NHỮNG NGÀY gần đến Giáng sinh nhòa nhạt cả vào nhau, vì nhờ có cơn ốm và cái có thể coi là cảnh biệt giam mà tối đã mất hết ý thức thời gian. Tôi ở lì trong phòng; tấm biển ĐỪNG LÀM PHIỀN ở lì trên cửa; và tivi - thay vì đưa tới ít nhất cũng là tiếng nền tạo cảm giác giả về tính bình thường, chỉ càng khua rộn thêm cảnh rối bời và lạc lõng đa hình thức: không có logic, không có kết cấu, tiếp theo sẽ là gì, ta không biết, có thể là bất kỳ thứ gì, chương trình Phố Vừng[175] bằng tiếng Hà Lan, một đống người Hà Lan ngồi nói chuyện bên bàn, lại tiếp tục người Hà Lan ngồi nói chuyện bên bàn, và dù vẫn có Sky News và CNN và BBC thì tất cả tin tức địa phương đều không bằng tiếng Anh (chẳng có gì quan trọng, chẳng có gì liên hệ tới tôi hay ga ra gửi xe) dù có một lần tôi đã choáng người khi, lướt qua các kênh gặp một bộ phim tội phạm cũ của Mỹ, nghệt ra trước hình ảnh ông bố hai mươi lăm tuổi của tôi: một trong vô số vai không có thoại của ông, một tay ba phải lượn lờ sau lưng ứng cử viên nào đó tại một buổi họp báo nào đó, gật gù khi nghe những lời hứa hẹn tranh cử của hắn và trong một giây ghê người nhìn thẳng vào máy quay, nhìn thẳng qua đại dương xuyên tới tương lai, tới chính tôi. Những sự trớ trêu này đa trùng quá nhiều lớp và quá dị thường đến nỗi tôi há hốc miệng ghê sợ. Trừ kiểu tóc và thân mình vạm vỡ hơn (nhờ tập tạ: thời đó ông đi tập thể hình rất chăm chỉ), trông ông không khác gì anh em song sinh của tôi. Nhưng choáng nhất là dáng vẻ ông thẳng thắn biết mấy - ông bố ngay từ lúc này (khoảng năm 1985) đã dối trá đến mức tội phạm và chớm nghiện rượu của tôi. Không có gì hiển hiện trên mặt nói lên tính cách, hay tương lai của ông. Trái lại, trông ông quyết liệt, ân cần, kiểu mẫu về tương lai chắc chắn và hứa hẹn.
Sau vụ đó tôi tắt tivi đi. Dần dà, mối liên hệ duy nhất của tôi với hiện thực chỉ còn là người mang đồ ăn lên phòng, mà tôi cũng chỉ gọi lên vào những giờ tối mịt trước bình minh khi các cậu nhân viên phục vụ đều chậm chạp và ngái ngủ. “Không, làm ơn cho tôi báo tiếng Hà Lan,” tôi nói (bằng tiếng Anh) với cậu bồi phòng chỉ biết tiếng Hà Lan vẫn mang tờ International Herald Tribune lên cùng những bánh mì nhân Hà Lan với cà phê, thịt nguội với trứng và đủ loại pho mát Hà Lan. Nhưng vì đằng nào cậu ta cũng chỉ mang tờ Tribune tới, tôi xuống bằng cầu thang phụ trước khi mặt trời lên để xem báo địa phương, đểu để xòe ra rất tiện lợi trên bàn ngay cạnh cẩu thang khiến tôi khỏng phải đi qua bàn lễ tân.
Bloedend. Moord[176]. Mặt trời dường như đến chín giờ sáng mới chịu mọc, và kể cả lúc ấy cũng là một mặt trời vẩn sương u ám, phả xuống thứ ánh sáng thấp, yếu như luyện ngục, như hiệu ứng trên sân khấu opera Đức. Hẳn là kem đánh răng tôi đã dùng chà ve áo có chứa oxy già hay một hóa chất tẩy trắng nào khác, vì chỗ đó đã nhạt đi thành một quầng trăng trắng to bằng bàn tay, mép màu trắng phấn, ôm lấy bóng ma khó lắm mới nhìn thấy của chất huyết tương trong sọ Frits, Vào khoảng ba rưỡi chiều ánh sáng đã tắt, đến năm giờ chiều thì đen đặc. Lúc ấy, nếu đường không quá đông người, tôi bẻ cổ áo lên, buộc chặt khăn trên cổ và - rất chú ý cúi đầu - chúi vào bóng tối chạy ra một cái chợ châu Á bé xíu cách khách sạn vài trăm mét, dùng những đồng euro cuối cùng mua xăng-uých gói sẵn, táo, bàn chải mới, thuốc ho, aspirin và bia. Is alles?[177] Bà cụ già hỏi bằng tiếng Hà Lan có vẻ bồi. Đếm mấy đồng xu của tôi chậm đến điên lên được. Cạch, cạch, cạch. Có thẻ tín dụng nhưng tôi quyết tâm không dùng đến - thêm một luật ngẫu hứng trong trò chơi tôi tự để ra cho mình, một sự phòng ngừa hoàn toàn phi lý vì tôi định lừa ai đây chứ? Còn quan trọng gì mấy cái xăng-uých ở cửa hàng tiện lợi, khi khách sạn đã nắm được số thẻ của tôi?
Phần vì sợ hãi, phần vì ốm mà tư duy của tôi không còn sáng rõ, vì căn bệnh cảm hay trúng lạnh gì gì đó đã đến với tôi vẫn không chịu bỏ đi. Dường như cứ mỗi giờ, cơn ho lại sâu hơn và phổi lại đau hơn. Những đồn đại về tính sạch sẽ của người Hà Lan đều chính xác. Các sản phẩm tẩy rửa Hà Lan: ngoài chợ có cả chục loại nhìn đến hoa mắt, những mặt hàng chưa từng thấy bao giờ, và tôi mang về phòng một cái bình có con thiên nga trắng muốt trên nên núi đỉnh tuyết trắng xóa cùng nhãn đầu lâu xương chéo đằng sau. Nhưng dù thứ thuốc này đủ mạnh để đánh bay hết sọc trên áo sơ mi, nó lại không đủ xóa vết bẩn nơi cổ áo, đã phai từ những mảng thẫm màu gan sang những đường viết chồng lên nhau trông quái ác như vân nấm gỗ tròn. Tôi xả nước, lần thứ tư hay năm gì đấy, nước mắt giàn giụa, rồi quấn vào túi ni-lông buộc lại, đẩy vào trong cùng cái tủ chè cao. Không có thứ gì buộc cho chìm xuống, tôi biết nó sẽ nổi lềnh bềnh nếu thả xuống kênh, mà tôi lại sợ mang ra đường ấn vào thùng rác nào đó - sẽ có người nhìn thấy, tôi sẽ bị tóm, đấy là cách chuyện đó sẽ xảy ra, tôi biết từ sâu trong cốt tủy và bất cẩn lý trí như người ta vẫn biết trong mơ.
Một lát thôi. Một lát là bao lâu? Ba ngày là cùng, Boris đã nói vậy ở nhà Anne de Larmessin. Nhưng khi đó nó đâu có tính đến Frits và Martin.
Chuông với vòng hoa, sao giấy trang trí các cửa sổ, nơ và quả óc chó mạ vàng. Đêm đêm, tôi ngủ đi cả tất, áo choàng dính bẩn, áo len cổ lọ trợ sức cho chăn mỏng, vì quay ngược chiều núm vặn máy sưởi như quảng cáo trong tập giới thiệu bìa da của khách sạn cũng không giúp phòng ấm được đến mức cần cho những cơn đau nhức và ớn lạnh bệnh tật của tôi. Lông tơ ngỗng trắng, thiên nga trắng. Phòng nồng nặc mùi nước tẩy như một bể sục rẻ tiền. Mấy cô dọn phòng đi qua hành lang có ngửi thấy không? Ăn cắp tranh không quá mười năm, nhưng với Martin thì tôi đã vượt biên giới tiến vào một vùng đất khác hẳn - đường một chiều, không lối quay đầu.
Thế nhưng, cách nào đó tôi đã có một cách tàm tạm dùng được để nghĩ về cái chết của Martin, hay đúng hơn để nghĩ vòng quanh nó. Hành vi đó - hành vi vĩnh cửu đó - đã ném tôi vào một thế giới hoàn toàn khác, đến nỗi xét theo mọi mục đích thực tế tôi có thể coi như đã chết rồi. Cảm giác trong tôi là đã đi qua mọi thứ, ngoảnh lại nhìn bờ từ một tảng băng trôi dạt ra biển khơi. Điều đã làm không cách nào xóa được. Tôi đã xong rồi.
Và cũng không sao. Tôi chẳng có nghĩa mấy trong trật tự của vạn vật và Martin cũng vậy. Chúng tôi sẽ bị quên đi dễ dàng. Đấy là một bài học xã hội và đạo đức, nếu không là gì khác. Nhưng cho tới mọi khoảng thời gian tương lai lường trước được - cho tới chừng nào lịch sử còn được viết, chừng nào các núi băng hai cực chưa tan ra khiến đường phố Amsterdam ngập trong bể nước - thì bức tranh sẽ còn được nhớ tới và khóc thương. Ai biết, ai quan tâm, tên của những tay người Thổ đã cho nổ tung nóc điện Parthenon? Những giáo sĩ Taliban đã ra lệnh hủy diệt hai pho tượng Phật ở Bamiyan? Nhưng dù sống hay chết, hành vi của chúng vẫn còn lại. Đấy là sự bất tử ở dạng thức khốn nạn nhất. Dù có chủ ý hay không, tôi đã dập tắt một ngọn lửa trong tim thế giới.
Hành động của Chúa: đấy là cách các công ty bảo hiểm gọi những thảm họa quá ngẫu nhiên hay bí hiểm đến nỗi ngoài ra không còn cách nào đo lường nó. Xác suất là một việc, nhưng còn những sự kiện rơi hẳn ra ngoài bảng thống kê tử suất đến nỗi cả những công ty bảo hiểm cũng buộc phải lôi cái siêu nhiên vào giải thích - số nhọ, như bố tôi từng rầu rĩ nói một đêm bên bể bơi, chiều tà sập xuống, đốt hết điếu Viceroy này đến điếu khác để xua muỗi, một trong những lần hiếm hoi ông tìm cách nói chuyện với tôi về cái chết của mẹ, vì sao những chuyện xấu xảy ra, vì sao là mẹ, không đúng lúc chẳng đúng nơi, chỉ là số nó vậy thôi nhóc ạ, triệu lần có một, đây chẳng phải là cách lảng tránh hay thoái lui mà - tôi nhận ra, vì ông là người nói ra điều đó - chính là xác nhận đức tin, và là câu trả lời khá nhất ông tìm ra được để dành cho tôi, đồng đẳng với Allah Đã Viết hay là Ý Chỉ Thiên Chúa, một cú khấu đầu chân thành trước Vận Đỏ Đen, vị thần cao nhất mà ông thờ phụng.
Giá ông ở vào vị trí tôi. Tôi gần như phá lên cười khi nghĩ vậy. Tôi hình dung mồn một cảnh ông vừa rúc trong phòng, đi đi lại lại, bị nhốt, sục sạo, lại vừa nhấm nháp kịch tính trong tình huống ấy, vai gã cớm bị vu oan trong xà lim của Farley Granger. Nhưng tôi cũng hình dung được rõ cả sự thích thú của người quan sát trước cảnh ngộ tôi, với những rẽ ngoặt và đổi hướng cũng tùy tiện chẳng kém gì những nước bài, hình dung quá rõ ràng cái lắc đầu sầu muộn. Hành tinh ở thế xấu. Việc này có một hình dạng, một mô hình lớn hơn. Nếu chúng ta chỉ đang chém gió, nhóc ạ, con hiểu đấy . Ông sẽ tính tính toán toán thuật số hay gì đó, xem cuốn sách Bọ Cạp, tung đồng xu, đọc các sao. Có muốn chê bai gì bố tôi, cũng không thể bảo ông thiếu thế giới quan nhất quán.
Khách sạn đang đầy lên khi ngày lễ đến gần. Toàn các đôi. Quân nhân Mỹ nói chuyện không âm sắc kiểu quân đội trong hành lang, cấp bậc và quyền uy lồ lộ trong giọng nói. Trên giường, giữa cơn mê thuốc phiện, tôi mơ về những đỉnh tuyết phủ, tinh khiết kinh hồn, những quang cảnh núi cao từ các bộ phim thời sự về Berchtesgaden[178], những luồng gió lớn lẫn vào nhau rồi thốc tung mặt biển đảo điên trong bức sơn dầu treo trên bàn: tàu buồm bé xíu nghiêng ngả, một mình giữa bể nước đen ngòm.
Bố tôi: Bỏ cái điều khiển từ xa xuống khi tao đang nói chuyện với mày.
Bố tôi: À, cũng không thể nói được là thảm họa, nhưng là thất bại.
Bố tôi: Có bắt buộc phải cho nó ăn với mình không, Audrey? Có bắt buộc phải tối đéo nào cũng để nó ngồi cùng bàn mình không? Cô không bắt Alameda cho nó ăn được trước khi tôi về à?
Bài Uno, bắn bòm, bảng tự xóa, cờ ca rô. Vài hình lính đồ chơi mặc quân phục xanh và côn trùng cao su bò trườn rợn tóc gáy bỏ trong tất tôi sáng Giáng sinh.
Ông Barbour: Tín hiệu hai cờ. Victor: Tàu tôi yêu cầu được giúp đỡ. Echo: Tàu tôi đang chuyển hướng sang trái.
Cán hộ trên Đại lộ 7. Xám như ngày mưa. Hết giờ này đến giờ khác thổi vào thổi ra đơn điệu cái đàn Harmonica đồ chơi, vào rồi ra, vào rồi ra.
Đến thứ Hai, hay có lẽ là thứ Ba, khi cuối cùng tôi cũng đủ can đảm kéo cái màn vẫn giăng kín cửa, vào chiều muộn khi ánh sáng đang tắt dần, ngoài phố trước cửa khách sạn có một toán truyền hình đang chặn đường du khách. Giọng Anh, giọng Mỹ. Hòa nhạc Giáng sinh ở Sint Nicolaaskerk và các quầy hàng ngày lễ bán bánh rán nhân kem oliebol. “Suýt bị xe đạp tông phải nhưng ngoài ra thì rất vui.” Ngực tôi đau thắt. Tôi lại buông màn kín phòng và đứng dưới vòi sen nóng, để nước giã xuống người tới khi da tê rát. Cả khu nhà lấp lánh những nhà hàng thắp đèn tiên, những cửa hàng đẹp tuyệt bày áo khoác nhẹ len cashmere và áo len dày đan tay cùng đủ thứ đồ ấm mà tôi quên không mang theo. Nhưng tôi còn không dám gọi điện xuống nhờ đem lên ấm cà phê, vì trong mấy tờ báo tiếng Hà Lan mà tôi đã hối hả lật qua từ rất lâu trước khi mặt trời mọc sáng hôm đó, có một tờ ngay trang nhất đăng ảnh cái ga ra gửi xe có băng cảnh sát chăng ngang lối ra.
Mấy tờ báo trải trên sàn ở bên kia giường, như bản đồ dẫn đến một nơi kinh khủng nào đó mà tôi không muốn tới. Liên tục, không ngăn mình được, giữa chừng ngủ gà gật hoặc rơi vào những câu chuyện mê sảng tôi không nói, với những người tôi không gặp, tôi lại quay về săm soi dò xét tìm những từ Hà Lan chung gốc tiếng Anh rất ít xuất hiện. Amerikaan dood aangetroffen.[179] Heroine, cocaine. Moord: hữu tử, tử vong, chết chóc, giết chết. Drugsgerelateerde criminaliteit Frits Aaltink afkomstig ult Amsterdam en Mackay Fiedler Martin uit Los Angeles[180]. Bloedig: máu me. Schotenwisseling:[181] ai biết được, mặc dù schoten: liệu có phải là bắn không? Deze moorden kwamen als en schok voor [182] - là sao?
Boris. Tôi đi lại cửa sổ đứng đó, rồi quay trở lại. Giữa cảnh hỗn loạn trên cầu tối vẫn nhớ rõ nó đã bảo tôi đừng có gọi, nó đã day đi day lại điểm đó dù chúng tôi chia tay vội vã đến mức giờ tôi không nhớ nổi liệu nó có giải thích vì sao tôi lại phải chờ nó gọi cho tôi trước, mà dù sao giờ tôi cũng không biết liệu điều ấy còn quan trọng hay không. Nó cũng khăng khăng rằng không bị thương, hoặc ít ra là tôi liên tục nhắc mình như vậy, dù trong bãi lầy những ký ức không mong muốn vẫn dội xuống từ tối đó đến giờ, tôi vẫn không ngừng thấy lỗ bỏng trên tay áo khoác len đen dính nhớp trong quầng đèn hơi. Làm sao tôi biết, có thể cảnh sát giao thông đã tóm lấy nó trên cầu và lôi về đồn vì chạy xe không bằng lái: quả là một cớ điên khùng, nếu đúng là vậy thật, nhưng còn khá hơn gấp bội một số khả năng khác tôi có thể nghĩ ra.
Twee doden bij bloedige[183]... Chưa hết. Vẫn còn nữa. Hôm sau, hôm sau nữa, cùng với Bữa Sáng Hà Lan Truyền Thống, tôi được phục vụ kèm tin tức về vụ thanh toán nhau trên Phố Overtoom: những cột báo ngắn hơn nhưng thông tin dày đặc hơn. Twee dodelijke slachtoffers. Nog een of meer betrokkenen. Wapengeweld in Nederland.[184]
Ảnh Fnts, cùng ảnh mấy thằng khác tên Hà Lan trong một bài bảo khả dài mà tôi không có hy vọng đọc được. Dodelijke schietpartij nog onopgehelderd…[185] Đáng ngại là họ đã thôi nói về ma túy - đòn hỏa mù của Boris - và chuyển sang xem xét những góc độ khác. Tôi đã giải phóng thứ này, nó đã chạy rông ngoài thế giới, người ta đang đọc về nó khắp thành phố, nói về nó bằng một thứ tiếng không phải của tôi.
Quảng cáo Tiffany to bự trên tờ Herald Tnbune, Vẻ Đẹp Và Tài Nghệ Vĩnh Hằng. Tiffany & Co. Chúc Mừng Ngày Lễ.
Ngẫu nhiên luôn chơi xỏ, ngày xưa bố tôi thích nói vậy. Các hệ thống, phân tích tỷ lệ cược.
Boris đâu? Trong cơn mê man sốt tôi đã thử - mà vô ích - giải khuây hay ít nhất cũng lãng trí bằng ý nghĩ nó vẫn luôn hiện ra đúng vào lúc không ai nghĩ nó sẽ tới. Bẻ đốt ngón tay, khiến tụi con gái nhảy nhổm. Ló mặt nửa tiếng đồng hồ sau khi giờ thi Tiếng Anh Bản Ngữ toàn bang đã bắt đầu, tiếng cười lan khắp phòng học khi nhìn mặt nó ngớ ra sau cửa kính cường lực đã khóa kỹ: ha, tương lai tươi sáng của ta, nó đã khinh miệt bảo vậy trên đường về khi tôi cố giải thích khái niệm các bài thi quy chuẩn.
Trong mơ tôi không thể đến nơi cần đến. Lúc nào cũng có gì đó ngăn tôi đến với nơi tôi cần phải đến.
Nó đã nhắn cho tôi số của nó trước khi ra khỏi Mỹ, và dù sợ không dám nhắn lại (không biết tình hình bên nó ra sao, cũng không biết có cách nào từ tin nhắn lần được ra tôi không), tối vẫn liên tục nhắc mình rằng còn có cách liên hệ nó nếu đến lúc cấp thiết. Nó biết tôi ở đâu. Nhưng đêm đêm, tôi vẫn thức hàng giờ tranh luận một mình: chán ngấy nhưng bền bỉ, bàn qua bàn lại, thế này thì sao, thế kia thì sao, có hại gì chứ? Cuối cùng, vào một thời điểm mất phương hướng nào đó - đèn đêm vẫn thắp, nửa tỉnh nửa mơ, hoàn toàn phát dại – tôi đầu hàng và nhặt lấy điện thoại trên bàn đầu giường, nhắn bừa cho nó trước khi có cơ hội nghĩ lại: Mày ở đâu?
Suốt hai ba tiếng tiếp đó tôi nằm, cơn lo lắng dường như không trấn áp nổi, tay vắt qua mặt chắn ánh sáng dù không cỏ chút ánh sáng nào. Hại thay, khi tỉnh khỏi giấc ngủ đẫm mồ hôi đâu đó lúc gần sáng, cái điện thoại đã chết cứng vì tôi quên tắt, và - ngại không muốn xuống lễ tân, hỏi xem có sạc thừa cho mượn - tôi do dự hàng giờ rồi cuối cùng, giữa buổi chiều, cũng chịu thua.
“Tất nhiên, thưa quý khách,” người trực quầy nói, gần như không nhìn tôi. “Kiểu Mỹ à?”
Ơn Chúa, tôi nghĩ, cố không rảo bước quá nhanh khi đi lên tầng. Cái điện thoại đã cũ, rất chậm, sau khi cắm vào đứng chờ một lúc, tôi chán chả buồn đợi logo Apple hiện lên nữa mà đi ra tủ lạnh kiếm thức gì uống rồi trở lại, ngó thêm một lúc tới khi màn hình chờ cũng hiện lên, ảnh cũ thời đi học tôi đã đùa chơi quét vào, chưa bao giờ có bức ảnh nào làm tôi mừng rỡ như thế, Kitsey lên mười bay giữa không trung khi đang đá cú phạt đền. Nhưng vừa lúc tôi toan bấm mã số vào, màn hình tắt ngúm, xì xèo chừng mười giây, những dải đen và xám đuổi theo nhau rồi rời ra thành từng hạt trước khi cái mặt buồn hiện lên và kêu đánh tạch một cái trở về đen xì.
Bốn giờ mười lăm phút chiều. Trời đang ngả màu lam thẫm trên các đầu hồi treo chuông bên kia kênh. Tôi ngồi trên thảm, lưng dựa vào giường, dây sạc trong tay, sau khi đã thử lần lượt tất cả các ổ cắm trong phòng đến hai lần - đã bật lên rồi tắt đi cả trăm lượt, giơ lên đèn xem có phải nó vẫn bật mà chỉ là màn hình bị tối đi không, tìm cách reset nó, nhưng nó tạch thật rồi: không có gì xảy ra, màn hình đen lạnh lẽo, chết ngắc củ kiệu. Rõ ràng là tôi đã làm nó chập điện: đêm ở ga ra nó đã bị ướt - có nước trên màn hình khi tôi lấy khỏi túi - nhưng dù đã mất một hai phút run sợ chờ nó bật lại, thì nó vẫn có vẻ hoạt động bình thường mãi đến lúc tôi định đem sạc. Mọi thứ đều đã sao lại trong laptop ở nhà, ngoại trừ thứ duy nhất tôi cần: số của Boris, nhắn cho tôi trong xe trên đường ra sân bay.
Bóng nước dập dờn trên trần nhà. Ngoài kia, ở đâu đó, tiếng dàn chuông Giáng sinh léo nhéo và những đội hát hỏng nhạc đang tấu lên. O Tannenbaum, O Tannenbaum, wie treu sind deine Blättet[186].
Tôi không có vé về. Nhưng có thẻ tín dụng. Tôi có thể bắt taxi ra sân bay. Mày có thể bắt taxi ra sân bay, tôi tự nhủ. Schiphol. Chuyến bay đầu tiên về nhà. Kennedy, Newark. Tôi có tiền. Tôi đang nói chuyện một mình như trẻ con. Ai biết Kitsey đang ở đâu - có khi còn ở khu Hampton không biết chừng - nhưng trợ lý của bà Barbour là Janet (vẫn giữ nghề cũ dù bây giờ bà Barbour chẳng còn mấy thứ cần cô trợ giúp nữa) là loại người có thể giúp anh lên máy bay từ bất kỳ đâu chỉ cần vài giờ thông báo, dù đang chiều tối Giáng sinh.
Janet. Nghĩ đến Janet mà an tâm lạ lùng. Janet mà bản thân là một hệ cảm xúc hiệu năng cao, Janet béo tròn hồng hào chuyên mặc áo len lông cừu hồng và váy ca rô lắm màu như một nàng tiên rừng trong tranh Boucher bận đổ J. Crew, Janet hay nói tuyệt hảo! đáp lại tất cả mọi điều và uống cà phê bằng cái ca màu hồng có ghi Janet.
Thật nhẹ mình khi suy nghĩ rành mạch. Có ích gì cho Boris, hay bất cứ ai, nếu tôi cứ đợi ở đây? Cái lạnh, cái ẩm, cái thứ tiếng không đọc nổi. Sốt và ho. Cảm giác bị bó buộc như ác mộng. Tôi không muốn đi mà bỏ lại Boris, không biết Boris ra sao, đây chính là cái nút thắt trong các phim chiến tranh khi chạy tiếp bỏ lại chiến hữu ngã xuống mà không hể biết mình tránh vỏ dưa để chuẩn bị đạp vỏ dừa, nhưng mặt khác tôi khao khát thoát khỏi Amsterdam đến nỗi có thể hình dung mình quỳ sụp khi hạ cánh xuống sân bay Newark, dập trán xuống sàn sảnh đến.
Niên giám điện thoại. Bút chì và giấy. Chỉ có ba người từng thấy tôi: gã Indonesia, Grozdan, và thằng bé người Á. Và mặc dù rất có thể Martin và Fnts có đồng sự ở Amsteram đang săn tìm tôi (thêm một lý do nên té gấp khỏi đây), nhưng chẳng có cớ gì cho cảnh sát lùng tôi cả. Chẳng có cớ gì cảnh sát đã vào sổ đen hộ chiếu của tôi.
Rồi - như một cú đòn giáng giữa mặt - tôi nhăn lại. Không hiểu sao tôi cứ mãi nghĩ rằng hộ chiếu của mình đang ở dưới nhà, nơi tôi đã tìm ra khi lấy phòng. Nhưng thực tế là tôi chưa hề nghĩ đến nó lần nào, kể từ khi Boris cầm lấy từ tay tôi khóa lại trong ngăn để đồ xe nó.
Hết sức, cực kỳ điềm đạm, tôi bỏ cuốn niên giám xuống, cố gắng đặt một cách trông sẽ hững hờ và thản nhiên trước mắt một kẻ quan sát vô tình. Như lệ thường thì điều này khá đơn giản. Tra địa chí, đến văn phòng, đoán xem nên đi đâu. Đứng xếp hàng. Chờ đến lượt. Nói năng thật lễ độ kiên nhẫn. Tôi có thẻ tín dụng, cán cước dán ảnh. Hobie có thể fax giấy khai sinh qua. Sốt ruột, tôi cố gạt khỏi đầu một câu chuyện Toddy Barbour từng kể mua vui trong tiệc - rằng, khi đánh mất hộ chiếu (ở Ý? Tây Ban Nha?) cậu ta từng bị bắt lôi một người chứng bằng xương bằng thịt tới để khẳng định đúng là cậu ta.
Trời màu mực đen, màu bầm dập. Ở Mỹ giờ này còn sớm. Hobie vừa nghỉ tay ăn trưa, đi bộ ra chợ Jefferson, có khi còn mua rau quả cho bữa tiệc trưa sắp tổ chức ngày Giảng sinh. Pippa còn ở California không? Tôi tưởng tượng cô lăn qua trên giường khách sạn, ngái ngủ với lấy điện thoại, mắt vẫn nhắm nghiền, Theo, cậu đấy à, có gì không ổn ư?
Bị phạt rồi nói xàm cho qua còn hơn trong trường hợp bị giữ lại.
Tôi phát ốm. Trình diện ở tòa đại sứ (hay cái gì cũng được) rồi trải qua một chặp phỏng vấn và giấy tờ nữa là rước vào người nhiều rắc rối hơn mức tôi cần, Tôi chưa hề đặt thời hạn, xem mình sẽ chờ đến bao giờ, thế nhưng bất kỳ hành động nào - hành động tùy hứng, hành động vô nghĩa, hành động như con ruồi bay loanh quanh trong hũ - dường như còn tốt hơn là bị bó giò trong phòng dù chỉ một phút nữa, thấy các bóng ma lảng vảng ngay khóe mắt.
Thêm một quảng cáo Tiffany đại tướng trên tờ Tribune, chúc tôi Vạn Sự Như Ý. Rồi ở trang sau, một quảng cáo khác, máy ảnh số, vẽ ngoằn ngoèo những chữ cái ra chiều nghệ thuật ký tên Joan Miró:
Có những khi bạn ngắm bức ảnh suốt một tuần rồi không bao giờ nghĩ đến lần nữa. Có lúc khác bạn nhìn thấy bức ảnh trong một giây rồi nghĩ đến nó suốt đời mình.
Centraal Station. Liên minh châu Âu, không kiểm tra hộ chiếu ở biên giới. Bất kỳ tàu nào, đi bất cứ đâu. Tôi hình dung mình đi lòng vòng vô hướng khắp châu Âu: thác Rhine và đèo Tyrol, những đường hầm và bão tuyết đẹp như phim.
Nhiều khi quan trọng là bị chia bài xấu nhưng biết chơi đẹp, tôi nhớ bố từng nói vậy khi ngáp ngủ trên xô pha.
Nhìn điện thoại, đầu váng vất sốt, tôi ngồi thật im cố gắng nghĩ. Trong bữa trưa, Boris đã nói chuyện đi tàu từ Amsterdam qua Antwerp (và Frankfurt: nhưng tôi không hề muốn đến đâu gần Đức), nhưng cả Pans nữa. Nếu tôi đến đại sứ quán ở Pans xin cấp hộ chiếu mới: có lẽ ít có khả năng bị kết nối với vụ Martin hơn. Nhưng chẳng có cách nào quên rằng thằng bé Trung Quốc là nhân chứng. Làm sao đoán chắc được giờ này mình không xuất hiện trên mọi máy tính của các nhà tư pháp khắp châu Âu.
Tôi vào phòng tắm vã nước lên mặt. Nhiều gương quá. Tôi tắt nước, với lấy khăn tắm thấm khô. Hành động có phương pháp, từng việc một. Sau hoàng hôn là khi tâm trạng luôn tụt dốc, khi tôi luôn sợ hãi. Một cốc nước. Aspinn để trị sốt. Cả cơn sốt cũng luôn tăng cao khi tối trời. Hành động đơn giản. Tôi đang tự khiến minh lo lắng và tôi biết vậy. Tôi không biết Boris có lệnh truy nã nào treo trên đầu, nhưng dù ý nghĩ nó bị bắt có làm tôi lo lắng, đáng lo hơn nhiều vẫn là chuyện quân của Sascha có thể đã phái người lần theo vết của nó. Nhưng đây cũng là một ý nghĩ tôi không được phép đi theo.
II
NGÀY HÔM SAU, đúng Giáng sinh - tôi ép mình ăn một bữa sáng tổ chảng gọi lên phòng dù không muốn, và vứt hết báo đi không xem vì sợ nếu thêm một lần nhìn thấy chữ Overtoom hay Moord thì sẽ không cách nào buộc mình làm điều phải làm. Sau khi đã ăn xong một cách máy móc, tôi vơ hết báo chí cả tuần tích lũy trên giường và xung quanh giường, cuộn hết lại ấn vào sọt rác; lấy từ trong tủ chè cái áo sơ mi đã bị tẩy trắng, và rồi - sau khi kiểm tra xem buộc kỹ chưa - luồn cái bọc vào trong một lớp túi nữa lấy ở chợ người Á (vẫn để mở, cho dễ xách hơn, vả lại biết đâu sẽ gặp được một cục gạch thuận tiện). Rồi sau khi bẻ cổ áo dựng lên và buộc khăn bên ngoài, tôi quay mặt tấm bảng báo dọn phòng ra ngoài rồi đi.
Thời tiết chết trôi, như thế rất lợi. Mưa đá ướt át rơi góc chéo, ri rỉ trên mặt kênh. Tôi bước đi chừng hai mươi phút - hắt hơi, khốn khổ, lạnh cóng - tới khi gặp được một thùng rác ở một góc đường đặc biệt vắng vẻ, không có xe cũng chẳng có người, không có cửa hàng mà chỉ toàn những nhà câm điếc đóng kín cửa tránh gió,
Nhanh chóng, tôi nhấn cái sơ mi vào thùng rồi bước tiếp, chợt thấy hân hoan lạ thường, khiến tôi đi như bay qua bốn năm con phố tiếp sau, bất chấp răng đang gõ nhịp. Chân tôi ướt, đế giày quá mỏng không đỡ nổi đường lát sỏi và tôi cũng rất lạnh. Bao giờ thì họ mang rác đi? Cũng chẳng sao.
Chỉ trừ - tôi lắc đầu để nghĩ rõ ràng hơn - cái chợ người Á. Trên túi ni-lông có in tên cái chợ. Chỉ cách khách sạn tôi ở vài khối nhà. Nhưng thật ngớ ngẩn mới nghĩ theo hướng đó và tôi cố lập luận để phản bác lại mình. Có ai thấy tôi? Không ai cả.
Charlie: Đúng. Delta: Tàu tôi đang điều động khó khăn.
Thôi ngay. Thôi ngay. Không được quay lại.
Không biết ở đâu có bến taxi, tôi lẩm lũi đi tiếp thêm chừng hai chục phút nữa tới khi cuối cùng cũng vẫy được một chiếc trên đường. “Centraal Station,” tôi nói với người lái gốc Thổ.
Nhưng khi anh ta thả tôi trước cửa ga, sau một cuốc xe qua những phố xám ma mị trông như những thước phim thời sự cũ, trong một khắc tôi tưởng bị đưa đến nhầm địa chỉ: vì tòa nhà trước mặt trông giống bảo tàng thì hơn, một giấc mơ gạch đỏ toàn đầu hồi và tháp mái, như một tòa kiến trúc thời Victona kiểu Hà Lan. Tôi tha thẩn đi vào, giữa những đám đông hội hè, cố gắng tỏ ra mình cũng thuộc về nơi đây và tảng lờ cảnh sát hình như đứng canh bất kỳ đâu ngó tới, cảm thấy hoang mang lo ngại khi thế giới dân chủ rộng lớn lại lần nữa trào lên ào ạt quanh mình: các cụ ông cụ bà, các sinh viên, các vợ chồng trẻ dáng mệt mỏi cùng lũ trẻ con tí tẹo lôi balo sau lưng, túi đồ mua hàng và cốc Starbucks, bánh xe vali lạch xạch, thiếu niên thu thập chữ ký ủng hộ Hòa Bình Xanh, trở lại giữa tiếng rầm rì thường lệ của loài người. Có một chuyến tàu chiều đi Pans nhưng tôi muốn chuyến muộn nhất.
Các hàng xếp đểu dài vô tận, kéo đến tận quầy báo. “Tối nay à?” người bán vé hỏi khi cuối cùng tôi cũng đến được ghi-sê: một bà đậm người, tóc vàng, trung tuổi, bộ ngực mềm lún và hòa nhã chung chung như một mụ dắt gái trong tranh sinh hoạt loại rẻ tiền.
“Vâng,” tôi nói, hy vọng cái nôn nao trong bụng không lộ ra mặt.
“Bao nhiêu?” bà ta hỏi, hầu như không nhìn tối.
“Một thôi.”
“Rồi. Xin cho xem hộ chiếu.”
“Đợi chút...” giọng khào khào vi ốm, đập đập khắp người, tôi đã hy vọng họ không hỏi “à, Xin lỗi, tôi không đem theo, để ở két sắt khách sạn rồi... nhưng...” chia cán cước bang New York, thẻ tín dụng, thẻ an sinh xã hội, đẩy qua cửa sổ. “Mời bà xem.”
“Anh cần hộ chiếu mới đi được.”
“Ôi, tất nhiên rồi.” Cố hết sức lấy giọng thông hiểu, biết lẽ. “Nhưng tối nay tôi mới đi. Thấy không...?” chỉ khoảng trống dưới chân: không hành lý. “Tôi tới tiễn bạn gái, và tiện ở đây tôi nghĩ hay là xếp hàng mua vé luồn nếu được.”
“À...” bà bán vé liếc màn hình “anh còn nhiểu thời gian. Tôi đề nghị anh mua vé sau, khi nào quay lại tối nay.”
“Vâng...” bóp mũi để khỏi hắt hơi “nhưng tôi muốn mua bây giờ.”
“Tôi e rằng không được.”
“Xin bà đấy. Như thế sẽ giúp tôi rất nhiều. Tôi đã đợi ở đây bốn mươi lăm phút rồi và không biết tối nay sẽ phải xếp hàng bao lâu nữa.” Nhờ Pippa - đã đi khắp chầu Âu bằng đường sắt - tôi tin chắc đã nghe nói người ta không kiểm tra hộ chiếu khi lên tàu, “Tôi chỉ muốn mua bây giờ để có thời gian làm nốt mấy việc trước khi quay lại đây tối nay.”
Bà bán vé nhìn thật kỹ mặt tôi. Rồi bà ta cầm căn cước lên nhìn tấm ảnh, rồi lại nhìn tôi.
“Này,” tôi nói, khi bà ta lưỡng lự, hoặc làm bộ lưỡng lự: “Bà thấy đấy, đúng là tôi mà. Bà thấy tên tôi, thẻ an sinh xã hội của tôi - đây này,” tôi nói, thò tay vào túi lấy giấy bút. “Để tôi ký lại cho bà xem.”
Bà ta so sánh hai chữ ký để bên nhau. Lại nhìn tôi, rồi cái thẻ - và rồi, đùng một cái, dường như đã có quyết định. “Tôi không chấp nhận thứ giấy tờ này được.” Đẩy mấy tấm thẻ lại phía tôi qua ghi-sê.
“Tại sao không?”
Hàng sau lưng tôi mỗi lúc một dài.
“Tại sao?” tôi nhắc lại. “Giấy tờ rất hợp pháp mà. Tôi vẫn dùng nó thay hộ chiếu để bay trong nước Mỹ. Chữ ký khớp mà,” tôi nói khi bà ta không trả lời, “bà không thấy à?”
“Rất tiếc.”
“Bà muốn nói là...” Tôi nghe giọng mình mỗi lúc một khẩn khoản; bà ta đang đọ mắt tôi rất hung hăng, như muốn thách tôi cãi lại. “Bà muốn bảo rằng tôi sẽ phải quay lại tận đây tối nay và đứng xếp hàng lại từ đầu à?”
“Xin lỗi anh. Tôi không giúp được. Tiếp,” bà ta nói, nhìn sau lưng tôi tới người tiếp theo.
Trong lúc tôi bỏ đi - xô đẩy, va vấp qua người là người - có tiếng nói cất lên đằng sau: “Này. Này sư huynh?”
Ban đầu, còn hoang mang sau cuộc cò kè ở ghi-sê, tôi tưởng mình hoang tưởng. Nhưng khi ngại ngần quay lại, tôi thấy một thằng thiếu niên mặt chồn, mắt hoen đỏ và đầu cạo trọc, đang nhấp nhổm trên mũi đôi giày thể thao cỡ đại. Nhìn ánh mắt dáo dác ngang dọc tôi ngỡ nó định đề nghị bán cho tôi một tấm hộ chiếu, nhưng nó chỉ cúi người tới bảo: “Đừng có thử.”
“Gì?” tôi ngập ngừng hỏi, nhìn qua bà cảnh sát đứng không đầy mét rưỡi sau lưng nó.
“Nghe này sư huynh. Đi qua đi lại cầm theo cả trăm lượt, chả bị kiểm tra lần nào. Có đúng một hôm không mang theo? Qua biên giới vào Pháp? Chúng nhốt ngoéo tớ lại, nhà tù nhập cảnh Pháp, mười hai tiếng, thức ăn thái độ đều vãi chồn, kinh con bà nó tởm. Phòng giam cảnh sát bẩn như hủi. Tin tớ đi - sư huynh cần có giấy tờ đàng hoàng. Và trong túi không có thứ củ chuối gì nữa.”
“Ờ, phải,” tôi đáp. Vã mồ hôi trong áo khoác, cái áo tôi không dám mở nút. Cái khăn tôi không dám cởi ra.
Nóng. Đau đầu. Đi khỏi chỗ nó, tôi cảm thấy ánh nhìn trợn trừng trợn trạo của cái máy quay an ninh như xói vào óc, và cố không tỏ ra đề phòng khi len lỏi qua đám đông, bồng bềnh lảo đảo vì sốt, bóp nát số điện thoại của đại sứ quán Mỹ trong túi.
Mất một lúc tôi mới tìm được điện thoại công cộng - tít ở đầu kia ga, một khu đầy chật những thiếu niên trông mờ ám ngồi thành từng bộ lạc trên sàn - và lâu hơn nữa mới nghĩ ra cách gọi.
Một tràng tiếng Hà Lan hớn hở. Rồi đập vào tai tôi là một giọng Mỹ thật dễ chịu: chào mừng đến với đại sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Lan, tôi có muốn tiếp tục nghe bằng tiếng Anh không? Thêm nhiều mục, nhiều lựa chọn. Để cái này nhấn phím 1, để cái kia nhấn phím 2, để gặp tổng đài xin chờ máy. Tôi kiên nhẫn làm theo mọi chỉ dẫn, đứng nhìn ra đám đông cho tới khi nhận ra có lẽ phô bản mặt mình ra không phải ý hay lắm, và lại quay vào tường.
Điện thoại reo lâu đến nỗi tôi đã chìm vào một màn sương mù ngoài thực tại thì bỗng dưng đầu dây lên tiếng, giọng Mỹ thoải mái nghe như vừa rời khỏi bãi biển Santa Cruz: “Chào buổi sáng, đây là Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Lan, quý vị cần giúp đỡ gì ạ?”
“Chào cô,” tôi nhẹ người đáp. “Tôi…” tôi đã cân nhắc có nên dùng tên giả, chỉ để hỏi thông tin cần biết, nhưng lúc này tôi đã quá mệt và kiệt sức chẳng muốn thế nữa “Tôi e rằng mình đang có chút rắc rối. Tên tôi là Theodore Decker và hộ chiếu của tôi vừa bị đánh cắp.”
“À, thật tiếc khi được biết điều đó.” Cô ta đang gõ gõ gì đó, tôi nghe thấy ở đầu dây bên kia. Xa xa có tiếng nhạc Giáng sinh. “Lại vào một thời điểm thật bất lợi trong năm - ai cũng đang đi nghỉ, anh hiểu không? Anh đã báo cho nhà chức trách chưa?”
“Sao?”
“Hộ chiếu mất cắp ấy? Vì anh sẽ phải báo ngay lập tức. Cảnh sát cần biết ngay.”
“Tôi…” nguyền rủa mình, sao tôi lại đi nói là mất cắp chứ? “không, xin lỗi, chuyện vừa mới xong. Ga trung tâm...” Tôi nhìn quanh “tôi đang gọi từ buồng điện thoại công cộng. Nói thật với cô là tôi không biết chắc có phải mất cắp hay không, tôi nghĩ có thể nó rơi khỏi túi tôi.”
“À…” lại thêm gõ lách tách “bị mất hay mất cắp, anh cũng vẫn phải báo cảnh sát.”
“Vâng, nhưng tôi đang sắp bắt tàu, cô hiểu không, và người ta không cho tôi lên tàu. Mà tôi lại phải đi Pans đêm nay.”
“Đợi một lát.” Có quá nhiều người trong nhà ga, những mùi len ẩm và mùi hơi người ngốt ngát phà ra kinh tởm trong hơi ấm quá độ. Một giây sau cô ta đã trở lại. “Giờ - cho tôi một vài thông tin của anh…”
Tên. Ngày sinh. Ngày và nơi cấp. Đổ mồ hôi trong áo khoác. Những cơ thể, ẩm ướt hít thở khắp xung quanh.
“Anh có giấy tờ gì chứng minh tư cách công dân không?” cô ta hỏi.
“Xin lỗi…?”
“Hộ chiếu hết hạn? Giấy khai sinh hoặc giấy nhập tịch?”
“Tôi có thẻ an sinh xã hội. Và căn cước bang New York. Tôi có thể fax bản sao giấy khai sinh từ Mỹ qua”
“Ồ, tuyệt. Thế là đủ.”
Thật ư? Tôi đứng bất động. Thế là hết ư?
“Anh có máy tính ở đó không?”
“Ừm…” máy tính ở khách sạn? “có chứ.”
“À…” cô ta đọc cho tôi một địa chỉ web. “Anh sẽ phải tải về, in ra rồi điền một tờ khai hộ chiếu mất hay mất cắp rồi mang đến đây. Đến văn phòng chúng tôi. Ở gần Njkmuseum. Anh biết là đâu chứ?”
Tôi nhẹ người đến nỗi chỉ đứng trơ ra đó để âm thanh đám đông huyên náo trào qua người trong một luồng ầm ào hoang tưởng.
“Vậy là - tôi sẽ cần những thứ này,” cô nàng California vẫn nói tiếp, giọng nói hoạt bát khiến tôi tỉnh khỏi cơn mơ màng đa màu sắc gây gấy sốt. “Tờ khai. Các loại giấy tờ fax sang. Hai ảnh 5x5 nền trắng. Thêm nữa, anh đừng quên, bản sao tường trình cảnh sát.”
“Sao cơ?” tôi nói, giật mình.
“Tôi vừa nói đấy. Hộ chiếu bị mất hay mất cắp, chúng tôi đểu yêu cầu phải khai báo với cảnh sát?”
“Tôi...” Trân trân nhìn một đoàn đàn bà Ả rập trùm khăn rờn rợn, lặng thầm lướt qua trong tấm khăn đen từ đầu đến kín gót chân. “Tôi không đủ thời gian làm việc đó.”
“Anh nói sao?”
“Tôi không định bay về Mỹ ngay hôm nay. Chỉ là vì…” - tôi mất một phút mới hỏi lại được; cơn ho vừa rồi đã khiến nước dâng đầy mắt - “tôi định lên tàu đi Pans trong hai tiếng nữa. Nên là, ý tôi là - tôi không biết phải làm gì. Tôi không hiểu có làm hết được những giấy tờ này rồi lại đến cả sở cảnh sát nữa không.”
“À...” giọng hối tiếc “mà này, anh biết không, thực ra văn phòng chúng tôi chỉ còn mở có bốn mươi lăm phút nữa thôi.”
“Sao?”
“Hôm nay chúng tôi đóng cửa sớm. Đêm Giáng sinh mà, anh hiểu không? Và ngày mai chúng tôi đóng cửa, suốt cuối tuần nữa. Nhưng chúng tôi sẽ mở lại lúc tám rưỡi sáng, thứ Hai sau Giáng sinh.”
“Thứ Hai”
“Nào, tôi rất tiếc,” cô ta nói. Cô ta có vẻ cam chịu. “Thủ tục là thế.”
“Nhưng đây là việc khẩn!” Giọng khàn khàn vì ho.
“Việc khẩn à? Việc gia đình hay y tế?”
“Tôi...”
“Vì trong một vài trường hợp rất hiếm gặp chúng tôi cũng hỗ trợ khẩn cấp ngoài giờ hành chính.” Giờ thì cô ta không thân thiện nữa; cô ta đang nói ào ào, đọc thuộc lòng từ vở, tôi nghe có cuộc điện thoại khác đang reo đằng xa như một chương trình trò chuyên trên radio. “Rất không may là điều này chỉ dành riêng cho những tình huống khẩn cấp thuộc loại sinh tử, và nhân viên chúng tôi phải xác nhận đảm bảo có lý do đó trước khi cấp giấy miễn hộ chiếu. Vì thế, trừ khi có hoàn cảnh người thân qua đời hay có cơn bệnh nguy kịch buộc anh phải đến Pans ngay chiều nay, và trừ khi anh có thể cung cấp đầy đủ thông tin xác nhận trường hợp khẩn cấp cực điểm đó như là tờ khai của bác sĩ điều trị, mục sư, hay là nhà tang lễ…”
“Tôi...” thứ hai à? Chết tiệt! Tôi còn không muốn nghĩ về vụ báo cảnh sát nữa “này, xin lỗi, nghe này...” cô ta đang cố gắng kết thúc cuộc gọi…
“Đúng thế. Anh tập hợp đủ giấy tờ vào thứ Hai ngày 28. Và rồi, phải, một khi nhận được đơn chúng tôi sẽ xử lý cho anh nhanh hết sức có thể - xin lỗi, anh chờ tôi một giây được không?” Tiếng cạch. Giọng cô ta, nhỏ hơn. “Chào buổi sáng, đây là Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Lan, quý vị vui lòng chờ máy.” Ngay lập tức điện thoại lại reo. Cạch. “Chào buổi sáng, đây là Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Lan, quý vị vui lòng chờ máy.”
“Cô có thể làm cho tôi nhanh đến đâu?” Tôi hỏi khi cô ta trở lại.
“À, một khi anh đưa đơn rồi chúng tôi sẽ cấp được cho anh trong vòng mười ngày làm việc là nhiều nhất. Mười ngày làm việc. Tức là - bình thường tôi sẽ hết sức cố đấy nhanh giúp anh trong bảy ngày? Nhưng đang là kỳ nghỉ, anh hiểu mà, văn phòng hơi bị kẹt một chút vào thời điểm hiện tại, và giờ giấc không được ổn định lắm cho đến qua Năm Mới. Thế nên là... này, xin lỗi nhé,” cô ta nói thêm trong quãng im lặng choáng váng vừa ập xuống, “có thể sẽ hơi lâu một chút. Tin quá xấu, tôi hiểu mà.”
“Tôi phải làm gì bây giờ?”
“Anh có cần dịch vụ hỗ trợ du khách không?”
“Tôi không hiểu thế là thế nào.” Mồ hôi đổ ra như tắm. Không khí đốt nóng hôi rình, nồng nặc mùi người, gần như không thở được.
“Cần chuyển tiền không? Cần nơi ở tạm thời?”
“Làm sao tôi về nhà bây giờ?”
“Anh sống ở Pans à?”
“Không, ở Mỹ.”
“À, nếu dùng hộ chiếu tạm thời - hộ chiếu tạm thời thậm chí còn không gắn chip dùng để vào nước Mỹ nên tôi cũng không thấy có đường tắt nào để anh về lại đó nhanh hơn nhiều lắm so với cách tôi làm cho anh là...” Reng reng reng. “Đợi một phút, thưa ông, ông vui lòng chờ máy.
“Ờm, tên tôi là Holly. Anh có muốn tôi cho anh số máy bàn của tôi, để đề phòng anh gặp phải vấn để nào hay cần trợ giúp trong thời gian ở lại đây không?”
III
CƠN SỐT CỦA TÔI, không hiểu vì cớ gì, thường lên cực điểm khi đêm xuống. Nhưng sau một thời gian quá dài ngâm chân trong giá lạnh, nó đã bắt đầu vọt lên thành từng đỉnh lộn xộn, giật cục như một món đồ nặng bị lôi thành từng nhát, từng đợt lên mặt bên một tòa nhà cao, nên trên đường đi bộ về nhà tôi hầu như không hiểu sao mình còn di chuyển, hoặc sao mình không ngã kềnh, hoặc thật thế, sao mình có thể tiến lên được tí nào nữa, một cảm giác vô thức lướt đi không chạm đất đưa tôi vượt lên trên chính mình qua những phố dầm mưa dọc kênh lên những tầng cao và luồng gió ngoài thân thể, cho tôi dường như từ trên đó nhìn xuống mình; thật sai lầm không bắt taxi ở ga về, trước mắt tôi cứ liên tục hiện ra cái túi ni-lông trong thùng rác và khuôn mặt hồng bóng loáng của bà bán vé và Boris mắt ậng nước, tay dính máu, ấp vào vết cháy trên tay áo; và gió cứ gào rú còn đầu tôi phừng phừng và chốc chốc không cố định tôi lại rúm mình khi thấy những gì rập rờn tối mò động kinh ngay sát cùi tay: những chớp đen, những báo hoảng, không ai ở đó, thực tế là không có ai trên đường hết, ngoại trừ rất thi thoảng, một người lờ mờ gập mình trên xe đạp trong màn mưa.
Đầu nặng, cổ sưng. Khi cuối cùng cũng vẫy được taxi trên đường, tôi chỉ còn cách khách sạn vài phút. Điều tốt đẹp duy nhất khi tôi lên đến phòng - lạnh thấu xương tủy, run như cây sấy - là người ta đã dọn phòng, chất thêm đồ vào tủ lạnh, trước đó đã bị tôi uống sạch cho tới tận chai Cointreau.
Tôi lấy cả hai chai gin mini pha với nước nóng từ vòi, ra ngồi trên ghế thêu kim tuyến bên cửa sổ, cái ly đung đưa đầu ngón tay, nhìn giờ phút trôi: gần như ngủ, gà gật mơ, ánh sáng mùa đông âm u đong nghiêng tường nọ sang tường kia thành những hình thoi trượt xuống thảm rồi hẹp dần tới khi biến mất thì đã là giờ ăn tối, dạ dày đau, họng rát vì mật trào, mà tôi vẫn ngồi đó trong bóng tối. Đâu phải là điều tôi chưa hề nghĩ đến quá nhiều lần, trong những hoàn cảnh ít căng thẳng hơn nhiều; nỗi hối thúc bất tình choán trọn tâm thần, một tiếng thì thầm rắn độc chưa bao giờ thực sự im tiếng, có những ngày lảng vảng ngay ngoài tầm nghe nhưng những ngày khác lại gầm thét không gì trấn áp nổi, thành một cơn điên cuồng thấu thị ghê rợn, tuy tôi chẳng biết vì sao, đôi khi chỉ một bộ phim tôi hay một bữa tiệc tối quả sức chịu đựng cũng nhử nó trỗi giọng, nỗi buồn chán tức thời hay nỗi đau dài hạn, hoảng sợ đột nhiên hay tuyệt vọng thường kỳ cùng lúc ập lấy cháy bùng lên thành một luồng sáng hoang tàn tro bụi để cho tôi thấy, thấu suốt, ngược trở lại nhiều năm trong một nỗi tuyệt vọng tinh tường và rành mạch, rằng thế giới cũng như tất thảy mọi điều trong đó đã bị đọa rồi, bị đọa vĩnh cửu, không thương xót rồi và chưa từng có gì trên đời là tốt đẹp hay tàm tạm được, linh hồn quằn quại trong ngộp thở, cán phòng không cửa sổ, ngục tù không lối ra, hổ thẹn kinh hoảng ập tới từng đợt, để tôi yên, mẹ nằm chết trên sàn cẩm thạch, ngừng lại ngừng lại, thì thẩm thành tiếng một mình trong thang máy, trong taxi, để tôi yên, tôi muốn chết, một nỗi điên giận lạnh lùng, lý trí, tự hủy đã hơn một lần xúi giục tôi lao bổ lên phòng trong cơn mụ mị, kiên quyết tống vào mồm lẫn lộn không phân biệt cả đống rượu thuốc bắt gặp trước mắt: chỉ có nhờn thuốc và kém cỏi đã khiến tôi thất bại, để rồi tỉnh lại trong kinh ngạc và buồn bực, dù cũng thở phào vì Hobie sẽ không phải tìm thấy tôi như vậy.
Đàn chim đen. Những tầng trời màu chì tai ương như tranh Egbert van der Poel.
Tôi đứng dậy, bật đèn bàn, hơi chao đảo trong quầng sáng yếu màu nước tiểu. Có thể đợi. Có thể chạy đi. Nhưng đấy đều chẳng phải lựa chọn mà chỉ là biện pháp cầm cự: như con chuột khỉ lúi húi chạy, khi hóa đá trong bể nuôi rắn, thảy đều vô dụng, thảy đều chỉ được một điều duy nhất là thêm kéo dài bất an và căng thẳng. Còn một lựa chọn thứ ba nữa: vì nhiều lý do khác nhau, tôi cảm thấy nhân viên đại sứ quán hẳn sẽ mau mắn trả lời nếu tôi để lại lời nhắn ngoài giờ làm việc, rằng tôi là một công dân Mỹ có nguyện vọng nộp mình vì tội sát nhân.
Hành vi nổi loạn. Đời: trống rỗng, vô nghĩa, không chịu đựng nổi. Tôi nợ gì đời mà phải trung thành với nó? Chẳng có gì. Sao không nhanh nhảu giáng đòn khi Số phận chưa kịp xuống tay? Ném cuốn sách vào lửa và thế là hết? Chẳng thấy lối thoát nào trước mắt cho nỗi khủng khiếp hiện tại, mức độ khủng khiếp ngoại sinh và nghiệm sinh kha khá bổ sung vào lượng nội tại của tôi; và miễn là đủ liều (ước lượng cái túi: còn chưa đầy nửa), tôi sẽ sẵn sàng đổ ra một đường đầy đặn rồi ngã kềnh ra giường: bóng đêm thần diệu, bùng nổ ngàn sao.
Nhưng từng này không đảm bảo sẽ kết liễu được. Tôi chẳng muốn phí phạm số còn lại cho vài giờ bất tỉnh chỉ để rồi lại tỉnh dậy trong lồng (hay tệ hơn: trong bệnh viện Hà Lan và không hộ chiếu). Lại nhưng, độ nhờn thuốc của tôi đã giảm nhiều rồi và tôi khá chắc từng đó là đủ xong việc, nếu tôi thật say mềm đi trước đã rồi chiêu thêm viên oxy dự phòng cho chắc ăn.
Chai vang trắng ướp đá trong tủ lạnh. Sao lại không? Tôi uống nốt chỗ gin rồi bật nút chai vang, cảm thấy vừa quyết chí vừa hào hứng - tôi đang đói, người ta đã bỏ lại bánh gạo và snack vào tủ, nhưng cái này sẽ hiệu quả hơn nhiều nếu bụng rỗng.
Nhẹ mình tột độ. Phế bỏ lặng thầm. Niềm vui hoàn mỹ khi vứt hết, bỏ hết. Tôi tìm ra một kênh nhạc cổ điển trên radio - nhạc nhà thờ Giáng sinh, đầy vẻ trang trọng, và khấn nguyên, không phải giai điệu mà là âm hồn của giai điệu - và tính có nên bật nước tắm không.
Nhưng cái đó có thể để sau. Thay vào đó, tôi mở bàn viết, tìm thấy một tập giấy bút của khách sạn. Màu dạ xám thánh đường, quãng sáu thứ. Re virginum amator.Với cơn sốt và tiếng nước kênh lõm bõm ngoài kia, không gian quanh tôi đã lặng lẽ nhòa vào sự tồn tai song trùng ám ảnh, một cõi trung gian vừa là phòng khách sạn, vừa là cabin con tàu khe khẽ lắc lư. Sống giữa trùng khơi. Chết trong nước thẳm. Andy, thời còn nhỏ, nói với tôi bằng cái chất giọng trẻ con sao Hỏa rờn rợn, nó đã nghe Kênh Giáo Dục bảo rằng Đức Mẹ Mana là người bảo trợ các thủy thủ, rằng kinh Mân Côi còn có tác dụng bảo hộ người ta không bao giờ chết đuối. Mary Stella Mans. Mary, Tinh Tú Của Biển Khơi.
Tôi nghĩ đến Hobie trong lễ Misa nửa đêm, quỳ gối trên hàng ghế, mặc vét đen. Mạ vàng sẽ mòn đi dần dần. Trên cảnh cửa tủ ly, trên mặt lật tủ bàn viết, thường có kha khá những vết sứt rất khó nhận thấy.
Đồ vật luôn kiếm tìm chủ nhân đích thực. Chúng cũng có các phẩm chất như người. Chúng có khi quay quắt hay trung thực, khả nghi hay thiện lương.
Những món cực kỳ có giá không bao giờ từ trên trời rơi xuống.
Bút của khách sạn không tốt lắm, tôi ước gì mình có bút tử tế hơn, nhưng giấy rất dày và láng. Bốn lá thư. Thư cho Hobie và bà Barbour sẽ phải dài nhất, vì họ là những người xứng đáng nhất có được lời giải thích từ tôi, và cũng vì đấy là những người duy nhất, nếu tôi chết đi, sẽ động lòng thực sự. Nhưng tôi sẽ viết cho cả Kitsey nữa - trấn an cô rằng đây không phải lỗi của cô. Còn thư cho Pippa sẽ ngắn nhất. Tôi muốn cô biết mình yêu cô đến dường nào, và lại cần cô hiểu rằng cô chẳng có một mảy may lỗi lầm vì không thể yêu tôi đáp lại.
Nhưng tôi sẽ không viết vậy. Tôi muốn tung cánh hoa hồng chứ không phải quăng mũi tiêu độc. Mục đích chỉ là cho cô biết, thật ngắn gọn, rằng cô đã khiến tôi hạnh phúc đến chừng nào, trong khi bỏ qua hết những điều hiển nhiên.
Nhắm mắt lại, tôi hứng vạn tia chớp rõ rệt choáng người từ ký ức được cơn sốt moi ra từ đâu không biết, bùng lên như những đường đạn lửa giữa rừng sâu, những luồng lửa sáng rỡ cực kỳ chi tiết và thêu dệt ngàn ngàn cảm xúc. Những dây đàn ánh sáng chiếu qua cửa sổ chấn song căn hộ trên Đại lộ 7 ngày trước, thảm sợi thùa ram ráp và những ô vuông bàn cờ in trên tay cùng đầu gối khi tôi chơi trên sàn nhà. Cái váy dạ tiệc màu da quýt của mẹ, chân váy có đủ thứ lấp lánh tôi rất thích sờ. Alameda, bà giúp việc ngày xưa, đang nghiền chuối xanh trong bát thủy tinh. Andy giơ tay chào tôi trước khi loạng choạng đi qua hành lang tối tăm trong căn hộ nhà họ: Rõ, thưa thuyền trưởng.
Những giọng hát trung cổ, nghiêm ngắn siêu trần, vẻ đường bệ của bài hát không trang sức.
Tôi không thật thấy khổ sở, vấn đề là thế. Đúng hơn, cảm giác như khi đi rút tủy răng đến cái cuối cùng nặng nhất, khi ông nha sĩ cúi sát dưới chùm đèn và bảo sắp xong rồi.
24 tháng 12
Kitsey thân,
Anh vô cùng hối tiếc về chuyện này, nhưng anh cũng muốn em biết điều này không hề liên quan gì đến em, cũng như bất cứ ai trong gia đình em. Mẹ em sẽ nhận được một lá thư riêng cho biết nhiều thông tin hơn một chút, nhưng trước mắt anh muốn cam đoan riêng với em rằng việc lựa chọn hành động của anh không hề chịu ảnh hưởng bởi bất kỳ điều gì đã từng xảy ra giữa chúng ta, đặc biệt là những chuyện gần đây.
Cái giọng điệu cứng nhắc này, cùng lối viết chữ cứng nhắc bất thường, là ở đâu ra - trái ngược hẳn với những ký ức và ảo giác đang nổ tung trong đẩu, chèn ép tôi từ tứ phía - tôi cũng không biết nữa. Mưa đá đang bắn líu chíu vào cửa sổ dường như mang một sức nặng lịch sử lâu đời, nạn đói, những đoàn quân nện bưởc, một màn nước buồn thương không ngừng rơi.
Như em biết rõ, và đã tự mình chỉ ra với anh, anh có rất nhiều vấn đề đã khởi đầu từ rất lâu trước khi gặp em, và tất cả không có cái nào là lỗi do em cả. Nếu mẹ em có còn băn khoăn gì về vai trò của em trong những sự việc gần đây, anh khuyên em mời bà tham khảo thêm Tessa Margolis, hay tốt hơn nữa là Em, người sẽ rất hào hứng được chia sẻ quan điểm cá nhân về tư cách của anh. Thêm nữa - một việc hoàn toàn không liên quan - nhưng anh cũng cần khuyên em đừng bao giờ cho Havistock Irving vào trong nhà mình, vĩnh viễn không.
Kitsey hồi bé. Tóc mịn lơ thơ trên mặt. Im đi hai thằng rồ. Thôi ngay không em mách bố mẹ.
Cuối cùng, tuy không kém phần quan trọng...
(cây bút ngập ngừng thật lâu trên dòng này).
cuối cùng, tuy không kém phần quan trọng, anh muốn nói rằng em trông thật xinh đẹp trong buổi tiệc, và anh hết sức cảm động khi thấy em đeo đôi hoa tai của mẹ anh. Mẹ anh mê mẩn Andy - hẳn là mẹ cũng sẽ rất yêu em, và chắc sẽ rất mừng nếu bọn mình đến được với nhau. Anh rất buồn là mọi chuyện lại không suôn sẻ. Nhưng anh cũng hy vọng em sẽ được suôn sẻ về sau. Thật đấy.
Nghìn lần yêu thương,
Theo
Dán lại; để địa chỉ; đặt một bên. Dưới lễ tân hẳn có tem.
Hobie thân yêu,
Viết lá thư này rất khó khăn, và cháu cũng rất buồn khi phải viết.
Khi toát mồ hôi, khi lạnh buốt. Trước mắt tôi hiện những đốm xanh lục. Nhiệt độ lên cao đến mức các bức tường hình như đang teo lại.
Đây không phải là vấn đề những món hàng giả mà cháu đã bán. Chắc là bác sẽ nhanh chóng được biết là vấn đề gì thôi,
Axit nitric. Muội than. Đồ nội thất, cũng như mọi vật sống, dần dà sẽ có vết tích và mang sẹo qua thời gian.
Tác động của thời gian, vô hình cũng như nhìn thấy.
và, cháu không biết phải nói ra sao nữa, nhưng cháu nghĩ điều mình đang nhớ lại là con chó con bị ốm mà mẹ và cháu từng gặp trên đường trong khu Phố Tàu. Nó đang nằm bẹp trong khoảng trống giữa hai thùng rác. Đấy là một con pit bull sơ sinh. Hôi thối bẩn thỉu lắm. Toàn da bọc xương. Yếu quá không đứng dậy nổi. Mà mọi người chỉ dửng dưng đi qua. Và cháu buồn bực kinh khủng, và mẹ hứa hai mẹ con sẽ đón nó về nếu nó vẫn còn ở đấy khi mẹ con cháu ăn tối xong. Và khi mẹ con cháu ra khỏi nhà hàng thì nó vẫn ở đấy. Nên mẹ gọi taxi, cháu bế nó trong tay, và khi về đến nhà mẹ làm cho nó cái hộp nằm trong bếp, còn nó vui sướng cuồng lên, liếm mặt bọn cháu rồi uống cả đống nước và ăn hết số đồ ăn cho chó mà mẹ con cháu mua về rồi lập tức nôn ra hết sạch.
Ờ, nói vắn tắt lại là cuối cùng nó chết. Không phải lỗi của mẹ con cháu. Nhưng mẹ con cháu vẫn có cảm giác như vậy. Chúng cháu đã đưa nó đi thú y, đã mua đồ ăn đặc biệt, nhưng nó chỉ mỗi ngày một ốm hơn. Tới lúc đó thì mẹ con cháu đã yêu nó lắm rồi. Và mẹ cháu lại đưa nó đi khám, một bác sĩ chuyên khoa ở Trung tâm Thú y. Và bác sĩ bảo con chó này có bệnh, bệnh gì thì cháu quên tên rồi, nó đã mắc từ hồi bà bắt được nó, và tôi biết bà không muốn nghe tin này nhưng nếu muốn nhân đạo thì tốt nhất là bà tiêm thuốc cho nó ngay bây giờ
Tay tôi vừa bay vun vút thành từng đợt ngắt quãng trên trang giấy. Nhưng tới hết trang thò tay lấy tờ khác, tôi chợt dừng, ghê sợ. Điều mà tôi đã cảm thấy là không trọng lượng, là đà liệng bay lần chót suốt không trung, lại hoàn toàn không phải lời từ giã văn hoa và cảm động mà tôi từng tưởng tượng. Nét chữ trồi sụt bồ lê khắp trang giấy, không hề thông minh hay mạch lạc, hay thậm chí là đọc được. Hẳn phải có cách nào gọn hơn và mộc mạc hơn để cám ơn Hobie chứ: để nói điều tôi muốn nói, là ông đừng áy náy, ông vẫn luôn đối xử rất tốt với tôi và đã làm hết sức để giúp tôi, giống như tôi và mẹ đã làm hết sức giúp con cún pit bull kia, mà - thực ra đây là một điểm cực kỳ quan trọng, chỉ có điều tôi không muốn kéo quá dài câu chuyện - dù hết sức dễ thương và hiền dịu, đã là một thế lực phá hoại thực sự trong mấy ngày trước khi chết, gần như phá tan hoang cả căn hộ và bươi nát cái xô pha nhà tôi ra từng mảnh.
Mè nheo, bi lụy, vô duyên. Cổ họng tôi khan như vừa bị lưỡi dao cạo cạo hết niêm mạc.
Nhấc nệm lên nào. Nhìn đây: có mọt rồi. Sẽ phải xịt Cuprinol thôi.
Cái đêm chơi thuốc quá liều trong phòng tắm trên nhà Hoble, đinh ninh mình sẽ không tỉnh dậy mà cuối cùng vẫn tỉnh, má áp trên viên gạch lót sàn lục giác đảo điên, tôi đã kinh ngạc khi thấy phòng tắm đồ đạc trắng kiểu trước chiến tranh có thể sáng trưng đến cỡ nào nếu nhìn từ thế giới bên kia lại.
Bắt đầu của kết thúc? Hay là kết thúc của kết thúc.
Fabelhaft. Chưa bao giờ ăn chơi sướng đời như thế.
Từng thứ một nào. Aspirin. Nước lạnh lấy trong tủ lạnh. Mấy viên thuốc cọ rột rạt rồi mắc trong ngực, như nuốt sỏi, và tôi đấm ngực tìm cách đẩy chúng xuống, rượu khiến đầu tôi còn lảo đảo hơn nữa, vừa khát, vừa rối loạn, lưỡi câu móc họng, nước bò dọc trên má rất ngớ ngẩn, thở dốc, khò khè, tôi đã mở chai vang coi như ăn mừng nhưng nó lại chảy xuống họng như dầu nhựa thông, đốt cháy và cào cấu dạ dày tôi, có nên mở nước tắm không, có nên gọi lễ tân hỏi thứ gì đó nóng, đơn giản không, canh hay trà chẳng hạn? Không: yêu cầu chỉ là uống cho hết vang, hoặc có thể tiến lên chiến vodka đi; hình như đâu đó trên mạng tôi từng đọc được chỉ có hai phần trăm những vụ tự tử dùng thuốc quá liều là có tác dụng, một con số có vẻ thấp đến ngớ ngẩn, dù không may thay, đã được chứng minh bằng kính nghiệm. Xẽ không mưa nữa. Thư tuyệt mệnh của ai đó. Đời chỉ là vở kịch hề. Chồng Jean Harlow, người đã tự vẫn vào đêm tân hôn. Thư của George Sanders là hay nhất, một kinh điển Hollywood cũ, bố tôi đã thuộc lòng và rất ưa dẫn lại. Gửi Thế giới, Tôi đi vì chán rồi. Và rồi đến Hart Crane. Tung người rơi xuống, áo sơ mi căng phồng khi rơi. Chào tất cả! Hét lên lời chào, khi nhảy khỏi tàu.
Tôi không còn thấy cơ thể là của mình nữa. Nó đã không còn thuộc về tôi. Đôi tay tôi, vẫn chuyển động, có vẻ đã tách lìa, tự trôi nổi, và khi tôi đứng dậy thì cứ như điều khiển con rối, duỗi người ra, dựng lên từng khúc nhờ dây giật.
Hobie từng kể hồi còn trẻ ông uống Cutty Sark vì đấy là loại rượu của Hart Crane. Cutty Sark nghĩa là Váy Ngắn.
Tường lục nhạt trong phòng để dương cầm, cây cọ và kem hạt dẻ cười.
Cửa sổ đọng băng. Phòng không sưởi, Hobie thời thơ ấu.
Các Danh Họa Cổ[187], họ không bao giờ sai.
Tôi nghĩ gì, tôi cảm thấy gì vậy?
Thở cũng đau. Túi heroin để trên bàn nhỏ bên kia giường. Nhưng dù bố tôi, người hâm mộ bất tuyệt những địa ngục showbiz, hẳn sẽ mê mẩn bối cảnh này - ma túy, gạt tàn đầy, rượu, đủ cả - tôi lại không chịu nổi ý nghĩ sẽ bị người ta tìm thấy, nằm duỗi chân tay trong áo choàng ngủ khách sạn như một ca sĩ phòng trà hết thời. Điều cần làm là dọn dẹp, rửa ráy, cạo râu rồi đóng vét để trông không quá nhếch nhác khi bị phát hiện, và chỉ tới lúc đó, cuối cùng, sau khi mấy cô dọn phòng ca đêm đã hết buổi trực, mới gỡ tấm bảng ĐỪNG LÀM PHIỀN trên cửa: tốt hơn là người ta tìm thấy tôi ngay đầu giờ sáng; tôi không muốn đợi đến khi bốc mùi.
Hình như cả một kiếp đã trôi qua từ cái đêm bên Pippa, và tôi nghĩ mình từng hạnh phúc đến thế nào, khi chạy tới gặp cô trong đêm mùa đông sắc nét, nỗi hân hoan khi nhìn thấy cô dưới ngọn đèn đường trước cửa Film Forum và giây phút dừng lại nơi góc phố tận hưởng nỉềm vui ấy - niềm vui ngắm cô trông tìm tôi. Khuôn mặt chăm chú hướng về đám đông. Tôi là kẻ cô đang tìm kiếm: chính tôi đây. Và cơn nhức nhối trong tim khi tin rằng, dù chỉ trong một khắc, mình vẫn còn cơ hội có được điều sẽ không bao giờ thuộc về mình.
Áo vét trong tủ. Sơ mi bẩn hết rồi. Sao tôi lại không nghĩ đến chuyện đem giặt cái nào nhỉ? Giày của tôi đều sũng nước và hỏng hết, khiến bức tranh lại thêm một vẻ đáng buồn - nhưng không (hoang mang dừng bước giữa phòng), chẳng lẽ tôi định nằm dài ra, phục trang đẩy đủ, có cả giày, như thi thể trên giường đá ấy à? Tôi đi lại toát mồ hôi lạnh, vừa run vừa rét, đủ cả bộ. Phải ngồi xuống thôi. Có lẽ sẽ phải tính lại khung cảnh từ đầu. Xé thư đi. Làm như là tai nạn. Hay hơn nhiều nếu làm ra vẻ tôi đang trên đường đi dự một buổi tiệc sang trọng bí ẩn nào đó, chỉ quất một tẹo thật nhanh trên đường ra - ngồi trên mép giường, quá đà một khắc, pháo hoa đen và tiếng lốp bốp, ngật người sướng rên. Phụp.
Đôi cánh trắng hỗn mang. Giậm nhảy vào vô tận.
Rồi - nghe tiếng trumpet ré lên - tôi giật mình. Bài hát kinh đã chuyển sang một dàn giao hưởng tưng bừng rất trái chỗ. Du dương và lòe loẹt. Một cơn bực bội dâng lên trong tôi. Vở Kẹp hạt dẻ. Sai rồi. Sai hết cả rồi. Một điệu Hoan ca chào Xuân gào rú hết cỡ hoàn toàn chẳng phải là âm điệu để tống tiễn tôi, cả dàn nhạc ầm ĩ, điệu Hành Khúc gì đó, và lập tức ruột tôi quặn lên, nhồi một cơn lộn nhào lên họng, cảm giác như vừa nuốt cả thùng nước chanh và trong nháy mắt tôi vừa kịp nhao đến bên sọt giấy lộn thì bè lũ chúng nó đã kéo nhau lên trong một luồng chua xé, đợt lại đợt lại đợt vàng khè.
Khi đã xong, tôi ngồi trên thảm, tì trán vào mép sọt bằng kim loại mát rượi, tiếng vở ba lê cho trẻ con vẫn hơn hớn rất bực mình bên tai: thậm chí còn không say nữa, thế mới khốn chứ, chỉ buồn nôn. Trong hành lang vọng vào tiếng một bầy Mỹ, mấy cặp trai gái, vừa cười vừa ồn ã chào nhau khi rút về từng phòng: bạn cũ thời sinh viên, làm trong ngành tài chính, hơn năm năm làm luật doanh nghiệp và Fiona sắp vào lớp một mùa thu sau, ở Oaklandia đều ổn cả, vậy thôi ngủ ngon nhé, trời ơi yêu các cậu say đắm, một cuộc đời tôi cũng có thể kiếm cho mình chỉ ngoại trừ việc tôi chẳng muốn nó. Đấy là ý nghĩ cuối cùng tôi còn nhớ trước khi vận sức dựng người dậy đi tắt thứ nhạc lộng óc, và bụng dạ cồn cào, ném mình sấp xuống giường như quăng mình qua thành cầu, mọi đèn trong phòng còn sáng quắc khi tôi đã chìm sâu xuống nơi không còn ánh sáng, bóng tối khép lại trên đầu.
IV
HỒI CÒN NHỎ, sau khi mẹ mất, tôi luôn cố nghĩ đến mẹ khi thiếp ngủ để biết đâu có thể thấy mẹ trong mơ, nhưng chẳng bao giờ thành công. Hay đúng hơn, tôi mơ thấy mẹ thường xuyên, nhưng là mơ thấy vắng mặt chứ không phải có mặt: luồng gió phẩy qua căn nhà vừa bị bỏ lại, tuồng chữ mẹ trên tờ giấy nhớ, mùi nước hoa, đường phố trong những thành phố lạ lạc lối mà tôi biết chỉ giây trước mẹ còn rảo bước nhưng đã biến mất vừa đây, một cái bóng di chuyển trên bức tường tắm nắng trời. Thỉnh thoảng tôi thoáng thấy mẹ giữa đám đông, hay trong taxi vừa chuyển bánh, và những bức hình chớp nhoáng ấy được tôi giữ gìn cẩn trọng, dù chẳng bao giờ kịp chạy tới bên mẹ. Luôn luôn, khi kết cuộc, mẹ lẩn khỏi tôi: tôi liên tục nhấc máy khi mẹ vừa dập máy, hay để quên số mẹ ở đâu, hoặc hổn hển chạy quáng quàng đến nơi mẹ dặn chờ để thấy mẹ vừa đi khỏi. Khi lớn lên, những cú bắt hụt thường kỳ ấy hòa lẫn vào với nỗi lo âu rắc rối hơn và đau xiết hơn nhiều: tôi sẽ hoảng vía khi biết, hay nhớ lại, hay được tin từ một nguồn khó hiểu nào đó, rằng mẹ đang sống đầu bên kia thành phố, trong một căn nhà ổ chuột gớm ghiếc mà vì lý do nào không hiểu nổi tôi đã không tới gặp hay liên lạc nhiều năm rồi. Thường là tôi đang hối hả rối rít tìm cách vẫy taxi hay chạy đến chỗ mẹ thì tỉnh dậy. Những kịch bản dai dẳng ấy cố tình lặp lại và gần như tàn bạo, khiến tôi nhớ đến ông chồng làm Phố Wall hay kích động của một bà khách hàng chỗ Hobie, trong tâm trạng nào đó rất thường kể đi kể lại ba câu chuyện từ thời tham chiến ở Việt Nam, lời lẽ và điệu bộ đều máy móc y hệt: cũng tiếng súng bắn tằng tằng tằng, cũng bàn tay bổ xuống, lúc nào cũng đúng một điểm. Mặt mũi ai nấy đều lặng phắc quanh những ly rượu cuối bữa khi ông ta bắt đầu chuỗi kể lể thường lệ, vì bất kỳ ai cũng đã chứng kiến cả triệu lần và lần nào (giống như vòng quay bất tận tìm kiếm mẹ của tôi, đêm lại đêm, năm lại năm, giấc mơ này qua giấc mơ khác) cũng giống y đúc lần nào. Lần nào ông cũng vấp rồi ngã ở đúng gốc cây ấy; và ông không bao giờ chạy tới kịp được bên cậu đồng đội Gage, cũng như tôi không bao giờ tìm được mẹ.
Nhưng đêm ấy, rốt cuộc; tôi đã tìm thấy mẹ. Hay chính xác hơn: mẹ tìm thấy tôi. Có vẻ đây sẽ là lần duy nhất, dù cũng có thể một đêm nào khác, một giấc mơ nào khác, mẹ sẽ lại đến tìm tôi như vậy - có lẽ là khi tôi hấp hối chăng, dù hy vọng như vậy cũng có vẻ là đòi hỏi quá mức. Hẳn nhiên tôi sẽ bớt khiếp hãi trước cái chết hơn (không phải chỉ là chính mình, mà cả Welty, hay Andy, Cái Chết chung chung) nếu nghĩ sẽ có một người thân thuộc tới đón mình bên cửa, vì - viết đến đây tôi muốn trào nước mắt - tôi nhớ ra Andy từng bảo tôi, mắt mở to kinh hoảng, rằng mẹ tôi là người duy nhất đã chết giữa những người cậu ta quen, và yêu. Vì thế - biết đâu khi Andy dạt vào xứ sở bên kia biển nước, ho hắng và phun bọt, biết đâu chính mẹ tôi là người quỳ xuống bên cạnh chào cậu ta trên bờ xa. Có thể là ngu xuẩn khi nói lên những hy vọng ấy. Lại nhưng, có thể ngu xuẩn hơn là không dám nói ra.
Nhưng dù sao, có là lần duy nhất hay không, thì đó cũng là một món quà; và nếu mẹ chỉ được về thăm đúng một lần, nếu đấy là tất cả những gì họ cho phép, thì mẹ đã để dành đến khi cần nhất. Vì bất thình lình, mẹ đã ở đây. Tôi đang đứng trước gương nhìn căn phòng sau lưng phản chiếu trong gương, nội thất rất giống cửa hiệu của Hobie, hoặc đúng hơn, một phiên bản cửa hiệu rộng rãi hơn, dường như vô tận, tường nâu thẫm màu gỗ đàn vi-ô-lông-xen và cửa sổ để ngỏ trông như lối dẫn vào một sân khấu nắng không hình dung nổi rộng rãi hơn nhiểu. Không gian sau lưng trong lòng gương dường như không phải không gian theo nghĩa thông thường, mà là một sự hòa điệu hoàn chỉnh, một thực tế thật hơn, rộng lớn hơn nằm lọt giữa một cõi lặng thinh thăm thẳm, nằm ngoài tiếng nói và âm thanh; trong đó tất cả là tĩnh lặng và trong sáng, tuy cùng lúc, như trong một cuốn phim chạy ngược, vẫn có thể tưởng tượng sữa đổ rút ngược vào trong bình chứa, con mèo bay ngược lên trời để lặng lẽ đáp xuống trên bàn, một trạm dừng chân nơi thời gian không tồn tại, hoặc đúng hơn tồn tại đồng thời về mọi hướng khác nhau, mọi lịch sử và vận động diễn ra cùng lúc.
Và khi vừa ngoảnh khỏi gương một giây rồi ngoảnh lại, tôi thấy bóng mẹ sau lưng mình, trong gương. Tôi á khẩu. Không hiểu bằng cách nào tôi biết mình không được phép quay lưng lại - như thế là trái luật, dù luật ở nơi này là gì - nhưng chúng tôi nhìn thấy nhau, mắt chạm mắt trong gương, và mẹ cũng vui mừng khi thấy tôi như tôi khi thấy mẹ. Mẹ là mẹ thật. Một sự hiện diện hóa thành thân xác. Mẹ mang hiện thực tâm linh, mang chiều sâu và thông tin. Mẹ ở giữa tôi và cái chốn không biết là gì mà từ đó mẹ vừa trở lại, cái nơi ở bên kia. Và cái giây phút chúng tôi mắt chạm mắt trong gương, kinh ngạc, vui thích, cặp mắt lam tuyệt đẹp của mẹ với quầng đen bao quanh mống mắt, cặp mắt lam nhạt chứa chan ánh sáng: chào con! Âu yếm, thông tuệ, buồn rầu, hài hước. Có chuyển động và tĩnh lặng, tĩnh lặng và trầm bổng, sức hàm chứa và ma thuật của một bức tranh bậc thầy. Mười giây, vĩnh cửu. Tất cả là một vòng tròn dẫn về lại mẹ. Có thể ngộ ra trong tích tắc, có thể đắm mình hết ngàn thu: mẹ chỉ tồn tại trong gương, bên trong khoảng không gian giữa khung hình, và dù không còn sống, không hẳn thế, nhưng cũng không phải mẹ đã chết, vì mẹ còn chưa sinh ra, mà lại không có lúc nào chưa sinh ra - và tôi, kỳ lạ thay, cũng vậy. Và tôi biết rằng mẹ có thể dạy mọi điều mình muốn biết (cuộc sống, cái chết, quá khứ, vị lai) dù nó đã nằm sẵn đây rồi, trong nụ cười của mẹ, câu trả lời cho mọi vấn đề, nụ cười trước Giáng-sinh của người nắm một bí mật quá tuyệt vời không thể để lộ ra: à, con sẽ phải đợi đến lúc đó mới biết, phải không ? Nhưng đúng khi mẹ mở miệng toan nói - hít vào một hơi vừa muộn phiền vừa trìu mến mà tôi nhớ rõ, mà âm thanh ngay lúc này còn vang bên tai - thì tôi tỉnh dậy.
V
KHI TÔI MỞ MẮT, trời đã sáng. Đèn trong phòng tất cả vẫn sáng quắc, còn tôi nằm dưới chăn mà không hiểu bằng cách nào mình chui vào đó. Mọi thứ vẫn còn tắm trong, thấm đãm sự hiện diện của mẹ - cao hơn, rộng hơn, sâu hơn sự sống, một dịch chuyển quang học khiến mép màu cầu vồng, và tôi nhớ đã nghĩ rằng hẳn người ta đều thay đổi như vậy sau khi kiến diện các thánh - dù mẹ tôi không phải thánh, chỉ là cuộc viếng thăm của mẹ rõ nét và choáng ngợp như một ngọn lửa chợt phụt lên giữa phòng tối đen.
Vẫn còn mơ màng, tôi trôi nổi giữa lớp ga giường, được nâng độ bập bênh trên giấc mơ ngọt lịm đang nhẹ nhàng vỗ sóng xung quanh. Ngay cả những âm thanh trộn nhau buổi sáng trong hành lang cũng đã nhuốm sắc màu và không khí từ mẹ, vì nếu để ý nghe thật kỹ, trong trạng thái nửa tỉnh nửa mơ này, dường như tôi có thể phân tách rạch ròi âm thanh tiếng bước chân mẹ nhẹ bỗng và hân hoan lẫn trong tiếng lanh canh xe thức ăn chạy dọc hành lang và tiếng lạch xạch dây cáp thang máy, tiếng cửa thang máy mở ra đóng lại: một âm thanh rất thành thị, một âm thanh trong đầu tôi đã gắn liền với Sutton Place và mẹ.
Rồi đột ngột, òa ra giữa những sợi lân tinh cuối cùng quyến luyến lại sau giấc mơ, tiếng chuông của nhà thờ gần đây dội lên ầm ĩ man rợ đến nỗi tôi bật dậy hốt hoảng, cuống cuồng sờ tìm kính. Tôi đã quên mất hôm nay là ngày gì: Giáng sinh.
Loạng choạng, tôi đứng dậy đi ra cửa sổ. Chuông nối tiếp chuông. Đường phố trắng xóa, sạch bóng. Băng lấp lánh trên những mái nhà lợp gạch; ngoài xa, trên kênh Herengracht, tuyết bay bay. Một toán chim đen đang la thét và liệng tròn trên mặt kênh, khiến bầu trời nhiễu loạn, đường cánh nghiêng rộng hay rập rờn như một cơ thể có trí khôn duy nhất, lộn nhào mấy vòng, và chuyển động ấy dường như đã lặn vào trong tôi xuống đến tận từng bậc tế bào, trời trắng tuyết mù và cơn gió bấc cóng người của các thi sĩ.
Nguyên tắc trên hết của việc phục chế. Không bao giờ làm việc gì không đảo ngược lại được.
Tôi tắm, cạo râu rồi mặc áo. Rồi lặng lẽ, tôi dọn phòng và đóng đồ. Tôi sẽ phải làm cách nào đó mang trả nhẫn và đồng hồ lại cho Gyuri, đấy là nếu anh ta còn sống, một điều càng lúc tôi càng ngờ: riêng chiếc đồng hồ đã là cả một gia tài - ngang một chiếc BMW dòng 7, hay là tiền cọc một chung cư. Tôi sẽ gửi FedEx tới Hobie nhờ ông giữ hộ, nhắn lại tên ông ở quầy lễ tân nhỡ Gyuri cần tìm.
Cửa sổ đóng băng, tuyết ướp trên sỏi đường, sâu và im ắng, đường không bóng xe cộ, những thế kỷ chồng lên nhau, thập niên 1940 đổ về 1640.
Tốt nhất là không nghĩ quá đà. Điều quan trọng là phải lợi dụng năng lượng của giấc mơ đã theo tôi ra tới lúc thức. Vì không biết tiếng Hà Lan, tôi sẽ phải đến đại sứ quán Mỹ nhờ họ gọi cho cảnh sát Hà Lan. Làm hỏng cả một kỳ nghỉ lễ của nhân viên sứ quán nào đó, một bữa tiệc gia đình hân hoan nào đó. Nhưng tôi không tin vào bản thân để mà đợi. Hẳn bây giờ tốt nhất là xuống nhà xem website của Bộ Ngoại giao, học thuộc các quyền của tôi với tư cách công dân Hoa Kỳ - hẳn là trên Trái đất còn khối chỗ cảnh tù tội đáng sợ hơn Hà Lan nhiều, và có lẽ nếu tôi khai thẳng tuột mọi điều mình biết (Horst và Sascha, Martin và Frits, Frankfurt và Amsterdam) thì họ có thể kiếm ra bức tranh.
Nhưng ai biết sự thể sẽ ra thế nào. Tôi chẳng biết chắc điều gì được, ngoại trừ thời gian trốn tránh đã qua rồi. Dù có điều gì xảy ra đi nữa, tôi cũng sẽ không đi vào vết xe đổ của bố, trốn chui trốn lủi trong tính toán mưu mẹo suốt cho đến khi xe đổ, lửa bùng lên; tôi sẽ bước lên, đón nhận điều gì đến với mình, và để khẳng định, tôi đi thẳng vào phòng tắm giật nước trôi phong bì ô bóng kính xuống cống.
Thế là xong: nhanh như Martin, và cũng không đảo ngược được. Bố tôi hay nói gì ấy nhỉ? Giơ lưng chịu đấm. Dù bản thân ông chẳng bao giờ.
Tôi đã ngó tới mọi ngóc ngách trong phòng, làm mọi điều cần thiết, ngoại trừ mấy lá thư. Nhìn lối chữ viết là đủ phải nhăn mặt. Nhưng - ý nghĩ này khiến tôi giật mình - đúng là tôi cần viết cho Hobie - không phải những lời đấm ngực thương thân say khướt, mà là vài dòng vắn tắt về công việc, sổ séc, giấy má, chìa khóa két để ở đâu. Có lẽ cũng tốt hơn là tôi nên nhận lỗi luôn, bằng giấy mực, mấy vụ lừa đảo bán đồ, và nói hai năm rõ mười rằng ông không hề biết gì cả. Có lẽ tôi có thể đem công chứng ở đại sứ quán Mỹ; có thể Holly (hoặc ai cũng được) sẽ mủi lòng gọi người tới hoàn tất việc đó trước khi báo cảnh sát. Grisha có thể làm chứng cho tôi nhiều vụ mà không bị liên lụy đến anh: chúng tôi chưa bao giờ nói chuyện, anh chưa bao giờ hỏi han gì tôi, nhưng anh cũng biết những cuộc đi lại lén lút đến cơ sở trữ đồ ấy không phải là đàng hoàng gì.
Như vậy là còn Pippa và bà Barbour. Trời, cứ nghĩ đến những lá thư tôi đã viết cho cô nhưng không bao giờ gửi! Sản phẩm khá nhất, sáng tạo nhất của tôi sau cuộc viếng thăm khủng khiếp có Everett, đã bắt đầu, và kết thúc, bằng câu mà tôi nghĩ là nhẹ nhõm và tình cảm: Cần đi một thời gian. Nếu là thư tuyệt mệnh tiềm năng, khi ấy, ít ra về độ súc tích, tôi đã cảm giác đấy là một tuyệt phẩm. Tiếc rằng tôi đã tính nhầm liều lượng, và tỉnh giấc sau mười hai tiếng thấy mình đã nôn mửa khắp ga giường và phải lảo đảo xuống nhà, vẫn buồn nôn như điên, dự buổi họp lúc mười giờ sáng với sở thuế.
Tuy thế: thư đi tù thì khác, và hẳn là không nên viết ra. Pippa không lầm tưởng về bản chất của tôi. Tôi chẳng có gì dâng lên cô cả. Tôi là ốm đau, bất ổn, là mọi thứ cô muốn tránh xa. Nhà tù sẽ chỉ càng khẳng định điều cô vốn đã biết sẵn. Điều tốt nhất tôi có thể dành cho cô là cắt đứt liên lạc. Nếu bố tôi đã thực sự yêu mẹ - thực sự yêu mẹ theo cái cách mà ông tự nhận, thời xưa - chẳng phải ông sẽ làm thế sao?
Và rồi - bà Barbour. Đấy là một phát hiện khi tàu đắm, là loại thông tin cực kỷ sửng sốt mà ta không hề biết về chính mình cho đến giờ khắc tận cùng, khi những thuyền cứu sinh đã hạ thủy và con tàu đã rừng rực lửa - nhưng rốt cuộc, khi tính chuyện kết liễu tính mạng mình, bà là người duy nhất khiến tôi thực sự không đang tâm làm vậy.
Rời khỏi phòng - xuống nhà hỏi về FedEx và xem website Bộ Ngoại giao trước khi gọi đến sứ quán - tôi dừng lại. Một túi kẹo thắt nơ tí xíu treo trên nắm đấm cửa, một tấm thiếp viết tay: Giáng sinh vui vẻ! Ở đâu đó người ta đang cười nói, mùi cà phê đậm và đường cháy cùng bánh mì mới ra lò thơm nức mũi từ xe thức ăn đang bay khắp hành lang. Sáng nào tôi cũng gọi bữa sáng của khách sạn và kiên cường tiêu diệt từng thứ một - chẳng phải Hà Lan vốn nổi tiếng vì cà phê sao? Thế mà tôi đã uống hằng ngày mà thậm chí còn không nhận ra hương vị nó.
Tôi bỏ gói kẹo vào túi áo vét, đứng trong hành lang hít một hơi dài. Cả các tử tù còn được quyền chọn một bữa ăn cuối cùng cơ mà, đấy là để tài mà Hobie (đầu bếp cự phách, kẻ phàm ăn hớn hở) đã hơn một lần đưa ra khi đêm sắp hết, bên chai Armagnac trong khi ngó quanh quất tìm hộp thuốc hít đã hết và những chiếc tách thừa để làm gạt tàn thế thân cho các vị khách: với ông đấy là một vấn đề siêu hình, tốt nhất nên được suy nghĩ khi bụng đã no, sau khi tráng miệng đã đánh hết và đĩa caramen hương nhài cuối cùng đang được đưa quanh, bởi vì - khi nghĩ kỹ ở điểm tận cùng tất cả, khi đêm sắp qua, nhắm mắt và vẫy chào Trái đất - thì anh sẽ thực tình lựa chọn thứ gì? Một thứ dễ chịu để nhắc nhở về quá khứ? Bữa cơm gà thanh đạm từ một chủ nhật ấu thơ đã mất? Hay là lần cuối cùng được thỏa sức đập phá, ở đầu bên kia - gà tây kèm dâu mâm xôi, sô-cô-la viên trắng của Alba? Còn tôi: tôi thậm chí không biết mình đang đói trước khi bước ra hành lang, nhưng đúng lúc ấy, đứng đó với cái bụng cồn cào, trong miệng đắng ngắt, trước viễn cảnh cái dường như là bữa ăn cuối cùng được tự do lựa chọn, thì dường như cả đời tôi chưa hề ngửi thấy thứ gì thơm ngon đến như mùi đường ngào ngạt ấy: cà phê và quế, bánh mì trắng phết bơ trong bữa sáng kiểu lục địa. Thật buồn cười, tôi nghĩ khi quay vào phòng cẩm thực đơn gọi món lên: lại muốn một thứ dễ có đến vậy, lại cảm thấy thèm đến vậy chính cảm giác thèm ăn.
Vrolijk Kerstfeest[188]! Cậu bé phục vụ chào, nửa tiếng sau: một cậu thiếu niên đậm người, tóc tai bù xù y như tranh Jan Steen đeo một vòng hoa trang kim trên đầu và mỗi tai giắt một cành nhựa ruồi.
Khoa tay điệu bộ nhấc mâm bạc đậy mỗi khay. “Bánh mì Giáng sinh đặc biệt của Hà Lan,” nó nói và hài hước chỉ món đó. “Dành riêng cho hôm nay.” Tôi đã gọi “Bữa sáng ngày lễ kèm sâm-panh ”, trong đó có một chai con sâm-panh, trứng dầu nấm truýp và trứng cá, xa lát hoa quả, một đĩa cá hồi xông khói, một vuông pa tê, nửa tá đĩa các loại nước chấm, dưa chuột bao tử muối, nụ bạch hoa, các loại gia vị và dưa hành.
Cậu ta vừa bật nắp sâm-panh rồi đi xuống (sau khi nhận boa phần lớn số euro còn lại của tôi) còn tôi vừa rót cà phê và đang nếm thận trọng, nghĩ xem bụng dạ mình có chịu nổi không (tôi vẫn còn chóng mặt và cà phê ngửi gần có vẻ không thơm như lúc nãy) thì điện thoại reo.
Đấy là người trực quầy lễ tân. “Giáng sinh vui vẻ, thưa quý khách Decker,” anh ta hối hả nói. “Tôi xin lỗi, nhưng tôi e rằng có người đang đi lên tìm quý khách. Chúng tôi đã cố chặn lại ở dưới này...”
“Sao?” Hóa đá. Cốc đưa dở lên miệng.
“Đang đi lên. Ngay bây giờ. Tôi đã cố ngăn lại. Tôi đã yêu cầu chờ nhưng người đó không chịu. Tức là... đồng nghiệp của tôi đã cố ngăn người đó lại. Người đó chạy bổ lên trước khi tôi kịp gọi...”
“À.” Nhìn quanh phòng. Mọi quyết tâm trong tôi tan biến.
“Đồng nghiệp của tôi…” xì xồ bên cạnh “đồng nghiệp của tôi vừa chạy lên cầu thang đuổi theo người đó - đột ngột quá, tôi nghĩ là mình nên...”
“Người đó có nói tên không?” tôi hỏi, đi lại cửa sổ, nghĩ xem có thể dùng ghế đập vỡ cửa được không. Tầng không cao lắm, từ đây nhảy xuống chỉ độ ba mét rưỡi.
“Không, thưa quý khách.” Nói liến thoắng. “Chúng tôi không... người đó rất quả quyết... người đó bước ngay khỏi quầy trước khi... ”
Tiếng ồn ào trong hành lang. Có kẻ hét tiếng Hà Lan.
"... sáng nay thiếu nhân viên quá, chắc quý khách cũng thông cảm...”
Tiếng đập cửa dứt khoát - từng đợt bồn chồn, lỗ mãng, như luồng phụt ra không dứt từ trán Martin, khiến cà phê của tôi đổ up. Khỉ thật, tôi nghĩ khi nhìn bộ vét và sơ mi - hỏng bét rồi. Chẳng lẽ họ không đợi được sau bữa sáng ư? Nhưng mặt khác, tôi nghĩ khi lấy khăn thấm vào áo, đăm chiêu nhìn ra cửa: có thể là người của Martin. Có thể sẽ kết thúc chóng vánh hơn tôi tưởng.
Nhưng thay vào đó, khi tôi mở tung cửa - và không tin vào mắt mình - trước mặt là Boris. Nhàu nhĩ, mắt đỏ ké, bộ dạng tơi tả. Tuyết dính trên tóc, trên vai áo khoác. Tôi quá sửng sốt quên cả nhẹ người. “Hả,” tôi nói khi nó ôm lấy tôi, rồi nói với người nhân viên mặt mày quyết liệt ngoài hành lang đang sải bước tới gần: “Không, không sao đâu.”
“Anh thấy chưa? Sao tui phải đợi? Sao tui phải đợi?” nó giận dữ quát và vung tay về phía người nhân viên vừa đứng sững lại nhìn. “Tui chả bảo rồi còn gì? Tui đã bảo anh là tui biết phòng nó ở đâu! Làm sao tui biết, nếu nó không phải bạn tui?” Rồi quay sang tôi: “Tau chả hiểu sao phải nhặng xị lên như vậy. Ngớ ngẩn! Tau đứng đó cả thế kỷ mà chẳng thấy ai ra quầy. Chẳng thấy ai cả! Như sa mạc Sahara!”- (trừng mắt nhìn người nhân viên). “Đợi hoài đợi hủy. Bấm chuông liên tục! Rồi đúng vào giây tau nhấc chân lên - ‘khoan đã ông ơi’ giọng mè nheo kiểu trẻ con “ quay lại - và anh kia còn đuổi theo tau...”
“Cảm ơn anh,” tôi nói với người nhân viên, hay đúng hơn là với cái lưng anh ta, vì sau vài phút nhìn hết tôi lại Boris vừa ngạc nhiên vừa bực mình anh ta đã lẳng lặng quay người đi mất. “Cảm ơn anh lắm lắm. Tôi nói thật đấy,” tôi nói vọng qua hành lang với anh ta; thật tốt là họ chủ động ngăn những kẻ tự mình lao bổ lên phòng.
“Không có gì thưa quý khách.” Không buồn ngoảnh lại. “Giáng sinh vui vẻ.”
“Thế mi có định cho tau vào không?” Boris hối, khi cuối cùng cửa thang máy cũng đóng chỉ còn chúng tôi với nhau. “Hay là chúng mình sẽ đứng đây âu yếm nhìn nhau?” Nó hôi rình, như thể chưa tắm nhiều ngày nay, và trông vừa hơi khinh khỉnh vừa rất đỗi tự mãn.
“Tao… ” tim đập thinh thịch, tôi lại muốn bệnh rồi “một phút thì được.”
“Một phút?” Khinh bỉ nhìn khắp người. “Mi có việc đi đâu à?”
“Thực tế là có.”
“Potter... ” Vẻ hơi hài hước, bỏ túi xuống, đưa khớp khuỷu tay sờ trán tôi “trông mi tệ quá. Mi sốt rồi. Trông như vừa mới đào kênh Panama vậy.”
“Tao thấy rất ổn,” Tôi đáp cụt lủn.
“Trông mi không ổn. Mi trắng bệch như cá. Sao mi lại ăn mặc điệu đà thế này? Sao không nghe điện thoại? Cái gì thế kia?” Nó hỏi, nhìn qua người tôi ngắm cái bàn đồ án.
“Xin mời. Cứ tự nhiên.”
“À nếu mi không phiền, tau tự nhiên đây. Một tuần chết mẹ. Cả đêm qua mài đít trên xe. Đêm Giáng sinh vãi lều...” rùn vai để áo khoác tuột xuống sàn “dù thú thật, tau cũng đã qua nhiều lần tệ hơn nhiều. Ít ra thì trên đường cao tốc cũng không có xe. Bọn tau dừng ở một quán rất tởm trên đường, duy nhất còn mở, trạm xăng, xúc xích Frankfurter mù tạc, thường thì tau thích nhưng ôi trời, cái bụng tau.
Nó đã lấy ly từ tủ bar, đang rót sâm-panh cho mình.
“Còn mi thì ở đây.” Phẩy tay. “Đang hưởng lạc, tau thấy rồi. Xa hoa tráng lệ.” Nó đã rũ giày và đang lột tất ướt. “Chúa ơi, ngón chân tau đóng thành băng rồi. Đường ướt nhẹp - tuyết đang tan hết thành nước.” Kéo ghế lại. “Ngồi với tau. Ăn gì đó đi. Chọn quá đúng thời điểm.” Nó đã bỏ nắp nồi hâm, đang hít ngửi đĩa trứng dầu nấm. “Ngon quá! Vẫn còn nóng! Cái gì đây?” Nó hỏi khi tôi thò tay vào áo đưa nó đồng hồ và nhẫn của Gyuri. “À phải! Tau quên mất. Bỏ qua đi. Mi có thể tự đưa lại cũng được.”
“Không, mày đưa hộ tao.”
“À, chúng mình nên gọi ảnh. Tiệc này đủ cho cả năm người chứ lại. Có lẽ ta nên…” Nó giơ chai sâm-panh lên, nhìn mực rượu như đang quan sát một bảng số liệu tiền nong đau đầu - “có lẽ ta nên gọi thêm một chai, chai nguyên ấy, hoặc hai chai, gọi thêm cả cà phê hay là ít trà nữa? Tau... ” kéo ghế sát hơn “tau đói muốn chết rồi! Tau sẽ bảo ảnh…” nhấc một miếng cá hồi xông khói, đung đưa trước miệng rồi ngoạm trước khi thò tay vào túi lấy di động “bảo ảnh quẳng xe đâu đó rồi lên đây, đồng ý chứ?”
“Được thôi.” Có một cái gì đó trong tôi đã chết lịm khi thấy nó, gần như hồi bé với bố tôi, sau hàng tiếng ở nhà một mình, cơn mừng rỡ không chủ tâm khi có tiếng chìa xoay trong ổ rồi tâm trạng chùng xuống ngay lập tức khi thật sự nhìn thấy ông.
“Sao?” Liếm tay sồn sột. “Mi không muốn Gyuri lên à? Người chở tau cả đêm? Người chưa hề ngủ? Ít ra cũng cho ảnh miếng ăn,” Nó đã kịp chuyển qua món trứng. “Gặp bao nhiêu chuyện rồi.”
“Tap cũng gặp bao nhiêu chuyện rồi.”
“Mi đi đâu đấy?”
“Mày thích gì cứ gọi.” Lôi thẻ chìa khóa trong túi ra, đưa cho nó. “Tao sẽ để ngỏ tổng tiền. Cứ tính vào tiền phòng.”
“Potter...” Vứt khăn ăn xuống, chạy nhào theo tôi rồi dừng lại giữa chừng và - khiến tôi cực kỳ ngạc nhiên - cười phá lên. “Đi đi. Đi mà gặp bạn mới hay trò vui mới mà mi thấy quan trọng thế!”
“Tao đã gặp bao nhiêu chuyện rồi.”
“À…” kênh kiệu “tau không biết mi gặp chuyện gì, nhưng tau phải nói là tau đã gặp những chuyện năm nghìn lần hơn. Đây đúng là một tuần ra trò. Một tuần đáng viết thành sách. Trong lúc mi ườn xác hưởng thụ trong khách sạn, thì tau...” bước tới, tay đặt lên tay áo tôi “đợi chút.” Điện thoại vừa reo; nó hơi xoay mình đi, nói như gió bằng tiếng Ukraina trước khi ngưng lại và dập máy rất đột ngột khi thấy tôi đi ra cửa.
“Potter.” Tóm lấy vai tôi, nhìn xoáy vào đáy mắt tôi, rồi xoay người tôi quay một vòng, dùng một chân đá cửa đóng sầm sau lưng. “Cái đéo gì vậy? Mi cứ như là Đêm Xác Sống ấy. Cái phim chúng mình thích là gì nhỉ? Phim đen trắng ấy. Không phải Người Chết Biết Đi đâu, mà thơ thơ ấy?”
“I walked with a zombie[189]. Val Lewton.”
“Đúng thế. Chính nó. Ngồi xuống đi. Cỏ bên này mạnh lắm, kể cả nếu mi quen, đáng ra tau phải báo trước…”
“Tao chẳng hút tí nào.”
“…vì nói cho mi biết, hồi tau đến đây lần đầu, hai mươi tuổi gì đó, hồi đó ngày nào cũng hút, tau cứ nghĩ mình đủ sức cân tất và ... giời đất ạ. Lỗi tại tau thôi - tau cư xử như khắm với thằng ở quán. ‘Cho loại mạnh nhất vào.’ Thì nó cho! Ba cú là tau khỏi đi lại! Khỏi đứng luôn! Như là tau không nhớ cách nhấc chân ấy! Mắt mũi híp tịt, cơ bắp khỏi cử động. Cắt rời thực tế luôn!” Nó đã lái tôi ra chỗ giường, giờ thì đang ngồi cạnh tôi, choàng tay lên vai tôi. “Và, tau nói đấy, mi biết tau mà nhưng... chưa bao giờ! Tim đập thình thình, như là cứ chạy hoài hủy mà vẫn đứng yên một chỗ - không hiểu nổi tau đang ở đâu - đen xì kinh khủng! Có một mình và còn hơi mếu máo nữa, hiểu không, trong đầu nói với Chúa, ‘con đã làm gì’, ‘sao con phải chịu cảnh này. Còn chẳng nhớ ra khỏi đó thế nào nữa! Như một giấc mơ kinh tởm. Mà đây là cỏ nhé, nhớ đấy! Cỏ thôi! Ra ngoài phố, chân mềm như bún, túm lấy trụ khóa xe đạp gần Quảng trường Dam. Tau nghĩ xe cộ sắp trèo hết lên vỉa hè tông vào tau. Cuối cùng cũng tới được căn hộ của bạn gái tau trong khu Jordaan và nằm một thôi một hồi trong bồn tắm chẳng có tí nước nào. Thế nên...” Nó đang dán mắt ngờ vực vào vạt áo đầy cà phê của tôi.
“Tao không hút cỏ.”
“Tau biết rồi, mi nói rồi mà! Kể chuyện mi nghe chơi thôi. Dù có thể mi sẽ thấy tí thú vị. Chà... không có gì,” nó nói. “Sao cũng được.” Quãng im lặng tiếp theo tưởng như vô tận. “Tau quên nói... Tau quên nói...” nó đang rót nước khoáng cho tôi “sau cái lần kể với mi đó? Lang thang trên quảng trường đó? Tau bị rồ suốt ba ngày sau đó. Bạn gái tau bảo, ‘Đi ra ngoài thôi, Boris, anh không thể nằm đây phí phạm hết cả cuối tuần thế được.’ Nôn ọe giữa bảo tàng Van Gogh. Còn gì sang chảnh hơn.”
Nước lạnh rót xuống cổ họng rát buốt khiến toàn thân tôi nổi da gà, chìm xuống một ký ức thiếu niên đã ăn sâu vào cơ thể: ánh nắng sa mạc đau nhức, những buổi chiều tỉnh rượu đau nhức, răng đánh lập cập trong cái lạnh điều hòa nhiệt độ. Boris và tôi mềm nhũn người liên tục nôn mửa, và cười đùa vì nôn mửa, vì thế càng nôn dữ hơn. Nghẹn vì bánh quy ôi lấy trong hộp để ở phòng tôi.
“À…” Boris liếc xéo tôi “có lẽ đang lây lan gì đó. Nếu không phải đang Giáng sinh thì tau đã chạy xuống kiếm thứ gì cho bụng dạ mi. Đây, đây...” đổ thức ăn lên đĩa, đẩy sang phía tôi. Nó cầm chai sâm-panh trong xô đá, lại nhìn mức rượu, rồi đổ nốt phần còn lại vào cốc nước cam vơi nửa của tôi (vơi nửa sau khi chui vào bụng nó).
“Nào,” nó nói và giơ ly sâm-panh của nó cho tôi. “Chúc mi Giáng sinh vui vẻ! Chúc cả hai ta sống lâu! Đức Ki-tô đã ra đời, hãy ca tụng Người! Giờ thì...” nuốt ực, nó đã bỏ hết bánh mì ra khăn bàn, lấy đĩa sứ đựng bánh chất đầy đồ ăn cho bản thân “tau xin lỗi, tau biết mi muốn nghe tất tần tật mọi chuyện, nhưng tau đang đói nên phải ăn trước đã.”
Pa tê. Trứng cá. Bánh mì Giáng sinh. Kệ thây mọi chuyện, tôi cũng đói, và quyết định sẽ biết ơn khoảng dừng này cùng chỗ thức ăn trước mặt, bèn bắt đầu ăn, và trong một chốc cả hai chúng tôi đều không nói gì.
“Đỡ hơn chưa?” nó bảo, liếc nhìn tôi. “Mi mệt lử rồi.” Lấy thêm cá hồi cho mình. “Đang có dịch cúm nặng. Shirley cùng nhiễm.”
Tôi không nói gì. Chỉ mới bắt đầu điều chỉnh trước thực tế là nó đang ở cùng phòng với mình.
“Tau tưởng mi đi đâu với bé nào đó. À - còn Gyuri và tau thì thế này,” nó nói, khi thấy tôi không đáp. “Bọn tau đã đi Frankfurt. À - cái đó mi biết rồi. Thật là mấy ngày điên hết cỡ! Nhưng...” cạn hết chỗ sâm-panh, ra tủ lạnh ngổi xổm xuống ngó...
“Mày cầm hộ chiếu của tao không?”
“Có tau cầm hộ chiếu của mi. Uầy, trong này có ít vang thật ra trò! Và lại còn lũ Absolut[190] tí hon này nữa.”
“Nó đâu?”
“À...” Nhảy về bàn, cặp theo một chai vang đỏ và ba chai vodka trong tủ lạnh nhét vào xô. “Đây xin mời.” Móc trong túi ra, cẩu thả quẳng lên bàn. “Giờ thì...” ngồi xuống “chúng mình uống mừng hửm?”
Tôi ngồi trên mép giường không động cựa, đĩa đồ ăn dở vẫn bỏ trong lòng. Hộ chiếu của tôi.
Trong cảnh im lặng lâu lắc tiếp theo, Boris với qua bàn gõ ngón giữa vào cốc sâm-panh của tôi, tiếng thủy tinh đánh keng như thìa gõ vào cốc sứ sau bữa tối.
“Làm ơn lắng nghe tau một phút, được phỏng?” Nó giễu cợt hỏi.
“Hả?”
“Uống mừng?” Nghiêng ly về phía tôi.
Tôi chà tay lên trán. “Và mày làm gì, ở đây?”
“Hửm?”
“Đích xác là uống mừng cái gì?”
“Ngày Giáng sinh? Ơn lành của Chúa? Vậy có chấp nhận được không hửm?”
Cảnh im lặng giữa hai chúng tôi, dù không hẳn là thù địch, càng lúc càng có vẻ hầm hừ và sắp mất kiểm soát. Cuối cùng Boris cùng ngả người xuống ghế, hất hàm về phía cốc của tôi mà bảo, “Tau ghét phải nhai đi nhai lại, nhưng khi nào mi đã xong việc ngắm tau, thì liệu chúng mình có thể...?”
“Rồi tao sẽ phải nghĩ cho thông tất cả, một lúc nào đó.”
“Hửm?”
“Tao cho là tao sẽ phải tính cho ra nhẽ tất cả những vụ này trong đầu khi nào đó. Đấy sẽ là một công việc hẳn hoi. Như là, thứ này đi ra dây... thứ kia ra kia... Hai đống khác nhau. Ba đống khác nhau, có lẽ vậy.”
“Potter, Potter, Potter... ” âu yếm, hơi nhạo báng, chồm tới trước “mi đúng là đồ đầu đất. Mi chẳng hề có cảm nhận về cái đẹp hay lòng biết ơn gì cả.”
“‘Chẳng hề có lòng biết ơn.’ Tao nghĩ là tao uống mừng cái đó được.”
“Sao? Mi không hề nhớ kỳ Giáng sinh hạnh phúc của chúng mình hồi ấy à? Những ngày tốt đẹp đã đi qua? Không bao giờ trở lại? Ông già mi... - vung tay hào sảng - “bên bàn ăn nhà hàng? Bữa tiệc tưng bừng vui vẻ? Cuộc ăn mừng hoành tráng của chúng mình? Mi không trân quý kỷ niệm ấy trong tim ư?”
“Ôi trời đất ơi.”
“Potter...” nín thở “mi quả là một kỳ quan. Mi còn tệ hơn đàn bà nữa. ‘Mau lên, cho xong.’ ‘Đứng dậy, đi đi.’ Mi không đọc tin nhắn của tau à?”
“Sao?”
Boris - đang với tay cầm cốc - thình lình dừng lại. Nó liếc nhanh xuống sàn và, đột nhiên, tôi cực kỳ chú ý tới cái túi bỏ cạnh ghế nó.
Thú vị, Boris ấn ngón cái vào giữa hai răng cửa trước. “Làm tới đi.”
Những chữ đó lơ lửng trên bữa sáng đá tan hoang. Hình phản chiếu méo mó trên cái chụp đậy cái đĩa bạc.
Tôi cầm túi lên đứng dậy, và nụ cười trên mặt nó héo đi khi tôi đi ra cửa.
“Đợi đã!” nó kêu lên.
“Đợi gì?”
“Mi không định mở ra à?”
“Nghe này... ” Tôi biết mình quá rõ, không dám tin mình để mà đợi; tôi sẽ không để việc ấy xảy ra lần nữa đâu…
“Mi làm gì thế? Mi đi đâu thế?”
“Tao mang xuống nhà. Nhờ người ta cất vào két.” Tôi còn không biết ở đây có két không, chỉ có điều không muốn để bức tranh gần mình - nó sẽ an toàn hơn khi ở trong tay người lạ, trong phòng để áo, hay đâu cũng được. Tôi cũng định gọi cảnh sát ngay khi Boris đi, nhưng không phải trước đó; chẳng tội gì phải kéo Boris vào vụ này.
“Mi còn không thèm mở ra! Mi còn không biết là cái gì!”
‘‘Ghi nhận.”
“Thế nghĩa là cái quái gì hửm?”
“Có thể tao không cần biết là cái gì.”
“Không à? Có thể là có đấy. Không phải cái mi nghĩ đâu,” nó nói thêm, có phần tự đắc.
“Không ư ?”
“Không.”
“Làm sao mày biết tao nghĩ gì?”
“Tất nhiên tau biết mi nghĩ là thứ gì! Và - mi đoán nhầm rồi. Xin lỗi, Nhưng...” giơ hai tay lên “là một thứ còn tốt hơn, hơn rất nhiều.”
“Tốt hơn?”
“Ừ. ”
“Làm sao có thể tốt hơn được?”
“Thế mà có. Tốt hơn nhiều nhiều. Mi phải tin tau thôi. Mở ra mà xem,” nó nói và hất hàm nhanh.
“Cái gì thế này?” Tôi hỏi sau chừng ba mươi giây ngơ ngác. Nhấc ra từng cục từng cục một - những tờ trăm đô.
“Không phải tất cả đâu.” Đưa cả lòng bàn tay xoa gáy, “Một mẩu thôi. ”
Tôi nhìn cái túi, rồi lại nhìn nó. “Một mẩu gì?”
“À…” cười khẩy “nghĩ là tiền mặt thì có vẻ ấn tượng hơn, hửm?”
Những tiếng pha trò nghèn nghẹt từ phòng bên vọng sang, nhịp điệu nổi rõ của tràng cười ghi âm sẵn trên tivi.
“Cho mi bất ngờ thú vị hơn! Đây vẫn chưa phải tất cả, nhớ nhé. Tiền Mỹ, tau nghĩ là tiện hơn khi mi xách về. Nguyên số mi mang tới, còn thêm một ít. Thực ra là họ còn chưa trả, tiền vẫn chưa tới. Nhưng sắp rồi - tau hy vọng.”
“Họ? Ai còn chưa trả? Trả cái gì?”
“Tiền này của tau. Riêng của cá nhân tau. Từ két nhà tau. Rẽ qua Antwerp lấy. Thế này hay hơn - mi mở ra thích hơn, hửm? Sáng Giáng sinh? Quà ông già Noel? Nhưng mi sẽ còn nhận được nhiều nữa.”
Tôi lật xấp tiền trên tay nhìn kỹ: cả trước lẫn sau. Còn nguyên đai, mới từ Citibank ra.
“‘Cảm ơn mày nhiều, Boris.’ ‘Ờ, có gì đâu’,” nó đáp lời, mỉa mai, bằng cái giọng bình thường cùa nó. “‘Rất vui được giúp mi.’”
Từng xập tiền. Ngoài dự kiến. Mới cứng trong tay. Chuyện này có một hàm nghĩa hay cảm xúc rõ rành nào đấy mà tôi không tài nào nắm được.
“Tau nói rồi đấy - một mẩu thôi. Hai triệu ơ. Tính bằng đô còn nhiều nữa. Vậy đó - Giáng sinh vui vẻ! Quà tặng mi đấy! Tau có thể mở tài khoản cho mi ở Thụy Sĩ gửi hết phần còn lại và lập sổ séc cho mi, như thế... sao?” Nó hỏi, gần như chùn lại, khi tôi bỏ mấy xấp tiền vào túi, đóng nắp rồi đẩy về phía nó “Không! Của mi mà!”
“Tao không muốn.”
“Tau nghĩ là mi không hiểu! Để tau giải thích đã.”
“Tao đã nói là không muốn mà.”
“Potter...” Khoanh tay lạnh lùng nhìn tôi, ánh mắt từng nhìn tôi trong quán bar Ba Lan - “nếu tau là người khác thi đã cười hô hố đi khỏi đây không bao giờ quay lại.”
“Vậy sao mày không đi đi?”
“Tau…” Nhìn quanh phòng, như hoang mang không hiểu vì sao “tau sẽ nói cho mi biết vì sao! Vì tình nghĩa ngày xưa. Dù mi đối xử với tau như một thằng tội phạm. Và vì tau muốn đền bù lại cho mi…”
“Đền cái gì?”
“Hừm?”
“Chính xác thì là gì? Mày có giải thích cho tao được không? Tiền này từ chỗ quái nào mà đến? Việc này thì sửa chữa được cái đéo gì?”
“À, thực lòng, mi không nên quá vội nhảy tới...”
“Tao cóc cần đến tiền!” Tôi đã gần như hét lên. “Tao cần bức tranh! Bức tranh đâu rồi?”
“Chỉ cần mi đợi một giây và đừng có nổi...”
“Tiền nầy để làm gì? Nó từ đâu ra? Chính xác là từ nguồn nào? Bill Gates à? Hay ông già Noel? Hay cô tiên răng?”
“Bình tĩnh. Mi thật dễ làm toáng y như ông già mi.”
“Nó đâu rồi? Mày đã làm gì nó rồi? Nó mất rồi phải không? Mày đổi? Mày bán?”
“Không, tất nhiên tau... này...” đẩy lại ghế vội vàng “Chúa ơi, Potter, dịu lại. Tất nhiên là tau không bán rồi. Tau làm thế làm gì?”
“Tao không biết! Làm sao tao biết được? Mọi chuyện này là để làm gì? Tất cả có ích lợi gì? Tại sao tao lại đến đây với mày chứ? Sao mày phải lôi tao vào chuyện này? Mày nghĩ là mày mang tao đến đây để giúp mày giết con người ta à? Phải thế không?”
“Tau chưa bao giờ giết ai trong đời mình,” Boris kiêu ngạo nói.
“Ôi Chúa ơi. Mày nói thế đấy ư? Tao có phải cười không? Có phải đúng là tao vừa nghe mày nói rằng mày chưa bao giờ...” ‘
“Đấy là tự vệ thôi. Mi biết mà. Tau không kiếm chuyên làm hại người khác cho vui nhưng tau sẽ bảo vệ mình nếu cần. Còn mi,” nó nói, át tiếng tôi, “về Martin, ngoài chuyện tau sẽ không còn có mặt ở đây và hắn là mi cũng vậy…”
“Mày giúp tao việc này được không? Mày câm cái miệng mày lại được không? Hay là mày ra đằng kia đứng một phút đi? Vì thật sự là giờ tao không thể thấy mày hay nhìn vào cái mặt mày.”
“... về Martin thì, nếu cảnh sát biết, họ sẽ thưởng huân chương cho mi, cũng như hàng đống người vô tội khác giờ không còn sống nhờ có hắn. Martin là…”
“Hay là, đúng hơn, mày biến đi thì hơn. Thế là tốt nhất.”
“Martin là một con quỷ. Không hoàn toàn là người. Không hẳn là lỗi hắn. Hắn sinh ra đã như vậy. Không có cảm xúc, mi hiểu không ? Tau có biết Martin làm những chuyện tồi tệ hơn chuyện bắn người nhiều. Không phải chúng mình ” nó vội vã nói và xua xua tay, như thể đấy chính là nguồn cơn bắt đầu mọi hiểu lầm. “Chúng mình thì hắn sẽ bắn vì lòng tốt, chứ không làm mọi trò kinh tởm ma quỷ khác. Nhưng - Martin có phải là người tốt không? Có phải là con người bình thường không? Không. Không phải. Frits cũng chẳng phải thánh gì. Thế nên, cái ăn năn đau khổ của mi -mi phải nhìn nhận theo cách khác. Mi phải coi đấy là chiến tích vì lẽ phải cao quý hơn. Mi không thể lúc nào cũng nhìn đời tăm tối như thế, hiểu không, như thế rất không hay cho mi.”
“Tao hỏi mày một điều thôi được không ?”
“Hỏi đi.”
“Bức tranh ở đâu?”
“Này...” Boris thở dài, nhìn đi chỗ khác. “Tau làm được đến thế là tốt nhất rồi. Tau biết mi muốn có nó lắm. Tau chỉ không nghĩ mi sẽ bực tức đến thế này vì không có được nó thôi.”
“Mày nói thẳng ra cho tao nó ở đâu?”
“Potter..” tay đặt lên trái tim “tau xin lỗi là mi lại cáu bẳn như thế. Tau không nghĩ sẽ ra thế này. Nhưng mi nói là đằng nào mi cũng không định giữ nó mà. Mi định trả lại. Không phải mi nói thế à?” nó thêm khi thấy tôi cứ trân mắt nhìn nó.
“Làm quái nào đây lại là điều đúng được?”
“À, tau sẽ nói cho mi nghe! Nếu mi chịu im đi để cho tau nói! Chứ không lải nhải qua lại sùi cả bọt mép làm hỏng cả Giáng sinh của chúng mình như thế!”
“Mày nói cái khỉ gì thế?”
“Thằng ngốc.” Gõ gõ đốt ngón tay vào thái dương. “Mi nghĩ tiền này ở đâu ra?”
“Làm thế quái nào tao biết được?”
“Đây là tiền thưởng!”
“Tiền thưởng?”
“Ừ! Vì đã mang về an toàn!”
Mất một giây. Tôi đang đứng. Tôi phải ngồi xuống.
“Mi có cáu không?” Boris thận trọng hỏi.
Tiếng người trong hành lang. Anh nắng đông mờ xỉn chiếu vào cái chụp đèn đồng .
“Tau tưởng mi sẽ vui lòng. Không à?”
Nhưng tôi còn chưa hồi lại đủ để nói. Tôi chỉ có thể nhìn thẳng phía trước, nín lặng.
Nhìn vẻ mặt tôi, Boris lắc tóc trên mặt, phá lên cười. “Chính mi gợi ý cho tau đấy. Tau không nghĩ mi biết đấy là ý hay thế nào đâu! Thiên tài! Tau ước gì chính mình đã nghĩ ra. ‘Gọi bọn cảnh sát nghệ thuật đi, gọi cảnh sát đi.’ Ờ - đúng là điên! Tau đã nghĩ thế. Mi cũng hơi khùng khi đến chủ đề này, tau thật. Chỉ có điều... ” nó nhún vai “tiếp đó là những sự việc không may, mà mi biết quá rõ, và sau khi chúng mình chia tay nhau trên cầu tau nói chuyện với Anh Đào, làm gì đây, làm gì đây, vặn vẹo tay tí chút, rồi đánh hơi tí chút, và rồi. . .” giơ ly về phía tôi “à, thực tế là một ý kiến thiên tài! Sao tau lại nghi ngờ mi nhỉ? Tại sao? Mi mới là bộ não của vụ này từ đầu! Hồi tau ở Alaska - đi bộ năm dặm đến trạm xăng ăn cắp một thanh Nestlé - thì mi kia. Đầu não luôn! Sao tau lại có bao giờ nghi ngờ mi nhỉ? Vì - tau đã tra rồi, và …” giơ hai tay lên trời “mi nói đúng. Ai mà tưởng nổi? Hàng triệu đô dành cho cái tranh của mi ngay trước mắt, tiền thưởng! Thậm chí không cần tranh! Thông tin có thể dẫn đến việc lấy lại tranh! Không tra hỏi gì! Tiền mặt, sạch sẽ không vết tích…!”
Ngoài kia, tuyết đập lộp bộp vào cửa sổ. Phòng bên có người ho sặc sụa, hay cười sặc sụa, tôi không còn phân biệt được là cái nào.
“Trao qua đổi lại trao qua đổi lại, bằng ấy năm. Một trò chơi của bọn bét dĩ. Vừa bất tiện vừa nguy hiểm. Và, câu hỏi mà bây giờ tau đang tự hỏi mình, việc gì tau phải mất công vậy? Trong khi có cả đống tiền hợp pháp bày đó chờ nhận lấy? Vì -mi nói đúng -với họ hoàn toàn là việc làm ăn. Không có bất kỳ câu hỏi nào. Họ chỉ cấn biết một điều là lấy cái tranh lại.” Boris châm thuốc, bỏ diêm vào cốc nước đánh xèo. “Tau không được chứng kiến, tau ước giá mà được - nghĩ quanh quẩn gần đó không phải ý hay, nếu mi hiểu. Đội SWAT của Đức! Vét chống đạn rồi súng. Bỏ hết mọi thứ! Nằm xuống! Ầm ĩ náo động ra trò! A, giá mà tau được thấy vẻ mặt Sascha!”
“Mày gọi cho cảnh sát à?”
“À, không phải tự tau! Dima đệ tau - Dima tức điên bọn Đức vì đi bắn nhau tùm lum trong ga ra nhà nó. Hoàn toàn không cần thiết, mà lại nhức đầu nữa. Hiểu không...” nó khoanh chân không yên, thở ra một luồng khói bự “tau đoán được sơ sơ chúng nó để tranh ở đâu. Có một căn hộ ở Frankfurt. Xưa của bồ cũ Sascha. Chúng nó để cả đống thứ ở đấy. Nhưng chẳng có cách nào tau vào được, xách theo nửa tá thằng càng không. Chìa khóa, báo động, máy quay, mật mã. Vấn để duy nhất là…” ngáp, lấy mu bàn tay quẹt mồm - “à, hai vấn đề. Đầu tiên là cảnh sát cần lý do khả dĩ để khám nhà. Mi không thể chỉ gọi điện báo tên thằng trộm, công dân ẩn danh muốn giúp đỡ chính quyền nếu mi hiểu ý tau. Và hai là - tau không nhớ đích xác địa chỉ chỗ đó. Bí mật cực kỳ - tau mới chỉ đến đó một lần - vào khuya muộn mà tình trạng không được ngon lành lắm. Biết đại khái khu đó, hồi xưa toàn người chiếm nhà bất hợp pháp, giờ xịn rồi... bảo Gyuri đưa tau quanh các phố, loanh quanh loanh quanh loanh quanh. Mất đến cả nghìn năm. Cuối cùng...? Tau thu hẹp lại còn một dãy nhà nhưng không biết chính xác là nhà nào. Vậy là tau ra đi bộ. Sợ rủn người, đi trên phố ấy - sợ bị thấy - nhưng tau vẫn ra khỏi xe đi bộ. Bằng chính hai chân tau. Mắt nhắm hờ. Tự thôi miên mình tí chút, hiểu không, cố nhớ số bước chân? Cố cảm thấy bằng cơ thể mình? Dù sao thì tau đi trước mất rồi. Dima...” nó đang tấn công rất chuyên cần mấy khúc bánh mì trên khăn bàn “em vợ anh họ của Dima, em vợ cũ thì đúng hơn, lấy một tay Hà Lan, đẻ ra con trai tên là Anton - hai mốt thì phải, hoặc là hai hai, sạch bong kin kít, họ là van den Brink - Anton là công dân Hà Lan và lớn lên đã nói tiếng Hà Lan nên cái này cũng có lợi cho ta nữa nếu mi hiểu. Anton...” nhấm thử khúc bánh, nhăn mặt, phun ra hạt mạch đen giữa kẽ răng “Anton làm ở quán bar có nhiều khách giàu, trên Phố p. c. Hoofstraat, khu sang của Amsterdam - Phố Gucci, Phố Cartier. Trai ngoan. Biết tiếng Anh, Hà Lan, tiếng Nga có lẽ chỉ hai chữ. Dù sao thì Dima cũng nhờ Anton gọi cho cảnh sát báo rằng đã nhìn thấy hai người Đức, một có hình dong y chang như Sascha - kính gọng tròn, áo Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên, hình xăm da đỏ trên bàn tay và Anton có thể vẽ lại chính xác nhờ ảnh bọn tau đưa -vậy là Anton gọi cho đám cảnh sát nghệ thuật bảo rằng đã thấy hai gã Đức say bí tỉ trong quán cãi nhau, chúng nó tức giận bực bội đến nỗi để quên cả... cái gì? Một tập tài liệu! À, tất nhiên là một tập tài liệu làm giả. Bọn tau định dùng điện thoại, một cái điện thoại làm giả, nhưng không ai đủ trình để đảm bảo làm một cái không có vết. Nên - tau đã in vài cái ảnh - ảnh tau cho mi xem đó, cả vài cái khác tau tình cờ để trong máy... con sẻ vàng với mấy tờ báo khá gần đây để đánh dấu ngày tháng, mi hiểu không. Báo cũ hai năm rồi - nhưng chẳng sao. Anton tình cờ tìm thấy tập tài liệu đó, hiểu không, dưới ghế ngồi, còn có vài tài liệu khác từ vụ Miami, hiểu không, để nối với mấy vụ báo hoảng trước đấy. Địa chỉ Frankfurt được khéo léo đưa vào, tên Sascha nữa. Tất cả là ý tưởng của Myriam, cổ đáng được kể công, mi nên chiêu đãi Myriam ra trò khi nào về lại đó. Nhờ FedEx mấy thứ từ Mỹ qua - cực kỳ đáng tin. Có cả tên Sascha, có cả... ”
“Sascha đi tù à?”
“Chính vậy.” Boris cười khùng khục. “Chúng mình có tiền chuộc, bảo tàng có cái tranh, cảnh sát có đáp án, công ty bảo hiểm có lại tiền, công chúng được yên tâm, tóm lại ai cũng được lợi.”,
“Tiền chuộc?”
“Ờ thì tiền thưởng hay tiền chuộc, mi muốn gọi sao cũng được.”
“Ai trả khoản tiền này?”
“Tau không biết.” Boris huơ tay bực tức. “Bảo tàng, chính phủ, công dân giấu tên.' Có quan trọng không?”
“Quan trọng với tao.”
“À, không nên thế. Mi nên ngậm mồm và biết ơn thôi. Vì,” nó hếch cằm, nói át lời tôi, “biết sao không, Theo? Biết sao không? Đoán xem! Xem chúng mình may đến thế nào! Chúng nó không chỉ cất con chim của mi ở đấy, mà - ai mà đoán được? Còn cả đống tranh mất cắp nữa!”
“Hả?”
‘‘Phải tới hai tá, hơn nữa! Nhiều cái mất lâu lắm rồi! Và - không phải cái nào cũng đẹp hay đáng yêu như của mi, thực tế là phần lớn thì không. Đây là ý kiến chủ quan của tau thôi. Nhưng dù sao cũng có bốn năm cái treo thưởng lớn - lớn hơn của mi nữa. Và cả những cái không nổi tiếng lắm - vịt chết, người mặt phị không ai biết chán phèo - cả mấy bức ấy cũng treo thưởng nhỏ hơn - năm chục, trăm nghìn đâu đó. Ai tưởng tượng được? ‘Thông tin dẫn tới việc tìm lại được. Cộng lại cả đống. Và tau hy vọng,” nó nói, có phần khắc khổ, “mi có thể tha thứ cho tau vụ đó?”
“Gì?”
“Bởi vì, người ta đang bảo, ‘một trong những vụ án được phá lớn nhất lịch sử nghệ thuật’. Và đấy là phần tau hy vọng sẽ làm mi vui lòng - có thể không, ai biết được, nhưng tau hy vọng vậy. Những tuyệt phẩm viện bảo tàng, được trả lại cho sở hữu công chúng! Quyền trông coi di sản văn hóa! Vui thay! Mọi thiên thần đều ca hát! Nhưng điều ấy sẽ không bao giờ xảy ra nếu không nhờ có mi.”
Tôi ngồi, kinh ngạc đến đờ đẫn.
“Tất nhiên,” Boris nói và hất đầu về cái túi đang mở trên sàn, “đây chưa phải tất cả. Trong đó còn có quà đẹp cho Myriam và Anh Đào và Gyuri ngày Giáng sinh. Và tau cũng cắt cho Anton và Dima ba chục phần trăm từ đầu. Mỗi đứa mười lăm. Thực ra Anton là người làm tất, nên theo ý tau lẽ ra phải cho nó hai mươi còn Dima mười. Nhưng với Anton vậy đã là rất nhiều tiền nên nó vui lắm.”
“Họ còn tìm lại được nhiều tranh khác. Không chỉ của tao.”
“Ừ, mi không nghe tau nói à...?”
“Tranh nào?”
“À, nhiều bức rất nổi tiếng và được ca tụng! Mất tích nhiều năm rồi!”
“Ví dụ…?”
Boris khụt khịt tức tối. “Ôi. Tau không biết tên, mi biết là không nên hỏi tau mà. Có vài thứ hiện đại - rất đắt tiền và quan trọng, ai cũng hớn hở, dù nói thật, tau cũng chả hiểu vài cái trông đó có gì mà hoắng lên thế. Sao phải đắt đỏ thế, một thứ như bức vẽ mẫu giáo? ‘Cục màu xấu xí’. ‘Que đen gạch loạn xạ’. Nhưng mà cũng có cả nhiều cái có giá trị lịch sử. Một cái của Rembrandt.”
“Không phải cảnh biển chứ?”
“Không - nhiều người đứng trong phòng tối. Chán thấy mồ. Nhưng có van Gogh đẹp, vẽ bờ biển. Rồi thì... ờ, tau cũng không biết... mấy thứ quen thuộc, Maria, Jesus, nhiều thiên thần. Có cả tượng nữa. Và đồ châu Á nữa. Tau nhìn thì chả thấy giá trị mẹ gì nhưng chắc là nhiều lắm.” Boris xỉa điếu thuốc dữ tợn. “Nói đến đó nhớ ra. Nó chuồn mất rồi.”
“Ai?”
“Thằng bé Tàu của Sascha.” Nó đã đi ra tủ lạnh, quay lại mang theo mở nút chai và hai cái ly. “Nó không ở căn hộ lức cảnh sát đến, may cho nó. Và -nếu nó khôn, và nó thì rất khôn -thì nó sẽ không trở lại.” Bắt tréo ngón tay cầu may. “Nó sẽ tìm ra một lão nhà giàu khác để ăn bám. Đấy là nghề của nó. Cũng ra tiền nếu mi kiếm đúng chỗ. Dù sao thì... cắn môi trong khi lôi nút chai ra, bụp! “tau ước gì chính mình đã nghĩ ra trò đó, hàng năm trước! Đúng là một tờ séc bự! Lại rất đàng hoàng! Thay vì trò Đuổi Bóng như thế này, bao nhiêu năm. Trao qua đổi lại...” lúc lắc cái mở nút chai, tích, tắc “trao qua đổi lại. Nhức cả óc! Từng ấy thời gian, từng ấy đau đầu, mà lại cả đống tiền chính phủ dọn sẵn ngay trước mũi! Cho mi biết…” tiến lại gần, đổ ùng ục cho tôi một ly đỏ “về mặt nào đó, hẳn Horst cũng mừng không kém mi là tình hình ra như thế. Lão cũng khoái kiếm tiền như ai, nhưng lão cũng biết ăn năn, cũng nghĩ về lợi ích công, thừa kế văn hóa và mấy cái ba láp kiểu đó.”
“Tao chưa hiểu Horst có vai trò gi trong vụ nàỵ.”
“Tau cũng thế, và chúng mình sẽ không bao giờ hiểu,” Boris nói chắc nịch. “Tất cả đều rất cẩn thận và lịch thiệp. Và, phải phải…” sốt ruột và lén hớp một hơi “và phải, tau tức Horst, một tẹo, có thể tau không còn tin lão như ngày xưa nữa, có thể thực tế là tau chưa hề tin lão lắm. Nhưng - Horst bảo rằng lão sẽ không bao giờ cử Martin nếu biết là chúng mình. Và có thể là lão nói thật. ‘Không bao giờ, Boris ạ - không bao giờ tôi làm vậy.’ Ai biết được? Nói thực lòng - giữa hai ta với nhau - tau nghĩ có thể lão chỉ nói thế để giữ sĩ diện. Vì một khi tất cả đã tan nát, vì Martin và Frits ấy, lão còn làm gì được nữa? Ngoài chuyện lịch thiệp lùi ra xa? Bảo rằng không biết gì? Tau cũng không biết chắc chuyện đó, nhớ nhé,” nó nói. “Đây chỉ là giả thiết của tau thôi. Còn Horst thì kể chuyện khác.”
“Là…?”
“Horst bảo là..” Boris thở dài “là chính lão cũng không biết Sascha lấy cái tranh, mãi cho đến khi chúng mình chộp được nó và Sascha đùng một cái gọi đến nhờ Horst lấy lại. Hoàn toàn tình cờ là Martin lại ở đó, từ Los Angeles đến nghỉ lễ. Với bọn nghiện thì Amsterdam là chốn nghỉ Giáng sinh quen thuộc. Và ừ, đến đó...” nó dụi mắt “hừ, tau khá chắc là Horst nói thật. Cú điện thoại của Sascha đúng là bất ngờ. Quỳ rạp xuống chân Horst xin thứ tội. Không kịp nói chuyện. Phải hành động nhanh. Làm sao mà Horst biết là chúng mình? Sascha còn không ở Amsterdam - nó cũng nghe qua người khác, từ thằng nhỏ Tàu, mà tiếng Đức cũng không ra gì - Horst thì được nghe qua hai người. Tất cả đểu khớp nếu chọn góc nhìn thích hợp. Tuy thế...” nó nhún vai.
“Sao?”
“À, Horst không hề biết cái tranh ở Amsterdam, cũng không biết Sascha định đem nó đi mượn tiền, mãi cho đến khi Sascha phát hoảng gọi điện khi bị chúng mình hớt mất. Về chuyện đó? Tau khá tin. Nhưng: Horst và Sascha có toa rập với nhau làm cái tranh biến mất ngay từ đầu, đến Frankfurt, trong vụ Miami bị hỏng không? Có thể lắm, Horst thích cái tranh ấy lắm. Thích lắm. Tau đã kể với mi chưa - lão biết là tranh gì, ngay lần đầu nhìn thấy? Như là, mở miệng thốt ra được ấy? Tên người vẽ các kiểu?”
“Đấy là một trong những bức tranh nổi tiếng nhất thế giới.”
“À...” Boris nhún vai “tau đã nói đấy, lão rất có giáo dục. Lão lớn lên bên cạnh cái đẹp. Tuy thế, Horst cũng không biết tau đã chế ra tập tài liệu. Nếu biết lão sẽ không vui vậy đâu. Nhưng… nó cười lớn “việc đó có bao giở nảy ra trong đầu Horst không? Tau ngờ rằng không. Từ đầu đến cuối, tiền thưởng vẫn treo ở đó? Dễ dàng, hợp pháp! Tỏa sáng giữa trời, như mặt trời! Tau biết là tau thì chưa bao giờ nghĩ đến, mãi đến bây giờ. Niềm vui và hạnh phúc toàn cầu! Những tuyệt phẩm đã mất lại trở về! Anton là anh hùng lớn - đứng cho người ta chụp ảnh, lên phỏng vấn trên Sky News! Được cả phòng đứng lên vỗ tay trong họp báo tối qua! Ai cũng yêu nó - nhớ cái người đã đậu máy bay xuống sông mấy năm trước, cứu thoát tất cả mọi người, nhớ không? Nhưng theo tau, không phải Anton được người ta vỗ tay hoan hô - chính là mi đấy.”
Có quá nhiều điều muốn nói với Boris, đến nỗi tôi không nói được gì. Nhưng trong lòng tôi chỉ có cảm giác biết ơn cực kỳ trừu tượng. Có thể, tôi nghĩ - khi thò tay vào túi lấy ra một cục tiền ngắm thật kỹ - có thể vận may cũng giống như vận rủi, phải một thời gian mới ngấm vào. Ban đầu người ta không cảm thấy gì hết. Cảm giác phải chờ sau.
“Cũng hay đấy chứ, hử?” Boris hỏi, rõ ràng nhẹ người vì tôi đã tỉnh lại. “Mi vui chứ?”
“Boris, mày phải cầm nửa chỗ này đi.”
“Tin tau đi, tau đã lo xong ấm thân tau rồi. Giờ tau đã đủ sức khỏi phải làm những việc mình không thích trong một thời gian nữa. Ai biết được - có khi mở quán bar cũng nên ở Stockholm. Hoặc - có thể không. Vậy hơi nhàm. Nhưng còn mi - của mi hết đấy! Còn nữa cơ. Có nhớ hồi ông già mi cho chúng mình mỗi đứa năm trăm không? Tiền bay như lồng chim! Thật là hào hùng cao quý! Ờ, với tau hồi đó? Lúc nào cũng đói ngấu? Vừa buồn bã vừa cô độc? Chẳng có một xu? Đấy là cả gia tài nhiều hơn bất kỳ thứ gì tau từng thấy! Và mi...” mũi nó đã hồng lên, tôi nghĩ nó sắp hết hơi “Lúc nào cũng đàng hoàng tử tế, có gì cũng chia hết cho tau - và tau đã làm gì chứ?”
“Ôi thôi nào, Boris,” Tôi ấp úng nói.
“Tau đã ăn trộm của mi - thế cơ chứ!” Ánh lấp lánh của rượu trong mắt nó. “Lấy luôn món đồ quý nhất của mi. Và làm sao tau lại đối xử với mi tệ thế, trong khi tau chỉ mong điều tốt cho mi?”
“Thôi nào. Thật đấy, thôi đi,” Tôi nói khi thấy nó đang khóc.
“Tau còn nói gì được? Mi hỏi tại sao tau lấy đi? tau biết đáp lại thế nào? Chỉ có là, không bao giờ mọi việc giống như bề ngoài cả, tốt cả hay xấu cả. Nếu vậy thật thì đã dễ biết mấy. Ngay cả ông già mi… cho tau ăn, nói chuyện với tau, ở bên tau, cho tau vào nhà ổng, cho cả đồ mặc trên người ổng... mi ghét ông già mi như thế nhưng về nhiều mặt ổng là người tốt.”
“Tao thì không nói là tốt đâu.”
“Tau thì có.”
“À, mày sẽ là người duy nhất. Và mày đã lầm.”
“Này. Tau rộng lương hơn mi,” Boris nói; nó hoạt bát lên trước viễn cảnh được cãi cọ và hít mạnh cho hết sùi sụt. “Xandra - ông già mi, lúc nào mi cũng muốn nghĩ hai người đó thật xấu xa tệ hại. Và phải... ông già mi rất giỏi phá hoại… vô trách nhiệm… như một đứa trẻ. Ổng có tinh thần bự lắm. Khiến ổng đau đớn khủng khiếp! Nhưng ổng làm hại bản thân nhiều hơn bất kỳ ai khác. Và phải…” nó khoa trương nói, gạt đi sự phản đối của tôi “phải, ổng ăn cắp của mi, hay là tìm cách làm thế, tau biết, nhưng mi biết sao không? Tau cũng ăn cắp của mi và tau thoát. Đằng nào tệ hơn? Vì cho mi biết...” thúc mũi chân vào cái túi “thế giới lạ lùng hơn chúng ta biết hoặc nói được nhiều. Và tau biết mi nghĩ sao, hay là ưa nghĩ sao, nhưng có thể đây là một trường hợp mà mi không thể quy về hoặc là ‘tốt’ hoặc là ‘xấu hoàn toàn như lúc nào mi cũng muốn làm thế... ? Như là hai cái đống của mi ấy? Xấu về chỗ này, tốt ra chỗ kia? Có thể là không đơn giản đến thế. Vì trên đường đến đây, đi suốt đêm, đèn Giáng sinh trên đường cao tốc, tau không ngượng phải nói với mi, tau nghẹn ngào cả người vì tau đang nghĩ, không đừng được, về cái chuyện trong Kinh thánh ấy…? Mi nhớ không, người quản gia ăn trộm đồng xu của bà góa ấy, nhưng rồi người đó chạy trốn đến một nơi xa rồi đầu tư đồng xu rất khôn ngoan và mang về số tiền gấp nghìn lần cho bà góa? Và bà đã vui mừng tha thứ, và họ đã mổ thịt con bê béo ăn mừng?”
“Tao nghĩ có lẽ không phải đều là một câu chuyện đâu.”
“Ờ... trường đạo ở Ba Lan, đã lâu lắm rồi. Sao cũng được. Vì tau muốn nói là - tau đang nghĩ trên xe từ Antwerp lại là - việc tốt không phải lúc nào cũng đến sau việc tốt, mà việc xấu cũng không phải luôn theo sau việc xấu, phải không? Ngay cả người tốt bụng thông thái cũng không thể thấy hết hậu quả của mọi sự. Nghĩ mà ghê! Có nhớ công tước Myshkin trong Thằng ngốc không?”
“Tao thực sự không có đầu óc để chuyện trò triết lý bây giờ.”
“Tau biết, tau biết, nhưng nghe đây này. Mi đọc Thằng ngốc rồi, phải không? Phải. À, tau thấy đấy là một quyển sách rất khó khăn. Thực tế là khó khăn đến mức sau đấy tau hầu như không đọc truyện nữa, trừ mấy cái Hình Xăm Rồng gì đấy. Vì...” tôi đang tìm cách chen vào “ừ, có thể mi sẽ nói được cho tau mi nghĩ gì sau, nhưng cứ để tau nói nốt sao lại thấy khó khăn đã. Vì Myshkin cả đời chỉ làm điều tốt... không hề ích kỷ… anh ta đối xử với mọi người bằng thông cảm và quan tâm và cái tốt ấy dẫn đến những gì? Giết người! Chứng điên! Có hồi tau băn khoăn vì cái này kinh khủng. Nằm thức trắng cả đêm mà băn khoăn! Vì - tại sao chứ? Sao lại thế được chứ? Tau đọc cuốn đó cả ba lần, nghĩ là có thể tại tau hiểu sai. Myshkin tốt bụng, yêu mọi người, dịu dàng, lúc nào cũng tha thứ, không bao giờ làm gì sai - nhưng toàn đi tin những người không nên tin, quyết định đủ thứ sai lầm, làm hại tất cả mọi người xung quanh. Thông điệp thật quá đen, quyển sách ấy. ‘Tốt làm gì’. Nhưng, đây là thứ khiến tau chợt nghĩ đến tối qua, trên đường đi xe đến đây. Nếu như lại phức tạp hơn nữa thì sao? Nếu như điều ngược lại cũng có khi đúng? Vì nếu thỉnh thoảng cái xấu nảy ra từ hành động tốt...? Thì có ở đâu, bất kỳ đâu, lại nói rằng hành động xấu chỉ sinh ra cái xấu? Có thể đôi lúc - lối sai lại là lối đúng thì sao? Mi lên một đường sai và cuối cùng nó vẫn dẫn đến nơi mi muốn đến? Hoặc đổi theo cách khác, đôi khi mi làm tất cả các thứ đều sai lầm mà cuối cùng hóa ra kết quả vẫn là đúng?”
“Tao không chắc là mình hiểu ý mày.”
“À... tau phải nói là tự tau thì chưa bao giờ vạch đường thẳng băng giữa ‘tốt’ và ‘xấu’ như mi. Với tau thì đường ấy thường là giả. Hai thứ này không bao giờ tách rời nhau. Cái này không thể tồn tại mà không có cái kia. Miễn là tau cư xử bằng tình yêu, là tau cảm thấy đang làm theo cách tốt nhất mình biết. Nhưng còn mi - vùi đầu vào phán xét, lúc nào cũng tiếc nuối quá khứ, tự nguyền rủa mình, trách cứ mình, ‘giá như’ với chẳng ‘giá như’. ‘Đời ác lắm’. ‘Tao ước gì mình đã chết thay cho’. Hừ, nghĩ đi. Nếu như tất cả mọi hành động và lựa chọn của mi dù tốt hay xấu, chẳng khác gì nhau trước mắt Chúa thì sao? Nếu như mô hình đã định trước thì sao? Không không - khoan đã - đây là một câu hỏi đáng suy ngẫm đấy. Nếu như nết xấu và sai lầm của chúng ta lại chính là thứ định hình số phận và mang chúng ta đến cái tốt thì sao? Nếu như một số người trong chúng ta không thể đến đó bằng đường nào khác?”
“Đến đâu?”
“Mi phải hiểu là khi nói ‘Chúa’, tau chỉ coi ‘Chúa’ là thay cho những mô hình lâu dài mà chúng ta không giải mã được. Những hệ thời tiết khổng lồ chậm chạp tiến về phía ta từ xa, thổi lên ta ngẫu nhiên như là…” nó phẩy tay vào không khí hùng hồn như phẩy chiếc lá bay. “Nhưng, cũng có thể không ngẫu nhiên và vô danh đến thế, nếu mi hiểu ý tau.”
“Xin lỗi, nhưng tao đang không thực sự nhìn ra mục đích của mày ở đây.”
“Chẳng cần mục đích nào cả. Mục đích có thể quá lớn khiến ta không thể thấy hoặc tìm cách tự mình đi đến. Vì...” đôi lông mày cánh dơi nhướng cao “à, nếu mi không lấy tranh khỏi bào tàng, và Sascha không trộm lại, và tau không nghĩ đến chuyện đòi tiền thưởng. Ờ, không phải cả tá tranh kia vẫn sẽ còn mất tích sao? Có thể vĩnh viễn cũng nên? Bọc kín giấy nâu? Nhốt trong cái căn hộ ấy? Chẳng ai nhìn ngắm chúng? Cô đơn, tách rời thế giới? Có thể phải có một đứa mất đi để cho cả đám được tìm ra?”
“Tao nghĩ đây là ‘sự trớ trêu khó tả’ thì hợp lý hơn là ‘sắp đặt của trời’.”
“Ừ, nhưng sao phải đặt tên chứ? Cả hai là một không được sao?”
Chúng tôi nhìn nhau. Và tôi chợt nhận ra rằng bất chấp những khuyết điểm của nó, rất nhiều và mỗi cái đều hết chỗ nói, lý do tôi đã thích Boris và vui sướng khi ở bên nó gần như từ phút đầu tiên gặp mặt là nó không bao giờ biết sợ. Chẳng có mấy ai di chuyển tự do trong thế giới, mang theo niềm căm ghét mãnh liệt đến thế, mà lại đồng thời dành niềm tin kỳ quái không gì đánh đổ được đến thế đối với cái mà thuở thiếu thời, nó rất thích gọi là “Hành tinh Trái Đất”.
“Vậy là... ” Boris chiêu nốt chỗ vang, lại rót thêm cho mình một ít “kế hoạch to bự của mi là gì?”
“Về cái gì cơ?”
“Mới phút trước mi còn đùng đùng bỏ đi mà. Sao không ở lại đây thêm một chút?”
“Ở đây?”
“Không, tau không có ý nói là ở đây - ở Amsterdam này - tau cũng đồng ý với mi rằng hai chúng mình cuốn xéo khỏi đây là tốt nhất, còn với tau, tau cũng sẽ lượn cho xa một thời gian. Ý tau là, tại sao không nghỉ xả hơi một chốc, tham quan trước khi bay về? Tới Antwerp với tau. Thăm nhà tau! Gặp bạn bè tau! Tránh xa mấy rắc rối tình ái của mi ít lâu.”
“Không, tao đi về,”
“Bao giờ?”
“Hôm nay, nếu được.”
“Nhanh thế à? Đừng! Đến Antwerp đi! Có một nơi tuyệt diệu lắm, không như đèn đỏ đâu, hai cô, hai ngàn ơ, phải đặt trước hai ngày. Cái gì cũng hai. Gyuri có thể chở mình, tau ngồi trước, để cho mi duỗi người ngủ một chút ở băng sau. Mi thấy sao?”
“Thực ra, tao nghĩ tốt hơn là mày nên bỏ tao ở sân bay.”
“Thực ra, tau nghĩ tốt hơn là không. Nếu tau là thằng bán vé à? Tau sẽ không để mi lên máy bay nữa. Trông mi như là bị cúm gà hay SARS vậy.” Nó đang tháo dây đôi giày sũng nước, tìm cách nhét chân vào đó. “Ặc! Mi trả lời tau coi? Tại sao...” giơ đôi giày đã hỏng lên “nói coi tại sao tau mua mấy thứ da Ý lòe loẹt này trong khi chỉ sau một tuần đã hỏng bố nó rồi? Trong khi, đôi bốt sa mạc cũ của tau, nhớ không? Rất tiện khi cần chạy một mạch! Nhảy ra khỏi cửa sổ! Dùng hàng năm trời! Tau cóc cần biết nó đi với bộ vét nhìn rất tởm. Tau sẽ phải kiếm thêm mấy đôi như vậy nữa, rồi sẽ đi đến hết đời. Ờ,” nó nói, cau mi nhìn đồng hồ, “Gyuri đi đâu rồi nhỉ? Hẳn ảnh không gặp rắc rối kiếm chỗ đậu xe ngày Giáng sinh chứ?”
“Mày có gọi anh ta chưa?”
Boris vỗ lên đầu. “Chưa, tau quên mất. Cái kẹc! Hẳn là ảnh ăn sáng xong rồi. Hoặc đang ngồi trong xe chết cóng.” Cạn nốt chỗ vang, bỏ túi mấy chai vodka mini. “Mi đóng đồ chưa? Rồi à? Chuẩn quá. Đi thôi.” Tôi nhận ra nó đang gói bánh mì phô mai thừa vào cái khăn vải. “Xuống trả tiền đi. Mặc dù...” nó chê bai nhìn cái áo khoác ố bẩn vứt trên giường “mi thực tình nên vứt thứ đó đi.”
“Bằng cách nào?”
Nó hất hàm về phía dòng kênh đục ngầu ngoài cửa.
“Thật à ...?”
“Sao không ? Làm gì có luật nào cấm vứt áo xuống kênh, hử?”
“Tao nghĩ là có đấy, có.”
“Ờ, ai biết được. Vậy không phải luật áp dụng rộng lắm, theo ý tau. Mi mà thấy vài quả rõ tởm tau đã thấy trôi trên mặt kênh đợt thợ rác biểu tình. Du khách Mỹ say mèm nôn mửa, gì cũng có. Mặc dù...” ngó ra cửa “tau đồng ý mi, tốt hơn không nên làm giữa ban ngày. Ta có thể bỏ trong cốp xe về Antwerp rồi ném vào lò đốt rác. Mi sẽ khoái căn hộ của tau lắm.” Lấy điện thoại ; bấm số. “Tầng gác mái của nghệ sĩ, chỉ thiếu nghệ thuật ! Và chúng mình sẽ ra ngoài mua áo khoác mới cho mi khi nào cửa hàng mở lại.”
VI
TÔI BAY VỀ NHÀ bằng chuyến đêm sau đó hai đêm (Ngày Tặng quà 26 ở Antwerp không hề có tiệc tùng cũng không có các cô em, chỉ có xúp đóng hộp, mũi tiêm penicillin, với mấy bộ phim cũ trên xô pha nhà Boris), trở lại nhà Hobie thì đã quãng tám giờ sáng, hơi thở phả thành từng cụm mây trắng, tự mở cánh cửa trước treo cành linh sam vào nhà, đi qua sảnh có cây thông đã tắt đèn và quà đã được lấy đi gần hết, vào đến tận cuối nhà để gặp một Hobie mặt sưng húp, mắt ngái ngủ, mặc áo choàng tắm và dép lê, đang đứng trên thang bếp cất tô súp và bát rượu punch dùng cho bữa tiệc trưa Giáng sinh. “Cháu đây,” tôi nói, thả rơi vali, luýnh quýnh với Popchik đang lượn quanh chân tôi thành những vòng số tám lụ khụ nhưng vững chắc thay lời chào và mãi tận khi liếc nhìn ông đang xuống thang mới nhận ra nét mặt ông rất quyết liệt: lo âu, nhưng nụ cười vừa kiên quyết vừa chống chế gắn sẵn trên mặt.
“Bác thế nào ?” Tôi hỏi, đứng dậy rời khỏi con chó, bỏ cái áo choàng mới khỏi vai rồi vắt lên lưng ghế gần đó. “Có gì vui không ?”
“Không mấy.” Không nhìn tôi.
“Chúc bác Giáng sinh vui vẻ! Ờ… Hơi muộn. Giáng sinh của bác thế nào ạ?”
“Tốt. Cháu thì sao ?” Ông hỏi, cứng nhắc, sau vài giây.
“Thực tế là không quá tệ. Cháu đi Amsterdam,” tôi nói thêm, khi không thấy ông đáp lại.
“Ố thế à ? Chắc là thích lắm.” Lơ đễnh, không chú ý
“Tiệc trưa của bác thế nào ạ?” tôi hỏi sau một lúc im lặng thận trọng.
“À, vui. Có mưa đá nhẹ nhưng ngoài ra thì là một buổi tụ tập vui vẻ.” Ông đang tìm cách gấp cái thang lại và hơi lúng túng. “Mấy món quà cho cháu vẫn còn để dưới cây đằng kia, nếu cháu muốn mở.”
“Cảm ơn bác. Tối nay cháu sẽ mở. Cháu đang đơ quá. Cháu giúp bác được không ?” Tôi hỏi và bước tới
“Không, không. Không, cảm ơn.” Cảm giác không vui lồ lộ trong giọng ông. “Bác làm được.”
“Được thôi,” tôi nói và tự hỏi sao ông chưa nhắc đến món quà tôi tặng ông : một mẫu tập thêu của trẻ con, những chữ cái và con số cuốn tròn như dây nho, các loài vật nuôi cách điệu thêu đâm xô bên cạnh, Mẫu thêu của Marry Sturtevant 11 tuổi 1779 .Ông chưa mở ra ư? Tôi kiếm được nó trong một hộp đựng quần lót polyester loại to bự ở chợ đồ cũ, so với chợ đồ cũ thì không rẻ, bốn trăm đô, nhưng tôi đã thấy nhiều món tương tự bán ở các buổi đấu giá Di Sản Mỹ gấp mười giá đó. Im lặng, tôi nhìn ông loanh quanh trong bếp ở chế độ tự động - đi lượn vòng, mở cửa tủ lạnh, đóng lại mà không lấy gì ra, đổ đầy ấm pha trà, từ đầu đến cuối vẫn náu kỹ trong kén không chịu nhìn tôi.
“Hobie, có chuyện gì thế ?” Cuối cùng tôi hỏi.
“Không có gì.” Ông đang tìm thìa, nhưng mở nhầm ngăn kéo.
“Sao, bác không muốn cho cháu biết à?”
Ông quay nhìn tôi, mắt thoáng ánh do dự, rồi quay lại với cái lò và buột ra : “Cháu cho Pippa cái vòng cổ ấy thật là không phải.”
“Sao” tôi hỏi, giật mình. “Bạn ấy giận à?”
“Bác...” Nhìn xuống sàn, ông lắc đầu. “Bác không biết cháu đang gặp chuyện gì,” ông nói. “Bác không biết phải nghĩ gì nữa. Này, bác không muốn cấm đoán đâu,” ông nói khi thấy tôi ngồi bất động. “Thật tình đấy. Đúng ra là bác không muốn nói về chuyện ấy. Nhưng...” Ông có vẻ khó tìm lời lẽ. “Cháu không thấy làm thế là rất đáng phiền lòng và không phải à? Đem cho Pippa cái vòng ba mươi ngàn đô-la?
Vào đúng tối đính hôn của cháu? Thản nhiên bỏ vào ủng nó như thế ? Ngay trước cửa ?”
“Cháu không trả ba mươi ngàn đô cho cái đó.”
"Không, bác dám nói là cháu đã trả bảy mươi lăm nếu mua ở cửa hàng. Hơn nữa, còn một chuyện khác...” Thình lình ông kéo ghế ngồi xuống. “Ôi, bác không biết phải làm sao nữa,” ông nói rất đau khổ. “Bác không biết phải bắt đầu từ đâu nữa.”
“Sao vậy?”
“Hãy nói với bác là tất cả cái vụ làm ăn bên ngoài kia không có liên quan gì tới cháu.”
“Vụ làm ăn nào?” Tôi thận trọng hỏi.
“A.” Nhạc cổ điển buổi sáng từ đài bán dẫn trong bếp, bản xô nát dương cầm suy tư. “Hai ngày trước Giáng sinh, bác được tiếp ông bạn Lucius Reeve của cháu trong một chuỵến thăm độc nhất vô nhị.”
Cảm giác hẫng chân đến liền, vụt lẹ, sâu thẳm.
“Ông ta đưa ra một vài cáo buộc khá giật mình. Hơn cả và vượt xa những gì có thể trông đợi.” Hobie đưa ngón trỏ và ngón cái ấn chặt hai mắt, ngồi một lúc. “Hãy cứ bỏ qua vấn đề kia một lúc. Không, không,” ông nói, xua tay gạt tôi đi khi tìm cách nói. “Việc nào trước nói trước. Về các món hàng.”
Giữa chúng tôi, một quãng im lặng không chịu nổi nở phồng lên.
“Bác hiểu là bác đã không làm cho cháu dễ dàng muốn thổ lộ với bác hơn. Bác cũng hiểu là chính bác đã đẩy cháu vào tình thế này. Nhưng…” ông đảo mắt nhìn quanh “hai triệu đô-la ư, Theo!”
“Khoan, để cháu nói điều này đã.
“Đáng ra bác phải ghi chú lại, ông ta có bản sao, vận đơn, những món chúng ta chưa bao giờ bán và chưa bao giờ có để mà bán, những món ở cấp độ Di Sản Mỹ, không tồn tại, bác không tính nhẩm nổi hết nữa, đến một lúc bác dừng không đếm nữa. Hàng tá Bác không hình dung nổi phạm vi từng ấy. Và cháu nói dối bác về chuyện cắm. Đấy đâu có phải là điều ông ta muốn.”
“Hobie? Hobie, nghe này.” Ông đang nhìn tôi mà không hẳn thấy tôi. “Cháu xin lỗi đã để bác phải biết được bằng cách này cháu đang hy vọng dàn xếp ổn thỏa trước đã nhưng ... điều này đã có cách giải quyết rồi, được chưa? Giờ thì cháu có thể mua lại hết rồi, từng món một ”
Nhưng thay vì tỏ ra nhẹ người, ông lại chỉ lắc đâu! “Kinh khủng quá, Theo. Sao bác lại để chuyện này xảy, ra được ?
Nếu bản thân bớt lẩy bẩy, tôi đã nhận xét rằng ông chỉ có tội lỗi duy nhất là tin cậy tôi và tin cậy những lời tôi nói với ông, nhưng ông có vẻ rối trí thực lòng đến nỗi tôi không nỡ nào nói gì nữa.
“Làm sao lại đi đến bước này? Làm sao bác lại không hề biết? Ông ta có…” Hoble tránh mắt đi, lại lắc nhanh đầu không tin nổi “Chữ của cháu, Theo à. Chữ ký của cháu. Bàn Duncan Phyfe... Ghế ăn Sheraton... Xô pha Sheraton đi California... Chính tay bác làm ra cái xô pha ấy, Theo à, chính hai bàn tay bác đây, cháu đã nhìn thấy bác làm, nó chẳng Sheraton gì hơn cái túi đi chợ của Gristede đằng kia. Khung hoàn toàn mới. Cả tay vịn cũng mới. Chỉ có hai cái chân là đồ thật, cháu đã đứng kia nhìn bác khắc múi chân nó mà...”
“Cháu xin lỗi Hobie. Sở thuế hôm nào cũng gọi tới, cháu không biết phải làm gì...”
“Bác hiểu là cháu không biết,” ông nói, dù trong mắt ông hiện ra cậu hỏi ngay cả lúc nói câu này. “Dưới đó thật là một cơn khủng hoảng! Chỉ có điều...” ông ngả người trên ghế, đảo mắt nhìn trần nhà “sao cháu không dừng lại? Sao cháu cứ tiếp tục? Chúng ta đã tiêu tiền không phải của mình bấy lâu nay! Cháu đã đẩy chúng ta sụp hố gần sâu đến đáy trái đất rồi! Chuyện này đã diễn ra hàng năm nay! Kể cả nếu chúng ta có chuộc lại được hết, một việc ta không thể làm được như cháu thừa biết…”
“Hoble, đầu tiên là cháu có thể chuộc được và thứ nữa...” tôi cần cà phê, tôi chưa tỉnh hẳn, nhưng trên lò không còn chút nào và đây thực sự không phải lúc nên đứng dậy đi pha “thứ nữa, ừm, cháu không muốn nói là mọi sự đều ổn đâu, vì tình thực là, rõ ràng không ổn, cháu chỉ đang cố đưa chúng ta qua đận đó và giải quyết một vài món nợ thôi, cháu cũng không biết làm sao lại đi xa đến vậy nữa. Nhưng…không, không, bác nghe đã,” tôi khẩn thiết nói; tôi thấy rõ là ông đã lại trôi xa, mắt như nhòa đi, giống như mẹ tôi vẫn thựờng làm khi bị buộc ngồi yên chịu trận một bài nói dối rất rắc rối và tuyệt đối khó tin của bố tôi. “Cho dù hắn có nói gì với bác, và cháu không biết hắn nói gì, thì giờ cháu cũng đã có tiền rồi. Ổn rồi. Bác hiểu không?”
“Bác nghĩ là bác không dám hỏi tiền đó từ đâu ra nữa.” Rồi, buồn rầu, dựa mình vào ghế. “Cháu đi đâu về đấy? Nếu không ngại bác hỏi?”
Tôi khoanh chân rồi lại duỗi ra, chùi hai tay lên mặt. “Amsterdam.”
“Sao lại Amsterdam?” Rồi, khi thấy tôi lúng túng tìm câu trả lời: “Bác tưởng cháu không về nữa.”
“Hobie...” cháy phừng phừng vì hổ thẹn; lúc nào tôi cũng cố hết sức che giấu bản chất hai mặt của mình trước ông, chỉ chìa ra cho ông phiên bản đã được đánh bóng và cải tiến, không bao giờ là cái tôi xơ xác mà tôi đã tuyệt vọng giấu giếm: kẻ nói dối, kẻ hèn nhát, kẻ trí trá, kẻ lừa mị...
“Tại sao cháu quay lại?” Ông đang nói rất nhanh và sầu não, như thể chỉ muốn một điều là ẩy được những lời đó ra khỏi miệng; trong cơn kích động ông đứng dậy và bắt đầu đi loanh quanh, đôi dép bệt đập bem bép trên sàn nhà. “Bác cứ tưởng sẽ chẳng bao giờ gặp cháu nữa. Suốt đêm qua - mấy đêm qua - thức trắng nghĩ xem phải làm gì. Đắm tàu. Thảm họa. Báo nào cũng đưa tin về mấy bức tranh mất cắp ấy. Giáng sinh gì cơ chứ. Còn cháu - chẳng thấy đâu hết. Không trả lời điện thoại - không ai biết ở đâu...”
“Ôi Chúa ơi,” tôi nói, thực lòng khổ sở. “Cháu xin lỗi. Nhưng bác nghe cháu, nghe cháu này,” tôi nói - miệng ông mím lại, ông đang lắc đầu như đã kịp cách ly khỏi những gì tôi đang nói, có nghe cũng chẳng ích gì “nếu là bác lo vụ đồ bán.
“Đồ bán?” Hobie thư thái, độ lượng, ưa đấu dịu: giờ sùng sục như cái nồi hơi sắp nổ tung. “Ai nói gì đến đồ bán? Reeve nói cháu cuốn gói rồi, cao chạy xa bay rồi nhưng...” ông đứng chớp mắt lia lịa, cố gắng trấn tĩnh “bác không tin cháu lại làm thế, không tin, và bác đang sợ rằng có chuyện gì tệ hơn. Ôi, cháu biết bác muốn nói gì mà,” ông nói có phần tức giận khi cháu không đáp. “Bác phải nghĩ gì đây? Cháu sầm sầm bỏ đi khỏi buổi tiệc như thế... Pippa và bác, cháu không tưởng nổi đâu, bà chủ tiệc làm toáng lên một chút, ‘chú rể đâu rồi’, lùng sục, cháu đi đột ngột quá, bác và nó không được mời tới tiệc khuya nên đi về - và rồi - tưởng tượng xem cảm giác của bác ra sao khi về đến nhà thấy cửa không khóa, gần như mở tung, tủ tiền bới lộn... chưa nói đến cái vòng cổ, tin nhắn cháu để cho Pippa quá lạ lùng, nó cũng lo lắng chẳng kém gì bác.
“Bạn ấy lo à?”
“Tất nhiên lo chứ!” Vung tay lên. Ông gần như la thét. “Chứ bọn bác phải nghĩ gì? Và rồi đến cái chuyến thăm kinh khủng của Reeve. Bác thì đang dở tay làm vỏ bánh - đáng ra không nên đi ra cửa, bác tưởng là Moira - chín giờ sáng, đứng đó há hốc miệng người đầy bột nhìn ông ta - Theo, sao cháu lại làm thế?” ông tuyệt vọng hỏi.
Không biết ý ông nói chuyện gì - tôi đã làm quá nhiều chuyện-tôi chẳng còn cách nào ngoài lắc đầu nhìn chỗ khác.”
“Thật phi lý hết nước hết cái - làm sao bác có thể tin được? Thực tế là bác không tin. Vì bác hiểu,” ông nói, khi thấy tôi không trả lời, “nghe này, bác hiểu vụ bán đồ, cháu đã làm điều phải làm, và tin bác đi, bác rất biết ơn, nếu không có cháu thì giờ này bác đang làm thuê cho ai đó và sống trong một túp lều đầy chuột nào đấy. Nhưng...” dúi nắm tay vào túi áo choàng tắm “còn cái vụ điên rồ kia? Rõ ràng là bác không thể không tự hỏi cháu ở đâu trong tất cả những chuyện này. Nhất là khi cháu đã biến mất hầu như không để lại một lời, với cái cậu đó - mà, bác ghét phải nói câu này, rất dễ thương nhưng trông như thể đã nếm mùi tù đày rồi.”
“Hobie...”
"Ôi, Reeve. Đáng ra cháu phải nghe thấy ông ta nói.” Sức lực dường như đã rời bỏ ông; trông ông rũ ra, quỵ xuống. “Con rắn già. Và, bác muốn cháu biết rằng, riêng về vụ đó - ăn cắp tranh à? Bác đã bênh vực cháu, không băn khoăn gì cả. Dù cháu có làm những gì - thì bác tin chắc cháu cũng không làm cái đó. Và rồi? Chưa đầy ba hôm sau? Cái gì lên báo chứ? Chính là bức tranh nào? Cùng với bao nhiêu nữa? Có phải ông ta nói thật không?” ông hỏi, khi thấy tôi vẫn không trả lời. “Có phải là cháu không?”
“Phải. Ờ, ý cháu là, chính xác ra thì không.”
“Theo.”
“Để cháu giải thích.”
“Làm ơn giải thích đi,” ông nói và chịn bàn tày vào mắt.
“Bác ngồi xuống đã.”
“Bác. Tuyệt vọng, ông ngó quanh, như sợ sẽ mất hết quyết tâm nếu ngồi xuống bàn với tôi”.
“Không, bác ngồi đi. Chuyện dài lắm. Cháu sẽ cố rút càng ngắn càng tốt.”
VII
ÔNG KHÔNG NÓI MỘT LỜI. Thậm chí còn không trả lời điện thoại đang reo. Tôi đã mệt bã xương tủy, toàn thân đau nhức sau chuyến bay, và dù ỉm đi chuyện hai cái xác? Tôi vẫn cố gắng tường thuật phần còn lại cặn kẽ nhất có thể; những câu ngắn, tình hình thực tế, không tìm cách bào chữa hay giải thích. Khi tôi đã kể xong ông vẫn ngồi đấy - tôi run rẩy thấy ông nín lặng, không một âm thanh trong bếp trừ tiếng ấm ư không màu của cái tủ lạnh cũ, Nhưng rốt cuộc, ông cũng ngả người khoanh tay.
“Đôi khi tình hình xoay chuyển thật lạ lùng làm sao, phải không?” ông nói.
Tôi im lặng, không biết phải đáp gì.
“Bác chỉ muốn nói là… dụi mắt “bác chỉ hiểu ra khi đã già đi. Rằng thời gian kỳ dị đến mức nào. Nhiều bất ngờ và mánh khóe.”
Chữ mánh khóe là chữ duy nhất tôi nghe thấy, hay hiểu được.
Rồi đột ngột, ông đứng dậy - cao đến hai mét, dáng điệu có gì đó nghiêm khắc và ân hận, hay là tôi tưởng vậy, bóng ma tiên tổ của tay cớm bước chân đu đưa hoặc có thể là một tay bảo vệ sắp đá đít ta ra khỏi quán rượu.
“Cháu đi đây” tôi nói.
Ông chớp mắt lia. “Gì cơ?”
“Cháu sẽ viết séc cho bác đủ số tiền đó. Chỉ cần giữ đến khi cháu thông báo với bác có thể rút tiền, cháu chỉ xin bác có thế thôi. Cháu chưa bao giờ có ý muốn làm hại bác, cháu thề đấy.”
Ông gạt cả cánh tay xua đi những lời tôi nói, cử chỉ những ngày xưa. “Đừng, đừng. Đợi ở đây đã. Để bác cho cháu xem cái này.”
Ông đứng dậy, bước chân răng rắc đi vào phòng khách. Một hồi lâu. Và - khi quay lại - ông mang theo một cuốn album đã rời ra từng mảnh. Ông ngồi xuống. Giở qua mấy trang liền. Rồi đến một trang cần tìm, ông đẩy cuốn sổ qua bàn về phía tôi. “Đây,” ông nói.
Một tấm ảnh đã mờ. Một chú bé nhỏ xíu, mỏ nhọn, trông như chú chim ngồi mỉm cười bên cỗ đàn dương cầm trong căn phòng đầy cọ kiểu Belle Époque:[191] không phải kiểu Paris, không hẳn, mà kiểu Cairo. Một cặp đôn chậu cảnh, rất nhiều đồ đồng Pháp, rất nhiều bức tranh nhỏ. Một bức - những đóa hoa cắm trong cốc thủy tinh - tôi lờ mờ nhận ra của Manet. Nhưng - mắt tôi đã trượt lên, dừng lại ở phiên bản sinh đôi của một hình ảnh quen thuộc hơn nhiều, bên trên một hai bức khác.
Tất nhiên, đấy là một bản chép. Nhưng ngay cả trong bức ảnh chụp đã phai, nó vẫn tỏa sáng cái ánh sáng cô độc, hiện đại lạ thường đó.
“Bản chép của họa sĩ” Hobie nói. “Bức Manet cũng vậy. Cũng không đặc biệt lắm, nhưng...” đan tay vào nhau trên bàn “những bức tranh ấy là một phần rất lớn trong tuổi thơ ông, phần sung sướng nhất, trước khi ông ốm - con độc, được các gia nhân yêu chiều chăm bẵm hết mực - vả, quýt, hoa nhài trên ban cổng - ông biết cả tiếng Ả rập ngoài tiếng Pháp, cháu biết mà, phải không? Và...” Hobie khoanh tay thật chặt, đập đập ngón trỏ lên môi! “ông thường bảo với những bức tranh thực sự quý giá, có khi người ta hiểu được nó tận sâu bên trong, gần như sống trong nó, dù chỉ qua bản sao. Ngay cả Proust - có một đoạn văn nổi tiếng, Odette mở cửa khi đang bị cảm, hờn dỗi, tóc xõa lung tung, da chỗ trắng chỗ đỏ, và Swann, trước thời điểm ấy không hề để mắt đến cô ta, đã lập tức phải lòng vì trông cô ta y như một thiếu nữ của Botticelli trong một bức bích họa hơi bị hư hỏng. Mà Proust chỉ biết qua bản sao. Ông chưa bao giờ được ngắm bản gốc trong nhà nguyện Sistine cả. Nhưng dù có thế - cách nào đó cả cuốn tiểu thuyết là để nói về khoảnh khắc ấy. Và ngay cả chỗ hư hỏng cũng làm nên một phần sức hút, cặp má loang lổ trên bức tranh. Dù qua một bản sao Proust vẫn có thể mơ lại giấc mơ ấy, qua nó nhào nặn lại thực tế, và từ nó rút ra cái gì đó của riêng ông đưa vào thế giới. Vì - đường thẩm mỹ là đường thẩm mỹ. Có chạy qua máy photo một trăm lần cũng không có gì thay đổi.”
“Không có gì thay đổi”, tôi đáp, dù không nghĩ về bức tranh mà về những kẻ biến hình của Hobie. Những món đã được bàn tay ông truyền sức sống, đánh bóng tới khi chúng trông như đã được chính Thời gian phủ nước láng trinh tuyền vàng óng lên trên, những bản sao khiến người ta phải lòng Hepplewhite hay Sheraton, dù cả đời người ta chưa từng nhìn thấy hay nghĩ về món đồ Hepplewhite hay Sheraton nào cả.
“Ờ... bác chỉ là một gã sao chép già nói chuyện một mình mà thôi. Cháu biết Picasso nói gì đấy. “Nghệ sĩ tôi thì sao chép, nghệ sĩ giỏi thì ăn cắp”. Nhưng với những điều lớn lao thật sự, ở đầu dây luôn có một cú giật. Cháu có tóm lấy sợi dây ấy bao nhiêu lần cũng vậy, hay có bao nhiêu ngườiđã nắm vào trước cháu cũng thế. Vẫn là sợi dây ấy thôi. Đã thả xuống từ một sự sống cao hơn. Vẫn mang trong mình phân nào cú sốc xưa kia. Và những bản sao này...” cúi mình tới trước, tay nắm trên bàn “những bản sao của họa sĩ đã chứng kiến ông lớn lên đã trụi hết khi ngôi nhà ở Cairo bị cháy, và nói thật với cháu ông đã mất chúng từ trước rồi, hồi ông bị tật và người ta trả ông về nước Mỹ, nhưng - ờ, ông cũng là một người như chúng ta, ông trở nên gắn bó với các đồ vật, thấy chúng có tính cách và tâm hồn, và dù đa hầu như mất hết mọi điều khác trong cuộc đời ấy thì không bao giờ ông mất những bức tranh này, vì nguyên bản vẫn còn trên thế giới. Đã làm mấy chuyến du hành tới thăm chúng - thực tế là các bác từng đi tàu tới tận Baltimore xem bức Manet khi có đợt triển lãm ở đó, hàng năm trước cơ, tận hồi mẹ Pippa còn sống. Quả là một chuyến đi khó khăn với Welty. Nhưng ông biết mình không còn cơ hội trở lại bảo tàng Orsay nữa. Và cái hôm ông cùng Pippa tới xem triển lãm Hà Lan ấy? Cháu nghĩ xem ông chủ đích đưa nó tới xem cái gì?”
Điều thú vị nhất trong bức ảnh, là cậu bé yếu ớt đầu gối vặn vào nhau ấy - đang cười như thiên thần, trong veo trong bộ đồ thủy thủ -lại cũng chính là ông già đã siết chặt tay tôi trong phút qua đời: hai khung ảnh riêng rẽ, chồng lên nhau, mang cùng một linh hồn. Và bức tranh trên đầu ông là điểm cố định nơi mọi thứ đều treo vào: giấc mơ hay dấu hiệu, quá khứ hay tương lai, vận mệnh và số phận. Không có ý nghĩa nào đơn lẻ. Có trập trùng ý nghĩa. Đấy là một câu đố không ngừng vươn dài vươn rộng mãi ra.
Hobie hắng giọng. “Hỏi cháu một điều được không?”
“Vâng”
“Cháu giữ nó như thế nào?”
“Trong vỏ gối.
“Vải bông à?”
“Ừm… percale có phải vải bông không?”
“Không đệm lót gì à? Không có gì bảo vệ à?”
“Chỉ có giấy và băng dính thôi. Vâng,” tôi đáp, khi thấy mắt ông nhòa vì hoảng hốt.
“Lẽ ta cháu phải dùng giấy bóng kính và màng xốp hơi chứ!”
“Giờ thì cháu biết rồi.”
“Xin lỗi.” Nhăn mặt, áp tay lên thái dương. “Vẫn đang cố rạch ròi trong đầu. Cháu gửi bức tranh vào khoang hành lý và bay bằng Continental Airlines à?”
“Cháu nói rồi đấy. Cháu mới mười ba mà.”
“Sao không bảo bác có phải là xong không? Có thể mà,” ông nói khi tôi lắc đầu.
“À vâng,” tôi nói hơi vội quá, dù lúc này đang mải nhớ lại cảm giác cô độc và kinh hoàng thời gian đó: không ngừng khiếp đảm trước Sở Dịch vụ Xã hội; mùi xà phòng nồng nặc trong phòng ngủ không ổ khóa, cái lạnh lẽo ghê người trong sảnh lễ tân đá xám khi đứng chờ ông Bracegirdle, nỗi sợ sẽ bị đưa đi nơi khác.
“Nếu vậy hẳn bác đã nghĩ ra cách nào đó. Dù khi cháu hiện ra ở đây không nhà không cửa như vậy... ờ, hy vọng cháu không để bụng câu này nhưng ngay cả luật sư của cháu - ừ, cháu cũng biết mà, tình hình làm ông ta bối rối, chỉ sốt sắng muốn đẩy cháu đi ngay khỏi đây, còn về phía bác cũng vậy mấy người bạn rất lâu năm cũng bảo, ‘James, thế này thì thật quá sức với ông...’ à cháu cũng hiểu tại sao họ nghĩ thế,” ông vội nói thêm khi nhìn thấy vẻ mặt tôi.
“À vâng, tất nhiên.” Nhà Vogel, nhà Grossman, nhà Miideberger, lúc nào cũng tỏ ra lịch thiệp, nhưng lúc nào cũng bắn tín hiệu không lời (ít ra là trước mặt tôi) truyền đạt khá rõ tư tưởng Hobie-đã-đủ-nhiều-việc-lắm-rồi.
“Về mặt nào đó thì làm thế là điên. Bác biết nhìn vào có vẻ thế nào. Nhưng mặt khác, ờ, có vẻ đúng là một thông điệp rõ ràng, cái cách Welty cử cháu đến đây, và rồi cháu quay lại, rồi quay lại như một chú côn trùng nhỏ...” Ông nghĩ một lúc, trán hằn lên, vẫn cái vẻ lo âu thường trực nhưng tăng thêm mấy bậc - “bác sẽ kể cho cháu điều bác đang tìm cách nói nhưng hơi vụng, sau khi mẹ bác chết, bác cứ đi bộ liên hồi, suốt cái mùa hè kinh khủng đằng đẵng ấy, Có hồi đi bộ suốt từ Albany đến Troy. Đứng dưới mái bạt những cửa hàng đồ sắt trong mưa. Làm gì cũng được, miễn không phải trở về ngôi nhà không còn bà ở đó. Dật dờ khắp nơi như bóng ma. Bác ở trong thư viện đến khi bị đuổi ra rồi lên xe buýt Watervliet đi hoài rồi lại đi dạo thêm chút nữa.
Hồi ấy bác rất cao, mười hai tuổi nhưng to con như người lớn, người ta tưởng là dân lang thang, các bà nội trợ vung chổi xua bác khỏi cửa. Nhưng chính vì thế mà bác mới dạt vào nhà bà De Eeyster - bà mở cửa khi thấy bác ngồi trên hiên và bảo: Chắc là cháu khát lắm, cháu có muốn vào nhà không? Chân dung, tranh tiểu họa, ảnh in Daguerre[192] ; bà dì A, ông cậu B, C, Cái cầu thang xoắn dẫn xuống dưới; Và thế là bác đã lên được thuyền cứu sinh. Bác đã tìm thấy nó. Ở trong nhà ấy, nhiều khi phải véo mình bác mới không nhầm tưởng đây đang là năm 1909. Nhiều món Cổ Điển Mỹ đẹp nhất trên đời cho đến giờ bác chưa gặp được gì hơn, và trời ơi, cái cửa kính Tiffany ấy - đây là hồi mà Tiffany chưa có gì, đặc biệt, người ta chẳng ai biết đến, chưa được săn đón như bây giờ, hẳn trong thành phố đã được trả giá cao rồi nhưng ở các cửa hàng đồ cũ nửa bắc vẫn còn tìm được rẻ như cho. Chẳng mấy chốc bác đã chuyển sang lùng sục các cửa hàng đồ cũ ấy. Nhưng mấy món này - tất cả đã truyền lại trong gia đình bà. Mỗi món đều gắn với một câu chuyện. Và bà rất hoan hỉ chỉ cho bác cần đứng vào đúng chỗ nào, đúng giờ nào, để thấy được từng món trong góc độ hoàn hảo nhất. Vào lúc hoàng hôn, khi ánh mặt trời dạo một vòng tròn quanh phòng...” ống xòe các ngón tay ra, bụp, bụp “từng món một sẽ lần lượt cháy bừng như một dây pháo.”
Ngồi ở đầy tôi nhìn rõ con tàu Nô-ê của Hobie: voi, ngựa vằn, những con thú điêu khắc sóng đôi bên nhau, cho mãi đến tận những gà mái bên gà trống, thỏ và chuột tí xíu đoạn hậu. Và ký ức đặt ở đó, bên ngoài lời lẽ, một thông điệp mã hóa gửi từ buổi chiều đầu tiên ấy: mưa dầm dề chảy xuống giếng trời, các sinh vật khiêm nhường xếp hàng trên bệ bếp chờ được cứu. Nô-ê : nhà bảo tồn vĩ đại, nhà chăm sóc vĩ đại.
“Và…” ông đã đứng dậy đi pha cà phê “bác nghĩ rằng cũng khá tầm phào khi bỏ cả đời chăm lo quá mức cho đồ vật …”
“Ai bảo vậy ?”
“À…” rời khỏi lò “chúng ta đâu có mở bệnh viện cho trẻ con bị ốm ở đấy, cứ nói vậy đi. Có cao quý gì khi vá víu một lô bàn ghế cũ kỹ? Nó làm xói mòn tâm hồn, có lẽ. Bác đã vào quá nhiều nhà, không thể làm ngơ điều đó. Đấy là suy tôn thần tượng. Quá quan tâm đến đồ vật, người ta có thể bị hủy diệt. Chỉ có điều - nếu quan tâm tới một vật gì đến mức nào đó, thì nó sẽ mang lấy sự sống riêng, phải không ? Và chẳng phải ý nghĩa của sự vật - những vật đẹp - lá ở chỗ chúng kết nối ta với cái đẹp lớn hơn ? Những hình ảnh đầu tiên đã mở tung trái tim ta, khiến ta bỏ cả đời đuổi theo, hay tìm cách bắt lại, bằng cách nào đó ? Bởi vì, như bác nói - sửa chữa đồ cũ, bảo quản đồ cũ, chăm sóc đồ cũ - về một mặt nào đó thì không có lý do hợp lý nào cho việc đó cả.
“Chẳng hề có lý do hợp lý nào cho bất kỳ thứ gì cháu yêu mến.”
“Ờ, phải, bác cũng vậy,” ông khoan thai nói. “Nhưng…” nheo đôi mắt cận nhìn hũ cà phê, xúc bột cà phê vào bình “ờ, xin lỗi đã lan man, nhưng từ đây, từ vị trí bác đang nhìn, thấy có vẻ cũng khá kẹt, phải không nhỉ?”
“Cái gì?”
Ông bật cười. “Biết nói gì? Những bức tranh lớn - người ta đổ xô đến xem chúng, chúng lôi kéo đám đông, chúng được in lại hàng ngàn hàng vạn lần trên những ca cà phê hay bàn di chuột và cả tỉ thứ khác nữa. Và, bác cũng tính cả mình vào đây, cháu có thể bỏ cả đời đi ngắm bảo tàng cực kỳ thành thực, la cà tán thưởng mọi thứ rồi ra ngoài ăn trưa. Nhưng...” trở lại bàn ngồi xuống “nếu có bức tranh nào thực sự len vào trong tim cháu, thay đổi cách cháu nhìn, cháu nghĩ, cháu cảm nhận, thì cháu không nghĩ, ‘ồ mình yêu bức tranh này vì nó thật có tính phổ quát’. ‘Mình yêu bức tranh này vì nó chạm đến tâm hồn mọi con người’. Không có ai yêu một tác phẩm nghệ thuật nào vì lý do ấy cả. Mà đấy là tiếng thì thầm trong ngõ hẹp. Này, chú kia. Ê, nhóc, ừ, chính chú đó”. Đầu ngón tay lướt trên tấm ảnh đã phai - ngón tay của nhà bảo quản, chạm mà không chạm, một khoảng mảnh bằng chiếc bánh thánh giữa mặt tranh và ngón tay. “Một cảm giác nhói trong tim của riêng anh. Giấc mơ của cháu, của Welty, của Vermeer. Cháu thấy một bức tranh, bác thấy một bức khác, cuốn sách ảnh đẩy nó cách thêm một tầng nữa, bà khách mua tấm bưu thiếp ở cửa hàng lưu niệm lại thấy một thứ khác hẳn, đấy là chưa kể những người cách biệt ta trong thời gian - bốn trăm năm trước, bốn trăm năm về sau - mỗi người sẽ có một ấn tượng hoàn toàn khác, và phần đông mọi người sẽ không bao giờ lưu lại ấn tượng sâu đậm nào - nhưng một bức tranh thực sự vĩ đại sẽ đủ uyển chuyển mà len lỏi vào trái tim và trí óc từ rất nhiều góc độ khác nhau, bằng những cách độc nhất và cực kỳ đặc thù. Vì anh đấy. Tôi được vẽ ra là dành cho anh. Và - ờ bác cũng không biết nữa, hãy ngăn bác lại nếu bác nói nhảm nhí nhé...” quệt tay lên trán “nhưng chính Welty cũng thường nói về những đồ vật mang định mệnh. Mỗi nhà buôn và chuyên gia cổ vật đều nhận ra những vật ấy. Những món trở đi trở lại.
Có thể với ai đó, không phải nhà buôn ấy, đấy không phải là đồ vật. Đấy là một thành phố, một màu sắc, một thời khắc trong ngày. Là cái đinh nơi số phận cháu hẳn sẽ mắc vào, vướng lại.”
“Bác nói cứ như bố cháu.”
“À - thế thì hãy nói một cách khác vậy. Ai đã nói nhỉ, rằng trùng hợp chỉ là cách để Chúa ẩn mặt trước loài người?”
“Giờ thì bác nói y hệt bố cháu.”
“Ai dám bảo rằng không phải con bạc mới là người hiểu rõ hơn bất kỳ ai hết? Chẳng phải mọi thứ có giá trị trên đời đều là một canh bạc sao ? Chẳng lẽ điều tốt không thỉnh thoảng được đền bù lại qua một cánh cửa sau kỳ khôi nào khác ?”
VIII
VÀ, PHẢI. Tôi nghĩ là có thể. Hoặc, lại thêm một châm ngôn tréo ngoe khác của bố tôi: đôi khi phải thua để mà thắng.
Vì giờ đã qua gần một năm rồi và suốt thời gian ấy tôi cứ đi liên tục, mười một tháng chủ yếu trôi qua trong các sảnh sân bay và phòng khách sạn cùng những chỗ đưa chân khác, Tắt máy khi chạy trên đường băng cất cánh và hạ cánh, những khay nhựa và không khí bẩn trong khoang lọc qua cửa thông gió hình vây cá mập - và dù còn chưa đến ngày Tạ ơn nhưng đèn trang trí đã treo khắp nơi, những bản nhạc Giáng sinh êm tai kinh điển như Tannenbaum của Vince Guaraldi hay Greensleeves của Coltrane đã chơi trong quán Starbucks sân bay, và trong số vô vàn điều tôi đã có thời gian suy nghĩ (như là cái gì đáng vì nó mà sống? Cái gì đáng vì nó mà chết? Cái gì theo đuổi thì thật là ngu xuẩn?) tôi đã nghĩ rất nhiều về điều Hobie nói: về những hình ảnh đã đập vào trái tim khiến nó bừng nở như hoa, những hình ảnh mở ra cái đẹp lớn lao hơn rất nhiều khiến người ta dành cả đời tìm kiếm nhưng không thấy.
Và đấy là phước lành cho tôi, khoảng thời gian một mình trên đường ấy. Một năm là khoảng thời gian đủ cho tôi lặng lẽ một thân đi khắp, mua lại những món hàng dỏm vẫn còn lưu lạc : một công việc tế nhị mà tôi đã phát hiện tốt nhất là chường mặt ra mà thực hiện: mỗi tháng ba hay bốn chuyến, đi New Jersey. Oyster Bay, Providence, New Canaan, và xa hơn nữa -Miami, Houston, Dallas, Charlottesville, Atlanta, là nơi nhờ lời mời của bà khách hàng Mindy đáng yêu, vợ một đại gia phụ tùng xe hơi tên Earl, tôi đã ở ba ngày khá hòa nhã trong nhà khách một lâu đài đá san hô mới toanh bóng lộn, có cả phòng đánh bi a riêng, “phòng rượu cho các ông” (với chuyên gia pha chế xịn, nguyên quán ở Anh và nhập thẳng về từ Anh), trường bắn trong nhà với hệ thống bia dựng trên ray thiết kế riêng. Một vài khách hàng thuộc các công ty dot-com hay quỹ phòng hộ có nhà phụ ở những nơi chốn xa lạ, hay ít ra là xa lạ với tôi - Antigua, Mexico, quần đảo Bahamas, Monte Carlo, Juan-les-Píns và Sintra, vang và cocktail bản địa khá thú vị hơn vườn bậc thang cùng cọ và thừa và ô trắng xòe bên bể bơi như buồm. Giữa những nơi ấy, tôi ở trong trạng thái bardo[193], bay khắp nơi trong tiếng gầm màu xám, lên cao cùng những cửa sổ lấm tấm nước tới ánh nắng phân tầng, hạ thấp xuống với mây mù và mưa cùng những thang cuốn xuống mãi xuống mãi tới một biển khuôn mặt bát nháp bên băng chuyển hành lý, một dạng kiếp sau rờn rợn, không gian giữa, trái đất và phi trái đất, thế giới và phi thế giới, sàn đánh bóng lộn cùng những âm vang giáo đường trần kính và cái ánh nhòa nơi sảnh đến vô danh, một thứ nhân thân sản xuất hàng loạt mà tôi không muốn thuộc vào, thực tế không thuộc vào, chỉ có điều dường như tôi đã chết, Tôi cảm thấy rất khác, tôi đúng là rất khác, và có một thứ khoái thú tê đại kỳ lạ khi nhập vào rồi lại thoát ra khối tư duy tập thể, ngủ gà gật trên những ghế nhựa còng lưng hay lang thang giữa những quầy hàng miễn thuế sáng trưng và dĩ nhiên ai cũng cực kỳ dễ thương khi ta hạ cánh, những sân tennis trong nhà, những bãi biển tư nhân, rồi sau cuộc ngoạn cảnh bắt buộc, cái gì cũng tuyệt vời, chiêm ngắm những tranh Bonnard hay Vuillard, ăn nhẹ buổi trưa bên hồ bơi là đến cái séc khủng và cuốc taxi về lại khách sạn, túi đã nhẹ đi rất nhiều
Quả là một thay đổi lớn. Tôi không rõ phải giải thích bằng cách nào. Từ muốn qua không muốn, từ để tâm qua không để tâm.
Tất nhiên, còn có tất nhiều điều hơn thế. Sốc và hào quang, Thứ gì cũng mau hơn, sáng hơn và tôi thấy mình đang lấp ló bên rìa cái gì đó không cách nào diễn đạt. Những thông điệp ẩn hình trong tạp chí máy bay. Rào Chắn Năng Lượng. Chăm Sóc Không Thỏa Hiệp. Điện năng màu sắc, ánh lóa. Cái gì cũng là một tấm biển chỉ lối tới thứ gì khác. Và khi nằm trên giường trong cái phòng khách sạn lạnh ngắt màu bích quy đâu đó ở Nice, ban công trông xuống con đường duyên hải Promenade des Anglais, tôi nhìn bóng mây trên cửa trượt và ngạc nhiên khi thấy chính nỗi buồn trong lòng cũng đưa đến niềm vui, thầm kín sàn và đồ đạc Biedermeier rởm hay giọng phát thanh viên rù rì bằng tiếng Pháp trên Canal Plus không hiểu sao cũng có vẻ tất yếu và đúng chỗ đến thế.
Tôi cũng thà quên, nhưng quên không được. Đấy gần như là tiếng rì rầm của âm thoa. Nó mãi ở đó. Nó ở đây bên tôi, mọi lúc.
Tạp âm trắng, tiếng gầm gào phi nhân. Những ga lên máy bay hạ dần nóng sáng. Nhưng ngay cả những chốn cắt rời với con người, những chốn không cần có linh hồn ấy cũng thấm đẫm ý nghĩa, vạch ngang dọc hay gầm rống lên ý nghĩa. Sky Mall. Dàn âm thanh stereo xách tay. Những đảo Drambuie, Tanqueray phản chiếu như gương, những chai Chanel No.5. Tôi nhìn khuôn mặt vô hồn của những hành khách khác - đang nhấc cặp táp, balo, lục đục nối đuôi xuống máy bay - và nghĩ đến điều Hobie nói: cái đẹp biến đổi từng thớ vân hiện thực. Và tôi cũng luôn nghĩ đến châm ngôn có phần truyền thống hơn : rằng cuộc theo đuổi cái đẹp thuần túy là một cái bẫy, là đường dẫn đến thắng cay đắng và sầu khổ, và rằng cái đẹp luôn phải đan cài vào cùng cái gì có ý nghĩa hơn.
Nhưng đấy là cái gì? Vì sao tôi lại trở thành như tôi đây ? Vì sao tôi lại lưu luyến toàn những cái không nên, chứ không hề là những cái nên? Hay để diễn đạt theo cách khác: sao tôi lại thấy rõ rệt rằng mọi thứ mình yêu, mình thương mến, đều là ảnh ảo, thế mà - ít nhất với tôi - lại chứa đựng mọi điều đáng sống trong sức hút bùa mê ấy?
Một nỗi buồn lớn, một nỗi buồn mà nay tôi mới dần dà hiểu: chúng ta không được quyền lựa chọn trái tim mình. Không thể buộc mình muốn điều gì tốt cho mình, hay điều gì tốt cho người khác. Ta không được chọn ta là ai.
Bởi vì - chẳng phải điều đó vẫn được nhồi vào óc ta từ tấm bé, liên tục, không thắc mắc, một điệp khúc trong cả nền văn hóa đó sao… ?
Từ William Blake đến Lady Gaga, từ Rousseau đến Rumi đến vở Tosca đến ông Rogers trên truyền hình, cái thông điệp ấy thống nhất đến ngạc nhiên, được hết thảy từ cao tới thấp đồng tình ủng hộ: khi ngờ vực, phải làm gì? Cách nào biết đi đường nào là đúng? Mọi tay chữa thần kinh, mọi chuyên gia tư vấn việc làm, mọi nữ chính trong phim Disney đều biết câu thần chú: “Hãy là chính mình ” “Hãy đi theo trái tim của bạn.”
Chỉ có điều đây chính là điểm tôi hết lòng mong muốn có ai giải thích cho mình. Giá thử như tình cờ, người ta được trao cho một trái tim không hề đáng tin cậy…? Giả thử như trái tim, vì những cớ riêng không thước nào dò tính được, lại dắt dẫn người ta, kiên tâm, giữa một vầng mây lộng lẫy không lời tả xiết, ngày một rời xa khỏi sức khỏe, tổ ấm, trách nhiệm công dân, những ràng buộc xã hội thiết tha cùng mọi điều vẫn được mặc định coi là đức tính tốt, dẫn thẳng vào một lò lửa huy hoàng chứa toàn những hủy diệt, thiêu thân, đại họa? Nếu Kitsey nói đúng thì sao? Khi bản thể sâu thẳm nhất trong mình đang cất tiếng hát mỹ nhân ngư dẫn dụ ta thẳng vào đống lửa, phải chăng điều khôn ngoan hơn là quay gót? Bưng mắt bịt tai? Đặt bàn chân lên con đường sẽ dẫn ta, ngoan ngoãn trách nhiệm, trở về cái quy chuẩn, những giờ làm việc phải đạo, thói quen khám sức khỏe thường xuyên, những mối quan hệ bền chặt, sự nghiệp thăng tiến đều đặn, đọc New York Times trong bữa giữa buổi sáng chủ nhật, tất cả đều mang theo lời hứa bằng cách nào đó bạn sẽ thành người tốt hơn? Hay là tốt hơn - như Boris - hãy quặng mình trong tiếng rộ cười vào nỗi cuồng khấu thánh thần đang vẫy gọi ?
Đây không phải là vấn để thể hiện bên ngoài, mà là ý nghĩa bên trong? Cái huy hoàng nằm trong thế giới, nhưng không thuộc về thế giới, cái huy hoàng mà thế giới không hiểu được. Hình ảnh đầu lọt mắt về cái tha tính thuần túy, mà tắm trong hiện diện của nó, người ta bừng nở, nở xòe mãi ra.
Một bản thể mà ta không mong. Một trái tim không cách nào bỏ.
Dù việc hôn sự của tôi chưa bị hủy, ít ra là chưa chính thức, thì người ta cũng khiến tôi hiểu rằng y một cách uyển chuyển, theo cái lối nhẹ bỗng như không của nhà Barbour - không có ai ràng buộc tôi gì hết. Như vậy là rất hợp. Chẳng có gì đã nói ra, chẳng gì được nói ra. Khi tôi được mời qua ăn tối (như thường lệ, mỗi lần tôi ở thành phố), không khí rất dễ chịu và hoan hỉ, rôm rả là khác, thân tình và tế nhị dù hoàn toàn không đi vào cá nhân; tôi được đối xử như người nhà (gần như thế), muốn rẽ vào lúc nào cũng được; tôi đã tìm được cách dụ bà Barbour ra khỏi căn hộ một chút, và đã có vài buổi chiều vui vẻ dạo chơi với nhau, ăn trưa ở khách sạn Pierre cùng một hai buổi đấu giá; còn Toddy, không lỗ mãng tí nào, thậm chí còn tìm được cách bỏ nhỏ gần như vô tình tên một bác sĩ rất giỏi, không hề có ý kèm theo rằng biết đâu đấy, tôi lại có thể cần một thông tin như vậy.
Còn về Pippa: cuốn sách Oz thì cô cầm, nhưng bỏ lại chuỗi vòng cổ, cùng một lá thư tôi hăm hở mở ra đến nỗi đã xé toạc phong bì và lá thư thành hai mảnh. Đại ý thư, sau khi tôi đã quỳ xuống chắp hai nửa vào nhau, là thế này; cô rất vui được quen tôi, quãng thời gian vừa qua trong thành phố có ý nghĩa rất nhiều với cô, còn ai trên đời có thể chọn cho cô chiếc vòng tuyệt đẹp như thế nữa? Chuỗi vòng hoàn hảo, hơn cả hoàn hảo, chỉ có điều cô không thể nhận nó được, nó thật quá nhiều, cô rất xin lỗi, và - có lẽ cô đang nói không phải phép, và nếu vậy hy vọng được tôi tha thứ, nhưng tôi đừng nghĩ rằng cô không đáp lại tôi, vì cô có yêu, có. (Có ư? Tôi nghĩ, hoang mang vô kể.) Chỉ có điều phức tạp lắm, cô không chỉ vì cô mà cả vì tôi nữa, vì chúng tôi đã trải qua quá nhiều những chuyện giống nhau, cô lẫn tôi, và hai chúng tôi quá giống nhau, giống kinh khủng. Và vì cả hai chúng tôi đều chịu tổn thương quá nặng nề, ở tuổi quá trẻ như vậy, chịu đựng thứ bạo lực không gì cứu vãn nổi, mà hầu hết mọi người không hiểu và không thể hiểu, chẳng phải như vậy là hơi... mong manh quá sao? Là vấn đề tự bảo toàn ? Hai con người yếu đuối chực tìm cái chết mà lại cần nương tựa vào nhau đến vậy? Dù không phải là hiện tại cô không ổn, không, cô ổn lắm, nhưng cái đó có thể biến đổi trong nháy mắt với cả hai chúng tôi, không phải sao? Đảo lộn đầu, trượt nhào xuống dưới, và chẳng phải ấy là nỗi đe dọa ư? Bởi những điểm yếu và khuyết thiếu của chúng tôi như một cặp song trùng, khiến kẻ này có thể lôi tuột kẻ kia xuống trong nháy mắt? Và dù điều này chỉ ném ra lửng lơ trong không khí không nói đến, nhưng tôi cũng nhận ra tức khắc, và không khỏi ngạc nhiên trầm trổ, cái hàm ý của cô. (Tôi thật ngu mới không nhận ra sớm hơn, sau ,bao nhiêu thương tích, cái chân bị nghiến nát, những vụ phẫu thuật năm lần bảy lượt: âm sắc kéo dài rất đáng yêu trong giọng nói. Cái chân, kéo lê rất đáng yêu khi bước đi, cử chỉ ôm chặt tay, sắc mặt nhợt nhạt, những khăn áo tầng tầng lớp lớp, nụ cười chậm chạp ngái ngủ: chính cô, cô trong thời thơ ấu mơ màng, là cái trác việt và thảm họa, là que kẹo mút tẩm morphine tôi đã đuổi theo suốt bấy nhiêu năm.)
Nhưng như người đọc đến đây chắc chắn đã đoán chắc (nếu có bao giờ có ai đọc đến), ý tưởng bị Lôi Tuột Xuống chẳng khiến tôi kinh hoàng một mảy. Dù tôi cũng không hứng thú lôi người khác xuống cùng mình, nhưng - chẳng lẽtôi không thể thay đổi sao? Chẳng lẽ tôi không thể là kẻ mạnh mẽ hơn ư? Vì sao chứ?
Mi có thể có được cả hai cô mà mi muốn, Boris nói khi ngồi cạnh tôi trên xô pha ở căn hộ gác mái tại Antwerp, cắn răng rắc hạt dẻ cười giữa hai răng hàm trong lúc cùng xem Cô dâu báo thù.[194]
Tao không có được.
Nhưng vì sao lại không? Tau thì khoái Bông Tuyết hơn. Nhưng nếu mi thích cô kia thì sao lại không?
Vì cô ấy có bạn trai rồi?
Thì?
Và hắn lại sống chung với cô ?
Thì?
Thế là tôi cũng đang nghĩ: Thì?... Nếu tôi đến London, thì...?
Và đây hoặc là câu hỏi dẫn thẳng đến đại họa, hoặc là câu hỏi khôn ngoan nhất mà tôi từng đặt ra trên đời.
Kỳ cục là tôi đang viết tất cả những điều này với ý nghĩ rằng ngày nào đó Pippa sẽ đọc đến - dù tất nhiên là không. Sẽ không ai đọc được, vì những lý do hiển nhiên. Không phải tôi chép từ ký ức: quyển vở trắng mà ông thầy Ngữ văn cho tôi từng ấy năm về trước đã bắt đẩu cả một chu trình, làm khởi điểm cho một thói quen thất thường nhưng kéo dài suốt đời từ năm mười ba tuổi trở đi, trước hết dưới dạng một loạt thư trịnh trọng nhưng lại thân mật lạ thường gửi mẹ: những lá thư dài, ám ảnh, mê mụ vì nhớ nhà, giọng điệu như thể mẹ đang còn sống và đang âu lo chờ tin tôi đâu đó, những lá thư tả lại nơi tôi “đang ở” (không bao giờ là “đang sống ở”), cùng những người tôi “đang ở cùng”, những lá thư ghi chép tỉ mỉ đến sốt ruột tôi ăn gì, uống gì, mặc gì, xem gì trên tivi, đọc sách gì, chơi game gì, xem phim gì, những điều nhà Barbour nói hoặc làm hay những gì bố và Xandra nói hoặc làm - những bản tường thuật dài dòng ấy (đề ngày, ký tên, nét chữ rất cẩn thận, bất kỳ lúc nào cũng có thể xé ra khỏi sổ gửi đi) xen kẽ với những cơn uất ức cuộn trào Tôi Ghét Mọi Người và Tôi Ước Mình Chết Đi, hàng tháng trầy trật qua chỉ có một hai dòng ngoáy vội, nhà B, chưa đến trường ba ngày nay đã thứ Sáu rồi, đời mình bằng hai ku, mình đang trong tình trạng bán zombie, chời tối qua mới gọi là phủ phê chứ mình phải nói là ngất trắng, chúng mình chơi trò xúc xắc nói dối ăn ngũ cốc và kẹo cao su bạc hà làm bữa tối.
Ấy vậy mà sau khi về New York, tôi vẫn viết. “Cái chốn khỉ này làm sao mà lại lạnh hơn mình nhớ, còn cái đèn bàn con củ kẹc sao lại khiến mình buồn rầu thế này?” Tôi tả lại những bữa tiệc tối tức thở, chép lại những mẩu đối thoại và những giấc mơ; tôi ghi chú thật cẩn thận những điều Hobie dạy dỗ dưới cầu thang, trong xưởng.
gỗ dái ngựa tk 18 dễ khớp hơn dẻ - mắt bị lừa nhờ sắc thẫm hơn. Nếu làm nhân tạo - sẽ quá đều!
1. tủ sách bị mòn ở các ngăn dưới vì sờ và phủi bụi, nhưng trên cùng thì không
2. với các món có khóa, úm vết xước hay sứt mẻ dưới lỗ khóa, gỗ bị chùm chìa khóa đập vào khi chìa xoay
Len lỏi trong đó, cùng những ghi chép về kết quả đấu giá trong các cuộc bán Di Sản Mỹ (“Lô 77 Fed, giả mun 1 phần vòng 3 đá gg lồi $7500”) và những bảng biểu hắc ám ngày một nhiều mà không hiểu sao tôi nghĩ không ai tình cờ cầm lên lại giải mã nổi, nhưng thực tế là hoàn toàn trong suốt:
1-8/Th12: 320,5mg
9-15/Th12: 202,5mg
16-22/Th12: 171,5mg
23-30/th12: 420,5mg
... xuyên suốt bản ghi hằng ngày này và biến nó thành một cái gì vượt lên trên chính nó, là điều bí mật chỉ mình tôi thấy: nở hoa trong bóng tối, không bao giờ được nhắc tên.
Bởi: nếu các bí mật mới làm nên chúng ta, chứ không phải bộ mặt chúng ta phô ra cho thế giới: thì bức tranh chính là điều bí mật đã nâng tôi lên trên bề mặt cuộc đời, cho phép tôi biết mình là ai. Và nó ở trong đó: trong những cuốn sổ, từng trang một, đù không đâu có nó. Giấc mơ và ma thuật, ma thuật và mê sảng. Lý thuyết Trường thống nhất. Bí mật về bí mật.
[Thằng cu con ấy? Boris đã nói trên xe tới Antwerp. Mi biết là ông họa sĩ đã thấy nó chứ - ông ta không vẽ theo: trí nhớ, mi biết không? Quả là đã có thằng cu con đấy, xích vào tường, trước mặt ông ta. Nếu tau thấy thằng nhóc ấy bỏ lẫn chục thằng khác thuộc cùng loài đó, tau sẽ nhặt được nó ra dễ ợt]
Và nó nói đúng. Tôi cũng vậy. Và nếu có thể đi ngược thời gian, tôi sẽ cắt đứt sợi xích trong nháy mắt, cóc cần bức tranh sẽ không bao giờ được vẽ ra.
Chỉ có điều sự tình không chi đơn giản như thế. Ai biết vì sao Fabritius lại nảy ra ý nghĩ vẽ chú chim? Một tuyệt phẩm nhỏ xíu, độc lập, có một không hai trong loại đó? Ông trẻ và nổi tiếng. Ông có những nhà bảo trợ ghê gớm (dù không may thay, phần lớn tác phẩm vẽ cho họ lại không còn tới ngày nay). Có thể tưởng tượng ông như Rembrandt thời trẻ, tới tấp nhận những đơn đặt hàng hoành tráng, xưởng vẽ ngập ngụa những bảo vật và rìu chiến, ly vàng và lông thú, da báo và giáp trụ, toàn bộ những hùng mạnh và buồn bã thuộc về những vật trần gian. Vậy sao lại chọn đề tài này? Một chú chim nhà cô độc? Chẳng hề đại biểu cho tuổi hay thời đại của ông, khi phần lớn những con vật hiện lên trong tranh đều đã chết, thành những món chiến lợi phẩm lộng lẫy, thỏ què chân, cá, chim, chất cao như núi chuẩn bị lên đường ra bữa tiệc? Tại sao tôi lại mãi vương vấn vì bức tường trống trải - chẳng có thảm, chẳng tù và săn, không một chút cảnh trí sân khấu - và vì ông lại thật cẩn thận ghi tên mình cùng năm vẽ nổi bật như vậy, bởi ông làm sao biết được rằng (hay là có?) năm 1654, năm ông vẽ bức tranh này, cũng sẽ là năm ông mất? Có bóng dáng dự cảm trong việc đó, như thể ông đã linh cảm rằng bức tranh bé bỏng, kỳ bí này sẽ thuộc về số rất ít còn ở lại sau mình. Tính bất thường của nó ám ảnh tôi trên mọi cấp độ. Sao không chọn thứ gì điển hình hơn? Sao không phải phong cảnh hay cảnh biển, đề tài lịch sử hay chân dung đặt hàng của một đại nhân nào đấy, hay cảnh đời nghèo bợm nhậu trong quán xá, hay thậm chí một bó tulip cũng được đi, thay vì kẻ tù nhân bé bỏng cô đơn này? Đang bị xích vào giá đậu? Ai biết được Fabritius đang cố nói gì với chúng ta khi ông chọn đề tài bé bỏng này? Cách ông thể hiện đề tài bé bỏng này? Và nếu đúng như người ta vẫn nói - nếu mỗi bức tranh vĩ đại trong xương tủy đều là một bức chân dung tự họa - vậy thì Fabritius đang muốn nói gì về bản thân, mà có gì không? Một họa sĩ đã được chính những vĩ nhân thời đại mình coi là vĩ đại vượt xa bọn họ, lại chết trẻ như thế, từ xưa như thế, hầu như không để ta biết gì về thân thế mình? Còn về tư cách họa gia của mình: ông đã nói rất nhiều, Mỗi đường bút là một lời phát biểu. Cánh rắn rỏi, lông tơ những nét vạch nhanh. Tốc độ bút đi hiển hiện trên đó, độ vững chắc của bàn tay, những nhát sơn phết đặc. Thế nhưng cũng có những mảng gần như trong suốt được tô thật chăm chút bên những đường dày đậm, đến nỗi sự đối chọi ấy gần như là âu yếm, thậm chí pha trò; lớp sơn bên dưới lấp ló dưới những sợi bút lông; ông muốn chúng ta cảm nhận lông tơ mịn màng ở ức, độ mềm và cảm giác khi chạm tay, sự mong manh của bộ vuốt nhỏ đang cuộn tròn quanh giá đậu bằng đồng.
Nhưng còn bức trạnh nói gì về chính Fabritiiisi? Không nói gì về tình cảm tôn giáo, nam nữ hay gia đình; không có gì về nỗi sùng mộ của công dân, tham vọng thăng tiến hay cung kính trước tiền tài quyền lực. Chỉ có một nhịp tim bé bỏng, nỗi cô độc, mảng tường nắng sáng, cùng cảm giác không có lối thoát tại Thời gian không chuyển động, thời gian không thể gọi là thời gian. Và bị kẹt nơi trung tâm ánh sáng: tên tù nhỏ, không nao núng. Tôi nghĩ đến một điều từng đọc về Sargent: rằng khi vẽ chân dung, Sargent luôn đi tìm con thú trong người làm mẫu (sau khi biết và để ý tìm thói quen ấy, tôi nhận ra nó khắp nơi trong tác phẩm của ông: trong những cái mũi dài tai nhọn kiểu loài cáo của các tiểu thư, trong những nhà trí thức răng thỏ và kỹ nghệ gia sư tử, những trẻ con mập mạp mặt củ mèo).
Còn trong bức chân dung nhỏ kiên cường này, thật khó không nhận ra con người trong con sẻ. Đầy tự tôn, nhưng cũng yếu đuối. Một tù nhân nhìn một tù nhân.
Nhưng ai mà biết Fabritius đã dự định thế nào? Số tác phẩm còn lại của ông không đủ để dù chỉ đưa ra lời đoán. Con chim nhìn ta từ bức tranh. Nó không được nhân cách hóa hay lý tưởng hóa. Nó vẫn hoàn toàn là một con chim. Cảnh giác, cam chịu. Không có bài học hay câu chuyện nào cả. Không có giải pháp nào cả. Chỉ có một vực thẳm song trùng: giữa người vẽ và con chim bị cầm tù; giữa bản ghi ông để lại về con chim và trải nghiệm của chúng ta về nó, hàng thế kỷ sau.
Và phải - các nhà nghiên cứu cứ việc bận bịu với kỹ thuật đưa bút cách tân và sử dụng ánh sáng mới mẻ, tác động lịch sử và vị trí không gì thay thế được trong hội họa Hà Lan của nó. Nhưng tôi thì không. Như mẹ từng nói hàng bao nhiêu năm về trước, mẹ tôi, người đã yêu bức tranh chỉ vì nhìn thấy nó trong cuốn sách mượn từ thư viện hạt Comanche khi còn nhỏ: ý nghĩa không quan trọng. Ý nghĩa lịch sử chỉ giết chết nó. Vượt qua những khoảng cách không cầu bắc ấy - giữa con chim và người vẽ, bức tranh và người xem - tôi nghe thấy rất rõ điều được nói với tôi, tiếng ê này từ hẻm nhỏ như Hobie nói, vượt qua bốn trăm năm thời gian, tiếng gọi hết sức cá nhân, hết sức cụ thể. Nó nằm đó trong bầu không khí tắm ánh sáng, trong những nét bút ông cho phép ta nhìn thấy đúng bản chất, nếu ghé thật gần những vệt bột màu do tay bôi lên vải, đường di chuyển rành rành của bút lông - nhưng rồi, nếu cách ra xa, lại là điều kỳ diệu, hay trò đùa như Horst gọi, dù thực tình thì nó là cả hai, là đường trượt vượt ra ngoài chất liệu khi màu vẽ là màu vẽ, mà lại cũng là lông cánh và xương. Đấy là nơi hiện thực va vào lý tưởng, nơi trò đùa trở thành nghiêm túc, còn mọi điều nghiêm túc lại là một trò đùa. Là điểm ma thuật mà mỗi ý tưởng và ý tưởng đối nghịch với nó đều đồng thời là thực.
Và tôi cứ hy vọng ở đấy còn có chân lý lớn lao hơn về đau đớn, hay ít nhất là đau đớn theo cách hiểu của tôi - dù đến nay thì tôi đã nhận ra rằng đối với tôi, những chân lý nào còn có ý nghĩa đều là những chân lý mà tôi không hiểu, không thể hiểu được. Là những điều bí ẩn, mập mờ, không phương giải thích. Những điều không thể ghép vào câu chuyên nào, những điều tự nó không thuộc về một câu chuyện. Ánh vụt lóe lên trên sợi xích như không như có. Vạt nắng trên tường vàng. Nỗi cô đơn ngăn cách từng sinh vật sống với mọi sinh vật sống. Nỗi buồn quấn quýt trong niềm vui.
Bởi - giả thử như con sẻ đặc biệt này (và quả nó rất là đặc biệt) chưa hề bị bắt (hay sinh ra trong cảnh tù ngục), chưng ra trong ngôi nhà ai đó để chàng họa sĩ Fabritius, bắt gặp? Nó sẽ chẳng đời nào hiểu nổi sao mình lại bị buộc sống trong cảnh khổ ải trần gian ấy: xáo xác lên (tôi hình dung vậy) trước từng tiếng động, sợ hãi trước khói, trước tiếng chó sủa, trước mùi nấu nướng, chịu trận những trò quấy nghịch của đám trẻ và kẻ say, bị kìm chân không thể bay bằng sợi xích không thể ngắn hơn nữa. Nhưng đến cả người ngờ nghệch nhất cũng không thể hoài nghi phẩm cách của nó: một đốt ngón tay can đảm, một xíu lông xù và xương giòn tan. Không nhút nhát, thậm chí không hề tuyệt vọng, mà rất chững chạc, giữ lập trường. Nhất quyết không chịu rút lui khỏi thế giới.
Và càng lúc, tôi càng thấy mình mải nghĩ về điều ấy - không chịu rút lui. Vì, không cần biết người khác nói thế nào, nói thường xuyên hay lọt tai đến đâu: không một ai, không bao giở có thể thuyết phục tôi rằng cuộc sống là một món quà cực đỉnh, vô vàn khoái thú gì gì đấy. Bởi, chân lý thế này: cuộc sống là thảm họa. Nội việc tồn tại, việc đi lại và tìm cách nuôi thân và kiếm bạn bè và đủ thứ việc ta làm nữa - đã là thảm họa. Hãy bỏ qua mấy thứ nhảm nhí kiểu “Thị trấn của tôi”[195] mà ai nấy đều tuyên truyền đi: điều kỳ diệu khi bé thợ ra đời, niềm vui trong một bông hoa giản dị, Đời ơi Mi Tuyệt Diệu Ngoài Sức Tưởng, vân vân vi vi. Với tôi - và tôi sẽ còn đay đi đay lại đến ngày chết, đến khi cái thằng tôi vô ơn, hư vô chủ nghĩa này, ngã sấp mặt vì quá yếu không thốt lên lời: thà chưa hề sinh ra, còn hơn sinh vào cái hố cứt này. Vào cái hố sụt của toàn những giường bệnh viện, quan tài, trái tim vỡ nát. Không ân xá, không kháng cáo, không “khởi động lại” như một chữ ưa thích của Xandra, không có gì chờ phía trước ngoài tuổi già và mất mát, không lối thoát ra ngoại trừ cái chết. “Phòng tiếp nhân khiếu nại!” tôi còn nhớ Boris đã làu nhàu, hồi còn bé, một buổi chiều ở nhà nó khi chúng tôi vừa đả động sang cái chủ đề có phần nào siêu hình, là hai bà mẹ: tại sao họ - những thiên thần, những nữ thánh-lại phải chết? còn hai ông bố kinh dị thì lại sống khỏe, nhậu nhẹt, bê tha, bệ rạc ngày này qua tháng khác,, lảo đảo đi đến đâu gây vạ đến đó, với sức khỏe hình như không gì có thể mài mòn? “Họ lấy nhầm người! Trục trặc kỹ thuật ấy mà! Cái gì cũng bất công! Chúng tôi phải phàn nàn với ai, ở cái chốn cứt đái này? Ai là quản lý ở đây?”
Và - có lẽ cứ tiếp tục mạch này, là ngu xuẩn, dù cũng chẳng sao vì có bao giờ có ai đọc đến đâu, nhưng liệu có chút ý nghĩa nào chăng khi biết rằng kết cục vô hậu sẽ đến với tất cả chúng ta, ngay cả những người sung sướng nhất, và rằng chúng ta rốt cuộc sẽ đánh mất mọi điều quan trọng - trong khi đồng thời vận biết, bất chấp cái biết kia, bất chấp con xúc xắc đã lệch hẳn về một phía, rằng ta vẫn có thể tiến hành trò chơi trong một kiểu niềm vui?
Cố tìm cách chắt ra một ý nghĩa gì đó từ mọi chuyện này, việc đó mang một vẻ kỳ khôi khó tả. Có thể tôi chỉ nhìn ra mô hình vì đã nhìn quá lâu thôi. Nhưng cũng vẫn rất có thể, mượn lời Boris, tôi nhìn thấy một mô hình, vì mô hình ấy là có thật.
Và tôi viết ra những trang này, về một mặt, là để hiểu. Nhưng về một mặt khác, tôi không muốn hiểu, cũng không muốn tìm cách hiểu, vì muốn hiểu sẽ làm cho sự kiện đổi khác đi[196]. Điều duy nhất có thể khẳng định được, là tôi chưa bao giờ cảm thấy nỗi bí ẩn tương lai rõ như bây giờ: cảm giác về chiếc đồng hồ cát đang cạn dần, về thời gian đang cuống cuồng chạy trong cơn sốt. Những lực không biết đến, không được chọn, không mong muốn. Và tôi đã đi quá lâu, những khách sạn trước bình minh trong những thành phố lạ, dành quá nhiều thời gian trên đường đến nỗi cảm thấy độ rung của cánh máy bay tận trong xương cốt, trong thể xác, cảm giác di động liên miên qua những lục địa và múi giờ, còn tiếp diễn mãi sau khi tôi đã xuống máy bay, lảo đảo trước một bàn lễ tân khác nữa, Tên tôi là Emma/Selina/Charlie/Dominic, chào mừng anh đến với thành phố ABC! Lại nụ cười mệt mỏi, ký tên bằng bàn tay run rẩy, lại kéo màn đen ở một nơi khác, nằm trên một giường lạ khác giữa căn phòng lạ khác đang đung đưa quanh tôi, mày và bóng tối, cơn nôn nao gần như là phần hứng, cảm giác như đã chết và lên thiên đàng.
Bởi vì - mới đêm qua tôi mơ thấy lên đường và rắn rết, thứ rắn sọc vằn, có nọc độc, đầu hỉnh mũi tên, và dù chúng đã đến sát gần nhưng tôi không sợ, không sợ chút nào. Và trong đầu tôi là một câu đọc từ đâu đó: Quanh người, chúng tôi quên chết[197]. Đấy là những bài học đến với tôi trong các phòng khách sạn mờ tối, với những tủ lạnh con sáng quắc và giọng ngoại quốc ngoài hành lang, nơi ranh giới giữa các thế giới trở thành mờ nhạt.
Và, như một dự án kéo dài, sau Amsterdam, mà thực sự là Damascus[198] của tôi, trạm nghỉ chân và điểm cực viễn trong cuộc cải đạo của tôi như chắc ai đọc đến đây sẽ nhận xét, tôi vẫn không ngừng xúc động mãnh liệt vì tính vô thường của các khách sạn: không phải theo lối Lữ hành nghỉ mát tầm thường, mà với một niềm say sưa gần như siêu thoát. Vào một thời điểm nào đó tháng Mười, thực tế là ngay khoảng Lễ Vong Nhân; tôi nghĩ ở khách sạn ven biển Mexico nơi các hành lang căng phòng rèm no gió và mỗi phòng đều đặt tên một loại hoa. Phòng Đỗ Quyên; phòng Hoa Trà, phòng Trúc Đào. Xa xỉ và hào nhoáng, những sảnh mơn man gió dường như trải dài vào vĩnh cửu, mỗi phòng một màu cửa khác nhau. Mẫu Đơn, Tử Đằng, Hoa Hồng, Lạc Tiên. Và ai biết được - có thể đó chính là điều đang đợi ta cuối chặng đường, sự vương giả không hình dung nổi mãi cho đến cái khoảnh khắc ta nhận ra mình đang đi qua ngưỡng cửa, thấy mắt mình đang kinh ngạc ngước lên. Gì? khi rốt cuộc Thượng đế cũng, nhấc tay bịt mắt ta mà bảo: Nhìn đi!
[Mày có bao giờ tính chuyện bỏ không? tôi từng hỏi, khi đến phần rất chán trong Cuộc sống tươi đẹp[199], đoạn dạo chơi dưới trăng có Donna Reed, khi ở Antwerp xem Boris dùng thìa và nước trong lọ thuốc nhỏ mắt pha cho mình một “độ”, như nó nói.
Thôi đi mi! Tay tau đau như dần! Trước đó nó đã chìa cho tôi xem vết đạn sượt chảy máu - rìa đen đặc lại - cắt rất sâu vào bắp tay. Đợi đến lúc mi bị bắn giữa Giáng sinh xem có muốn ngồi nhai aspirin không!
Ừ, nhưng mày làm thế kia thì thật điên quá.
Ờ, tin hay không tùy mi, với tau chuyện nhỏ. Tau chỉ làm lúc đặc biệt thôi.
Câu này tao từng nghe rồi.
Ờ, mà đúng mà! Vẫn còn bắn, hiện tại đã. Tau biết, nhiều thằng bắn ba bốn năm vẫn chạy khỏe, miễn là hạn chế hai ba lần một tháng? Tuy vậỵ, Boris nói thêm, u ám, ánh đèn xanh từ tivi lóe trên thìa, tau nghiện rượu rồi, Vụ đó thì hỏng rồi. Tau sẽ say đến lúc chết. Nếu có gì giết được tau hất hàm về phía chai Russian Standard trên bàn trà - thì là thằng kia. Mi chưa bắn bao giờ hửm?
Nói thật với mày, chẳng cần thì tao cũng đủ rắc rối rồi.
Ờ, tên tuổi xấu, sợ hãi lớn, tau hiểu. Tau à, thú thật, tau thích hít là chính - câu lạc bộ, nhà hàng, đi đó đi đây, lẻn vào phòng vệ sinh làm một đường nhanh và dễ hơn nhiều cái này - thì lúc nào cũng thèm. Trên giường hấp hối tao cũng sẽ thèm. Đừng bao giờ rớ tới thì tốt hơn. Mặc dù - thực là rất cáu khi thấy thằng đầu đất nào đó ngồi kia nhồi tẩu coca rồi huyên thuyên này nọ rằng bẩn thỉu với chẳng không an toàn, hắn thì sẽ không đời nào động đến kim, hiểu không? Tỏ vẻ như là hắn khôn ngoan hơn nhiều ấy?
Thế sao mày lại dính vào?
Thì còn sao nữa? Tau bị gái bỏ! Gái hồi đó. Muốn thành khốn nạn tự đày ải đi, ha. Ước gì được nấy vãi.
Jimmy Stewart mặc áo len của trường. Trăng dát bạc, giọng run run. Buffalo Gals các em có ra đây đêm nay, ra đây đêm nay.
Vậy sao không dừng? Tôi hỏi.
Sao phải dừng?
Tao thật sự phải nói vì sao à?
Ừ, nhưng nếu tau không muốn thì sao?
Nếu mày dừng được thì sao không dừng?
Sinh nghề tử nghiệp, Boris nói gọn, dùng cằm nhấn nút trên cái ga rô y tế trông rất chuyên nghiệp trong lúc xắn tay áo lên.]
Và dù kinh khủng đến mấy, nhưng tôi hiểu. Ta không thể chọn mình muốn gì hay không muốn gì, và đó chính là chân lý, chân lý khó nhọc và cô độc. Đối khi ta muốn điều mình muốn, dù biết thừa nó sẽ giết ta. Ta không trốn được chính mình. (Phải công nhận một điều về bố tôi: ít nhất ông cũng gắng muốn điều hợp lý - mẹ tôi, cái cặp táp và tôi - trước khi phát dại hoàn toàn và tháo chạy.)
Và dù rất muốn tin có một chân lý đằng sau ảo ảnh, dần dà tôi đã kết luận rằng chẳng có chân lý sau ảo ảnh nào. Bởi giữa một mặt là “thực tế”, và mặt kia là điểm nơi tư duy chạm vào thực tế, có một vùng trung gian, một cái mép màu cầu vồng nơi cái đẹp trở thành hiện hữu, nơi hai bề mặt rất khác nhau hòa trộn, hòa lẫn vào nhau để đem lại điều cuộc sống không đem lại: và đây chính là không gian tồn tại của toàn bộ nghệ thuật, cũng như của toàn bộ ma thuật.
Và, tôi muốn khẳng định thêm điều này nữa, toàn bộ tình yêu. Hoặc có lẽ chuẩn xác hơn, vùng trung gian này minh họa cho tính đứt gãy là nền tảng của tình yêu. Khi nhìn gần: bàn tay tàn nhang trên áo khoác đen, con ếch gấp giấy bị ngã nghiêng. Bước lùi ra xa, ảo ảnh lại choáng lấy chỗ: cuộc-sống-lớn-hơn-cuộc sống, không-biết-chết. Bản thân Pippa là sự hòa quyện giữa hai điều ấy, cả tình yêu và phi-tình-yêu, có mặt và không-có-mặt. Ảnh chụp trên tường, chiếc tất lẻ cuộn tròn dưới xô pha. Giây phút tôi đưa tay toan phẩy sợi bông dính trên tóc cô còn cô phá lên cười nguẩy tránh. Và cũng như âm nhạc nằm trong khoảng lặng giữa các nốt, như sao xinh đẹp nhờ không gian mênh mông, như nắng tới giọt mưa từ một góc nào đó sẽ hắt cả một phổ màu vắt qua nền trời - nên không gian nơi tối tồn tại, muốn tiếp tục tồn tại, và thành thực là hy vọng sẽ chết trong đó, chính là khoảng cách trung gian này: nơi tuyệt vọng va chạm với tha tính thuần túy để sinh ra cái gì trác việt!
Và chính vì thế mà tôi quyết định viết những trang này như tôi đã viết đây. Vì chỉ bằng cách bước vào vùng trung gian, cái mép đa sắc giữa chân lý và phi chân lý, tôi mới có thể chịu đựng được việc tồn tại ở đây, viết ra điều này.
Điều dạy ta biết nói chuyện với mình, điều dạy ta biết cất tiếng hát đưa mình ra khỏi cơn tuyệt vọng, đều quan trọng. Nhưng bức tranh đã dạy tôi thêm rằng ta có thể nói chuyện với nhau xuyên qua thời gian. Và tôi cảm thấy mình có một điều rất quan thiết và cấp bách cần nói với người, người đọc không tồn tại của tôi ạ, cảm thấy cần phải nói tha thiết y như nếu tôi và người đang ở trong cùng một căn phòng. Rằng cuộc sống - bất kể những đặc tính nào đi nữa - thì rất ngắn. Rằng số mệnh rất hà khắc nhưng có lẽ chẳng ngẫu nhiên. Rằng Tự Nhiên (nghĩa là Cái Chết) luôn thắng cuộc, nhưng điều đó không có nghĩa ta phải lê la quỵ lụy nó. Rằng có lẽ dù không phải lúc nào ta cũng vui mừng khi được ở đây, thì nhiệm vụ của ta vẫn là phải đắm mình vào đó: lội thẳng qua đó, qua hố cứt, trong lúc vẫn giữ cho cặp mắt và trái tim rộng mở. Và giữa chừng đang chết, khi ta vừa ngoi lên khỏi giới hữu cơ, rồi lại ê chề chìm lại xuống đó, thì ta vừa vinh dự, vừa hân hạnh được yêu thứ mà Cái Chết không chạm tới. Bởi dù cho tai họa và lãng quên đã là bạn đồng hành cùng bức tranh này qua suốt tháng năm, thì tình yêu cũng vậy. Chừng nào nó còn bất tử (mà nó đúng là bất tử), tôi còn được dự phần, phần nhỏ nhưng lấp lánh không suy suyển, trong sự bất tử ấy. Nó tồn tại, sẽ còn tồn tại mãi. Và tôi nói tình yêu của chính mình vào lịch sử dòng người từng yêu những điều tuyệt đẹp, chăm lo cho chúng, giật chúng ra từ lưỡi lửa, tìm kiếm chúng khi chúng mất đi, tìm cách bảo tồn và cất giữ trong khi chuyền tay chúng, theo nghĩa đen, cất lời ca du dương giữa cảnh tàn phá thời gian vọng tới thế hệ những người yêu sau, và sau nữa.