Công Chúa Băng

Lượt đọc: 1707 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4

Hắn cảm thấy cô đơn không tài nào tả xiết. Không có cô ấy, thế giới trống rỗng và lạnh lẽo, thứ giá lạnh hắn không có cách nào làm tan chảy. Nỗi đau cũng dễ dàng vượt qua hơn khi có cô ấy cùng chia sẻ. Sau khi cô ấy biến mất, hắn dường như phải gánh chịu thêm cả phần đau khổ của cô ấy và nó trở nên khủng khiếp quá mức chịu đựng. Hắn sống vật vã từng ngày, từng giờ, từng giây. Thế giới bên ngoài không tồn tại, trong đầu hắn chỉ có một ý nghĩ duy nhất rằng cô ấy đã vĩnh viễn ra đi.

Gánh nặng tội lỗi có thể phân thành những mảnh nhỏ và chia cho những kẻ cùng phạm tội. Hắn không muốn một mình gánh chịu tất cả. Hắn chưa bao giờ có ý định đó.

Hắn nhìn xuống hai bàn tay mình. Hắn ghét chúng. Chúng mang tới cái đẹp và cái chết, một bộ đôi hoàn toàn không tương thích mà hắn phải học cách sống chung. Chỉ khi vuốt ve cô ấy, đôi bàn tay hắn mới hoàn toàn tốt đẹp. Khi da hắn chạm vào da cô ấy, trong chốc lát mọi thứ xấu xa trên đời đều được gột đi. Đồng thời nuôi dưỡng những ước mơ thầm kín của đối phương. Tình yêu và cái chết, cuộc đời và thù hận. Sự đối lập đã biến họ thành những cánh bướm bay vòng vòng quanh ngọn lửa, ngày càng gần hơn. Cô ấy là người bị thiêu cháy trước.

Hắn cũng bắt đầu cảm thấy sức nóng của ngọn lửa phía sau gáy. Giờ nó cũng đã tới gần hắn rồi.

—★—

Bà cảm thấy mệt mỏi. Mệt mỏi vì phải dọn sạch những thứ ô uế của người khác. Mệt mỏi vì sự tồn tại không niềm vui của mình. Ngày lại ngày không hề khác biệt. Mệt mỏi vì từng ngày từng giờ, gánh nặng tội lỗi cứ nặng trĩu hai vai. Mệt mỏi vì mỗi sáng thức dậy và mỗi đêm trước khi đi ngủ đều băn khoăn lo lắng không biết Anders có khỏe không.

Vera cho cà phê lên bếp đun. Tiếng đồng hồ tíc tắc là âm thanh duy nhất vang lên trong bếp. Bà ngồi xuống cạnh chiếc bàn bếp và chờ cà phê sôi.

Cả ngày hôm nay bà làm công việc dọn dẹp cho gia đình Lorentz. Ngôi nhà quá rộng nên phải mất nguyên một ngày mới dọn hết. Đôi khi bà lại nhớ những ngày xưa cũ. Nhớ cảm giác an toàn vì chỗ làm ổn định, vị thế xã hội được đảm bảo khi làm quản gia cho gia đình giàu có nhất miền Bắc Bohuslän. Nhưng không phải lúc nào bà cũng nghĩ thế. Phần lớn bà thấy hài lòng vì không phải tới đó mỗi ngày. Không cần phải cúi đầu chào và khúm núm với Nelly Lorentz. Sự căm ghét của bà đối với người phụ nữ này vượt qua mọi giới hạn. Thế nhưng Vera vẫn phải tiếp tục làm việc cho bà ta từ năm này sang năm khác cho tới khi thời gian thay đổi mọi thứ. Việc nuôi người giúp việc trong nhà đã trở thành lỗi thời. Hơn ba mươi năm, bà luôn phải cúi đầu và lẩm nhẩm “xin cảm ơn bà Lorentz, dĩ nhiên là được thưa bà Lorentz, có ngay đây thưa bà Lorentz” đồng thời phải cố đè nén mong muốn túm lấy cái cổ mỏng manh của Nelly rồi vặn cho tới khi bà ta tắc thở. Đôi khi khát khao ấy trở nên mãnh liệt tới mức bà phải giấu hai tay sau lớp tạp dề để Nelly không phát hiện ra chúng đang run lên bần bật.

Ấm cà phê bắt đầu reo. Vera cố sức đứng thẳng người dậy, lấy ra một chiếc tách cũ, sứt sẹo rồi rót cà phê vào đó. Chiếc tách này là vật duy nhất còn sót lại từ bộ tách đám cưới mà bố mẹ Arvid trao lại cho họ ngày hai người thành hôn. Đó là một bộ đồ sứ Đan Mạch rất đẹp. Nền trắng với những bông hoa màu xanh đã dần phai sắc sau nhiều năm sử dụng. Bây giờ chỉ còn sót lại mỗi chiếc tách này. Khi Arvid còn sống họ chỉ dùng bộ tách này trong những dịp đặc biệt nhưng sau khi ông mất thì đối với bà ngày lễ hay ngày thường cũng chẳng có gì khác biệt. Qua nhiều năm sử dụng, bộ tách không vỡ thì cũng bị Anders đập nát hết trong một cơn say điên loạn hơn mười năm trước. Chiếc tách cuối cùng này chính là thứ tài sản đang giá nhất của bà.

Bà nhấp một ngụm cà phê với vẻ hưởng thụ. Khi chỉ còn sót lại vài giọt, bà đổ chúng ra chiếc đĩa để dưới tách rồi uống với một viên đường ngậm giữa hai hàm răng cho cà phê thấm qua. Hai chân bà đau nhức, rã rời sau một ngày dọn dẹp. Bà gác chân lên chiếc ghế đằng trước, hy vọng sẽ bớt nhức mỏi hơi một chút.

Căn nhà nhỏ và giản dị. Bà đã sống ở đây gần bốn mươi năm và sẽ tiếp tục cho tới khi chết. Mặc dù không được tiện lợi cho lắm. Ngôi nhà nằm trên đồi dốc đứng, bà phải dừng lại lấy hơi nhiều lần mỗi khi đi bộ về nhà. Tường nhà đã bong tróc, ngôi nhà trông nhếch nhác, xập xệ, xuống cấp một cách thảm hạn từ trong ra ngoài. Nhưng vị trí của ngôi nhà khá đẹp và nếu bà chịu bán nó đi rồi chuyển tới một căn hộ thì có thể dư ra một chút tiền, nhưng bà chưa bao giờ nghĩ tới chuyện đó. Nhà có sập bà cũng không chuyển. Dù sao đây cũng là nơi bà đã trải qua với Arvid những năm hạnh phúc ngắn ngủi sau đám cưới. Đêm đầu tiên bà ngủ bên ngoài nhà bố mẹ chính là trên chiếc giường trong phòng ngủ ngôi nhà này. Vào đêm tân hôn. Cũng trên chiếc giường đó, bà đã thụ thai Anders. Thời kỳ mang thai, bà chỉ có thể nằm nghiêng và Arvid nằm sát ngay bên cạnh, ôm lấy bà từ phía sau lưng, vuốt ve cái bụng bầu. Bên tai bà, ông thì thầm những lời về cuộc sống tương lai của họ. Về tất cả những đứa trẻ sẽ lớn lên trong ngôi nhà của họ. Về những tiếng cười ngập tràn hạnh phúc sẽ lấp đầy ngôi nhà trong những năm tháng sắp tới. Và khi họ già đi, lũ trẻ đã chuyển ra ngoài thì họ sẽ ngồi trên những chiếc ghế bập bênh trước lò sưởi trò chuyện về cuộc đời viên mãn mà họ đã cùng nhau trải qua. Hồi đó, hai bọn họ mới ngoài đôi mươi, chưa thể hình dung ra những gì đang chờ đón ở phía trước.

Cũng tại chiếc bàn bếp này bà đã nhận được cái tin ấy. Cảnh sát Pohl gõ cửa, chiếc mũ ngả trên tay và ngay khi nhìn thấy ông ta bà đã hiểu chuyện gì sẽ đến. Bà đã phải chặn tay lên môi để ngăn những lời ông ta định nói và ra hiệu cho ông ta đi vào bếp. Bà lạch bạch đi theo ông ta với cái bụng bầu chín tháng rồi chậm chạp pha một ấm cà phê theo đúng trình tự. Trong lúc chờ cà phê sôi, bà ngồi đó nhìn chằm chằm vào người đàn ông phía bên kia bàn. Nhưng ông ta thì không dám nhìn bà. Mắt ông ta đảo quanh các bức tường, tay không ngừng sửa lại cổ áo. Cho tới khi mỗi người có một ly cà phê bốc khói trước mắt thì bà mới ra hiệu cho ông ta nói tiếp. Bản thân bà không thốt ra một tiếng nào. Bà nghe thấy trong đầu mình vang lên những tiếng vo ve, ngày càng ồn ào. Bà nhìn thấy miệng viên cảnh sát chuyển động nhưng không từ ngữ nào có thể lọt vào mảng âm thanh hỗn loạn trong đầu. Bà chẳng cần nghe cũng biết giờ đây Arvid đã nằm sâu dưới đáy đại dương, dập dềnh cùng với đám rong biến. Chẳng từ ngữ nào có thể thay đổi được điều đó. Chẳng từ ngữ nào có thể xua đi những đám mây đang vần vũ trên bầu trời cho tới khi tất cả những gì chúng ta nhìn thấy chỉ là một màu xám âm u.

Lúc này đây, nhiều năm sau đó, trên chiếc bàn này, Vera lại thở dài. Những người khác khi mất đi người thân yêu của mình đều nói rằng hình bóng của họ sẽ phai nhạt với thời gian. Nhưng với bà thì ngược lại. Hình bóng Arvid ngày càng trở nên đậm nét hơn, đôi khi bà nhìn thấy ông ở trước mắt, rõ ràng tới mức đau đớn giống như một chiếc vòng sắt thết chặt lấy trái tim. Việc Anders giống Arvid như đúc vừa là một lời chúc phúc, vừa là một sự nguyền rủa. Bà biết rằng nếu Arvid còn sống thì chuyện xấu xa đó sẽ không bao giờ xảy ra. Ông chính là sức mạnh của bà, có ông ở bên cạnh, bà sẽ trở nên mạnh mẽ như mong muốn.

Vera giật mình khi nghe thấy tiếng chuông điện thoại. Bà đang ngập chìm trong ký ức và không muốn bị tiếng chuông điện thoại chói tai quấy rầy. Bà hạ hai chân đã nghỉ ngơi được một lúc từ trên ghế xuống rồi ra ngoài sảnh nhấc điện thoại.

“Mẹ, là con.”

Anders lắp bắp trong điện thoại và với kinh nghiệm nhiều năm của mình bà biết chính xác thằng bé đang say xỉn mức độ nào. Đã sắp bất tỉnh đến nơi. Bà không khỏi thở dài.

“Anders này, con sao rồi?”

Nhưng thằng bé chẳng thèm trả lời. Cuộc đối thoại giữa hai bọn họ vẫn luôn như thế.

Vera có thể nhìn thấy mình trong tấm gương ở hành lang với ống nghe bên tai. Chiếc gương cũ kỹ với những chấm đen trên mặt kính, bà chợt nghĩ, bản thân mình cũng giống như một chiếc gương rạn. Mái tóc màu xám, nhếch nhác, lác đác vài cụm màu sẫm nguyên thủy. Bà vẫn luôn chải tóc ngược về phía sau rồi cắt bằng kéo bấm móng tay trước mặt gương trong phòng tắm. Không việc gì phải tốn tiền đi cắt tóc. Gương mặt bà đầy những rãnh xẻ và nếp nhăn vì lo nghĩ. Trang phục của bà cũng giống như vẻ ngoài; gần như không có màu gì khác ngoài xám và xanh lá cây sẫm, nhưng tiện dụng. Nhiều năm làm việc nặng và ăn uống không thấy ngon khiến bà không phát tướng như những phụ nữ khác. Trông bà mạnh mẽ và cứng cáp. Giống như một con ngựa kéo.

Đột nhiên bà nhận ra Anders đang nói gì đó ở đầu dây và giật mình rời mắt khỏi chiếc gương.

“Mẹ, ở bên ngoài có rất nhiều xe cảnh sát. Một đoàn hộ tống rất kinh. Họ hẳn là tới bắt con. Chắc là thế. Con phải làm cái quái gì bây giờ?”

Vera nghe thấy giọng thằng bé càng lúc càng dồn dập, vẻ hoảng hốt mỗi lúc một tăng. Một cơn rét lạnh xuyên suốt cơ thể bà. Trong gương, những khớp ngón tay giữ điện thoại của bà trở nên trắng bệch.

“Đừng làm gì cả, Anders. Cứ đợi ở đó, mẹ sẽ tới ngay.”

“Được rồi, nhưng vì Chúa, mẹ hãy nhanh lên. Bình thường cảnh sát không đông như thế này, Mẹ, thông thường chỉ có một xe cảnh sát mà thôi. Giờ có những ba xe đỗ bên ngoài, đèn xanh nhấp nháy, còi hụ liên tục. Mẹ nó…”

“Anders, nghe mẹ nói này. Hãy hít một hơi thật sâu rồi bình tĩnh lại. Mẹ sẽ gác máy và tới ngay lập tức.”

Bà có thể nghe thấy mình đã thành công trong việc làm cho thằng bé tĩnh tâm lại một chút. Bà gác máy rồi mặc vội áo khoác và chạy ra ngoài, chẳng thèm khóa cửa lại.

Bà chạy ngang qua bãi đỗ xe phía trước chỗ đậu dành cho xe taxi rồi đi tắt phía sau khu dỡ hàng của siêu thị Eva’s Food. Sau đó bà phải đi chậm lại và mất gần mười phút mới tới được khu căn hộ của Anders.

Bà đến đúng lúc nhìn thấy hai viên cảnh sát lực lưỡng còng tay dẫn thắng bé đi. Bà những muốn thét lên nhưng rồi lại nín nhịn khi nhìn thấy tất cả hàng xóm láng giềng châu đầu ra ngoài cửa sổ như những con chim ác rình mồi. Bà không đời nào để họ có thêm kịch xem ngoài những gì vừa chứng kiến. Niềm kiêu hãnh là thứ duy nhất bà còn sót lại. Vera rất ghét những lời bàn tán bám lấy bà và Anders như kẹo. Vẫn luôn có rất nhiều lời đồn đại xung quanh họ và giờ đây chúng sẽ tha hồ tác oai tác quái. Bà biết họ sẽ nói: “Vera tội nghiệp, đầu tiên là chồng bị chết đuối, giờ đến lượt con trai chết chìm trong rượu. Bà ấy thật không đáng bị như thế.” Đúng vậy, bà biết tỏng họ sẽ nói gì. Nhưng bà cũng biết rằng mình sẽ làm mọi cách để giảm thiểu tác hại. Bà không thể gục ngã vào lúc này. Nếu không mọi thứ sẽ lần lượt sụp đổ như một ngôi nhà xếp bằng các lá bài. Vera quay sang nhân viên công vụ đứng gần đấy nhất, một phụ nữ nhỏ bé, tóc vàng trông không hợp lắm với trang phục cảnh sát hà khắc. Bà vẫn chưa quen với sự sắp xếp mới của xã hội, rằng phụ nữ có thể làm bất cứ nghề gì mà họ muốn.

“Tôi là mẹ của Anders Nilsson. Đã xảy ra chuyện gì? Các người mang nó đi đâu?”

“Thật không may là tôi không thể cung cấp cho bà bất cứ thông tin gì. Bà phải liên lạc với đồn cảnh sát Tanumshede. Họ có lệnh bắt giữ đối tượng.”

Mỗi một câu lại làm tim bà như chùng xuống. Bà hiểu rằng việc bắt bớ lần này không phải là do nhậu nhẹt ẩu đả mà ra. Những chiếc xe cảnh sát bắt đầu nối nhau rời đi. Bà nhìn thấy Anders ngồi giữa hai viên cảnh sát trong chiếc xe cuối cùng. Thằng bé quay lại khi xe lăn bánh và nhìn bà cho tới khi mất bóng.

—★—

Patrik nhìn chiếc xe chở Anders Nilsson lái về hướng Tanumshede.

Anh cho rằng sự hiện diện đông đảo của lực lượng cảnh sát có phần quá phô trương. Nhưng vì Mellberg muốn náo nhiệt nên đã có náo nhiệt. Lực lượng bổ sung từ Uddevalla đã được điều động tới để hỗ trợ vụ bắt người. Kết quả là đã lãng phí thời gian của ít nhất bốn trong số sáu nhân viên công vụ có mặt tại hiện trường.

Một phụ nữ vẫn đứng trong bãi đỗ, nhìn theo những chiếc xe cảnh sát.

“Mẹ của thủ phạm,” cảnh sát viên cao cấp Lena Waltin của sở cảnh sát Uddevalla, người giúp Patrik tìm ra căn hộ của Anders Nilsson, nói.

“Lena, cô cũng biết anh ta không phải là thủ phạm chừng nào chưa được chứng minh là có tội và bị kết án. Cho tới lúc đó, anh ta vẫn là một người vô tội như tất cả chúng ta.”

“Tôi dám chắc là anh ta. Tồi đánh cược một năm tiền lương là anh ta có tội.”

“Nếu cô chắc chắn như thế thì nên đánh cược cao hơn số tiền còm đó chứ. ”

“Ha ha, rất hài hước. Đem tiền lương ra đùa với cảnh sát chẳng khác nào ngáng chân một anh què, thề có Chúa.”

Patrik không thể không đồng ý.

“Ở đây chắc chẳng còn việc gì nữa. Chúng ta lên trên nhà chứ?”

Anh thấy mẹ Anders vẫn đứng đó nhìn theo những chiếc xe cảnh sát, dù chúng đã mất hút từ lâu. Anh thật lòng cảm thấy áy náy và toan tới nói mấy lời an ủi. Nhưng Lena đã kéo tay áo anh lôi về phía cổng vào tòa nhà. Anh thở dài, nhún vai rồi đi theo cô vào bên trong thực hiện lệnh khám xét.

Họ thử mở cửa căn hộ của Anders Nilsson. Cửa không khóa nên họ có thể đi thẳng vào trong. Patrik nhìn xung quanh và lại thở dài. Căn hộ ở trong tình trạng vô cùng tồi tệ và anh tự hỏi không hiểu có thể tìm ra bằng chứng có ích nào trong đám hỗn độn này. Họ bước qua đống vỏ chai ngoài hành lang rồi quan sát phòng khách và bếp.

“Mẹ kiếp!” Lena lắc đầu vẻ kinh tởm.

Họ lấy găng tay cao su ra khỏi túi rồi đeo vào. Họ âm thầm nhất trí để Patrik bắt đầu khám xét phòng khách còn Lena thì kiểm tra bếp.

Phòng khách nhà Anders Nilsson mang lại cảm giác gì đó hơi biến thái. Bẩn thỉu, ngồn ngộn rác, gần như không có bất kỳ đồ đạc và vật dụng cá nhân nào, giống như một chỗ ngủ qua đêm ở trung tâm xã hội dành cho người say rượu. Nhưng anh chưa bao giờ ở trong một căn hộ của người nghiện với những bức tường phủ kín tranh. Tranh treo san sát gần như phủ kín bốn bức tường từ sàn tới trần nhà. Sự bùng nổ nhức nhối của màu sắc như chọc vào mắt khiến anh phải kiềm chế lắm mới không giơ hai tay lên che chúng lại. Đó là những bức tranh theo trường phái ấn tượng, chỉ dùng những gam màu nóng và tác động của chúng đối với anh mạnh tới mức anh có cảm giác như đang bị thụi nhiều cú vào bụng. Xúc cảm chân thật đến độ anh khó khăn lắm mới có thể đứng vững. Anh đành phải ép mình rời mắt khỏi những bức tranh giống như đang chực nhảy xổ vào mình.

Anh bắt đầu thận trọng xem xét các đồ vật của Anders. Mà cũng chẳng có gì nhiều để xem. Trong giây lát anh thấy vô cùng cảm kích trước cuộc sống xem ra đầy ưu đãi của mình khi so sánh với chủ nhân nơi này. Những khó khăn trong cuộc sống của anh đột nhiên trở nên vô cùng nhỏ bé. Anh vẫn luôn kinh ngạc trước ý chí sống sót của con người, mạnh mẽ tới mức cho dù phải sống một cuộc đời không ra gì, thiếu thốn mọi thứ thì người ta vẫn chọn sống tiếp từ ngày này qua năm khác. Một cuộc đời như Anders Nilsson thì liệu còn có nguồn vui nào sót lại? Anh ta có bao giờ trải qua những cảm giác làm cho cuộc sống trở nên đáng sống như niềm vui, sự mong đợi, hạnh phúc hay niềm phấn khởi? Hay mọi thứ chỉ là một điểm tạm dừng trước cơn say kế tiếp?

Patrik xem xét qua tất cả mọi thứ trong phòng khách. Anh sờ lên tấm đệm xem có gì giấu ở bên trong, mở ngăn kéo chiếc tủ duy nhất trong phòng và kiểm tra phía dưới. Anh cũng cẩn thận gỡ các bức tranh xuống, từng bức một, để xem xét phía đằng sau. Nhưng chẳng có gì. Hoàn toàn chẳng có bất cứ thứ gì khiến anh phải chú ý. Anh liền đi vào bếp xem Lena có may mắn hơn không.

“Đúng là một cái chuồng heo. Thế quái nào mà người ta có thể sống được ở một nơi như thế này chứ?”

Với vẻ ghê tởm, cô lần lượt xem xét những thứ trong cái sọt rác đã bị cô đổ ra một tờ báo.

“Cô có tìm thấy chứ gì hay ho không?”

“Có và không. Tôi tìm thấy vài hóa đơn trong thùng rác. Danh sách các cuộc gọi trên hóa đơn điện thoại đáng để nghiên cứu thêm. Ngoài ra những thứ còn lại chỉ toàn là rác rưởi.” Cô cởi xoẹt găng tay ra rồi hỏi anh: “Anh thấy sao? Đã kết thúc được chưa?”

Patrik nhìn đồng hồ. Họ ở đây đã được hai tiếng, bên ngoài trời đã tối.

“Ừ, xem ra hôm nay chỉ có thể dừng ở đây thôi. Cô về nhà bằng cách nào? Cần quá giang không?”

“Tôi tự lái xe tới nên không sao. Dù sao cũng cảm ơn anh.”

Họ rời khỏi căn hộ mà giống như trút được một gánh nặng và không quên khóa cửa cẩn thận.

Đèn đường đã sáng lúc họ ra tới bãi đỗ xe. Tuyết bắt đầu rơi lất phất từ khi họ còn ở trong căn hộ của Anders nên cả hai được tha hồ dọn tuyết trước kính chắn gió. Khi Patrik lái xe về phía cây xăng OK Q8 trong đầu anh dâng lên một ý nghĩ, cái ý nghĩ không ngừng giày vò anh suốt cả ngày hôm nay. Ngồi im lặng trong xe, một mình đối diện với những suy nghĩ trong đầu, anh phải thừa nhận rằng có gì đó không đúng trong việc bắt giữ Anders Nilsson. Anh không chắc Mellberg đã hỏi những câu hỏi chuẩn xác trong lúc thẩm vấn nhân chứng, khiến Anders bị giải tới đồn. Có lẽ anh cần phải xem xét kỹ hơn chuyện này. Tới giữa bùng binh của trạm xăng thì Patrik đã quyết chí. Anh quay đấu xe về hướng trung tâm Fjällbacka thay vì rẽ về đồn. Anh hy vọng bà Dagmar Petrén đang ở nhà.

—★—

Erica đang nghĩ tới đôi bàn tay của Patrik. Cô thường chú ý trước hết tới bàn tay và cổ tay của đàn ông. Cô nghĩ rằng hai bàn tay cũng rất gợi tình. Không nên quá nhỏ, cũng không cần quá lớn như nắp bồn cầu. Vừa đủ lớn với những đường gân nổi lên, không có lông, vừa mạnh mẽ vừa dẻo dai. Bàn tay Patrik rất vừa phải.

Cô cố đẩy những cơn mơ mộng viển vông ra khỏi đầu. Chẳng có tác dụng gì khi ngồi suy nghĩ chuyện tình cảm sâu xa lúc mới chỉ có vài xao động trong lòng. Mà cô thậm chí cũng chẳng biết mình sẽ ở lại đây được bao lâu. Nhà bị bán rồi thì chẳng còn gì giữ chân cô nữa và cô sẽ trở lại căn hộ ở Stockholm với cuộc sống trước kia, cùng bạn bè và những người quen cũ. Những tuần lễ ở Fjällbacka, rất có thể chỉ là một đoạn chuyển tiếp ngắn ngủi trong cuộc đời. Với tất cả những vấn đề đó thì việc tính toán xây dựng một lâu đài tình ái với một người bạn thuở thiếu thời xem ra không được khôn ngoan cho lắm.

Erica nhìn ánh hoàng hôn bắt đầu xuất hiện nơi chân trời dù lúc này mới chỉ hơn ba giờ chiều và thở dài ngao ngán. Cô đang co ro trong chiếc áo len ngoại cỡ, rộng thùng thình mà cha cô vẫn thường mặc đi biển vào những ngày giá lạnh. Cô cố ủ ấm đôi bàn tay buốt giá của mình bằng cách giấu chúng trong tay áo rồi buộc hai đầu lại với nhau. Giây phút này, cô cảm thấy mình có chút đáng thương. Cuộc đời chẳng có mấy niềm vui. Cái chết của Alex, vụ tranh chấp nhà cửa, tên Lucas khốn kiếp, quyển sách viết dở chật vật, hết thảy đều đè nặng trên vai. Trong khi cô vẫn còn quá nhiều việc cần giải quyết liên quan tới hậu sự của bố mẹ mình, cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. Những ngày này, cô vẫn chưa lấy được can đảm để tiếp tục việc thu dọn đồ đạc cũ của bố mẹ, khắp nhà ngổn ngang thùng các tông và những túi rác mới đựng non nửa. Còn trong lòng cô thì đầy những khoảng chơi vơi, mất phương hướng và những đoạn tình cảm mờ mịt.

Cả buổi chiều cô nghĩ tới nghĩ lui cảnh tượng cô vừa chứng kiến giữa Dan và Pernilla mà không tài nào cắt nghĩa nổi. Lâu lắm rồi cô và Pernilla không hề có xích mích gì, mọi chuyện đã được làm rõ từ nhiều năm nay. Ít nhất là cô vẫn luôn nghĩ thế. Vậy tại sao Pernilla lại có phản ứng như thế? Erica tính gọi điện cho Dan nhưng lại ngại gặp phải Pernilla bên kia đầu dây. Vào lúc này cô thực sự không có khả năng đối phó thêm một cuộc khủng hoảng nào nữa nên quyết định gác nó sang một bên. Cô cứ để chuyện đó nguội đi, hy vọng rằng chỉ là do đêm trước Pernilla không ngủ ngon và mọi chuyện sẽ tan biến vào lần gặp mặt tới. Thế nhưng cái cảnh tượng đó vẫn không ngừng cắn rứt cô. Thái độ của Pernilla không thể nào là cảm hứng bất chợt mà hẳn phải có cội nguồn sâu xa. Nhưng cô chịu không tài nào đoán nổi đó là gì.

Việc cuốn sách bị sa lầy khiến Erica căng thẳng nên cô quyết định xoa dịu lương tâm bằng cách dành chút thời gian cho việc viết lách. Cô ngồi xuống trước máy tính trong phòng làm việc và nhận ra rằng để đánh máy thì phải thò tay ra khỏi áo ấm. Ban đầu, mọi thứ nhúc nhích một cách chậm chạp nhưng sau đó thì cơ thể ấm áp dần lên và sức sáng tạo bắt đầu lan tỏa. Cô vẫn luôn ghen tị với những nhà văn có thể giữ kỷ luật nghiêm ngặt trong việc viết lách. Còn cô lần nào cũng phải ép mình ngồi xuống và viết. Không phải vì lười biếng mà là vì một nỗi sợ hãi thâm căn cố đế rằng cô có thể mất đi khả năng của mình, rằng bản thảo lần trước sẽ là bản thảo cuối cùng. Rằng cô sẽ ngồi đó, những ngón tay đặt trên bàn phím, mắt nhìn chằm chằm vào màn hình nhưng chẳng có gì xảy ra. Sẽ chỉ có sự trống rỗng, những ngôn từ thui chột và cô nhận ra rằng mình sẽ chẳng bao giờ còn có thể viết ra được một câu hoàn chỉnh. Mỗi khi hiểm họa đó không xảy ra, cô lại thở phào nhẹ nhõm. Giờ đây những ngón tay của cô đang lướt nhanh trên bàn phím và chỉ trong một giờ cô đã viết được hơn hai trang. Viết thêm được ba trang nữa thì cô bắt đầu có cảm giác thành tựu và cho phép bản thân dành chút thời gian cho cuốn sách về Alex.

—★—

Phòng giam vốn là một nơi quen thuộc. Đây không phải là lần đầu tiên hắn vào khám, những đêm say xỉn nôn mửa trong trại giam vốn là chuyện thường nhật trong thời kỳ đen tối. Nhưng lần này thì khác. Việc bị bắt giam lần này rất nghiêm trọng.

Hắn nằm nghiêng một bên trên chiếc giường cứng, cuộn tròn người lại như tư thế của một bào thai, hai tay ôm lấy đầu để tránh cảm giác tiếp xúc trực tiếp với lớp nhựa dính. Những cơn rùng mình ớn lạnh chạy khắp người do khí lạnh trong nhà giam và hơi rượu bốc ra từ cơ thể hắn.

Điều duy nhất người ta nói với hắn là hắn bị tình nghi sát hại Alex. Rồi họ tống hắn vào trong phòng giam và bảo hắn chờ ở đó. Họ cho rằng hắn còn có thể làm gì ở nơi lạnh lẽo này chứ? Mở lớp dạy vẽ chăng? Anders khẽ cười thầm.

Những ý nghĩ rong ruổi vô định trong đầu khi mắt hắn không tìm thấy điểm dừng. Lớp sơn màu xanh lá cây nhàn nhạt bên ngoài bức tường bê tông cũ đã bong tróc thành những đốm màu xám. Hắn tưởng tượng ra việc sơn lại những bức tường kia bằng những gam màu nóng. Chỗ này một vệt đỏ, nơi kia một vệt vàng. Những nét sổ mạnh mẽ sẽ nhanh chóng xóa sạch cái màu xanh nhếch nhác đó. Với con mắt tưởng tượng của hắn, căn phòng nhanh chóng trở thành một bảng màu rực cháy, và chỉ khi đó hắn mới cố thể tập trung suy nghĩ.

Alex đã chết. Đây là một sự thật hiển nhiên, không phải là một ý nghĩ mà hắn có thế trốn chạy khi không muốn đối mặt. Alex đã chết và tương lai của hắn cũng đã chết cùng với cô ấy.

Rất nhanh thôi họ sẽ tới tìm hắn. Lôi hắn đi. Thô bạo đẩy hắn, giày vò hắn, giằng xé hắn cho tới khi tìm ra sự thật run rẩy và trần trụi. Hắn không thể ngăn cản họ. Mà hắn thậm chí cũng chẳng biết liệu hắn có thực sự muốn ngăn cản họ hay không nữa. Có quá nhiều thứ hắn không còn khả năng nhận thức. Trước đây cũng vậy. Vì trên đời này, rất ít thứ có đủ năng lực cứu chuộc hắn khỏi men rượu. Ngoại trừ Alex. Hay việc biết được rằng ở đâu đó, cô ấy đang hít thở cùng một bầu không khí, có cùng một suy nghĩ, và chịu cùng một nỗi đau với hắn. Đó chính là thứ duy nhất có năng lực len lỏi thẩm thấu qua đám sương mù bất lương luôn tìm cách chôn vùi những ký ức của hắn trong bóng tối từ bi.

Hai chân hắn bắt đầu mất cảm giác do nằm quá lâu trên giường cứng nhưng hắn phớt lờ các dấu hiệu cơ thể gửi tới, ngoan cố không dịch chuyển lấy một li. Nếu cử động, hắn có thể sẽ làm mất bảng màu tưởng tượng mà hắn vừa dựng lên trên các bước đường, trở về với thứ xấu xí lúc trước.

Trong những giây phút tỉnh táo hơn, hắn lại thấy hài hước, hay ít nhất cũng là cảm giác mỉa mai đối với tất cả những chuyện này. Việc hắn sinh ra với một nhu cầu không bao giờ thỏa mãn đối với cái đẹp nhưng lại bị kết án chung thân trong một cuộc đời bẩn thỉu và nhầy nhụa. Có thể số phận của hắn đã được viết trên những vì sao vào cái ngày hắn sinh ra, nhưng đã bị cải biên vào cái ngày đáng nguyền rủa đó.

Giá như. Không biết bao nhiêu lẩn suy nghĩ của hắn quanh quẩn bên cái chữ “giá như”, rằng cuộc đời hắn sẽ như thế nào nếu chữ giá như ấy xảy ta. Có lẽ là một cuộc đời tốt đẹp và đáng trân trọng với một gia đình, một mái ấm và nghệ thuật giống như một nguồn vui chứ không phải là nỗi tuyệt vọng. Trẻ con sẽ chơi đùa trong khu vườn bên ngoài xưởng vẽ giữa mùi bánh nướng tỏa ra thơm lừng từ căn bếp. Một hình mẫu kiểu Carl Larsson* với những vầng hào quang màu hồng của ảo tưởng. Và Alex luôn xuất hiện trong những bức tranh đó. Luôn ở tâm điểm, còn hắn giống như một hành tinh quay xung quanh cô.

Những ảo tưởng đó luôn khiến lòng hắn ấm áp nhưng sự ấm áp đó sẽ đột ngột bị thay thế bằng một hình ảnh lạnh lẽo với một tông màu nhợt nhạt và một thứ không gian tê tái. Hắn biết rất rõ hình ảnh đó. Hắn đã nghiên cứu nó không biết bao đêm trong sự im lặng và tĩnh mịch để có thể nắm rõ từng tiểu tiết. Thứ hắn sợ nhất chính là máu. Màu đỏ, đối lập hoàn toàn với màu xanh. Thần Chết, như thường lệ, cũng luôn có mặt ở đó. Ẩn nấp trên các đường viền, xoa tay khoái trá. Chờ hắn cử động hay làm bất kỳ cử chỉ nào. Điều duy nhất hắn có thể làm được là giả vờ như không nhìn thấy Thần Chết. Phớt lờ y cho tới khi y biến mất. Và hình ảnh kia có thể sẽ lấy lại được thứ ánh sáng màu hồng của nó. Alex có thể sẽ lại mỉm cười với hắn, nụ cười làm trái tim hắn rung động. Nhưng Thần Chết là một kẻ đồng hành quen thuộc khó có thể làm ngơ. Hai người bọn họ đã biết nhau từ nhiều năm nay nhưng thời gian cũng không giúp cho mối quan hệ này trở nên dễ chịu hơn. Ngay trong những giây phút tươi sáng nhất cùng chia sẻ với Alex, Thần Chết cũng xen vào giữa hai người bọn họ, giày vò, quấy rối.

Sự im lặng trong buồng giam thật dễ chịu. Hắn có thể nghe thấy tiếng người chuyển động từ xa, nhưng có vẻ xa tới mức giống như thuộc về một thế giới khác. Cho tới khi hắn nghe thấy tiếng bước chân tiến lại gần thì mới giật mình tỉnh mộng. Tiếng bước chân dừng lại ngoài hành lang, vững vàng tiến tới trước cửa buồng giam của hắn. Có tiếng khóa lách cách và rồi cánh cửa mở ra, viên cảnh sát trưởng thấp béo xuất hiện trên ngưỡng cửa. Bơ phờ, Anders cho hai chân xuống đất. Đã tới giờ thẩm vấn. Hãy cố kết thúc việc này cho sớm.

—★—

Những vết bầm tím trên mặt đã bắt đầu nhạt dẩn để có thể dùng phấn che lại Anna nhìn khuôn mặt mình ở trong gương. Trông khắc khổ và tàn tạ. Không trang điểm là thấy rất rõ các đường gân màu xanh. Một mắt vẫn còn đỏ vằn lên. Mái tóc vàng đã trở nên xỉn màu và xơ xác, cần được cắt tỉa tử tế. Cô vẫn chưa xếp được hẹn với thợ cắt tóc chỉ bởi vì không còn hơi sức đâu mà quan tâm tới chuyện đó. Mọi sức lực của cô đều dồn vào việc chăm sóc sinh hoạt hằng ngày của hai đứa trẻ và đó là điều duy nhất khiến cô có thể ngẩng cao đầu. Vì sao mọi sự lại thành ra nông nỗi này cơ chứ?

Cô buộc chặt tóc theo kiểu đuôi ngựa và chật vật mặc quần áo để tránh khỏi đụng tới bên sườn bị đau. Trước đây anh ta còn cẩn thận chỉ đánh vào những nơi có thể dùng quần áo che giấu nhưng từ sáu tháng nay anh ta bắt đầu mặc kệ và liên tục đánh vào mặt cô.

Nhưng bị đánh đập không phải là việc tồi tệ nhất. Mà là sống trong nơm nớp lo sợ, chờ đợi lần bị đánh đập tiếp theo. Tàn bạo nhất là anh ta hoàn toàn nhận thức được điều đó và thích thú đùa giỡn với nỗi sợ hãi của cô. Anh ta sẽ giơ tay lên để đánh cô rồi lại chuyển thành một cái vuốt ve và nụ cười cợt nhả. Đôi khi anh ta đánh cô mà chẳng có lý do rõ ràng. Một cách bất thình lình. Không phải vì anh ta cần đến lý do mà là ngay trong lúc hai người bọn họ đang bàn bữa tối ăn gì, xem chương trình ti vi nào, anh ta cũng có thể bất ngờ vung nắm đấm, thụi vào bụng, vào mặt, vào lưng cô, vào bất cứ nơi nào mà anh ta muốn. Rồi anh ta lại tiếp tục cuộc thảo luận như chưa hề dừng lại, như chưa hề có chuyện gì xảy ra trong khi cô nằm vật trên sàn, thở gấp. Đó là thứ cảm giác quyền lực mà anh ta ưa thích.

Quần áo của Lucas nằm rải rác khắp buồng tắm, cô tỉ mẩn nhặt từng cái treo vào mắc hoặc bỏ vào chậu giặt. Khi buồng tắm một lần nữa trở lại trật tự hoàn hảo, cô liền tới kiểm tra các con. Adrian vẫn đang nằm ngửa, ngủ yên bình với núm vú giả ngậm ở miệng. Emma lặng lẽ ngồi trên trong giường của mình và Anna đứng trên ngưỡng cửa ngắm con bé một lúc. Con bé mới giống Lucas làm sao. Cùng một gương mặt góc cạnh đầy vẻ quyết đoán và đôi mắt màu xanh nhạt. Cùng một tính cách bất kham.

Emma là một trong những lý do khiến cô không thể ngừng yêu Lucas. Ngừng yêu anh ta giống như chối bỏ một phần của Emma. Anh ta luôn là một phần của con gái họ, và cũng là một phần của cô. Anh ta luôn là một người cha tốt đối với bọn trẻ. Adrian vẫn còn quá nhỏ để hiểu biết nhưng Emma luôn tôn sùng Lucas và Anna không muốn tước đoạt con bé khỏi cha của nó. Làm sao cô có thể lấy đi của chúng sự an toàn, tước bỏ mọi thứ vốn quen thuộc và quan trọng trong cuộc đời chúng? Thay vào đó cô cố gắng mạnh mẽ hơn cả phần của chúng để bọn họ có thể vượt qua thời kỳ này. Lúc đầu, mọi chuyện đâu có diễn ra như vậy. Nên họ hẳn có thể trở về như lúc ban đầu. Nếu cô đủ mạnh mẽ. Dù sao thì anh ta vẫn nói với cô rằng anh ta thực sự không muốn đánh cô, đánh cô cũng chỉ vì muốn tốt cho cô, vì cô đã không làm những điều cần làm. Rằng giá mà cô có thể nỗ lực một chút trong việc trở thành một người vợ tốt hơn. Rằng cô không hiểu anh ta. Giá như cô có thể tìm ra cách làm anh ta vui vẻ, giá như cô có thể làm mọi thứ đúng đắn để anh ta không phải lúc nào cũng thất vọng vì cô.

Erica không hiểu gì cả. Erica với tính cách độc lập vả thói quen đơn độc của chị ấy. Lòng can đảm cũng như sự lo âu lúc nào cũng thái quá của chị ấy. Anna có thể nghe thấy vẻ khinh thường trong giọng nói của Erica và điều đó khiến cô muốn nổi điên. Chị ấy thì biết gì về trách nhiệm gìn giữ một cuộc hôn nhân và một gia đình? Về việc vác trên vai một gánh nặng đồ sộ tới mức khó có thể đứng vững. Thứ duy nhất Erica phải bận tâm chính là bản thân. Chị ấy vẫn luôn là người ta đây cái gì cũng biết. Sự quan tâm thái quá như tình mẫu tử của Erica đôi khi khiến cô ngạt thở. Dường như đôi mắt dò xét của Erica theo cô khắp mọi nơi trong khi cô chỉ muốn được yên thân. Nếu mẹ không bao giờ quan tâm tới chị em họ thì có làm sao? Không phải họ còn có bố đấy thôi. Có được một trọng hai phụ mẫu là tốt lắm rồi. Sự khác biệt giữa cô và Erica là cô thì chấp nhận thực tế trong khi chị cô luôn đi tìm câu trả lời cho nguyên nhân của sự mọi sự việc. Sau đó Erica thường xuyên hướng câu hỏi đó luôn gắng sức, nỗ lực quá mức trong cuộc sống. Còn Anna, trái lại thấy chẳng việc gì phải nỗ lực. Chẳng phải sẽ dễ hơn nếu không lo lắng gì, để mọi chuyện diễn ra theo tự nhiên, và sống vì ngày hôm nay? Vì thế cô luôn có chút hằn học với Erica. Chị ấy lúc nào cũng lo lắng, băn khoăn, cưng nựng em gái mình khiến cho Anna gần như không va chạm với cuộc sống và những người xung quanh. Việc rời nhà bố mẹ ra ngoài sống giống như được giải phóng. Khi gặp được Lucas không lâu sau đó cô đã từng nghĩ, rốt cuộc cô đã tìm được người duy nhất yêu mình vì con người thật của mình và hơn hết, khao khát tự do của mình.

Cô mỉm cười cay đắng trong khi lau dọn chiếc bàn mà Lucas vừa dùng bữa sáng. Tự do? Giờ thì ngay cả đánh vần từ đó như thế nào cô cũng không còn nhớ nữa. Cuộc sống của cô chỉ là không gian chật hẹp bên trong căn hộ này. Chỉ nhờ lũ trẻ mà cô mói có thể tiếp tục hít thở, lũ trẻ và hy vọng một ngày nào đó cô sẽ tìm thấy một công thức phù hợp hay một đáp án chính xác giúp cho mọi thứ lại trở về như trước đây.

Chậm chạp, cô đậy lại nắp hộp bơ, cất pho mát vào túi ni lông, cho bát đĩa bẩn vào máy rồi lau bàn. Khi mọi thứ đã sạch sẽ và sáng sủa, Anna ngồi xuống một chiếc ghế trong bếp rồi quan sát xung quanh. Tiếng Emma bi bô trong phòng là âm thanh duy nhất cô nghe thấy và Anna tự cho phép mình tận hưởng khoảnh khắc yên bình và tĩnh lặng ngắn ngủi ấy. Căn bếp rất thoáng và sáng sủa, nội thất lịch lãm với sự kết hợp giữa gỗ và inox. Họ đã không tiếc tiền đầu tư vào các thiết bị, hầu hết đều là các nhãn hiệu nổi tiếng như Philip Starck và Poggenpohl. Bản thân Anna vốn thích có một căn bếp ấm cúng hơn nhưng khi họ chuyển vào căn hộ năm phòng ở Östermalm này thì cô biết là nên ngậm miệng lại.

Cô thậm chí không thể cân nhắc việc Erica thực sự lưu luyến ngôi nhà ở Fjällbacka. Cô không thể để tình cảm chi phối và số tiền thu được sau khi bán nhà rất có thể sẽ đem lại cho cô và Lucas một khởi đầu mới. Cô biết là anh ta không hài lòng với công việc hiện giờ ở Thụy Điển và muốn quay trở lại London nơi có nhiều cơ hội thăng tiến và năng động hơn. Mặc dù lương hiện giờ của anh ta rất cao nhưng với nguồn thu từ ngôi nhà ở Fjällbacka cộng với số tiền để dành họ hẳn sẽ mua được một ngôi nhà ở London phù hợp với địa vị xã hội của mình. Điều đó vô cùng quan trọng đối với Lucas, nên cũng vô cùng quan trọng đối với cô. Erica cũng sẽ ổn thôi. Chị ấy chỉ phải lo cho mỗi bản thân mình, lại đã có một công việc và một căn hộ ở Stockholm. Ngôi nhà ở Fjällbacka chỉ dùng làm nơi nghỉ hè. Số tiền bán nhà cũng sẽ đỡ cho chị ấy không ít, viết văn thì làm gì có tiền và Erica đôi khi cũng có những giai đoạn vô cùng khó khăn. Chị ấy sẽ sớm nhận ra bán nhà là giải pháp tốt nhất. Cho cả hai người bọn họ. Tiếng thét của Adrian vang lên chấm dứt thời khắc nghỉ ngơi ngắn ngủi của cô. Ngồi đây chăm chút vết thương cũng chẳng ích gì. Những vết bầm rồi sẽ biến mất như thường lệ và ngày mai lại là một ngày khác.

—★—

Patrik cảm thấy trong lòng nhẹ nhàng phơi phới không có nguyên do, anh nhảy hai bước một trên cầu thang khi tìm tới nhà bà Dagmar Petrén. Nhưng lúc lên được tới nơi, anh không khỏi phải dừng lại lấy hơi, hai tay chống lên đầu gối thở hổn hển. Rõ ràng anh không còn ở tuổi hai mươi nữa. Người phụ nữ ra mở cửa cũng vậy. Anh chưa từng thấy thứ gì nhỏ bé và nhăn nheo như thế kể từ khi mở túi mận khô lần trước. Lưng còng, người cúi lom khom, bà đứng còn chưa tới thắt lưng anh và Patrik e là ngay cả cơn gió nhẹ nhất cũng có thể khiến bà gãy làm đôi. Nhưng đôi mắt ngước nhìn anh lại mang vẻ trong trẻo và đầy cảnh giác của một cô gái trẻ.

“Đừng có đứng đó mà thở hổng hộc, con trai. Vào đây dùng một ly cà phê nào!”

Giọng nói của bà lạ thay cũng rất mạnh mẽ khiến Patrik đột nhiên có cảm giác của một cậu trò nhỏ, ngoan ngoãn đi theo bà vào bên trong. Anh cố lắm mới không cúi gập đầu xuống chào bà một cách kính cẩn và cố gắng nhích từng bước như ốc sên vì sợ sẽ giẫm lên nữ chủ nhân lúc nào không biết. Quang cảnh phía bên trong khiến anh giật mình đứng im tại chỗ. Chưa bao giờ anh nhìn chấy nhiều ông già Noel như thế. Mọi nơi, mọi chỗ. Lớn hay nhỏ, già hay trẻ, tinh nghịch hay cáu kỉnh đủ cả. Anh có cảm giác như đầu óc mình sắp trở nên bấn loạn vì khối lượng tín hiệu cảm giác đầu vào đang ập đến.

“Cậu thấy sao? Rất tuyệt vời đúng không?”

Patrik thật không biết phải nói gì, phải mất một lúc mới lúng búng trả lời.

“Vâng ạ, phải nói là vô cùng tuyệt vời!”

Anh lo lắng nhìn bà Petrén, không biết bà có nhận ra sự bất đồng giữa lời lẽ và giọng nói của mình. Không ngờ bà lại nở một nụ cười tinh quái, hai mắt hấp háy.

“Đừng lo, chàng trai. Ta biết thừa rằng chúng không hợp gu của cậu, nhưng khi già đi, người ta sẽ phải thực hiện một số nghĩa vụ, cậu biết đấy.”

“Nghĩa vụ ạ?”

“Hoặc giả vẻ điên khùng một chút cho thú vị. Hoặc chỉ đơn giản làm một bà già sầu não mà chẳng ai muốn.”

“Vâng, nhưng tại sao lại chọn các ông già Noel?”

Patrik vẫn không tài nào hiểu được. Bà Petrén lại giải thích cho anh cứ như với một đứa trẻ con.

“Thứ nhất là ta chỉ phải bày chúng ra một lần trong năm. Thời gian còn lại có thể giữ ngôi nhà gọn gàng, sạch đẹp. Ưu điểm thứ hai là chúng sẽ thu hút rất nhiều trẻ con tới đây vào dịp Giáng sinh. Với một bà già không có mấy khách khứa như ta, thật là một niềm hoan hỉ khi lũ nhóc xuất hiện và nhấn chuông để được vào xem ông già Noel.”

“Nhưng bà thường trưng chúng trong bao lâu? Giờ đã là giữa tháng Hai rồi.”

“Ta thường bắt đầu bày chúng vào tháng Mười và tháng Tư thì dọn đi. Mà cậu cũng biết, để bày ra và cất đi cũng phải mất từ một tới hai tuần.”

Patrik có thể dễ dàng hình dung ra việc dọn dẹp chúng sẽ mất bao nhiêu thời gian. Anh định làm một phép tính nhẩm trong đầu nhưng hình như não bộ anh vẫn còn chưa phục hồi sau cú sốc ban đầu. Thay vào đó, anh quay sang hỏi thẳng bà Petrén.

“Ở đây, bà có hết thảy bao nhiêu bức tượng?”

Câu trả lời đến ngay lập tức. “Một nghìn bốn trăm bốn mươi ba, à không, xin lỗi, một nghìn bốn trăm bốn mươi hai, vì hôm qua tôi vừa làm vỡ một bức. Mà lại còn là một trong những bức tượng đẹp nhất nữa chứ,” bà Petrén buồn rầu nói.

Nhưng rồi bà ngay lập tức trấn tĩnh lại, hai mắt hấp háy.

Với một sức mạnh khó tin, bà kéo tay áo Patrik và gần như lôi anh vào trong bếp nơi không có lấy một bức tượng ông già Noel nào. Patrik kín đáo vuốt phẳng lại tay áo và có cảm giác rằng nếu bà ấy cao hơn, thì hẳn đã túm tai anh lôi đi.

“Chúng ta sẽ ngồi ở đây. Suốt ngày bị các ông già vây quanh cũng hơi phiền thế nên các ông ấy bị cấm cửa trong bếp.”

Anh ngồi xuống chiếc ghế băng cứng ở trong bếp sau khi mọi lời đề nghị giúp đỡ đều bị từ chối một cách thẳng thừng. Đang nghĩ tới ly cà phê nhạt nhẽo, khó uống, đun bằng ấm kiểu cũ, anh lại lần nữa há hốc miệng ngạc nhiên khi nhìn thấy trên kệ bếp một chiếc máy cà phê đồ sộ, cực kỳ hiện đại bằng inox.

“Cậu muốn uống gì? Cappuccino? Cà phê sữa? Hay espresso ly đúp, có vẻ thứ đó sẽ phù hợp với cậu hơn.”

Patrik lúng túng gật đầu. Bà Petrén rõ ràng vô cùng thích thú trước vẻ mặt vẫn còn ngỡ ngàng của anh.

“Cậu mong đợi gi chứ? Một cái bình lọc cà phê cổ lỗ sĩ từ những năm 1943 với cà phê tự xay ư? Không, không, không phải vì tôi là một bà già lọm khọm nên tôi không thể tận hưởng những thứ tốt đẹp trên đời. Đây là một món quà Giáng sinh của cơn trai tôi cách đây vài năm và nó vẫn luôn chạy tốt. Đôi khi các bà già hàng xóm phải xếp hàng để sang uống cà phê ở nhà tôi đấy.

Bà âu yếm vỗ nhẹ lên chiếc máy cà phê đang rục rịch kêu xì xì khi đánh sữa thành bọt mịn.

Trong lúc cà phê được pha, các loại bánh ngọt tuyệt hảo lần lượt xuất hiện trên bàn trước mặt Patrik. Không phải là một chiếc bánh cuộn hay bánh quy bơ thông thường mà là những chiếc bánh quế tròn, to, bánh nướng xốp nhân nho, bánh bích quy sô cô la ướt và bánh trứng xốp lần lượt hiện ra trước đôi mắt càng lúc càng thêm sững sờ của Patrik. Miệng Patrik bắt đầu chảy nước miếng, chỉ chực trào ra. Bà Petrén cười khúc khích khi nhìn thấy vẻ mặt của anh. Bà ngồi xuống một chiếc ghế Windsor ở phía đối diện và rót cho mỗi người một ly cà phê nóng hổi, thơm ngào ngạt.

“Ta biết là cậu muốn hỏi ta về cô gái ở nhà bên. Ta đã nói chuyện với viên cảnh sát trưởng chỗ cậu và kể hết cho ông ta về những điều ít ỏi mà ta biết được.”

Cố gắng lắm Patrik mới rời sự chú ý khỏi chiếc bánh quế rắc đường mà anh vừa cắn ngập miệng. Anh phải kín đáo dùng lưỡi liếm sạch đường dính trên răng trước khi mở miệng trả lời.

“Vâng, bà Petrén, bà có thể làm ơn nhắc lại những gì đã nói trước đây không ạ? Bà không ngại nếu như tôi bật máy ghi âm chứ?”

Anh ấn nút màu đỏ trên chiếc máy ghi âm và cố nhai nốt chỗ bánh trong miệng trong lúc chờ đợi câu trả lời.

“Dĩ nhiên là được Đó là vào ngày thứ Sáu, 22 tháng Một, vào lúc sáu rưỡi tối. Mà cậu cứ thoải mái, không cần trịnh trọng quá, làm thế khiến tôi cảm thấy già đi.”

“Làm sao bà có thể nhớ rõ thời gian và ngày tháng như thế? Chuyện đã xảy ra từ mấy tuần rồi. ”

Patrik lại tranh thủ cắn thêm một miếng bánh nữa.

“Cậu biết đấy, hôm đó là sinh nhật tôi nên con trai tôi và cà nhà nó đều ở đây. Chúng tôi cùng ăn bánh ngọt và mở quà. Mọi người rời đi ngay trước bản tin sáu giò rưỡi trên kênh 4 và đó chính là lúc tôi nghe thấy những tràng cãi vã khủng khiếp kia. Tồi liền tới bên ô cửa sổ hướng ra phố và ngôi nhà của cô gái kia rồi nhìn thấy cậu ta.”

“Anders?”

“Anders, họa sĩ, đúng thế. Say xỉn không biết trời đất là gì, đứng đó la hét như một thằng điên và nện thình thịch lên cửa. Cuối cùng thì cô ấy cũng để cậu ta vào, và rồi mọi thứ trở nên yên ắng. Mà cũng có thể cậu ta vẫn tiếp tục la hét, nhưng chuyện này thì tôi không biết. Những gì xảy ra bên trong ngôi nhà thì tôi chịu không tài nào đoán được.”

Bà Petrén, thấy chiếc đĩa của Patrik đã hết sạch, liền đẩy khay bánh quế tới trước mặt anh vẻ dụ dỗ. Nhưng thật ra chẳng cần phải mời mọc gì nhiều, Patrik lập tức nhón lấy một chiếc.

“Và bà chắc chắn rằng đó là Anders Nilsson? Không thể nhầm lẫn?”

“Ồ không, tôi nhận ra tên vô lại đó ở bất kỳ đâu. Cậu ta thường tới đây vào bất cứ lúc nào, và nếu không đến đây thì sẽ tụ tập với lũ say trên quảng trường. Tôi thật không hiểu nổi cậu ta có gì liên quan tới Alexandra Wijkner. Cô gái đó phải nói là rất được. Vừa xinh đẹp vừa có giáo dục. Hồi nhỏ cô ấy vẫn thường sang đây ăn bánh và uống nước trái cây. Cô ấy thường ngồi đó, ngay trên chiếc ghế cậu đang ngồi, thường là với một cô bạn gái, con nhà Tore, tên là gì ấy nhỉ…?”

“Erica,” Patrik nhồm nhoàm cái miệng đầy bánh nói và cảm thấy trong lòng khẽ xao động chỉ vì nhắc tới tên cô.

“Erica, đúng vậy. Cũng là một cô bé ngoan, nhưng Alexandra lại có gì đó vô cùng đặc biệt. Cô ấy như có một vầng hào quang tỏa ra xung quanh. Thế rồi không biết có chuyện gì xảy ra… cô ấy không tới nữa và có gặp cũng chẳng thèm chào hỏi. Vài tháng sau thì cả gia đình họ chuyển tới Göteborg và rồi tôi không gặp cô ấy nữa cho tới vài năm gần đây, khi cô ấy bắt đầu quay trở lại đây vào mỗi dịp cuối tuần.”

“Trước đó gia đình Carlgren có từng quay trở lại?”

“Không, không hề. Nhưng họ vẫn giữ gìn ngôi nhà rất tốt. Thợ quét vôi và thợ mộc vẫn thường tới kiểm tra và một tháng hai lần, Vera Nilsson cũng thường xuyên tới dọn dẹp.”

“Và bà thật không biết chuyện gì xảy ra trước khi gia đình Carlgren chuyển tới Göteborg khiến Alex thay đổi? Không xảy ra bất hòa xung đột gì trong gia đình sao?

“Tất nhiên là có rất nhiều lời đồn đại, xưa nay vẫn thế, nhưng tôi không thấy có gì đáng tin cậy. Mặc dù có rất nhiều người ở Fjällbacka này cho rằng họ biết rõ hơn ai hết về những chuyện đã xảy ra với người khác thì cậu cũng nên nhớ rằng không ai có thể biết được những chuyện xảy ra trong bốn bức tường nhà người khác. Đó là lý do tại sao tôi sẽ không đoán mò chuyện thiên hạ. Chẳng để làm gì. Này, hãy ăn một miếng bánh nữa đi, cậu vẫn chưa thử bánh xốp trứng trong mơ của tôi mà.”

Patrik dưa tay vỗ bụng và nhận ra rằng vẫn còn một chỗ cho chiếc bánh xốp trứng trong mơ.

“Sau đó bà có nhìn thấy gì nữa không? Chẳng hạn như bà có biết khi nào thì Anders Nilsson rời đi chẳng hạn?”

“Không, tối đó tôi không còn nhìn thấy cậu ta lần nào nữa. Nhưng tôi thấy cậu ta đi ra đi vào ngôi nhà đó nhiều lần trong tuần lễ tiếp theo. Phải nói là rất lạ. Vì nghe nói lúc đó cô ấy dã chết rồi. Vậy cậu ta có thể làm cái quái gì ở đó chứ?”

Đây cũng chính là điều khiến Patrik băn khoăn. Bà Petrén nhìn anh vẻ dò xét. “Thế nào, cậu thích bánh này không?”

“Có lẽ là những chiếc bánh ngọt ngon nhất tôi từng được nếm. Làm sao mà bà có thể làm xong một khay bánh ngọt như thế trong nháy mắt? Ý tôi là tôi chỉ gọi điện tới trước mười lăm phút. Bà đúng là siêu nhân khi có thể nướng xong những chiếc bánh ngon mà lại thần tốc như thế.”

Bà Petrén tỏ ra hài lòng với những lời khen ngợi, không khỏi ngẩng cao đầu vẻ tự hào.

“Ta và ông nhà đã mở một tiệm bánh ngọt trong suốt ba mươi năm ở Fjällbacka này, thế nên cùng với thời gian cũng học hỏi được một ít. Những thói quen cũ rất khó thay đổi nên ta vẫn thức dậy vào lúc năm giờ sáng và nướng bánh hằng ngày. Nếu không để phục vụ lũ trẻ và những bà bạn tới chơi thì lại cho chim ăn. Việc thử những công thức mới luôn đem lại niềm vui. Ngày nay có nhiều loại bánh ngọt mới ngon hơn nhiều so với thứ bánh cuộn khô khốc mà ngày xưa chúng ta từng xuất lò tới hàng tấn. Ta tìm thấy công thức trong các tạp chí ẩm thực rồi cải biến chúng phù hợp với sở thích của mình.”

Bà chỉ những chồng tạp chí ẩm thực chất đống trên sàn nhà, cạnh ghế, từ Amelia Mat cho tới Allt om mat, ấn bản nhiều năm khác nhau. Nhìn giá bìa tạp chí, Patrik cho rằng bà Petrén hẳn kiếm được khá nhiều tiền trong những năm mở tiệm bánh. Anh liền nảy ra một ý tưởng.

“Bà có biết mối liên hệ nào khác giữa nhà Carlgren và gia đình Lorentz ngoài việc Karl-Erik từng làm việc cho họ không? Tỉ như họ giao thiệp xã hội?”

“Lạy Chúa lòng lành, nhà Lorentz giao lưu với nhà Carlgren ư? Không đời nào, chàng trai ạ, chuyện đó chỉ có thể xảy ra khi có hai ngày thứ Năm trong một tuần. Họ không thuộc cùng một tầng lớp. Việc Nelly Lorentz xuất hiện tại tiệc sau đám tang ở nhà Carlgren, theo như những gì tôi nghe được, chỉ là một sự gây chú ý mà thôi, không hơn không kém.”

“Thế còn câu chuyện về cậu con trai của họ thì sao? Cậu con trai bị mất tích ấy. Bà có biết anh ta liên quan gì tới nhà Carlgren không?”

“Không, mà cũng hy vọng là không. Một thằng bé hư hỏng. Luôn tìm cách ăn trộm bánh sau lưng người khác. Nhưng chồng tôi đã dạy cho nó một bài học khi bắt quả tang tại chỗ. Lần ấy nó dã bị mắng một trận nên thân. Và rồi, dĩ nhiên Nelly chạy tới bắt chúng tôi dừng lại. Bà ta dọa gọi cảnh sát tới bắt chồng tôi. Nhưng ông ấy khiến bà ta phải ngậm miệng khi nói có nhân chứng rành rành chứng kiến thằng bé ăn cắp nên bà ấy cứ việc đi mà gọi công tố tới phân xử.”

“Vậy là theo như bà biết thì nhà Lorentz không có mối liên hệ nào với nhà Carlgren?”

Bà Petrén lắc đầu.

“Không sao, đó chỉ là suy nghĩ của riêng tôi,” Patrik nói. “Bên cạnh vụ sát hại Alex thì việc Nils mất tích có lẽ là sự kiện gây chấn động nhất từng xảy ra ở thị trấn này và ai mà biết được, đôi khi vẫn xảy ra những sự trùng hợp thú vị. Thế nên, tôi nghĩ rằng hỏi thế là đủ rồi, tôi chỉ muốn cảm ơn vì cà phê và những chiếc bánh ngọt tuyệt vời. Phải nói thêm rằng trong vài ngày tới, tôi sẽ chi được ăn xa lát mà thôi.” Anh vừa nói vừa vỗ bụng.

Anh cố liếc nhìn lại một lần lúc đi qua phòng khách và có cảm giác như một nghìn bốn trăm bốn mươi hai ông già Noel đang nháy mắt cười với anh.

Đi ra khỏi nhà cũng lâu như lúc đi vào. Anh phải cố lắm để khỏi giẫm phải bà Petrén trong lúc đi theo bà ra tới cửa. Đúng là một bà già đầy cá tính. Nhưng cũng là một nhân chứng đáng tin cậy và với lời khai của bà thì chỉ là vấn đề thời gian trước khi họ có thể tìm thấy thêm một số bằng chứng khác nữa là có đủ thành tố kết tội Anders Nilsson. Cho tới thời điểm này, đây là bằng chứng có giá trị nhất, xem như vụ sát hại Alexandra Wijkner có vẻ như đã được giải quyết. Thế nhưng trong lòng anh, ngoài sự tồn tại của các loại bánh ngọt, vẫn còn một cảm giác không yên. Rằng những giải pháp đơn giản nhất không phải lúc nào cũng đúng.

Thật là khoan khoái khi có thể hít thở không khí trong lành bên ngoài, khiến cơn buồn nôn vì ăn quá nhiều giảm đi một chút. Anh cảm ơn bà Petrén một lần nữa, định quay đi thì lại bị bà dúi một gói gì đó vào tay trước khi kịp đẩy cửa. Thì ra là một chiếc túi đựng đầy bánh ngọt và một ông già Noel nhỏ. Anh không khỏi ôm lấy bụng rên rỉ.

—★—

“Nghe này Anders, mọi chuyện đều có vẻ không tốt cho cậu.”

“Vậy sao?”.

“Vậy sao? Đó là tất cả những gì cậu muốn nói ư? Cứt ngập tới đầu rồi mà vẫn chưa nhận ra à? Cậu có nhận ra mức độ nghiêm trọng của sự việc không đấy?”

“Tôi chẳng làm gì cả.”

“Nói láo! Đừng có ngồi đó mà nói nhăng cuội trước mặt tôi. Tôi biết là cậu đã sát hại cô ấy, thế nên tốt nhất là cậu hãy nhận tội tránh rắc rối cho cả hai bên. Nếu cậu không gây rắc rối cho tôi thì tôi cũng không gây rắc rối cho cậu. Cậu có hiểu tôi đang nói gì không?”

Mellberg và Anders đang ngồi trong căn phòng thẩm vấn duy nhất ở đồn cảnh sát Tanumshede và không giống như trong phim truyền hình Mỹ, ở đây chẳng có cái gọi là gương hai chiều để các đồng nghiệp khác có thể theo dõi quá trình phỏng vấn từ phòng bên cạnh. Điều đó càng hợp với Mellberg. Vì một mình thẩm vấn đối tượng là hoàn toàn đi ngược lại nguyên tắc nhưng mẹ kiếp, nếu như hắn ta có tội thì ai thèm quan tâm tới mấy cái quy tắc ngu xuẩn ấy làm gì. Mà Anders lại không yêu cầu luật sư hay bất cứ nhân chứng nào nên việc gì ông ta phải kiên trì?

Căn phòng khá nhỏ, chẳng có gì ngoài bốn bức tường trống trơn và một ít đồ đạc sơ sài. Vật dụng duy nhất là một chiếc bàn và hai chiếc ghế giờ đang được Anders Nilsson và Bertil Mellberg chiếm dụng. Anders thờ ơ dựa vào lưng ghế, tay đặt trên đùi, chân duỗi ra dưới gầm bàn. Mellberg đứng dậy, tì nửa người qua bàn tới gần sát mặt Anders, trong giới hạn có thể chịu đựng được hơi thở rõ ràng không phải mùi bạc hà dịu mát thoang thoảng phả ra từ phía kẻ bị tình nghi, nhưng cũng đủ gần để nước bọt phun lên mặt Anders lúc ông ta mở miệng. Anders cũng chẳng buồn lấy tay chùi. Hắn chọn cách giả vờ, coi viên cảnh sát trưởng như một con muỗi thích gây chuyện, chẳng có gì quan trọng, tới mức chẳng buồn đuổi đi.

“Cả tôi và cậu đều biết cậu là người đã sát hại Alex Wijkner. Dụ cô ấy uống thuốc ngủ, đặt cô ấy vào bồn tắm rồi cắt cổ tay cô ấy và bình tĩnh nhìn cô ấy chảy máu tới chết. Vậy sao chúng ta không khiến mọi chuyện trở nên dễ dàng hơn cho cả hai bên? Cậu nhận tội và tôi sẽ chép lại lời khai của cậu.”

Mellberg vô cùng hài lòng khi cho rằng ông đã có một khởi đầu hết sức uy lực trong quá trình thẩm vấn. Ông ngồi xuống ghế và khoanh tay trước chiếc bụng phệ. Chờ đợi. Nhưng Anders không trả lời. Đầu hắn vẫn gục xuống, tóc tai bù xù nên không trông rõ vẻ mặt. Khóe miệng Mellberg giật giật, cho rằng thái độ thờ ơ này hoàn toàn không phù hợp với đòn phủ đầu cực oai của mình. Sau khi chờ đợi thêm một lúc khá lâu ông giận dữ đấm mạnh xuống bàn nhằm lôi Anders ra khỏi cơn hôn mê. Vẫn không có phản ứng gì.

“Chó chết, đồ say rượu khốn kiếp! Mày tưởng mày có thể ra khỏi đây bằng cách ngồi lì đó không nói câu nào sao? Thế thì chỉ tổ rơi vào tay bọn cảnh sát dữ dằn thôi, nói cho mà biết. Có phải ngồi đây cả ngày thì tao cũng sẽ bắt mày khai ra.”

Những vệt mồ hôi dưới nách áo Mellberg ngày càng lan rộng theo mỗi âm tiết.

“Là do mày ghen tuông đúng không? Chúng ta đã tìm thấy những bức tranh mày vẽ cô ấy, hai người rõ ràng là đã ngủ với nhau. Và để xóa bỏ mọi hồ nghi còn tồn tại, chúng ta cũng đã tìm thấy những bức thư của mày viết cho cô ấy. Những bức thư tình ngọt ngào bệnh hoạn tới thảm hại, Chúa ơi, nhảm phát tởm. Cô ấy nhìn thấy cái gì ở mày chứ? Thử nhìn mày mà xem. Trông mày bẩn thỉu và kinh tởm, nào có cái gì giống Don Juan chứ. Lời giải thích duy nhất là chính cô ta cũng là một kẻ biến thái. Động tình trước những thằng nghiện nặng, bẩn thỉu và bất trị. Cô ta có tán tỉnh các tên nghiện rượu khác ở Fjällbacka không hay chi có mỗi mày bị lợi dụng thôi?”

Anders bật dậy nhanh như sóc. Hắn lao người qua bàn đặt hai tay lên cổ Mellberg.

“Đồ khốn, tao sẽ giết mày, tên cảnh sát khốn kiếp.”

Mellberg cố gắng gạt tay Anders ra nhưng vô ích. Mặt ông ta càng lúc càng đỏ lên, búi tóc rơi khỏi chiếc tổ trên đỉnh đầu và treo toòng teng bên tai phải. Bất ngờ, Anders nới lỏng tay trên cổ Mellberg và viên cảnh sát trưởng hít một hơi dài. Anders lại ngã xuống chiếc ghế và gườm gườm nhìn Mellberg.

Mellberg ho lên một tiếng dặng hắng để lấy lại giọng. “Đừng có bao giờ lặp lại động tác đó! Mày có nghe thấy tao nói gì không, đừng bao giờ. Giờ thì mày hãy ngồi im đó, mẹ kiếp, nếu không tao sẽ tống mày vào phòng giam rồi vứt chìa khóa đi, mày nghe rõ chưa?”

Mellberg ngồi xuống ghế nhưng mắt vẫn nhìn Anders vẻ cảnh giác. Trong ánh mắt Mellberg lúc này xuất hiện một tia sợ hãi. Ông ta cũng phát hiện ra kiểu đầu chải chuốt cẩn thận của mình vừa phải chịu một cú đả kích lớn, liền vắt búi tóc trở lại khoảng bóng loáng giữa đỉnh đầu với một cử chỉ thuần thục và giả vờ như chưa có chuyện gì xảy ra.

“Giờ, quay trở lại với chuyện chính. Vậy là mày có quan hệ tình dục với nạn nhân, Alexandra Wijkner đúng không?”

Anders lẩm nhẩm gì đó.

“Xin lỗi, mày nói gì cơ?” Mellberg nhoài ra phía trước, hai tay chụm lại trước mặt.

“Tôi nói chúng tôi yêu nhau.”

Những lời này vang dội khắp bốn bức tường trống trải. Mellberg ném cho Anders một nụ cười khinh bỉ.

“Được, vậy hai người yêu nhau. Người đẹp và quái vật yêu nhau. Mới cảm động làm sao. Thế hai người đã yêu nhau được bao lâu?”

Anders lại lắp bắp nói gì đó và Mellberg lại phải yêu cầu hắn nhắc lại.

“Từ khi chúng tôi còn bé.”

“Được rồi, hiểu rồi. Nhưng các người không thể vần nhau như thỏ từ lúc năm tuổi được, để tao đặt lại câu hỏi vậy: từ khi nào thì hai người có quan hệ tình dục? Cô ta ngủ với mày từ khi nào? Hay mày đã làm tình với cô ta từ bao lâu rồi? Tao có phải tiếp tục giải thích không hay cuối cùng mày cũng đã hiểu được câu hỏi?”

Anders nhìn Mellberg vẻ căm hận nhưng vẫn cố giữ bình tĩnh.

“Tôi không biết nữa. Thỉnh thoảng, từ nhiều năm nay. Tôi thực sự không biết vì không có thói quen đánh dấu lên lịch.” Hắn dừng lại, làm như đang khâu những sợi chỉ vô hình trên đùi. “Nhưng lúc đó cô ấy không hay có mặt ở đây nên có lẽ không thường xuyên lắm. Phần lớn thời gian tôi chỉ vẽ cô ấy. Cô ấy mới đẹp làm sao.”

“Chuyện gì đã xảy ra vào đêm cô ấy bị giết? Một trận cãi vã giữa đôi tình nhân? Hay cô ấy muốn chia tay? Hay việc cô ấy dính bầu đã khiến mày phát điên? Chắc là thế rồi. Cô ấy dính bầu mà mày lại không biết đó là con mình hay con của chồng cô ấy. Cô ấy có thể đã dọa khiến cho mày sống dở chết dở đúng không?”

Mellberg cực kỳ hài lòng với bản thân. Ông ta tin chắc Anders là thủ phạm và chỉ cần ấn mạnh thêm một chút vào những nút cần thiết là có thể khiến hắn thú tội. Không còn nghi ngờ gì nữa. Và rổi Göteborg sẽ van nài cầu khẩn ông quay về trụ sở chính. Họ có lẽ còn dùng một chức vụ cao hơn và mức lương tốt hơn để lôi kéo ông nếu ông giả vờ chần chừ không đáp ứng. Ông khoái trá xoa bụng và lúc này mới nhận ra Anders đang mở to mắt nhìn mình trừng trừng. Mặt hắn trắng bệch, cắt không còn giọt máu. Hai tay vặn vẹo. Khi Anders ngẩng đầu lên và lần đầu tiên nhìn thẳng vào Mellberg, viên cảnh sát trưởng thấy môi dưới của hắn run rẩy và hai mắt thì ngập nước.

“Ông nói dối! Cô ấy không thể nào mang thai!” Mũi dãi hắn chảy xuống và Anders dùng tay áo quệt chúng đi. Hắn nhìn Mellberg với vẻ gần như van lơn.

“Ý mày là sao? Mày cũng biết, bao cao su cũng không phải chắc chắn trăm phần trăm. Cô ấy đã có bầu ở tháng thứ ba nên đừng có diễn kịch với tao. Cô ấy dính bầu và mày biết rất rõ chuyện đó xảy ra như thế nào. Nhưng hàng họ là của mày hay người chồng thượng lưu của cô ấy thì chúng ta sẽ không bao giờ biết được, phải không? Phải nói rằng đây đúng là vận đen của đàn ông. Tao cũng suýt bị tóm gáy mấy lần nhưng vẫn chưa có con đàn bà khốn kiếp nào dụ được tao ký cọt bất cứ giấy tờ gì,” Mellberg cười khùng khục.

“Chuyện này chẳng có liên quan gì tới ông, nhưng chúng tôi đã không quan hệ tình dục từ bốn tháng nay. Giờ tôi không muốn nói gì với ông nữa. Hãy đưa tôi trở lại phòng giam vì tôi không có ý định nói thêm một lời nào nữa.”

Anders hắt hơi một cái rõ to và nước mắt lại chực trào ra. Hắn ngả lưng ra ghế, hai tay khoanh trước ngực và hằn học nhìn Mellberg qua đám tóc rối bù. Mellberg đành thở dài nhượng bộ.

“Được rồi, chúng ta sẽ tiếp tục trong vài tiếng nữa. Và nói cho mày biết, tao không mảy may tin lấy một lời trong những gì mày vừa nói Trong phòng giam hãy nghĩ cho kỹ. Lần sau nói chuyện tao muốn có toàn bộ lời khai của mày.”

Ông ta ngồi lại thêm một lát sau khi Anders được dẫn về phòng giam. Tên say hôi hám kia đã không thú tội. Thật không thể tin được. Nhưng con bài ngửa của ông ta vẫn còn nguyện vẹn chưa hề được lật. Lần cuối cùng có người nghe thấy Alexandra Wijkner còn sống là vào bảy giờ mười lăm ngày thứ Sáu 22 tháng Một, đúng một tuần trước khi được phát hiện. Vào thời điểm đó cô ta đang trò chuyện điện thoại với mẹ mình, thời gian cuộc gọi kéo dài năm phút năm mươi giây theo công ty điện thoại Telia. Trùng khớp với thời gian bên bác sĩ pháp y đưa ra. Nhờ có người hàng xóm, bà Dagmar Petrén, mà ông ta có được chứng cứ về việc Anders Nilsson đã tới thăm nạn nhân không chỉ vào ngay cái đêm đó, sau sáu giở rưỡi tối mà còn đi ra đi vào ngôi nhà nhiều lần trong tuần lễ tiếp sau. Mà lúc đó thì Alexandra Wijkner đã nằm chết trong bốn tắm.

Một lời thú tội sẽ khiến cho công việc của Mellberg dễ dàng hơn rất nhiều nhưng ngay cả khi Anders trở nên ngoan cố thì Mellberg vẫn tin rằng ông ta sẽ có cách buộc tội hắn. Không chỉ dựa vào lời chứng của bà Petrén mà trên bàn của ông ta còn có báo cáo vụ khám xét nhà của Alex Wijkner. Thú vị nhất là những dữ liệu thu được từ việc kiểm tra kỹ lưỡng phòng tắm nơi tìm ra xác nạn nhân. Không chỉ một dấu chân tìm thấy trên lớp máu đã đông lại trên sàn trùng hợp với đôi giày thu được tại căn hộ của Anders mà còn có dấu tay của hắn trên xác nạn nhân. Không rõ như dấu tay tìm thấy trên các bề mặt cứng nhưng vẫn nhận diện được.

Ông ta không muốn sử dụng hết mọi phương cách trong ngày hôm nay nhưng lần thẩm vấn sau hẳn ông ta sẽ phải đưa ra vài vũ khí lợi hại. Mẹ nó chứ, ông ta sẽ khiến tên khốn ấy phải nôn ra.

Hài lòng với chính mình, Mellberg nhổ một bãi nước bọt vào lòng bàn tay rối bắt đầu vuốt tóc cho vào nếp.

—★—

Tiếng điện thoại khiến cô bị gián đoạn trong lúc đang gõ lại nội dung cuộc trò chuyện với Henrik Wijkner. Bực mình, Erica rời tay khỏi bàn phím với lấy điện thoại.

“Có chuyện gì vậy?” Giọng cô hơi cáu kỉnh ngoài ý muốn.

“Xin chào, là Patrik. Anh có làm phiền em không?”

Erica ngồi bật dậy trên ghế và hối hận vì đã không trả lời điện thoại nhã nhặn hơn một chút.

“Không, không hề. Em đang ngồi viết và vì quá nhập tâm nên bị tiếng điện thoại làm giật mình, lúc nhận điện thoại có vẻ hơi… nhưng anh không làm phiền gì cả, không hề gì, ý em là…”

Cô đập tay lên trán khi nghe thấy giọng nói lắp bắp như thiếu nữ mười bốn tuổi của mình trên điện thoại. Phải bình tĩnh lại và kiểm soát các hoóc môn của mình. Thật là lố bịch hết sức.

“Ừ, anh đang ở Fjällbacka và đang băn khoăn không hiểu em có nhà hay không để rẽ qua một lát.”

Giọng nói của anh đầy nam tính, tự tin, bình ổn và vững vàng khiến Erica càng cảm thấy ngu ngốc trước sự lắp bắp của mình. Cô nhìn quần áo đang mặc trên người, một bộ đồ thể thao nhếch nhác. Rồi chợt nhớ tới đầu tóc của mình. Lôi thôi y như dự đoán. Tóc cô buộc túm lại trên đỉnh đầu, vài sợi lòa xòa bay tứ tung. Tình trạng cô lúc này hoàn toàn có thể dùng hai từ thảm họa để hình dung

“Erica này, em vẫn còn ở đó chứ?” Patrik có vẻ bối rối.

“Vâng, vâng, em vẫn đang nghe. Em cứ tưởng điện thoại của anh vừa bị ngắt.”

Erica lại đập tay lên trán lần thứ hai trong vòng mười giây ngắn ngủi. Chúa ơi, cứ giống như trẻ vỡ lòng học yêu.

“A lô, a lô… Erica, em có nghe thấy anh nói không? A lô.”

“Có, có. Dĩ nhiên rồi. Anh đến đi. Cho em mười lăm phút vì em đang bận… à… bận viết nốt một phần rất quan trọng trong sách mà em muốn làm cho xong.”

“Không thành vấn đề. Em có chắc là anh không làm phiền em đấy chứ? Ý anh là đằng nào tối nay cũng sẽ gặp nhau nên nếu… ”

“Không, không hề gì. Không sao mà. Cho em mười lăm phút.”

“Được rồi, vậy gặp sau nhé.”

Erica cẩn thận đặt ống nghe xuống và hít một hơi thật sâu. Có thể nghe thấy trái tim cô dang đập rộn ràng. Patrik đang trên đường tới đây. Patrik đang… nghĩ tới đây cô giật bắn mình giống như vừa bị người ta đổ cả xô nước đá lên người rồi vội vàng nhảy khỏi ghế. Anh ấy sẽ có mặt ở đây trong vòng mười lăm phút mà cô trông giống như một tuần chưa tắm và chải đầu. Cô nhảy hai bước một lên gác kéo chiếc áo thể thao qua đầu. Trong phòng ngủ, cô thoát khỏi chiếc quần nỉ vội vàng tới mức suýt nữa thì ngã giập mặt.

Trong phòng tắm cô gột rửa phần dưới cánh tay và thầm cảm ơn Chúa vì sáng nay trong lúc tắm đã kịp cạo lông nách. Cô dấp nước hoa vào cổ tay, giữa hai ngực và cổ họng và cảm nhận được các mạch máu chảy dồn dập dưới những ngón tay. Cô mở tung tủ quần áo, ném gần hết ra giường và cuối cùng quyết định chọn một chiếc áo thun màu đen giản dị hiệu Filippa và một chiếc váy bó màu đen phù hợp, dài tới mắt cá chân. Cô nhìn đống hồ. Vẫn còn mười phút. Lại lao vào buồng tắm. Phấn, mascara, son bóng và màu mắt nhè nhẹ. Không cần sắc đỏ vì mặt cô đã đủ hồng rồi. Hiệu quả mà cô mong muốn là một vẻ mặt tự nhiên, giống như không tô vẽ, nhưng cùng với thời gian, để đạt được điều đó, thì lại càng phải biết cách trang điểm khéo léo hơn.

Chuông cửa vang lên. Nhìn mình trong gương lần cuối, cô hoảng hốt nhận ra tóc cô vẫn đang buộc túm trên đầu với một sợi dây thun màu vàng xỉn. Cô kéo sợi dây thun xuống rồi dùng lược và một ít gel sửa lại đầu tóc cho dễ coi hơn một chút. Lại một hồi chuông nữa, lần này kiên trì hơn và cộ vội vã lao xuống cầu thang rồi dừng lại giữa đường để lấy hơi và trấn tĩnh lại. Với vẻ mặt thản nhiên nhất có thể, cô mở cửa với một nụ cười rạng rỡ.

—★—

Những ngón tay của anh có chút run rẩy khi bấm chuông. Anh cũng toan quay xe lại mấy lần, tìm ra một lý do gọi điện xin lỗi cô nhưng chiếc xe cứ tự động đi về hướng Sälvik. Dĩ nhiên anh vẫn nhớ nơi cô sống và tự động rẽ phải lên ngọn đồi phía trước khu cắm trại trước ngôi nhà. Buổi chiều nhưng trời đã tối như mực, may mà đèn đường cũng đủ sáng để có thế nhìn thấy biển lờ mờ phía trước. Anh lập tức hiểu được tình cảm của Erica đối với ngôi nhà. Cũng hiểu được niềm thương tiếc của cô nếu mất đi nó. Cô ấy và Anna sẽ bán nhà, chẳng còn gì giữ chân Erica ở Fjällbacka nữa. Cô ấy sẽ chuyển về Stockholm, và một nhân viên cảnh sát địa phương ở Tanumshede hẳn sẽ không thể so sánh được với những người đàn ông sành điệu ở khu Stureplan thời thượng. Anh sải những bước nặng trĩu trên cầu thang rồi nhấn chuông cửa.

Không thấy ai xuất hiện nên anh lại nhấn chuông lần nữa. Anh bắt đầu cảm thấy mình sai rồi, mọi thứ không diễn ra như những gì anh tưởng tượng lúc rời nhà bà Petrén tới đây. Nhưng anh không cưỡng lại nổi ý muốn gọi điện cho Erica khi biết cô đang ở gần đó. Tuy nhiên anh bắt đầu hối hận ngay khi nghe thấy cô trả lời điện thoại. Cô ấy có vẻ rất bận, thậm chí tỏ ra bực mình khi anh gọi điện. Nhưng giờ thì đã quá trễ để thay đổi ý định. Tiếng chuông cửa lại một lần nữa âm vang khắp ngôi nhà.

Anh nghe thấy tiếng người chạy xuống cầu thang. Tiếng bước chân dừng lại một chút trước khi tiến về phía cửa. Cửa bật mở và cô ấy xuất hiện với một nụ cười tươi rói. Khiến anh ngạt thở. Anh không hiểu cô làm thế nào mà luôn giữ được vẻ tự nhiên tươi tắn. Khuôn mặt cô gần như không trang điểm với một vẻ đẹp tự nhiên mà anh vẫn cho rằng chính là thứ hấp dẫn nhất ở phụ nữ. Karin chẳng bao giờ dám mơ tới việc chường khuôn mặt chưa trang điểm của mình ra ngoài trong khi Erica thì tự nhiên đã hoàn hảo rồi, không cần phải nhờ tới bất kỳ mánh khóe trang điểm nào nữa.

Nhà cô vẫn giống y như lúc ngày xưa anh thường tới chơi. Ngôi nhà và những đồ đạc bên trong đã cùng trải qua năm tháng một cách kiêu hãnh. Chất liệu gỗ, sơn trắng, vải đệm phông màn xanh nhạt và trắng vô cùng hài hòa với màu đồng cổ của tuổi thọ đồ đạc. Cô ấy đã thắp nến để xua đi bóng tối mùa đông. Cả ngôi nhà chìm trong không khí yên bình và tĩnh lặng. Anh theo Erica vào trong bếp.

“Cà phê nhé?”

“Ừ, phiền em. À, anh mang cho em cái này,” Patrik đưa cho cô túi bánh ngọt. “Anh định mang về đồn cho mọi người, nhưng chỗ này rất nhiều bánh nên để lại cho em vài chiếc.”

Erica nhìn vào bên trong chiếc túi và mỉm cười: “Em thấy là anh vừa tới thăm bà Petrén.”

“Đúng thế! Ăn bánh no tới mức không thể lết nổi nữa.”

“Anh có thấy bà cụ dễ thương không?”

“Cực kỳ dễ thương. Anh mà chín mươi hai tuổi thì anh sẽ cầu hôn ngay.”

Hai người bật cười nhìn nhau.

“Thế còn em, thế nào rồi?”

“Cũng ổn, cảm ơn anh.”

Khoảng yên lặng tiếp theo khiến cả hai có chút ngượng ngùng. Erica rót cà phê vào hai tách rồi đổ phần còn lại vào chiếc ấm giữ nhiệt trên bàn.

“Ra hiên ngồi đi.”

Họ bắt đầu nhấm nháp cà phê và sự yên lặng giữa hai người không còn gượng gạo nữa mà trở nên thoải mái. Erica ngồi trên chiếc ghế mây đối diện với anh. Anh khẽ hắng giọng.

“Sách của em thế nào rồi?”

“Cũng tốt, cảm ơn anh. Còn anh thì sao? Việc điều tra tới đâu rồi?”

Patrik suy nghĩ một lúc rổi quyết định sẽ kể cho cô nhiều hơn quy định một chút. Dù sao thì Erica cũng đã dính líu tới vụ này rồi, và điều đó cũng chẳng hại đến ai.

“Có vẻ như bọn anh sắp phá được án. Đã bắt được nghi phạm. Hắn hiện đang bị thẩm vấn và bằng chứng thì rất khó chối cãi.”

Erica nghiêng người vé phía trước với vẻ háo hức. “Là ai vậy?”##Patrik do dự một lát rồi bảo: “Anders Nilsson.”

“Rốt cuộc là Anders. Lạ thật, em vẫn thấy có gì đó không ổn.”

Patrik rất muốn đồng tình với cô. Bởi vẫn có nhiều kẽ hở chưa được giải quyết sau vụ bắt giữ Anders. Nhưng bằng chứng vật chứng từ hiện trường vụ án cùng với lời khai của nhân chứng về việc anh ta có mặt trong ngôi nhà ngay trước thời điểm Alex bị sát hại và nhiều lần khác sau khi nạn nhân tử vong là những điểm rất khó chối cãi. Tuy nhiên…

“Thế thì chắc là xong rồi. Buồn cười thật đấy, em cứ nghĩ sẽ nhẹ nhõm hơn khi nghe được tin này. Thế còn cái bài báo mà em tìm thấy thì sao? Về việc Nils mất tích ấy? Nếu Anders là kẻ sát nhân thì nó có liên quan gì tới vụ này nhỉ?”

Patrik nhún vai và giơ hai tay lên vẻ đầu hàng.

“Anh không biết, Erica. Anh thực sự không biết. Có lẽ nó chẳng liên quan gì tới án mạng. Chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Cũng chẳng có lý do gì đi lục lại quá khứ. Alex đã mang theo các bí mật xuống mồ.”

“Thế còn đứa bé mà cô ấy đang hoài thai. Là con của Anders chăng?”

“Ai biết được? Của Anders hay Henrik. Anh cũng nghĩ giống em. Thật không biết cái gì đã gắn kết hai người đó lại. Một cặp đôi kỳ quặc. Việc cặp bồ thì chẳng có gì lạ nhưng Alexandra và Anders Nilsson? Anh còn chẳng tin là anh ta có thể đưa được ai lên giường, chứ đừng nói tới Alexandra Wijkner, một phụ nữ mà anh chỉ có thể dùng từ hấp dẫn chết người để miêu tả.”

Trong giây lát anh tưởng như nhìn thấy Erica khẽ cau mày nhưng cô lập tức trở lại vẻ mặt khoan thai lịch sự ngày thường. Có lẽ là do anh quá giàu trí tưởng tượng. Cố toan mở miệng nói gì đó thì tiếng nhạc trong một bài hát quảng cáo kem que vang lên khiến cả hai người giật bắn mình.

“Là chuông điện thoại của anh,” Patrik nói. “Anh đi nghe điện thoại một lát.”

Anh chạy ra hành lang lục túi áo lấy điện thoại.

“Patrik Hedström nghe đây! Vâng, tôi hiểu rồi. Chúng ta lại quay về điểm xuất phát. Vâng, tôi biết rồi. Vậy sao, anh ta đã nói thế ư? Chuyện đấy sếp cũng làm sao mà đoán trước được. Được rồi, cảnh sát trưởng, gặp lại sếp sau.” Anh nói rồi quả quyết dập điện thoại và quay trở lại với Erica.

“Mặc áo vào rồi đi với anh một đoạn.”

“Đi đâu?” Erica nhìn anh dò hỏi, tách cà phê vừa đưa lên tới miệng.

“Có thông tin mới liên quan tới Anders. Có vẻ như phải gạch tên anh ta khỏi danh sách tình nghi.”

“Thật sao? Thế chúng ta đi đâu?

“Cả anh và em đều cảm thấy chuyện này có gì không ổn. Em tìm thấy bài báo về vụ mất tích của Nils ở nhà Alex, có thể sẽ còn những chứng cứ khác.”

“Nhưng không phải cảnh sát đã lục soát kỹ lưỡng rồi đấy thôi!”

“Đúng thế, nhưng anh không chắc là đã tìm đúng thứ phải tìm. Anh chỉ muốn kiểm chứng một ý tưởng mới trong đầu. Đi nào.”

Patrik đã ra gần tới cửa. Erica đành khoác áo vào rồi chạy theo anh.

—★—

Ngôi nhà trông bé tẹo và đổ nát. Bà không thể hình dung người ta có thể sống trong một căn nhà như vậy. Rằng người ta có thể chấp nhận và chịu đựng một cuộc sống thê lương, ảm đạm và nghèo khổ như thế. Nhưng thế giới này vẫn vậy. Có người giàu, có người nghèo. Nelly thầm cảm ơn những ngôi sao chiếu mệnh may mắn của mình đã khiến bà thuộc về giới thứ nhất chứ không phải loại thứ hai. Bản chất của bà không thế sống nghèo khổ. Một phụ nữ như bà sinh ra là để phục sức bằng kim cương và áo lông thú.

Người phụ nữ ra mở cửa có lẽ cả đời cũng không biết thế nào là một viên kim cương thực sự. Cả người bà ta lúc nào cũng xám xịt và tối sầm. Nelly nhìn chiếc áo len chui đầu nhếch nhác và hai bàn tay khoanh trước ngực của Vera với vẻ ghê tởm. Vera chẳng nói chẳng rằng, đứng chắn trên ngưỡng cửa.

Sau khi lo lắng nhìn trước ngó sau, Nelly cuối cùng buộc phải lên tiếng, “Này, cô không định mời tôi vào nhà hay sao, chẳng lẽ muốn đứng đây cả ngày? Tôi chắc là cô cũng chẳng muốn ai nhìn thấy tôi tới đây, đúng không nào?”

Vera vẫn không nói gì, chỉ tránh ra một chút cho Nelly có thể bước vào trong.

“Chúng ta phải nói chuyện, tôi và cô, cô không nghĩ vậy sao?”

Nelly lịch lãm tháo đôi găng tay bà vẫn thường mang khi đi ra ngoài và nhìn quanh ngôi nhà với vẻ coi thường. Hành lang, phòng khách, bếp và một phòng ngủ nhỏ. Vera đi theo phía sau, mặt cúi gằm. Các phòng trong nhà đều tối và u ám. Giấy dán tường đã cũ lắm rồi. Cũng chẳng ai thèm lột lớp thảm dán sàn cũ kỹ để trưng ra sàn gỗ như hiện nay người ta vẫn thường làm khi tân trang lại các ngôi nhà cổ. Nhưng mọi thứ đều sạch bóng và ngăn nắp. Không có chút bẩn thỉu hay rác rưởi nào, nhưng từ mọi ngõ ngách trong căn nhà đểu tỏa ra một thứ không khí tuyệt vọng não nề.

Nelly thận trọng ngồi mớm xuống chiếc ghế có tay dựa cũ rích trong phòng khách. Bà ra hiệu cho Vera ngồi xuống chiếc ghế bành cứ như thể mình mới là chủ nhân nơi này. Vera nghe theo, cũng ngồi nép vào một bên mép ghế. Tuy không gây ra bất cứ tiếng động nào nhưng những ngón tay bà ta không ngừng ngọ nguậy trong lòng.

“Chúng ta cần phải tiếp tục giữ kín chuyện này. Cô cũng hiểu được điều đó đúng không?” Giọng Nelly đầy vẻ thúc bách. Vera gật đầu, mắt vẫn nhìn xuống.

“Tôi không thể nói với cô là tôi lấy làm tiếc vì chuyện đã xảy ra với Alex. Con bé đó bị thế là đáng đời, cô hẳn cũng đồng ý với tôi. Cái con bé không biết xấu hổ đó, sớm muộn thì cũng xảy ra chuyện thôi, tôi vẫn biết thế.”

Đáp lại những lời của Nelly, Vera vụt ngẩng đầu lên nhìn bà ta nhưng vẫn không nói một lời. Nelly càng cảm thấy khinh bỉ người phụ nữ lúc nào cũng rầu rĩ, tẻ nhạt, không có chút ý chí này. Điển hình của dân lao động, mắt lúc nào cũng nhìn xuống. Không phải vì bà muốn thay đổi điều đó mà chỉ là bà không tránh được cảm thấy coi thường đối với những người không có đẳng cấp lẫn phong cách. Điên ruột nhất là bà vốn cao sang là thế mà lại phải phụ thuộc vào Vera Nilsson. Bằng bất cứ giá nào bà cũng phải giữ được sự im lặng của Vera. Trước đây cũng vậy và bây giờ cũng thế.

“Thật không may là mọi chuyện lại xảy ra như thế nhưng giờ đây quan trọng nhất là chúng ta không được hấp tấp. Mọi thứ cần phải tiếp tục như trước. Chúng ta không thể thay đổi quá khứ và không có lý do gì để khui thùng rác cũ.”

Nelly mở túi xách lấy ra một chiếc phong bì màu trắng và đặt nó lên bàn.

“Ở đây có một chút gọi là để cải thiện ngân quỹ của cô. Hãy nhận lấy!”

Nelly đẩy chiếc phong bì tới trước mặt Vera nhưng bà không cầm lên mà chỉ nhìn nó trừng trừng.

“Tôi rất lấy làm tiếc vì chuyện đã xảy ra với Anders. Nhưng đó cũng có thể là điều tốt đẹp nhất cho thằng bé. Ý tôi là trong tù thì nó sẽ không có rượu để uống nữa.”

Vừa nói xong thì Nelly cũng nhận ra lần này bà đã đi qua xa. Vera chậm rãi đứng lên với một ngón tay run bần bật chỉ về phía cửa.

“Cút ngay!”

“Thôi nào, Vera đáng thương, cô không cần phải xem đó… ”

“Cút ra khỏi nhà tôi! Anders sẽ không đi tù và bà có thể cầm đống tiền bẩn thỉu của mình xuống mồ, mụ già khốn kiếp! Tôi biết chính xác loại người như bà xuất thân từ đâu, cho dù có đổ bao nhiêu nước hoa lên người cũng không che giấu được. Mùi phân vẫn cứ nồng nặc!”

Nelly co rúm lại trước vẻ căm ghét rõ mồn một trong mắt Vera. Tay bà ta siết chặt thành nắm đấm, người vươn thẳng, mắt nhìn trừng trừng vào Nelly. Cả người bà như đang run lên bởi cơn thịnh nộ đã tích tụ từ nhiều năm. Không còn chút dấu vết nào của sự khúm núm lúc trước và Nelly bắt đầu cảm thấy bất an. Phản ứng thật là thái quá. Bà đã làm gì đâu ngoài nói ra sự thật. Là ai thì cũng phải học cách chấp nhận sự thật chứ. Bà đi vội ra cửa.

“Cút ra khỏi đây và đừng bao giở chường mặt tới nữa!”

Vera gần như rượt Nelly ra khỏi cửa và trước khi đóng sầm cửa lại trước mặt bà ta còn không quên ném theo cái phong bì. Nelly khó nhọc cúi xuống nhặt nó. Năm mươi nghìn không phải là thứ có thể vứt ngoài vỉa hè cho dù có bị mất mặt vì hàng xóm bắt đầu kéo rèm nhìn xuống. Họ đã nhìn thấy cảnh bà lồm cồm dưới vỉa hè. Đúng là đồ vô ơn! Vera hẳn sẽ lại khúm núm khi hết tiền và chẳng ai thèm mướn bà ta dọn dẹp nữa. Công việc của bà ta ở nhà Lorentz thế là chấm dứt và có lẽ ở các chỗ khác cũng vây. Nelly sẽ chờ xem Vera quỳ gối và lết tới văn phòng trợ cấp xã hội thế nào trước khi bà ra tay. Không ai dám xúc phạm Nelly Lorentz mà không bị trừng phạt.

—★—

Thật giống như đang phải lội nước. Tay chân hắn nặng trĩu và đơ ra sau một đêm nằm trên chiếc giường cứng trong phòng giam còn đầu óc thì ong ong vì thèm rượu. Anders nhìn quanh căn hộ. Sàn nhà đầy vết giày bẩn của cảnh sát đi lại khắp nơi. Nhưng hắn chẳng thèm để ý. Nhà có bẩn hay không hắn cũng chẳng quan tâm.

Hắn lôi từ trong tủ lạnh ra một lô sáu lon bia loại nặng rồi gieo mình xuống tấm đệm trong phòng khách. Hắn nằm ghé người, tì lên cánh tay trái và dùng tay phải mở nắp lon bia rồi thèm thuồng uống một hơi dài hết sạch. Hắn ném lon bia bay một vòng trên không trung rồi rơi xuống góc phòng. Sau khi nhu cầu cấp thiết đã được tạm thời giải quyết, hắn nằm hẳn xuống đệm, gối đầu lên hai tay. Hắn nhìn vô định lên trần nhà và cho phép bản thân chìm đắm trong những ký ức xa vời. Chỉ trong quá khứ, hắn mới thi thoảng tìm được chút thư thái trong tâm hồn. Giữa những khoảnh khắc ngắn ngủi đó, khi hồi tưởng về những ngày tươi đẹp đã qua, một nỗi đau đớn dữ dội không ngừng cứa vào trái tim hắn. Những chuyện diễn ra trong quá khứ, kỳ lạ thay, vừa quá đỗi xa vời lại vừa gần gũi, như là ngày hôm qua.

Trong ký ức của hắn, mặt trời luôn rực rỡ. Mặt đường nhựa ấm áp dưới gan bàn chân và môi hắn vẫn còn vị mằn mặn của muối lúc vừa bơi dưới biển lên. Lạ lùng thay, hắn không thể nhớ được bất cứ điều gì khác ngoài mùa hè. Không có những mùa đông. Không có những ngày âm u, mây giăng kín. Không có mưa. Chỉ có ánh mặt trời từ bầu trời xanh trong trẻo và cơn gió nhẹ làm lay động mặt gương sáng lấp lánh của biển cả.

Alex trong chiếc đầm mùa hè nhẹ nhàng, phấp phới trên bắp chân. Mái tóc vàng để dài, suôn thẳng chạm tới hông. Đôi khi hắn còn nhớ được cả mùi hương nồng nàn của cô ấy khiến mũi hắn phập phồng và cảm giác khao khát trỗi dậy. Mùi dâu, mùi nước biển, và mùi dầu gội thảo dược. Đôi khi còn lẫn cả mùi mồ hôi nhưng không hề khó chịu khi bọn họ cùng thi nhau đạp xe hay trèo lên những dốc đá cho tới lúc hai chân mỏi nhừ. Rồi bọn họ nằm ngửa trên đỉnh Veddeberget, hai chân hướng ra biển và hai tay khoanh lại trước bụng. Alex nằm giữa hai người bọn họ với mái tóc xõa tung, mắt nhìn lên bầu trời vời vợi. Thi thoảng, vào những dịp hiếm hoi, cô ấy sẽ nắm lấy tay hai người họ và trong giây lát ba người giống như chỉ là một.

Họ rất cẩn thận không để ai nhìn thấy. Phép mầu sẽ biến mất. Lời nguyền sẽ bị phá và họ sẽ không thể tiếp tục tách rời với thực tế nữa. Thực tế cuộc sống là thứ họ muốn trốn tránh bằng mọi cách. Cái thực tế ảm đạm xấu xí không có gì sánh được với thế giới mơ ước đầy ánh nắng mà họ có thể chung tay gầy dựng khi ở bên nhau. Thực tế là thứ họ không bao giờ nhắc tới. Thay vào đó, mỗi ngày trôi qua đều đầy ắp những trò chơi phù phiếm, những cuộc đối thoại phù phiếm. Họ xem nhẹ mọi thứ. Họ có thể giả vờ là những kẻ không thể tổn thương, không thể chinh phục và không thể chạm tới. Mỗi người bọn họ khi đứng riêng sẽ chẳng là gì. Nhưng khi đoàn kết lại, chính là Ba người lính ngự lâm pháo thủ. Người lớn chỉ là những sinh vật ngoại biên của vương quốc mơ ước đó, chỉ là những kẻ thừa thãi di chuyển xung quanh mà không ảnh hưởng gì tới bọn họ. Miệng họ vẫn chuyển động nhưng không phát ra âm thanh. Họ làm những cử chỉ và nét mặt hẳn muốn diễn tả điều gì đó nhưng hoàn toàn què quặt, vô nghĩa và lạc lõng với bối cảnh.

Anders khẽ mỉm cười trước những ký ức đó nhưng hắn dần dần bị lôi ra khỏi trạng thái mơ màng phân liệt của mình. Mót tiểu, và thế là hắn lại trở về với những mối lo của đời thường. Hắn ngồi dậy đi giải quyết vấn đề.

Bồn cầu đặt ngay dưới một chiếc gương đầy bụi và vết bẩn. Giải quyết xong, khi soi mình trong gương hắn nhìn thấy, lần đầu tiên trong nhiều năm, những gì mà người khác nhìn thấy. Tóc rớt bù, nhờn bẩn. Mặt tái nhợt, da xanh mét bệnh hoạn. Hàm răng trước thưa thớt vì nhiều năm không chăm sóc khiến hắn già đi hàng chục tuổi.

Thế là một quyết định đã được đưa ra trước khi hắn kịp nhận thức đầy đủ hành động của mình. Trong lúc dò dẫm kéo khóa quần, hắn đã biết bước tiếp theo phải làm gì. Ánh mắt hắn đầy quả quyết khi bước vào trong bếp. Sau khi lục lọi ngăn kéo bếp hắn tìm thấy một con dao lớn và chùi nó lên quần. Rổi hắn vào phòng ngủ và bắt đầu hạ những bức tranh trên tường xuống. Từng bức một, kết quả bấy nhiêu năm lao động miệt mài. Hắn chỉ giữ lại những bức mà hắn thỏa mãn nhất và vứt đi một loạt những bức không vừa mắt. Lưỡi dao chọc qua lớp vải dầu hết bức tranh này tới bức tranh khác. Hắn làm việc chậm rãi, bàn tay vững vàng cắt xẻ những bức tranh thành những mụn vải không còn có thể phân biệt được hình dáng lúc trước. Việc chém tranh hóa ra cũng khá nặng nhọc, tới khi dừng tay, mồ hôi dã lấm tấm trên lông mày hắn. Căn phòng giống như một bãi chiến trường của các sắc màu. Những vụn vải dầu phủ khắp sàn nhà còn các khung tranh trống hoác như những vòm lợi không răng.

—★—

“Sao anh biết Anders không phải thủ phạm sát hại Alex?” Erica hỏi.

“Một cô gái trong khu nhà Anders sống nhìn thấy anh ta trở về ngay trước bảy giờ mà vào lúc bảy giờ mười lăm Alex còn nói chuyện với mẹ của cô ấy. Anh ta không thể nào quay trở lại giết cô ấy trong khoảng thời gian ngắn như vậy. Nghĩa là chứng cứ bà Dagmar Petrén đưa ra chỉ có thế chứng tỏ việc anh ta xuất hiện tại ngôi nhà vào thời điểm Alex vẫn còn sống.”

“Thế còn các dấu vân tay và dấu chân tìm thấy trong buồng tắm thì sao?”

“Những tình tiết ấy cũng không chứng tỏ rằng anh ta đã giết Alex mà chỉ là anh có mặt ở đó sau khi cô ấy bị giết. Nói thế nào đi nữa thì cũng không có đủ chứng cớ để tạm giữ anh ta lâu hơn. Mellberg hẳn sẽ tóm cổ anh ta lần nữa vì vẫn tin rằng Anders là thủ phạm nhưng trước mắt vẫn phải thả anh ta ra nếu không thể nào cũng gặp rắc rối với luật sư. Anh thì vẫn luôn cho rằng có gì đó không ổn và diễn biến sự việc lại càng khẳng định nghi ngờ đó. Anders vẫn là đối tượng khả nghi nhưng có nhiều nghi vấn cho thấy cần phải tiếp tục mở rộng điều tra.”

“Vì thế mà chúng ta tới nhà Alex? Anh hy vọng sẽ tìm thấy gì ở đó?” Erica hỏi.

“Anh thực sự không biết. Anh chỉ cảm thấy cần phải có một hình dung rõ ràng hơn về chuyện đã xảy ra.”

“Birgit nói rằng Alex không thể trò chuyện với bà lâu hơn vì có khách đến. Nếu không phải Anders thì người khách đó là ai?”

“Thì mắc mớ chính là ở chỗ này, không phải sao?”

Patrik lái xe hơi quá nhanh theo cảm nhận của Erica, cô phải túm chặt lấy nắm cửa. Anh suýt phóng qua chỗ rẽ phía trước câu lạc bộ thuyền buồm, chỉ kịp ngoặt phải ở những giây cuối cùng, sém chút nữa thì tông vào hàng rào.

“Anh sợ là đi chậm một chút thì ngôi nhà sẽ biến mất à?” Erica mỉm cười yếu ớt.

“Ôi, xin lỗi em. Chỉ là anh có hơi kích động một chút.”

Anh giảm tốc độ một cách đáng kể và trên đoạn đường còn lại Erica không còn phải túm chặt lấy nắm cửa nữa. Cô vẫn không hiểu tại sao anh lại muốn dẫn cô theo nhưng cô không phản đối. Cô có thể có thêm thông tin cho cuốn sách.

Patrik đột ngột dừng lại trước cửa, vẻ mặt bối rối.

“Anh quên mất là anh không có chìa khóa. E là chúng ta sẽ không vào được bên trong. Mellberg sẽ nổi giận nếu lính của ông ta bị bắt quả tang vụng trộm trèo cửa sổ ”

Erica thở dài rồi cúi xuống tìm chìa khóa dưới tấm thảm. Cô lúc lắc chiếc chìa khóa trước mặt Patrik vẻ trêu ngươi rồi mở cửa nhường anh vào trước.

Ai đó đã bật hệ thống sưởi hoạt động trở lại, nhiệt độ bên trong ấm hơn hẳn bên ngoài. Họ cởi áo khoác để lên kệ tủ cạnh cầu thang.

“Giờ phải làm gì?” Erica khoanh tay nhìn Patrik vẻ dò hỏi.

“Đâu đó khoảng sau bảy giờ mười lăm phút, sau khi nói chuyện điện thoại với mẹ, Alex đã nuốt trọn một lượng thuốc ngủ lớn. Không có dấu hiệu đột nhập trái phép vì vậy nhiều khả năng khách đến là người quen. Người này sau đó đã có cơ hội chuốc thuốc ngủ cho cô ấy. Bằng cách nào? Hẳn là phải cùng ăn hay uống gì đó với cô ấy.”

Patrik vừa nói vừa đi tới đi lui trong phòng khách. Erica ngồi trên ghế sofa theo dõi anh với vẻ hứng thú.

“Thực ra,” anh dừng bước và giơ ngón trỏ lên, “khám nghiệm pháp y có thể cho chúng ta biết về bữa ăn sau cùng của cô ấy dựa trên những thành phần thu được trong dạ dày. Vậy Alexandra đã ăn gì vào buổi tối bị sát hại? Theo bên pháp y thì trong dạ dày của cô ấy có thành phần của cá bỏ lò và nước táo lên men. Trong thùng rác cũng tìm thấy một hộp cá bỏ lò Findus đã rỗng và một vỏ chai nước táo trên bàn bếp. Có một điểm hơi lạ là trong tủ lạnh còn tìm thấy hai phần phi lê bò lớn và trong lò là một đĩa khoai tây đông lạnh. Nhưng lò thì không bật và đĩa khoai tây vẫn sống. Còn có một chai vang trắng bên bàn bếp. Đã mở và uống một ít. Khoảng một ly.”

Patrik dùng ngón cái và ngón trỏ ước lượng phần rượu bị vơi đi trong chai.

“Nhưng không tìm thấy rượu trong dạ dày Alex?” Erica chống hai tay lên đầu gối, vươn người ra trước vẻ hào hứng.

“Không, chính xác là không. Vì Alex đang mang thai nên cô ấy hẳn đã uống nước táo thay vì rượu, vấn đề là ở chỗ, ai đã uống chỗ rượu đó?”

“Có bát đĩa bẩn nào không?”

“Có một chiếc đĩa, một chiếc nĩa và một con dao với dấu vết của món cá bỏ lò trên đó. Có hai chiếc ly trong bồn rửa. Một chiếc đầy dấu vân tay của Alex. Còn chiếc kia thì không có dấu vân tay.”

Anh dừng bước và ngồi xuống chiếc ghế dựa có tay ở trước mặt Erica, duỗi dài hai chân và khép hai tay trước bụng.

“Nghĩa là ai đó đã lau hết dấu vân tay trên chiếc ly kia.” Erica nói.

Cô cảm thấy mình đúng là thông minh xuất chúng khi ngồi đây thực hiện các phương pháp loại trừ trong khi Patrik thì đủ lịch sự để giả vờ như chưa từng nghĩ tới điều đó.

“Có vẻ như thế. Vì bên trong hai chiếc ly đều đã được rửa sạch nên không tìm thấy thuốc ngủ ở trong. Nhưng anh đoán là Alex đã uống chúng cùng nước táo.”

“Nhưng tại sao lại ăn cá bỏ lò một mình khi đã chuẩn bị một bữa tối linh đình với thịt bò phi lê trong bếp?”

“Vấn đề là ở chỗ đó. Tại sao một phụ nữ lại bỏ bữa tối hoành tráng và dùng đồ ăn sẵn trong lò vi sóng?”

“Bởi vì cô ấy chuẩn bị một bữa tối lãng mạn cho hai người nhưng đối tượng lại không tới.”

“Anh cũng đoán thế. Cô ấy chờ, chờ mãi, rốt cuộc cũng phải bỏ cuộc, đành cho đồ đông lạnh vào lò vi sóng quay. Chuyện này hoàn toàn có thể hiểu được, ăn bò phi lê một mình, chả thấy ngon.”

“Anders đúng là có tới đây nên anh ta hận không phải là người cô ấy mong đợi. Hay là cha của đứa bé?” Patrik nói tiếp.

“Giả thiết này có vẻ hợp lý nhất. Đúng là bi kịch. Cô ấy chuẩn bị bữa tối thịnh soạn nhất trên đời, để rượu sẵn vào trong tủ lạnh, có lẽ để uống mừng đứa bé, em cứ đoán thế đi, và rồi anh ta chẳng thèm xuất hiện. Cô ấy ngồi đó và đợi, đợi mãi. Câu hỏi đặt ra là, kẻ xuất hiện thế vào chỗ đó là ai?”

“Chúng ta cũng không thể loại bỏ khả năng đó chính là người cô ấy đang đợi. Anh ta có thể đến muộn hơn giờ hẹn,” Patrik nói.

“Đúng vậy. Ôi, thật tức quá đi mất, giá bốn bức tường này cũng biết nói thì có phải là tốt hơn không,” Erica nhìn quanh căn phòng.

Căn phòng rất dễ thương. Sạch sẽ, tươi mới. Trong không khí còn phảng phất mùi sơn. Màu sơn tường là một trong những màu Erica yêu thích nhất, lam nhạt, hơi ngả về xám, tương phản một cách sống động với màu trắng của khung cửa và đồ nội thất. Căn phòng tràn ngập cảm giác yên ả khiến cô những muốn tựa đầu vào lưng ghế và nhắm mắt lại. Cô đã nhìn thấy chiếc ghế sofa này ở cửa hàng nội thất House ở Stockholm nhưng với thu nhập của mình, cô chỉ dám mơ mà thôi. Chiếc ghế lớn, sâu và dày, khi ngồi đệm lún hẳn xuống. Nội thất hiện đại kết hợp với đồ cổ theo một cách đặc biệt có thẩm mỹ. Alex hẳn đã tìm thấy những món đồ cổ này trong quá ninh trùng tu lại ngôi nhà ở Göteborg. Phần lớn đổ cổ thuộc thời đại Gustav III vào những năm 1770 -1780. Erica phải cảm ơn IKEA vì nhờ họ cô mới biết phân biệt các dòng đổ cổ. Cô vẫn thường mơ ước có thể mua được vài món đồ trong dòng sản phẩm tái hiện phong cách thời kỳ này. Cô thở dài đầy ghen tị rồi chợt nhớ ra lý do tại sao mình có mặt ở đây. Lập tức, cảm giác ghen tị biến mất, không còn mảy may.

“Anh cho rằng đó hẳn là một người mà cô ấy quen biết, tình nhân hay một người nào đó, đến đây uống rượu với Alex rồi bỏ thuốc ngủ vào ly nước táo,” Erica nói.

“Ừ, đó chính là kịch bản đáng tin cậy nhất.”

“Và rồi sau đó thì sao? Anh nghĩ chuyện gì đã xảy ra? Sao cô ấy lại chết trong bồn tắm?”

Erica lún sâu thêm trong chiếc ghế sofa và gác hai chân lên bàn uống nước. Cô phải để dành tiền mua một cái ghế như thế này mới được. Trong khoảnh khắc cô đột nhiên nghĩ tới việc nếu bán nhà thì cô sẽ có tiền mua bất cứ thứ đồ đạc nào mình muốn. Nhưng cô lập tức xua ý nghĩ đó đi.

“Anh cho rằng kẻ sát nhân sẽ đợi Alex ngủ say, cởi quần áo cô ấy ra rồi kéo cô ấy vào phòng tắm.”

“Tại sao anh lại cho rằng thủ phạm đã kéo chứ không phải bế cô ấy vào phòng tắm?”

“Khám nghiệm tử thi cho thấy có những vết xước trên gót chân và vết bầm tím dưới cẳng tay cô ấy.”

Nói tới đây Patrik bỗng ngồi bật dậy trên ghế và nhìn Erica với vẻ mong đợi. “Anh có thể thử một việc không?”

“Còn xem đó là việc gì,” Erica thận trọng trả lời.

“Không hiểu em có thể thử đóng vai nạn nhân được không?”

“Ôi trời, anh thực sự cho rằng em đủ tài năng đảm nhiệm một vai như thế ư?” Cô nói vậy nhưng vẫn sẵn lòng đứng dậy.

“Không, không cần, em cứ ngồi ở đó. Nhiều khả năng hai người họ ngồi đây và Alex ngủ gật trên ghế sofa. Em có thể giả vờ lăn ra ngủ gục được không?”

Erica lầu bầu nhưng vẫn hành động theo lời yêu cầu. Khi Patrik bắt đầu kéo cô dậy thì cô mở mắt ra nói: “Anh không định cởi cả quần áo của em ra đấy chứ?”

“Ôi không, làm gì có chuyện đó. Anh sẽ không làm chuyện đó, anh cũng không có ý thế, ý anh là…” Anh bắt đầu trở nên lắp bắp và đỏ mặt.

“Không sao, em chỉ nói đùa thôi. Tiếp tục đi, giết em đi.”

Cô cảm thấy anh kéo cô trên sàn sau khi xô chiếc bàn nước sang bên cạnh. Anh bắt đầu kéo cô bằng cách túm lấy hai cổ tay nhưng có vẻ không thành công nên đành đổi sang hai cẳng tay và bắt đầu lôi cô về phía buồng ngủ. Cô lập tức nhận thức ra vấn đề trọng lượng của mình. Patrik hẳn nghĩ là cô phải nặng tới nửa tấn. Cô cố ăn gian một chút bằng cách tự đẩy thân mình về phía trước để cho có vẻ nhẹ hơn nhưng lại nhận được khiển trách từ Patrik.

Ôi, sao cô không tuân thủ chế độ ăn kiêng một cách chặt chẽ hơn trong mấy tuần qua hả giời? Thành thực mà nói, cô có áp dụng tí nào cái chế độ ăn kiêng đó đâu, ngược lại, cô vẫn ăn uống thả cửa. Lại thêm, khi Patrik kéo đi, áo của cô co lên để lộ một phần bụng thòi ra ngoài. Cô cố gắng hóp bụng lại bằng cách hít một hơi thật sâu nhưng thật không may là không thể nín thở được lâu.

Sàn nhà lát đá hoa trong buồng tắm lạnh toát dưới lưng cô khiến cô không tự chủ được mà rùng mình, nhưng không chỉ vì lạnh. Khi Patrik kéo được cô tới bên bồn tắm, anh cẩn thận thả cô xuống.

“Cũng khá trơn tru. Khá nặng nhưng không phải là không thể. Mà Alex thì nhẹ hơn em.”

Anh ấy thật là tế nhị, Erica thầm nghĩ trong lúc nằm dán xuống sàn nhà và không có cách nào kéo chiếc áo xuống che bụng.

“Bây giờ thủ phạm chỉ còn phải đặt cô ấy vào bồn tắm.

Anh toan nhấc chân Erica lên thì cô đứng bật dậy và chỉnh đốn lại quần áo.

“Không được, Patrik. Em từ chối tiếp tục vụ này. Ngày hôm nay em đã đủ xây xước rồi. Và có một điều chắc chắn là em sẽ không chui vào cái bồn tắm từng có thi thể của Alex này đâu.”

Anh miễn cưỡng chấp nhận sự phản kháng của cô và hai người rời buồng tắm trở lại phòng khách.

“Sau khi thủ phạm đặt Alex vào trong bổn tắm thì chỉ cần vặn nước rồi rạch cổ tay cô ấy bằng lưỡi dao cạo tìm thấy trong tủ thuốc. Rồi hắn chỉ việc dọn dẹp lại hiện trường. Rửa cốc, xóa các dấu tay. Trong lúc đó, Alex chảy máu tới chết trong buồng tắm. Người này phải nói là cực kỳ máu lạnh.”

“Còn hệ thống sưởi? Hẳn nó đã ngừng hoạt động khi cô ấy tới Fjällbacka?”

“Có vẻ như thế. Mà may là thế. Sẽ khó tìm bằng chứng từ thi thể nạn nhân nếu xác chết ở trong môi trường nhiệt độ bình thường suốt một tuần lễ. Ví dụ, sẽ không thể tìm thấy dấu tay của Anders trong trường hợp đó.”

Erica rùng mình. Việc lấy vân tay từ xác chết không phải là điều cô muốn nghĩ tới.

Hai người cùng lục soát phần còn lại của ngôi nhà. Erica dành thời gian kiểm tra kỹ càng phòng ngủ của Alex và Henrik do lần trước bị gián đoạn. Nhưng cô không tìm thấy gì đặc biệt. Cảm giác thiếu một vật gì đó vẫn bám riết trong đầu nhưng cô không thể nào tìm ra. Cô quyết định kể với Patrik và anh cũng có vẻ thất vọng y như cô. Cô rất hài lòng nhìn thấy vẻ mặt lo lắng của Patrik khi nghe tới đoạn có kẻ đột nhập vào nhà và cô buộc phải trốn trong tủ quần áo.

Patrik thở dài nặng nề rồi ngồi xuống mép giường, cố giúp cô tìm ra thứ bị mất trong trí nhớ.

“Nó to hay nhỏ?”

“Em không biết, nhưng có lẽ là nhỏ vì nếu không thì em sẽ nhận ra ngay, anh nghĩ có đúng không? Chẳng hạn hếu là cái giường bốn cột này thì em sẽ để ý ngay.”

Cô mỉm cười và ngồi xuống cạnh anh.

“Thế nó ở chỗ nào trong phòng? Cạnh cửa? Trên giường hay trên bàn?”

Patrik sờ tay lên miếng da nhỏ tìm thấy trên chiếc bàn đầu giường của Alex. Trông như phù hiệu của mệt câu lạc bộ với dòng chữ trẻ con nung trên đó: “L.N.L. 1976”. Khi lật mặt kia lên anh nhìn thấy vài chấm lờ mờ giống như vết máu khô. Không hiểu từ đâu mà có.

“Em không biết, Patrik. Nếu không em đã chẳng ngồi đây vò đầu bứt tóc.”

“Cô liếc gương mặt nhìn nghiêng của anh. Hàng lông mi sẫm và dài. Râu ria hoàn hảo. Vừa đủ tạo cảm giác nham nhám khi cọ vào, đủ ngắn để không gây khó chịu. Không hiểu chạm vào da cô thì sẽ có cảm giác như thế nào?

“Gì thế? Mặt anh có nhọ à?”

Patrik lo lắng đưa tay chùi miệng. Cô nhanh chóng quay đi chỗ khác, xấu hổ vì bị anh bắt gặp đang nhìn trộm. “Không có gì. Chỉ dính một tí sô cô la nhưng giờ thì hết rồi.”

Rồi hai người lại chìm trong im lặng.

“Anh nghĩ sao, chúng ta chắc chẳng tìm được gì nữa đâu, làm gì bây giờ?” Cuối cùng Erica lên tiếng.

“Ừ, chắc là không tìm thấy gì nữa. Nhưng nghe này, nhớ gọi ngay cho anh nếu em nhớ ra thứ gì bị mất nhé. Hẳn là thứ gì đó quan trọng tới mức người kia phải tới đây tìm, do đó cũng sẽ rất quan trọng đối với vụ án.”

Hai người khóa cửa lại cẩn thận và Erica lại đặt chìa khóa xuống dưới thảm.

“Em có cần anh đưa về không?”

“Thôi khỏi, cảm ơn anh. Em muốn đi dạo một chút.”

“Vậy hẹn em tối mai nhé,” Patrik cứ nhấp nhổm chuyển trọng lượng từ chân này sang chân khác như một cậu chàng mười lăm tuổi.

“Được rồi, hẹn anh tám giờ. Vác cái bụng thật đói tới nhé!” Erica nói.

“Anh sẽ cố. Nhưng anh chẳng dám hứa trước. Vì lúc này anh đang có cảm giác không bao giờ còn biết thế nào là đói nữa.” Patrik vừa vỗ bụng vừa mỉm cười, mắt hướng sang nhà bà Dagmar Petrén ở bên kia đường.

Erica mỉm cười vẫy tay chào khi anh lái chiếc Volvo rời đi. Cô cảm thấy trong lòng đã xốn xang cảm giác mong đợi, lại có chút gì đó bất an, nóng ruột, gần như sợ hãi. Cô bắt đầu quay bước về nhà, nhưng chưa được vài mét thì khựng lại. Một ý tưởng đột ngột xuất hiện và cần phải được kiểm chứng ngay lập tức. Cô quả quyết quay trở lại ngôi nhà, lấy chìa khóa, mở cửa rồi đi vào trong sau khi đã cẩn thận giũ tuyết ngoài cửa.

Phụ nữ sẽ làm gì khi người đàn ông cô ấy đang đợi không xuất hiện trong bữa tối lãng mạn? Dĩ nhiên là cô ấy sẽ gọi cho anh ta. Erica lầm bầm cầu mong Alex có một chiếc điện thoại hiện đại chứ không phải một chiếc điện thoại quay tay Bakelite cũ rích hay Cobra của những năm năm mươi. Thật may mắn, là một chiếc Doro đời mới treo trên tường bếp. Ngón tay run rẩy, cô khẽ ấn nút hiện lên cuộc gọi cuối cùng và thầm mong chưa ai kịp sử dụng chiếc điện thoại này kể từ khi Alex bị sát hại.

Điện thoại đổ chuông liên hồi. Sau bảy hồi chuông, đúng lúc cô vừa định ngắt cuộc gọi thì nghe thấy tiếng hộp thư thoại vang lên. Cô lắng nghe thông điệp rồi gác máy trước khi điện thoại kêu bíp để bắt đầu ghi âm. Mặt cô trở nên tái mét. Cô chậm chạp đặt điện thoại trở lại chỗ cũ. Cô dường như nghe thấy tiếng vỗ tay vang lên trong đầu vì các mảnh ghép trong câu đố đã trở về đúng vị trí của chúng. Đột nhiên cô biết chính xác thứ bị thiếu mất trong phòng ngủ của Alex là gì.

—★—

Mellberg giận sôi người. Ông ta cáu tiết đi lại sầm sập trong đồn. Nếu có thể trốn được, chắc cảnh sát trong đồn Tanumshede sẽ chui hết xuống gầm bàn. Nhưng người lớn ai lại làm thế nên họ đành chịu đựng một ngày toàn những lời mạt sát, chửi thề và các hành vi đối xử tàn tệ. Annika là nạn nhân đầu tiên. Mặc dù luôn tỏ ra cứng cỏi suốt mấy tháng nay kể từ khi Mellberg tới nhậm chức, nhưng lần này thiếu chút nữa là chị bật khóc. Cho tới bốn giờ chiều thì chị chịu hết nổi. Chị rời chỗ làm, dừng lại ở cửa hàng Konsum mua một hộp kem lớn rồi về nhà, bật ti vi lên, vừa xem chương trình làm đẹp vừa để nước mắt rơi xuống kem sô cô la. Lại là một trong những ngày kinh khủng ở chỗ làm.

Mellberg phát điên lên vì buộc phải phóng thích Anders Nilsson. Từng chân tơ kẽ tóc của ông ta đều cảm thấy Anders Nilsson là thủ phạm giết hại Alex Wijkner. Giá như ông ta có thêm chút thời gian riêng với hắn thì hẳn sẽ bắt được hắn phun ra sự thật. Thay vào đó, ông ta buộc phải thả hắn ra chỉ vì một nhân chứng chết tiệt nói rằng cô ta nhìn thấy hắn ngay trước khi chương trình truyền hình Hai thế giới tách biệt phát sóng. Nghĩa là hắn có mặt ở nhà vào lúc bảy giờ tối mà lúc bảy giờ mười lăm Alex vẫn còn nói chuyện với Birgit. Khốn kiếp.

Lại còn cái tên Patrik Hedström nữa. Liên tục phun ra một loạt ý tưởng điên rổ, rằng có thể ai đó chứ không phải Anders Nilsson đã sát hại người phụ nữ kia. Có một điều ông ta đã học được trong suốt bằng ấy năm làm cảnh sát là phần lớn sự việc luôn diễn ra đúng như vẻ bên ngoài. Không có những động cơ được giấu kín hay những âm mưu rắc rối. Chỉ là những tên khố rách áo ôm làm xáo trộn cuộc sống yên bình của những công dân trung thực. Chỉ cần tìm ra mấy gã khố rách áo ôm đó là tìm thấy thủ phạm, phương châm của ông là thế.

Ông ta ấn máy gọi Patrik.

“Cậu đang ở chỗ quái quỷ nào thế?” Chẳng việc gì phải tỏ ra nhã nhặn. “Cậu đang ngồi vểnh râu ở đâu đấy? Ở đây, tất cả chúng tôi đều đang làm việc chăm chỉ. Thêm giờ. Tôi không biết trước đây các cậu có biết thế nào là làm thêm giờ không? Nếu không thì để tôi dạy các cậu quen cho khỏi thắc mắc. Ở đây là không có thắc mắc gì hết nhé.”

Ông ta thấy dễ chịu hơn một chút sau khi trút được áp lực sang tên cảnh sát nhãi nhép kia. Cần phải ra oai với mấy tên cảnh sát trẻ này, không để cho chúng vênh vang tự đắc.

“Tôi muốn cậu lái xe tới nói chuyện với nhân chứng nhìn thấy Anders Nilsson ở nhà vào lúc bảy giờ. Phải dọa dẫm một chút xem có tìm ra được gì không. Đi ngay đi, mẹ kiếp.”

Ông ta dập manh ống nghe, khoan khoái vì cuộc đời đã đặt ông ta ở một vị trí có thể sai khiến người khác làm những việc khó chịu. Đột nhiên cuộc đời dường như xán lạn hơn hẳn. Mellberg dựa lưng vào ghế, kéo ngăn kéo trên cùng và lôi ra một hộp sô cô la. Với những ngón tay mập mạp như xúc xích, ông ta nhón một viên sô cô la rồi sung sướng bỏ tọt vào trong miệng. Nhai hết, ông ta lại làm viên nữa. Những người làm việc cực nhọc như ông ta cần phải được tiếp thêm năng lượng.

—★—

Patrik đã rẽ về hướng Tanumshede qua Grebbestad khi Mellberg gọi tới. Anh đành lùi vào cổng sân gôn Fällbacka rồi quay xe lại và thở dài. Trời đã sẫm tối mà anh còn có bao nhiêu việc phải làm ở đồn. Anh không nên dừng lại quá lâu ở Fjällbacka mới phải nhưng anh thực sự muốn ở bên Erica. Cứ như anh đã bị hút vào trường nam châm mà phải dùng hết khí lực và sức lực mới dứt ra được. Anh lại thở dài lần nữa. Nhưng lại chỉ từ một phía. Tệ thật. Mới qua khỏi tàn dư cuộc chia tay với Karin chưa được bao lâu đã phải đối đầu với chấn thương mới. Đúng là tự hủy hoại mình. Quá trình ly hôn kéo dài gần một năm. Đã có bao đêm anh ngồi đờ đẫn trước ti vi, xem hết bộ phim dài tập này tới bộ phim dài tập khác, từ Walker, Texas Ranger tới Mission Impossible. Ngay cả chương trình mua sắm trên truyền hình cũng dễ chịu hơn việc phải nằm một mình trên chiếc giường đôi, lăn đi lăn lại, trong đầu toàn là hình ảnh Karin thân mật với người đàn ông khác như trong một bộ phim cấp ba rẻ tiền. Tuy nhiên sự hấp dẫn lúc ban đầu với Karin còn thua xa cảm giác của anh đối với Erica lúc này. Lý lẽ thì thầm đầy ác ý bên tai anh: trèo cao thì ngã đau.

Như thường lệ, tới khúc cua trước khi rẽ vào Fjällbacka, anh lại lái xe quá nhanh. Vụ án này bắt đầu khiến anh căng thẳng. Anh trút giận lên chiếc xe và rơi vào một tình huống thực sự nguy hiểm khi tiếp tục phóng nhanh qua khúc cua cuối cùng trước khi đổ dốc xuống chỗ để bể ủ thức ăn gia súc trước kia. Ngày nay, cái bể đó không còn nữa mà trên đó mọc lên những ngôi nhà và nhà thuyền mới được xây theo phong cách truyền thống. Giá mỗi ngôi nhà lên tới hàng triệu kronor. Patrik vẫn không hết kinh ngạc trước việc người ta phải giàu tới mức nào mới có thể bỏ ra một số tiền lớn như vậy cho một cái nhà nghỉ mùa hè.

Một người đi xe máy từ đâu xuất hiện trên khúc cua khiến Patrik hoảng hốt ngoặt tay lái. Tim anh đập thình thịch và anh đạp phanh để giảm tốc độ xuống dưới mức quy định một chút. Nhìn qua gương hậu thấy người kia vẫn tiếp tục di chuyển anh mới yên tâm.

Anh đi tiếp, qua sân gôn mini và tới ngã tư chỗ có trạm xăng. Rồi anh rẽ trái vào khu căn hộ. Anh lại một lần nữa cảm thán trước vẻ xấu xí kinh khủng của mấy tòa nhà chung cư này. Những công trình màu nâu và trắng, xây dựng từ những năm sáu mươi, y hệt như mấy tòa nhà to đùng, vuông chằn chặn ở cửa Nam Fjällbacka. Anh không biết kiến trúc sư thiết kế có ý gì? Thử nghiệm xây dựng những tòa nhà càng xấu càng tốt? Hay chỉ đơn giản là ông ta cóc quan tâm? Rõ ràng đây là hậu quả cơn sốt xây hàng triệu ngôi nhà vào những năm sáu mươi phục vụ khẩu hiệu “Nhà ở cho tất cả mọi người”. Đáng nhẽ phải nói: “Nhà đẹp cho tất cả mọi người” mới phải.

Anh đỗ xe trong bãi rồi vào qua lối vào đầu tiên. Căn hộ số năm. Căn hộ của nhân chứng Jenny Rosén có cùng cầu thang với căn hộ của Anders. Và cùng ở trên lầu hai. Tới đầu cầu thang lầu hai thì anh bắt đầu thở dốc, thẩm nhủ dạo này thể dục thì ít mà cà phê bánh ngọt thì nhiều. Anh không phải là người quá chăm chút rèn luyện thể lực nhưng yếu ớt như hiện nay thì đúng là chưa từng xảy ra.

Patrik dừng lại một chút trước cửa nhà Anders và lắng nghe. Chẳng có chút tiếng động nào. Hoặc anh ta không có nhà hoặc lại xỉn lăn quay ra rồi.

Cửa nhà Jenny ở bên tay phải, đối diện nhà Anders. Cô đã thay bảng tên tiêu chuẩn bên ngoài bằng một bảng hiệu bằng gỗ với hai chữ Jenny và Max Rosén được khắc một cách văn hoa với những đóa hồng trang trí xung quanh. Vậy là cô gái này đã kết hôn.

Jenny gọi điện tới đồn cảnh sát làm chứng sáng nay nên anh hy vọng cô vẫn còn ở nhà. Cô hẳn không có nhà khi họ lần lượt gõ cửa từng nhà ngày hôm qua nhưng họ đã để lại danh thiếp và yêu cầu cô liên lạc. Đó là lý do tại sao mà tới tận hôm nay họ mới có thông tin về việc Anders ở nhà vào buổi tối ngày thứ Sáu lúc Alex bị giết.

Tiếng chuông cửa vang lên, tiếp theo là tiếng trẻ con hét ầm ĩ. Anh nghe thấy tiếng bước chân chạy rầm rập trong hành lang và có cảm giác như ai đó đang nhìn mình qua lỗ khóa cửa căn hộ. Tiếng mở khóa lạch cạch và rồi cánh cửa mở ra trước mắt anh.

“Có chuyện gì vậy?”

Một phụ nữ bế một đứa trẻ khoảng một tuổi xuất hiện trên ngưỡng cửa. Cô rất gầy, tóc vàng do nhuộm tẩy. Nhìn chân tóc có thể đoán màu tóc tự nhiên là đen hoặc nâu giống như màu nâu hạt dẻ của đôi mắt. Cô không trang điểm và trông có vẻ mệt mỏi. Cô mặc một chiếc quần thể thao cũ kỹ đã rão gối và mộc chiếc áo thun có logo Adidas to tướng ở phía trước.

“Cô là Jenny Rosén?”

“Vâng, đúng vậy. Có chuyện gì không?”

“Tôi là Patrik Hedström, bên cảnh sát. Cô đã gọi điện cho chúng tôi sáng nay và tôi muốn xác minh một chút những thông tin mà cô đã cung cấp.”

Anh nói khẽ để tránh bị hàng xóm ở căn hộ bên cạnh nghe thấy.

“Vào đi,” cô tránh sang một bên để anh bước vào.

Căn hộ rất nhỏ, phòng khách cũng là phòng ngủ luôn và rõ ràng là không có người đàn ông nào sống ở đây. Ngoài cậu bé một tuổi kia. Căn phòng bừng lên sắc hồng. Tất cả đều là màu hồng. Thảm, ri đô, khăn trải bàn, chụp đèn, tất tần tật đều màu hồng. Những họa tiết hoa hồng cũng vậy, xuất hiện khắp nơi, trên chụp đèn, giá nến, với mật độ quá dày đặc thành ra lãng phí và dư thừa. Những bức ảnh trên tường càng nhấn mạnh khía cạnh lãng mạn của chủ nhân. Những khuôn mặt phụ nữ mờ ảo và những cánh chim bay chấp chới. Thậm chí còn có bức ảnh một đứa trẻ đang khóc khi bò lên giường.

Họ ngồi xuống chiếc sofa bọc da màu trắng và ơn Chúa là cô không mời anh uống cà phê. Hôm nay anh đã tiêu thụ quá nhiều cà phê. Cô đặt đứa trẻ vào lòng nhưng thằng bé vặn vẹo thoát ra. Nên cô đặt nó xuống sàn và cậu bé bắt đầu chập chững đi lại trên đôi chân còn chưa vững vàng của mình.

Patrik thực sự sửng sốt vì cô gái còn quá trẻ. Có lẽ còn chưa qua tuổi vị thành niên, chắc là khoảng mười tám tuổi. Ở những thị trấn nhỏ như thế này, việc các cô gái chưa đầy hai mươi đã có một đến hai con cũng không phải chuyện hiếm gặp. Nghe cô gọi cậu bé là Max, anh liền kết luận bố của đứa bé không sống cùng với họ. Đây cũng không phải chuyện lạ. Những mối quan hệ tuổi học trò thường không vượt qua được thử thách khi một đứa trẻ ra đời.

Anh lấy sổ ghi chép ra.

“Vậy là ngày thứ Sáu cách đây hai tuần, ngày 22, cô nhìn thấy Anders Nilsson về nhà vào lúc bảy giờ phải không? Sao cô có thể chắc chắn như vậy về mặt thời gian?”

“Tôi không bao giờ bỏ qua một buổi phát sóng nào của chương trình Hai thế giới tách biệt. Nó phát sóng vào lúc bảy giờ và ngay trước đó tôi nghe thấy tiếng ồn ào bên ngoài. Phải nói là chẳng có gì bất thường. Ở cạnh nhà Anders thì lúc nào chẳng huyên náo. Các bạn nhậu của anh ta đến rồi đi suốt ngày, đôi khi còn có cả cảnh sát xuất hiện. Nhưng tôi vẫn nhìn qua lỗ cửa kiểm tra và nhìn thấy anh ta. Say không biết giời đất là gì nên anh ta cố mãi mà không mở được cửa, Vấn đề là anh ta phải đứng cách ổ khóa gần cả mét. Cuối cùng thì anh ta cũng mở được cửa rồi đi vào trong, cũng là lúc tôi nghe thấy nhạc hiệu chương trình Hai thế giới tách biệt nên vội vã trở vào xem.”

Cô gái ngậm một lọn tóc trong miệng và nhai đi nhai lại với vẻ căng thẳng. Anh nhìn thấy móng tay cô bị cắn cụt tới tận da. Trên mẩu móng tay cụt lủn còn sót lại nham nhở vài vệt sơn màu hồng tươi.

Max đã vững vàng đi được một vòng quanh bàn về phía Patrik và đang túm lấy gấu quần anh với vẻ đắc thắng.

“Bế, bế, bế,” thằng bé nói lắp bắp và Patrik quay sang nhìn Jenny vẻ chờ đợi.

“Anh có thể bế nó lên. Thằng bé rõ ràng rất thích anh.”

Patrik lóng ngóng nhấc cậu bé đặt lên đầu gốí mình và đưa cho nó một chùm chìa khóa để chơi. Cậu bé cười rộ lên, rạng rỡ như ánh mặt trời. Cậu bé cười với Patrik để hở hai chiếc răng cửa bé xíu như hai hạt gạo. Patrik cũng cười đáp lại và cảm thấy rộn rã trong lòng. Nếu chuyện kia không xảy ra thì có lẽ giờ này anh cũng đã có một cậu con trai như thế. Anh âu yếm xoa đầu cậu bé.

“Thằng bé được bao nhiêu tháng rồi?”

“Mười một tháng. Nó khiến tôi bận bịu suốt ngày.”

Gương mặt cô tràn ngập yêu thương khi nhìn con trai của mình và Patrik lập tức nhìn thấy một cô gái dịu dàng đằng sau vẻ ngoài mệt mỏi. Anh không thể hình dung ra việc làm một bà mẹ đơn thân ở tuổi cô sẽ nhọc nhằn đến thế nào. Lẽ ra cô phải ra ngoài, tiệc tùng, vui vẻ với bạn bè. Thay vào đó lại dành thời gian vào việc thay bỉm và dọn dẹp nhà cửa. Như thể minh chứng cho tình trạng căng thẳng của mình, cô gái rút từ bao thuốc trên bàn ra một điếu thuốc rồi châm lửa. Cô hít một hơi dài, sảng khoái rồi đưa bao thuốc cho Patrik. Anh lắc đầu. Quan điểm của anh rất rõ ràng về việc không hút thuốc trong phòng có trẻ em nhưng đây là việc riêng của người ta, nên anh không tiện nói. Cá nhân anh không bao giờ hiểu được vì sao người ta có thể ngồi một chỗ hút cái thứ hôi hám như thuốc lá.

“Lỡ anh ta về nhà rồi lại đi ra ngoài thì sao.”

“Tường trong tòa nhà này cách âm rất tệ nên có thể nghe thấy cả tiếng kim rơi ở nhà bên cạnh. Mọi người ở đây đều biết chính xác vào thời điểm nào thì ai đến, ai đi. Và tôi hoàn toàn chắc chắn Anders không hề ra ngoài nữa.”

Patrik hiểu rằng anh không thể moi thêm được thông tin nào nữa. Anh chi hỏi vì hiếu kỳ: “Cô có phản ứng gì khi nghe tin Anders bị tình nghi giết người?”

“Thật vớ vẩn.”

Cô lại hít một hơi thật dài rồi nhả khói thuốc thành những vòng tròn. Patrik phải kiềm chế lắm mới không lên tiếng về sự nguy hiểm của khói thuốc đối với những người xung quanh. Trên đầu gối anh, Max đang toàn tâm toàn ý cho chiếc khuyên treo chìa khóa vào miệng mút. Những ngón tay mũm mĩm giữ chặt lấy chùm chìa khóa và cậu bé thỉnh thoảng lại ngẩng đâu lên nhìn Patrik với vẻ biết ơn về món đồ chơi đáng yêu.

Jenny nói tiếp: “Anders đúng là một kẻ bỏ đi nhưng anh ta chẳng thể hại ai. Anh ta là một người biết điều. Thỉnh thoảng anh ta vẫn nhấn chuông nhà tôi xin một điếu thuốc, dù say hay tỉnh, anh ta luôn tỏ ra biết điều. Tôi thậm chí còn để anh ta trông Max mấy lần khi cần phải đi chợ. Tất nhiên là khi anh ta hoàn toàn tỉnh táo. Chứ không thì ai dám.”

Cô dụi điếu thuốc vào chiếc gạt tàn đã đầy ứ.

“Thật ra mấy kẻ nghiện rượu ở đây chẳng gây ra chuyện gì xấu xa. Họ chỉ là những kẻ bất hạnh, tụ tập uống rượu cho quên đời. Người bị hại duy nhất chính là bản thân họ.”

Cô khẽ hất đầu cho những lọn tóc khỏi xòa xuống mặt rồi với tay lấy bao thuốc. Những ngón tay cô đã trở nên vàng xỉn vì thuốc lá và điếu thuốc thứ hai có vẻ cũng ngon lành chẳng kém gì điếu đầu tiên. Patrik bắt đầu có cảm giác bị hun khói và biết sẽ chẳng thu thập được thêm thông tin hữu ích nào từ phía Jenny. Max tỏ ý phản đối khi bị nhấc khỏi đầu gối Patrik và trao trả lại cho mẹ.

“Cảm ơn cô đã giúp đỡ. Chúng ta có lẽ sẽ còn cơ hội gặp lại.”

“Được thôi, tôi vẫn luôn ở đây. Sẽ chẳng đi đâu cả.”

Điếu thuốc đang lụi dần trong gạt tàn nhả một làn khói quanh quất về phía Max lúc này đang nheo mắt vẻ khó chịu. Cậu bé vẫn đang nhai chùm chìa khóa và nhìn Patrik đầy thách thức xem anh có dám lấy lại không. Patrik cẩn thận gỡ chùm chìa khóa ra nhưng hai cái răng cửa nhỏ như hạt gạo kia hóa ra lại vô cùng chắc chắn. Mấy chiếc chìa khóa dính đầy dãi nên rất trơn, Anh thận trọng kéo mạnh hơn một chút khiến cậu bé gầm gừ tức tối. Đã quá quen với những tình huống như vậy, Jenny cương quyết giữ chặt lấy cậu bé và khéo léo lấy được chùm chìa khóa cho Patrik. Max bắt đầu la hét thảm thiết, bày tỏ nỗi bất bình trước diễn biến sự việc. Patrik tóm lấy chùm chìa khóa và kín đáo chùi chúng vào quần trước khi bỏ vào túi áo vest.

Jenny và tiếng la hét của Max theo anh ra tới cửa. Trước khi cánh cửa đóng lại, anh còn kịp nhìn thấy những giọt nước mắt to tướng lăn dài trẽn đôi má phúng phình của cậu bé. Trái tim anh lại như đang nhói lên lần nữa.

—★—

Chỉ còn lại một mình anh, ngôi nhà trở nên quá rộng. Henrik lang thang từ phòng này sang phòng khác. Mọi thứ trong ngôi nhà đều gợi nhớ tới Alexandra. Cô ấy đã yêu và chăm chút ngôi nhà tới từng chi tiết nhỏ nhất. Đôi khi anh vẫn tự hỏi không biết có phải cô lấy anh vì ngôi nhà. Chỉ khi anh mang cô tới đây, đối với cô, mối quan hệ của họ mới bắt đầu trở nên nghiêm túc. Còn với anh thì kể từ lần đầu tiên nhìn thấy Alex trong buổi gặp gỡ sinh viên nước ngoài ở trường đại học, tình cảm của anh đã chân thành. Tóc vàng, cao ráo, thái độ xa cách của cô đã thu hút anh hơn bất cứ người nào anh từng gặp. Anh chưa từng ham muốn thứ gì trên đời như ham muốn Alex. Mà anh vốn đã quen với việc có được bất cứ thứ gì mình muốn.

Bố mẹ anh thì quá bận rộn nên chẳng quan tâm tới việc riêng của con trai. Những lúc không bận việc kinh doanh thì họ phải tham gia các hoạt động xã hội triền miên. Các buổi lễ từ thiện, tiệc chiêu đãi hay ăn tối với đối tác. Henrik sẽ phải ngoan ngoãn ở nhà với người trông trẻ. Thứ anh nhớ nhất về mẹ mình là mùi nước hoa của bà khi bà hôn tạm biệt anh, trong lúc đầu óc bà đã trôi dạt về phía các lễ hội đình đám. Bù lại, chỉ cần anh chỉ tay vào bất cứ thứ gì thì anh lập tức có nó. Anh chưa bao giờ bị từ chối một món đồ nào, nhưng đó là một kiểu ban phát lạnh lùng, không tình cảm, giống như người ta vẫn thản nhiên vuốt lưng một con chó đang ngoe nguẩy đòi được quan tâm.

Alex là thứ đầu tiên trong đời Henrik không thể muốn là có được. Cô một mực khép kín, không thể tiếp cận, vì vậy càng trở nên hấp dẫn khôn cưỡng. Anh đã tán tỉnh cô một cách dồn dập và ngoan cố. Tặng hoa, mời đi ăn, gửi quà và những lời tán dương. Chưa có gì là anh chưa thử. Ấy vậy mà cô chỉ miễn cưỡng cho phép anh tán tỉnh và dần dần tiến tới một mối quan hệ. Cô cũng không hẳn tỏ ra phản đối vì anh chưa khi nào cưỡng ép cô nhưng cô rất lãnh đạm. Cho tới khi anh dẫn cô về Göteborg vào mùa hè ấy, khi họ bước vào ngôi nhà trên đảo Särö lần đầu tiên thì cô mới bắt đầu tỏ ra chủ động hơn trong mối quan hệ giữa hai người. Cô đáp trả lại vòng tay ôm ấp của anh với vẻ nhiệt thành mới và anh cảm thấy hạnh phúc hơn bao giờ hết. Họ kết hôn vào chính mùa hè đó ở Thụy Điển chỉ sau vài tháng quen biết. Sau đó hai người trở lại Pháp để hoàn thành năm học cuối cùng, và tốt nghiệp, rồi chuyển về ở hẳn Särö.

Giờ nghĩ lại anh mới nhận ra rằng thời điểm duy nhất anh thấy cô thực sự hạnh phúc là khi cô sửa sang lại nội thất ngôi nhà. Anh ngồi xuống một chiếc ghế Chesterfield lớn trong phòng đọc sách, ngả đầu ra sau và nhắm mắt lại. Những hình ảnh của Alex lần lượt hiện lên như những thước phim cũ. Anh cảm thấy lớp da bọc lành lạnh và khô cứng dưới gan bàn tay, ngón tay trỏ của anh khẽ lần theo một vết rạn lâu năm giờ đã thành một đường rãnh lớn.

Anh nhớ nhất là những nụ cười hoàn toàn khác biệt của cô. Khi cô tìm thấy một món đồ cho ngôi nhà đúng ý cô đang tìm kiếm hay khi cô cắt bỏ lớp giấy dán tường cũ và thấy lớp giấy dán tường gốc vẫn còn tốt thì nụ cười của cô rạng rỡ và chân thành. Khi anh hôn lên gáy cô, vuốt má cô và nói với cô rằng anh yêu cô biết bao thì cô cũng sẽ mỉm cười - dù chỉ đôi ba lần. Nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Và nụ cười của cô lúc đó là một nụ cười mà anh ngày càng cảm thấy căm ghét - một nụ cười xa lạ, không chân thành. Sau đó, cô sẽ quay đi và anh cảm nhận được những bí mật mà cô che giấu đang ngoe nguẩy như những con rắn độc dưới vẻ ngoài lãnh đạm ấy.

Anh không bao giờ hỏi cô bất cứ điều gì. Chỉ vì hèn nhát. Anh sợ sẽ làm dấy lên một loạt phản ứng dây chuyền mà anh chưa sẵn sàng gánh chịu hậu quả. Ít nhất thì có được thể xác cô ở bên cạnh là tốt lắm rồi, với hy vọng dấn dần sẽ cảm hóa được cô hoàn toàn. Anh cũng đã chuẩn bị tinh thần cho việc mất đi tất cả nhưng ít nhất cũng giữ được một phần nào đó của cô. Chỉ cần một phần nhỏ của Alex là đủ. Anh yêu cô tới nhường nào.

Anh nhìn quanh phòng đọc. Sách phủ kín tường, những quyển sách mà cô khổ công tìm kiếm từ tất cả các tiệm sách cổ ở Göteborg chỉ để đem về đây trưng bày. Ngoài những quyển sách giáo khoa ở trường đại học, anh không thể nhớ nổi đã từng nhìn thấy cô đọc bất kỳ quyển sách nào khác. Có lẽ cô đã đủ đau thương nên không cần phải tham khảo thêm nỗi đau của người khác.

Điều khiến anh khó chấp nhận nhất chính là việc mang thai.

Mỗi khi anh đề cập tới việc sinh con là cô lại lắc đầu nguầy nguậy. Cô không muốn đưa con mình tới một thế giới tồi tệ như thế giới này, cô đã nói với anh như thế.

Anh cũng chấp nhận việc cô có một người đàn ông khác. Henrik biết Alex sẽ không hào hứng lái xe về Fjällbacka mỗi cuối tuần như thế chỉ để cô đơn một mình, nhưng anh có thể chịu đựng được điều đó. Cuộc sống tình dục của họ đã thực sự chấm dứt từ hơn một năm trước. Điều đó anh cũng chịu đựng được. Ngay cả cái chết của cô, cùng với thời gian anh cũng sẽ học được cách chấp nhận nó. Nhưng anh không thể nào chấp nhận được việc cô đã mang thai đứa con của một người đàn ông khác trong khi từ chối mang thai đứa con của anh. Điều này vẫn luôn hành hạ anh hằng đêm. Khiến anh trăn trở, trằn trọc, toàn thần đẫm mồ hôi nhưng không tài nào chợp mắt được. Anh bắt đầu có những quầng thâm dưới mắt và sụt mất nhiều cân. Anh có cảm giác giống như một sợi dây chun không ngừng căng ra và có ngày sẽ đứt phựt. Cho tới giờ, anh vẫn để tang cô mà chưa nhỏ một giọt nước mắt. Nhưng lúc này, Henrik Wijkner vục mặt vào hai bàn tay và bắt đầu òa khóc.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của camilla lackberg