón tay, dưới gáy một chút. “Qua cổ áo. Như người Anh vẫn để. Người Anh thuộc một thời nào đó.”

“Tóc trắng à?”

“Hồi đó thì không. Có thể bây giờ. Và cái miệng nhỏ, ác độc...” - ông chu môi - “như thế này.”

“Đúng là hắn.”

“Ờ...” Ông lục túi tìm đèn kính lúp, trước khi có vẻ nhớ ra là không cần đến. “Cháu đã đề xuất trả lại tiền cho hắn ta rồi. Vậy nên nếu đấy đúng là Race - bác không hiểu sao hắn phải làm tới nữa, vì hắn hoàn toàn không ở vị thế có thể gây rối hay đòi hỏi gì, phải không?”

“Vâng,” tôi nói sau một hồi lâu, dù lời nói dối nặng nề đến mức tôi phải cố lắm mới ép được chữ ấy khỏi mồm.

“Vậy thì thôi, đừng chau mày nữa,” Hobie nói, nhẹ người rõ rệt được thoát khỏi chủ đề này. “Đáng ra đây không nên là việc làm phiền cháu buổi tối nay. Mặc dù... ” vỗ vai tôi; ông đang nhìn quanh phòng tìm bà Barbour “hẳn là cháu nên báo động cho Samantha. Bà ấy không nên để tên lưu manh ấy vào nhà mình. Vì bất cứ lý do nào. Xin chào!” Ông nói, quay lại thấy cặp ông bà già cuối cùng đã rẽ được đám đông tới đứng mỉm cười chờ đợi sau lưng chúng tôi. “James Hobart. Tôi xin phép được giới thiệu hai người với chú rể.”

XXXIV

BỮA TIỆC DIỄN RA TỪ SÁU đến chín giờ tối. Tôi mỉm cười, chảy mồ hôi, tìm cách đến bên quầy bar để rồi bị chặn đường hay cắt lối và mấy lần còn bị nắm tay kéo lại thẳng thừng, giống như Tantalus[156] chết khát ngay giữa khi nhìn thấy đường giải thoát - “Anh ấy đây rồi, nhân vật chính đây!” “Anh chàng tốt số!” “Chúc mừng!” “Này, Theodore, cậu phải gặp Francis anh họ Harry mới được - nhà Longstreet và nhà Abernathy dâu gia với nhau về đằng nội, nhánh trên Boston tức ông nội của Chance, cậu biết đấy, là anh em con cô con cậu với... Francis? Ồ, hai người biết nhau ư? Tuyệt quá! Còn đây là... Ôi Elizabeth, cô đây rồi, cho phép tôi bắt cóc cô một giây nào, cô trông mới thật dễ thương chứ, bộ vét xanh ấy hợp với cô quá chừng, tôi nóng lòng được giới thiệu cô với...” Cuối cùng tôi cũng bỏ nguyện vọng được uống (và ăn), và - bị mắc kẹt giữa một đám người lạ dồn đuổi cứ không ngừng thay đổi - đứng đó chộp lấy vài ly sâm-panh từ những người bồi bàn đi ngang qua, đôi lúc lấy được một đĩa điểm tâm, những miếng bánh quiche lorraine tí xíu, bánh xèo Nga quấn trứng cá bằng ngón tay, người lạ đến rồi đi, nhốt cứng và lịch thiệp gật đầu giữa đám đông những kẻ dòng dõi, giàu sang, quyền lực...

(đừng bao giờ quên cậu không nằm trong số họ, lão bạn nghiện ở phòng Kế toán đã thì thào vào tai khi thấy tôi đi lại nói cười giữa những khách hàng bệ vệ trong một buổi bán hàng Nghệ thuật Hiện đại và Ấn tượng...)

... chết cứng rồi quay lại mỉm cười trong từng đám khách ngẫu nhiên khi thợ ảnh vụt tới, bị bẫy vào những mảnh vụn chuyện trò rải rác khắp phòng với nội dung ngủ gật về các ván gôn, chính trị, đội bóng của lũ con, trường học của lũ con, ngôi nhà thứ ba và thứ tư và thứ năm ở Hyères và Hyannis và Paris và London và Jackson Hole và sao Diêm vương và chẳng phải kinh khủng biết bao là Vail đã bị nâng cấp gờm guốc biết bao, có nhớ hồi chỉ là một ngôi làng xinh xắn không chịu được... anh thường trượt tuyết ở đâu hả Theo? Anh có biết trượt không? Trời ơi, thế thì nhất quyết là anh và Kitsey phải tới nhà chúng tôi ở...

Tôi để mắt tìm Hobie và Pippa, nhưng chẳng mấy khi thấy họ. Kitsey đùa bỡn dẫn người này người nọ tới giới thiệu với tôi, rồi mất tích như một chú chim bay vù khỏi bệ cửa sổ. Havistock thì, may thay, không thấy tăm tích. Rốt cuộc xung quanh cũng vãn bớt, tuy không nhiều; mọi người bắt đầu di chuyển về phía giá để áo và những người phục vụ đang bắt đầu dọn bớt cái bánh ga tô cùng những đĩa tráng miệng khỏi bàn búp phê thì - kẹt giữa câu chuyện với một đám họ hàng Kitsey - tôi liếc qua phòng tìm Pippa (như vẫn làm, không đừng được, suốt buổi tối đó, cố bắt lấy cái đầu tóc đỏ của cô, điều duy nhất thú vị hay quan trọng trong cả phòng) - và ngạc nhiên tột độ thấy cô đứng bên Boris. Trò chuyện rất phấn khích. Nó gần như trùm lấy người cô, tay vắt hờ, điếu thuốc chưa châm rung rinh trong tay. Thì thầm. Cười lớn. Nó đang cắn tai cô ư?

“Xin lỗi,” tôi nói và vội vàng chạy qua phòng tới chỗ họ bên lò sưởi - và, khớp nhau như một, cả hai cùng quay lại dang tay đón tôi.

“Chào cậu!” Pippa nói. “Bọn tớ vừa bắt đầu nói về cậu!”

“Potter!” Boris nói và ôm choàng lấy tôi. Dù ăn diện đúng điệu, bộ vét sọc nhỏ màu lam (tôi vẫn thường để ý những hội người Nga túi đầy tiền trong cửa hàng Ralph Lauren trên Đại lộ Madison), nhưng có vẻ không có cách nào sửa sang nó cho sạch sẽ được: đôi mắt nhòe nhoẹt khiến trông nó dữ tợn và không đáng tin, và tóc nó tuy không hẳn là bẩn, nhưng nhìn vào có cảm giác bẩn. “Gặp anh bạn này mừng ghê!”

“Mừng ghê.” Tôi đã mời Boris dù không hề tưởng tượng nó sẽ đến - tính Boris vốn không nhớ những thứ vặt vãnh như là ngày tháng hay địa chỉ, hay nếu có, cũng không nhớ đến đúng giờ. “Cậu biết đây là ai mà, phải không?” tôi quay sang Pippa nói.

“Tất nhiên là cổ biết tui rồi! Biết hết mọi chuyện của tui rồi! Bây giờ là bạn thân của nhau đấy nhớ! Giờ thì…” quay sang tôi, làm bộ điệu khoa trương “vài lời riêng với nhau nào. Cô bạn cảm phiền cho bọn tui nhớ?” nó nói với Pippa.

“Lại chuyện riêng nữa ư?” Đùa bỡn đá vào chân tôi bằng đôi giày vũ ba lê.

“Đừng lo! Sẽ mang anh bạn này trả lại thôi mà! Chào nhớ!” Hôn gió một cái. Rồi, nói nhỏ vào tai tôi, khi chúng tôi đi xa: “Cô nàng tuyệt quá. Trời ạ, tau thật là khoái các nàng tóc đỏ.”

“Tao cũng thế, nhưng đấy không phải người tao sắp cưới.”

“Không phải à?” Trông nó hết sức ngạc nhiên. “Nhưng cổ chào tau mà! Biết tên mà! A,” nó nói và nhìn tôi kỹ hơn, “mi đỏ mặt kìa! Đúng thế, Potter!” nó rên lên. “Đỏ mặt! Như một cô bé con!”

“Im mồm,” Tôi xuỵt qua kẽ răng, nhìn lại vì sợ cô nghe thấy.

“Vậy là không phải cô đó à? Không phải bé tóc đỏ à? Tiếc ghê há.” Nó đang nhìn quanh phòng. “Vậy là cô nào?”

Tôi chỉ. “Kia kìa.”

“À? Mặc áo xanh da trời ấy hả?” Nó thân mật véo cánh tay tôi. “Trời ạ, Potter! đó hả? Người xinh đẹp nhất phòng! Thần thánh! Một nữ thần!” Làm bộ như muốn phủ phục xuống sàn nhà.

“Đừng, đừng…” tóm lấy tay nó, vội vàng xách lên.

“Một thiên thần! Thẳng từ thiên đàng xuống! Tinh khiết như giọt lệ trẻ sơ sinh! Quá tốt cho những đứa như mi...”

“Phải, tao nghĩ đấy là nhận định chung.”

"... mặc dù... ” Nó với lấy cốc vodka của tôi tợp một miếng lớn rồi trả lại - “trông có vẻ hơi nữ hoàng băng giá, hả? Tau thì thích các cô ấm áp hơn. Cô này - cô này là một đóa huệ, một bông tuyết! Ở chốn riêng tư thì ít lạnh lẽo hơn chứ hả?”

“Mày sẽ ngạc nhiên cho mà xem.”

Lông mày nó nhướng lên. “À. Và... đấy là cái cô...”

“Phải.”

“Cổ thừa nhận à?”

“Ừ.”

“Vậy nên mi không đứng với cổ. Mi bực mình.”

“Đại khái thế.”

“Chà…” Boris luồn tay vào tóc “mi phải ra nói chuyện với cổ thôi.”

“Tại sao?”

“Vì chúng mình phải đi.”

“Đi? Vì sao?”

“Vì tau cần mi đi dạo với tau một lúc.”

“Tại sao?” Tôi hỏi và nhìn quanh phòng, ước gì nó không lôi tôi đi khỏi Pippa, tuyệt vọng muốn tìm thấy cô trở lại. Nến và ánh lửa da cam nơi cô vừa đứng khiến tôi nghĩ đến hơi ẩm trong quán bar, như thể ánh sáng ấy có thể là con đường trở lại đêm qua, trở lại cái bàn gỗ nhỏ chúng tôi ngồi, đầu gối chạm nhau, mặt cô tắm trong chính luồng sáng nhuốm màu cam ấy. Phải có cách nào cho tôi đi qua phòng, nắm lấy tay kéo cô về lại giây phút ấy chứ.

Boris hất tóc rủ xuống mắt. “Đi nào. Mi sẽ mừng hết lớn nếu nghe tin của tau cho coi! Nhưng mi phải về nhà. Lấy hộ chiếu. Lại còn vấn đề tiền nong nữa.”

Đằng sau vai Boris: những khuôn mặt không thể khuấy động của những đàn bà lạ mặt lạnh lẽo. Gương mặt trông nghiêng của bà Barbour, hơi ngoảnh vào tường, nắm chặt bàn tay của ông thầy tu hớn hở đột nhiên có vẻ không còn hớn hở như trước.

“Gì? Mi có nghe tau không đấy?” Lắc tay tôi. Cũng giọng nói đã lôi tôi trở lại mặt đất không biết bao nhiêu lần, từ những bầu trời hình phân dạng bốc mùi keo khi tôi nằm trên giường, mắt mở nhưng vô thức, nhìn chằm chằm những vụ nổ màu trắng-xanh ấn tượng trên trần nhà.

“Đi nào! Vào xe sẽ nói. Đi thôi. Tau có vé cho mi rồi...”

Đi? Tôi nhìn nó. Đấy là từ duy nhất tôi nghe thấy.

“Tau sẽ giải thích. Đừng có nhìn tau như vậy! Mọi thứ đều OK cả. Không việc gì phải lo. Nhưng - đầu tiên - mi phải thu xếp có thể mất tích mấy hôm đã. Ba hôm. Hết cỡ đấy. Thế nên…” phẩy tay “đi, đi nói với cô Bông Tuyết rồi biến khỏi đây thôi. Ở đây không hút thuốc được, phải không?” Nó nói và nhìn quanh. “Không ai hút cả?”

Biến khỏi đây thôi. Đấy là những chữ duy nhất có nghĩa tôi nghe được từ bất kỳ ai tối nay.

“Vì mi phải về nhà ngay lập tức.” Nó đang gắng hết sức nhìn vào mắt tôi như ngày xưa. “Lấy hộ chiếu. Và - tiền nữa. Mi có tại trận bao nhiêu tiền mặt?”

“À, trong nhà băng,” tôi nói và đẩy kính lên sống mũi, không hiểu sao lại tỉnh ra trước giọng điệu nó.

“Tau không nói chuyện trong nhà băng. Hay ngày mai. Tau nói chuyện có tại trận. Ngay bây giờ.”

“Nhưng...”

“Tau sẽ trả lại, tau hứa mi đấy. Nhưng chúng mình không thể đứng đây thêm chút nào nữa. Chúng mình phải đi. Ngay bây giờ. Nào mi, đi thôi,” nó nói và thân thiện đá khẽ vào ống quyển tôi.

XXXV

“ANH ĐÂY RỒI, ANH YÊU,” Kitsey nói, luồn tay qua khuỷu tay tôi và kiễng chân hôn lên má - cái hôn cùng một lúc lọt vào ống kính một bầy nhiếp ảnh gia đảo tròn quanh cô: một kẻ từ mấy trang báo xã giao, kẻ kia được Anne thuê trọn gói cho buổi tối. “Thế này có tuyệt vời không chứ? Anh đã mệt nhoài chưa nào? Em hy vọng gia đình em không làm anh ngợp quá chứ! Annie thân yêu...” chìa tay cho Anne de Larmessin, tóc vàng cứng đờ, váy taffeta cứng đờ, khoảng da trên cổ nhăn nhúm không hợp với khuôn mặt căng mịn có đường nét hoàn hảo “nghe này, thật là không thể tuyệt diệu hơn... mẹ nghĩ ta chụp chung một bức ảnh gia đình được không? Chỉ có mẹ, con và Theo? Ba người ta thôi?”

“Nghe này,” Tôi sốt ruột nói, ngay khi pô ảnh gượng gạo kia đã xong và Anne de Larmessin (hẳn nhiên không hề coi tôi mảy may gọi là gia đình) đã lướt đi chào tạm biệt mấy người khách khác, quan trọng hơn. “Anh phải đi đây.”

“Nhưng…” Cô có vẻ bối rối “em nghĩ Anne đã đặt bàn ở đâu đó...”

“Ờ, thế thì em sẽ phải bịa ra cớ cho anh thôi. Việc đó em thạo quá rồi còn gì, phải không?”

“Theo, đừng quá đáng.”

“Vì mẹ của em thì không đi đâu, anh chắc chắn đấy.” Gần như không thể nào bắt bà Barbour ra ngoài ăn tối ở nhà hàng được nữa, trừ khi đấy là một nơi bà tin chắc không gặp phải ai quen. “Cứ bảo là anh đã đưa mẹ về. Bảo là bà bị ốm. Bảo là anh bị ốm. Tưởng tượng đi. Em sẽ nghĩ ra gì đó thôi.”

“Anh vẫn còn cú em đấy à?” Ngôn ngữ gia đình: . Một từ Andy từng dùng hồi chúng tôi còn nhỏ.

“Cú à? Không đâu.” Giờ chuyện đó đã lắng xuống, tôi đã quen với ý nghĩ ấy (Cable? Với Kitsey?), thì nó chỉ còn là một mẩu chuyện buôn thô lậu chẳng liên quan gì tới tôi. Cô đang đeo đôi hoa tai của mẹ tôi, tôi chợt nhận ra, bỗng dưng cảm động kỳ lạ vì cô nói rất đúng, nó chẳng hợp với cô tẹo nào, lòng nhói lên, tôi đưa tay chạm vào nó, rồi chạm vào má cô.

“Á!!!” Mấy kẻ tọc mạch rú lên ở đằng sau - hài lòng vì rốt cuộc cũng thấy chút biểu hiện thân thiết giữa đôi uyên ương hạnh phúc. Kitsey - lập tức bắt lấy cơ hội - tóm tay tôi hôn lên đó, khiến máy ảnh lại nhá lên một chập nữa.

“Được không?” Tôi nói nhỏ vào tai khi cô ghé lại gần. “Nếu có ai hỏi, thì bảo anh đi có việc. Bà già nào đó nhờ anh đến xem nhà để thanh lý.”

“Được thôi.” Phải lấy làm khâm phục Kitsey: cô thản nhiên như không. “Bao giờ thì anh quay lại?”

“À, chóng thôi,” tôi nói nhưng không thuyết phục lắm. Tối sẵn lòng đi ra khỏi căn phòng đó và cứ đi mãi, suốt ngày, suốt tháng, tới khi ra đến bãi biển nào đó ở Mexico chẳng hạn, một bến bờ cô quạnh nơi tôi có thể lang thang một mình cho mãi đến khi bộ đồ này mủn ra rơi mất và sẽ làm gã nước ngoài điên đeo kính gọng sừng làm nghề sửa chữa ghế bàn kiếm sống. “Bảo trọng nhé. Và hãy chặn cái lão già Havistock đừng cho bước qua cửa nhà mẹ.”

“À... ” giọng cô nhỏ tới mức tôi hầu như không nghe thấy “gần đây ông ta quả là quấy nhiễu kinh khủng. Gọi điện liên tục, muốn ghé chơi, hết mang hoa lại sô-cô-la, tội nghiệp. Mẹ không chịu gặp ông ta. Cũng thấy hơi áy náy vì cứ xua đuổi ông ta.”

“Ừ, đừng áy náy. Xua tận tình vào. Lão là một tên cướp giữa ban ngày đấy. Giờ thì tạm biệt,” tôi nói lớn, hôn đánh chụt lên má cô (máy ảnh rộ lên một lượt nữa, tấm ảnh mà mấy người chụp đã chờ hết buổi tối), rồi qua nói với Hobie (đang sung sướng xem một bức chân dung, cúi sát người khiến mũi chỉ còn cách tấm toan vài phân) rằng tôi sẽ phải đi xa ít lâu.

“Được thôi,” Ông thận trọng nói và quay đi. Suốt thời gian làm việc với ông, tôi hầu như không bao giờ đi nghỉ, và chắc chắn là chưa bao giờ ra khỏi thành phố. “cháu với...” ông gật đầu về phía Kitsey.

“Không.”

“Mọi thử vẫn ổn chứ?”

“Vẫn.”

Ông nhìn tôi, lại nhìn qua phòng tới chỗ Boris. “Cháu biết đấy, nếu cháu cần bất cứ điều gì,” ông đột ngột nói. “Cứ cho bác biết.”

“Vâng, à,” Tôi đáp - giật mình, không hẳn hiểu ý ông, cũng không biết cách nào đáp lại “cám ơn bác.”

Ông nhún vai, có vẻ ngượng ngập, và chủ động quay lại với bức tranh. Boris đang đứng bên quầy rượu uống một ly sâm-panh và nhai chỗ bánh xèo trứng cá còn thừa lại. Thấy tôi, nó tu nốt ly và nghiêng đầu về phía cửa: biến khỏi đây thôi!

“Tạm biệt bác,” Tôi nói với Hobie, bắt tay ông (một việc thông thường không mấy khi làm) và bỏ lại ông đang đưa mắt dõi theo tôi có phần khó hiểu. Tôi muốn chào Pippa nữa, nhưng chẳng thấy cô đâu. Cô ở đâu? Thư viện à? Nhà vệ sinh? Tôi quyết tâm phải nhìn thấy cô lần nữa - chỉ một lần thôi - trước khi đi. “Bác biết cô ấy ở đâu không?” tôi hỏi Hobie sau khi đi nhanh một vòng quanh các phòng; nhưng ông chỉ lắc đầu. Vậy là tôi lo âu đứng bên chỗ giữ áo thêm vài phút, đợi cô quay lại, tới khi, cuối cùng, Boris với cái miệng nhét đầy đồ tráng miệng cũng tóm lấy tay tôi, kéo tuột xuống cầu thang và ra khỏi cửa.

« Lùi
Tiến »