Chúng ta có nghệ thuật để khỏi chết vì sự thực.
— NIETZSCHE —
I
CHIẾC LINCOLN TOWN vẫn đang chạy vòng quanh khối nhà - nhưng khi nó đỗ lại chờ chúng tôi, người lái không phải Gyuri mà là một gã tôi chưa từng gặp bao giờ, có kiểu tóc trông như được cắt trong nhà tù nhốt người say và đôi mắt xanh Bắc cực xuyên thấu.
Boris giới thiệu đôi bên bằng tiếng Nga. “Privet! Myenya zovut Anatoly[157]” gã kia nói, chìa bàn tay kín những vết tròn và sao màu chàm như hoa văn trên trứng Phục sinh Ukraina.
“Anatoly?” tôi thận trọng đáp. “Ochyen priyatno[158]?” Một tràng tiếng Nga trả lời, mà tôi không hiểu một chữ, đành quay sang Boris tuyệt vọng.
“Anatoly,” Boris khoan khoái nói, “không biết một chữ tiếng Anh. Phải không hả, Toly?”
Đáp lại, Anatoly chỉ giương mắt nhìn chúng tôi nghiêm nghị trong kính chiếu hậu và làm thêm một bài diễn văn nữa. Những vết xăm trên khớp ngón tay của anh ta là một thứ mã hiệu trong tù, tôi tin chắc: các vòng mực ám chỉ thời gian kết án, thời gian đã ngồi, thời gian được đánh dấu từng nấc một như vòng tuổi trên cây.
“Nó nói mi nói giỏi,” Boris mỉa mai nói. “Được dạy dỗ phép lễ độ cẩn thận.”
“Gyuri đâu?”
“À - ảnh bay qua đó hôm qua,” Boris nói. Lục lọi túi ngực áo vét.
“Qua đó? Qua đâu?”
“Antwerp.”
“Tranh của tao ở đó à?”
“Không.” Boris đã lấy ra hai tờ giấy trong túi, liếc qua trong ánh sáng yếu trước khi đưa cho tôi một tờ. “Nhưng căn hộ của tau ở Antwerp, xe cũng thế. Gyuri đi lấy xe và vài thứ, sẽ lái đến đón chúng mình.”
Giơ tờ giấy lên ánh sáng, tôi thấy đấy là bản in vé điện tử:
ĐÃ XUẤT VÉ
DECKER/THEODORE DL2334
NEWARK LIBERTY INTL (EWR)
đến AMSTERDAM, HÀ LAN (AMS)
GIỜ LÊN MÁỴ BAY 12:45 AM
THỜI GIAN BAY 7 GIỜ 44 PHÚT
“Từ Antwerp tới Amsterdam chỉ mất ba tiếng lái xe,” Boris nói. “Chúng mình sẽ tới Schiphol gần như cùng lúc - tau có thể sau mi một tiếng - tau nói Myriam đặt vé hai chuyến khác nhau. Tau còn quá cảnh qua Frankfurt. Mi bay thẳng.”
“Đêm nay à?”
“Ừ - ờ, mi thấy đấy, không còn nhiều thời gian…”
“Thế sao tao lại phải đi?”
“Vì có thể tau sẽ cần người giúp, mà tau không muốn đem theo ai khác vào vụ này. À - có Gyuri. Nhưng cả Myriam tau cũng không nói mục đích chuyến đi. Ồ, tất nhiên, tau có thể nói,” nó ngắt lời tôi. “Chỉ có điều, càng ít người biết càng hay. Dù sao thì mi cũng phải chạy vào lấy hộ chiếu và tiền đi, có bao nhiêu lấy bấy nhiêu. Toly sẽ đưa chúng mình ra Newark. Tau…” nó vỗ vào cái vali nhỏ gọn, mà tôi chỉ vừa liếc thấy ở ghế sau “tau thì đầy đủ hết rồi. Sẽ đợi mi trong xe.”
“Còn tiền thì sao?”
“Có nhiêu lấy đó.”
“Đáng ra phải báo tao trước.”
“Không cần. Tiền à…” nó đang lần sờ tìm thuốc “à, tau sẽ không bắt mi phải vét kho đâu. Mi có bao nhiêu, hoặc tiện lấy bao nhiêu cũng được. Vì không quan trọng, chỉ để làm hàng thôi.”
Tôi tháo kính, lau vào tay áo. “Nghĩa là sao?”
“Nghĩa là…” gõ gõ khớp ngón tay vào cạnh đầu, cử chỉ ngày xưa, đầu đất - “nghĩa là tau định trả tiền, nhưng không trả hết số yêu cầu. Thưởng cho chúng nó đã ăn cắp của tau ấy à? Vì làm thế thì có gì ngăn cản chúng nó lại cướp của tau bất cứ khi nào muốn? Điều đấy dạy cho nó bài học gì đấy? ‘Thằng này yếu rớt’ ‘Mình muốn làm gì nó cũng được.’ Nhưng…” giật chân bắt tréo nhau, lần khắp người tìm bật lửa “tau muốn chúng nó nghĩ mình sẵn sàng trả đủ. Có thể mi muốn ghé vào máy nào rút tiền, có thể trên đường hay đến sân bay cũng được. Trông sẽ đẹp, tiền mới ấy. Tau nghĩ chắc là chỉ được phép mang vào mười ngàn đơn vị tiền, ở EU…? Nhưng tau sẽ buộc chỗ còn lại bỏ trong cặp. Hơn nữa…” - chìa thuốc cho tôi - tau nghĩ bắt mi chi hết toàn bộ là không thỏa đáng. Tau sẽ đưa thêm khi nào chúng mình qua đó. Coi như tặng mi. Và séc nữa - ít nhất thì cũng là séc dỏm - chi phiếu dỏm, ngân phiếu dỏm. Nhà băng ma dưới Trung Mỹ. Trông rất đẹp, trông xịn lắm. Tau không biết phần đó có suôn sẻ không. Chúng mình phải tùy cơ ứng biến thôi. Không ai có đầu óc mà lại nhận chi phiếu thay tiện đổi lấy một món thế này! Nhưng tau nghĩ là chúng nó thiếu kinh nghiệm, tuyệt vọng nữa, nên là…” - nó bắt tréo ngón tay - “tau vẫn hy vọng. Rồi xem!”
II
TRONG KHI ANATOLY cho xe vòng quanh khối nhà thì tôi chạy vào cửa hiệu, chộp lấy tất cả số tiền chưa gửi nhà băng mà không thèm đếm, đâu như khoảng mười sáu nghìn. Rồi tôi chạy lên nhà và trong khi Popper đi lại, lượn vòng, ư ử lo lắng, quẳng đồ vào túi: hộ chiếu, bàn chải, dao cạo, tất, đồ lót, cái quần dài vía đầu tiên tôi thấy, vài chiếc sơ mi dự trữ, áo len. Cái hộp Redbreast Flake ở dưới đáy ngăn để tất, tôi cũng chộp lấy và rồi buông ra, rồi dập ngăn kéo vào thật vội.
Trong lúc tôi vội vàng chạy qua hành lang, con chó sát gót, đôi bốt Hunter của Pippa ở ngoài cửa phòng ngủ khiến tôi dừng phắt lại: màu xanh lá sáng mùa hè của nó trong óc tôi hòa lẫn với cô, và với hạnh phúc. Trong một lúc tôi dừng chân, lưỡng lự. Rồi tôi trở lại phòng, lấy cuốn Ozma xứ Oz ấn bản đầu tiên và viết lời nhắn thật nhanh để không có thời gian đổi ý. Đi an toàn nhé. Tớ yêu cậu. Thật đấy. Tôi thổi cho khô rồi nhét vào cuốn sách, đặt sách trên sàn cạnh đôi bốt. Khung cảnh trên thảm lúc này (Thành phố Ngọc Lục Bảo, đôi ủng xanh, màu của Ozma) trông như thể tôi vừa rơi trúng một bài haiku hay một tập hợp chữ hoàn thiện để giải thích cho cô hiểu cô là như thế nào với tôi. Trong một giây tôi đứng im phăng phắc, đồng hồ tích tắc, những ký ức đã nhấn chìm từ thơ ấu, cửa mở ra để lộ những giấc mơ xưa sáng ngời có chúng tôi đi dạo cùng nhau trên thảm cỏ mùa hè - rồi, quả quyết, quay lại phòng lấy chuỗi vòng cổ đã réo gọi tôi trong phòng trưng bày ở nhà đấu giá, hô tên cô: nhấc khỏi cái hộp nhung màu lam tím và nhẹ nhàng vắt lên một chiếc bốt, để một vệt vàng hứng ánh sáng. Topaz, thế kỷ 18, chiếc vòng xứng với một nữ hoàng tiên có ba viên đá treo vào chiếc nơ khảm kim cương, những viên đá to đùng, trong vắt màu mật ong: đúng sắc độ mắt cô. Khi tôi quay đi, tránh nhìn bức tường toàn ảnh cô trước mặt, rồi vội vàng chạy xuống nhà, cảm giác trong tôi là nỗi kinh hoảng pha sướng ngất thời thơ ấu khi vừa ném hòn đá vào cửa kính. Hobie sẽ biết đích xác cái vòng trị giá bao nhiêu. Nhưng tới khi Pippa tìm thấy nó, cùng lời nhắn, tôi đã đi xa rồi.
III
CHÚNG TÔI ĐI TỪ HAI NHÀ GA KHÁC NHAU, nên đã chia tay trên vệ đường nơi Anatoly thả tôi xuống. Cánh cửa kính trượt ra với một tiếng gió hầu như không nhận thấy. Vào trong, qua cửa an ninh, qua mặt sàn sáng bóng cửa sảnh đi trước bình minh, tôi nhìn các màn hình rồi đi qua những cửa hàng tối đèn, cửa sắt an ninh buông kín, Brookstone, Tie Rack, xúc xích Nathan, nhạc thập niên 70 réo rắt dần lọt vào ý thức (tình yêu… tình yêu cho ta bên nhau… nghĩ về anh em nhé…) qua những cổng ra máy bay lạnh lẽo yêu ma, chăng dây và vắng vẻ ngoại trừ bọn trẻ lứa tuổi sinh viên nằm duỗi dài trên bốn ghế một lúc gà gật ngủ, qua quán bar lẻ loi còn mở cửa, quán kem sữa chua lẻ loi, cửa hàng miễn thuế lẻ loi nơi tôi, theo lời khuyên nhắc đi nhắc lại và có phần nài nỉ của Boris, ghé vào mua một chai vodka (“cứ mua đi cho chắc ăn… cồn chỉ có trong các hiệu do nhà nước quản thôi… có thể mi sẽ cần hai chai đấy”) rồi tới tận cùng, tới cổng ra máy bay của tôi, đông đặc, toàn những gia đình dân tộc thiểu số thẫn thờ, những dân du lịch bụi ngồi khoanh chân trên sàn, và những doanh nhân mùi khét, mặt nhờn mỡ ngồi gõ laptop, dáng điệu như thể đã quen trò này rồi.
Máy bay kín chỗ. Lê chân bước, đám đông chen lấn giữa lối đi (hạng thường, chính giữa hàng năm ghế), tôi tự hỏi làm thế nào mà Myriam kiếm nổi vé cho tôi. May là tôi đang mệt tới mức chẳng muốn nghĩ thêm gì nữa, và đã ngủ thiếp hầu như từ trước khi đèn cài dây an toàn đã tắt, bỏ qua đồ uống, bỏ qua bữa tối, bỏ qua hết các phim chiếu trong chuyến bay, chỉ thức dậy khi tấm che cửa sổ đã đẩy lên khiến ánh sáng tràn ngập khoang và cô tiếp viên đẩy xe đồ ăn mang tới những suất ăn sáng gói sẵn: những chùm nho để lạnh, những cốc nước hoa quả để lạnh, những bánh sừng bò béo mỡ, vàng như lòng đỏ trứng quấn màng bọc, và hỏi chúng tôi muốn cà phê hay chè.
Chúng tôi đã hẹn gặp ở nơi lấy hành lý. Các doanh nhân lặng lẽ nhấc vali rồi ù té chạy tới các buổi họp, các kế hoạch marketing, các người tình, ai biết? Những đứa nhãi bốc mùi cần, dán hình cầu vồng trên ba lô hò hét xô đẩy nhau, tìm cách chộp lấy những túi du lịch không phải của mình và cãi nhau xem đâu là quán cà phê phục vụ hút cỏ từ sáng sớm ngon nhất nên đến - “chúng mày ạ, phải đến Chim Xanh, thề đấy…”
“Không, chờ tí - Haarlemmerstraat? Không, tao chắc luôn, tao còn viết lại rồi mà? Trên tờ này? Không, từ từ đã chúng mày ơi, chúng mình đi thẳng ra đấy đi? Tao không nhớ tên nhưng nó mở sớm lắm mà còn có bữa sáng hơi bị chuẩn? Mà còn có thể gọi bánh xèo và OJ và Apollo 13[159] và hút ngay tại bàn?”
Cả lũ hùng dũng đi, phải đến mười lăm hai mươi đứa, phởn phơ, tóc mượt, cười giỡn oang oang, vừa xốc ba lô vừa tranh cãi xem đi xe gì vào thành phố rẻ nhất. Dù không ký gửi hành lý, tôi cũng đứng ở nơi nhận hơn một tiếng, nhìn một cái vali quấn bọc chằng chịt ủ rũ quay hết vòng này đến vòng khác cho tới khi Boris xuất hiện sau lưng, chào hỏi bằng cách vung tay kẹp lấy cổ tôi ghì xuống và tìm cách đạp lên gót giày tôi.
“Đi nào,” nó nói, “trông mi tã quá. Kiếm cái gì ăn đi, rồi nói chuyện! Gyuri cho xe chờ sẵn ngoài kia rồi.”
IV
KHÔNG HIỂU SAO TÔI không hề chờ đợi thấy một thành phố đã hóa trang đỏm dáng đón Giáng sinh: những cành thông và trang kim, những đồ trang trí hình sao ngàn cánh trên các cửa sổ và cơn gió buốt phả tới trên các kênh và lửa và những quầy hàng lễ và những người đi xe đạp, đồ chơi và kẹo và màu sắc, cảnh lộn xộn và óng ánh ngày lễ. Chó con, trẻ con, những kẻ buôn chuyện cùng những kẻ đứng hóng cùng những kẻ mang vác, những chú hề đội mũ quả dưa mặc áo đại cán quân đội, một chú làm xiếc nhỏ con nhảy nhót mặc áo quần Giáng sinh như trong tranh Avercamp. Tôi vẫn còn chưa tỉnh hẳn, và tất cả mọi thứ trước mắt dường như cũng chẳng thật hơn giấc mơ ngắn ngủi về Pippa trên máy bay, khi tôi bắt gặp cô trong công viên giữa bao nhiêu đài nước cao vút với một hành tinh đeo đai như sao Thổ treo thấp đường bệ trên bầu trời.
“Nieuwmarkt[160],” Gyuri nói khi chúng tôi đâm ra một khu đất lớn có một lâu đài cổ tích đủ cả tháp, và xung quanh, một chợ trời, những bó cành thường xanh đọng chút tuyết, những người bán đi găng to bự đang dậm chân, như một bức tranh minh họa sách thiếu nhi. “Hô, hô, hô.”
“Lúc nào cũng có cả đống cảnh sát,” Boris cau có nói, trượt dài đập vào cửa khi Gyuri ngoặt gấp.
Vì nhiều lý do mà tôi rất quan ngại về vấn đề chỗ ở, và sẵn sàng xin kiếu nếu tình hình đến mức chiếm dụng nhà hoang hay là ngủ trên sàn nhà. May thay Myriam đã đặt phòng cho tôi tại khách sạn là một ngôi nhà ống bên kênh ở khu phố cổ. Tôi vứt túi, bỏ tiền vào két khóa lại rồi trở ra phố gặp Boris. Gyuri đã đi cất xe.
Nó thả điếu thuốc xuống mặt đường lát đá, nghiến nát dưới gót chân. “Tau không đến đây cũng khá lâu rồi,” nó nói, hơi thở bay ra trắng xóa, trong lúc đưa mắt đánh giá những người đi bộ ăn mặc đứng đắn trên đường. “Căn hộ Antwerp của tau - hừm, tau đến Antwerp đều vì công việc. Cũng là thành phố xinh đẹp lắm - cũng mây biển, ánh sáng như thế này. Rồi hôm nào đó chúng mình sẽ đến đấy. Nhưng tau cũng toàn quên là ở đây thích ghê nơi. Mi đói mềm chưa hửm?” nó nói và thụi vào tay tôi. “Có phiền nếu đi quanh một chút không?”
Trên những phố hẹp chúng tôi thơ thẩn, những ngõ hẻm ẩm ướt không đủ đi xe, những cửa hàng nhỏ màu hoàng thổ váng vất khói sương đầy tranh in cũ và đồ gốm sứ bắt bụi. Cầu đi bộ qua kênh: nước nâu, vịt nâu trơ trọi. Cốc nhựa nửa chìm nửa nổi dập dềnh. Gió rát ướt, mưa đá như những mũi kim chích, quảng trường quanh chúng tôi có vẻ thật ẩm và chật chội. Mấy kênh này không đóng băng mùa đông ư? Tôi hỏi.
“Có, nhưng…” quẹt mũi “do trái đất nóng lên, chắc vậy.” Mặc cái áo choàng và bộ vét từ bữa tiệc đêm trước, trông nó vừa hoàn toàn lạc chỗ lại vừa ung dung như ở nhà. “Thời tiết chó má! Chúng mình tạt vào đây tí? Mi thấy sao?”
Quán bar, hay cà phê, hay gì cũng được bẩn thỉu ven kênh chơi gỗ tối màu và phong cách hải dương, mái chèo, phao cứu sinh, nến đỏ cháy chập chờn giữa ban ngày và cảm giác sương khói hoang hoải tuyệt vọng. Ánh sáng khói xông, ẩm ướt. Nước đọng thành giọt nhỏ bên trong cửa kính. Không có thực đơn. Tít trong cùng có một bảng phấn viết loằng ngoằng những thứ đồ ăn tôi không hiểu nổi: dagsoep, draadjesvlees, kapucijnerschotel, zuurkoolstamppot.
“Đây, để tau gọi cho,” Boris nói, rồi gọi món - bằng tiếng Hà Lan, thật kinh ngạc. Sản phẩm đưa đến là một bữa ăn đặc trưng Boris, gồm bia, bánh mì, xúc xích, khoai tây với thịt lợn và dưa cải sauerkraut. Boris, vui vẻ nhồm nhoàm - đang hồi tưởng về lần đầu tiên và duy nhất cố đi xe đạp trong thành phố (đâm sầm vào nhau, một thảm họa) cũng như về việc cá trích mới ở Amsterdam ngon lắm, nhưng may là không phải mùa vì có vẻ người ta ăn bằng cách nắm đuôi giơ lên rồi thả lủng lẳng dần xuống miệng, nhưng tôi còn quá mất phương hướng trước khung cảnh xung quanh nên không để ý nghe được, và với mọi giác quan sắc bén đến gần như đau đớn tôi cầm nĩa vần mớ khoai tây hổ lốn trên đĩa và cảm thấy tính xa lạ của thành phố này tấn công mình từ khắp phía, các loại mùi thuốc lá hay mạch nha hay nhục đậu khấu, những tường quán màu nâu sầu muộn như một cuốn sách bìa da, và xa hơn nữa, những lối đi tối và nước mằn mặn vỗ nhẹ, tầng trời thấp và nhà cửa cũ cứ dựa vào nhau, dáng vẻ ủ dột, thi ca, gần như sắp rơi qua bờ vực của sự tiêu diệt, vẻ cô đơn lát đá của một thành phố cho cảm giác - ít ra đối với tôi - như một nơi người ta đến hòng cho nước khép lại trên đầu mình.
Một chốc sau Gyuri đã tới nhập bọn, má đỏ hồng, hụt hơi. “Đỗ xe - ở đây hơi khó,” anh ta nói. “Xin lỗi.” Anh ta chìa tay cho tôi. “Mừng gặp lại anh!” anh ta nói và ôm lấy tôi với vẻ ấm áp xem ra là chân thực, như thể tôi là người bạn cũ bấy lâu xa cách, khiến tôi giật mình. “Mọi chuyện ổn cả chứ?”
Boris, lúc này đã sang vại thứ hai, đang mải chuyện về Horst. “Tau không hiểu sao lão không chuyển đến Amsterdam,” nó nói trong lúc hân hoan gặm một cục xúc xích. “Suốt ngày than thở về New York! Ghét ghét ghét! Thế mà từ bao giờ rồi…” vẫy tay về phía con kênh ngoài cửa sổ mờ đục “mọi thứ lão ta yêu đều ở đây. Ngay cả ngôn ngữ cũng là ngôn ngữ của lão. Nếu lão thực tình muốn vui vẻ sống trên đời, Horst ấy? Muốn có một cuộc sống vui tươi hạnh phúc kiểu gì đó? Lão nên bỏ hai xịch quay lại cái chỗ cai độc nhanh rồi đến đây hút Buddha Haze[161] và đứng trong bảo tàng cả ngày.”
“Horst…?” tôi hỏi, nhìn từ người này qua người kia.
“Sao?”
“Anh ta có biết hai người ở đây không?”
Boris nuốt ực ngụm bia. “Horst hả? Không. Không biết. Dễ dàng hơn rất rất nhiều nếu Horst chỉ biết vụ nầy khi đã xong. Bởi vì…” liếm một đụn mù tạc trên ngón tay “tau nghi trúng phóc. Thằng Sascha chết giẫm ăn trộm cái đó. Em trai Ulrika,” nó sôi nổi nói. “Như vậy là ả Ulrika đẩy Horst vào thế bất lợi. Thế nên - tốt hơn nhiều nếu tau tự xử vụ này, hiểu không? Tau làm thế là giúp Horst đấy và lão không quên ơn đâu.”
“Mày nói ‘xử vụ này’ là sao?”
Boris thở dài. “Vụ này…” Nó nhìn quanh cho chắc không có ai nghe lỏm, dù trong quán chỉ có đúng ba chúng tôi “ừm, vụ này phức tạp lắm, tau nói ba ngày cũng chưa hết, nhưng tau cũng chỉ cần ba câu là nói xong.”
“Ulrika có biết nó lấy không?”
Mắt đảo tròn. “Biết chết liền.” Một câu tôi đã dạy Boris từ rất lâu, khi đùa giỡn ở nhà tôi sau giờ học. Biết chết liền. Nghỉ đi. Chiều tà sương khói sa mạc, rèm kéo xuống. Chốt hạ xem nào. Nói luôn cho vuông. Quên khẩn trương. Cũng bóng tối ấy trên mặt nó. Ánh sáng vàng nảy trên khung cửa ra hồ bơi.
“Tôi nghĩ Sascha sẽ phải ngu lắm mới đi nói với Ulrika,” Gyuri nói, vẻ mặt ra chiều lo lắng.
“Tau không biết Ulrika biết gì hay là không biết gì. Không quan trọng. Ả trung thành với em trai hơn với Horst, điều này ả đã chứng tỏ quá nhiều lần rồi. Cứ tưởng rằng…” oai vệ làm hiệu với cô phục vụ mang một vại cho Gyuri “cứ tưởng rằng Sascha sẽ khôn ngoan mà ngồi chờ ít nhất cũng một chốc! Nhưng không. Nó không đem tranh đi vay được ở Hamburg hay Frankfurt vì có Horst - vì Horst sẽ được bán tin tức khắc. Thế là nó mang đến đây.”
“Ơ này, nếu mày biết ai đang giữ nó thì chúng ta gọi cảnh sát là xong.”
Sự im lặng và vẻ ngơ ngác tiếp theo sau khiến tôi cảm giác mình vừa lôi ra một can xăng, đề nghị tự thiêu cả lũ.
“Ờ, tức là,” Tôi tìm cách chữa lại, sau khi cô phục vụ đã mang bia đến cho Gyuri, đặt xuống, lại bỏ đi, mà cả Gyuri lẫn Boris đều, chưạ hề nói lời nào “Không phải đấy là cách an toàn nhất à? Dễ nhất nữa? Cảnh sát lấy lại được mà mày không phải nhúng tay vào đó?”
Tiếng chuông xe đạp keng, người đàn bà phi qua lanh canh trên vỉa hè, nan hoa xành xạch, áo choàng đen phù thủy tung bay.
“Vì…” liếc từ người này qua người kia “nếu mày thử nghĩ xem bức tranh đã trải qua những gì - hẳn đã trải qua những gì - tao không biết mày có hiểu không, Boris ạ, rằng người ta phải cẩn trọng thế nào ngay trong việc vận chuyển một bức tranh? Ngay trong việc đóng gói nó tử tế? Vì sao phải liều?”
“Tau chính là nghĩ thế.”
“Gọi điện nặc danh. Cho đám điều tra tội phạm nghệ thuật ấy. Họ không giống cảnh sát bình thường - không liên hệ gì với đám cảnh sát bình thường - họ chỉ quan tâm đến bức tranh thôi. Họ biết phải làm gì.”
Boris ngả người ra sau ghế. Nó nhìn quanh, rồi nó nhìn tôi.
“Không,” nó đáp. “Đấy không phải ý hay.” Nó nói với giọng giảng giải cho một đứa bé lên năm. “Và mi có muốn biết vì sao không?”
“Mày nghĩ đi. Đây là cách dễ nhất. Mày sẽ không phải động tay động chân tí nào.”
Boris thận trọng đặt cốc bia xuống.
“Họ có nhiều khả năng mang được bức tranh về không suy suyển nhất. Hơn nữa, nếu tao làm việc đó - nếu tao gọi cho họ - mẹ khỉ, tao có thể bảo Hobie gọi cho họ cũng được…” bưng hai tay lên đầu “có xoay chuyển cách nào thì cũng không phải mày bị đặt vào thế nguy hiểm. Tức là…” - tôi đang quá mệt, quá hoang mang: hai cặp mắt như hai mũi khoan Dremel, không nghĩ được “nếu là tao làm việc đó, hoặc ai khác không thuộc vào - ờ - tổ chức của mày…”
Boris hú lên cười, “Tổ chức? À…” lắc đầu quầy quậy đến nỗi tóc rũ cả vào mắt “tau nghĩ cũng có thể coi bọn tau là tổ chức gì đó được, vì có tận ba người hoặc hơn…! Nhưng bọn tau không đông lắm, mà cũng không được tổ chức tốt lắm đâu, mi thấy đấy.”
“Anh nên ăn gì đó đi,” Gyuri báo tôi, trong quãng lặng căng thẳng nối tiếp đó, khi nhìn xuống đĩa thịt lợn, khoai tây còn nguyên trước mặt tôi. “Anh ấy nên ăn,” anh ta bảo Boris. “Bảo anh ấy ăn đi.”
“Cứ mặc nó chết đói nếu muốn. Dù sao thì,” Boris nói, xiên lấy một miếng thịt lợn trên đĩa tôi bỏ vào mồm…
“Chỉ cần một cú gọi thôi. Tao gọi cũng được.”
“Không,” Boris nói, thình lình quắc mắt và đẩy ghế ra. “Mi không được gọi. Không, không, má nó chứ, im đi, mi không được gọi,” nó nói, hếch cằm lên hung hăng khi tôi cố chen lời, tay Gyuri thình lình đặt lên cổ tay tôi, một cử chỉ tôi hiểu rất rõ, ngôn ngữ Vegas bị lãng quên xưa cũ những khi bố tôi ở trong bếp gào thét đây là nhà của ai? Ai trả tiền cho cái này?…
“Và và,” Boris oai nghiêm nói, lợi dụng một khoảng trầm trong thái độ của tôi mà nó không lường trước, “tau muốn mi thôi ngay mấy cái chuyện gọi gọi này. Gọi gọi cái con kẹc,” nó thêm, khi thấy tôi không đáp, vung vẩy tay trong không khí rất nực cười như thể “gọi” là một từ trẻ con dớ dẩn nào đó đồng nghĩa với “rồng” hay “xứ thần tiên”. “Tau biết là mi muốn giúp, nhưng đề nghị như thế chẳng giúp được gì sất. Nên quên chuyện đó đi. Đừng có gọi gọi gì nữa. Dù sao thì,” nó thân tình nói, đổ một phần cốc bia sang cốc tôi đã gần cạn. “Tau đang kể với mi đấy. Vì Sascha đang cực kỳ vội? Nó có nghĩ rành rọt không? Nó có tính trước quá một bước, hay là hai bước không? Không. Sascha là người lạ ở xứ này. Những mối quen biết ở đây có hại cho nó. Nó cần tiền. Và nó làm mọi cách để tránh xa Horst đến nỗi nó đâm sầm vào tau.”
Tôi không đáp. Tự tôi gọi cho cảnh sát là một việc rất dễ dàng. Không việc gì phải lôi Boris hay Gyuri vào đó.
“Vận may khủng khiếp, không phải sao? Và bạn chúng ta, ông người Georgia - rất giàu, nhưng cách rất xa thế giới của Horst và rất xa giới sưu tập, đến nỗi thậm chí không biết tên cái tranh. Chỉ thấy một con chim - con chim vàng nhỏ. Nhưng Anh Đào tin rằng ông ta nói thật, rằng ông ta đã thấy nó. Rất hùng mạnh trong lĩnh vực địa ốc? Ở đây và cả Antwerp? Hàng xấp tờ xanh và gần như là cha của Anh Đào, nhưng không phải người có học nếu mi hiểu ý tau.”
“Thế giờ nó ở đâu?”
Boris quẹt mũi sồn sột. “Tau không biết. Chúng nó không định nói cho ta biết, hiểu không? Nhưng Vitya đã liên lạc, bảo biết một người muốn mua. Nên đã hẹn gặp một buổi.”
“Ở đâu?”
“Còn chưa quyết. Chúng nó đã đổi chỗ đến nửa tá lần rồi. Bị hoảng mà,” nó nói vả làm điệu xoắn ngón tay quanh thái dương. “Có thể bắt ta chờ một hai ngày gì đó. Có thể ta chỉ được biết trước một tiếng.”
“Anh Đào…” tôi nói, rồi ngừng lại. Vitya là cách gọi thân mật tên tiếng Nga của Anh Đào, là Viktor - hay Victor nếu Anh hóa - nhưng còn Anh Đào thì chỉ là biệt hiệu còn Sascha tôi chẳng biết tí gì: tuổi không, họ không, dáng điệu không, không biết gì hết ngoại trừ chuyện hắn là em trai Ulrika - và cả điều này cũng khó chắc được theo nghĩa thông thường, khi Boris dùng chữ đó rất tùy tiện.
Boris mút một mẩu mỡ dính trên ngón cái. “Ban đầu ý tau là - sắp xếp gì đấy ở khách sạn của mi. Mi hiểu không - mi, người Mỹ, đại gia, để mắt đến cái tranh. Chúng nó…” nó hạ giọng khi cô phục vụ đổi cốc rỗng lấy một cốc đầy, Gyuri gật đầu lịch sự và ghé vào nghe “chúng nó sẽ đến phòng mi. Bình thường vẫn thế. Rất là làm ăn đúng mực. Nhưng…” nhún vai khó nhận thấy “chúng chưa quen làm trò này, và đang bị hoảng. Chúng nó muốn tự chọn địa điểm.”
“Địa điểm nào?”
“Chưa biết! Tau vừa nói đấy thôi! Chúng nó cứ đổi ý xoành xoạch. Nếu chúng nó muốn ta đợi - thì ta đợi. Phải để chúng nó tưởng mình là chúa. Bây giờ, xin lỗi,” nó nói, vươn vai và ngáp dài, đưa đầu ngón tay dụi con mắt thâm quầng, “tau mệt rồi! Muốn chợp mắt!” Nó quay sang Gyuri nói gì đó bằng tiếng Ukraina, rồi quay lại tôi. “Xin lỗi,” nó ghé lại quàng tay qua vai tôi. “Mi tự tìm đường về khách sạn được chứ?”
Tôi cố gỡ mình ra mà không quá lộ liễu. “Được. Mày ở đâu?”
“Căn hộ của bạn gái - Zeedijk.”
“Gần Zeedijk,” Gyuri nói, quả quyết đứng dậy, thái độ lễ độ nhưng hao hao kiểu quận đội. “Khu Phố Tàu ngày xưa.”
“Địa chỉ là gì?”
“Không nhớ. Mi biết tau mà. Tau không thể giữ trong đầu mấy thứ như địa chỉ được. Nhưng…” Boris vỗ túi “khách sạn của mi.”
“Ừ.” Hồi ở Vegas, nếu có bao giờ chúng tôi bị tách nhau ra - chạy trốn cảnh sát ở trung tâm thương mại, túi đầy những thẻ quà tặng đánh cắp - thì nhà tôi luôn luôn là điểm hẹn.
“Thế là - tau sẽ đón mi ở đấy. Mi có số tau rồi, tau có số mi. Sẽ gọi khi có gì tiếp theo. Giờ thì…” vỗ bộp vào sau gáy tôi “đừng lo lắng nữa, Potter! Đừng đứng xị cái mặt ra thế! Nếu thua, thì chúng mình thắng, và nếu thắng, chúng mình vẫn thắng! Mọi đằng đều tốt cả! Mi biết đi về lối nào, phải không? Chỉ cần đi đằng kia, rồi rẽ trái khi đến kênh Singel. Ừ, ở đó đó. Chúng mình sẽ gặp nhau sớm.”
V
TÔI RẼ NHẦM TRÊN ĐƯỜNG về khách sạn và mất vài giờ lang thang vơ vẩn, những cửa hàng treo bóng thủy tinh và những hẻm đường xám trong mơ với những cái tên không đọc nổi, những tượng Phật mạ vàng và đồ thêu Á Đông, bản đồ cổ, đàn harpsichord cổ, những cửa hiệu màu nâu xì gà đặc khói bán bát đĩa sứ và ly kim loại và những hũ ký kiểu Dresden từ xưa. Mặt trời đã lên, không khí quanh các kênh có vẻ sáng và gắt, một ánh lấp lánh hít thở được. Mòng biển lộn nhào trên trời, kêu thê thiết. Một con chó chạy qua, mồm ngậm cua còn sống. Trong trạng thái váng vất và mệt mỏi khiến tôi cảm thấy như bị tách lìa khỏi chính mình, như đang quan sát mọi sự từ xa nhìn lại, tôi bước qua những cửa hàng kẹo, những quán cà phê, những cửa hàng bán đồ chơi cổ và gạch men Delft từ thập niên 1800, những gương cổ và bạc lóe lên trong ánh nắng đượm màu rượu cô nhắc ấm cúng, những tủ ly khảm Pháp và những bàn kiểu cung đình Pháp, khắc hình dây hoa, mặt ván lạng dán đủ khiến Hobie trố mắt ngưỡng mộ - thực tế là cả cái thành phố mù sương, thân thiện, văn hóa cao này cùng những người bán hoa, những hiệu bánh, những antiekhandel[162] đều có gì đó giống Hobie, không chỉ vì đầy ắp cổ vật mà còn vì một vẻ lành mạnh rất Hobie, như là cuốn sách tranh cho trẻ vẽ những người thợ mặc tạp dề quét sàn nhà bên lũ mèo mướp ngủ gật trong khung cửa sổ đầy nắng.
Nhưng có quá nhiều điều phải xem, còn tôi thì đang ngợp và mệt lả, lại lạnh nữa. Cuối cùng, nhờ giữ người qua đường lại hỏi dường đi (những bà nội trợ má đỏ ôm hoa đẩy tay, những cậu hippie bẩn xì gà đeo kính gọng mỏng), tôi lần ngược lại những cây cầu bắc ngang kênh và trở lại những đường phố hẹp thắp đèn tiến về khách sạn, ở đó tôi lập tức đổi ít đô-la ở bàn tiếp tân, lên xả nước tắm trong phòng tắm toàn những gương cong và thiết bị xa hoa, lai giữa Art Nouveau và một tương lai lạnh lẽo kiểu khoa học giả tưởng sống trong các hộp di động, rồi thiếp ngủ, mặt úp xuống giường - ở đó tôi bị đánh thức, mấy tiếng sau, khi điện thoại, quay tít trên bàn đầu giường, tiếng réo rắt quen thuộc khiến trong phút chốc tôi ngỡ mình đang ở nhà.
“Potter?”
Tôi ngồi dậy, với lấy kính, “Ừm…” Tôi chưa kéo rèm trước khi ngủ, giờ ánh phản chiếu từ mặt kênh nhảy nhót khắp trần nhà trong bóng tối.
“Sao thế? Mi đang phê à? Đừng có bảo mi đã đi quán cà phê đấy.”
“Không tao…” Đầu váng vất, tôi hé một mắt nhìn quanh - cửa sổ mái và dầm nhà, tủ chạn và mặt dốc, và ngoài cửa sổ, khi tôi đứng dậy xoa đầu - cầu kênh thắp sáng trong những nét trang trí đá, vòm cong cong soi bóng lòng nước đen.
“Thế thì tau lên đây. Mi không có cô nào trên ấy chứ hửm?”
VI
TỪ LỄ TÂN đi lên phòng tôi phải qua hai thang máy và một quãng đi bộ, nên tôi rất ngạc nhiên khi thoắt cái đã có tiếng gõ cửa. Gyuri tế nhị đi ra cửa sổ đứng xây lưng về phía chúng tôi, trong khi Boris nhìn tôi một vòng. “Mặc đồ đi” nó nói. Tôi đang đi chân đất, mặc áo choàng ngủ của khách sạn và tóc dựng đứng vì tắm xong đi ngủ luôn. “Mi phải, chải chuốt lại. Đi - chải đầu, cạo râu đi.”
Khi tôi chui ra khỏi phòng tắm (nơi treo bộ vét để các vết nhăn giãn ra), nó bĩu môi chê bai và bình phẩm; “Mi không có món gì khá hơn à?”
“Đây là hàng Turnbull và Asser đấy.”
“Ừ, nhưng trông như mi vừa mặc đi ngủ ấy.”
“Tao đã mặc hơi lâu rồi. Tao cũng có sơ mi sạch hơn.”
“Vậy thì đổi đi.” Nó đang mở cặp táp ở đầu giường. “Lấy tiền của mi nữa, mang ra đây.”
Khi quay vào, vừa đi vừa cài nút cổ tay, tôi dừng sững giữa phòng khi thấy nó đang đứng bên giường, đầu nghiêng nghiêng, chăm chú lắp một khẩu súng ngắn: lắp kim hỏa với vẻ thành thạo rõ ràng như khi Hobie làm việc trong xưởng, kéo khóa nòng ra sau với một tiếng “cạch” mạnh và rất thực.
“Boris,” tôi nói, “cái đéo gì vậy.”
“Binh tình,” nó liếc xéo tôi nói. Đập đập túi, lấy một băng đạn ra lồng vào: tạch. “Không phải như mi nghĩ đâu. Không hề. Để lòe thôi!”
Tôi nhìn tấm lưng rộng của Gyuri, hoàn toàn bình thản, cũng cái lối điếc chuyên nghiệp mà đôi khi tôi đã sử dụng khi quay đi, trong cửa hiệu, khỏi một cặp vợ chồng cãi vã nhau xem có nên mua món này món nọ hay không.
“Chỉ là…” Nó đang tháo lắp cái gì đó tới lui trên khẩu súng, tay nhoay nhoáy, ướm thử rồi đưa lên mắt ngắm, những cử chỉ phi thực từ một tầng ngầm sâu bên trong bộ não nơi những bộ phim đen trắng chập chờn chiếu hai tư giờ một ngày. “Chúng mình sẽ gặp chúng nó trên đất chúng nó, và chúng nó có ba người. Hừ, thực ra chỉ là hai. Hai người đáng kể. Và giờ mới cho mi biết - tau đã hơi lo là Sascha có thể ở đây. Vì khi đó tau không đi với mi được. Nhưng mọi thứ đã diễn ra tuyệt hảo, nên tau ở đây rồi!”
“Boris…” Khi đứng đó, tất cả đã thình lình ập vào tôi một lúc, trong một luồng nôn nao, nhận ra mình đã lạc đường vào một thứ khốn nạn ngu xuẩn như thế nào…
“Không phải lo! Tau đã lo thay mi rồi. Bởi vì…” vỗ lên vai tôi “Sascha quá run. Nó sợ không dám thò mặt ở Amsterdam - sợ tin sẽ báo về Horst. Và nó sợ rất có lý. Và đấy là điều rất rất tốt cho chúng mình.
“Thế đấy.” Nó đóng nắp súng đánh xạch: bạc crom, đen như thủy ngân, đặc và bóng loáng đến bóp méo cả không gian quanh nó như một giọt dầu máy trong cốc nước.
“Đừng nói là mày mang nó đi nhé,” tôi nói trong khoảng im lặng không tin nổi tiếp sau đó.
“Ờ, có chứ. Để bao - chỉ bỏ trong bao thôi. Nhưng mà từ từ,” nó nói va giơ bàn tay lên, trước khi mi bắt đầu nói…” dù tôi chưa hề nói gì, chỉ đứng đó trợn mắt kinh khiếp “tau phải bảo bao nhiêu lần nữa? Chỉ là để lòe thôi.”
“Mày đùa đấy chắc.”
“Hóa trang ấy mà,” nó nói nhanh, như thể không nghe thấy tôi. “Hoàn toàn giả bộ. Để chúng nó sẽ sợ không dám hó háy gì nếu thấy tau đeo nó, hiểu chưa?” nó nói thêm, khi thấy tôi vẫn đứng chết sững. “Biện pháp an toàn thôi! Vì là, vì là,” nó nói át tôi, “mi là ông nhà giàu, còn bọn tau là vệ sĩ và tình hình là thế. Chúng nó sẽ muốn thấy cảnh ấy. Tất tả đều rất văn minh. Và nếu chúng ta sửa áo một chút…” nó đeo bao súng kín ở thắt lưng “chúng nó sẽ rất cung kính không dám giở trò gì cả. Còn nguy hiểm hơn nhiều nếu đi vào theo kiểu…” nó đảo mắt quanh phòng làm bộ một cô bé ngây ngô.
“Boris. Tôi lảo đảo, mặt tái ngắt. “Tao không làm được đâu.”
“Không được cái gì?” Nó hếch cằm nhìn tôi, “Không ra được khỏi xe và đứng cạnh tau năm phút trong khi tau lấy cái tranh khỉ gió về cho mi hả? Thế nào?”
“Không, tao nói thật đấy.” Khẩu súng nằm trên ga giường; con mắt hút ngay vào đó; nó dựờng như là kết tinh và khuếch đại của tất cả số năng lượng xấu đang ro ro trong không gian. “Tao không làm được. Nói nghiêm túc đấy. Bỏ qua chuyện này đi.”
“Bỏ qua?” Boris nhăn nhó. “Đừng có thế chứ! Mi đã mang tau đến đây chẳng vì cớ gì và giờ tau ở thế kẹt rồi. Và giờ…” vung một tay ra “vào phút chót, mi bắt đầu điều kiện này nọ và bảo ‘không an toàn, không an toàn’ và chỉ đạo tau làm này làm kia ư? Mi không tin tau à?”
“Có, nhưng…”
“Thì thế đấy. Hãy tin tau vụ này đi. Mi là người mua,” nó sốt ruột nói khi không thấy tôi trả lời. “Câu chuyện là thế. Đã dựng xong rồi.”
“Đáng ra chúng ta nên bàn qua từ trước.”
“Ồi thôi nào,” nó thốt lên bực bội, nhặt khẩu súng trên giường nhét vào bao. “Đừng có lèo nhèo với tau nữa, sẽ bị muộn mất. Mi mà ở trong phòng tắm thêm hai phút nữa thì đã không thấy gì rồi! Chẳng hề biết có vũ khí trên người tau! Vì, Potter này, nghe tau đi. Mi nghe tau một chút được không? Tất cả những gì sẽ xảy ra là thế này. Chúng ta đi vào, năm phút, đứng đứng đứng, chúng ta nói cho xong bài, chỉ nói thôi, mi lấy được cái tranh, ai cũng vui vẻ, chúng ta về rồi đi ăn tối. OK?”
Gyuri vừa từ cửa sổ nhích lại đây, đang nhìn tôi từ đầu đến chân. Cau mày lo lắng, anh ta nói gì đó với Boris bằng tiếng Ukraina. Một đoạn đối thoại không sao hiểu nổi. Rồi Boris giơ cổ tay, bắt đầu tháo đồng hồ.
Gyuri nói thêm gì đó và lắc đầu quầy quậy.
“Phải,” Boris đáp. “Anh nói phải.” Rồi nói với tôi và gật đầu: “Cầm lấy đi.”
Platinum Rolex President. Mặt số khảm kim cương. Tôi đang cố nghĩ cách nào đó từ chối lịch sự thì Gyuri tháo cái nhẫn kim cương cắt vát to khủng bố khỏi ngón út và - háo hức, như đứa bé trao món quà tự tay làm ra - đưa cả hai cho tôi trong đôi bàn tay xòe rộng.
“Phải,” Boris nói khi tôi lưỡng lự. “Ảnh nói phải. Trông mi không đủ giàu. Giá mà chúng mình chuẩn bị giày khác cho mi,” nó nói và nheo mắt chê bai nhìn đôi giày đen cài khóa dưới chân tôi “nhưng đành vậy thôi. Giờ thì ta sẽ để tiền trong túi này…” quai da, chất đầy những cọc tiền bên trong “rồi đi.” Bàn tay khéo léo thoăn thoắt, như cô hầu phòng soạn giường. “Những tờ to nhất lên trên cùng. Cả đống tờ trăm hấp dẫn. Đẹp rồi.”
VII
NGOÀI PHỐ: cảnh huy hoàng và mê man mùa lễ. Bóng đèn nhảy nhót, lấp lánh trên mặt nước đen: mái vòm chăng dây bên trên phố, những chuỗi đèn trên các thuyền qua kênh.
“Tất cả sẽ trơn tru êm ả thôi,” Boris nói, chuyển kênh radio qua Bee Gees, qua tin tức tiếng Hà Lan, tiếng Pháp, cố tìm một bài hát. “Tau đang đặt hy vọng vào việc chúng nó cần tiền thật nhanh. Càng chóng tống được cái tranh - càng ít nguy cơ đụng đầu Horst. Chúng nó sẽ không quá săm soi mấy tờ séc hay chi phiếu đâu. Chỉ thấy con số sáu trăm ngàn mà thôi.”
Tôi đang ngồi một mình ở băng sau bên túi tiền. (“Vì, thưa anh, anh phải quen làm người khách khả kính!” Gyuri đã nói vậy khi đi vòng qua mở cửa ghế sau xe cho tôi.)
“Mi hiểu không - điều tau hy vọng sẽ lừa được nó - chi phiếu thì cực kỳ hợp pháp,” Boris vẫn nói “Séc cũng vậy. Chỉ có ngân hàng là dỏm thôi. Anguilla. Người Nga ở Antwerp - cả ở đây nữa, trên Phố P. C. Hooftstraat - họ đến đầu tư, rửa tiền, mua tranh tượng, ha! Ngân hàng này vẫn ổn sáu tuần trước, nhưng giờ thì không ổn.”
Chúng tôi đã đi qua các kênh, đi qua dòng nước. Trên phố: các thiên thần đèn tuýp đủ màu, khuất bóng, vươn ra từ những nóc tòa nhà như tượng mũi tàu. Kim sa lam, kim sa trắng, đèn pha màu, từng chuỗi đèn trắng và sao Giáng sinh, chói lọi, không cách nào xuyên thủng, cũng xa lạ với tôi chẳng khác gì viên kim cương không tưởng đang lấp lánh trên ngón út tôi.
“Thế này, tau cần bảo với mi là,” Boris đã quên bẵng cái radio, quay xuống nói với tôi ở ghế sau, “tau muốn bảo mi đừng có lo. Thề bằng cả trái tim,” nó nói, mày nhíu lại, với tay lắc vai tôi động viên. “Mọi thứ ổn cả.”
“Ngon lành cành đào!” Gyuri nói và cười tươi rói trong gương chỉếu hậu, rất vui vì đã nhớ được chữ đó.
“Kế hoạch đây. Mi muốn biết không?”
“Tao đoán là tao phải bảo có thôi.”
“Chúng mình sẽ bỏ xe. Ở ngoài thành phố một tẹo. Rồi Anh Đào sẽ đón mình ở điểm đó, rồi chở mình tới chỗ hẹn bằng xe nó.”
“Và tất cả sẽ êm như ru.”
“Tất nhiên rồi. Và tại sao? Mi có tiền mặt! Chúng nó chỉ cần thế thôi. Trừ đi chỗ séc khống, vẫn lời chán. Bốn mươi nghìn đô-la mà hầu như chẳng phải động tay? Không mấy! Sau đó - Anh Đào sẽ trả chúng mình lại ga ra, với cái tranh - và rồi - chúng mình đi ăn! Đi ăn mừng!”
Gyuri lầu bầu gì đó.
“Ảnh than phiền vụ ga ra. Kể cho mi biết thôi. Ảnh nghĩ đấy là ý tồi. Nhưng - tau không muốn đi bằng xe tau, mà chúng mình tuyệt đối không nên ăn vé phạt trong tình cảnh này.”
“Hẹn ở đâu?”
“Dào - hơi đau đầu. Phải đi ra ngoài thành phố rồi quành lại. Chúng nó khăng khăng đòi ở chỗ nó và Anh Đào cũng đồng ý vì - chà, thật đấy, thế tốt hơn. Ít nhất ở đất chúng nó sẽ không lo bị cớm xía vô.”
Chúng tôi đã ra đến một đoạn đường hiu quạnh hơn, thẳng và cô độc, xe cộ thưa thớt còn đèn đường cách xa nhau, và tiếng động cùng ánh lấp lánh tràn sinh lực của thành phố cổ, những vòm cửa đá thắp sáng, cái cấu trúc ngầm bên trong của nó - giày trượt bạc, lũ trẻ con vui vẻ dưới gốc cây - đã nhường chỗ cho vẻ trơ trụi thị thành quen thuộc: Fotocadeau, Locksmith Sleutelkluis[163], những biển bằng tiếng Ả rập, Shoarma, Tandoori Kebab, cổng khóa chặt, mọi thứ đóng kín.
“Đây là Overtoom,” Gyuri nói. “Không hẳn thú vị hay dễ chịu.”
“Đây là ga ra gửi xe của Dima đệ tau. Nó đã treo biển Hết chỗ để đêm nay không ai quấy rầy. Chúng mình sẽ ở khu dài hạn - á,” nó hét lên, “blyad,” khi một cái xe tải bấm còi ông ổng không biết từ đâu tạt vào trước mũi xe, khiến Gyuri phải quành và đạp phanh gấp.
“Thỉnh thoảng người ở đây hơi hung hăng mà chẳng để làm gì,” Gyuri u ám nói khi bật xi nhan và rẽ vào ga ra.
“Đưa tau hộ chiếu của mi,” Boris nói.
“Tại sao?”
“Tại vì, tau sẽ khóa chặt nó trong ngăn để đồ chờ khi chúng mình về. Tốt hơn không giữ trên người, để phòng có chuyện. Tau cũng bỏ của tau nữa,” nó giơ lên cho tôi thấy, “Cả Gyuri nữa. Gyuri công dân Mỹ lương thiện sinh quán đàng hoàng - phải,” nó nói, bất kể Gyuri cười lớn phản đối, “với bọn mi thì hay rồi, nhưng còn tau? hộ chiếu Mỹ rất rất khó kiếm, và tau thực không muốn mất tí nào. Mi biết mà, phải không Potter,” nó nói và nhìn tôi, “rằng bây giờ luật Hà Lan buộc mang theo giấy tờ tùy thân mọi nơi mọi lúc? Kiểm tra ngẫu nhiên trên đường - không có bị phạt. Nghĩ coi - Amsterdam? Nhà nước cảnh sát gì đây chứ? Ai mà tin được? Ở đây? Tau - chưa bao giờ. Ngàn năm nữa cũng không. Nhưng mà…” - đóng rồi khóa ngăn để đồ - “bị phạt rồi nói xàm cho qua còn hơn để đồ xịn trên người nếu bị giữ lại.”
VIII
TRONG GA RA GỬI XE, giữa luồng đèn xanh ô liu chập chờn, rất sầu thảm, còn một vài chỗ trống trong khu vực gửi dài hạn dù có biển Hết chỗ. Trong lúc chúng tôi nhích vào chỗ, một người đàn ông mặc áo vét dày tựa vào chiếc Range Rover trắng ném điếu thuốc vào một đụn xỉ màu da cam rồi đi lại gần xe chúng tôi. Đường chân tóc đang hói, đôi mắt kính phi công đen và thân mình quân đội rắn chắc khiến ông ta có cái vẻ sương gió của một cựu phi công, một kẻ quản lý những thiết bị tinh xảo trong một khu thí nghiệm nào đó miền Ural.
“Victor,” ông ta nói khi chúng tôi đã ra khỏi xe, bóp muốn nát tay tôi trong tay mình. Gyuri và Boris được một cái đập mạnh trên vai. Sau những mào đầu căng thẳng bằng tiếng Nga, một cậu thiếu niên mặt bột tóc xoăn tít trèo ra khỏi buồng lái và được Boris chào bằng cái vỗ nhẹ vào má cùng một điệu huýt sáo bảy nốt véo von: Trên chiếc thuyền Kẹo Mút xinh tươi[164].
“Đây là Shirley T,” nó bảo tôi và xoa những lọn tóc quăn mù. “Shirley Temple. Bọn tau ai cũng gọi nó như thế - vì sao? Mi đoán được không?” - cười lớn trong lúc thằng nhóc không cưỡng được, cũng cười theo bối rối, lộ hai bên lúm đồng tiền sâu tít.
“Đừng để vẻ ngoài đánh lừa,” Gyuri nhỏ giọng bảo tôi. “Shirley trông như bé con nhưng cũng có chí khí như bất kỳ ai trong chúng ta ở đây.”
Lễ độ, Shirley gật đầu chào tôi - cậu ta có biết tiếng Anh không? Xem ra là không - và mở cửa sau chiếc Range Rover cho cả ba trèo vào - Boris, Gyuri, tôi - trong lúc Victor Anh Đào ngồi đằng trước, nói chuyện với chúng tôi từ ghế lái phụ.
“Cái này dễ hiểu thôi,” ông ta nói với tôi rất trịnh trọng khi xe rời khỏi ga ra, lùi lại trên Phố Overtoom. “Hoàn toàn chỉ là cầm đồ.” Nhìn gần mặt ông ta rộng và có vẻ hiểu biết, cái miệng nhỏ nghiêm nghị và vẻ nhăn nhó cảnh giác khiến tôi có bớt phần kích động vì cái logic của buổi tối hôm ấy, hay đúng ra là cái thiếu logic của buổi tối hôm ấy: vụ đổi xe, vụ thiếu phương hướng và thông tin, vẻ ngoại quốc ác mộng. “Chúng ta đang làm ơn cho Sascha, và vì thế? Nó sẽ ăn ở tử tế với chúng ta.”
Những nhà dài và thấp. Ánh đèn rời rạc. Có cảm giác chuyện này không thực sự xảy ra, có cảm giác nó đang xảy ra với ai đó chứ không phải tôi.
“Vì Sascha có đi vào ngân hàng mượn tiền bằng cái tranh đó được không?” Victor đang giảng giải rất mô phạm… “Không. Sascha có đi vào hiệu cầm đồ mượn tiền bằng cái tranh đó được không? Không. Sascha do hoàn cảnh của vụ trộm có đi gặp bất kỳ mối quen cũ nào qua Horst mượn tiền bằng cái tranh đó được không? Không. Vì thế Sascha cực kỳ mừng khi xuất hiện ông người Mỹ bí ẩn - là anh - do tôi dắt dây cho.”
“Sascha bắn heroin như ta thở,” Gyuri nói nhỏ với tôi. “Một mẩu tiền là nó sẽ đi ra ngoài mua hàng đống thuốc, chắc như bắp.”
Victor Anh Đào chỉnh kính. “Chính thế. Nó không yêu nghệ thuật và nó không kỹ tính. Nó dùng tranh như thẻ tín dụng lãi suất cao, hay là nó tưởng thế. Anh đầu tư - nó có tiền. Anh ứng trước tiền - anh giữ tranh làm bảo đảm - nó mua đồ, giữ một nửa, chia số còn lại đem bán, rồi quay lại trả tiền gấp đôi trong một tháng và lấy tranh. Và nếu? Trong một tháng nó không quay lại mang tiền gấp đôi? Thì tranh là của anh. Tôi nói rồi đấy. Đơn giản là cầm đồ.”
“Chỉ có điều không đơn giản vậy…” Boris duỗi người ngáp dài “vì nếu anh biến mất, còn séc thì dỏm? Nó còn làm được gì? Nếu nó chạy tới Horst đòi giúp đỡ nó sẽ được bẻ gãy cổ.”
“Tôi mừng là chúng đã đổi nơi hẹn quá nhiều lần như vậy. Như thế có hơi lố bịch. Nhưng lại tốt hơn, vì hôm nay là thứ Sáu,” Victor nói, gỡ kính chùi vào áo. “Tôi nói cho chúng tưởng anh đang muốn rút. Vì chúng cứ liên tục hủy rồi đổi kế hoạch - mãi đến hôm nay anh mới tới, nhưng chúng không biết - vì chúng cứ liên tục thay đổi kế hoạch nên tôi bảo anh đã mệt và lo ngại cứ phải ngồi lì ở Amsterdam với vali giấy bạc chờ tin chúng, anh đã bỏ lại tiền vào ngân hàng và chuẩn bị bay về Mỹ rồi. Nghe thế chúng không vui. Thế nên…” ông ta hất đầu về phía cái túi “đang vào dịp cuối tuần, ngân hàng đã đóng cửa hết, anh chỉ mang theo người số tiền mặt còn lại, và - à, chúng đã nói chuyện với tôi suốt, chủ yếu trên điện thoại và tôi gặp chúng một lần rồi, trong quán bar khu Đèn Đỏ, nhưng chúng đã đồng ý mang cái tranh tới trao đổi đêm nay mà không cần gặp anh trước, vì tôi bảo mai anh bay rồi, và vì chính chúng đã làm hỏng bét mọi sự, nên hoặc là séc hoặc là không gì cả. Điều đó, ờ, chúng cũng không thích, nhưng chúng chấp nhận cách giải thích đó về mấy tờ séc. Nên sẽ dễ cho ta hơn.”
“Dễ hơn nhiều,” Boris nói. “Tau còn đang chưa nghĩ ra cách nào ấn được lũ séc vào tay chúng. Tốt hơn là để chúng nghĩ vụ séc là lỗi chúng, vì chây lười.”
“Ở đâu?”
“Quán cà-phê-ăn-trưa.” Ông ta nói ríu vào nhau thành “cà-phăn- trưa”. “De Paarse Koe.”
“Nghĩa là ‘con bò tía’ trong tiếng Hà Lan,” Boris nhiệt tình giải thích. “Chỗ của bọn híp pi. Rất gần khu Đèn Đỏ.”
Phố dài trơ trọi, những cửa hàng đồ sắt đóng cửa, những chồng gạch bên lề đường, tất cả đều hình như thật quan trọng và có ý nghĩa tối quan trọng cho dù tất cả cũng đang vùn vụt trôi trong bóng tối không nhìn thấy gì.
“Thức ăn tởm lắm,” Boris tiếp. “Giá đỗ với bánh mì nướng cũ cứng ngắc kiểu gì ấy. Cứ tưởng sẽ có các em xinh tươi nhưng toàn các bà già tóc bạc béo ị.”
“Sao lại chỗ ấy?”
“Vì phố vắng vào buổi tối,” Victor Anh Đào đáp. “Quán cà phê ăn trưa đóng cửa lúc chiều tối, nhưng những chỗ không tên bán công khai sẽ dễ mất kiểm soát, hiểu không?”
Khắp xung quanh: xa lạ. Vô ý, tôi đã rời khỏi hiện thực, vượt ranh giới tiến vào một cõi vô chủ nào đó nơi không có gì có nghĩa. Mơ màng và vỡ vụn. Những bó dây thép cuộn và những chồng đá sỏi, vải ni-lông trùm bị thổi bạt đi.
Boris đang nói chuyện với Victor bằng tiếng Nga; nhận ra tôi đang nhìn, nó quay sang.
“Bọn tau chỉ đang nói là tối nay Sascha ở Frankfurt,” nó nói, “mở tiệc ở nhà hàng nào đó cho một đứa bạn vừa ra tù, và tất cả bọn tau đã nghe xác nhận từ ba nguồn khác nhau, Shirley nữa. Thằng chả nghĩ lánh cho xa là khôn lắm. Nếu tin đến tai Horst về vụ ở đây tối nay, nó có thể giơ tay lên trời thề thốt, tôi à, đâu có liên quan gì đâu.”
“Anh,” Victor nói với tôi, “anh làm ở New York. Tôi đã bảo rằng anh là một nhà buôn tranh từng bị bắt vì tội làm giả, và giờ đang chạy loại việc giống như Horst - tranh bé hơn, nhưng tiền to hơn.”
“Horst… cầu trời phù hộ lão,” Boris nói. “Horst sẽ giàu nhất nhì New York nếu không phải lão luôn cho đi đến đồng xu cuối cùng, Trước giờ vẫn vậy. Nuôi cả lố đứa đeo bám.”
“Rất tồi cho việc kinh doanh.”
“Ừa. Nhưng lão thích có bạn bầu vây quanh.”
“Nhà hảo tâm sái nghiện, ha,” Victor nói. Phát âm là shái nghiện. “May thay thỉnh thoảng chúng nó cũng chết bớt, không thì chẳng biết có bao nhiêu đứa dặt dẹo nhồi nhét vào trong cái xó ấy của ổng nữa. Dù saọ thì, vào đó anh nói càng ít càng tốt. Chúng không cần chuyện trò làm quen đâu. Đây hoàn toàn là công việc. Sẽ rất chóng. Đưa séc cho ảnh đi, Borya.”
Boris gắt lên gì đó bằng tiếng Ukraina.
“Không, phải để ảnh tự đưa ra. Bằng chính tay ảnh.”
Cả séc lẫn chi phiếu đều in dòng chữ “Farruco Frantisek, Ngân hàng công dân Anguilla”, chỉ càng đậm thêm cảm giác trong mơ, trôi trên một con đường ngày càng tăng tốc quá nhanh không cách gì kìm lại.
“Farruco Frantisek? Tôi là hắn à?” Trong hoàn cảnh này dường như đấy là một câu hỏi rất ý nghĩa - như là bằng cách nào đó tôi có thể tách khỏi thể xác mình, hay là ít nhất cũng đã vượt qua một ranh giới nào đó, tiến vào cõi được giải phóng khỏi cả những chi tiết cơ bản nhất, như là nhân thân.
“Tau không chọn tên. Tau lấy được gì thì phải nhận cái đó thôi.”
“Vậy tao sẽ tự giới thiệu bằng tên đó hả?” Giấy in séc có gì đó không ổn, nó quá mỏng nhẽo, tên ngân hàng in bằng một kiểu chữ rất quê mùa.
“Không, Anh Đào sẽ giới thiệu mi.”
Farruco Frantisek. Tôi thử nhẩm cái tên ấy trong đầu, uốn lưỡi tìm cách phát âm. Một cái tên khó nhớ, nhưng nó cũng đủ mạnh, đủ xa lạ để truyền đạt cái đậm đặc quá độ lạc lối giữa không gian của những đường phố tối đen, những đường ray xe điện, sỏi lát đường, thiên thần bằng đèn nê ông - giờ đã về lại khu phố cổ, chứa đầy lịch sử, thăm thẳm không thấu, những kênh và trụ khóa xe đạp và đèn đóm Giáng sinh run rẩy trên mặt nước đen.
“Thế lúc nào anh mới định cho ảnh biết?” Victor Anh Đào đang hỏi Boris. “Ảnh cần biết tên mình là gì chứ.”
“Giờ nó biết rồi đấy thôi.”
Những đường phố không tên, những rẽ ngoặt không lường, những khoảng cách không định dạng. Tôi đã thôi không buồn tìm cách đọc biển đường hay cố nhớ xem vừa đi qua đâu nữa. Giữa toàn bộ những gì bao quanh tôi - toàn bộ những gì tôi thấy - mốc duy nhất là mặt trăng, đang ở tít trên trời cao hơn những đám mây, dù đang tròn đầy và rất sáng nhưng vẫn có vẻ bất ổn một cách kỳ quặc thế nào đó, không trọng lượng, không phải cái vầng trăng trinh khiết đã neo giữ tôi trong sa mạc mà đúng hơn như một mánh khóe của nhà ảo thuật, chỉ cần hắn ta nháy mắt là đột hiện, hoặc là trôi biến đi khuất tầm mắt trong màn đêm.
IX
CON BÒ TÍA nằm trên con phố một chiều vắng người đi chỉ vừa đủ chỗ cho một thân xe qua. Mọi hàng họ xung quanh - hiệu thuốc, tiệm bánh, cửa hàng xế đạp - đã khóa kỹ, ngoại trừ một nhà hàng Indonesia tít đầu kia phố. Shirley Temple thả chúng tôi trước quán. Tường bên kia vẽ đầy graffiti: mặt cười, mũi tên, Nguy Hiểm: Phóng Xạ, tia chớp vẽ chì với chữ Shazam, các chữ cái lối phim kinh dị chảy ròng ròng xuống, lịch sự đi!
Tôi nhìn vào trong quán qua cửa kính. Quán dài và hẹp, thoạt nhìn tưởng không có ai. Tường màu tím đỏ; đèn trần bằng kính màu, bàn ghế không đồng bộ sơn những màu vườn trẻ và ánh sáng rất yếu, trừ một khu vực quầy cạnh bếp nướng và tủ mát lắp đèn sáng ở trong cùng. Cây cảnh quặt quẹo, tấm ảnh đen trắng John và Yoko Lennon có chữ kỷ, bảng tin chi chít những tờ rơi và tờ quảng cáo lớp thiền theo nhóm satsang và yoga cùng đủ phương thức tu luyện tâm linh khác nữa. Chiếm trọn tường là tranh vẽ bộ ẩn Tarot và trên cửa sổ, một thực đơn in đen trắng oặt oẹo liệt kê một mớ đồ ăn có lợi cho sức khỏe kiểu Everett: súp-cà-rốt, súp-tầm-ma, tầm-ma-nghiền, bánh-hạt-dẻ-đậu-lăng - chẳng có gì đáng thèm cả, nhưng cũng khiến tôi nhớ ra rằng bữa ăn đàng hoàng tử tế chứ không phải cắn miếng rồi chạy cuối cùng của mình là món cà ri gọi về ăn trên giường nhà Kitsey.
Boris thấy tôi nhìn. “Tau cũng đói rồi” nó nói có phần trịnh trọng. “Chúng mình sẽ đi ăn một bữa thực ra trò cùng nhau. Ở Blake. Hai mươi phút.”
“Mày không vào à?”
“Chưa.” Nó đang đứng hờ một bên, tránh tầm nhìn từ cánh cửa kính, nhìn khắp phố. Shirley Temple, đang chạy xe vòng quanh khu. “Đừng đứng đây nói chuyện với tau. Vào với Victor và Gyuri đi.”
Kẻ vừa trờ tới bên cửa ra vào lắp kính là một tay lỏng khỏng, ám muội, tay chân giậm giật, đã ngoài sáu chục, mặt dài hẹp, tóc xờm xoàm quá vai và cái mũ lưỡi trai bò y hệt trong chương trình ca múa nhạc Soul Train năm 1973. Lão đứng đó lắc xâu chìa khóa, nhìn qua đầu Victor sang tôi và Gyuri, có vẻ nghi ngại không rõ nên cho chúng tôi vào hay không. Đôi mắt nằm sát nhau, cặp lông mày sâu róm xám cùng bộ ria mép xám xụ xù khiến lão trông như một con chó schnauzer già ngờ vực. Rồi một tên khác xuất hiện, trẻ hơn rất nhiều, to con hơn rất nhiều, cao quá nửa đầu so với cả Gyuri, dân Malaysia hoặc Indonesia với hình xăm trên mặt và đôi kim cương tổ chảng hai bên tai, cùng một búi tóc đen trên đỉnh đầu không khác gì mấy tay săn cá voi trong Moby Dick[165], nếu những tay săn cá voi trong Moby Dick cũng biết mặc quần thể thao nhung và áo khoác bóng rổ bằng xa tanh màu hồng đào.
Lão già gân đang gọi di động. Lão ta đợi, mắt dè chừng nhìn chúng tôi. Rồi lão gọi số khác, quay lưng lại đi vào tận trong quán cà phê ăn trưa, vẫn nói, lòng bàn tay áp vào má và tai như một bà nội trợ lên cơn kích động trong lúc tay Indonesia đứng bên cửa kính quan sát chúng tôi, lặng phắc như không phải người thật. Một đoạn trao đổi ngắn, rồi lão già quay lại, mày nhăn tít, trông có vẻ rất miễn cưỡng, bắt đầu lấy xâu chìa ra xem xét và vặn chìa trong ổ khóa. Ngay khi chúng tôi lọt qua cửa, lão ta bắt đầu rền rĩ phàn nàn với Victor Anh Đào, hoa tay múa chân loạn xạ, trong lúc tay Indo lững thững đi lại, dựa vào tường và khoanh tay đứng nghe.
Có gì lộn xộn, hẳn rồi. Bất ổn. Chúng đang dùng thứ tiếng gì? Rumani? Séc? Tôi chẳng hề hay biết chúng đang nói chuyện gì, nhưng Victor Anh Đào làm vẻ mặt lạnh lùng khó chịu trong khi lão già tóc xám càng lúc càng thêm kích động - giận dữ ư? không: bức bối, phiền lòng, ỉ ôi nữa là khác, giọng mè nheo càng lúc càng rõ rệt, và suốt lúc đó tay Indo vẫn dán mắt lên chúng tôi, lặng phắc một cách đáng lo, như một con trăn. Tôi đứng cách họ chừng ba mét, và mặc cho Gyuri ôm bịch tiền áp vào tôi quá sát, làm vẻ mặt cố tình dửng dưng vờ xem xét những hình vẽ và khẩu hiệu trên tường: Hòa Bình Xanh, Khu Vực Cấm Lồng Thú, Chào Mừng Người Ăn Chay, Thiên Sứ Phù Hộ! Đã có quá nhiều kinh nghiệm mua ma túy ở những tình huống không kém ma giáo (những căn hộ đầy gián trong khu Harlem của dân nói tiếng Tây Ban Nha, những cầu thang sặc mùi nước đái trong khu nhà ở xã hội St. Nicholas), tôi biết khôn hồn thì hãy tỏ ra mặc kệ, vì - ít ra là theo kinh nghiệm của tôi - những giao dịch kiểu này nói chung đều như nhau. Phải làm vẻ thoải mái và không để tâm, đừng nói trừ khi đến lúc bị bắt buộc, lúc ấy thì hãy nói giọng đều đều, và một khi có được thứ cần có thì biến gấp.
“Thiên sứ phù hộ cái con kẹc,” Boris nói nhỏ vào tai tôi, vừa dịch đến bên cạnh không một tiếng động.
Tôi không nói gì. Đã bao nhiêu năm rồi, nhưng chúng tôi vẫn quá dễ dàng rơi trở lại thói quen chụm đầu vào nhau thì thào như trong lớp Spirsetskaya, mà trong tình huống hiện thời có vẻ không phải ý hay lắm.
“Chúng mình đến đúng giờ,” Boris nói. “Nhưng chúng nó thiếu một đứa. Chính vì thế lão Grateful Dead đằng kia mới nhảy cẫng lên. Chúng nó muốn mình đợi thằng kia. Lỗi của chúng nó, ai bảo đổi chỗ xoành xoạch như vậy.”
“Đằng kia đang nói gì thế?”
“Cứ để Vitya liệu đi,” nó nói và đá đá giày vào một miếng lông khô quắt trên sàn - chuột chết ư? tôi nghĩ và giật mình, trước khi nhận ra chỉ là một món đồ chơi cho mèo đã bị nhai nát, giống như mấy cái khác nằm rải khắp phòng bên một khay cát vệ sinh mèo đã vón cục và đen thẫm nước giải, nằm lấp ló (đủ cả phân mèo) dưới chân bàn bốn người.
Tôi đang tự hỏi làm sao mà khay vệ sinh mèo đặt ngay nơi khách ăn dễ giẫm vào lại tiện cho việc phục vụ đồ ăn (chưa nói chuyện hút khách, hay tốt cho sức khỏe, hay thậm chí là hợp pháp) thì bỗng nhận ra câu chuyện đã dừng lại, hai người kia đã quay, sang Gyuri và tôi - Victor Anh Đào, lão già mang vẻ mặt vừa đề phòng vừa mong đợi bước lên phía trước, mắt dáo dác hết nhìn tôi lại nhìn cái túi trong tay Gyuri. Ngoan ngoãn, Gyuri bước tới, mở ra, đặt xuống và cúi đầu đầy vẻ quỵ lụy, rồi bước lùi lại cho lão già tới xem xét.
Lão già nheo mắt nhìn vào trong, mũi nhăn lại. Thốt lên một tiếng coi thường, lão ngẩng lên nhìn Anh Đào, nhưng ông ta vẫn điềm nhiên. Lại thêm một hồi nói chuyện không hiểu nổi. Lão tóc xám có vẻ mếch lòng. Rồi lão đậy túi lại đứng lên nhìn tôi, mắt láo liên.
“Farruco,” tôi căng thẳng nói, vì đã quên mất họ mình và hy vọng sẽ không bị bắt phải xổ nó ra.
Anh Đào liếc nhìn tôi: mớ giấy.
“Ờ, ờ,” tôi nói, thò tay vào túi ngực bên trong áo khoác lấy séc và chi phiếu - mở ra bằng thái độ hy vọng là tự nhiên, nhìn lại lần cuối trước khi đưa.
Frantisek. Nhưng đúng lúc tôi vừa đưa tay - thình, như một luồng gió quét qua nhà và đập sầm cánh cửa đúng ở hướng mình không chú ý-Victor Anh Đào vụt bước lên sau lưng lão tóc xám và đập thật mạnh vào gáy lão bằng báng súng lục, mạnh đến nỗi cái mũ tung ra, đầu gối quỵ xuống, lão hức lên rồi đổ rầm. Tay Indonesia vẫn còn đang dựa tường, có vẻ cũng bị bất ngờ như tôi: hắn cứng người, mắt hai chúng tôi giao nhau trong ý nghĩ xẹt qua cái đéo gì? gần như ánh mắt trao đổi giữa hai người bạn, và tôi không hiểu sao hắn không rời khỏi tường cho tới khi nhìn ra sau lưng, kinh hoảng thấy cả Boris và Gyuri đã chĩa súng vào người hắn: Boris đỡ báng súng trong lòng bàn tay trái rất gọn gàng, còn Gyuri dùng một tay, tay kia cầm túi tiền đang đi giật lùi ra cửa trước.
Có gì vụt lóe lên ở góc khác, ai đấy vọt ra khỏi bếp ở cuối nhà: đàn bà châu Á tre trẻ - không phải, một thằng nhóc; da trắng, mắt đen khiếp hãi quét khắp phòng, khăn nhuộm Ikat, tóc dài bay tung, chớp cái đã biến mất.
“Có người ở đằng sau,” tôi nói gấp, nhìn quanh, mọi hướng, căn phòng quay vù vù quanh tôi như đu quay, tim đập điên cuồng tới nỗi không thốt được lời rành rẽ, không biết có ai nghe thấy tôi nói không nữa- hoặc ít nhất là Anh Đào có nghe thấy không, vì ông ta đang nắm gáy áo khoác bò của lão tóc xám xách lên, ghì lấy cổ lão, súng dí vào thái dương, quát thét lão bằng thứ tiếng Đông Âu khỉ gì đấy và lôi cổ lão về cửa sau trong lúc tên Indonesia gỡ mình khỏi tường, uyển chuyển, cẩn trọng, rồi nhìn Boris và tôi một khoảng dường như là thật lâu.
“Bọn đĩ chúng mày rồi sẽ phải hối hận,” hắn khẽ nói.
“Giơ tay lên nào,” Boris đầm ấm đáp. “Để chỗ nào tau nhìn được ấy.”
“Tao không có vũ khí.”
“Dù sao thì cũng chìa ra.”
“Đây, mời mày,” tay Indo nói, cũng đầm ấm không kém. Hắn nhìn tôi từ đầu đến chân, tay giơ lên trời - đang ghi nhớ mặt tôi, tôi nhận ra và sởn gai ốc, hình ảnh ghi thẳng vào ổ dữ liệu - rồi nhìn sang Boris.
“Tao biết mày là ai,” hắn nói.
Anh lập lòe đáy biển trong tủ mát đựng nước quả. Tôi nghe hơi thở chính mình đi vào rồi đi ra, vào rồi ra. Tiếng kim loại va loạch xoạch trong bếp. Tiếng thét không rõ rệt.
“Nằm xuống, bạn thân mến,” Boris nói và hất đầu xuống sàn.
Tuân lệnh, tay Indo quỳ xuống, rồi - cực kỳ từ tốn - duỗi dài người. Nhưng hắn không có vẻ hoảng hốt hay sợ sệt.
“Tao biết mày là ai,” hắn nhắc lại, giọng hơi ngàn ngạt.
Cái bóng vụt chạy trong khóe mắt tôi, nhanh đến nỗi tôi giật mình: con mèo, đen như quỷ, như một bóng ma sống, bóng tối bay vút vào bóng tối.
“Thế tau là ai?”
“Borya ở Antwerp, phỏng?” Không phải là hắn không có vũ khí; cả tôi cũng thấy nó phồng lên ở nách hắn. “Borya người Ba Lan? Borya phê cỏ? Bồ ruột của Horst?”
“Nếu vậy thì sao?” Boris hòa nhã hỏi.
Tên kia im lặng. Boris hất đầu cho tóc khỏi xõa vào mắt, khịt mũi khinh bỉ và hình như định nói câu gì miệt thị, nhưng đúng lúc đó Victor Anh Đào từ bên trong đi ra, một mình, lôi trong túi ra thứ gì đó trông như một sợi còng cao su - và tim tôi nhảy lên khi thấy ông ta kẹp dưới tay một gói hàng, kích thước và độ dày đều thích hợp, quấn dạ trắng và buộc bằng sợi thừng màu. Ông ta thúc một đầu gối vào lưng tên Indo, bắt đầu loay hoay lồng còng vào cổ tay hắn.
“Ra ngoài,” Boris bảo tôi, và rồi nhắc lại - cơ bắp tôi đã hóa đá và đông cứng, nó đẩy nhẹ tôi “Ra! vào xe đi.”
Tôi trân trối nhìn quanh - không thấy cửa, phải có cửa chứ - và rồi chợt thấy và tôi chạy nhào ra nhanh đến nỗi trượt chân suýt ngã vào một món đồ chơi của mèo, chạy ra với con Range Rover đang phì khói bên đường, Gyuri đứng canh đằng trước, trên đường, trong cơn mưa lay phay vừa rơi xuống - “Vào, vào,” anh ta xuỵt khẽ, chuồi vào ghế sau rồi vẫy tôi theo sau, đúng lúc Boris và Victor Anh Đào bật tung cửa nhà hàng chạy ra cùng nhảy vào và xe đã chạy đi, tốc độ khá nhẩn nha chẳng có gì là giật gân cả.
X
TRONG XE, khi đã ra đường lớn, cảnh ăn mừng huyên náo: tiếng cười, tiếng chúc tụng nhau, trong khi tim tôi đang chạy ma-ra-tông đến nỗi không thở nổi. “Chuyện gì thế?” tôi đã khào khào hỏi mấy lần - há miệng hớp không khí và nhìn qua từng người - cho đến khi, thấy chúng vẫn lờ mình mà liên tục huyên thuyên bằng một tràng tiếng Nga pha lẫn Ukraina xủng xoảng, cả bốn đứa kể luôn Shirley Temple: “Angliyski!”
Boris quay sang tôi quệt mắt, vung tay ốm lấy cổ tôi. “Thay đổi kế hoạch,” nó nói. “Tất cả đều tại chỗ - tùy cơ ứng biến hết. Chúng mình không kiếm được lúc nào tốt hơn nữa. Người thứ ba của chúng nó không đến.”
“Chộp được chúng nó tay đang luống cuống.”
“Chộp được chúng nó chân dính trên sàn.”
“Chộp được chúng nó quần tụt tận ngón chân! Chồm hổm trên bệ xí!”
“Mày…” tôi phải rặn mới ra được từ “mày đã bảo không dùng súng mà.”
“À, không ai bị sao cả phải không? Vậy có khác gì nào?”
“Sao chúng ta không trả tiền là xong?”
“Vì chúng mình ngáp được ruồi!” Giơ hai tay lên trời. “Cơ hội ngàn năm có một! Chúng mình trúng mánh! Chúng còn làm gì được? Chúng có hai người - mình có bốn. Nếu có đầu óc đáng ra chúng nó không nên cho mình vào. Và - phải, tau biết, chỉ có bốn mươi ngàn thôi, nhưng vì sao tau lại phải trả một xu nếu có thể không trả? Trả cho chúng vì đã ăn cắp đồ của chính tau?” Boris cười khùng khục. “Mi có thấy vẻ mặt thằng đó không? Thằng già Grateful Dead? Khi bị Anh Đào táng cho một cú vào thủ?”
“Các anh có biết con dê già ấy phàn nàn chuyện gì không?” Victor hơn hớn quay sang tôi. “Muốn trả bằng euro! ‘Gì, tiền đô hả?’ ” - bắt chước vẻ thù địch của lão. “ ‘Anh trả tôi tiền đô hả?’ ”
“Cá là nó ước nó còn có được số đô ấy.”
“Tao cá nó ước nó đã ngậm mỏ lại.”
“Tao rất khoái nghe cú điện sắp gọi cho Sascha.”
“Tao ước gì mình biết tên thằng kia. Thằng lỡ hẹn ấy. Để tao đãi nó một chầu.”
“Không hiểu nó đang ở đâu?”
“Chắc là ở nhà đang tắm gội.”
“Ôn bài Kinh thánh.”
“Xem ‘Bài ca Giáng sinh’ trên tivi.”
“Đợi nhầm chỗ, hẳn là thế.”
“Tao…” Họng tôi nghẹn lại đến nỗi phải nuốt nước bọt mới nói được. “Còn thằng nhóc kia thì sao?”
“Hửm?” Trời đang mưa, mưa nhẹ lốp bốp trên kính trước xe. Đường phố đen óng ánh.
“Thằng nhóc nào?”
“Thằng nhóc. Con nhóc. Phụ bếp. Chẳng biết nữa.”
“Gì cơ?” Anh Đào quay lại - vẫn còn quá khích, đang thở hồng hộc. “Tôi không thấy ai hết.”
“Tau cũng không.”
“Ờ, tao thấy.”
“Trông nó thế nào?”
“Trẻ.” Tôi vẫn còn in vào trí bức hình khuôn mặt trẻ ma mị, miệng hơi hé ra. “Áo khoác trắng. Trông có vẻ Nhật.”
“Thật à?” Boris tò mò hỏi. “Mi nhìn là biết ngay à? Nó ở đâu đến ấy? Nhật, Trung Quốc, Việt Nam?”
“Tao không nhìn rõ. Giống châu Á.”
“Thằng bé, hay con bé?”
“Tôi nghĩ làm ở trong bếp đó toàn con gái” Gyuri nói. “Thực dưỡng cân bằng âm dương mà. Gạo đỏ và đủ thứ nữa.”
“Tôi…” Giờ thì tôi cũng không biết nữa.
“Ờ…” Anh Đào vuốt tay qua mái tóc húi cua “may là con bé, hoặc là ai cũng vậy, đã chạy mất, vì các anh biết tôi còn tìm thấy gì trong đó không? Mossberg 500 cưa nòng.”
Tiếng cười, tiếng huýt sáo.
“Vãi chưởng.”
“Để đâu? Grozdan không...?”
“Không. Trong một cái... ” ông ta làm hiệu chỉ cái dây đeo “cái đó đó. Treo ở dưới bàn, trong vải gì đấy. Tình cờ nhìn thấy lúc tôi ở dưới sàn. Như là...nhìn lên. Nó ở ngay đó, sát trên đầu tôi.”
“Anh không để lại đó chứ?”
“Không! Tôi cũng không chê nó đâu, nhưng to quá, còn tôi đầy tay rồi. Đã tháo nó ra lấy kim hỏa vứt vào hẻm. Lại còn…” lôi trong túi ra một khẩu súng lục bạc nòng cụt, chuyển qua Boris “cái này!”
Boris giơ lên ánh sáng ngắm nghía.
“Một chú J-frame giấu kín xinh xẻo. Hẳn có bao súng đeo mắt cái trong mấy cái quấn ống loe đó! Nhưng xui cho hắn là lại quá chậm.”
“Còng cao su,” Gyuri bảo tôi, hơi nghiêng đầu. “Vitya đã nghĩ hết.”
“Ờ…” Anh Đào lau mồ hôi trên cái trán rộng “nhẹ, mỏng, dễ mang, và khối lẩn giúp tôi không phải bắn người. Tôi không muốn làm hại ai nếu tránh được.”
Thành phố trung cổ: đường phố quanh co, đèn giăng giăng trên cầu, phản chiếu trên mặt kênh mưa tuôn, tan ra trong màn nước. Vô tận những cửa hàng vô danh, cửa sổ bày hàng lấp la lấp lánh, đồ lót, đai nịt tất, đồ bếp bày như thiết bị phẫu thuật, đâu đâu cũng thấy tiếng nước ngoài, Snel bestellen, Retro-stijl, Showgirl-Sexboetiek[166].
“Cửa sau mở ra hẻm,” Anh Đào nói, đang rũ cái áo vét dày khỏi người và tu bình vodka Shirley T. vừa lôi ra dưới ghế trước - tay hơi run, mặt ông ta, nhất là cái mũi, ửng lên một sắc đỏ thơm ngát, mệt mỏi, trông như chú tuần lộc Rudolph. “Hẳn là mở để chờ hắn - người thứ ba ấy - đi vào qua lối đó. Tôi đã đóng rồi khóa lại - bắt Grozdan đóng rồi khóa lại, súng kề đầu, lão thút thít sụt sùi như em bé ấy...”
“Khẩu Mossberg ấy,” Boris bảo tôi, cầm lấy chai rượu vừa chuyển xuống từ băng trên. “Tởm lắm, kinh lắm. Cưa nữa...? Phun đạn từ đây ra Hamburg được. Có quay lưng lại tất cả mà bắn mi vẫn trúng cả nửa số người trong phòng.”’
“Mánh hay, hử?” Victor Anh Đào triết lý. “ Bảo rằng người thứ ba chưa ở đây? ‘Làm ơn đợi thêm năm phút’? 'Xin lỗi, có trục trặc’...? ‘Hắn ta sẽ đến ngay bây giờ’? Trong khi từ đầu đến cuối hắn vẫn cầm khẩu súng chờ đằng trong. Trò lội ngược dòng rất cừ, nếu chúng đã nghĩ đến... ”
“Có thể đúng là chúng đã nghĩ đến. Nếu không để súng ở đó làm gì?”
“Tôi nghĩ chúng mình vừa chết hụt một quả, chính thế đấy...”
“Có một cái xe tấp vào đằng trước nhà, khiến Shirley với tôi chết khiếp,” Gyuri nói “trong lúc các anh đều ở trong, hai thằng, chúng tôi nghĩ, mình chết chắc rồi nhưng chỉ là cặp bóng, người Pháp, tìm quán ăn... ”
“... nhưng không có ai ở nhà trong, ơn Chúa, tôi đã bắt Grozdan ngồi xuống sàn còng lão vào máy sưởi,” Anh Đào vẫn đang nói. “À, nhưng...!” - ông ta giơ cái gói bọc dạ lên - cái này trước đã. Của anh đấy.”
Ông ta đưa qua đầu ghế cho Gyuri, anh này - gượng nhẹ, dùng đầu ngón tay, như một cái khay sợ bị tràn - chuyển qua cho tôi. Boris - nuốt ực một miếng, quệt miệng bằng mu bàn tay - dùng chai dúi nhẹ vào cánh tay tôi thích chí trong khi hát ư ử trong miệng tau chúc mi một Giáng sinh vui vẻ tau chúc mi một Giáng sinh an lành
Cái bọc trên đầu gối tôi. Vuốt khắp các mép bọc. Lớp dạ mỏng đến mức tôi cảm thấy ngay là nó dưới các đầu ngón tay, cả bề mặt và sức nặng đều chính xác.
“Nào,” Boris nói và gật gật đầu, “tốt hơn là mở ra đi, cho chắc lẩn này không phải là quyển Công dân! Nó ở đâu?” nó hỏi Anh Đào trong lúc tôi bắt đầu loay hoay tháo dây buộc.
“Ngăn để chổi cực bẩn. Vali nhựa giẻ rách. Grozdan dẫn tôi đến ngay lập tức. Tôi cứ nghĩ lão sẽ quậy tí chút nhưng chó lửa gí đầu là đủ. Chẳng việc gì chịu nổ đầu trong khi bao nhiêu thứ ngon lành vẫn còn chờ xơi.”
“Potter,” Boris gọi để lôi kéo sự chú ý của tôi, rồi nhắc lại: “Potter.”
“Sao?”
Nhấc vali lên. “Bốn mươi củ này đưa Gyuri và Shirley T. Bôi trơn cho họ tí. Đền công giúp đỡ. Vì chính nhờ hai người họ mà chúng mình không phải trả Sascha lấy một cắc báo ơn nó đã đánh cắp đồ của mi. Còn Vitya...” thò tay qua siết chặt tay ông ta “chúng ta đã xóa sạch nợ cũ rồi. Giờ tui nợ anh là khác.”
“Không, tôi không bao giờ trả đủ món nợ đối với anh, Borya ạ.”
“Bỏ đi. Không có gì mà.”
“Không có gì? Không có gì? Không phải, Borya ạ, vì chính đêm nay tôi còn giữ mạng được là nhờ anh, và đêm nào cũng vậy cho đến đêm cuối cùng...”
Ông ta đang kể một câu chuyện vô cùng hấp dẫn, nếu tôi còn có bụng dạ nào để nghe - ai đó đã gán cho Anh Đào một tội gì đó không được nói rõ nhưng hiển nhiên là rất ghê gớm mà ông không phạm phải, không có liên can dính líu gì, hoàn toàn vô tội, kẻ kia đã hót để được giảm hạn tù và trừ khi đến lượt Anh Đào cũng hót về những cấp trên (“vậy sẽ là không khôn ngoan, nếu tôi còn muốn thở”) thì ông ta đang đối mặt với mười quyển lịch, còn Boris, Boris đã ra tay cứu mạng vì Boris đã lần ra được tên tráo trở kia đang ở Antwerp, nhởn nhơ vì đã được bảo lãnh, và câu chuyện kể rằng nó đã rất lăn xả và tận tâm còn Anh Đào thì đang nghẹn ngào thổn thức mà vẫn chưa hết nữa kia còn có đốt nhà đổ máu rổi có cưa máy gì đó nữa nhưng tới lúc ấy tôi không còn lọt tai một chữ nào vì tôi đã tháo được dây và đèn đường và bóng chiếu từ nước chảy từ mưa rơi đang loang loáng trên bề mặt bức tranh của tôi - chú sẻ vàng của tôi - và tôi biết, một cách không cưỡng được, không nghi ngờ được, thậm chí không cẩn quay ngược nhìn mặt sau - đúng là nó.
“Thấy chưa?” Boris hỏi, ngắt lời Vitya ngay khúc câu chuyện đang cao trào. “'Trông vẫn đẹp đẽ, hả, zolotaia ptitsa[167]của mi đó? Đã bảo mi là bọn tau o bế kỹ lắm, phải không nào?”
Dò đầu ngón tay quanh mép ván, không tin nổi, như Thomas Đa Nghi lần ngón tay trên lòng bàn tay Chúa. Như mỗi nhà buôn đồ đạc đều biết, hoặc như chính thánh Thomas biết: xúc giác khó bị đánh lừa hơn thị giác, và sau từng ấy năm hai bàn tay tôi vẫn nhớ rõ bức tranh đến nỗi mấy ngón tay đưa tới ngay vết đinh đóng, ở dưới cùng tấm ván, mấy lỗ đinh tí xíu mà (ngày xửa ngày xưa, theo chuyện kể) bức tranh từng bị treo lên, để làm biển quán rượu, hay trong một chiếc tủ ly gỗ sơn, không ai biết.
“Ảnh vẫn còn sống đấy chứ?” Victor Anh Đào.
“Chắc vậy.” Boris thúc khuỷu tay vào mạng sườn tôi. “Nói gì đi.”
Nhưng tôi không nói được gì. Đây chính là nó; tôi biết, dù trong bóng tối. Vết sơn vàng sần lên trên cánh, lông cào vào bằng đuôi bút lông. Một miếng sứt ở góc trên bên trái trước đây chưa có, vết mẻ tí tẹo chưa đến hai milimet, nhưng ngoài ra: hoàn hảo. Tôi đã khác xưa, nhưng nó thì vẫn vậy. Và khi ánh sáng từng dải, từng dải chạy qua trên mặt nó, tôi chợt nôn nao ý thức về cuộc đời của chính mình, đặt bên cạnh, chỉ như một cú nổ năng lượng nhất thời không hình dạng, một tiếng nhiễu sinh học xèo xèo cũng ngẫu nhiên như ánh đèn đường vụt qua.
“Chà, đẹp quá,” Gyuri thân tình nói và ghé nhìn từ bên phải tôi. “Trong trẻo quá! Như bông hoa cúc ấy. Anh biết tôi đang muốn tả cái gì không?” anh ta nói và huých tôi khi không thấy tôi đáp. “Bông hoa giản dị, một mình giữa đồng? Thật là…” anh ta làm cử chỉ , nhìn đây này! tuyệt vời kinh! “Anh hiểu ý tôi muốn nói không?” anh ta nói và lại huých tôi, nhưng tôi vẫn còn dang ngơ ngẩn không đáp nổi.
Trong lúc đó, Boris vẫn lẩm bẩm nửa tiếng Anh nửa tiếng Nga với Vitya về con ptitsa cùng với cái gì đó mà tôi không nghe rõ, mẹ và con nhỏ, tình yêu đáng yêu gì gì đó. “Vẫn còn ước mi đã gọi điện cho tụi cảnh sát nghệ thuật hửm?” Nó nói và vắt tay qua vai tôi, đầu cụng đầu tôi, y hệt thời chúng tôi còn bé.
“Giờ vẫn có thể gọi được mà,” Gyuri nói và cười rú lên, đấm vào tay tôi bên kia.
“Đúng thế, Potter ạ! Gọi nhá? Không à? Có lẽ giờ không thấy là ý hay nữa, hửm?” nó nói với sang Gyuri, nhướng một bên mày.
XI
KHI CHÚNG TÔI RẼ VÀO GA RA RỒI RA KHỎI XE, tất cả vẫn còn đang phấn khởi, cười đùa, ôn lại chi tiết này nọ của cuộc tấn công bằng đủ thứ tiếng - tất cả ngoại trừ tôi đờ đẫn và âm vang sau cú sốc, những đòn nện chớp nhoáng và cử động đột ngột vẫn còn dội lại tôi từ trong bóng tối, và quá choáng váng chưa thốt nên lời.
“Nhìn nó kìa,” Boris ngắt câu đang nói dở và đấm vào tay tôi. “Trông như vừa trải qua cú thổi kèn phê nhất trần đời ấy.”
Chúng đều ầm ĩ cười tôi, cả Shirley Temple cũng vậy, toàn thế giới là một cơn cười bật nảy trên những bức tường gạch men, phân dạng trong âm kim, là sốt sảng và ma hoặc, là cảm giác về thế giới to lên, phồng lên như một quả bóng bay kỳ tuyệt thổi lớn đến khi căng mọng, bồng bềnh trôi về giữa những vì sao, và cả tôi cũng cười mà còn không biết mình cười cớ gì vì vẫn còn rúng động tới mức khắp người lẩy bẩy.
Boris châm thuốc. Mặt nó xanh lét trong ánh đèn dưới lòng đất. “Quấn lại đi,” nó hồn hậu nói và hất đầu về phía bức tranh, “rồi chúng mình sẽ nhét vào két sắt khách sạn rồi đi kiếm cho mi một bài thổi kèn bằng da bằng thịt.”
Gyuri chau mày. “Tôi tưởng là đi ăn trước chứ?”
“Anh nói cũng phải. Tui đói mèm rồi. Vậy ăn trước, kèn sau vậy.”
“Blake hả?” Anh Đào hỏi, mở cửa sau chiếc Land Rover. “Một giờ nữa được chứ?”
“Có vẻ được đấy.”
“Tôi ghét phải đi thế này,” Anh Đào nói và búng búng cổ áo, đã trong suốt và dính vào thịt vì mồ hôi. “Mặt khác tôi cũng không chê ít cô nhắc đâu. Loại trăm ơ ấy. Tôi sẵn sàng nạp một lít vào người ngay giờ. Shirley, Gyuri...” ông ta chuyển qua nói tiếng Ukraina.
“Nó nói rằng,” Boris giải thích trong tràng cười vừa rộ lên, “nó bảo Shirley và Gyuri rằng hôm nay chúng nó đãi. Bằng...” Gyuri đắc thắng giơ túi lên.
Rồi... ngưng một lát. Gyuri trông có vẻ ngẫm ngợi. Anh ta nói gì đó với Shirley Temple, và Shirley - cười anh ta, lúm đồng tiền má đào sâu hút - xua xua tay, xua cái túi mà Gyuri cứ chìa ra, rổi đảo mắt khi thấy Gyuri cố nài.
“Ne syeiychas,[168]” Victor Anh Đào bực mình nói. “Chưa phải bây giờ. Chia sau đi.”
“Đi mà,” Gyuri nói và chìa cái túi ra lần nữa.
“Ồi thôi nào. Chia sau đi, không thì ta ở đây cả tối mất.”
Ya khochu chto-by Shirli prinyala eto, Gyuri nói, một câu quá đơn giản và phát âm quá rõ ràng khẩn khoản khiến ngay cả tôi, với mớ tiếng Russki giẻ rách, cũng hiểu được. Tôi muốn Shirley lấy hết.
“Quên khẩn trương đi!” Shirley nói, bằng tiếng Anh rồi - không đừng được - liếc vội sang xem tôi có nghe thấy không, như một đứa trẻ kiêu hãnh vì biết câu trả lời ở lớp.
“Thôi nào,” Boris nói - tay chống hông - mắt đánh đi sốt ruột, “Ai bỏ trong xe thì có quan trọng gì? Một trong hai người sẽ ẵm nó chuồn mất chắc? Không. Ở đây chúng ta đều là bạn bè. Thế không hai người định làm gì?” nó nói khi cả hai đều không nhúc nhích. “Bỏ trên sàn cho Dima vớ à? Một trong hai quyết định mau.”
Im lặng hồi lâu. Shirley khoanh tay, lắc đầu quả quyết dù Gyuri cứ nằn nì, và rồi, vẻ mặt lo lắng, hỏi Boris gì đó.
“Được, được, tao sao cũng được,” Boris bực bội đáp. “Đi đi,” nó nói với Gyuri, “Ba người đi với nhau.”
“Anh chắc không?”
“Chắc như bắp. Tối nay cả ba làm việc thế đủ rồi.”
“Anh lái được chứ?”
“Không,” Boris đáp, “hai đứa tui sẽ đi bộ! tất nhiên, tất nhiên,” nó nói, gạt đi lời phản đối của Gyuri, “tui lái được rồi, đi đi,” và tất cả chúng tôi đều cười lớn khi Vitya và Shirley và cả Gyuri đều vẫy chào tạm biệt (Davaye!) rồi nhảy vào chiếc Range Rover đi mất, lên dốc ga ra, ra ngoài hòa vào Phố Overtoom.
XII
“CHÀ, ĐÊM THỂ MỚI LÀ ĐÊM CHỨ,” Boris nói và gãi bụng. “Đói meo con mèo! Chuồn khỏi đây thôi. Mặc dù...” nó chau mày, liếc nhìn chiếc Range Rover đang lái đi “ờ, không sao. Chúng mình sẽ ổn thôi. Đường ngắn tí ấy mà. Từ khách sạn nhà mi ra Blake có mấy bước. Còn mi nữa,” nó hất hàm với tôi, “bất cẩn quá! Mi phải buộc nó lại đi chứ! Đừng có xách đi lăng tăng không dây dợ gì cả.”
“Ừ,” tôi nói, “phải,” và đi vòng qua đầu xe đặt nó lên mũi trong lúc lần tìm sợi thừng trong túi.
“Tau xem được không?” Boris hỏi, đi tới sau tôi.
Tôi lật lớp dạ, và cả hai đứng lúng túng một lúc, như đôi quý tộc quèn người Flanders láng cháng bên một bức tranh vẽ Chúa giáng sinh.
“Cả đống rắc rối...”. Boris châm thuốc, phà khói sang ngang tránh bức tranh “nhưng cũng đáng, hửm?”
“Ờ ” tôi đáp. Giọng cả hai đùa cợt nhưng rất khẽ, như hai thằng bé trai ngứa ngáy trong nhà thờ.
“Tau giữ lâu hơn bất kỳ ai khác,” Boris nói. “Nếu tính ngày.” Rồi, chuyển giọng: “Nhớ này - nếu mi muốn, tau vẫn có thể thu xếp đổi lấy ít tiền. Chỉ đúng một vụ thôi, mi có thể giải nghệ.”
Nhưng tôi chỉ lắc đầu. Lời lẽ không diễn tả được những gì tôi cảm thấy, tuy đó là một điều nguyên thủy, tận đáy lòng mà Welty có chung với tôi, và tôi với ông, trong bảo tàng chừng ấy năm trước.
“Đùa thôi. Ờ... hơi hơi đùa. Nhưng mà không, thật đấy,” nó nói và dụi nắm tay vào tay áo tôi, “của mi đấy. Trọn vẹn, không ràng buộc. Sao mi không giữ lấy ít lâu ngắm cho đã trước khi đem trả mấy ông bà bảo tàng?”
Tôi lặng im. Tôi đã bắt đầu băn khoăn rốt lại thì làm thế nào mới mang qua biên giới được.
“Nào, quấn lại đi. Chúng mình phải ra khỏi đây thôi. Cứ ngắm sau nếu mi thích. Oài, đưa đây vậy,” nó nói và chộp lấy sợi dây trong bàn tay vụng về của tôi; tôi vẫn còn đang lúng túng chưa tìm được hai đầu - “đây để tau làm, không thì ở đây cả đêm mất.”
XIII
BỨC TRANH ĐÃ ĐƯỢC GÓI LẠI VÀ BUỘC KỸ, Boris đã cặp dưới tay và - rít một hơi cuối cùng - đã bước vòng qua bên ghế lái sắp chui vào xe thì, đằng sau chúng tôi, một giọng Mỹ thản nhiên và thân thiện cất lên, “Giáng sinh vui vẻ.”
Tôi quay lại. Có ba đứa tất cả, hai tên trung niên dáng bộ lười lĩnh, lững thững đi tới có phần thích thú, như kiểu tới giúp chúng tôi một tay - chúng vừa nói với Boris, chứ không phải tôi, thậm chí có vẻ vui mừng khi thấy nó - và đi líu ríu trước một quãng ngắn, là thằng bé người Á. Cái áo choàng trắng hoàn toàn không phải áo phụ bếp, mà là một kiểu không đối xứng, bằng len trắng dày cỡ hai phân; nó đang run rẩy và tái mét thấy rõ vì hoảng sợ. Nó không có vũ khí, hình như thế, vậy cũng tốt, vì điều đập vào mắt tôi ở hai tên kia - to con, dáng vẻ tới bàn công chuyện - là ánh kim loại trên súng ngắn mạ xanh lóe lên trong ánh nê ông lợt lạt. Ngay cả khi đó tôi vẫn chưa hiểu - giọng điệu thân thiện đã làm tôi mất cảnh giác, còn tưởng chúng bắt được thằng bé con giải đến cho chúng tôi - cho tới khi nhìn qua Boris thấy nó đã hóa đá tại chỗ, mặt trắng bệch.
“Rất tiếc phải làm việc này với mày,” thằng người Mỹ nói với Boris, dù giọng hắn không có vẻ tiếc nuối tẹo nào - hài lòng là khác. Hắn to ngang, mặt chán chường, áo khoác xám nhạt, và bất kể tuổi tác vẫn toát lên vẻ gì đó xấc láo và bầu bĩnh, chín quá độ, đôi bàn tay mềm trắng và vẻ hiền lành vô cảm của nhà quản lý.
Boris - thuốc lá trên môi - đứng đờ tại chỗ. “Martin.”
“Ừ, chào!” Martin hòa nhã nói, còn tên kia - một tay đại bàng tóc vàng xỉn mặc áo khoác len ngắn, nét mặt thô tháp y như trong truyện cổ Bắc Âu - lờ lững tiến lên sát Boris, mò mẫm một hồi bên hông nó, lột súng rồi chuyển qua cho Martin. Bối rối, tôi nhìn qua thằng bé mặc áo trắng, nhưng nó thì chẳng khác nào vừa bị búa nện vào đầu: trông nó cũng chẳng hề thích thú hay hớn hở hơn tôi trước cảnh tượng này.
“Tao biết là làm vậy thì khốn cho mày lắm,” Martin nói, “tuy nhiên. Uầy.” Cái giọng bình thản thật đối lập ghê người với đôi mắt trông như mắt rắn lục. “Này. Tao cũng khốn lắm đấy. Frits với tao đang ở Pim, chẳng có ý muốn ra ngoài tí nào. Thời tiết con tườu, hử? Giáng sinh tuyết trắng của chúng mình đâu rồi?”
“Mày làm gì ở đây?” Boris hỏi; bất chấp thái độ lặng lẽ quá mức, nó đang sợ ở một cấp độ tôi chưa từng thấy trong đời.
“Thế mày nghĩ sao?” Nhún vai cười cợt. “Tao cũng ngạc nhiên như mày thôi, nếu điều đó an ủi mày chút nào. Không bao giờ nghĩ Sascha lại lớn mật đến mức gọi Horst vụ này. Nhưng... ề, vụ lớn đến thế thì nó còn gọi ai được nữa, hẳn? Thôi cho xong đi,” hắn nói và vẩy súng thân thiện, và kinh hoảng choáng ngợp, tôi nhận ra hắn đang chĩa súng vào Boris, vẩy súng chỉ cái gói quấn trong vải dạ trong tay nó. “Nào. Đưa đây.”
“Không,” Boris nói quyết liệt, lắc đầu cho tóc khỏi xòa vào mắt.
Martin chớp mắt, vẻ cợt đùa ngỡ ngàng. “Mày nói cái gì thế?”
“Không.”
“Gì?” Martin cười lớn. “Không hả? Mày đùa tao chắc?”
“Boris! Đưa chúng nó đi!” Tôi lắp bắp, chết cứng vì kinh hoảng, khi thằng tên Frits kê súng sát thái dương Boris rồi túm tóc nó giật ngược xuống, mạnh đến nỗi nó rên lên.
“Tao biết mà,” Martin thân tình nói, liếc về tôi ra ý đồng lõa, như muốn bảo: đấy, mấy thằng Nga ngố đó - điên cả nút, đồng ý không? “Nào,” hắn bảo Boris, “Đưa qua đây.”
Boris lại hự lên khi thằng kia giật tóc nó lần nữa, và ném cho tôi cái nhìn không lẫn vào đâu được từ bên kia cái xe - cái nhìn tôi hiểu rõ mồn một chẳng khác gì nó đã nói thành tiếng, một kiểu đánh mắt khẩn thiết với một ý nghĩa rất rành rẽ từ thời còn đi vặt đồ trung tâm thương mại: co cẳng chạy đi, Potter, chạy.
“Boris,” tôi nói, sau một quãng dừng sửng sốt, “xin mày, cứ đưa chúng nó đi,” nhưng Boris chỉ rên lên lần nữa, tuyệt vọng, khi Frits đập sầm họng súng dưới cằm nó và Martin tiến lên cầm lấy bức tranh từ tay nó.
“Tuyệt vời. Cảm ơn nhá,” hắn khoái chí nói, cắp súng vào nách rồi bắt đầu cậy cậy dứt dứt sợi dây mà Boris đã buộc thành cái nút rất khó gỡ. “Cừ đây.” Mấy ngón tay hắn không khéo léo quá, và nhìn gần khi hắn thò tay lấy bức tranh, tôi đã hiểu tại sao: hắn đang phê chín tầng mây. “Dù sao thì...” Martin liếc ra sau lưng, như muốn rủ rê bạn bè vắng mặt cùng tham gia vào chuyện đùa, rồi quay lại, lại nhún vai thích thú “tao rất tiếc. Lôi chúng nó ra đằng kia, Frits,” hắn nói, vẫn đang bận rộn với bức tranh, hất hàm về phía góc ga ra đầy bóng tối như hầm ngục, tối hơn hẳn phần còn lại, và khi Frits nghiêng người quay khỏi Boris để giơ súng vẫy tôi - đi nào, thằng kia, cả mày nữa - thì tôi nhận ra, lạnh toát vì hoảng sợ, cái điều Boris đã biết từ khi mới nhìn thấy hai đứa chúng: lý do nó đã muốn tôi chạy đi, hay ít nhất là cố thủ.
Nhưng trong một tích tắc Frits vẫy súng về phía tôi, tất cả đã quên mất Boris; điếu thuốc của nó phun ra một tràng tia lửa. Frits ré lên đập vào má nó, rồi bước lùi, tay bấu cổ áo nơi điếu thuốc đã giắt vào gọn gàng bên cổ nó. Đúng lúc ấy Martin - đang mải mê vào bức tranh, đứng thẳng trước mặt tôi - nhìn lên, và tôi vẫn đang giương mắt nhìn hắn qua nóc xe thì nghe thấy, bên phải mình, ba tiếng lớn đanh gọn khiến cả hai quay ngoắt sang bên cạnh. Tiếng thứ tư vang lên (rúm người, nhắm mắt) khiến một vòi máu ấm phụt qua nóc xe táp vào mặt tôi và khi mở mắt lần nữa tôi thấy thằng bé người Á đang bước giật lùi kinh hãi quệt tay xuống ngực áo thành một vết máu dây như cái tạp dề đồ tể và trước mặt tôi là cái biển hộp sáng Beetaalautmaat op[169] nơi mới đây còn là cái đầu Boris; máu đang trào ra dưới gầm xe còn Boris đang nằm trên sàn chống khuỷu tay, chân đạp đạp, nó đang cố dướn lên khỏi sàn, không hiểu có bị thương hay không và chắc tôi đã chạy vòng qua xe đến chỗ nọ mà không nghĩ, vì nháy mắt sau đã thấy mình ở bên kia xe tìm cách đỡ nó dậy, máu tung tóe khắp nơi, Frits rũ rượi gục vào xe, một cái lỗ trên đầu to bằng quả bóng chày và tôi vừa nhận thấy khẩu súng của hắn trên mặt sàn thì nghe Boris hét toáng và Martin đã trước mặt, mắt nheo tít, cổ tay áo dính máu bóp chặt cánh tay và loay hoay tìm cách giơ súng.
Chuyện đó xảy ra trước cả khi nó kịp xảy ra, như đĩa phim bị nhảy đẩy tôi tới một thời điểm tương lai, vì tôi chẳng hề nhớ có nhặt súng trên sàn, chỉ nhớ cú giật mạnh đẩy tay tôi văng lên trời, còn chẳng nghe tiếng nổ tới khi cảm thấy cú giật và vỏ đạn bay vèo ra đập vào mặt, và tôi bắn tiếp, mắt nhắm hờ chống tiếng ồn, tay nảy lên sau mỗi cú bắn, cò súng cứng, cưỡng lại tay, như kéo thanh chốt cửa quá nặng, cửa ô tô vỡ tung tóe, Martin còn một tay tiến lại, kính an toàn nổ tung, những mảng xi măng từ cột nhà bắn ra, tôi bắn trúng vai hắn, thứ vải xám mềm ướt đẫm và đen lại, một vệt đen dần loang rộng, mùi thuốc nổ và tiếng ầm đinh tai đẩy tôi vào tít trong cùng hộp sọ đến nỗi không phải như âm thanh có thật đập vào màng nhĩ mà như bức tường đổ sập xuống đầu đẩy tôi lùi vào chốn đen thẫm nội tại cứng ngắc nào đó từ thơ ấu, và cặp mắt rắn của Martin đụng mặt tôi và hắn đang khật khừ tiến lại kê khẩu súng trên nóc xe thì tôi lại bắn trúng hắn bên trên con mắt, một luồng đỏ tóe lóe khiến tôi nhăn mặt và rồi, đâu đó đằng sau lưng, tôi nghe tiếng chân trần đập trên mặt xi măng - thằng bé, áo trắng đang chạy ra dốc lên cặp theo bức tranh dưới nách, nó đang chạy lên dốc ra đường, tiếng vọng âm vang trong không gian lát gạch và tôi suýt bắn nó chỉ có điều không hiểu sao đã lại sang một thời điểm hoàn toàn khác và tôi đang quay lưng lại xe, tôi đang gập người chống tay lên gối còn khẩu súng trên mặt đất, tôi chẳng hề nhớ có thả nó xuống dù âm thanh thì nhớ, nó đã rơi lạch cạch xuống sàn và cứ mãi hoài lạch cạch, và tiếng âm vang còn vọng trong đầu và rung chấn của khẩu súng còn chạy dọc cánh tay, nôn ọe, gập bụng, máu của Frits còn bò râm ran cuộn tròn trên lưỡi.
Trong bóng tối vọng đến tiếng chân chạy, và lần nữa tôi không thấy, cũng không nhúc nhích được, mọi thứ đều viền sắc đen và tôi đang ngã dù tôi không hề ngã vì chẳng hiểu sao tôi đang ngồi trên một dải tường thấp lát gạch men đầu gục giữa hai đầu gối nhìn xuống nước bọt đỏ trong veo, hay là bãi nôn, trên mặt xi măng sơn epoxy bóng loáng giữa hai chiếc giày và Boris, đây là Boris, hụt hơi và ngột thở và lõa máu, đang chạy từ ngoài lại, giọng nó vọng đến từ nghìn dặm xa, Potter, mi có sao không? nó chạy rồi, tau không tóm được, nó chuồn rồi.
Tôi chùi tay trên mặt nhìn vết đỏ dính trên tay. Boris vẫn đang nói gì đó với tôi rất khẩn thiết nhưng dù nó lắc vai tôi thì đấy vẫn chỉ là khẩu hình miệng và những tiếng vô nghĩa vọng tới qua kính cách âm. Khói từ khẩu súng vừa bắn lạ lùng thay lại chính là mùi khai khai tỉnh ngủ của bão giông Manhattan và những vỉa hè thành phố ướt. Những đốm xanh trứng sáo trên cửa chiếc Mini xanh nhạt. Gần hơn, ngoằn ngoèo tối sẫm bò ra từ dưới gầm xe Boris, một vũng óng ánh xa tanh rộng cả mét đang tỏa rộng, nhích tới như con a míp, và tôi nghĩ không biết bao lâu nữa nó sẽ lan đến giày mình và khi đó mình phải làm gì.
Mạnh nhưng không tức giận, Boris giáng cho tôi một nắm đấm vào bên đầu: cú bợp vô tư, không hề có cảm xúc. Như thể nó đang hà hơi thổi ngạt cho tôi.
“Đi nào,” nó nói. “Kính của mi kìa,” nó thêm và hất đầu nhẹ.
Kính của tôi - dính máu, còn nguyên - nằm trên sàn bên chân. Tôi cũng không nhớ nó rơi ra lúc nào.
Boris tự mình nhặt lên, lau vào ống tay áo, chìa cho tôi.
“Đi nào,” nó nói, tóm lấy tay tôi, kéo tôi dậy. Giọng nó đều đều, rù rì, mặc dù người nó bắn đầy máu và tay nó cầm tay tôi đang run. “Xong hết rồi. Mi đã cứu chúng mình.” Cú nổ đã khởi động chứng ù tai của tôi như một đàn châu chấu đang ro ro trong đầu, “Mi giỏi lắm. Giờ thì - ra đây nào. Nhanh lên.”
Nó dẫn tôi vào sau khu vực văn phòng quây kính, khóa cửa tối om. Cái áo lông lạc đà của tôi có máu, Boris gỡ ra khỏi người tôi như người giữ áo ở lễ tân, lộn ngược mặt trong ra rồi vắt lên cây cột xi măng.
“Mi sẽ phải tống khứ nó đi thôi,” nó nói và rùng mình thật mạnh. “Sơ mi nữa. Bây giờ thì chưa - sau này. Giờ…” mở cửa, lách vào sau lưng tôi, bật đèn “ra đây.”
Phòng vệ sinh ẩm ướt, hăng mùi băng phiến và nước tiểu. Không có bồn rửa, chỉ có vòi nước trơ trụi và lỗ thoát nước trên sàn.
“Mau, mau,” Boris nói và xả nước hết cỡ. “Không cần hoàn hảo. Chỉ cần... eo!” nhăn mặt khi thò đầu vào dưới vòi, vã nước lên mặt, chà bàn tay kỳ cọ...
“Tay mày kìa,” tôi nhận ra mình đang nói. Tư thế tay nó rất kỳ cục.
“Ừ, ừ…” nước lạnh bắn khắp nơi, trồi lên hớp khí “hắn thổi trúng tay tau, không mạnh lắm, mẻ tí thôi… ôi trời...” nhổ bọt, lắp bắp “đáng ra tau phải nghe mi. Mi đã cố nói rồi! Boris, mi bảo, có người đằng đó! Trong bếp ấy! Nhưng tau có nghe mi không? Có chú ý không? Không. Thằng nhãi khắm ấy - thằng nhóc Tàu ấy - đấy là bồ của Sascha! Woo, Goo gì đó, tau đếch nhớ tên nổi. A...” lại thò đầu dưới vòi nước, lúng búng một lúc khi nước chảy xòa trên mặt “phì! Mi đã cứu chúng mình, Potter ạ, tau tưởng chúng mình tiêu rồi…”
Đứng lùi lại, nó chà hai tay lên mặt, đỏ tươi, chảy nước. “Được rồi,” nó nói, vuốt nước khỏi mắt và vẩy đi, rồi đẩy tôi lại cái vòi đang chảy ùng ục, “giờ đến mi. Bỏ đầu xuống - ừ, ừ, lạnh lắm!” Xô tôi vào khi tôi rúm lại. “Xin lỗi! Tau biết! Tay, mặt…”
Nước như băng, nghẹt thở, chui vào mũi tôi, chưa bao giờ trong đời tôi thấy cái gì lạnh thế này, nhưng cũng làm tôi hơi tỉnh lại.
“Mau, mau,” Boris nói và xốc tôi lên. “Vét - sẫm - không thấy đâu. Sơ mi vô phương rồi, bẻ cổ lên, đây, để tau làm cho. Khăn bỏ trong xe, hửm? Quấn quanh cổ được không? Đừng đừng - bỏ đi...” Tôi đang run lẩy bẩy, chộp lấy áo khoác, răng đánh đàn vì lạnh, cả nửa thân trên ướt đẫm - “ừ, tùy mi, mi sẽ chết rét thôi, chỉ cần xoay cho mặt lót ra ngoài.”
"Tay mày.” Dù áo ngoài màu tối và ánh sáng rất yếu tôi vẫn thấy vết đạn cháy ở bắp tay nó, len đen dính nhớp vì máu.
“Bỏ đi. Không có gì. Chúa ơi, Potter.. .” quay đầu đi lại chỗ xe, gần như chạy, tôi hối hả theo, sợ điếng khi nghĩ sẽ mất dấu nó, sẽ bị bỏ lại. “Martin! Thằng khốn ấy bị tiểu đường nặng, tau đã hy vọng nó chết nhiều năm nay. Grateful Dead, tau nợ cả mày nữa!” nó nói và nhét khẩu cụt nòng vào túi, rồi - từ túi ngực áo vét - lôi ra một bọc bột trắng rồi mở ra dốc ụp xuống.
“Đấy là xong,” nó nói, phủi tay và bước giật lùi lại; mặt nó trắng như phấn, đồng tử đờ đẫn và dù nhìn lên tôi nhưng có vẻ nó cũng không thấy tôi. “Vậy là chúng nó sẽ chỉ truy cái đó thôi. Martin cũng đang mang hàng, phê lòi tĩ ra rồi, mi thấy chứ? Thế nên hắn mới chậm chạp vậy - cả Frits nữa. Chúng nó không nghĩ sẽ bị gọi - không nghĩ sẽ phải đi làm đêm nay. ơn Chúa…”- nhắm nghiền mắt “chúng mình may thôi là may.” Vã mồ hồi, trắng như ma, lau trán. “Martin biết tau, nó biết tau mang những gì, nó không nghĩ tau có khẩu thứ hai đó, còn mi - chúng nó chẳng hề nghĩ tới mi. Vào xe đi,” nó nói. “Không, không…” tóm lấy tay tôi; tôi đang đi theo nó qua bên ghế lái như mộng du - “không phải vào đó, trong đó tởm lắm. Ồ...” đứng phắt, một thế kỷ trôi qua trong ánh đèn xanh lét chập chờn - rồi lại khập khiễng quay lại lấy súng của nó trên sàn, lau sạch bằng miếng vải trong túi và - bọc miếng vải cầm cẩn thận - buông rơi xuống sàn.
“Phù,” nó nói và cố thở lại. “Thế sẽ làm chúng nó lúng túng. Chúng nó cứ việc tìm cách lần theo món đó hàng năm trời.” Nó dừng lại, đỡ cánh tay bị mẻ bằng bàn tay kia: nó nhìn tôi một vòng. “Mi lái xe được không?”
Tôi không đáp được. Ngơ ngẩn, quay cuồng, run rẩy. Tim tôi, sau khi nhất thời va mạnh rồi đông cứng, giờ lại bắt đầu đập từng nhịp mạnh, gắt, đau đớn, như có quả đấm đang nện giữa ngực.
Thật nhanh, Boris lắc đầu, miệng phát ra tiếng chậc chậc. “Sang bên kia,” nó nói, khi đôi chân tự động di chuyển lại dẫn tôi theo nó. “Không, không…” - dẫn tôi vòng lại, mở cửa ghế lái phụ, xô nhẹ tôi vào.
Ướt đẫm. Run bắn. Buồn ọe. Trên sàn: gói kẹo cao su Stimorol. Bản đồ đường bộ: Frankfurt-Offenbach-Hanau.
Boris đã đi vòng qua bên kia xe, ngắm kỹ. Rồi, gượng nhẹ, nó trở lại ghế lái - đi vòng vèo, cố không giẫm phải máu - rồi ngồi vào sau bánh lái, nắm bằng cả hai tay và hít thật sâu.
“Được rồi,” nó nói khi thở ra thật dài, nói chuyện, một mình như phi công chuẩn bị cất cánh làm nhiệm vụ. “Cài dây an toàn thôi. Mi nữa. Đèn phanh ổn không? Đèn hậu nữa?” Vỗ vỗ túi, dựng thẳng lưng ghế, vặn máy sưởi lên mức Cao. “Xăng nhiều - tốt. Ghế sưởi nữa - ta sẽ được ấm. Không được để bị chặn lại,” nó giải thích. “Vì tau không lái được.”
Hàng ngàn thứ tiếng li ti: tiếng cọt kẹt của da ghế, nước rỉ xuống từ ống tay áo ướt.
“Không lái được?” tôi hỏi, trong cái im lặng đặc kịt âm vang.
“À, tau lái được.” Chống chế “Từng lái rồi. Tau…” khởi động xe, lùi lại, tay để dọc ghế “hừ, chứ mi nghĩ sao tau phải kiếm tài xế? Tau sang đến thế cơ à? Không. Tau có…” giơ ngón trỏ “tiền sử lái xe say rượu.”
Tôi nhắm mắt khỏi nhìn thấy đống máu me chèm nhẹp khi xe đi qua.
“Vậy, mi hiểu chứ, nếu chặn tau lại chúng nó sẽ xách tau về đồn và đấy là một điều chúng ta không muốn xảy ra.” Tôi hầu như không nghe thấy nó nói gì trong tiếng ầm ầm dữ dội trong đầu. “Nên mi phải giúp tau. Như là - để mắt tìm biển đường và ngăn không cho tau đi vào làn xe buýt. Lối đi xe đạp ở đây màu đỏ, cũng không được đi vào đó, nên giúp tau canh chừng cả cái đó nữa.”
Lại ra Phố Overtoom, quay đầu trở lại Amsterdam: Locksmith Sleutelkluis, Vacatures, Digitaal Printen, Haji Telecom, Onbeperkt Genieten[170], chữ Ả rập, ánh sáng rớt dài, một cơn ác mộng, tôi sẽ không bao giờ thoát khỏi con đường khốn khiếp này.
“Chúa ơi, tau nên đi chậm lại thôi,” Boris trầm tư nói. Trông nó thật ngác ngơ thảm hại. “Trajectcontrole[171]. Giúp tau để mắt biển đường.”
Vết máu dây trên cổ tay áo tôi. Những giọt lớn.
“Trajectcontrole. Nghĩa là một thứ máy báo với cảnh sát rằng mi đang chạy quá tốc độ. Chúng nó đi xe dân sự, có cả lố ấy, và nhiều khi chúng nó chạy theo sau hồi lâu rồi mới chặn mi lại, mặc dù - chúng mình may đấy - đêm nay ở đây chẳng có mấy xe. Cuối tuần, chắc thế, với ngày nghỉ nữa. Ngoài này chẳng hẳn là vùng Giáng sinh vui vẻ nếu mi hiểu ý tau. Mi hiểu chuyện gì vừa xảy ra chứ hửm?” Boris hỏi, hết sức hít mạnh và quẹt mũi sồn sột, phát ra tiếng sụt sịt.
“Không.” Đấy là ai khác nói, không phải tôi.
“Ờ - Horst. Cả hai thằng đó đều là người của Horst. Frits hẳn là người duy nhất ở Amsterdam lão quen có thể điều động gấp như vậy nhưng còn Martin - đệt.” Nó đang nói rất nhanh và lộn xộn, nhanh đến nỗi lời lẽ chẳng nghe tròn chữ nữa, mắt nó nhìn đâm đăm vô cảm. “Ai mà biết được Martin còn đang ở đây? Mi biết Horst và Martin gặp nhau ra sao chứ?” nó hỏi và liếc hờ về phía tôi. “Trại tâm thần! Trại tâm thần hạng sang ở California! ‘Hotel California’, Horst từng gọi thế! Đấy là cái hồi gia đình Horst còn chưa từ mặt lão. Horst vào đó cai nghiện nhưng Martin thì là vì hắn điên thật, điên có thớ. Điên cái loại sẵn sàng cắm dao vào mắt người ta ấy. Tau đã chứng kiến Martin làm nhiều trò mà tau không muốn kể đến nữa. Tau…”
“Tay mày.” Nó đang bị đau; tôi nhìn thấy nước mắt long lanh trong mắt nó.
Boris nhăn mặt. “Nyah. Cái này có đếch gì. Cái này chả là gì.A...” nó nói, nhấc khuỷu tay để tôi quấn dây sạc điện thoại quanh cánh tay nó - tôi đã giật dây ra, quấn hai vòng phía trên vết thương, buộc thật chặt hết sức có thể - “mi khôn đấy. Phòng ngừa tốt. Cảm ơn! Dù là, thực sự không cần đâu. Xước xát tí ấy mà - bị dập thì đúng hơn, tau nghĩ thế. May là áo lại dày ! Lau rửa sạch - ít kháng sinh và cái gì đó chống đau - là tau lại ngon. Tau...” - hít mạnh, rùng mình - “tau cần tìm Gyuri và Anh Đào. Tau hy vọng chúng nó đến thẳng Blake. Dima - Dima cũng cần báo một câu, về cái cảnh tởm lợm trong đó. Nó không vui đâu - sẽ có cảnh sát, đau đầu lắm - nhưng trông có vẻ rất ngẫu nhiên. Không có gì để nối tới nó cả.”
Đèn xe đối diện vùn vụt. Máu chạy rần rần trong tai. Trên đường không nhiều xe lắm nhưng từng chiếc đều khiến tôi rùng mình.
Boris rên lên, vuốt lòng bàn tay qua mặt. Nó đang nói gì đấy, rất hối hả và kích động. “Gì cơ?”
“Tau đang nói - đúng là trò khốn. Tau vẫn đang nghĩ coi.” Giọng vỡ ra, gióng một. “Vì tau đang băn khoăn một điều - có thể tau nhầm, có thể tau điên - nhưng biết đâu Horst đã biết từ đầu? Là Sascha lấy cái tranh? Chỉ có điều Sascha mang tranh ra khỏi Đức và tìm cách đem mượn tiền sau lưng Horst. Và rồi khi mọi việc tung tóe ra cả - Sascha phát hãi - thì nó còn gọi ai? tất nhiên, chỉ là tau nghĩ thành tiếng thôi, có thể Horst không biết là Sascha đã lấy, có thể lão sẽ chẳng bao giờ biết nếu Sascha không bất cẩn ngu đần đến mức đi…Quỷ tha ma bắt cái đường vành đai chết mẹ này!” nó đột ngột nói. Chúng tôi đã rẽ khỏi Overtoom và đang đi vòng. “Tau phải đi phía nào? Bật máy chỉ đường coi.”
“Tao…” loay hoay một hồi, chữ không hiểu được, các mục không đọc được, Geheugen, Plaats,, vặn núm số, mục khác, Gevarieerd, Achtergrond.
“Con kẹc. Thử cái này vậy. Xùy, sát nút,” Boris nói, rẽ hơi nhanh và hơi ẩu quá. “Mi cũng thuộc loại ông mãnh đấy, Potter. Frits - Frits thì xìu rồi, gần như ngủ gật nữa, nhưng còn Martin, Chúa ơi. Rồi mi…? Vùng lên gan liều? Tuyệt hảo! Tau còn không nghĩ đến mi ở đó. Nhưng mi đã làm được! Đúng là chưa dùng vũ khí bao giờ hả?”
“Chưa.” Phố đen loáng ướt.
“Này, nghe tau nói một điều nghe có vẻ buồn cười nhé? Nhưng - thực ra là lời khen đấy. Mi bắn như con gái ấy. Mi biết tại sao lại là lời khen không? Bởi vì,” Boris nói, giọng nhừa nhựa mê sảng, “trong tình huống bị đe dọa, đàn ông chưa bao giờ bắn súng và đàn bà chưa bao giờ bắn súng? Thì đàn bà - Bobo bảo vậy - sẽ nhiều khả năng hạ gục đối phương hơn. Phần lớn đàn ông thì sao? Muốn có vẻ anh hùng, xem nhiều phim quá, sốt ruột và bóp cò quá sớm - Con kẹc,” Boris thình lình nói và đạp sầm phanh.
“Sao?”
“Không hay chút nào.”
“Cái gì không hay?”
“Đường bị chặn rồi.” Cài số lùi. Cho xe chạy lùi khỏi phố.
Khu vực xây dựng. Hàng rào đằng trước những xe ủi, các nhà bỏ trống căng bạt nhựa xanh trên cửa sổ. Hàng chồng đường ống, khối bê tông, graffiti tiếng Hà Lan.
“Giờ chúng ta làm gì?” tôi hỏi trong quãng im lặng tê liệt theo sau, sau khi xe đã rẽ vào đường khác dường như không có tí đèn đường nào.
“À... không có cầu nào để qua. Và kia là ngõ cụt, vậy nên...”
“Không, tao muốn hỏi giờ ta làm gì.”
“Về việc gì?”
“Tao...” Răng tôi đập vào nhau mạnh đến mức hầu như không thốt ra lời. “Boris, chúng ta sụp hố rồi.”
“Không! Không có chuyện đó. Súng của Grozdan…” nó gượng gạo vỗ túi áo “tau sẽ bỏ xuống kênh. Chúng nó sẽ không lần được ra tau, nếu không lần được ra nó? Và - không có gì móc nối tới ta cả. Vì súng của tau? Sạch bong. Không số đăng ký. Cả lốp xe cũng mới! Tau sẽ đưa xe cho Gyuri và tối nay ảnh sẽ đổi. Nghe này,” Boris nói khi tôi không trả lời, “đừng lo! Chúng mình an toàn. Nghe rõ không? An. Toàn.” (dứ nắm đấm vụng về ở mỗi chữ).
Xe nảy trên ổ gà, tôi vô thức co rúm, phàn ứng lại trong giật mình, tay vụt đưa lên che mặt.
“Mà vì sao, là vấn đề trên hết? Vì chúng mình là bạn cũ - vì chúng mình tin nhau. Và vì…ôi trời, có cảnh sát, để tau đi chậm lại.”
Nhìn xuống giày. Giày giày giày. Tôi chỉ còn nghĩ được, khi xỏ vào mấy giờ trước, mình còn chưa từng giết ai.
“Vì - Potter, Potter, mi nghĩ mà coi. Nghe tau một giây thôi, làm ơn. Nếu giả thử tau là người lạ - người mi không hề biết, không hề tin? Nếu bây giờ mi đang lái xe rời cái ga ra kia với một thằng người lạ? Thì đời mi đã bị trói vào cái người lạ đó vĩnh viễn. Mi sẽ phải cực kỳ cẩn thận với người lạ này, đến hết đời mi.”
Tay lạnh, chân lạnh. Snackbar, Supermarkt[172], những núi hoa quả hay kẹo hút mắt, Verkoop Gestart[173]!
“Đời mi - tự do của mi - phụ thuộc vào lòng trung thành của một người lạ? Trong trường hợp ấy? Ừ. Lo đi. Dĩ nhiên phải lo. Mi sẽ gặp phiền lớn. Nhưng - chuyện này không ai biết trừ chúng mình. Cả Gyuri cũng không!”
Không mở miệng được, tôi lắc đầu quầy quậy khi nghe câu đó, cố lấy hơi.
“Ai? Thằng bé Tàu à?” Boris phát ra một tiếng khinh bỉ. “Nó kể với ai cơ chứ? Nó chưa đến tuổi thành niên và nó ở đây bất hợp pháp. Nó không nói được thứ tiếng nào tử tế cả.”
“Boris...” hơi chúi người về phía trước, tôi cảm giác mình sắp ngất xỉu “nó cầm bức tranh.”
“À. ” Boris nhăn mặt đau đớn. “Cái đó thì mất rồi, tau e là thế.”
“Sao?”
“Vĩnh viễn rồi, có thể. Cái đó làm tau muốn bệnh - bệnh từ đáy lòng. Vì, tau phải nói thôi - Woo, Goo, tên gì cũng được? Sau những gì nó thấy...? Nó sẽ chỉ nghĩ được về bản thân thôi. Sợ muốn chết! Người chết! Bị trục xuất! Nó không muốn dính vào. Quên cái tranh đi. Nó không biết giá trị thực của nó đâu. Và nếu nó rơi vào cảnh ì xèo gì với cảnh sát? Thay vì ngồi trong tù dù chỉ một ngày? Nó sẽ chỉ muốn một điều là tống khứ cái tranh đi. Vì thế…” - nó nhún vai ngáp ngủ - “hãy hy vọng là nó thoát ra được, thằng nhãi thối ấy. Nếu không khả năng cao là con ptitsa sẽ hết đời dưới đáy kênh - hoặc là bị đốt.”
Đèn đường lấp lóa trên nóc các xe đang đỗ. Tôi thấy người lơ lửng, như bị cắt lìa khỏi bản thân mình. Trở lại vào thân thể sẽ có cảm giác ra sao, tôi không hình dung được. Chúng tôi đã vào lại khu phố cổ, sỏi lát đường lục cục, màu đơn sắc ban đêm y hệt trong bức Aert van der Neer và thế kỷ 17 đang ép sát chúng tôi từ hai bên và những đồng xu bạc nhảy nhót trên nước kênh đen.
“Oạch, đường này cũng đóng,” Boris rền lên và lại dừng khựng, cho xe lùi, “phải tìm đường khác thôi.”
“Mày có biết mình đang ở đâu không?”
“Có - tất nhiên,” Boris nói, vẻ hớn hở vô tâm rất đáng sợ. “Cái kênh của mi đằng kia kìa. Herengracht.”
“Kênh nào cơ?”
“Amsterdam là một thành phố rất dễ tìm đường,” Boris nói, như không nghe thấy tôi hỏi. “Trong khu phố cổ mi chỉ việc đi theo các con kênh đến khi... Ôi, Chúa ơi, chỗ này cũng đóng rồi.”
Thang sắc độ của đêm. Những màn đen chợt sống dậy kỳ dị. Vầng trăng nhỏ ma quái bên trên những đầu hồi treo chuông, tí tẹo đến mức trông như trăng của một hành tinh khác, mờ sương, thần bí, những đám mây ma mị được chiếu sáng mà phải để ý kỹ lắm mới nhận ra thoáng xanh lam và nâu.
“Không lo đâu, thế suốt ấy mà. Ở đây lúc nào cũng đang xây dựng cái gì đấy. Những công trường to rất tởm. Mấy cái này - tau nghĩ là cho đường xe điện ngầm mới hay gì đấy. Ai cũng ghét. Tố cáo nào là lừa đảo các thứ vân vân. Thành phố nào cũng vậy, hửm?” Giọng nó nhòe đi đến nỗi nghe như say. “Đào đường ở đâu, quan giàu ở đấy? Chính vì thế mà ai cũng đi xe đạp, đạp nhanh hơn, chỉ có điều, xin lỗi nhé, tôi không thích đạp đi đâu cả khi còn một tuần nữa là đến Giáng sinh. Ôi mẹ ơi...” cầu hẹp, đứng chết cứng sau một hàng xe “chúng ta có nhúc nhích được không đây?”
“Tao...” Chúng tôi bị dừng trên một cây cầu đi bộ. Những giọt hồng thấy rõ trên cửa xe táp mưa. Người qua người lại cách chúng tôi không đầy ba chục phân.
“Ra ngoài xe nhìn xem. Ờ, chờ đấy,” nó sốt ruột nói trước khi tôi kịp tỉnh lại; chuyển xe sang chế độ Đỗ, tự mình chui ra ngoài. Tôi thấy cái lưng nó bắt sáng trong luồng đèn xe, trông trịnh trọng như trên sân khấu giữa những đám mây khói xăng lồng lộng.
“Xe tải,” nó nói khi lại ngồi uỵch vào trong xe. Sập cửa. Hít thật sâu, duỗi hai tay nắm chặt bánh lái.
“Nó đang làm gì?” Nhìn sang hai bên, khiếp vía, chực chờ thấy một khách bộ hành bất kỳ để ý thấy vết máu, chạy nhào đến xe, đập sầm sầm vào cửa sổ, giật cửa xe mở toang.
“Làm sao tau biết được? Có quá nhiều xe trong cái thành phố chết trôi này. Này,” Boris nói - vã mồ hôi, tái nhợt trong ánh đèn hậu đỏ choét của cái xe trước mặt; thêm nhiều xe vừa kéo đến sau lưng, chúng tôi kẹt cứng rồi - “chẳng biết sẽ phải ở đây bao lâu nữa đâu. Chúng mình chỉ còn cách khách sạn mi mấy khối nhà thôi. Tốt hơn là mi ra đi bộ đi.”
“Tao...” Có phải ánh đèn của cái xe đằng trước làm nước đọng trên kính trước trông đỏ đến thế không?
Nó phẩy tay nôn nóng. “Potter, đi đi,” nó nói. “Tau không biết cái xe tải trên kia có chuyện gì. Tau chỉ sợ sẽ có cảnh sát giao thông tới. Tốt hơn cho cả đôi là hai ta không ở cạnh nhau lúc này. Herengracht - mi không nhầm được đâu. Ở đây kênh chạy vòng tròn, mi biết mà, phải không? Chỉ cần đi đằng kia…”- nó chỉ - “mi sẽ thấy thôi.”
“Còn tay mày thì sao?”
“Chả sao cả! Tau có thể lột áo cho mi xem chỉ tội sẽ lằng nhằng quá thôi. Giờ thì đi đi. Tau phải nói chuyện với Anh Đào.” Lôi điện thoại trong túi ra. “Có thể tau sẽ phải rời khỏi đây ít lâu trong lúc...”
“Hả?”
“... nhưng nếu chúng mình không gặp nhau chút chút, cũng đừng lo, tau biết mi ở đâu. Tốt nhất là mi đừng cố gọi cho tau hay liên lạc lại. Tau sẽ trở lại ngay khi có thể. Mọi thứ sẽ ổn thôi. Đi đi - rửa ráy đi - khăn buộc cổ, cao vào - chúng mình sẽ gặp sớm. Đừng có trắng bệch ra thế! Mi còn chút nào không? Mi có cần gì không?”
“Hử?”
Lục lọi trong túi. “Này, cầm lấy.” Phong bì trổ ô bóng kính dán tem đã bị bợt. “Không nhiều lắm, nhưng rất tinh. Bằng đầu diêm thôi. Không hơn. Lúc mi tỉnh dậy, sẽ thấy không tệ quá đâu. Giờ thì, nghe này... ” bấm điện thoại, tôi thấy rất rõ tiếng nó thở phì phò “quấn khăn thật cao trên cổ và cố đi phía đường tối càng nhiều càng tốt. Đi đi!” nó quát lên khi thấy tôi vẫn ngồi đó, quát to đến nỗi một người trên vỉa hè đi bộ trên cầu ngoái lại nhìn. “Nhanh lên! Anh Đào,” nó nói, thả người vào ghế trông nhẹ nhõm thấy rõ và bắt đầu lảm nhảm khàn đặc bằng tiếng Ukraina khi tôi ra khỏi xe - cảm giác ghê rợn như mình phơi người ra trước luồng đèn pha ma quái từ dòng xe chết tắc - và bước ngược lại trên cầu, về phía chúng tôi từng đi tới. Lần cuối cùng tôi nhìn lại, nó đang gọi điện và mở cửa sổ nhoài người ra, giữa những đám mây khói xăng dày đặc, xem tình hình cái xe tải mắc kẹt đằng trước ra sao.
XIV
GIỜ SAU ĐÓ, hay nhiều giờ sau đó, đi loanh quanh những vòng kênh kiếm khách sạn của mình, thuộc về số những giờ khốn nạn nhất đời tôi, mà nói như vậy cũng là rất đáng kể. Nhiệt độ vừa tuột xuống, tóc tôi ẩm, quần áo thì ướt sũng, răng lập cập vì lạnh, đường phố vừa đủ tối để cái nào cũng giống cái nào mà lại không đủ tối để tôi diễu đi trong trang phục còn thấm máu người tôi vừa giết. Theo những phố tối tăm tôi bước nhanh, gót giày gõ tiếng tự tin một cách kỳ cục, cảm thấy vừa luống cuống vừa bị phơi trần như kẻ bị ác mộng thấy mình trần truồng đi lại, cố tránh đèn đường và tìm mọi cách trấn an mình, nhưng càng lúc càng vô dụng, rằng cái áo lộn trái trên người trông hết sức bình thường, không có gì bất thường cả. Có người đi bộ trên phố, nhưng không nhiều. Sợ bị nhận ra, tôi đã bỏ kính vì qua kinh nghiệm tôi biết cặp kính là điểm dễ nhận diện nhất trên người mình - là điều mọi người nhận thấy trước hết, và điều người ta nhớ nhất về sau - và dù việc đó không giúp tôi dễ tìm đường hơn là mấy, nhưng lại đưa đến một cảm giác an toàn và ẩn thân rất phi lý: những biển đường không đọc ra chữ và những quầng sáng đèn đường mờ sương bồng bềnh bay ra khỏi quầng tối, những luồng đèn ô tô nhòe nhoẹt và đèn pha màu ngày lễ, cảm giác bị những kẻ săn đuổi quan sát qua cặp ống nhòm hỏng tiêu cự.
Sự việc xảy ra là: tôi đã đi lố hai ba khối nhà so với khách sạn. Hơn nữa: tôi chưa quen với những khách sạn châu Âu mà quá một giờ nhất định phải gọi chuông mới vào được; khi cuối cùng cũng dạt vào đến nơi, hắt hơi sổ mũi và lạnh thấu xương, để rồi thấy cánh cửa kính khóa kỹ, tôi đã đứng một hồi lâu không tính hết, lắc tay nắm như một tên xác sống, giật lên giật xuống, giật lên giật xuống, nhịp nhàng đều đặn và bất lực một cách đờ đẫn, não đã teo lại vì cái rét đến nỗi không hiểu sao mình không vào được. Âu sầu, nhìn qua cửa, tôi ngắm cái bàn đen bóng loáng đầu kia sảnh đón: không có ai.
Rồi - hối hả từ trong chạy ra, lông mày vống lên kinh ngạc - một người tóc đen gọn gàng mặc vét đen. Một ánh chớp đáng sợ khi mắt anh ta chạm mắt tôi và tôi nhận ra mình hẳn là trông kinh khiếp lắm, rồi anh ta ngoảnh đi, loay hoay mở khóa.
“Xin lỗi quý khách, chúng tôi khóa cửa sau mười một giờ tối,” anh ta nói, Vẫn nhìn đi chỗ khác. “Đấy là vì sự an toàn của khách nghỉ.”
“Tôi bị mắc mưa.”
“Vậy đấy thưa quý khách.” Tôi nhận ra anh ta đang nhìn cổ tay áo tôi, còn dính một giọt máu đã ngả màu nâu to cỡ đồng xu. “Chúng tôi có ô ở bàn lễ tân nếu quý khách cần đến.”
“Cảm ơn.” Rồi ngớ ngẩn tiếp: “Tôi đánh đổ sốt sô-cô-la lên người.”
"Rất tiếc khi nghe điều đó, thưa quý khách. Chúng tôi rất vui lòng được giúp đỡ quý khách tìm cách tẩy nó đi ở phòng giặt.”
“Vậy thì tốt quá.” Anh ta có ngửi thấy mùi máu trên người tôi không? Trong tiền sảnh có sưởi, người tôi bốc mùi hôi rình lên, mùi sắt gỉ và mùi muối. “Lại còn là áo tôi thích nhất nữa. Su kem đổ sô-cô-la.” Im mồm, im mồm. “Nhưng ngon miệng lắm.”
“Tôi rất vui khi nghe vậy, thưa quý khách. Chúng tôi rất vui lòng được đặt bàn cho quý khách ở nhà hàng tối mai nếu quý khách muốn.”
“Cảm ơn anh.” Máu trong miệng tôi, mùi và vị máu khắp nơi, tôi chỉ hy vọng anh ta không ngửi thấy sặc sụa lên như tôi. “Thế thì tốt quá.”
“Thưa quý khách?” anh ta nói khi tôi dợm đi về phía thang máy.
“Vâng?”
“Hẳn là quý khách cần chìa?” Đi lại sau bàn, chọn chìa khóa từ hốc. “Phòng hai bảy phải không ạ?”
“Phải,” tôi nói, vừa cảm tạ anh ta đã cho mình biết số phòng mà lại vừa hoảng sợ thấy anh ta thuộc làu không cần hỏi.
“Chúc một đêm tốt lành, thưa quý khách. Hy vọng quý khách có kỳ nghỉ dễ chịu.”
Hai thang máy khác nhau. Hành lang vô tận, thảm trải màu đỏ. Khi vào phòng, tôi bật tất cả các đèn lên - đèn bàn, đèn giường, đèn chùm chói lọi, rũ áo khoác lên sàn, đi thẳng vào phòng tắm, vừa đi vừa tháo cái áo sơ mi đẫm máu, loạng choạng như con quái vật của Frankenstein đối diện đội quân chĩa ba. Tôi cuộn mớ vải nhớp nháp rồi quăng xuống đáy bồn tắm, mở nước thật to thật nóng hết mức có thể, những dòng suối màu hồng chảy ồng ộc dưới chân, kỳ cọ người bằng thứ sữa tắm hương hoa ly tới khi bốc mùi như một vòng hoa viếng còn da thì rát bỏng.
Cái sơ mi coi như vứt đi: những vệt nâu còn đóng vẩy và bê bết trên cổ rất lâu sau khi nước đã trong vắt. Để mặc nó ngâm trong bồn, tôi quay sang cái khăn và áo khoác - cũng bết máu, tuy vải sẫm màu nên không rõ - và rồi, lộn trái ra, cực kỳ gượng nhẹ (Sao lại đi mặc cái lông lạc đà đến tiệc? Sao không chọn cái màu hải quân?) đến cái áo khoác. Một bên ve áo không quá tệ, bên kia thì không thể tệ hơn. Vết máu tóe màu rượu vang chứa lực chuyển động bắn tung lập tức khiến tôi sống lại cái khoảnh khắc nhiệt náo của cú bắn từ đầu đến cuối: cái giật ở tay, giây bùng nổ, đường bay của từng giọt nhỏ. Tôi dúi nó vào dưới vòi nước bồn rửa, đổ dầu gội lên kỳ lấy kỳ để bằng bàn chải đánh giày trong tủ, và sau khi dầu gội hết, lấy cả sữa tắm; tôi chà bánh xà phòng cục lên kỳ thêm một chặp nữa, như một cô hầu tuyệt vọng trong truyện cổ bị bắt phải hoàn thành một nhiệm vụ bất khả thi trước bình minh mới khỏi tội chết. Cuối cùng, mỗi ngón tay đều nhức mỏi run rẩy, tôi quay sang dùng bàn chải và kem đánh răng bóp thẳng từ tuýp vào - thật kỳ cục, lại hiệu nghiệm hơn tất cả số còn lại, nhưng vẫn chẳng ăn thua.
Cuối cùng tôi kết luận là vô vọng và đầu hàng, treo áo lên cho rỏ bớt nước trong bồn tắm: bóng ma ướt nhẹp của ông Pavlikovsky. Tôi đã cẩn thận tránh dây máu ra khăn tắm; dùng giấy vệ sinh, mà cứ vài phút lại gấp nhỏ lại, rồi giật nước đến bệnh hoạn, tôi kỳ cạch thấm cho hết những vệt hay giọt màu gỉ sắt trên sàn. Cầm bàn chải xông vào kẽ gạch. Trắng bong như bệnh viện. Tường lấp lánh như gương. Nỗi cô độc soi bóng nhau nhân bội. Rất lâu sau khi vệt hồng cuối cùng đã biến đi, tôi còn hì hục - giũ rồi giặt lại những khăn tay hoen ố, vẫn còn vương màu ưng ửng đáng nghi - và rồi, mệt rã rời, chui vào phòng tắm bật nước nóng đến gần như không chịu được và kỳ cọ mình một lượt, từ đầu xuống chân, trát cả bánh xà phòng vào tóc và bọt chảy vào khiến nước mắt ròng ròng.
XV
TÔI BỊ ĐÁNH THỨC vào một giờ vô định nào đó, chuông cửa réo lớn đến mức tôi nhảy bắn dậy như bị bỏng. Ga giường xoắn vặn vào nhau, ướt đẫm mồ hôi, và màn buông kín khiến tôi chẳng biết đã mấy giờ, thậm chí không biết là ngày hay đêm. Tôi vẫn còn lơ mơ chưa tỉnh. Khoác áo choàng mặc nhà, hé cửa tròng dây xích, tôi hỏi: “Boris?”
Mặt dính dấp, mặc đồng phục, một người đàn bà. “Đồ giặt, thưa quý khách.”
“Xin lỗi?”
“Dưới lễ tân. Họ nói quý khách yêu cầu lấy đồ giặt sáng nay.”
“Ờ... ” Tôi nhìn xuống nắm đấm cửa. Sau từng ấy chuyện, sao tôi lại quên treo biển ĐỪNG LÀM PHIỀN? “Đợi chút.”
Mở vali, tôi lấy cái áo sơ mi đã mặc đến tiệc của Anne - mà Boris đã nói là không đủ đẹp để đi gặp Grozdan. “Này,” tôi nói, đưa bà ta qua cửa rồi nghĩ lại: “Đợi chút.”
Áo vét. Khăn. Cả hai đều đen. Tôi có dám không? Trông cả hai rất thảm và sờ vào thì ướt, nhưng khi tôi bật đèn bàn săm soi thật kỹ - đeo cả kính, với con mắt được Hobie đào tạo, mũi dí sát vào mặt vải - không thể nhìn ra máu me gì. Dùng một mảnh giấy ăn trắng, tôi chấm chấm vào vài chỗ xem có thôi màu hồng ra không. Có, nhưng cực kỳ mờ.
Bà ta vẫn chờ bên ngoài, và cách nào đó đây cũng là một sự nhẹ nhõm, khi phải vội: quyết định nhanh, không chần chừ. Tôi lôi ra khỏi túi cái ví, viên Oxycontin ẩm nhưng kỳ diệu thay vẫn còn nguyên, đã nhét vào túi trước bữa tiệc nhà de Larmessin (tôi có bao giờ nghĩ sẽ mừng vì cái thứ mê dược tác dụng chậm ấy không? Không) và phong bì ô bóng kính dày bự của Boris trước khi trao nốt cả áo vét và khăn.
Đóng cửa lại, lòng tôi dào lên cảm giác nhẹ nhõm. Nhưng chưa đầy ba chục giây sau, nỗi lo lắng lại rì rào len lỏi tới, nhanh chóng vút lên thành một tiếng la thét chỉ sau vài giây. Quyết định chóng vánh. Tâm thần. Tôi nghĩ cái gì vậy?
Tôi nằm xuống. Tôi đứng lên. Tôi lại nằm xuống cố tìm cách ngủ. Rồi tôi ngồi dậy trên giường và hối hả như trong mơ, không ngăn lại được, thấy mình đang gọi xuống lễ tân.
“Vâng thưa quý khách Decker, chúng tôi giúp được gì cho quý khách?”
“Ờ...” nhắm tịt mắt lại; sao tôi lại trả tiền phòng bằng thẻ cơ chứ? “Chỉ là tôi nghĩ - tôi vừa đưa áo vét xuống giặt khô, không biết nó còn ở khách sạn không?”
“Gì cơ ạ?”
“Các anh có gửi đồ giặt khô đi chỗ khác không? Hay là làm tại chỗ?”
“Chúng tôi gửi đi, thưa quý khách. Công ty chúng tôi chọn rất đáng tin cậy”
“Không biết anh có cách nào xem thử nó đã được đưa đi chưa? Tôi vừa nhận ra mình cần nó cho một sự kiện tối nay.”
“Để tôi kiểm tra, thưa quý khách. Xin quý khách giữ máy.”
Tuyệt vọng, tôi chờ máy, nhìn túi heroin trên bàn đầu giường, trên có hình cái đầu lâu cầu vồng và chữ TIỆC ĂN MỪNG. Trong phút chốc người lễ tân đã trở lại. “Thưa quý khách, khoảng mấy giờ quý khách cần bộ vét ạ?”
“Sớm.”
“Tôi rất tiếc phải thông báo nó đã được gửi đi rồi. Xe vừa đi tức thì. Nhưng dịch vụ giặt khô của chúng tôi lấy trong ngày. Quý khách sẽ được nhận lại vào năm giờ, chúng tôi xin bảo đảm. Còn gì nữa không, thưa quý khách?” anh ta hỏi trong quãng im lặng tiếp theo.
XVI
BORIS NÓI KHÔNG SAI về món bột đã đưa tôi, rất tinh - trắng tinh khiết, một hơi cỡ thông thường đã khiến tôi mềm nhũn, khiến trong một hồi lâu không đo đếm hết tôi gật gù dễ chịu, gần rồi lại xa miệng tử thần. Những thành phố, những thế kỷ. Vào rồi lại ra những giây phút tua chậm, tươi vui, màn rủ, những giấc mơ mây trống rỗng và những cái bóng biến hoá, thanh lặng như những bức vẽ vật săn tuyệt mỹ của Jan Weenix, chim chết treo ngược một chân, bộ lông vấy máu, và trong những lát ý thức ngắn ngủi còn lại với mình tôi cảm thấy đã hiểu được cái huy hoàng thầm kín của sự chết, mọi hiểu biết bị giấu biến khỏi loài người cho đến mãi giây phút cuối cùng: không có đau đớn hay sợ hãi, chỉ có dửng dưng tráng lệ, nằm đường bệ trên chuyến phà chết xa dần vào những cõi mênh mông cao cả như một đấng quân vương, mất tăm mất dạng, nhìn mọi kẻ đang hối hả lại qua trên bến bờ xa, đã giải thoát khỏi mọi thói nhỏ mọn của con người xưa cũ như yêu và sợ và buồn đau và cái chết.
Khi tiếng rít chuông cửa lại xuyên vào giấc mơ, sau đó vài giờ, mà cũng có thể là vài trăm năm, tôi còn không giật mình. Niềm nở, tôi nhỏm dậy - đung đưa sung sướng giữa không trung, vịn vào những mẩu bàn ghế trên đường đi ra ngoài - và mỉm cười với cô bé bên cửa: tóc vàng, vẻ bẽn lẽn, đưa cho tôi gói quần áo bọc ni-lông.
“Đồ giặt của quý khách, thưa quý khách Decker.” Như mọi người Hà Lan khác, cô ta phát âm họ tôi là “Decca”, như Decca Mitford, người quen một thuở của bà DeFrees. “Cho chúng tôi xin lỗi.”
“Gì?”
“Tôi hy vọng quý khách không bị quá bất tiện.” Xinh xắn dường nào! Đôi mắt xanh kia! Cái giọng lơ lớ của cô ta đáng yêu hết sức.
“Xin lỗi?”
“Chúng tôi đã hứa sẽ đưa lại đúng năm giờ chiều. Lễ tân nói không tính vào hóa đơn của quý khách.”
“Ồ, không sao đâu.” Tôi đáp, nghĩ không biết có nên boa cho cô ta không, nhận ra rằng tiền nong và tính toán không phải là thứ đầu mình đủ sức xử lý lúc này, và rồi - khi đóng cửa, thả đống đồ xuống chân giường và lần mò tìm về được bàn đầu giường - kiểm tra đồng hồ của Gyuri: sáu giờ hai mươi; tôi mỉm cười. Cứ nghĩ đến việc liều thuốc đã giúp mình tránh được nỗi lo lắng muốn cào mặt - một giờ hai mươi phút phiền não! Nháo nhào gọi xuống lễ tân, tưởng tượng cảnh sát đang đứng đầy dưới nhà! - là tôi lại ngập đầy cảm giác thanh tĩnh rất thiền. Lo lắng à! Thật phí thời gian. Các sách kinh nói đúng quá. Hẳn nhiên “lo lắng” là dấu hiệu của một kẻ nguyên thủy, tâm thần chưa tiến hóa. Cái câu của Yeats là gì nhỉ, về những đại sư Trung Hoa hớn hở? Mọi thứ đổ xuống rồi sẽ lại xây lên. Đôi mắt ngàn xưa, lấp lánh. Đấy là trí huệ. Con người ta đã nổi cuồng và khóc lóc và hủy diệt mọi thứ từ nhiều thế kỷ và rền rĩ về những cảnh đời cá nhân tí nị của mình, trong khi - để làm gì chứ? Mọi nỗi buồn thảm vô dụng ấy? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng[174]. Vì sao người ta lại phải lo về bất cứ điều gì? Chẳng phải chúng ta, những sinh vật có trí khôn, được đưa đến thế giới này để hưởng hạnh phúc, trong khoảng thời gian ngắn ngủi phân cho mỗi kẻ?
Đương nhiên. Chính vì thế mà tôi không vò đầu bứt tóc trước mẩu thông tin in sẵn mà bộ phận dọn phòng đã luồn vào dưới cửa (Thưa quý khách, chúng tôi đã cố gắng dọn phòng quý khách nhưng rất tiếc là không thể đi vào...), mà tôi vô cùng hớn hở lượn ra hành lang chỉ mặc độc áo choàng tắm và chặn đường chị dọn phòng bằng cả một ôm khăn tắm sũng nước đáng ngờ - mọi cái khăn trong phòng đều ướt, tôi đã cuộn cái áo khoác bên trong để ép nước ra, còn vết hồng hồng trên vài cái mà tôi chưa để ý thấy trước khi - khăn mới à? Có ngay! à, quý khách quên chìa khóa trong phòng ư? quý khách bị kẹt ở ngoài à? Đợi một phút, chúng tôi sẽ mở cửa cho quý khách vào lại? mà tôi, ngay cả sau chuyện đó, cũng chẳng hề ngại ngần gọi thức ăn lên phòng, thậm chí còn cho phép anh phục vụ vào tận phòng, đẩy cái bàn đến sát chân giường (súp cà chua, xa lát, xăng-uých tam giác, khoai tây chiên giòn, phần lớn tôi đã kịp ọe ra sạch sẽ chỉ sau nửa tiếng, quả nôn êm đềm nhất trên đời, hay ho đến nỗi tôi cười phá lên: ái chà! Liều hít đệ nhất quả đất!). Tôi bị ốm, tôi biết thế, hàng giờ mặc đồ ướt giữa thời tiết 0 độ F đã khiến tôi bị sốt cao và ớn lạnh, tuy thế tôi đã lãnh đạm một cách vương giả trước tất cả. Thân thể là đây: yếu ớt, chực quỵ xuống trước bệnh tật. Ốm yếu, đau đớn. Việc gì người ta cứ phải hoắng lên vì nó? Tôi chất lên người từng món một trong vali (hai sơ mi, một áo len, thêm một quần dài, hai đôi tất) và ngồi nhấm nháp Coca-Cola trong tủ lạnh trong phòng - vẫn còn phê thuốc tuy đang dần giải bớt - lúc vào lúc ra những cơn mộng mị cực kỳ sống động: kim cương thô, côn trùng đen lấp lóa, một giấc rõ nét bất thường có Andy, người ướt đẫm, giày thể thao lép nhép, lê theo nước vào phòng nhìn cậu ta có gì đó không thật ổn có gì đó hơi kỳ kỳ hơi lệch lạc dạo này sao Theo?
Chả có gì cậu sao?
Chả có gì này thấy bảo cậu với Kits sắp cưới à bố nói tớ thế.
Giỏi
Ờ! Giỏi nhưng bố con tớ không đến được bố kẹt sự kiện ở câu lạc bộ du thuyền.
Dở quá nhỉ
…và rồi chúng tôi cùng nhau đi đâu đó Andy với tôi vali nặng trĩu chúng tôi đi thuyền, trên kênh, có điều Andy bảo đừng hòng tớ trèo lên cái thuyền đó còn tôi bảo ừ tất nhiên tớ hiểu mà, nên tôi tháo tung cái thuyền từng đinh ốc một rồi bỏ mọi mảnh vào vali, chúng tôi sẽ xách nó qua đất liền, đủ cả buồm và mọi thứ, kế hoạch là thế, chỉ cần làm đúng một điều là đi theo các dòng kênh, kênh sẽ đưa mình đến bất kỳ mình muốn đến hay có khi là trở lại ngay nơi mình bắt đầu nhưng việc ấy nặng hơn tôi tưởng, tháo rời một con thuyền buồm rất khác tháo rời bàn hay ghế và các mảnh quá to không nhét vừa hành lý và lại có chân vịt khổng lồ tôi cố nhồi vào giữa quần áo và Andy đã chán ngấy bỏ ra ngoài chơi cờ với một kẻ trông rất đáng ghét và cậu ta bảo dào nếu không lên kế hoạch được hết từ trước thì đành đến đâu ứng biến đấy vậy thôi.
XVII
TÔI TỈNH DẬY, đầu nổ bốp, buồn nôn và ngứa ngáy khắp mình mẩy như có kiến bò dưới da. Thuốc đang giải bớt khỏi cơ thể, cơn hoảng loạn đã trở lại gấp đôi vì rõ ràng là tôi đang ốm, sốt cao và đổ mồ hôi, không cách nào chối được. Sau khi lảo đảo đi ra phòng tắm và lại nôn mửa (lần này không phải màn nôn giải trí của kẻ nghiện mà chỉ là kiểu nôn khốn khổ bình thường), tôi trở lại phòng, vừa ngắm áo vét và khăn bọc ni-lông cuối chân giường và vừa nghĩ, vừa rùng mình rằng mình may mắn biết bao. Tất cả đã thành ra ổn thỏa (phải không?), nhưng cũng đã có thể hoàn toàn không như vậy.
Vụng về, tôi bỏ áo và khăn khỏi ni-lông, sàn nhà dưới chân bập bềnh như sóng, như cơn buồn ngủ, khiến tôi phải chộp lấy tường để đứng vững - rồi với lấy kính ngồi lên giường xem xét dưới ánh đèn. Vải trông có vẻ sờn nhưng ngoài ra không sao. Tuy thế tôi cũng không dám chắc. Chất vải đen quá. Tôi thấy một đốm đen rồi lại không thấy nữa. Mắt tôi vẫn còn chưa bình thường lại. Có thể đây là một mánh lừa - có thể nếu đi xuống tiền sảnh tôi sẽ thấy cảnh sát chờ sẵn - nhưng không - dẹp ý nghĩ đó đi - ngớ ngẩn. Họ sẽ giữ lại số quần áo nếu tìm thấy gì khả nghi, phải không? Tất nhiên là không trả lại sau khi giặt và là phẳng phiu rồi.
Tôi vẫn còn lửng lơ bên lề thế giới, chưa tỉnh táo hẳn. Bằng cách nào đó giấc mơ thuyền buồm của tôi đã thấm qua, xâm nhập toàn căn phòng khách sạn, nên đây là phòng mà cũng là cabin tàu: tủ âm tường (bên trên giường và dưới mái chìa) có đinh đồng lắp chìm và tráng men đến bóng loáng như biển. Đồ gỗ kiểu tàu bè; boong nghiêng ngả, và đập vào mạn bên ngoài là dòng nước đen trên kênh. Mê sảng: mất neo, trôi dạt. Ngoài kia, sương mù dày, không một cánh gió, đèn đường bền bỉ thắp với vẻ lặng lờ tản mát, xơ xác, lặng phắc như tro, đã mềm đi, mờ đi thành sương khói.
Ngứa quá, ngứa điên được. Da rát bỏng. Buồn nôn, đầu muốn toác đôi. Liều chơi càng hoành tráng bao nhiêu, cơn khổ não - cả tâm thần và thể xác - khi nó tan đi càng khốn nạn bấy nhiêu. Tôi đã lại trở về với cái mẩu bắn ra từ trán Martin, chỉ có điều lần này gần gũi hơn, gần như là ở bên trong nó, từng nhịp đập và tia máu, và - tệ hơn nữa, một điểm đóng băng thăm thẳm - bức tranh đã mất. Áo khoác lấm máu, bàn chân thằng bé chạy trốn. Đen kịt. Thảm họa. Vốn loài người - bị giam trong những quy luật sinh lý - không có đường cứu rỗi: chúng ta sống một chút, loay hoay múa may một hồi rồi chết, mục rữa trong lòng đất như rác rến. Chóng chầy gì thời gian cũng tiêu diệt chúng ta. Nhưng hủy diệt, hay đánh mất, một thứ ở ngoài vòng sinh tử - cắt đứt những mối dây mạnh hơn liên kết thời gian - lại là tháo dỡ ở một cấp độ siêu hình vượt lên trên, một kiểu tuyệt vọng rung trời hoàn toàn mới.
Bố tôi bên bàn chơi baccarat, giữa nửa đêm đượm mùi điều hòa. Luôn có nhiều hơn những gì ta thấy, một tầng bậc ẩn. Vận may, trong những tấm trạng và lớp vỏ hóa trang tăm tối nhất. Đọc các vì sao, đợi cược lớn khi nào sao Thủy nghịch hành, tìm kiếm một sự hiểu biết ở ngay bên kia bờ biết được. Đen là màu may mắn, chín là con số may mắn của ông. Cái nữa nào ku. Có một mô hình và chúng ta nằm trong đó. Nhưng nếu đào thật sâu vào ý tưởng có một mô hình (một việc mà hiển nhiên ông chưa bao giờ bỏ công làm), rốt cuộc sẽ chỉ đâm vào cõi hư không đen đặc tới mức nó sẽ hủy diệt, từng thứ một, mọi điều ta từng thấy là hay coi là ánh sáng.