Công Chúa Băng

Lượt đọc: 1708 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

Những lời buộc tội, mạt sát, xúc phạm đều trôi đi như nước. Chỉ mấy tiếng đồng hồ miệt thị sao có thể so được bằng ấy năm tội lỗi? Chỉ mấy tiếng đồng hồ miệt thị sao có thể so với một đời thiếu vắng công chúa băng?

Hắn cười vào những nỗ lực thảm hại khiến hắn phải gánh tội. Hắn chẳng có lý do gì để làm điều đó. Chừng nào hắn còn nghĩ vậy thì họ sẽ chẳng làm gì được hắn.

Nhưng có lẽ cô ấy nói đúng. Có lẽ ngày đền tội cuối cùng đã tới. Nhưng không giống như cô ấy, hắn biết rằng sự phản xét không thông qua sự hiện diện của con người. Thứ duy nhất có thể phán xét hắn là một cái gì đó lớn lao hơn loài người, hơn xác thịt, tương tự như linh hồn. Hắn cho rằng, thứ duy nhất có thể phán xét hắn là một người có thể nhìn thấu linh hồn hắn.

Thật kỳ lạ khi những cảm xúc hoàn toàn trái ngược có thể kết lại thành một cảm giác hoàn toàn mới mẻ. Yêu thương và thù hận trở thành lãnh đạm. Thù hận và tha thứ trở thành cương quyết. Ngọt ngào và cay đắng trở thành ưu phiền, một nỗi ưu phiền sâu sắc tới mức có thể làm tan nát cõi lòng. Với hắn, cô ấy luôn là một sự pha trộn hoàn hảo giữa ánh sáng và bóng tối. Cô ấy chính là một Janus có hai bộ mặt, một thấu hiểu và một phán xét. Đôi khi cô ấy bao vây hắn bằng những nụ hôn nóng bỏng bất chấp vẻ ngoài kinh tởm của hắn. Đôi khi cô ấy thù ghét và mạt sát hắn chính vì vẻ ngoài đó. Những mâu thuẫn trong tính cách của cô ấy đối chọi nhau không lúc nào ngừng nghỉ. Lần cuối cùng hắn nhìn thấy cô ấy chính là lần hắn cảm thấy yêu cô ấy nhiều nhất. Cuối cùng, cô ấy cũng thuộc về hắn trọn vẹn. Cuối cùng cô ấy cũng thuộc về hắn hoàn toàn, để hắn có thể làm những gì mình muốn. Được yêu hay ghét. Để sự đối lập không xảy ra một lần nào nữa, hắn thì yêu mà cô ấy lại thờ ơ.

Trước đây, hắn giống như đã yêu phải một tấm mạng che mặt. Trong suốt, đầy cám dỗ và khó nắm bắt. Lần cuối cùng hắn nhìn thấy cô ấy, tấm mạng kia đã mất đi vầng hào quang bí ẩn, chỉ còn lại một con người bằng da bằng thịt. Nhưng điều đó khiến việc tiếp cận cô ấy trở nên khả thi hơn. Đó là lần đầu tiên hắn đã nhận ra cô ấy là ai. Hắn đã chạm vào cơ thể lạnh lẽo, cứng đờ của cô ấy và cảm nhận được linh hồn vẫn lẩn khuất đâu đó bên trong nhà tù băng giá này. Hắn chưa khi nào yêu cô ấy nhiều như lúc đó. Giờ thì đã tới lúc hắn phải đối diện với vận mạng của mình. Hắn hy vọng số phận sẽ có một hành động bao dung. Nhưng chắc là không.

—★—

Tiếng chuông điện thoại đánh thức cô dậy. Người ta vẫn có thể gọi điện vào giờ này cơ đấy.

“Erica Falck đây.”

“Chị, là em Anna.” Giọng Anna nghe đầy thận trọng. Cũng đúng thôi, Erica thầm nghĩ.

“Chào em,” Erica cũng không định dễ dàng bỏ qua cho em gái mình.

“Chị thế nào?” Anna giống như đang dò dẫm đi trên bãi mìn.

“Cũng được, cảm ơn em. Em thì sao?”

“Cảm ơn chị, mọi chuyện cũng ổn. Sách của chị đến đâu rồi?”

“Cũng có lúc này lúc kia. Nhưng nói chung cũng có tiến triển. Lũ trẻ ổn cả chứ?” Erica quyết định cho em gái một cơ hội.

“Emma bị cảm lạnh khá nặng nhưng bệnh đường ruột của Adrian thì có vẻ đã khá hơn. Ít nhất mỗi đêm em cũng có thể chợp mắt được một, hai tiếng.”

Anna cười nhưng Erica lại nghe thấy trong tiếng cười của em gái ẩn đầy chua xót.

Hai người im lặng một lúc không biết nói gì.

“Chị biết đấy, chúng ta phải nói chuyện về ngôi nhà.”

“Ừ, chị cũng nghĩ thế.” Đến lượt Erica cảm thấy chua xót.

“Chúng ta phải bán nó thôi, Erica. Nếu chị không mua được phần của em thì chúng ta sẽ phải bán nó đi.”

Khi Erica không trả lời, Anna hấp tấp tuôn một tràng: “Lucas đã nói chuyện với bên môi giới nhà đất và cho rằng chúng ta nên ra giá ba triệu. Ba triệu đấy Erica, chị có hình dung nổi không? Với một triệu rưỡi chị có thể yên tâm thảnh thơi mà viết lách không cần phải lo về tài chính nữa. Kiếm sống bằng nghề viết lách hẳn không dễ dàng. Mỗi quyển sách chị in được bao nhiêu bản? Hai nghìn hay ba nghìn? Mà mỗi quyển thì giá bao nhiêu? Chị không hiểu rằng đây cũng chính là cơ hội lớn cho chị sao? Chị lúc nào cũng nói về việc muốn viết tiểu thuyết. Với số tiền ấy thì chị sẽ có thời gian để làm điều đó. Bên môi giới nói chúng ta có thể chờ rồi đưa ngôi nhà ra thị trường vào tháng Tư hay tháng Năm để bán được giá cao nhất, nhưng khi đã tung ra thị trường rồi thì chỉ vài tuần lễ là sẽ bán được. Chị cũng hiểu rằng chúng ta buộc phải làm thế, đúng không?” Giọng Anna có vẻ van nài - nhưng tâm trạng Erica đang không được vui vẻ cho lắm. Phát hiện đêm trước khiến cô thức trắng và lo lắng tới gần sáng. Cô cảm thấy bị phản bội, tâm trạng vì thế mà trở nên cáu kỉnh.

“Không, chị không tài nào hiểu được chuyện này, Anna. Đó là nhà của bố mẹ chúng ta. Chúng ta đã lớn lên ở đây. Bố mẹ đã mua ngôi nhà này lúc mới cưới. Họ yêu ngôi nhà này. Và chị cũng vậy, Anna. Em không thể làm thế.”

“Nhưng số tiền đó…”

“Chị cóc quan tâm tới tiền! Từ trước tới nay chị vẫn xoay xở được và sẽ tiếp tục làm thế.” Erica giận tới mức giọng nói bắt đầu run lên.

“Nhưng Erica, chị phải hiểu là chị không thể bắt em cũng giữ ngôi nhà khi mà em không muốn. Dù sao một nửa ngôi nhà cũng là của em.”

“Nếu em là người muốn bán nhà thì chị nghĩ mình sẽ chấp nhận dù rất buồn. Vấn đề là chị biết, đó chỉ là ý kiến của một người khác. Lucas mới là người muốn bán nhà chứ không phải em. Em thậm chí chẳng biết mình muốn gì, đúng không?”

Erica cũng chẳng thèm chờ Anna trả lời mà nói tiếp: “Và chị sẽ không để Lucas Maxwell điều khiển đời mình. Chồng em là một tên rác rưởi cực kỳ khốn nạn – Còn em thì đáng ra phải vác mặt tới đây giúp chị soạn lại đồ đạc của bố mẹ từ lâu rồi chứ. Chị đã ở đây hàng tuần rồi, cố sắp xếp mọi thứ mà mới chỉ làm xong một nửa. Thật không công bằng khi chị phải một mình làm hết mọi việc. Nếu em bận dính vào bếp tới mức không thể có thời gian thu dọn kỷ vật của bố mẹ thì em thực sự nên nghiêm túc mà suy nghĩ xem đó có phải là cách mà em muốn sống nửa đời còn lại của mình không?”

Erica dập máy mạnh tới mức ống nghe chực văng ra khỏi ổ. Bản thân cô cũng run lên bần bật vì giận dữ.

—★—

Ở Stockholm, Anna ngồi trên sàn nhà với điện thoại trên tay. Lucas đi làm còn lũ trẻ đang ngủ nên cô mới tranh thủ chút rảnh rỗi để gọi điện cho Erica. Đây là cuộc trò chuyện cô đã cố tình trì hoãn nhiều lần cho tới khi Lucas bắt đầu hối thúc cô phải gọi cho Erica về việc bán nhà. Cuối cùng thì cô cũng đầu hàng.

Anna có cảm giác như bị cắt xé ra làm nghìn mảnh, và lôi đi theo những hướng khác nhau. Cô yêu quý Erica và ngôi nhà ở Fjällbacka. Nhưng Erica không hiểu rằng cô phải đặt gia đình mình lên trước. Không gì là cô không thể làm hay hy sinh vì con cái và nếu cái giá phải trả để khiến Lucas hạnh phúc là hy sinh tình cảm chị em thì cô cũng đành chấp nhận. Emma và Adrian là lý do duy nhất để cô tiếp tục thức dậy mỗi sáng, là lý do duy nhất khiến cô tiếp tục sống trên đời này. Nếu cô có thể làm Lucas hạnh phúc thì mọi chuyện sẽ được giải quyết. Cô vẫn biết thế. Chỉ tại cô quá khó tính và không làm theo những gì anh muốn nên anh buộc phải dữ dằn với cô. Nếu cô có thể tặng anh món quà này, hy sinh ngôi nhà của bố mẹ vì anh thì anh sẽ hiểu ra rằng cô sẽ sẵn sàng làm bất cứ thứ gì cho anh và gia đinh này. Và rồi mọi chuyện sẽ trở lại như trước đây.

Nhưng sâu thẳm trong lòng cô lại vang lên một lý lẽ khác, hoàn toàn trái ngược. Anna gục đầu xuống và khóc, dùng nước mắt nhấn chìm đi lý lẽ yếu ớt kia. Cô để mặc chiếc điện thoại chỏng chơ trên sàn nhà.

—★—

Erica bực bội đạp chăn ra rồi tung hai chân xuống cạnh giường. Cô có chút hối hận vì đã nặng lời với Anna nhưng tâm trạng không tốt cùng với việc thiếu ngủ khiến cô hoàn toàn mất tỉnh táo. Cô cố gọi lại cho Anna để cứu vãn nhưng máy bận liên tục.

“Khốn thật!”

Cô liền đạp cho chiếc ghế đầu trước bàn trang điểm một phát nhưng không hề cảm thấy dễ chịu hơn, ngược lại còn khiến ngón chân cái đau điếng phải nhảy lò cò trên sàn nhà. Có khi còn hơn cả đau đẻ. Sau khi cơn đau cuối cùng cũng dịu đi, cô miễn cưỡng đứng lên bàn cân.

Cô biết là cô không nên cân đo lúc này, nhưng lại không cưỡng nổi mong muốn chấn chỉnh bản thân về số cân nặng hiện giờ. Cô cởi chiếc áo phông mặc đi ngủ. Dù sao cũng đỡ đi được mấy gam và không hiểu quần lót thì có làm tăng thêm gam nào hay không. Chắc là không. Thế nên cô bước lên cân, trước hết là chân phải, giữ lại một ít trọng lượng ở chân trái trên sàn nhà. Từ từ cô chuyển hết cân nặng sang chân phải và khi kim trọng lượng nhích tới số sáu mươi kí lô thì cô thầm mong nó dừng lại ở chỗ đó. Nhưng không. Khi rốt cuộc cô đặt cả hai chân lên cân thì nó không thương tiếc mà chạm tới vạch bảy mươi ba kí lô. Thôi được, đúng như cô lo ngại, lại tăng cân. Cô đoán là một cân nhưng hóa ra cô đã tăng thêm hai cân so với lần trước, vào cái buổi sáng cô tìm thấy Alex.

Từ đó tới giờ cô luôn cảm thấy thật không cần thiết phải cân làm gì. Chẳng phải vì cô không nhận ra mình tăng cân khi nhìn vào vòng hai, nhưng chừng nào chưa thấy bằng chứng rõ ràng thì cô vẫn chọn cách trốn tránh sự thật. Cô vẫn luôn lấy lý do quần áo bị chật là do giặt ở nhiệt độ quá cao khiến chúng co lại hay tủ quá ẩm. Nhưng lúc này không thể viện những lý do vô vọng như thế nữa và cô những định hoãn lại cuộc hẹn với Patrik. Cô muốn có cảm giác xinh đẹp, gợi tình và thanh mảnh khi gặp anh chứ chứ không phải béo ú lên như thế này. Cô ủ rũ nhìn xuống bụng và cố gắng hít thở thật sâu cho nó hóp lại. Vô ích. Cô nhìn dáng đứng nghiêm của mình trong gương và lần này cố phệ bụng ra hết mức có thể. Hình ảnh này thật xứng với tâm trạng hiện thời của cô.

Cô thở dài và lôi ra một chiếc quần thể thao thùng thình, cạp rộng rãi mặc vào cùng với chiếc áo thun lúc nãy. Cô tự hứa bắt đầu từ thứ hai sẽ làm gì đó để giải quyết vấn đề cân nặng của mình. Bắt đầu từ bây giờ thì không hợp lý vì cô đã lên kế hoạch chuẩn bị một bữa tối ba món hoàn chỉnh và cô phải thừa nhận rằng nếu muốn quyến rũ một người đàn ông bằng tài nấu nướng của mình thì bơ với kem chính là những nguyên liệu chủ chốt. Với lại ngày thứ Hai rất tốt cho việc bắt đầu một cuộc đời mới. Đã trăm ngàn lần cô trang trọng hứa với bản thân sẽ bắt đầu tập thể dục và thực hiện chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt vào một ngày thứ Hai nào đó. Nhưng không phải là hôm nay.

Một vấn đề nghiêm trọng hơn nữa là câu chuyện khiến cô lo lắng tới phát bệnh từ hôm qua tới giờ. Cô đã nghĩ tới mọi phương thức, tự hỏi phải làm gì mà không tìm ra giải pháp. Cô đột nhiên phát hiện ra một chuyện mà cô thực sự không muốn biết.

Cà phê bắt đầu tỏa mùi thơm, cuộc đời có tươi sáng hơn một chút. Sức cứu rỗi của đồ uống thật đáng kinh ngạc. Cô rót cho mình một ly cà phê rồi uống không đường ngay tại bàn bếp với vẻ hưởng thụ khoan khoái. Cô không bao giờ ăn nhiều vào bữa sáng, để còn dành chỗ cho ít calo vào tối nay.

Chuông cửa vang lên khiến cô giật mình sửng sốt, cà phê bắn cả lên áo. Cô chửi thề ầm ĩ, không hiểu ai lại đến vào giờ này cơ chứ. Cô nhìn lên đồng hồ bếp. Tám giờ rưỡi sáng. Cô đặt ly cà phê xuống và ra mở cửa. Julia Carlgren đứng trên ngưỡng cửa, đang xoa hai cánh tay cho khỏi rét

“Có chuyện gì vậy?” Giọng Erica đầy vẻ dò xét.

“Xin chào!” Julia đáp lại rồi im lặng.

Erica tự hỏi em gái Alex đang làm gì trước cửa nhà cô vào tám rưỡi sáng ngày thứ Ba nhưng không nói gì mà theo phép lịch sự mời Julia vào trong.

Julia nhanh nhẹn bước vào, treo áo khoác và khăn lên rồi đi vào phòng khách trước cả Erica.

“Có thể xin chị một ly cà phê đang thơm lừng lên kia không?”

“Dĩ nhiên rồi, để tôi đi rót cho cô một ly.”

Trong bếp, an toàn ngoài tầm ngắm của Julia, Erica vừa rót cà phê vừa trợn mắt lên. Cô gái này thật có gì đó không bình thường.

Erica đưa ly cà phê cho Julia và mời cô gái ngồi xuống một chiếc ghế mây ngoài hiên. Họ uống cà phê trong im lặng. Erica quyết định chờ Julia chủ động. Julia sẽ tự tiếp cận vấn đề và giải thích lý do xuất hiện ở đây. Phải sau mấy phút gượng gạo Julia mới lên tiếng.

“Hiện giờ chị sống ở đây à?”

“Không, cũng không hẳn. Tôi vẫn ở Stockholm. Tôi chỉ về đây thu xếp những việc liên quan tới ngôi nhà.”

“Tôi cũng có nghe nói về chuyện đó, xin chia buồn với chị.”

“Cảm ơn cô. Tôi cũng xin chia buồn với cô.”

Julia khẽ cười một cách lạ lùng khiến Erica ngạc nhiên và thấy hơi thất thố. Cô nhớ lại tờ giấy tìm thấy trong sọt rác ở nhà Nelly Lorentz và tự hỏi không hiểu phải giải các câu đối này như thế nào.

“Chị hẳn đang muốn biết tại sao tôi lại tới đây?” Julia nhìn Erica với đôi mắt lạ lùng, đầy vẻ kiên định. Cô gái gần như không chớp mắt.

Erica lại một lần nữa sửng sốt trước sự khác biệt khủng khiếp giữa Julia và Alex. Da mặt Julia đầy những vết tích của mụn bọc và mái tóc thì nham nhở như tự cắt bằng kéo bấm móng tay mà không soi gương. Vẻ ngoài của cô gái này có cái gì đó không lành mạnh. Làn da xanh xao bệnh tật giống như một lớp vỏ bọc xám xịt, nhếch nhác. Julia cũng chẳng có gu thời trang như Alex. Bộ quần áo Julia mặc đã lỗi thời lắm rồi, có tưởng chúng là trang phục hóa trang cũng không phải nói quá.

“Chị có bức ảnh nào của Alex không?”

“Xin lỗi, cô nói gì cơ?” Erica lại giật mình vì cách đặt vấn đề quá trực diện của Julia.

“Ảnh á? Có, tôi nghĩ là có. Khá nhiều là khác. Bố tôi thích chụp ảnh và đã chụp rất nhiều ảnh chúng tôi lúc nhỏ. Alex thường xuyên tới đây nên hẳn xuất hiện rất nhiều trong ảnh.”

“Tôi có thể xem chúng được không?” Julia nhìn Erica như thể đang trách cô sao không đi lấy ảnh đi mà vẫn còn ngần ra đó làm gì. Thở phào vì có thể tránh cái nhìn xuyên thấu của Julia trong chốc lát, Erica hăng hái đi tìm album ảnh.

Những quyển album ảnh được cất trong một chiếc rương trên gác mái. Cô vẫn chưa có thời gian dọn dẹp trên ấy nhưng cô biết đích xác chỗ đặt chiếc rương. Tất cả ảnh gia đình đều được cất ở đó, cô khẽ rùng mình nghĩ tới việc ngồi giở lại tất cả những tấm ảnh. Phần lớn ảnh được xếp thành chồng không phân loại nhưng những bức ảnh cô đang tìm đã được cẩn thận lồng vào trong các cuốn album. Cô bắt đầu từ cuốn album đầu tiên, lần lượt giở từng trang ra kiểm tra. Cho tới quyển album thứ ba thì cô tìm thấy thứ mình muốn. Quyển album thứ tư cũng có nhiều ảnh của Alex nên cô cầm cả hai và thận trọng leo xuống cầu thang.

Julia vẫn ngồi nguyên chỗ cũ. Có lẽ cô gái không hề dịch chuyển suốt thời gian cô ở trên gác mái cũng nên.

“Ở đây có vài bức ảnh chắc cô sẽ thích.”

Erica gần như hụt hơi. Cô thả phịch hai quyển album nặng trịch xuống bàn khiến bụi bay lả tả.

Julia hào hứng lật giở quyển album đầu tiên trong khi Erica ngồi xuống cạnh cô trên ghế sofa và giải thích bối cảnh trong ảnh.

“Bức ảnh này được chụp khi nào vậy?”

Julia chỉ vào bức hình đầu tiên có Alex ở trang thứ hai trong album.

“Xem nào. Hẳn là vào năm… 1974. Đúng vậy. Hồi chúng tôi chín tuổi thì phải.”

Erica lướt một ngón tay trên bức ảnh và chợt cảm thấy bâng khuâng. Đã lâu lắm rồi. Cô và Alex ở trần, đứng trong vườn vào một ngày hè ấm áp. Nếu cô nhớ không nhầm thì hai đứa ở truồng là vì mải chạy tới chạy lui quanh chiếc vòi tưới nước trong vườn. Chỉ có một điểm hơi lại trong bức ảnh là Alex vẫn đeo một đôi găng tay mùa đông.

“Sao chị ấy lại đeo găng? Ảnh này như đang là tháng Bảy gì đó mà.” Julia quay gương mặt sửng sốt sang Erica lúc này đang bật cười khi nhớ lại chuyện cũ.

“Chị cô thích đôi găng tay này lắm và nhất định đeo chúng bằng được, không chỉ suốt mùa đông dài dằng dặc mà gần như cả mùa hè cũng đeo, không ai có thể thuyết phục cô ấy vứt đôi găng rách rưới gớm ghiếc ấy đi.”

“Chị ấy luôn biết mình muốn gì, đúng không?”

Julia nhìn tấm hình trong album với biểu hiện gần như dịu dàng. Nhưng chỉ trong nháy mắt, sau đó liền lật sang trang khác với vẻ thiếu kiên nhẫn.

Những bức ảnh này giống như dấu tích của một quãng đời khác. Đã xa lắc xa lơ, và từ đó tới giờ đã có biết bao nhiêu chuyện xảy ra. Đôi khi cô có cảm giác như những năm tháng thơ ấu với Alex vốn chỉ là một giấc mơ.

“Chúng tôi giống như chị em hơn là bạn bè. Phần lớn thời gian chúng tôi đều ở bên nhau, và thường xuyên ngủ lại nhà nhau. Mỗi ngày chúng tôi đều so sánh điểm số và bữa tối, bữa tối nhà nào ngon hơn thì chúng tôi sẽ tới đó.”

“Nói cách khác, hai người thường xuyên ăn tối ở đây.” Lần đầu tiên, trên môi Julia nở một nụ cười.

“Ừ, nói về mẹ cô thế nào cũng được nhưng riêng khoản nấu nướng thì bà ấy hẳn không thể kiếm sống được bằng nghề đó.”

Một bức ảnh đặc biệt đập vào mắt Erica. Cô dịu dàng vuốt ve nói. Một bức ảnh vô cùng đáng yêu. Alex đứng trên mũi thuyền của gia đình cô, nụ cười rạng rỡ. Mái tóc vàng bay phấp phới xung quanh và hình bóng toàn cảnh của Fjällbacka trải dài sau lưng cô ấy. Họ hẳn trên đường ra khơi trong một ngày nắng và bơi lội tung tăng quanh những mỏm đá. Từng có rất nhiều ngày tươi đẹp như thế. Mẹ cô như thường lệ sẽ không đi cùng họ. Bà ấy luôn lấy cớ có quá nhiều việc phải làm để ở nhà. Vẫn luôn như vậy. Erica có thể dễ dàng đếm trên đầu ngón tay những chuyến đi biển ít ỏi mà mẹ cô, Elsy, có tham gia. Cô bật cười khi nhìn thấy một bức ảnh của Anna cũng trên con thuyền đó. Và cũng như thường lệ, con bé sẽ diễn trò con khỉ, vươn người ra ngoài mạn thuyền và làm bộ nhăn nhó trước ống kính.

“Em gái chị phải không?”

“Ừ, em gái tôi, Anna.”

Erica trả lời ngắn gọn rõ ràng như không muốn thảo luận thêm về chủ đề này. Julia lập tức hiểu ý và tiếp tục giở quyển album với những ngón tay ngắn ngủi và mập mạp của mình. Móng tay của cô bị gặm tới da. Vài đầu ngón tay còn thương tổn vì bị gặm quá sát. Erica cố rời mắt khỏi những ngón tay bị thương của Julia và nhìn vào những bức hình đang lật giở trên tay cô.

Cho tới cuối quyển album thứ hai thì Alex bất thình lình không còn xuất hiện trong những bức ảnh nữa. Trước đó thì gần như trang nào cũng có cô ấy, giờ thì chẳng còn gì nữa. Julia cẩn thận đặt hai quyển album lên bàn và dựa vào góc ghế sofa với ly cà phê trên tay.

“Cô có muốn một ly cà phê mới không? Ly này nguội hết cả rồi!”

Julia nhìn ly cà phê và nhận thấy Erica có lý. “Vâng, nếu vẫn còn thì xin cho một ly khác, cảm ơn chị.”

Cô đưa ly cà phê của mình cho Erica đang vui vẻ vì có thể thư giãn gân cốt một chút. Cái ghế giả mây này nhìn thì rất dễ thương nhưng ngồi một lúc thì cả lưng và mông đều phản đối. Lưng của Julia hình như cũng có chung ý kiến vì cô cũng đứng dậy theo Erica vào trong bếp.

“Tang lễ rất chu đáo. Rất nhiều bạn bè cũng đã tới dự buổi chiêu đãi ở nhà cô sau đó.”

Erica đứng quay lưng lại với Julia và rót cà phê mới vào ly của họ. Nhưng đáp trả lại cô chỉ là một tiếng ừ hữ lãnh đạm. Cô quyết định tọc mạch hơn một chút.

“Có vẻ như cô và Nelly Lorentz là chỗ khá quen biết. Hai người làm sao mà lại quen nhau vậy?”

Erica nín thở chờ đợi. Mẩu giấy cô tìm thấy ở chỗ Nelly Lorentz khiến cô vô cùng tò mò về câu trả lời của Julia.

“Cha tôi làm việc cho bà ấy.” Câu trả lời của Julia có vẻ miễn cưỡng. Một cách vô thức, cô gái đặt một ngón tay lên trước miệng và bắt đầu cắn móng tay lia lịa.

“Ừ, nhưng đó là từ lâu lắm rồi, từ trước khi cô ra đời cơ mà.” Erica nói, vẫn đang cố moi thông tin.

“Hồi nhỏ, tôi có một việc làm thêm mùa hè ở nhà máy của họ,” Julia nói.

Julia phải khó khăn lắm mới phun ra được một câu, cô ấy phải dừng hẳn việc gặm móng tay để nghĩ ra câu trả lời.

“Hai người có vẻ khá hợp nhau.”

“Tôi cho là Nelly nhìn thấy ở tôi những gì mà người khác không thấy.” Nụ cười của Julia có vẻ vừa chua chát vừa đầy suy ngẫm. Đột nhiên Erica cảm thấy cực kỳ thông cảm với Julia. Cuộc sống của một con vịt con xấu xí hẳn rất nhọc nhằn. Cô không nói gì, nhưng chính sự im lặng lại thúc đẩy Julia thổ lộ tiếp.

“Dù sao thì hè nào chúng tôi cũng về đây. Mùa hè năm lớp mười Nelly gọi điện cho cha tôi và hỏi tôi có muốn kiếm chút tiền làm thêm với một công việc văn phòng không. Tôi sao có thể từ chối một yêu cầu như thế nên từ đó gần như hè nào tôi cũng tới đó làm việc cho đến khi vào trường sư phạm.”

Erica hiểu rằng một câu trả lời chung chung như vậy chính là để tránh đi chủ đề chính. Hẳn là thế. Cô cũng hiểu rằng mình không thể moi thêm thông tin gì nữa về mối quan hệ giữa Julia và Nelly. Hai người lại ra ngồi trên chiếc ghế mây ngoài hiên và nhấm nháp cà phê trong yên lặng. Cả hai người đều nhìn chăm chăm về phía mặt biển đã đóng băng, ngút ngát tới chân trời.

“Chị hẳn đã có một quảng thời gian khó khăn khi cả bố mẹ và Alex ra đi cùng một lúc.” Lần này là Julia lên tiếng trước.

“Cũng vậy mà không phải vậy. Tôi và Alex không còn chơi với nhau nữa nên dĩ nhiên đó là một chuyện buồn nhưng không thê thảm như trong trường hợp chúng tôi vẫn là bạn chí thân.”

“Đã xảy ra chuyện gì? Tại sao hai người lại không chơi với nhau nữa?”

“Giá như tôi có thể biết được tại sao.”

Erica vẫn không hết ngạc nhiên trước việc ký ức có thể làm người ta đau đớn đến thế. Cô vẫn cảm nhận rõ ràng nỗi đau khi mất đi Alex hồi đó. Nhiều năm đã trôi qua và việc những người bạn thân thời niên thiếu dần trở nên xa cách dường như không phải chỉ là ngoại lệ mà là một quy luật của cuộc sống. Chúng có thể là do tình bạn của họ đã không kết thúc một cách bình thường, tự nhiên, và nhất là không một lời giải thích. Hai người họ không hề cãi nhau, Alex không tìm bạn mới, không phải là những lý do thông thường khiến một tình bạn kết thúc. Cô ấy chỉ đơn giản rút lui sau một bức tường lãnh đạm rồi biến mất không một lời giải thích.

“Hai người có cãi nhau không?”

“Không, theo tôi nhớ thì không, Alex chỉ đột nhiên mất hứng thú, không hiểu vì lý do gì. Cô ấy ngừng gọi điện cho tôi và ngừng hỏi tôi xem có kế hoạch chơi chung gì không. Nếu tôi có hỏi cô ấy thì cô ấy sẽ không từ chối nhưng có thể thấy là cô ấy hoàn hoàn không quan tâm. Thế nên cuối cùng tôi cũng không hỏi cô ấy nữa.”

“Thế chị ấy có bạn mới không, có giao du với ai không?”

Erica tự hỏi không hiểu Julia hỏi những chuyện của cô và Alex để làm gì nhưng cô cũng không phản đối việc ôn lại kỷ niệm cũ; cô có thể sẽ cần dùng tới chúng trong cuốn sách.

“Tôi chẳng nhìn thấy cô ấy chơi với ai nữa. Ở trường cô ấy luôn khép kín. Tuy nhiên…”

“Tuy nhiên gì cơ…” Julia nhoài người ra phía trước vẻ hào hứng.

“Tôi vẫn có cảm giác là cô ấy có ai đó. Nhưng có thể tôi đã nhầm. Chỉ là cảm giác mà thôi.”

Julia trầm ngâm giật gù. Erica có cảm giác như cô vừa khẳng định một điều mà Julia đã biết.

“Xin lỗi nếu không phải, nhưng sao cô lại muốn biết về chuyện của tôi và Alex ngày xưa?”

Julia tránh không nhìn vào mắt cô. Câu trả lời của cô ấy cũng có vẻ né tránh.

“Chị ấy hơn tôi rất nhiều tuổi và khi tôi sinh ra, chị ấy đã ra nước ngoài. Hai chúng tôi lại hoàn toàn khác biệt. Tôi không nghĩ mình thực sự hiểu được chị ấy. Giờ thì đã quá muộn. Tôi tìm ảnh chị ấy ở nhà nhưng gần như chẳng có bức nào. Nên tôi nghĩ ngay tới chị.”

Erica cảm thấy câu trả lời của Julia chẳng mấy chân thành, gần như là dối trá nhưng vẫn miễn cưỡng cho qua.

“Mà thôi, tôi cũng phải đi rồi. Cảm ơn cà phê của chị.”

Julia đột ngột đứng phắt dậy mang ly cà phê của mình vào bổn rửa trong bếp. Cô ấy có vẻ vội vàng muốn rời đi. Erica liền tiễn ra cửa.

“Cảm ơn chị đã cho tôi xem ảnh. Chúng rất có ý nghĩa đối với tôi.”

Rồi Julia đi khỏi.

Erica đứng ở ngưỡng cửa một lúc lâu nhìn cô gái đi xa dần. Một khối u ám, lầm lụi, vội vàng lao xuống phố, hai tay ôm siết lấy thân mình như để chống chọi cái rét căm căm. Erica từ từ đóng cửa lại và trở vào bên trong ngôi nhà ấm áp.

—★—

Lâu lắm rồi Patrik không cảm thấy hồi hộp như lần này. Trong lòng anh nhộn nhạo, vừa vui sướng lại vừa cẳng thẳng.

Đống quần áo trên giường cứ dày ứ lên vì anh thử hết bộ này tới bộ khác. Bộ nào trông cũng hoặc là quá lỗi thời, hoặc là quá đơn giản, quá diện hay quá trịnh trọng, hay chỉ đơn giản là quá xấu. Bên cạnh đó phần lớn quần đều hơi chật bụng. Anh thờ dài ném chiếc quần vừa thử lên đống quần áo rồi chỉ mặc độc quần lót ngồi thụp xuống mép giường. Anh đột nhiên mất hết cả cảm giác mong chờ đồi với buổi tối hôm nay, chỉ cảm thấy vô cùng căng thẳng. Có lẽ nên gọi điện cho cô ấy và báo hoãn.

Patrik nằm vật trên giường, mắt nhìn chằm chằm lên trần nhà, hai tay đan lại sau đầu. Anh vẫn giữ chiếc giường đôi của anh và Kiarin. Anh khẽ chạm tay vào phía bên giường cô ấy, trong lòng xao động. Phải mãi gần đây anh mới có can đảm lăn sang bên phía giường ấy trong lúc ngủ. Đáng ra anh phải mua ngay một chiếc giường khác sau khi cô ấy chuyển đi nhưng anh đã không đủ can đảm làm chuyện đó.

Bất chấp những đau buồn chất chứa trong lòng sau khi Karin rời đi, anh vẫn thường tự hỏi có phải mình nhớ Karin thật hay là nhớ những ảo tưởng về hôn nhân như một thứ nền tảng vững chắc. Cha anh đã bỏ mẹ anh vì một người phụ nữ khác năm anh mười tuổi. Cuộc ly hôn sau đó là một thương tổn tinh thần nặng nề, mà anh và em gái Lotta được sử dụng như vũ khí của cả hai bên. Thế nên anh đã tự hứa mình sẽ không bao giờ ngoại tình, và trên hết là không bao giờ ly dị. Nếu anh kết hôn thì sẽ là mãi mãi. Thế nên khi anh và Karin làm đám cưới năm năm trước tại nhà thờ Tanumshede, anh không hề mảy may nghi ngờ gì về sự trường thọ của hôn nhân. Nhưng cuộc đời vốn hiếm khi diễn ra như chúng ta mong đợi. Cô ấy và Leif bắt đầu gặp gỡ lén lút sau lưng anh hơn một năm rồi anh mới bắt quả tang. Kịch bản vô cùng quen thuộc.

Hôm ấy anh trở về nhà sớm hơn thường lệ vì cảm thấy không khỏe và thấy họ ở đó, trong phòng ngủ. Trên chiếc giường anh đang nằm lúc này. Hình như anh cũng có sở thích tự hành hạ bản thân. Nếu không làm sao có thể giải thích được việc anh vẫn giữ lại chiếc giường này mà không quẳng nói đi? Nhưng giờ thì tất cả đã thành quá khứ. Chẳng còn quan trọng nữa.

Anh dậy khỏi giường, vẫn không biết tối nay có nên tới nhà Erica hay không nữa. Vừa muốn lại vừa không muốn. Chỉ một chút thiếu tự tin đã thổi bay sự mong đợi cả ngày nếu không muốn nói là cả tuần nay. Nhưng giờ đã quá trễ để rút lui nên anh cũng chẳng còn sự lựa chọn nào khác.

Khi rốt cuộc cũng tìm được một chiếc quần Chinos vừa vặn vòng bụng và một chiếc áo sơ mi màu xanh mới là phẳng phiu thì lập tức anh cảm thấy khá hơn một chút. Và bắt đầu lại có cảm giác mong ngóng tới bữa tối. Sau khi vuốt một chút gel cho mái tóc chỉn chu gọn gàng, anh vẫy tay với hình ảnh phản chiếu của minh trong gương chúc may mắn rồi chuẩn bị lên đường.

Trời đã tối đen như mực dù mới bảy rưỡi tối và những cơn mưa tuyết lất phất càng khiến con đường tới Fjällbacka trở nên mờ mờ ảo ảo. Anh rời nhà từ sớm nên không cần phải vội vã. Những ý nghĩ về Erica trong giây lát nhường chỗ cho những sự kiện xảy ra gần đây ở đồn. Mellberg không hài lòng khi Patrik không thể làm gì khác ngoài việc củng cố thêm tính vững chắc của bằng chứng mà hàng xóm của Anders, Jenny, đưa ra. Anders dường như có bằng chứng ngoại phạm đích thực trong lúc xảy ra án mạng. Điều đó không khiến Patrik giận dữ như Mellberg nhưng không thể phủ nhận rằng anh cũng cảm thấy có chút vô vọng. Hai tuần lễ đã trôi qua kể từ khi tìm thấy thi thể Alex nhưng họ vẫn chưa tiến thêm bước nào tới kết quả.

Quan trọng nhất là không để mất hết hy vọng vào lúc này. Họ sẽ phải tái tổ chức và bắt đầu lại từ đầu. Mọi manh mối, chứng cớ đều phải xem xét lại với một thái độ khách quan. Patrik lập lên trong đầu danh sách những việc anh sẽ phải làm vào ngày mai. Ưu tiên hàng đầu là tìm ra cha của đứa trẻ trong bụng Alex là ai. Hẳn phải có ai đó ở Fjällbacka này nhìn thấy hay nghe ngóng được điều gì đó về người mà cô ấy gặp gỡ mỗi dịp cuối tuần. Nhưng cũng không hoàn toàn loại bỏ khả năng Henrik có thể là cha của đứa bé, và Anders cũng vậy. Mặc dù vì một lý do nào đó. Patrik hoàn toàn không cho rằng Alex sẽ chọn một người như Anders làm ứng cử viên cho vị trí cha của đứa bé mà cô mong đợi. Anh nghĩ những gì Francine nói với Erica có vẻ hợp lý hơn nhiều. Rằng có một người nào đó rất quan trọng đối với Alex. Tới mức cô ấy cảm thấy hạnh phúc khi có con với anh ta, một điều mà cô không thể hay không muốn xảy ra với chồng mình.

Mối quan hệ xác thịt giữa cô với Anders cũng là điều anh muốn tìm hiểu thêm. Thế nào mà một người phụ nữ thuộc tầng lớp thượng lưu ở Göteborg lại tàm thấy điểm chung với một kẻ suốt ngày say xỉn? Linh tính mách bảo rằng chỉ cần anh phát hiện ra họ quen nhau như thế nào thì sẽ trả lời được câu hỏi đó. Lại còn cái bài báo về việc Nils Lorentz mất tích nữa. Alex lúc đó mới chỉ là một đứa bé. Vì sao cô ấy lại giấu một tờ báo suốt hai mươi lăm năm trong ngăn kéo của mình? Nhiều hướng điều tra quá thành ra rối rắm. Anh có cảm giác như đang căng mắt xem một bức tranh toàn những chấm rời rạc cho tới khi thư giãn đôi mắt nhìn đúng vào chỗ cần thiết và hình dạng chính xác của bức tranh đột nhiên hiện ra rõ ràng. Vấn đề là anh không thể tìm thấy sợi dây hoàn hảo để nối các chấm đó lại. Trong những phút yếu mềm, anh đôi khi lại tự hỏi hay là vì mình không phải là một cảnh sát giỏi. Có lẽ một tên sát nhân sẽ thoát tội vì sự thiếu năng lực của anh.

Một con hươu bỗng từ đâu vọt lên đằng trước xe khiến Patrik giật mình choàng tỉnh khỏi những suy nghĩ u ám. Anh nhấn phanh và may mắn tránh được con hươu trong nháy mắt. Chiếc xe trượt đi trên con đường mùa đông trơn tuyết một lúc rồi mới dừng lại, dù chỉ là vài giây nhưng dài khủng khiếp. Anh gục đầu trên hai cánh tay vẫn bám chặt lấy vô lăng chờ nhịp tim trở lại bình thường. Anh ngồi im một lúc rồi mới lái xe về Fjällbacka, nhưng phải đi được một cây số mới dám tăng tốc trở lại.

Khi anh lái xe tới ngọn đồi đã được rải muối làm tan băng ở Sälvik về phía nhà Erica thì đã bị trễ năm phút. Anh đỗ xe sau xe cô rồi cầm lấy chai rượu anh đã mua làm quà, hít một hơi dài, kiểm tra lại đầu tóc trong gương hậu và cảm thấy đã sẵn sàng lâm trận.

—★—

Đống quần áo trên giường Erica cũng đồ sộ chẳng kém gì của Patrik, có lẽ còn cao hơn. Tủ quần áo của cô gần như trống rỗng, những chiếc mắc áo va vào nhau lạch cạch. Cô không khỏi thở dài. Chẳng có thứ gì vừa vặn. Số cân tăng lên gần đây khiến không còn bộ nào vừa vặn nữa. Cô vẫn lẩm bẩm nguyền rủa bản thân và hối hận vì đã trèo lên cân sáng nay. Erica soi mói nhìn mình trong gương.

Vấn đề đầu tiên nảy sinh sau khi tắm, giống hệt như Bridge Jones, hình tượng văn học yêu thích của cô, là phải đối mặt với việc chọn lựa quần lót. Cô nên mặc một chiếc quần lọt khe xinh xắn bằng ren phòng trường hợp cô và Patrik sẽ kết thúc bằng việc lên giường với nhau, dù rất ít khả năng đó? Hay một chiếc quần dày bự, gớm ghiếc nhưng lại có thể che được bụng và mông, làm tăng cơ hội Patrik sẽ lên giường với cô? Thật đúng là một sự lựa chọn khó khăn nhưng sau khi cân nhắc vòng bụng ngấn mỡ của mình cô liền quyết định theo phương án hai. Sau đó sẽ mặc thêm một quần tất dày có cạp nẹp bụng. Nói cách khác là sử dụng vũ khí ngụy trang hạng nặng.

Cô liếc nhìn đồng hồ và nhận ra rằng đã tới lúc phải đưa ra quyết định. Rồi cô quay sang đống quần áo trên giường và lôi từ dưới cùng lên bộ quần áo đầu tiên mà cô thử. Màu đen khiến cô trông gầy đi và chiếc váy cổ điển dài tới gối kiểu Jackie Kenedy hay mặc rất là tôn dáng. Trang sức duy nhất sẽ là khuyên tai ngọc trai và đồng hồ đeo tay, tóc thì để xõa xuống vai. Cô nhìn lại dáng mình trong gương và thử hóp bụng lại. Cũng được, với sự hỗ trợ của quần lót đặc biệt, quần tất nẹp bụng và động tác nín thở thì trông cũng chấp nhận được. Mấy cân nặng thừa ra cũng không hẳn xấu, phải thừa nhận thế. Dù không thích chỗ cân nặng thừa ra nhưng cô lại rất tán thành khi chúng được phân phối ở vòng một khiến nơi đó trở nên đầy đặn, ló ra dưới ra dưới rãnh xẻ ngực táo bạo. Tất nhiên cũng phải kể đến sự trợ giúp của miếng đẩy trong áo ngực nhưng thời buổi bây giờ có ai là không dùng chúng cơ chứ. Và áo ngực của cô lại còn là công nghệ mới nhất, túi ngực làm bằng gel nên chuyển động nhịp nhàng với ngực. Một bằng chứng sống động về tiến bộ khoa học phục vụ đời sống.

Thử cả đống quần áo trong tâm trạng căng thẳng khiến cô toát hết cả mồ hôi, cô đành thờ dài lau lại nách. Cô mất khoảng hai mươi phút để hoàn tất việc trang điểm. Trang điểm xong thì cô mới nhận ra đã mất quá nhiều thời gian cho vẻ ngoài trong khi phải xuống bếp nấu ăn từ lâu rồi. Cô liền nhanh chóng dọn dẹp phòng ngủ. Treo lần lượt từng thứ lên thì quá mất thời gian nên cô gom cả đống rồi tống chúng vào tủ và đóng sập cửa lại. Cô soạn lại giường, kiểm tra xem có chiếc quần lót nào rơi vãi trên sàn không, phòng khi xảy ra chuyện gì lãng mạn sau bữa tối. Một chiếc quần lót Sloggi nhếch nhác có thể làm giảm hứng thú của bất kỳ người đàn ông nào.

Cô gần như hụt hơi khi chạy xuống bếp, căng thẳng khiến cô mất phương hướng. Chẳng còn biết phải bắt đầu từ đâu.

Cô buộc mình dừng lại, hít một hơi dài. Có hai công thức nấu ăn trên chiếc bàn đặt trước mặt và cô cố gắng lên thời gian biểu cho từng món. Cô không phải một đầu bếp cừ khôi nhưng nấu ăn tạm được và cô đã tìm thấy các công thức này sau khi mò mẫm những ấn phẩm của tạp chí Elle Sành ăn. Khai vị sẽ là bánh pancake khoai tây với kem tươi, trứng cá vây tròn và hành tím thái mỏng. Món chính sẽ là thịt lợn thăn tẩm bột xốp bỏ lò, xốt rượu Porto ăn kèm khoai tây nghiền và tráng miệng là xa lát hoa quả phủ sô cô la trắng bỏ lò ăn kèm với kem vani. Rất may là chiều nay cô đã làm trước tráng miệng nên có thể gạch nó khỏi danh sách. Cô quyết định trước hết phải luộc khoai tây. Sau đó sẽ mài khoai tây sống làm món khai vị.

Cô tập trung nấu nướng gần tiếng rưỡi đồng hồ cho tới khi giật mình nghe tiếng chuông cửa. Thời gian trôi qua thật nhanh, hy vọng là Patrik không quá đói bụng vì đồ ăn vẫn chưa sẵn sàng.

Erica đã đi được nửa đường ra tới cửa thì nhận ra trên người vẫn deo tạp dề. Chuông cửa lại reo trong lúc cô loay hoay tháo nút buộc phía sau lưng. Cuối cùng thì cũng cởi chúng ra được, kéo chiếc tạp dề qua đầu và vứt xuống một chiếc ghế trong hành lang. Cô đưa tay vuốt lại tóc, nhắc nhở bản thân không được quên hóp bụng lại, hít một hơi dài rồi mới tươi cười mở cửa.

“Chào anh, Patrik. Hoan nghênh anh tới tệ xá!”

Hai người ôm hôn chào hỏi. Patrik đưa cho cô chai rượu vang bọc trong giấy bạc

“Ôi cảm ơn anh. Anh thật chu đáo quá!”

“Cửa hàng State Liquor Store tư vấn dùng loại này. Rượu Chilê. Rượu mạnh, nhuận với sự pha trộn mùi vị của các loại dâu đỏ và một chút sô cô la. Anh không phải người sành rượu nhưng họ thì rất có kinh nghiệm.”

“Chắc là rượu ngon.” Erica mỉm cười vồn vã, đặt chai rượu xuống bàn để giúp Patrik cởi áo khoác.

“Vào trong đi. Hy vọng anh chưa chết đói. Vì như thường lệ, em lúc nào cũng lạc quan quá mức khi lên kế hoạch nên chắc phải đợi một chút mới ăn được.”

“Không sao. Anh chưa đói.”

Patrik đi theo Erica vào bếp với chai rượu của anh.

“Có cần giúp đỡ gì không?”

“Vâng, anh có thể lấy cái mở chai ở ngăn kéo trên và mở một chai rượu vang. Có thể bắt đầu bằng chai rượu của anh được đấy nhỉ?”

Anh vui vẻ làm theo. Erica đặt hai chiếc ly lớn lên bàn bếp rồi vừa đảo đồ ăn trong nồi vừa kiểm tra lò nướng. Món thịt thăn cuộn bột xốp mới chỉ ở giai đoạn đầu còn khoai tây thì vẫn còn sống. Patrik đưa cô một chiếc ly lúc này đã sóng sánh rượu vang đỏ sậm. Cô khẽ lắc nhẹ chiếc ly để giải phóng hương vị rượu, đưa mũi vào sâu trong lòng cốc và hít hà chúng trong khi miệng khép chặt không để hơi rượu thoát ra. Hương vị ấm ấp của gỗ sồi tràn ngập khắp khoang mũi và dường như lan tỏa đi khắp cơ thể, tới tận đầu ngón chân. Thật là khoan khoái. Cô cẩn thận nếm, để rượu trượt trên lưỡi cùng với một chút không khí tràn vào khoang miệng. Vị rượu cũng tuyệt vời như mùi của nói, có thể nói là Patrik đã tốn một khoản không nhỏ cho chai rượu này.

Patrik nhìn cô vẻ mong chờ.

“Tuyệt hảo!”

“Đúng là lần trước anh để ý thấy em rất hiểu biết về rượu. Trong khi anh, thật không may, chẳng thể phân biệt nổi sự khác nhau giữa một chai rượu giá mấy nghìn với một chai giá năm mươi kronor.”

“Dĩ nhiên là anh có thể. Chỉ là vấn đề thói quen mà thôi. Với lại phải dành thời gian để nếm rượu thay vì uống ực một phát.”

Patrik ngượng nghịu liếc nhìn ly rượu đang cầm. Một phần ba ly rượu đã bốc hơi. Anh cẩn thận bắt chước phương thức thử rượu của Erica khi cô quay lại kiểm tra thức ăn trong lò. Cứ như là đang nếm một ly rượu khác. Anh để rượu trôi trên lưỡi giống như Erica và đột nhiên phát hiện ra các mùi vị hoàn toàn khác biệt. Anh nghĩ mình cảm nhận được phảng phất mùi vị của sô cô la, sô cô la đen và một vị mạnh hơn của các loại dâu đỏ hay nho đỏ pha trộn với mùi dâu. Thật không thể tin nổi.

“Cuộc điều tra của anh tới đâu rồi?” Erica ra vẻ tình cờ hỏi nhưng lại sốt ruột chờ câu trả lời.

“Lại quay về điểm xuất phát. Anders có bằng chứng ngoại phạm vào thời điểm xảy ra án mạng và bọn anh chẳng có manh mối nào khác để lần theo. Thật không may là bọn anh đã phạm phải một lỗi rất thông thường. Quá khinh suất cho rằng mình đã tóm được đúng người và dừng các hướng điều tra khác lại. Mặc dầu vậy anh vẫn phải đồng ý với đồn trưởng về việc Anders rất khớp với vai trò nghi phạm trong vụ sát hại Alex. Một kẻ nát rượu không hiểu vì lý do gì đã có quan hệ tình dục với một người phụ nữ mà xét trên bất cứ phương diện nào cũng vượt xa tầm tay của một tên hũ nút như Anders. Một tội ác do ghen tuông với những hậu quả không lường trước được khi vận may hiếm có của anh ta cuối cùng đã chấm dứt. Dấu tay anh ta được tìm thấy trên khắp thi thể nạn nhân và trong buồng tắm. Bọn anh thậm chí còn tìm thấy dấu chân của anh ta trên vũng máu dưới sàn.”

“Những điều đó cũng không đủ làm bằng chứng buộc tội ư?”

Patrik khẽ lắc ly rượu và nhìn những xoáy nước màu đỏ dềnh lên với vẻ đăm chiêu.

“Nếu như anh ta không có bằng chứng ngoại phạm thì thế là đủ rồi. Nhưng giờ anh ta lại có bằng chứng ngoại phạm đúng vào thời điểm được cho là đã xảy ra án mạng. Và như anh đã nói khi trước, chúng không chứng tỏ gì được ngoài việc anh ta đã có mặt trong phòng tắm sau khi án mạng xảy ra. Một sự khác biệt tuy nhỏ nhưng quan trọng nếu muốn lập một cáo trạng vững chắc.”

Mùi thơm của đồ ăn lan tỏa trong bếp thật là tuyệt vời. Erica lấy những chiếc bánh pancake khoai tây đã nướng từ trước để trong tủ lạnh ra cho vào lò hâm lại. Cô lấy ra hai chiếc đĩa để đồ khai vị, mở tủ lạnh lần nữa lấy ra một hộp kem tươi và lọ trứng cá. Hành đã được thái sẵn trong một chiếc bát trên bàn bếp. Cô cảm nhận cực kỳ rõ ràng sự hiện diện của Patrik ở bên cạnh.

“Thế còn em có tin gì mới về việc bán nhà không?”

“Thật không may là có. Hôm qua, bốn môi giới nhà đất đã gọi điện tới và đề nghị bán nhà vào dịp lễ Phục sinh. Ông ta nói rằng Anna và Lucas đã rất tán thành ý kiến đó.”

“Vẫn còn vài tháng nữa mới tới lễ Phục sinh. Còn rất nhiều chuyện có thể xảy ra từ giờ tới lúc đó.”

“Đúng vậy, em vẫn luôn hy vọng Lucas sẽ bị nhồi máu cơ tim hay gì đó. Ôi xin lỗi anh, em không định nói thế. Chỉ là em giận quá hóa rồi đấy thôi!” Cô sập lại cửa lò có chút hơi mạnh tay.

“Ôi, dịu dàng với đồ làm báp chút nào.”

“Em có lẽ nên bắt đầu chấp nhận thực tế và lên kế hoạch sử dụng số tiền bán nhà như thế nào. Phải thú thật là trước đây em vẫn từng nghĩ rằng em sẽ hạnh phúc hơn nếu trở thành triệu phú cơ đấy.”

“Em không phải lo việc trở thành triệu phú đâu. Với mức thuế ở cái đất nước này thì chắc em sẽ phải dành phần lớn lợi nhuận của mình tài trợ cho các trường học tồi tệ và nền y tế chưa bao giờ què quặt hơn. Chưa kể tới lực lượng cảnh sát với đồng lương vét đĩa, siêu vét đĩa, trầm trọng vét đĩa. Bọn anh có lẽ sẽ chén mất phần lớn gia tài của em đấy, em cứ chờ mà xem.”

Cô không nhịn nổi cười. “Ôi, thế thì tuyệt quá. Em sẽ không phải lo lắng về việc nên mua áo lông chồn hay lông cáo màu xanh nữa. Patrik, anh có tin hay không thì tùy, nhưng món khai vị đã sẵn sàng rồi đấy.”

Hai tay hai đĩa khai vị, cô dẫn Patrik ra phòng ăn. Cô vốn băn khoăn không biết nên ngồi trong bếp hay trong phòng ăn và cuối cùng quyết định chọn phòng ăn vì chiếc bàn gỗ gập đáng yêu, và sẽ còn quyến rũ hơn nữa dưới ánh nến. Cô không bao giờ tiết kiệm trong việc dùng nến để trang trí. Chẳng có gì nịnh mặt phụ nữ hơn ánh nến, cô đã đọc điều này ở đâu đó.

Chiếc bàn đã được bày biện sẵn với các đồ dao nĩa bằng bạc và khăn ăn bằng vải lanh cùng với đĩa sứ trắng hiệu Roirstrand cho món ăn chính. Đây là những món đồ quý nhất của mẹ cô, hàng sứ trắng hiệu Roirstrand với những đường viền màu xanh. Cô nhớ mẹ đã luôn cẩn thận như thế nào với những chiếc đĩa này. Chúng chỉ được đem ra dùng trong những dịp vô cùng đặc biệt. Không bao gồm sinh nhật con cái hay bất cứ sự kiện nào liên quan tới chúng, Erica chua xót nhớ lại. Những đồ sứ bình thường ở bàn bếp là đủ tốt rồi. Thế nhưng khi mục sư và vợ ông ta, hay cha xứ và người trợ giáo tới dùng bữa tối thì mẹ cô chẳng tiếc gì. Erica buộc mình quay trở lại với hiện tại và đặt hai đĩa khai vị xuống vị trí đối diện nhau.

“Trông ngon quá.” Patrik xắt một miếng bánh pancake, xúc một nĩa lớn hành, kem tươi và trứng cá đưa lên gần miệng thì thấy Erica vẫn đang ngồi im, tay cầm ly rượu giơ lên, hơi nhướng mày. Ngượng ngùng, anh đặt chiếc nĩa xuống và chuyển sang cầm ly rượu của mình.

“Chúc sức khỏe và hoan nghênh anh tới đây!”

“Chúc sức khỏe!”

Erica mỉm cười trước sự vụng về của anh. Thật là mới mẻ so với những người đàn ông mà cô hẹn hò ở Stockholm, tất cả đều được giáo dục một cách cấn thận và thành thục phép tắc tới mức giống hệt như các bản sao. So với họ Patrik đúng là của hiếm và anh có muốn ăn bằng tay thì cô cũng chẳng thấy phiền. Với lại trông anh vô cùng đáng yêu khi đỏ mặt.

“Hôm nay, em có một người khách không hề mong đợi.”

“Thế à? Ai vậy?”

“Julia.”

Patrik nhìn Erica đầy vẻ ngạc nhiên. Cô rất vui vì anh dường như không thể dứt ra khỏi đĩa đồ ăn.

“Anh không biết là hai người biết nhau cơ đấy,” anh nói.

“Bọn em thực sự không quen biết. Lần đầu tiên bọn em gặp nhau là ở đám tang của Alex. Nhưng sáng nay cô ấy xuất hiện trước cửa nhà em.”

“Cô ấy muốn gì?”

Patrik nhiệt tình quẹt đĩa sạch tới mức như đang muốn tróc cả lớp màu trên đồ sứ.

“Cô ấy muốn em cho xem mấy bức ảnh hồi nhỏ của Alex. Nhà cô ấy rõ ràng không có nhiều ảnh, theo như lời của Julia và cô ấy nghĩ em hẳn có nhiều hơn. Mà đúng thế thật. Thế rồi cô ấy hỏi em rất nhiều về những chuyện của tụi em lúc nhỏ. Ai cũng bảo em là hai chị em nhà họ không gần gũi lắm, cũng không lại vì sự chênh lệch tuổi tác, thế mà giờ cô ấy lại muốn biết rõ hơn về Alex. Để hiểu chị mình hơn. Đó là cảm tưởng của em. Thế anh đã bao giờ gặp Julia chưa?”

“Chưa, anh chưa gặp cô ấy bao giờ. Nhưng nghe nói hai người bọn họ không giống nhau chút nào,” Patrik nói.

“Không hề, ối trời ơi, không hề. Hai người bọn họ hoàn toàn đối lập, ít nhất là ở vẻ ngoài. Cả hai đều có vẻ hướng nội, mặc dù vậy Julia trông lúc nào cũng hầm hầm còn Alex thì không, Alex có vẻ, nói như thế nào nhỉ, xa cách, lãnh đạm hơn, dựa trên những nhận xét mà em nghe được. Còn Julia thì phải nói là luôn có vẻ oán giận. Hay thậm chí là cực kỳ giận dữ. Em có cảm tưởng như cơn thịnh nộ đang sôi sùng sục và chực bùng nổ ngay dưới bề mặt bên ngoài. Giống như núi lửa. Một ngọn núi lửa đang ngủ. Nghe có ngớ ngần không nhỉ?”

“Không, anh không nghĩ thế. Một tác giả như em hẳn phải có linh cảm tốt về người khác. Một sự hiểu biết về bản chất con người.”

“Ôi đừng có gọi em là tác giả. Em chưa nghĩ là mình xứng với nói.”

“Đã xuất bản bốn quyển sách mà vẫn chưa coi mình là tác giả sao?”

Patrik trông thực sự bối rối khiến Erica đành phải tìm cách giải thích.

“Bốn quyển hổi ký và đang viết quyển thứ năm. Em không định phủ nhận điều đó nhưng đối với em tác giả là người viết những gì tự trái tim và trí óc của mình chứ không chỉ miêu tả cuộc đời của một người khác. Cái ngày mà em viết ra được điều gì đấy tự bản thân mình thì em sẽ gọi mình là một tác giả.”

Đột nhiên cô bị dao động trước thực tế rằng những gì cô vừa nói cũng không hẳn đúng. Theo quan điểm đó thì sẽ chẳng có sự khác nhau nào giữa những quyển hồi ký mà cô viết về các nhân vật lịch sử với quyển sách mà cô viết về Alex. Nó cũng là viết về cuộc đời của một người khác. Tuy nhiên nói vẫn có gì đó khác biệt. Thứ nhất, cuộc đời Alex rõ ràng đã có những giao tuyến với cuộc đời cô và thứ hai là cô có thể bộc lộ một vài quan điểm của riêng mình trong sách. Nhưng cô không thể giải thích điều đó cho Patrik. Không ai biết là cô đang viết một cuốn sách về Alex.

“Vậy là Julia tới đây hỏi một loạt câu hỏi về Alex. Thế em có cơ hội hỏi cô ấy về Nelly Lorentz không?”

Erica đấu tranh tư tưởng kịch liệt và cuối cùng quyết định không nên giấu giếm thông tin với Patrik nữa. Có lẽ anh sẽ rút ra được kết luận nào đó trong khi cô thúc thủ. Đó là một mảnh nhỏ nhưng lại mang tính sống còn trong bức tranh ghép hình mà cô đã không tiết lộ trong bữa tối lần trước tại nhà anh. Nhưng từ đó tới giờ cô chẳng tiến xa thêm chút nào với thông tin ấy nên chẳng cần phải bo bo giữ lại nữa. Nhưng trước hết phải phục vụ món chính cái đã.

Cô cúi sang nhặt chiếc đĩa của anh lên, cố tình cúi thấp hơn bình thường. Cô định tận dụng tối đa quân át chủ bài của mình. Nhìn vẻ mặt của Patrik thì cô hẳn đã có được ba quân át. Cho tới giờ, chiếc áo lót Wonderbra của cô đã chứng tỏ bỏ ra năm trăm kronor thật không uổng phí. Mặc dù vậy nó cũng khiến túi tiền của cô lõm đi không ít.

“Để anh giúp em,” Patrik giành lấy hai chiếc đĩa trên tay cô rồi theo cô vào bếp. Cô gạn nước khoai tây rồi để anh giúp cô nghiền chúng. Cô hâm nóng lại nước xốt rồi nếm. Thêm một chút rượu porto, một khẩu phần bơ là xong. Không kem tươi gì cả. Việc cuối cùng là lấy phần thịt thăn tẩm bột đã nướng chín ra khỏi lò và xắt ra. Hoàn hảo. Màu hồng ở giữa nhưng không chảy nước đỏ cho thấy thịt chưa chín. Rau ăn kèm là đậu hòa lan hấp, đặt trong một chiếc bát sứ Roirstrand cùng khoai tây nghiền. Cả hai bưng đồ ăn ra bàn Cô để Patrik tự phục vụ rồi mới thả bom.

“Julia là người thừa kế duy nhất gia tài của Nelly Lorentz.”

Patrik vừa mới nhấp một ngụm rượu vang và rõ ràng đã bị sặc nên bắt đầu ho và phải vỗ ngực cho nguôi đi. Anh ho đến chảy cả nước mắt.

“Xin lỗi, em nói gì cơ?” Patrik nghèn nghẹn hỏi.

“Em nói rằng Julia là người thừa kế duy nhất gia sản của Nelly. Điều đó được viết trong di chúc của bà ấy.” Erica bình tĩnh trả lời, đoạn rót cho Patrik một ít nước để làm dịu cơn ho.

“Anh có thể hỏi làm sao em biết được chuyện đó không?”

“Vì em đã nhìn trộm sọt rác ở nhà Nelly khi bà ấy mời em tới dùng trà.”

Patrik lại ho thêm một đợt nữa và nhìn Erica với vẻ không tin nổi. Sau khi anh uống sạch một ngụm nước trong ly thì cô mới nói tiếp.

“Có một bản sao di chúc của bà ấy trong sọt rác. Nó tuyên bố một cách rõ ràng và rành mịch việc Julia Carlgren sẽ thừa kế gia tài của Nelly Lorentz. Tuy nhiên Jan cũng có một phần nhưng phần còn lại đều là của Julia.”

“Jan có biết chuyện đó không?”

Em không biết. Nhưng em nghĩ là anh ta có, à có lẽ là không biết đâu.”

Erica vừa ăn vừa nói.

“Thật ra em có hỏi Julia khi cô ấy tới đây là làm thế nào mà cô ấy lại quen thân với Nelly Lorentz như thế. Dĩ nhiên câu trả lời của cô ấy cực kỳ với vẩn. Kiểu như cô ấy có làm thêm công việc mùa hè ở nhà máy đóng hộp trong vài năm. Em không nghi ngờ việc cô ấy có đi làm ở đó thật nhưng cô ấy lại che giấu chuyện gì đó. Đây rõ ràng là chủ đề mà cô ấy muốn tránh.”

Patrik lại trầm ngâm. “Em có nhận ra rằng chúng ta có hai cặp đôi rất lệch trong cầu chuyện này không? Thậm chí có thể nói là hai cặp đôi trái ngược. Alex và Anders, Julia và Nelly. Mẫu số chung nhỏ nhất là gì? Anh có cảm giác nếu có thể tìm ra mối liên hệ giữa họ thì hẳn sẽ tìm ra giải pháp, cho mọi chuyện.”

“Alex. Alex không phải mẫu số chung nhỏ nhất sao?”

“Không, như thế thì quá đơn giản. Phải là một thứ khác. Một thứ mà chúng ta không thể nhìn thấy hoặc không thể hiểu được.”

Anh ve vẩy chiếc nĩa với vẻ phấn khích. “Còn Nils Lorentz nữa chứ. Hoặc chính xác hơn là vụ mất tích của anh ta. Hồi đó em vẫn ở Fjällbacka, em có nhớ chuyện gì không?”

“Hồi ấy, em vẫn còn nhỏ, chẳng ai nói chuyện đó với trẻ con. Nhưng em nhớ là ai cũng thì thì thào thào ra vẻ bí mật.”

“Bí mật?”

“Đúng thế, anh biết đấy, kiểu người lớn đang nói chuyện bỗng dừng lại khi em bước vào phòng. Rồi họ thì thầm với nhau kiểu cẩn thận, đừng để bọn trẻ nghe được. Nói cách khác là em chỉ biết lúc đó có rất nhiều lời bàn tán xung quanh việc Nils mất tích. Nhưng vì em còn quá nhỏ nên chẳng ai nói gì với em.”

“Hừm, anh sẽ phải điều tra thêm về vụ này. Nó sẽ nằm trong danh sách những việc cần làm ngày mai. Nhưng giờ đây anh đang bận dùng bữa tối với một người phụ nữ không chỉ rất xinh đẹp mà còn nấu ăn rất giỏi. Uống mừng sức khỏe nữ chủ nhân nào!”

Anh giơ ly rượu lên và Erica cảm thấy trong lòng phấn chấn vì lời khen. Không phải vì bữa ăn mà là vì anh khen cô đẹp. Mọi chuyện sẽ trở nên dễ dàng biết bao nếu chúng ta có thể đọc được suy nghĩ của đối phương. Việc đoán mò như thế này sẽ không cần thiết nữa. Thay vào đó, cô phải ngồi đây chờ đợi và hy vọng anh tỏ ra có chút hứng thú với minh. Nếu còn trẻ thì chỉ cần nhảy xổ vào và tận dụng lấy cơ hội, nhưng cùng với tuổi tác, cô có cảm giác như trái tim mình ngày càng kém linh hoạt. Không những phải nỗ lực nhiều hơn mà mức độ thương tổn tới sự tự tin của bản thân cũng ngày càng lớn hơn.

Sau khi Patrik dùng xong món chính và chấm dứt chủ đề về những cái chết bất ngờ, chuyển sang thảo luận về ước mơ, về cuộc đời và những vấn đề khác của thế giới, hai người ra hiên ngồi để bụng dạ nghỉ ngơi trước khi chuyển sang món tráng miệng. Mỗi người một góc sofa và nhấm nháp rượu. Chai rượu thứ hai đã gần cạn và họ bắt đầu cảm thấy tác dụng của rượu. Chân tay chậm chạp, nóng rực, còn đầu óc thì bồng bềnh êm ái. Bầu trời bên ngoài đen như mực, chẳng có lấy một vì sao soi rọi. Bóng tối dày đặc khiến họ có cảm giác đang được bao bọc trong một tổ kén lớn, có ảo tưởng như trái đất chỉ còn lại duy nhất hai người bọn họ. Erica chưa bao giờ cảm thấy vui sướng như vậy, cảm giác được ở nhà và là chính mình. Cô cầm ly rượu làm động tác quét một vòng không chỉ quanh hiên mà giống như muốn bao bọc cả ngôi nhà.

“Anh có thể tin được rằng Anna lại muốn bán đi tất cả những thứ này không? Đó không chỉ là ngôi nhà đẹp nhất trên thế giới này, mà còn là bao câu chuyện trong mỗi bức tường. Không chỉ là câu chuyện của em và Anna mà còn là chuyện của tất cả những ai đã từng sống ở đây. Anh có biết vị thuyền trưởng đã xây dựng ngôi nhà này cho gia đình mình vào năm 1889 không? Thuyền trưởng Wilhelm Jansson. Câu chuyện thực ra rất buồn, giống như bao nhiêu câu chuyện khác của thị trấn này. Ông ấy xây ngôi nhà cho mình và người vợ trẻ Ida. Trong vòng năm năm họ lần lượt sinh ra năm đứa con và đến lần sính thứ sáu thì Ida qua đời. Ngày đó làm gì có khái niệm cha đơn thân nuôi con nên người chị gái chưa kết hôn của thuyền trưởng Jansson đã dọn tới chăm sóc lũ trẻ trong khi ông lang bạt tứ hải. Nhưng chị gái Hilda của ông ấy không phải là một người mẹ nuôi lý tưởng. Bà ấy là người phụ nữ sùng đạo nhất vùng, nói thế để biết mức độ sùng đạo của bà ấy nghiêm trọng tới mức nào vì vùng này đã rất nổi tiếng vì mê tín rồi. Lũ trẻ gần như không thể làm gì mà không bị cho là phạm lỗi, và những trận đòn mà chúng nhận từ Hilda đều dưới đánh nghĩa bàn tay sắt và sự kính Chúa. Thời này mà như thế, bà ta hẳn bị gọi là kẻ thích dùng bạo lực với trẻ con, nhưng vào thời kỳ đó người ta hoàn toàn có thể che giấu khuynh hướng bạo lực này dưới cái lốt tôn giáo.

“Thuyền trưởng Jansson không thường xuyên có mặt ở nhà để chứng kiến lũ trẻ bị đối xử tàn tệ như thế nào nhưng hẳn phải có chút nghi ngờ. Nhưng giống như phần lớn những người đàn ông khác, ông ấy coi việc dạy dỗ trẻ con là việc của phụ nữ và cho rằng mình đã hoàn thành bổn phận khi cho chúng một mái nhà và thức ăn trên bàn. Cho tới một ngày, ông về nhà và phát hiện ra đứa con gái nhỏ nhất của minh, Marta, đã bỏ đi suốt một tuần với một cánh tay bị gãy. Thế là Hilda bị tống ra khỏi nhà và thuyền trưởng Jansson, vốn là một người đàn ông thích hành động, lập tức tìm kiếm trong vùng một người phụ nữ chưa kết hôn để trông coi lũ trẻ. Ông ấy đã có một lựa chọn tốt. Trong vòng hai tháng ông đã kết hôn với Lina Mansdotte, một phụ nữ mạnh khỏe, rắn rỏi, con gái một người chăn nuôi gia súc và bà đã tiếp nhận lũ trẻ như chính con mình. Hai người còn có thêm bảy đứa con chung nữa nên ngôi nhà hẳn phải đông đúc lắm. Nếu anh nhìn kỹ xung quanh hẳn sẽ thấy dấu vết của những đứa trẻ đó. Những vết lồi lõm, và vết xước có ở khắp nơi.”

“Sao cha em lại mua được ngôi nhà?”

“Theo thời gian các anh em nhà Jansson cứ tản mát dần. Thuyền trưởng Jansson và Lina sau này trở thành một đôi tâm đầu ý hợp đều lần lượt qua đời. Người duy nhất còn ở lại ngôi nhà là con trai trưởng của họ, Allan. Ông ấy không bao giờ kết hôn và khi trở nên lớn tuổi thì không còn sức cai quản cả ngôi nhà nên quyết định bán. Bố lúc đó vừa lấy mẹ và đang đi tìm nhà. Bố nói là lập tức thích ngôi nhà này và đã mua nói không chút do dự.

“Khi bán nhà cho bố, Allan cũng đã kể lại lịch sử ngôi nhà cho ông nghe. Câu chuyện về ngôi nhà và gia đình của ông ấy. Điều đó rất quan trọng đối với ông ấy và bố em thì biết cả những đứa trẻ đã từng chạy mòn sàn gỗ trong ngôi nhà này. Allan cũng để lại một số tư liệu. Những bức thư thuyền trưởng Jansson gởi về từ khắp nơi trên thế giới, cho vợ ông Ida rồi cho Lina. Ông ấy cũng để lại chiếc roi đã mà Hilda dùng để trừng phạt lũ trẻ. Nó vẫn được treo dưới hầm rượu. Lúc còn nhỏ, em và Anna vẫn thường xuống dưới đó xem và sờ vào nói. Chúng em có nghe chuyện về Hilda và thường tưởng tượng ra sẽ như thế nào khi bị chiếc roi đó quật vào người. Chúng em rất thương những đứa trẻ đã bị đối xử tàn tệ ấy.”

Cô ngước nhìn Patrik rồi nói tiếp. “Giờ anh đã hiểu vì sao em rất đau lòng khi nghĩ tới việc phải bán đi ngôi nhà này rồi đấy. Bán đi nghĩa là sẽ không bao giờ còn có thể có lại được nữa. Một quyết định không thể vãn hồi. Em muốn bệnh khi nghĩ tới những người Stockholm lắm tiền sẽ đổ bộ vào đây, cạo lại sàn nhà, thay giấy dán tường mới với hình vỏ sò, chưa kể tới việc một chiếc cửa kính toàn cảnh sẽ được dựng lên ở đây, trên hiên nhà này với tốc độ nhanh hơn cả khi em kịp nói hai chữ ‘gu kém’. Ai hơi đâu đi quan tâm việc gìn giữ những vệt bút chì phía sau chạn bếp nơi mỗi năm đều đánh dấu chiều cao của lũ trẻ? Ai hơi đâu quan tâm tới việc những bức thư của thuyền trưởng Jansson trong đó cố gắng miêu tả cho hai người vợ gần như không ra khỏi xứ đạo của mình về những vùng biển phía Nam trông như thế nào? Câu chuyện của họ sẽ bị xóa bỏ và rồi ngôi nhà này sẽ chỉ là một ngôi nhà. Như bất cứ ngôi nhà cũ nào khác. Đẹp đẽ nhưng không có linh hồn.”

Cô nghe thấy mình bắt đầu nói năng lộn xộn nhưng vì một lý do nào đó cô muốn Patrik hiểu được tâm ý của mình. Cô nhìn anh. Anh cũng đang nhìn cô chằm chằm khiến cô đỏ mặt. Có gì đó đã diễn ra. Một khoảnh khắc tương thông, và trước khi cô kịp nhận ra chuyện gì thì Patrik đã chuyển tới ngồi cạnh cô và sau một giây do dự, đã mạnh dạn áp môi lên môi cô. Ban đầu, cô chỉ cảm thấy hương vị của rượu vang vấn vít trên môi họ và rồi cô cảm nhận được hương vị của anh. Cô từ tốn hé môi và cảm nhận được đầu lưỡi của anh đang sục sạo trong miệng. Cả người cô như có điện giật.

Một lúc sau, ước chừng chịu không nổi, cô đứng dậy cầm tay anh, lẳng lặng không nói, dẫn anh lên phòng ngủ. Họ nằm xuống giường vừa ôm ấp vừa hôn môi. Một lúc sau, Patrik liếc nhìn cô dò hỏi rồi bắt đầu cởi khuy sau lưng váy của cô. Cô im lặng chấp nhận bằng cách cởi các cúc áo sơ mi của anh. Đột nhiên cô nhớ ra chiếc quần lót mình đang mặc không phải là thứ cô muốn Patrik nhìn thấy trong lần đầu tiên lên giường với cô. Chỉ có Chúa mới biết được chiếc quần lót cô đang mặc mới kém gợi cảm làm sao. Làm thế nào có thể cởi chúng ra cùng với quần tất mà không bị Patrik nhìn thấy. Erica bỗng nhỏm dậy.

“Xin lỗi, em phải vào nhà vệ sinh một chút.”

Cô chạy vội vào buồng tắm, hốt hoảng nhìn quanh. May quá, có một đống quần áo sạch trong giỏ giặt là mà cô chưa có thời gian cất đi. Cô tụt chiếc quần tất chật ra và vứt nó cùng chiếc quần lót bà già vào trong giỏ quần áo. Rồi cô mặc một chiếc quần lót bằng ren trắng đi đôi với áo lót của mình. Cô kéo váy lên và cẩn thận kiểm tra lại trong gương. Tóc cô rối bời và hơi xoăn, đôi mắt rừng rực. Môi cô đỏ hơn thường lệ và hơi sưng do hôn nhiều Thành ra trông lại gợi cảm, cô thầm nghĩ. Có điều mặc không quần lót đặc biệt thì bụng cô không phẳng như mong muốn. Cô liền thóp bụng lại và ưỡn ngực trong lúc trở ra với Patrik lúc này vẫn đang nằm trên giường như lúc cô rời đi.

Quần áo của họ bắt đầu biến mất, lần lượt hạ cánh xuống sàn nhà. Lần đầu tiên không phải lúc nào cũng tuyệt vời như trong các tiểu thuyết tình yêu mà giống như một sự pha trộn giữa cảm giác mạnh và sự ngượng ngùng. Khi cơ thể họ phản ứng một cách mãnh liệt dưới sự đụng chạm của đối phương, thì họ cũng nhận thức được sự trần trụi của mình, lo lắng về những khuyết điểm sẽ phơi bày hay những âm thanh không nên có. Họ vụng về và không chắc chắn đối phương thích gì và không thích gì. Chưa đủ hiểu đối phương để có thể phát biểu ý kiến thành lời. Thay vào đó họ dùng những âm thanh nho nhỏ trong cổ họng để biểu đạt thứ họ muốn và thứ cần phải chấn chỉnh. Lần thứ hai có tốt hơn. Lần thứ ba thì hoàn toàn có thể chấp nhận được. Lần tư thì rất tốt và lần thứ năm phải nói là tuyệt vời. Rồi họ lăn ra ngủ, dính lấy nhau như hai chiếc thìa úp. Điều cuối cùng Erica nhận thấy trước khi chìm vào giấc ngủ là cánh tay của Patrik choàng qua ngực cô vẻ bao bọc và những ngón tay của họ đan vào nhau. Cô nhắm mắt lại với một nụ cười trên môi.

—★—

Đầu Patrik như đang nứt ra. Miệng anh khô khốc, lưỡi như cứng lại trên hàm, nước miếng hẳn phải di chuyển đi đâu đó vì một bên gối hơi ướt. Giống như ai đó đang cố kéo hai mí mắt của anh xuống không cho anh mở mắt. Chật vật một lúc anh cũng mở được mắt ra.

Anh cứ như đang nhìn thấy ảo ảnh. Erica nằm nghiêng, quay về phía anh với mái tóc xoăn dài xõa quanh mặt. Cô ấy dường như đang mơ vì hai hàng lông mi khẽ lay động và mí mắt hơi giần giật. Patrik cho rằng anh có thể nằm đây ngắm cô như thế này cả đời cũng không mệt. Erica khẽ giật mình trong giấc ngủ nhưng lại nhanh chóng ổn định nhịp thở. Đúng là giống như đi xe đạp. Anh không chỉ ám chỉ khía cạnh tình dục mà còn là cảm giác khi yêu một người phụ nữ. Trong những ngày đêm tối tăm và u ám anh đã nghĩ sẽ không bao giờ có thể tìm lại cảm giác này nữa. Nhưng giờ thì không thể nào phủ nhận được.

Erica khẽ cựa quậy và anh biết cô sắp tỉnh dậy. Cô cũng cố gắng lắm mới mở mắt ra được. Và anh lại một lần nữa sửng sốt khi thấy mắt cô mới xanh làm sao.

“Chào buổi sáng, đồ ham ngủ.”

“Chào buổi sáng.”

Nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt cô khiến anh có cảm giác như mình là triệu phú.

“Anh ngủ ngon không?” Erica hỏi.

Patrik nhìn những con số nhấp nháy trên chiếc đồng hồ báo thức. “Anh đã ngủ hai tiếng đồng hồ rất tuyệt. Nhưng những giờ tỉnh táo trước đó còn tuyệt vời hơn rất nhiều.”

Erica chỉ mỉm cười đáp trả.

Patrik nghi ngờ hơi thở lúc mới ngủ dậy của mình nhưng vẫn không cưỡng nổi ý muốn cúi xuống hôn cô. Nụ hôn đang lúc càng sâu và một giờ đồng hồ nữa lại trôi qua. Sau cùng Erica nằm gối lên cánh tay anh và dùng ngón tay vẽ những vòng tròn lên ngực anh.

“Hôm qua lúc anh tới, anh có nghĩ là mình sẽ kết thức ở trên giường không?”

Anh nghĩ một lúc rồi mới trả lời, tay phải kê phía sau đầu. “Kh…ô…ng, không thể nói là anh cho rằng chuyện đó sẽ xảy ra. Nhưng anh đã hy vọng là nó sẽ xảy ra.”

“Em cũng vậy. Không phải là dự tính mà hy vọng.”

Patrik quyết định sẽ liều một phen, nhất là với Erica trong vòng tay thì chẳng có gì là anh không dám.

“Sự khác biệt là ở chỗ, cho mãi tới gần đây em mới bắt đầu có hy vọng đó, đúng không? Thế em có biết là anh đã hy vọng điều đó từ bao lâu rồi không?”

Cô nhìn anh bối rối. “Em không biết, là từ bao giờ?”

Patrik ngừng lại một lúc để tăng thêm kịch tính. “Lâu lắm rồi, lâu tới chẳng còn nhớ được nữa, anh đã yêu em từ lâu tới mức anh chẳng còn nhớ nổi.” Giờ nghe chính miệng mình thổ lộ anh mới cảm nhận được tình cảm của mình là chân thành.

Erica mở to mắt nhìn anh. “Anh đúng là biết nói đùa! Để em suốt ngày quay cuồng không biết anh ý có mảy may thích mình tí nào không. Giờ anh lại bảo, muốn biếu không em từ lâu.”

Giọng cô vui vẻ nhưng anh có thể nhận thấy cô rõ ràng bị tác động trước những gì anh nói.

“Anh cũng không hẳn suốt đời sống độc thân hay cô độc về mặt tình cảm. Dĩ nhiên là anh cũng đã yêu những người phụ nữ khác, như Karin chẳng hạn. Nhưng em vẫn luôn giữ một vị trí đặc biệt trong lòng anh. Anh luôn có cảm giác gì đó mỗi khi nhìn thấy em.” Anh nói rồi đặt tay lên vị trí tim mình. Erica cầm lấy tay anh, đặt lên đó một nụ hôn và rồi áp lên mà mình. Cử chỉ đó đủ nói với anh hết thảy.

Họ dành cả buổi sáng hôm đó để hiểu nhau hơn. Khi Erica hỏi Patrik muốn làm gì những lúc rãnh rỗi thì câu trả lời của anh lập tức bị át đi bởi tiếng gầm gừ phản đối.

“Ôi không… không… Đừng có thêm một nhân vật hâm mộ thể thao nữa chứ! Ôi sao tôi không thể tìm được anh chàng nào đủ thông minh để nhận ra rằng việc rãnh rang đuổi theo quả bóng trên bãi cỏ chỉ hoàn toàn phù hợp với một đứa trẻ năm tuổi. Hay ít nhất thì cũng biết tự hỏi việc nhảy hai mét qua một cái xà trên cao thì có ích gì cho nhân loại?”

“Hai mét bốn mươi lăm.”

“Hai mét bốn mươi lăm là cái gì cơ chứ?” Giọng điệu của Erica rõ ràng là không có hứng thú.

“Người nhảy cao nhất thế giới, Sotomayor ấy, đã nhảy qua mức hai mét bốn mươi lăm. Vô địch bên phái nữ thì là khoảng hai mét.”

“Ờ ờ, thế nào chẳng được.” Cô nói rồi nhìn anh với vẻ khả nghi.

“Anh có kênh thể thao châu Âu đúng không?”

“Ừ.”

“Và kênh Canal+, không phải là kênh phim đâu mà là kênh thể thao ấy?”

“Cũng có luôn.”

“Cả kênh TV1000 nữa, với cùng một lý do?”

“Đúng vậy. Nhưng để nói cho chính xác thì anh dùng thuê bao kênh TV1000 còn là vì lý do khác ngoài thể thao.”

Erica phát vào ngực anh một cái. “Em quên gì à?”

“Ừ, kênh TV3 cũng có rất nhiều thể thao.”

“Phải nói là ra đa phát hiện những kẻ cuồng thể thao của em là rất nhạy nhé. Tuần trước em đã phải trải qua một buổi tối buồn chán khủng khiếp ở nhà bạn em, Dan, để xem một trận khúc côn cầu Olympic. Em chỉ không hiểu sao người ta có thể lấy làm thú vị khi ngồi xem mấy anh chàng đóng bộ dày cộm rượt đuổi vờn quanh một cái vật bé tí màu đen.”

“Nói thế nào đi nữa thì vẫn thú vị và phong phú hơn việc cả ngày đi từ cửa hàng quần áo này sang cửa hàng quần áo khác.”

Để đáp lại đòn tấn công trắng trợn của anh đối với cám dỗ lớn nhất đời mình, Erica khẽ nhăn mũi làm mặt khi với Patrik. Cô thấy mắt anh đột nhiên lóe sáng.

“Chết thật,” anh ngồi bật dậy trên giường.

“Gì thế?”

“Chết thật, mẹ kiếp, khỉ thế chứ!”

Erica trừng mắt nhìn anh.

“Thế quái nào mà mình lại bỏ lỡ một chi tiết như thế? Anh lấy tay đập vào trán nhiều lần.

“Ê này, Patrik, quay trở về trái đất đi! Anh có thể làm ơn cho em biết chuyện gì đang xảy ra không?”

Erica vẫy vẫy hai tay trước mặt anh. Patrik mất tập trung trong giây lát khi nhìn thấy bộ ngực trần của cô khẽ nhún nhảy khi làm động tác đó. Rồi anh nhảy ào ra khỏi giường, trần trụi như một đứa trẻ sơ sinh chạy vội xuống cầu thang. Anh trở lại với mấy tờ báo, ngồi xuống giường và bắt đầu giở lia lịa. Erica lúc này đã chán chẳng buồn hỏi nữa, chỉ kiên nhẫn quan sát anh với vẻ hứng thú.

“A ha!” Patrik reo lên vẻ đắc thắng, “May là em không vứt mấy chương trình ti vi cũ đi.”

Anh giơ một tờ báo ra trước mặt cô. “Thụy Điển và Canada.”

Erica im lặng nhướng mày.

Patrik bắt đầu kiên nhẫn giải thích. “Đội tuyển Olympic Thụy Điển đánh bại đội tuyển Olympic Canada. Vào thứ Sáu, ngày 22 tháng Một. Trên kênh TV3.”

Cô vẫn nhìn anh không chút biểu cảm. Anh thờ dài thườn thượt.

“Tất cả các chương trình khác đều phải hoãn lại vì trận đấu này. Anders không thể về nhà vào lúc phát sóng chương trình Hai thế giới tách biệt hôm thứ Sáu đó được bởi vì nọ đã bị hoãn. Em đã hiểu chưa?”

Một lúc sau Erica mới sáng tỏ. Anders không còn bằng chứng ngoại phạm nữa. Dù chỉ là một bằng chứng ngoại phạm mỏng manh, nhưng cảnh sát cũng vất vả mới lật ngược được tình thế. Giờ họ lại có thể bắt giữ Anders dựa trên những bằng chứng họ đã có từ trước. Patrik gật gù thỏa mãn khi thấy Erica đã hiểu ra mọi chuyện.

“Nhưng anh không cho rằng Anders là thủ phạm, đúng không?” Erica nói.

“Không, dĩ nhiên là không. Nhưng đôi khi anh cũng có thể sai, dù em tin hay không.” Anh nháy mắt với cô. “Mặt khác nếu anh không nhầm thì anh cược rằng Anders biết nhiều hơn những gì anh ta đã khai báo. Giờ bọn anh sẽ có cơ hội ép anh ta khai ra nhiều hơn.” Patrik bắt đầu đi quanh tìm quần áo. Chúng nằm rải rác khắp nơi nhưng đáng báo động hơn cả là chân anh vẫn đi tất. Anh nhanh chóng kéo quần lên và hy vọng trong lúc cao hứng Erica không để ý tới đôi tất của mình. Trông thật chẳng giống nam thần chút nào với đôi tất trắng thêu dòng chữ “Tanumshede IF”.

Đột nhiên anh có cảm giác không thể chậm trễ và bắt đầu luống cuống mặc quần áo. Đầu tiên thì cài nhầm khuy áo, khiến anh vừa lẩm bẩm chửi thề vừa cởi hết khuy ra để cài lại từ đầu. Rồi lập tức nhận ra hành động thất thố của mình, anh liền ngồi xuống cạnh giường, cẩm lấy tay Erica và nhìn sâu vào mắt cô.

“Anh xin lỗi vì đã phải đi vội vã thế này nhưng anh chẳng còn cách nào khác. Anh chỉ muốn em biết rằng đêm qua là đêm tuyệt vời nhất trong cuộc đời anh và anh không thể chờ được tới lần tiếp theo. Em có muốn gặp lại anh nữa không?”

Những gì mà họ vừa chia sẻ vẫn còn rất mỏng manh và tế nhị nên anh nín thở hồi hộp trong khi chờ câu trả lời của cô. Cô gật đầu. “Vậy anh có thể quay lại đây sau khi xong việc chứ?”

Erica lại gật đầu. Anh cúi xuống hôn cô.

Khi anh rời đi cô vẫn ngồi trên giường, hai đầu gối co lên và tấm chăn đắp lỏng lẻo quanh người. Mặt trời chiếu qua những ô cửa nhỏ tạo thành một vầng hào quang xung quanh mái đầu óng ả của cô. Đó là cảnh tượng đẹp nhất mà anh từng thấy.

—★—

Tuyết ướt nhẹp và dai dẳng thấm qua đôi giày bệt mỏng tang của Bengt Larsson. Đôi giày của ông vốn chỉ thích hợp cho mùa hè nhưng uống rượu cũng là một cách hữu hiệu để chống rét. Giữa hai sự lựa chọn, mua một đôi giày mùa đông hay cả một lít rượu trắng để uống thì quyết định rất dễ dàng.

Không khí trong trẻo và sạch sẽ cùng thứ ánh sáng dịu dàng của buổi sáng sớm ngày thứ Tư khiến trong lòng Bengt tràn ngập một cảm giác từ lâu thiếu vắng. Đó là một cảm giác yên bình tới sửng sốt khiến ông tự hỏi điều gì ở một buổi sáng thứ Tư bình thường đã tạo ra thứ cảm xúc đặc biệt ấy? Ông dừng lại và hít thở không khí ban mai, hai mắt nhắm nghiền. Hình dung ra một cuộc đời đầy những buổi ban mai như thế.

Ông biết rất rõ các ngã rẽ đó. Biết chính xác cái ngày mà cuộc đời ông đã ngoặt theo cái hướng bất hạnh này. Ông thậm chí còn nhớ cả giờ giấc. Và chẳng có gì để chối cãi. Chẳng có gì để đổ lỗi. Chẳng vì nghèo đói hay thiếu tình thương. Thứ duy nhất cần trách cứ chính là sự ngu xuẩn và sự tự tin quá mức vào bản thân. Và dĩ nhiên là vì dính dáng tới một cô gái.

Hồi đó ông mới mười bảy tuổi và mọi việc ông làm đều liên quan tới một cô gái. Nhưng cô gái ấy rất đặc biệt. Maud, với mái tóc vàng rực rỡ và vẻ ngượng ngùng giả tạo, luôn chơi đùa với ông như một chiếc đàn violon đã lên dây. “Bengt thân mến, em chỉ cần có… Bengt thân mến, anh có thể cho em một…” Cô nắm dây thừng và ông ngoan ngoãn chui đầu vào rọ cho cô ấy dắt mũi lôi đi. Ông dành dụm tất cả sổ tiền kiếm được để mua nước hoa, quần áo đẹp và tất cả những gì cô ấy muốn. Nhưng ngay khi có được những gì mình muốn cô ấy lại ném chúng sang một bên và cầu xin những thứ khác, và đó chính là điều duy nhất khiến cô ấy vui.

Maud giống như một cơn sốt trong huyết quản của ông mà ông không nhận biết được uy lực của nó cứ ngày một tăng lên, cho tới khi chẳng còn biết phân biệt phải trái gì nữa. Năm ông mười tám tuổi, Maud quyết định sẽ không đi chung với ông nữa nếu ông không mua nổi một chiếc Cadllac mui trần. Nó còn hơn cả một năm tiền lương của ông cộng lại khiến hằng đêm ông mất ngủ vì suy nghĩ, tìm mọi cách đế kiếm được số tiền đó. Trong lúc ông lo lắng, bị giày vò khổ sở thì Maud thỉnh thoảng lại đâm chọc, ám chỉ rằng nếu ông không mua được chiếc xe đó thì thiếu gì các chàng trai khác ở ngoài kia sẵn sàng chiều chuộng cô như cô vốn xứng đáng được thế. Thói ghen tuông cùng với sự tra tấn của nhiều đêm lo âu, mất ngủ khiến ông lâm vào đường cùng.

Ngày 10 tháng Chín năm 1950, chính xác là vào lúc hai giờ chiều, ông đã tới nhà băng ở Tanumshede với một khẩu súng lục cũ của quân đội mà cha ông đã cất giữ ở nhà suốt nhiều năm nay, với một chiếc túi ni lông trùm qua đầu. Chẳng có gì suôn sẻ. Nhân viên nhà băng đã thảy hết số tiền vào chiếc tủ ông mang theo nhưng không nhiều như ông tưởng. Rồi một khách hàng, bố của một người bạn cùng lớp, đã nhận ra Bengt. Chưa đầy một tiếng sau cảnh sát đã có mặt tại căn hộ của bố mẹ ông và tìm thấy túi tiền dưới gầm giường. Bengt không bao giờ quên được vẻ mặt lúc đó của mẹ ông. Bà đã qua đời từ nhiều năm nay nhưng ánh mắt của bà vẫn ám ảnh ông mỗi khi bắt đầu say.

Ba năm trong nhà tù đã giết hết mọi hy vọng vào tương lai. Lúc ông ra tù thì Maud đã biến mất từ lâu. Ông không biết cô ấy đã đi đâu và cũng chẳng quan tâm. Tất cả bạn bè ông cũng đã có gia đình hay công việc ổn định và không muốn dính dáng tới ông nữa. Cha ông đã mất trong một vụ ta nạn xe cộ lúc Bengt ở tù nên ông chuyển tới sống với mẹ. Với án tù trong lý lịch, ông cố gắng tìm việc nhưng đi đâu cũng bị từ chối. Không ai muốn mướn ông cả. Và thứ cuối cùng khiến ông đắm chìm trong men rượu chính là những ánh mắt coi thường của mọi người không ngừng theo đuổi ông khắp mọi nơi.

Với một người lớn lên trong một cộng đồng khép kín ở một thị trấn nhỏ nơi tất cả mọi người đều có thói quen chào hỏi nhau trên đường phố thì cái cảm giác bị cô lập thật là đau đớn, chẳng khác gì bị tra tấn về thể xác. Ông đã nghĩ tới việc rời khỏi Fjällbacka, nhưng biết đi đâu? Thà ở lại và chìm đắm trong men rượu còn hơn.

Ông và Anders ngay lập tức trở nên thân thiết. Hai kẻ khốn nạn, họ thường nói rồi phá ra cười một cách chua xót. Bengt luôn ấp ủ một thứ tình cảm gần như cha con với Anders và cảm thấy thương tiếc cho số phận của cậu ta còn hơn là của mình. Ông vẫn thường mong có thể làm gì đó để hướng cuộc đời Anders sang một ngả khác. Nhưng vì ông cũng biết uy lực cám dỗ của rượu mạnh đến mức nào, giống như bài hát của nàng tiên cá khiến cho người ta u mê và việc dứt khỏi men rượu sau nhiều năm nghiện ngập là không thể. Rượu đòi hỏi mọi thứ và chẳng trả lại thứ gì. Tất cả những gì ông và Anders có thể làm cho nhau là chút an ủi và sự đồng hành.

Con đường dẫn tới cửa trước khu nhà của Anders đã được cẩn thận rải muối để tan băng. Nên Bengt không cần phải dò dẫm bước đi vì sợ làm vỡ chai rượu trong túi giống như vô số lần những mùa đông trước khi con đường đóng băng sáng lóa và trơn tuột tới tận chân cầu thang.

Trèo bộ hai tầng tới nhà Anders luôn là một thử thách, ở đây không có thang máy. Ông phải dừng lại vài lần và làm hai ngụm rượu để lấy sức. Cuối cùng, tới được trước cửa nhà Anders, ông không khỏi thở hổn hển. Ông đứng tựa vào khung cửa một lát trước khi đẩy cửa bước vào vì biết Anders không bao giờ khóa cửa.

Bên trong căn hộ rất yên tĩnh. Có lẽ Anders không ở nhà. Nếu cậu ta đang ngủ thì có thể nghe thấy tiếng thở sâu và tiếng ngáy do bị nghẹt mũi của cậu ta từ hành lang này. Bengt nhìn vào bếp. Chẳng có ai ở đó ngoài đám vi trùng sinh sôi nảy nở. Cửa phòng tắm mở toang và trống vắng. Khi quay sang phòng khách, trong lòng ông trào lên một cảm giác vô cùng khó chịu. Quang cảnh trong phòng khiến ông sững sờ. Chai rượu đang cầm trên tay rơi xuống sàn choang một tiếng nhưng không vỡ.

Thứ đầu tiên ông thấy là hai bàn chân lủng lẳng phía trên sàn nhà. Hai bàn chân trần khẽ đong đưa tới lui. Anders có mặc quần nhưng nửa thân trên trần trụi. Đầu nghẹo xuống một góc kỳ lạ. Mặt sưng lên và trắng bệch, cái lưỡi giống như to quá khổ thè ra khỏi miệng. Đó là cảnh tượng thê thảm nhất mà Bengt đã từng chứng kiến. Ông quay người lặng lẽ ra khỏi căn hộ, không quên nhặt chai rượu lên. Ông cố gắng tìm ra thứ gì đó trong thâm tâm để có thể bấu víu vào nhưng chỉ thấy trống rỗng. Thế là ông đành túm lấy chiếc phao cứu sinh duy nhất mà ông biết. Ông ngồi xuống trước ngưỡng cửa căn hộ của Anders, kề chai rượu lên miệng và bắt đầu khóc.

—★—

Không chắc lượng cồn trong máu anh đã trở lại mức cho phép, nhưng Patrik chẳng có thời gian bận tâm tới chuyện đó lúc này. Anh lái xe chậm hơn một chút so với thường lệ vì lý do an toàn nhưng không hẳn tuân thủ luật lệ khi bấm số và nói chuyện điện thoại di động.

Đầu tiên anh gọi điện cho kênh TV3 và được xác nhận rằng chương trình Hai thế giới tách biệt đã bị hoãn lại vào ngày thứ Sáu ngày 22 tháng Một vì trận khúc côn cầu. Rồi anh gọi điện cho Mellberg, và đúng như anh mong đợi, ông ta tỏ ra vô cùng phấn khích khi nghe tin này. Ông ta yêu cầu lập tức bắt giam Anders trở lại. Patrik thực hiện cuộc gọi thứ ba yêu cầu được tiếp ứng rồi lái xe thẳng tới khu dân cư mà Anders đang sống. Jenny Rosén hẳn đã nhầm ngày. Chuyện này vẫn thường xảy ra với các nhân chứng.

Bất chấp sự hưng phấn vì có thể sắp có được bước đột phá trong vụ án, đầu óc Patrik vẫn không tài nào tập trung được vào nhiệm vụ. Suy nghĩ của anh cứ quanh quẩn về Erica và đêm hôm trước. Anh thấy mình cười ngoác tới mang tai như một tên ngốc và tay không ngừng tự động gõ nhịp trên vô lăng. Anh bật một kênh radio cũ và nghe bài “Respect” của ArethaiFranklin. Những âm thanh tươi vui bên kia Đại Tây Dương hoàn toàn phù hợp với tâm trạng của anh lúc này khiến anh vặn to âm thanh lên. Tới đoạn điệp khúc anh cũng gào lên hết cỡ và không ngừng nhún nhảy từ vị trí của mình. Anh thấy mình hát không tệ cho tới lúc radio tắt ngóm và chỉ còn lại giọng anh đang rít lên R-E-S-P-E-C-T. Thật là hại thính giác.

Đêm qua giống như một giấc mơ say sưa nhưng không chỉ vì họ uống quá nhiều. Mà tựa như có một bức màn che hay một tấm khăn mờ ảo của tình yêu, xúc cảm và tình dục bao phủ lấy thời gian.

Anh miễn cưỡng đẩy những ý nghĩ về ngày hôm qua ra khỏi đầu khi rẽ vào bãi đỗ xe phía trước khu dân cư. Xe cảnh sát tiếp ứng đã xuất hiện sớm sủa bất thường. Họ hẳn đang làm nhiệm vụ ở gần đó. Anh nhìn thấy hai chiếc xe cảnh sát đèn xanh nhấp nháy và không khỏi cau mày. Anh yêu cầu cử tới một chứ không phải hai chiếc. Nhưng khi lại gần thì anh phát hiện ra phía sau xe cảnh sát còn có một xe cứu thương. Có gì đó không ổn.

Anh nhận ra Lena, nữ cảnh sát tóc vàng ở Uddevalla, bèn tiến về phía cô. Cô đang nói chuyện điện thoại nhưng khi anh tới gần liền ngắt máy. Anh nghe thấy một chữ “tạm biệt” trước khi cô nhét điện thoại vào bao đeo ở thắt lưng.

“Chào anh, Patrik.”

“Chào cô, Lena, có chuyện gì thế?”

“Một kẻ say rượu đã tìm thấy Anders Nilsson treo cổ trong căn hộ của mình.”

Cô nghiêng đầu về phía cửa chính. Patrik cảm thấy lạnh toát trong người.

“Các cô không đụng vào thứ gì chứ?”

“Không, anh nghĩ chúng tôi là ai chứ? Tôi vừa liên lạc với trực ban ở Uddevalla và họ sẽ gửi một đội kĩ thuật tới hiện trường. Chúng tôi đã nói chuyện với Mellberg nên đoán là anh tới đây do ông ấy gọi.”

“Không, tôi trên đường tới giải Anders về đồn để thẩm vấn thêm.”

“Tôi nghe nói anh ta có bằng chứng ngoại phạm cơ mà?

“Chúng tôi cũng nghĩ vậy nhưng bằng chứng ngoại phạm của anh ta không thành nên đang định thẩm vấn lại.”

“Mẹ kiếp, đen đủi quá nhỉ. Anh có biết điều đó có nghĩa gì không? Ý tôi là chẳng nhẽ lại xuất hiện những hai kẻ sát nhân ở Fjällbacka. Anh ta hẳn bị chính thủ phạm đã ra tay với Alex Wijkner sát hại. Các anh có kẻ tình nghi nào khác ngoài Anders không?”

Patrik cố bình tĩnh lại. Đúng là chuyện này sẽ thay đổi lại tất cả nhưng anh vẫn chưa sẵn sàng đưa ra kết luận giống Lena, rằng Anders bị chính kẻ sát hại Alex Wijkner giết. Dĩ nhiên con số thống kê cũng nói ngược lại. Suốt mấy chục năm qua ở đây chẳng xảy ra án mạng nào thế mà một lúc có hai kẻ sát nhân đang nhởn nhơ. Nhưng anh cũng không thể loại trừ mọi khả năng có thể xảy ra.

“Thôi, ta đi lên đó một chút xem thế nào. Rồi cô có thể cho tôi biết nhưng thông tin mà cô nắm được. Chẳng hạn như ai đã gọi điện báo?”

Lena đi trước, bước lên cầu thanh trước anh.

“Như tôi đã nói, một trong những bạn rượu của Anders tên là Bengt Larsson đã phát hiện ra anh ta. Sáng nay ông ta tìm tới để cùng làm mấy chén lấy động lực. Ông ta vẫn thường xông thẳng vào nhà, hôm nay cũng thế. Ông ta phát hiện ra Anders bị treo trên một sợi dây thừng buộc vào móc treo đèn trên trần nhà.”

“Ông ta lập tức gọi cảnh sát?”

“Thật ra thì không. Ông ta ngồi trước cửa và giải sầu bằng một chai Vodka Explorer. Cho tới khi một người hàng xóm đi ngang qua hỏi thăm thì ông ta mới phun ra. Người hàng xóm gọi điện cho chúng tôi. Bengt Larsson vẫn còn quá say để có thể hỏi thêm chi tiết nên tôi gửi ông ta tới chỗ tạm giam cho mấy kẻ say rượu ở đồn các anh rồi.”

Patrik thầm hỏi sao không thấy Mellberg gọi điện cho anh thông báo tình hình nhưng ngẫm rồi lại thôi, hành động của ngài cảnh sát trưởng vẫn luôn khó đoán.

Patrik nhảy hai bậc cầu thang một, vượt qua mặt Lena. Khi họ lên tới tầng hai thì cửa căn hộ mở toang và mọi người đang di chuyển bên trong. Jenny đang đứng trước căn hộ nhà mình, trên tay bế Max. Khi Patrik tiến về phía họ, Max giơ bàn tay mũm mĩm lên vẫy anh với vẻ vui sướng và nở nụ cười để lộ hàm răng sún.

“Chuyện gì đã xảy ra vậy?” Jenny siết chặt lấy Max, lúc này đang tìm cách vùng khỏi vòng tay mẹ.

“Chúng tôi cũng chưa rõ lắm. Chỉ biết là Anders Nilsson đã chết, ngoài ra chưa biết gì thêm. Cô có nhìn hay nghe thấy điều gì bất thường không?”

“Không. Chẳng có gì đặc biệt cả. Tôi chỉ nghe thấy người hàng xóm bên cạnh nói chuyện với ai đó trên cầu thang. Một lúc sau thì xe cảnh sát xuất hiện cùng với xe cứu thương, mọi người đi lại rầm rập.”

“Nhưng không có gì đặc biệt xảy ra sáng sớm hôm nay hay tối hôm qua à?” Patrik vẫn kiên trì.

“Không, không có gì cả.”

Patrik tạm thời bỏ cuộc. “Thôi được, cảm ơn cô, Jenny.”

Anh mỉm cười với Max, để cậu bé túm lấy ngón tay, chẳng hiểu mấy ngón tay có gì vui mà cậu bé sung sướng lăn ra cười sằng sặc khiến anh chỉ sợ nó bị sặc. Anh miễn cưỡng chia tay với cậu bé rồi chậm rãi đi về phía căn hộ của Anders, vừa đi vừa không quên vẫy tay tạm biệt Max.

Lena đứng trên ngưỡng cửa nhìn anh cười. “Thèm một thằng cu phải không?”

Trái với ý muốn của mình, Patrik cảm thấy mặt mình nóng bừng lên khiến Lena lại càng cười dữ hơn. Anh lẩm bẩm trả lời một câu ngớ ngẩn gì đó.

Lena đi trước, vừa đi vừa ngoái lại bảo: “Này, anh biết đấy, anh chỉ cần lên tiếng thôi. Tôi vẫn còn tự do và sống một mình, đồng hồ sinh học thì hoạt động mạnh mẽ tới mức đêm nào cũng khó ngủ.”

Patrik biết thừa là cô áy nói giỡn, Lena vẫn thường tán tỉnh đùa cợt như thế, nhưng vẫn không khỏi ngượng ngùng. Anh không nói gì và khi hai người họ bước vào phòng trong thì đều chẳng còn lòng dạ đâu mà cười cợt nữa.

Ai đó đã cắt sợ dây thừng treo cổ Anders và đặt thi thể anh ta xuống sàn. Đoạn dây thừng bị cắt còn khoảng mười xăng ti mét vẫn lủng lẳng trên trần. Phần còn lại vẫn cuốn quanh cổ Anders với một nút thắt và Patrik có thể nhìn thấy vết thương sâu, đỏ sậm trên cổ anh ta do dây thừng cứa vào. Khi nhìn thấy người chết, đều khiến anh cảm thấy khó chịu nhất là gương mặt tử thi luôn có một màu sắc đáng sợ. Vì bị siết cổ, nạn nhân bị tụ máu, mặt trở nên tím tái rờn rợn, trông rất quái dị. Patrik cũng nhìn thấy cái lưỡi dày, sưng phồng của Anders thò ra ngoài giống như các nạn nhân bị thắt cổ hay bị ngạt chết. Mặc dù không có nhiều kinh nghiệm lắm với các vụ án mạng nhưng vì là cảnh sát nên anh cũng phải chứng kiến không ít các vụ tự sát và trong sự nghiệp của mình anh đã ba lần tham gia cắt dây thừng cho các nạn nhân treo cổ.

Nhưng khi Patrik nhìn quanh căn phòng mới nhận ra nó hoàn toàn khác biệt với những hiện trường treo cổ tự sát mà anh từng biết. Anders không thể nào trèo lên rồi chui đầu vào nút thắt treo trên trần. Vì khắp phòng chẳng có cái bàn hay ghế nào. Anders lủng lẳng giữa phòng như một thứ đồ chơi treo nôi gớm ghiếc bằng người thật.

Không quen tiếp xúc với hiện trường án mạng nên Patrik thận trọng giữ khoảng cách khi đi vòng quanh thi thể nạn nhân. Mắt Anders vẫn mở trừng trừng nhìn vào khoảng không. Patrik đành cúi xuống vuốt mắt anh ta lại. Anh biết mình không nên tiếp xúc với tử thi trước khi bác sĩ pháp y xuất hiện, cũng như không được cắt dây thừng và đặt nạn nhân xuống đây - nhưng có gì đó trong đôi mắt mở trừng trừng kia khiến anh vô cùng căng thẳng. Giống như chúng đang dõi theo mọi hành động của anh.

Căn phòng có vẻ trống trải bất thường. Anh chợt nhận ra các bức tranh trên tường đều đã bị lấy đi. Chỉ còn lại những vết đinh xấu xí thô kệch. Căn phòng vẫn nhếch nhác như trong trí nhớ của anh nhưng trước đây nhờ những bức tranh nên có phần nào sáng sủa hơn. Chúng tạo cho ngôi nhà của Anders một cá tính, một không gian suy đồi bởi sự pha trộn giữa cái đẹp và sự dơ dáy. Bây giờ, căn phòng chỉ còn lại vẻ dơ dáy, bẩn thỉu mà thôi.

Lena vẫn nói chuyện không dứt trên điện thoại. Sau một cuộc đối thoại mà Patrik chỉ nghe thấy cô trả lời nhát gừng, Lena sập nắp chiếc điện thoại Eircsson của mình lại và quay sang nhìn anh.

“Họ sẽ gửi pháp y tới hỗ trợ. Từ Göteborg, bắt đầu xuất phát. Chúng ta không được động vào bất cứ thứ gì. Tôi nghĩ là chúng ta nên đợi ở ngoài vì lý do an toàn.”

Họ ra khỏi căn hộ và Lena cẩn thận khóa cửa lại. Bên ngoài trời rét buốt, Lena và Patrik đứng giậm chân trước cửa chính của tòa nhà cho ấm lên.

“Janne đâu rồi?” Patrik hỏi người đồng sự của Lena, lúc này đáng ra phải đang chờ trong xe ô tô.

“Hôm nay anh ấy phải đi bệnh viện cấp cứu.”

“Đi cấp cứu á?” Patrik ngạc nhiên hỏi.

“Con ốm. Nhờ có chính sách cắt giảm nhân sự mà hễ có báo động đột xuất là chẳng đào đâu ra người, nên nhận lệnh xong là tôi tới một mình.”

Patrik gật đầu, có vẻ không chú tâm lắm. Anh bắt đầu cảm thấy đồng tình với quan điểm của Lena. Có rất nhiều điểm cho thấy họ đang truy tìm cùng một thủ phạm. Là cảnh sát thì không nên đưa ra kết luận vội vàng nhưng xác suất trong chuyện có đến hai kẻ sát nhân trong một thị trấn nhỏ xíu như thế này là rất nhỏ. Lại thêm mối liên hệ chặt chẽ giữa hai nạn nhân khiến khả năng này càng thấp.

Phải mất một tiếng rưỡi, có lẽ hai tiếng, để chờ pháp y từ Göteborg tới nên Lena và Patrik chui vào xe của anh ngồi chờ cho ấm. Họ bật đài và ngồi nghe những giai điệu nhạc pop vui vẻ khiến họ có thể sao nhãng một chút, quên đi nguyên nhân sự chờ đợi của mình. Một tiếng bốn mươi phút sau họ nhìn thấy hai chiếc xe cảnh sát rẽ vào bãi đỗ, liền ra ngoài chào hỏi các đồng nghiệp tới tiếp ứng.

—★—

“Mình không thể mua nhà riêng được sao, Jan, làm ơn đi mà? Em thấy một ngôi nhà đang rao bán ở Badholmen. Chúng ta có thể tới đó xem được không? Phong cảnh tuyệt vời lại còn có thêm một cái nhà thuyền nữa. Đi mà?”

Những tiếng ỉ ôi của Lisa càng làm anh ta cáu kỉnh. Gần đây cô ta suốt ngày rên rỉ, ỉ ôi. Cuộc hôn nhân của bọn họ hẳn sẽ dễ chịu hơn nhiều nếu cô biết đường ngậm miệng lại và chỉ trưng ra vẻ ngoài gợi cảm. Dạo này, ngay cả bộ ngực lớn và săn chắc cũng như cặp mông mẩy của cô cũng chẳng còn sức tác động đối với anh ta nữa. Những lời lảm nhảm của cô lại càng khiến anh ta bực mình, đôi khi hối hận đã nhượng bộ lấy cô làm vợ.

Lần đầu tiên anh ta để mắt tới Lisa là lúc cô còn làm nhân viên phục vụ trong quán Röde Orm ở Grebbestad. Tất cả bạn bè anh ta đều nhỏ dãi khi nhìn thấy khe ngực táo bạo và cặp chân dài của Lisa, thế là khiến anh ta quyết định phải có cô bằng được. Anh ta vẫn thường có được những thứ mình muốn và Lisa cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Vẻ ngoài của anh ta không tệ nhưng đòn quyết định phải là khi giới thiệu mình tên Jan Lorentz. Tên gia đình của anh ta vẫn luôn khiến phụ nữ sáng mắt lên và rồi mọi chuyện cứ thản nhiên đi vào quỹ đạo.

Anh ta bị cơ thể của Lisa ám ảnh ngay từ đầu. Không bao giờ thấy đủ và điều đó khiến anh ta nhắm mắt làm ngơ trước những lời bình luận ngu xuẩn bằng cái giọng the thé của cô. Vẻ ghen tị của những người đàn ông khác khi anh ta xuất hiện với Lisa càng làm tăng lên sức hấp dẫn của cô trong mắt anh ta. Lúc đầu anh ta hoàn toàn bỏ ngoài tai những lờ tỉ tê của cô ta về mối quan hệ nghiêm túc. Vì thành thật mà nói, sự ngu ngốc của cô bắt đầu làm giảm đi sức quyến rũ bên ngoài. Chính sự phản đối mạnh mẽ của Nelly Lorentz đã khiến anh ta quyết định đi tới hôn nhân. Nelly khinh bỉ Lisa ngay từ cái nhìn đầu tiên và không từ bất cứ cơ hội nào để thể hiện điều đó. Chính vì vậy Jan chợt có một mong muốn nổi loạn và giờ đây đang phải gánh chịu hậu quả từ hành động ngu ngốc của mình.

Lisa vừa nằm sấp trên chiếc giường đôi rộng rãi vừa bĩu môi.

Cô hoàn toàn trần truồng và đang cố nằm sao cho thật khêu gợi, nhưng anh ta chẳng còn chút hứng thú nào. Anh ta biết cô đang đợi câu trả lời.

“Em biết là chúng ta không chuyển ra ngoài nhà mẹ được. Bà ấy không khỏe và không thể một mình trông nom cả ngôi nhà này.”

Anh ta quay lưng về phía Lisa và thắt cà vạt trước mặt gương lớn trên bàn trang điểm của vợ. Trong gương anh ta nhìn thấy Lisa cau mày bực bội. Chẳng mời gọi chút nào.

“Sao mụ già khốn kiếp ấy không nghĩ tới việc chuyển vào một nhà dưỡng lão tử tế nào đó thay vì trở thành gánh nặng của gia đình mình? Bà ta không hiểu rằng chúng ta cũng có quyền được sống cuộc đời của mình à? Chứ không phải chăm chút cho bà ta cả ngày. Mà ngồi trên một đống tiền như thế thì có gì sướng? Em cược với anh là bà ta rất thích nhìn chúng ta hạ thấp mình, bò theo những mẩu vụn bánh mì rơi xuống từ bàn ăn của bà ta. Sao bà ta không hiểu anh đã làm bao nhiêu chuyện cho mình? Lúc nào cũng xả thân cho cái công ty ấy chả khác gì đầy tớ, về nhà lại còn cũng phụng bà mẹ? Và để cảm ơn, mụ phù thủy già ấy còn không thèm cho chúng ta sử dụng căn phòng tốt nhất trong nhà. Chúng ta phải sống dưới hầm trong khi bà ta nằm ườn ra trong phòng khách.”

Jan quay lại và ném cho vợ một cái nhìn lạnh lẽo. “Tôi đã bảo cô không được nói về mẹ tôi bằng cái giọng ấy cơ mà?”

“Mẹ anh,” Lisa khịt mũ vẻ khinh bỉ. “Anh không cho là bà ta thực sự coi anh là con trai đấy chứ, Jan? Anh mãi mãi chỉ là một đứa con nuôi từ thiện thôi. Nếu Nils yêu quý của bà ta không mất tích thì có lẽ sớm muộn anh đã bị xách tai ném ra khỏi cửa rồi ấy chứ. Anh chỉ là một vật dùng tạm thôi, Jan. Làm gì có ai bán mạng hầu hạ bà ta gần như hai mươi tư tiếng một ngày không công? Thứ duy nhất là lời hứa khi nào bà ta qua đời anh sẽ được hưởng hết gia tài thừa kế. Nhưng mụ già đó có lẽ sẽ sống tới trăm tuổi và em cược rằng trước lúc chết, mụ ta hẳn sẽ chuyển hết tiền cho một trung tâm nuôi chó cơ nhỡ rồi cười sau lưng chúng ta cho mà xem. Anh đôi khi ngu bỏ mẹ, Jan ạ.”

Lisa nằm ngửa ra trên giường và bắt đầu ngắm nghía những chiếc móng tay được sơn quét cẩn thận của mình. Bình tĩnh tới lạnh lùng, Jan tiến một bước về phía Lisa. Anh ta cúi xuống, túm lấy lọn tóc dài màu vàng rủ xuống thành giường của Lisa, cuốn quanh ngón tay mình rồi bắt đầu kéo, càng lúc càng mạnh tay cho tới khi cô nhăn mặt vì đau. Anh ta gí sát mặt mình vào mặt vợ, gần tới mức có thể cảm thấy hơi thở của cô phả lên mặt và trầm giọng dọa: “Đừng bao giờ nói tôi là kẻ ngu nữa, biết chưa? Và hãy nghe cho rõ, số tiền ấy một ngày nào đó rồi sẽ là của tôi. Vấn đề là liệu cô có còn sống để hưởng thụ chúng không mà thôi.”

Anh ta nhìn vẻ sợ hãi lóe lên trong mắt Lisa với vị thỏa mãn rồi quan sát quá trình bộ óc ngu ngốc nhưng khá xảo quyệt của cô nàng tiếp nhận, xử lý thông tin và quyết định thay đổi chiến lược. Cô vợ nằm duỗi ra trên giường vẻ giận dỗi. Hai tay ôm lấy ngực. Những ngón tay của cô bắt đầu xoa quanh núm vú cho tới khi chúng cương lên rồi bắt đầu thủ thỉ, “Tha thứ cho em, Jan, em đúng là ngốc. Anh hiểu em mà. Em hẳn hay nói mà không suy nghĩ. Em có thể làm gì để chuộc lại không?”

Cô ta bắt đầu mút lấy mút để ngón tay trỏ của mình vẻ mời mọi rồi thò xuống phía bụng dưới. Jan miễn cưỡng cảm thấy cơ thể mình đang phản ứng lại và quyết định dù sao cô ta cũng có một khía cạnh để lợi dụng. Anh ta liền cởi cà vạt ra.

—★—

Mellberg liên tục gãi bụng dưới* của ông ta mà không thèm để ý tới vẻ mặt ghê tởm của những người xung quanh trước hành động mắc ói của mình. Vì tính chất long trọng của ngày hôm nay nên ông ta đã cố tình mặc một bộ vest dù có hơi chật một chút mà ông ta cho rằng đó là do lỗi của tiệm giặt ủi, họ đã cẩu thả giặt quá nhiệt độ cho phép. Ông cũng không cần phải bước lên cân mới biết là mình đã tăng thêm vài gam không đáng kể so với lúc mới vào nghề nhưng phải mua hẳn một bộ vest mới thì quá lãng phí. Những bộ vest chất lượng cao thì không lỗi mốt bao giờ. Nhưng ông không thể nào không trách mấy tên ngốc ở cửa hàng giặt ủi đã không làm tròn phận sự.

Ông hắng giọng để thu hút sự chú ý của mọi người. Những tiếng trò chuyện và dịch chuyển ghế trên sân ngừng bặt, mọi ánh mắt đổ về phía ông ta đang ở sau bàn làm việc. Những chiếc ghế đã được mang tới và kê thành hình bán nguyệt trước mặt ông ta. Mellberg nhìn mọi người im lặng với vẻ mặt nghiêm trọng. Đây là khoảnh khắc mà ông ta muốn tận dụng triệt để. Ông ta đế ý thấy Patrik trông có vẻ kiệt sức. Dĩ nhiên các cảnh sát có thể làm những gì họ muốn trong lúc rỗi rãi, nhưng đây mới đang là giữa tuần, ít nhất cũng phải điều độ một chút trong khoản tiệc tùng chè chén. Mellberg cố quên đi việc chính mình cũng đã chiến gần nửa chai rượu tối hôm trước. Ông ta tự nhắc nhở phải nói chuyện riêng với Patrik về chính sách cấm sử dụng đồ uống có cồn trong đồn cảnh sát mới được.

“Như mọi người đã biết, vào lúc này ở Fjällbacka lại xảy ra một vụ án mạng nữa. Khả năng có hai kẻ giết người cùng một lúc là rất thấp nên tôi nghĩ chúng ta nên tiến hành điều tra trên giả thiết kẻ giết hại AlexandrErica Wijkner cũng chính là người đã ra tay với Anders Nilsson.”

Ông ta rất thích thú khi nghe thấy giọng nói của mình cũng như vẻ sốt sắng và hứng thú trên gương mặt những người ngồi trước mặt. Đây chính là thế mạnh của ông ta. Ông ta sinh ra là để làm việc này.

Mellberg tiếp tục: “Anders Nilsson được một bạn rượu của anh ta, tên là Bengt Larsson, tìm thấy sáng nay. Anh ta đã bị treo cổ và theo thông tin sơ bộ từ Göteborg thì anh ta hẳn đã chết từ hôm qua. Cho tới khi nhận được thông tin chính xác hơn thì đây sẽ là giả thiết mà chúng ta dựa vào để tiến hành điều tra.”

Ông ta rất thích cái cảm giác khi phát âm từ “giả thiết”. Nhóm người ngồi trước mặt ông ta không hẳn là đông nhưng trong trí tưởng tượng của ông ta, nó đông đảo hơn gấp nhiều lần và mang vẻ mặt hứng thú không thể nào che giấu. Bọn họ đang chờ những lời nói và mệnh lệnh của ông ta. Mellberg nhìn quanh với vẻ hài lòng. Aninka thì đang nhiệt tình gõ máy tính với cặp kính trễ trên mũ. Những đường cong tròn trịa đầy nữ tính của cô được che giấu phía dưới chiếc áo vest màu vàng cắt may rất khéo, cực kỳ hợp với chiếc váy đi kèm. Ông ta liền nháy mắt với cô. Chỉ thế thôi. Tốt nhất là không nên dọa cô sợ. Bên cạnh cô là Patrik trông như sắp khuỵu tới nơi. Hai mí mắt sụp xuống còn mắt thì hằn lên những vệt đỏ. Mellberg quyết định phải gặp riêng cậu ta ngay khi có thể. Nói cho cùng, cấp trên phải có quyền đòi hỏi cấp dưới ít nhiều tỏ ra chuyên nghiệp chứ.

Bên cạnh Patrik và Annika là ba nhân viên khác của đồn cảnh sác Tanumshede. Gösta Flygare là người lớn tuổi nhất ở đây. Ông chỉ muốn làm càng ít càng tốt trong vài năm chở nghỉ hưu này. Nghỉ hưu rồi, ông có thể dành hết thời gian cho niềm say mê lớn nhất đời mình, đó là chơi gôn. Ông bắt đầu chơi gôn từ mười năm trước, kể từ khi vợ ông mất vì ung thư, khi những ngày cuối tuần đột nhiên trở nên dài đằng đẵng và cô đơn. Thể thao nhanh chóng ăn vào trong máu ông. Giờ ông chỉ xem công việc, thứ mà từ trước đến nay ông vốn chẳng say mê gì, như một vật cản khiến ông không thể ra sân gôn cả ngày được.

Bất chấp đồng lương còm cõi của mình, ông vẫn dành dụm mua được một căn hộ trên đảo Costa del Sol ở Tây Ban Nha. Chẳng bao lâu nữa là ông có thể chơi gôn ở Thụy Điển vào mùa hè và xuống Tây Ban Nha những mùa còn lại. Dẫu vậy, ông cũng phải thừa nhận lâu lắm rồi mới có mấy vụ án mạng, khơi dậy được hứng thú làm việc của ông. Nhưng vẫn chẳng bằng việc được chơi gôn mười tám lỗ nếu thời tiết cho phép.

Bên cạnh ông là thành viên trẻ tuổi nhất của đồn, Martin Molin, với cậu ta thì ai cũng thấy nảy sinh bản năng che chở và bảo vệ. Bọn họ lần lượt hành động như những người bảo hộ, nhưng đều cẩn thận không để cậu ta phát hiện ra. Họ luôn giao cho cậu những nhiệm vụ mà ngay cả trẻ con cũng làm được rồi kiểm tra và sửa lại tất cả báo cáo cậu ta viết trước khi trình lên Mellberg.

Cậu ta mới tốt nghiệp trường cảnh sát được một năm. Ai cũng ngạc nhiên rằng cậu ta vượt qua được kỳ sát hạch đầu vào, trải qua quá trình huấn luyện rồi thi đỗ tốt nghiệp. Martin là một người dễ chịu và tốt bụng, bất chấp tính cách ngây thơ hoàn toàn không phù hợp với công việc cảnh sát, họ đều thừa nhận sẽ chẳng tổn hại gì nếu nhận cậu ta về làm việc ở đây, trong đồn cảnh sát Tanumshede này. Thế nên họ vui vẻ giúp đỡ cậu vượt qua tất cả các chướng ngại. Nhất là Annika, chị vẫn luôn dìu dắt cậu ngay từ những ngày đầu tiên và đôi khi còn thể hiện tình cảm bằng cách ôm chặt cậu ta vào lòng cứ như là với trẻ con trước vẻ phấn khởi của mọi người.

Những lúc như thế, mái tóc đỏ như lửa của Martin lại dựng đứng cả lên, mặt chín như gấc, ngay cả những nốt tàn nhang cũng đỏ. Nhưng cậu ta tôn thờ Annika và thường xuyên tới nhà thăm hai vợ chồng chị những khi cần lời khuyên về những tình huống kém may mắn trong tình yêu mà cậu ta hay gặp phải. Sự ngây thơ và đáng yêu của cậu ta giống như một thứ nam châm khó cưỡng đối với những người phụ nữ chỉ thích lên giường với đàn ông và không quan tâm tới những chuyện khác. Nhưng Annika luôn ở đó lắng nghe, đắp lại những vết thương cho lòng tự tin của cậu ta rồi gửi cậu ra trở lại thế giới bên ngoài, với hy vọng một ngày nào đó cậu ta sẽ tìm được một người phụ nữ biết trân trọng những đức tính tốt đẹp của người đàn ông giống như viên đá quý ẩn giấu dưới khuôn mặt đầy tàn nhang kia.

Thành viên cuối cùng cũng là kẻ khó ưa nhất. Ernst Lundgren là một kẻ chuyên bợ đỡ, không bao giờ bỏ qua bất kỳ cơ hội nào để thăng tiền, kể cả phải giẫm đạp lên người khác. Không ai ngạc nhiên khi anh ta vẫn còn độc thân. Anh ta chẳng có chút nào hấp dẫn. Những người đàn ông xấu mã hơn anh ta vẫn có thể lấy được vợ ấy là bởi họ có nhân cách tốt đẹp, còn Ernst hoàn toàn thiếu đi ưu điểm đó. Thế nên cho tới giờ anh ta vẫn đang sống với mẹ tại một trang trại cách Tanumshede khoảng mười cây số về phía Nam. Nghe đồn cha anh ta, một tay nhậu nhẹt, bạo lực khét tiếng trong vùng đã ngã từ vựa cỏ xuống trúng cái chĩa xiên cỏ hai đầu nhọn hoắt là do sự dàn xếp của người vợ. Chuyện đã xảy ra từ nhiều năm trước nhưng mỗi khi nhắc tới người ta vẫn không khỏi bàn tán rôm rả. Mà đúng là chỉ có một người mẹ mới thương nổi Ernst với hàm răng thỏ, mái tóc bù xù, đôi tai vểnh và tính cách cáu bẳn, bon chen của anh ta. Ngay lúc này đây, anh ta đang hứng lấy từng lời của Mellberg như thế mỗi từ đều là châu là ngọc rồi tìm mọi cách ra dấu im lặng với mọi người nếu dám gây ra bất kỳ tiếng ồn nào làm kinh động tới bài phát biểu của Mellberg.

“Sao chúng ta biết được không phải chính gã say kia đã ra tay giết Anders, sau đó giả vờ chính mình phát hiện ra xác chết sáng nay?”

Mellberg nhìn Lundgren, giật gù tán thưởng.

“Hỏi rất đứng, Ernst, rất tốt. Nhưng, như tôi đã nói, chúng ta sẽ đi theo hướng thủ phạm là cùng một người đã giết hại Alex Wijkner. Nhưng để yên tâm, chúng ta sẽ kiểm tra chứng cứ ngoại phạm của Bengt Larsson trong ngày hôm qua.”

Mellberg hướng ngòi bút về phía Lundgren trong khi mắt quét khắp những người còn lại.

“Đây chính là một kiểu tư duy nhạy bén mà chúng ta rất cần khi giải quyết vụ án này. Tôi hy vọng tất cả các anh chị biết lắng nghe và học hỏi Ernst. Các người vẫn còn phải phấn đấu chán mới đạt tới trình độ của cậu ấy.”

Ernst khiêm tốn cúi đầu nhưng ngay khi Mellberg quay đi chỗ khác, anh ta đã không kìm được việc ném cho các đồng nghiệp một cái nhìn đắc thắng. Annika khịt mũi ầm ĩ và trừng trừng nhìn lại anh ta để trả đũa việc anh ta tỏ vẻ tức tối với chị.

“Tôi đang nói tới đâu rồi nhỉ?”

Mellberg luồn hai tay xuống dưới dây đeo quần sau lớp áo khoác và quay tròn trên ghế. Ông ta kết thúc vòng quay, đối mặt với tấm bảng trắng được dựng lên trên bức tường phía sau lưng ông ta để theo dõi vụ án của Alex Wijkner. Tấm bảng thứ hai, giống hệt, được đặt bên cạnh nhưng trên đó chỉ có duy nhất một bức ảnh Polaroid chụp Anders trước khi đội cứu thương tới cắt dây thừng.

“Vậy cho tới nay chúng ta đã có những gì? Thi thể của Anders Nilsson đã được tìm thấy sáng nay, và kết quả sơ bộ cho biết nạn nhân đã chết từ hôm trước. Anh ta đã bị treo cổ bởi một hay nhiều người, có lẽ là có hơn một người bởi vì phải tốn rất nhiều sức mới nhấc được một người đàn ông trưởng thành lên cao như vậy để móc vào trần nhà. Và không biết bằng cách nào. Vì không có dấu hiệu giãy giụa, chống trả cả trong căn hộ lẫn trên thi thể nạn nhân. Cũng không có những dấu vết thương tổn cho thấy thi thể nạn nhân đã bị di chuyển hay lôi kéo trước và sau khi chết. Đây chỉ là những dữ liệu ban đầu nhưng hy vọng sẽ được xác nhận ngay khi việc khám nghiệm tử thi hoàn tất.”

Patrik giơ bút của mình lên. “Khi nào thì chúng ta mới nhận được kết quả pháp y?”

“Họ hẳn có cả đống tử thi đang xếp hàng chờ tới lượt nên rất tiếc là tôi không thể hỏi khi nào sẽ nhận được kết quả khám nghiệm.”

Chẳng ai tỏ ra ngạc nhiên khi nghe thấy điều đó.

“Chúng ta cũng biết rằng có một mối liên hệ giữa Nilsson và nạn nhân thứ nhất, Alexandra Wijkner.”

Mellberg đứng dậy chỉ vào bức ảnh Alexandra đính ở giữa tấm bảng thứ nhất. Bức ảnh này là do mẹ nạn nhân cũng cấp và một lần nữa mọi người đều sửng sốt trước nhan sắc của cô lúc còn sống. Điều đó lại càng khiến cho bức ảnh bên cạnh chụp Alexandra trong bồn tắm với khuôn mặt tím tái, hơi nước đóng băng trên tóc và mi mắt cô trở nên đáng sợ.

“Cặp đôi lệch lạc này đã có quan hệ tình dục với nhau. Chính Anders đã thú nhận điều đó và chúng ta cũng có bằng chứng xác đáng, như mọi người đều biết, chứng minh lời nói của anh ta. Nhưng chúng ta không biết mối quan hệ này kéo dài bao lâu và làm thế nào mà họ lại quen nhau và trên hết là tại sao một phụ nữ thượng lưu xinh đẹp lại chọn bạn tình là một tên nghiện rượu bẩn thỉu gớm ghiếc như vậy. Tôi có thể đánh hơi thấy ở đây có gì đó không ổn.”

Mellberg gõ gõ ngón tay trỏ lên cánh mũ đỏ lựng của mình.

“Martin, cậu hãy đi điều tra thêm về chuyện này. Quan trọng nhất là phải tạo áp lực đối với Henrik Wijkner. Anh chàng này hẳn biết nhiều hơn những gì đã khai báo. Tôi dám chắc là thế.”

Martin vừa hào hứng gật đầu vừa ghi chép lia lịa. Annika hướng sang cậu ta một cái nhìn dịu dàng, đầy tình mẫu tử..

“Đáng tiếc là sự việc này đã khiến chúng ta quay về điểm xuất phát khi có liên quan tới nghi phạm của vụ án đầu tiên. Anders dường như là nghi phạm lý tưởng nhưng vụ án đã hoàn toàn rẽ sang một ngả khác. Patrik, cậu có nhiệm vụ xem xét lại các vật chứng thu được từ vụ Wijkner. Kiểm tra và xác nhận lại từng chi tiết một. Chúng ta có thể đã bỏ sót một manh mối nào đó trong đám vật chứng ấy.”

Mellberg đã nghe được câu thoại cuối cùng trong một bộ phim truyền hình dài tập về đề tài cảnh sát và cố tình ghi nhớ để áp dụng khi cần thiết.

Cho tới giờ Gösta là người duy nhất chưa được giao nhiệm vụ. Mellberg nhìn vào danh sách của mình rồi suy nghĩ một lúc.

“Gösta, anh hãy đi nói chuyện với gia đình của Alex Wijkner. Có thể họ còn biết gì đó mà chưa nói với chúng ta. Nhớ hỏi họ về bạn bè và những kẻ có thù oán với cô ấy, về tuổi thơ về tính cách của cô ấy, tất tần tật. Hỏi về bất cứ thứ gì anh có thể nghĩ ra. Nói chuyện đồng thời với cả bố, mẹ cũng như em gái của cô ấy. Thế mới khiến người ta phun ra, theo kinh nghiệm của tôi thì là thế. Nhớ phối hợp với Molin, người sẽ phụ trách nói chuyện với chồng cô ta.

Gösta nhăn nhó và thờ dài ngao ngán vì bị giao một nhiệm vụ hết sức cụ thể. Không phải vì bị chiếm mất thời gian chơi gôn giữa mùa đông lạnh lẽo u ám này mà là trong suốt mấy năm gần đây, ông đã quen với việc không phải động chân động tay làm bất cứ việc gì. Ông đã diễn vở giả vờ bận rộn một cách hoàn hảo trong khi chỉ chơi trò xếp bài trên máy tính để giết thời gian. Gánh nặng phải thực sự làm việc và tìm ra kết quả cụ thể khiến ông cảm thấy nặng trĩu. Sự yên ổn, tĩnh mịch của ông đã chấm dứt. Mà lại còn chẳng được trả thêm tiền ngoài giờ. Được hoàn tiền xăng đi đi về về Göteborg là đã may mắn lắm rồi.

Mellberg vỗ tay rồi xua mọi người ra ngoài.

“Thôi được rồi, vào việc thôi! Không thể ngồi ì ra đây nếu muốn giải quyết vụ này. Tôi mong chờ các vị làm việc chăm chỉ hơn bao giờ hết và hãy quên đi cái gọi là ngày nghỉ, chừng nào chưa giải quyết xong vụ này. Chừng nào chưa phá được án thì thời gian của các vị vẫn thuộc về tôi. Giờ thì nhúc nhắc chân tay đi.”

Nếu ai trong số bọn họ có ý phản đối việc bị xua ra ngoài như trẻ con thì cũng chẳng buồn lên tiếng. Họ chỉ đứng dậy, đẩy ghế ra cầm giấy bút rồi đi ra ngoài. Chỉ có Ernst nán lại phía sau nhưng Mellberg chẳng có tâm trạng nghe nịnh hót như thường lệ nên xua nốt cả anh ta ra ngoài.

Thật là một ngày làm việc năng suất. Dĩ nhiên là hướng điều tra nhắm vào nghi phạm chủ chốt trong vụ giết hại Alex Wijkner đi vào ngõ cụt đã gây thất vọng lớn. Nhưng ít nhất lần này một cộng một sẽ lớn hơn hai đáng kể. Ở cái thị trấn bé tí thế này, một án mạng đã là sự kiện, thêm một vụ nữa thì đúng là chấn động. Trước đây, nếu phá được vụ Wijkner, ông ta đã nắm chắc một vé về trụ sở chính, thì bây giờ, giải quyết gọn ghẽ được hai án mạng này, đều chắc chắn là người ta sẽ phải khẩn cầu, van nài ông ta trở lại Göteborg.

Với những triển vọng tươi sáng trong tầm với, Bertil Mellberg ngả người ra ghế, thò tay vào chiếc ngăn kéo thứ ba lôi ra một chiếc bánh quy trứng nhúng sô cô la hiệu Mums Mums rồi khoan khoái bỏ tọt vào miệng. Rồi ông vòng hai tay lại sau đầu, nhắm mắc và quyết định ngủ một giấc. Đằng nào thì cũng gần tới giờ ăn trưa rồi.

—★—

Sau khi Patrik rời đi, Erica cố ngủ thêm vài tiếng nữa mà không được. Cảm xúc nhộn nhạo trong lòng khiến cô cứ trăn trở trên giường. Lại còn liên tục cười tủm nữa. Sung sướng thế này có hợp pháp không nhỉ? Cái cảm giác hạnh phúc này mãnh liệt tới mức cô không còn biết phải xử trí như thế nào. Cô nằm nghiêng trên giường, hai tay kê dưới má.

Ngày hôm nay, mọi thứ đều tươi sáng hơn. Hết thảy đều trở nên dễ dàng xử trí. Việc Alex bị sát hại, cuốn sách mà nhà xuất bản đang nóng lòng gục gã nhưng vẫn giẫm chân tại chỗ, nỗi thương tiếc đối với bố mẹ, chưa kể đến việc sẽ phải bán đi ngôi nhà thời thơ ấu. Tất cả đều trở nên nhẹ nhàng hơn. Khó khăn không biến mất nhưng lần đầu tiên cô thực sự cảm thấy thế giới của mình sẽ không sụp đổ và cô có thể vượt qua bất kỳ trở ngại nào.

Thật không thể hình dung nổi một ngày với hai mươi tư tiếng đồng hồ ngắn ngủi có thể tạo ra sự khác biệt nhường ấy. Ngày hôm qua, vào giờ này, cô tỉnh giấc với một gánh nặng trĩu trong lòng. Thức dậy trong cô đơn khiến cô không dám nhìn về phía trước. Nhưng giờ đây, cô dường như vẫn cảm nhận được, về mặt thể xác, sự vuốt ve âu yếm của Patrik. “Về mặt thể xác” thật ra không phải là từ chính xác, hoặc chưa đủ sức diễn tả hết tâm trạng cô lúc này.

Toàn thân cô đều cảm nhận được nỗi cô đơn đã bị sự kết hợp của hai người đẩy lui. Sự im lặng trong phòng ngủ hóa bình yên, không dài dằng dặc và đáng sợ như trước nữa. Dĩ nhiên, cô nhớ anh, nhưng lại có cảm giác an toàn, vì biết rằng cho dù anh ở đâu cũng sẽ nghĩ tới mình.

Erica có cảm giác như mình vừa dùng một cây chổi tinh thần triệt để quét đi những mạng nhện cũ bám trong mọi ngõ ngách và bụi bặm bấy lâu lưu cữu trong lồng. Nhưng sự sáng suốt mới mẻ này cũng khiến cô nhận ra rằng cô không thể tiếp tục trốn tránh ý nghĩ đã khiến cô day dứt suốt mấy ngày qua.

Từ khi Erica phát hiện ra danh tính cha của đứa trẻ trong bụng Alex, rành rành như sấm giữa trời quang, cô liền không cách nào đối mặt với người kia. Cô vẫn chưa chuẩn bị tinh thần để làm điều đó. Nhưng nguồn năng lượng mà cô vừa tiếp nhận khiến cô trở nên lạc quan, giúp cô thấy được đã tới lúc phải đối mặt với thách thức thay vì lẩn tránh. Cô biết mình sẽ phải làm gì.

Cô tắm thật lâu dưới làn nước nóng rẫy. Sáng nay, mọi thứ đều giống như có một khởi đầu mới và cô muốn tinh tươm đón nhận chúng. Sau khi tắm xong cô liếc nhìn nhiệt kế ngoài trời, mặc thật ấm và cầu nguyện xe ô tôi không chết máy. May quá, lên xe là nổ được máy luôn.

Trong lúc lái xe cô suy nghĩ không biết nên bắt đầu câu chuyện như thế nào. Cô thử vài gợi ý nhưng cảm thấy chúng đều rất chối tai nên quyết định sẽ tùy cơ ứng biến. Thật ra cô cũng không cần phải tốn công như thế nhưng cô biết mình đã làm đúng. Đôi khi, trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, cô nghĩ tới việc gọi điện cho Patrik, nói với anh mối nghi ngờ của mình nhưng lại lập tức từ bỏ ỷ định đó, cho rằng trước hết cô nên tự mình kiểm chứng sự việc. Đây là chuyện vô cùng hệ trọng.

Lộ trình rất ngắn nhưng cô có cảm giác như đi mãi không tới đích. Khi cô rẽ vào bãi đỗ xe phía dưới khách sạn Badhotel thì thấy Dan đang vui mừng vẫy tay chào từ trên thuyền của anh. Cô cũng đoán là anh đang ở chỗ này. Cô vẫy tay chào lại nhưng không hề cười. Cô khóa xe, thọc hai tay vào túi áo dạ màu nâu nhạt, nhẩn nha bước về phía Dan và con thuyền. Trời mờ sương và hơi u ám, nhưng không khí trong trẻo. Cô hít vài hơi thật sâu xua đi những gợn mây cuối cùng trong đầu do đêm qua uống quá nhiều.

“Chào em, Erica.”

“Chào anh.”

Dan vẫn tiếp tục công việc của mình nhưng tỏ ra vui mừng vì có bầu bạn. Erica hơi lo lắng nhìn quanh xem có thấy Pernilla ở đó không vì vẫn sợ cái vẻ mặt lần trước của vợ Dan. Nhưng với phát hiện mới của mình cô đột nhiên hiểu ra phần nào.

Lần đầu tiên Erica nhận thấy chiếc thuyền chài bằng gỗ cũ kỹ mới đẹp làm sao. Dan đã thừa hưởng chiếc thuyền từ cha mình và hết lòng chăm chút nó. Nghề đánh cá đã ăn sâu vào trong máu anh và nỗi phiền muộn lớn nhất đời anh chính là không thể dùng nó để nuôi gia đình. Dĩ nhiên anh cũng làm rất tốt công việc thầy giáo ở trường Tanum nhưng nghề cá mới chính là tâm huyết suốt đời.

Anh không ngừng mỉm cười khi làm việc trên thuyền. Những việc nặng nhọc không khiến anh nề hà và giá lạnh mùa đông cũng không khiến anh chùn bước nhờ những lớp áo dày. Anh khoác một cuộn thừng nặng lên vai rồi quay về phía Erica.

“Sao thế này? Hôm nay không có gì ăn à? Hy vọng việc quên mang đồ ăn sẽ không trở thành thói quen mới của em.”

Một lọn tóc vàng của anh khẽ xõa xuống dưới vành mũ. Trông anh cao lớn và mạnh mẽ, đứng sừng sững trước mặt cô như một cây cột lớn. Cả người anh toát ra sức mạnh và sự phấn chấn khiến cô cảm thấy đau lòng khi phải tước bỏ chúng. Nhưng nếu cô không làm thì người khác sẽ làm, và tệ nhất là rơi vào tay cảnh sát. Cô cố thuyết phục bản thân rằng mình đang giúp anh và đang bước vào lãnh địa tình cảm hết sức chông gai. Cô nhất định phải đích thân tìm hiểu chuyện này. Nhất định phải tìm ra.

Dan đi lên mũi tàu, ném cuộn dây thừng xuống boong rồi quay trở lại với Erica lúc này đang đứng dựa vào lan can.

Erica nhìn vô định về phía chân trời. “Tôi sẵn sàng bỏ tiền mua tình yêu vì tiền bạc chỉ là hư không.”

Dan cười và đọc tiếp bài thơ: “Hãy hát lời yêu thương bằng những dây thanh âm mềm mại của em, hãy hát lời yêu thương, tình yêu duy nhất của tôi.”

Nhưng Erica vẫn không cười.

“Fröding* vẫn là nhà thơ yêu thích nhất của anh à?”

“Vẫn luôn vậy và sẽ mãi vậy. Bọn trẻ con ở trưởng bảo chúng sẽ ói mất nếu bị bắt đọc thêm bất cứ bài thơ nào của Fröding nhưng theo anh đọc thơ của ông ấy sẽ chẳng bao giờ là đủ.”

“Em vẫn giữ tuyển tập thơ của ông ấy mà anh tặng em hồi xưa đấy.”

Cô nói với lưng của Dan vì anh đang xoay người di chuyển mấy chiếc thùng đựng lưới nằm ở phía đối diện. Cô kiên nhẫn hỏi tiếp.

“Anh vẫn luôn tặng tập thơ đó cho các cô bạn gái đấy à?”

Anh đột ngột dừng tay và quay sang nhìn Erica với vẻ sửng sốt.

“Ý em là gì? Em có một bản và Pernilla cũng có một bản dù anh ngờ là cô ấy chẳng bao giờ động tới.”

Erica nhìn thấy vẻ mặt anh lộ vẻ bất an. Cô siết chặt lấy thanh lan can mà cô đang dựa vào bằng đôi tay vẫn đeo găng của mình và nhìn thẳng vào mắt anh.

“Còn Alex thì sao? Có phải cô ấy cũng có một bản, đúng không?”

Gương mặt Dan trở nên trắng bệt như lớp tuyết trên mặt vịnh phía sau lưng nhưng đồng thời lại có chút gì đó giống như một cảm giác nhẹ nhõm lướt qua.

“Em nói Alex là có ý gì?”

Nhưng anh vẫn chưa sẵn sàng đầu hàng.

“Em từng kể với anh là có một buổi tối tuần trước, em đã tới nhà Alex. Nhưng em chưa kể với anh là một người khác cũng đã xuất hiện trong lúc em đang ở đó. Người đó đã đi thẳng lên phòng ngủ lấy đi một thứ đồ. Lúc đầu em không thể nghĩ ra đó là vật gì, nhưng khi kiểm tra các cuộc gọi từ nhà Alex thì em phát hiện ra số điện thoại di động của anh. Và nhờ đó mà em nhớ ra cái vật bị lấy mất trong phòng ngủ. Vì em cũng có một quyển y hệt ở nhà.”

Dan không nói gì nên cô tiếp tục. “Không khó để đoán ra tại sao có người lại đột nhập nhà cô ấy chỉ để lấy một tuyển tập thơ. Bởi vì anh đã viết lời đề tặng lên đó, đúng không? Một lời đề tặng sẽ chỉ ra người đàn ông là tình nhân của cô ấy?”

“Anh xin khuất phục trước đam mê bằng toàn bộ tình yêu của mình - Dan.”

Anh nhắc lại những lời đó với một giọng đầy cảm xúc. Giờ đến lượt anh quay ra nhìn bất định xuống mặt nước. Anh ngồi thụp xuống một chiếc thùng trên cầu tàu và bỏ mũ ra. Tóc anh bay tứ tung. Anh lột găng tay và luồn tay vào tóc. Rồi nhìn thẳng vào Erica.

“Anh không thể để lộ chuyện đó. Những gì diễn ra giữa hai người bọn anh là một sự điên rồ. Một sự điên rồ cuồng dại và đầy tính hủy diệt. Một thứ tình cảm không thể dính dáng tới cuộc đời thực của mỗi người. Bọn anh đều biết chuyện đó sẽ phải chấm dứt.”

“Anh có hẹn gặp Alex vào cái ngày thứ Sáu mà cô ấy bị sát hại đúng không?”

Mặt Dan khẽ co giật khi nhớ lại chuyện ấy. Sau khi Alex qua đời anh đã ngàn lần tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra nếu anh xuất hiện vào ngày hôm đó. Liệu cô ấy có còn sống hay không?

“Đúng vậy, bọn anh hẹn gặp vào tối thứ Sáu ấy. Pernilla sẽ đi thăm chị gái ở Munkedal với lũ trẻ. Anh bịa ra một vài lý do về việc cảm thấy không khỏe và muốn ở lại nhà.”

“Nhưng Pernilla lại không đi, đúng không?”

Dan im lặng rất lâu.

“Pernilla có đi nhưng anh ở lại nhà. Anh tắt di động và anh biết cô ấy sẽ chẳng bao giờ dám gọi điện tới nhà mình. Amh tránh cô ấy vì anh sợ. Anh không dám nhìn thẳng vào mắt cô ấy và nói mọi chuyện đã kết thúc. Dù anh biết cô ấy đã hiểu sớm muộn thì chuyện đó cũng xảy ra. Anh chỉ sợ là người đưa ra quyết định trước. Anh nghĩ nếu anh cứ từ từ tách ra thì cô ấy sẽ trở nên mệt mỏi và sẽ chia tay với mình. Rất không đàn ông, đúng không?”

Erica hiểu rằng phần khó nhất sắp xảy ra nhưng cô không có cách nào khác. Anh nghe tin đó từ miệng cô vẫn tốt hơn.

“Nhưng Dan ơi, cô ấy lại không nghĩ rằng mọi chuyện sẽ kết thúc. Cô ấy mong chờ có một tương lai với anh. Rằng anh sẽ rời bỏ gia đình mình, còn cô ấy sẽ rời xa Henrik và cả hai sẽ sống hạnh phúc đến trọn đời.”

Mỗi từ của cô đều giống như roi quất nhưng phần tồi tệ nhất vẫn chưa tới.

“Dan, cô ấy đã có bầu. Cô ấy đã mang thai con của anh. Cô ấy rõ ràng muốn báo tin cho anh vào tối ngày thứ Sáu đó. Cô ấy đã chuẩn bị một bữa tối thịnh soạn và để sâm banh vào tủ lạnh.”

Dan không thể nhìn mặt cô. Anh cố nhìn chằm chằm vào khoảng không nhưng nước mắt bắt đầu trào ra khiến mọi thứ đều trở nên mờ ảo như trong sương mù. Đau thương cuồn cuộn dâng trào và nước mắt không ngừng tuôn trên má. Anh bắt đầu khóc nức nở và liên tục lấy găng tay chùi mũi, lau nước mắt. Nhưng rồi anh mặc kệ, gục đầu vào hai tay, mặc cho nước mắt tiếp tục giàn giụa.

Erica ngồi xuống bên cạnh anh và quàng tay quanh vai anh để an ủi. Nhưng Dan hất cô ra. Cô biết anh sẽ phải tự tìm cách thoát ra khỏi cái hố mà anh đã đào. Nên cô kiên nhẫn khoanh tay chờ đợi cho tỏ khi nước mắt anh bắt đầu rơi chậm lại và có vẻ như anh đang cố lấy lại hơi.

“Làm sao em biết là cô ấy mang thai?” Anh lắp bắp hỏi.

“Em đã có mặt ở đồn cảnh sát cùng với Birgit và Henrik khi cảnh sát báo tin này.”

“Họ có biết đó không phải là con của Henrik không?”

“Em chắc là Henrik biết nhưng Birgit thì không, bà ấy cho rằng Henrik là cha của đứa bé.”

Dan gật đầu. Có vẻ như việc bố mẹ cô ấy không biết chuyện đó giúp anh an ủi được phần nào.

“Hai người đã gặp nhau như thế nào?”

Erica đổi đề tài, muốn anh tạm thời không nghĩ tới đứa con chưa kịp ra đời của mình, dù chỉ trong chốc lát.

Anh mỉm cười chua xót. “Rất bình thường. Ở Fjällbacka này những người tầm tuổi chúng ta thường gặp nhau ở đâu? Dĩ nhiên là đi uống bia ở quán Galären. Bọn anh nhìn nhau xuyên qua căn phòng, trong lòng rạo rực. Anh chưa bao giờ bị một người phụ nữ thu hút đến thế.”

Erica cảm thấy có chút ghen tị khi nghe những lời này.

Dan nói tiếp. “Nhưng bọn anh đã không làm gì cả cho tới vài tuần sau cô ấy gọi vào di động của anh. Anh lái xe tới gặp cô ấy. Và rồi mọi chuyện bắt đầu nảy sinh từ đó. Những giờ vụng trộm khi Pernilla đi vắng. Cũng không có mấy buổi tối như thế, thường là hẹn hò vào ban ngày.”

“Anh không sợ bị hàng xóm bắt gặp khi tới nhà Alex sao? Anh vẫn biết tốc độ tin đồn nhảm ở đây mà?”

“Có chứ, anh thực sự có nghĩ tới điều đó. Thế nên anh thường trèo rào ở sân sau rồi đi vào theo lối hầm rượu. Thật tình mà nói, xảy ra chuyện này cũng là do cả hai đều cảm thấy phấn khích nữa. Khi dự vào một mối quan hệ rủi roi và nguy hiểm.”

“Thế anh có biết mức độ rủi ro mà anh phạm phải không?”

Dan vầy vò chiếc mũ, mắt vẫn không rời khỏi boong tàu.

“Dĩ nhiên là anh biết. Ở một mức độ nào đó. Nhưng mặt khác anh cũng không thấy sợ. Người khác có thể bị bắt gặp nhưng mình thì không. Không phải chúng ta vẫn luôn nghĩ thế sao?”

“Pernilla có biết không?”

“Không. Dù sao thì cũng không thấy cô ấy nói gì. Nhưng anh nghĩ cô ấy hẳn đang nghi ngờ. Em thấy cô ấy phản ứng thế nào khi nhìn thấy em lần trước rồi đấy. Mấy tháng gần đây cô ấy toàn thế, ghen tuông và đề phòng. Anh chắc chắn là cô ấy đã cảm nhận được có chuyện gì đó đang diễn ra.”

“Anh biết là anh sẽ phải nói chuyện này với cô ấy ngay lập tức.”

Dan lắc đầu quầy quậy. Nước mắt lại dâng lên.

“Không được đâu, Erica. Anh không làm được. Chỉ từ khi xảy ra chuyện với Alex anh mới thực sự nhận ra rằng Pernilla quan trọng như thế nào đối với mình. Alex là một thoáng đam mê nhưng Pernilla và lũ trẻ mới là tất cả. Anh không thể.”

Erica cúi xuống, đặt tay lên tay Dan và nói bằng giọng bình tĩnh nhưng rõ ràng, không để lộ vẻ kích động đang dâng lên trong lòng.

“Dan, anh nhất định phải nói. Cảnh sát cần biết chuyện này và ngay lúc này đây anh đang có cơ hội tự mình nói với Pernilla. Sớm hay muộn cảnh sát cũng phát hiện ra và lúc đó thì anh sẽ chẳng còn cơ hội giải thích với Pernilla như anh muốn. Và sẽ chẳng còn bất kỳ lựa chọn nào. Anh vẫn tự bảo là có thể cô ấy đã biết hay ít nhất cũng đang nghi ngờ điều gì đó. Nên đây có khi còn là cơ hội để hai người nói về chuyện ấy. Khai thông mọi nghi ngờ.”

Cô thấy Dan lắng nghe và có vẻ tiếp thu những gì cô vừa nói. Cô cũng có cảm giác toàn thân anh đang run rẩy.

“Nhưng nếu cô ấy bỏ anh thì sao? Nếu cô ấy mang bọn trẻ đi và bỏ anh lại thì sao, Erica? Anh sẽ phải làm gì? Anh sẽ chẳng là gì cả nếu không có mẹ con cô ấy.”

Trong đầu Erica vang lên một giọng nói tàn nhẫn cho rằng sao trước kia anh không nghĩ tới chuyện đó đi nhưng lý trí mạnh hơn đã át lại, vì thời điểm để trách cứ đã qua rồi. Hiện giờ còn có những chuyện quan trọng hơn cần phải giải quyết. Cô cúi xuống, choàng tay lên vai anh rồi khe khẽ vuốt lưng an ủi. Lúc đầu anh khóc dữ hơn, rồi cũng bắt đầu bình tĩnh lại. Khi anh thoát ra khỏi vòng tay cô và lau nước mắt thì cô nhìn thấy anh đã hạ quyết tâm không trì hoãn điều không thể tránh khỏi nữa.

Khi lái xe rời khỏi khu bến cảng, cô nhìn lại anh lần nữa qua gương chiếu hậu, anh bất động đứng đó, trên con càu thân yêu của mình, mắt dõi về phía chân trời xa xăm. Cô thành tâm cầu nguyện anh sẽ tìm ra cách giải thích với vợ. Sẽ không dễ dàng gì.

—★—

Cái ngáp giống như xé rách toàn thân, lan từ đầu tới chân. Patrik chưa bao giờ cảm thấy mệt mỏi như thế. Cũng chưa bao giờ vui sướng thế.

Thật khó tập trung vào đống giấy tờ chất chồng trước mặt. Một vụ án mạng sẽ sản sinh ra một đống tư liệu mà công việc của anh là kiểm tra từng chi tiết nhỏ nhất để tìm ra một manh mối có lợi cho quá trình điều tra. Anh dụi mắt hít một hơi để tập trung năng lượng thực hiện nhiệm vụ.

Cứ mười phút anh lại đúng dậy để giãn gân giãn cốt, làm ít cà phê hay nhảy lò cò tại chỗ, tóm lại là bất cứ cử động gì để giữ được đầu óc tình táo và để tập trung vào công việc lâu hơn. Nhiều lần tay anh đã mon men nhấc điện thoại gọi cho Erica nhưng lại kiềm chế được. Nếu cô cũng mệt như anh thì có lẽ còn đang ngủ. Anh hy vọng là cô có thể ngủ bù. Vì đêm nay anh những muốn cô thức thật lâu.

Chồng tư liệu liên quan tới gia đình Lorentz lại đã dày lên so với lần trước. Annika như thường lệ lại cần mẫn đào bới các bài báo cũ và tư liệu liên quan tới gia đình này rồi đặt ngay ngắn trên bàn Patrik. Anh bắt đầu làm việc một cách có hệ thống, lật ngược chồng tư liệu và bắt đầu đọc từ dưới lên trên, đầu tiên là những bài báo anh đã đọc lần trước. Hai tiếng sau, vẫn không tìm thấy thông tin mang tính kích thích nào. Dù anh rõ ràng cảm thấy mình hẳn đã bỏ lỡ chi tiết nào đó nhưng vẫn không tài nào tìm ra được.

Thông tin thực sự thú vị đầu tiên xuất hiện ở gần cuối chồng tài liệu. Annika đã chèn thêm một bài báo về vụ hỏa hoạn ở Bullaren, cách Fjällbacka khoảng năm mươi cây số. Bài báo được viết vào năm 1975 và chiếm trọn một trang trên tờ Bohusläningen. Ngôi nhà bị cháy rụi vào đêm mồng 6 tháng Bảy năm 1975 sau một vụ nổ. Khi ngọn lửa được dập tắt thì đã chẳng còn gì sót lại ngoài tro bụi và hai thi thể. Đó là cặp vợ chồng chủ nhân của ngôi nhà, Stig và Elisabeth Norin. Kỳ diệu thay, đứa con trai mười tuổi của họ đã thoát được hỏa hoạn. Người ta tìm thấy thằng bé trong dãy nhà phụ. Hiện trường xung quanh vụ hỏa hoạn rất khả nghi, theo như tờ Bohusläningen, và cảnh sát cho rằng đó là một vụ cố ý phóng hỏa.

Bài báo được kẹp với một tập tài liệu bao gồm các biên bản điều tra của cảnh sát. Anh đang bối rối không hiểu bài báo này có liên quan gì tới gia đình Lorentz thì nhìn thấy tên cậu con trai mười tuổi của nhà Norin. Tên của cậu bé là Jan. Trong tập tài liệu còn có báo cáo của trung tâm bảo trợ xã hội nhắc tới việc cậu bé được gia đình Lorentz thu nhận. Patrik khẽ huýt sáo. Vẫn không chắc chuyện này thì liên quan gì tới cái chết của Alex hay Anders nhưng có gì đó đang dần dần thức tỉnh. Bóng tối sẽ nhạt dần và trở nên sáng tỏ khi anh cố gắng tập trung nhưng anh không biết mình có đi đúng hướng hay không. Anh ghi nhớ điều đó trong đầu và tiếp tục công việc nghiên cứu tỉ mỉ đống tài liệu trên bàn.

Quyển sổ ghi chép của anh bắt đầu kín chữ. Chữ viết của anh nghiêng ngả rất xấu nên Karin vẫn thường đùa anh nên làm bác sĩ mới phải, nhưng quan trọng anh hiểu mình viết gì là được. Một vài ý tưởng đã hình thành nhưng phần lớn ghi chép là những dấu hỏi to đùng được viết bằng mực đen. Ai là người Alex chờ đợi khi chuẩn bị bữa tối linh đình kia? Người đàn ông mà cô ấy bí mật hẹn hò là ai? Đứa trẻ trong bụng cô ấy là của ai? Có phải của Anders không, dù anh ta đã phủ nhận nó? Hay còn có người nào đó mà họ chưa nhận diện được? Tại sao một phụ nữ như Alex, với vẻ ngoài, tiền bạc cũng như dẳng cấp của cô ấy, lại đi ngoại tình với một kẻ như Anders? Tại sao Alex lại giữ bài báo về vụ mất tích của Nils Lorentz trong ngăn kéo?

Danh sách câu hỏi cứ dài ra mãi. Patrik đã chép sang trang thứ ba khi bắt đầu đọc các tư liệu về Anders. Cho tới giờ chồng tư liệu về Anders mỏng hơn rất nhiều. Nhưng chẳng mấy chốc sẽ chất đống lên cho mà xem. Lúc này thì chỉ có khoảng mười tập tài liệu bao gồm cả những gì thu được khi khám xét căn hộ của anh ta. Câu hỏi lớn nhất liên quan tới Anders là anh ta đã chết như thế nào. Patrik mạnh tay gạch đậm dưới câu hỏi đó nhiều lần. Hung thủ hay các hung thủ nâng Anders lên để tròng vào thòng lọng trên trần nhà bằng cách nào? Khám nghiệm tử thi sẽ cũng cấp thêm chi tiết nhưng từ những gì Patrik chứng kiến thì không hề có dấu hiệu giãy giụa trên cơ thể nạn nhân, đúng như Mellberg đã chỉ ra trong buổi tổng kết sáng nay. Người bất tỉnh thưởng rất nặng và Anders phải được nâng lên rất cao thì hung thủ mới có thể siết chặt nút dây thừng vào móc đèn.

Anh thực sự muốn nghiêng về khả năng Mellberg có thể đã đúng, dù chỉ một lần, rằng có hơn một người tại hiện trường vụ án. Mặc dù đều đó có vẻ không khớp với quá trình Alex bị sát hại. Nhưng Patrik dám thề rằng họ đang truy tìm cùng một người. Sau những nghi ngờ ban đầu thì giờ đây anh gần như đã càng ngày càng chắc chắn về điều đó.

Anh nhìn đống giấy tờ tìm thấy trong căn hộ của Anders và rải chúng ra trước mặt. Chiếc bút chì ngậm trong miệng anh đã bị gặm chẳng còn ra hình thù gì. Miệng anh đầy những vẩy mùn cưa màu vàng rơi ra từ vỏ bút. Anh nhổ phì phì và cố nhặt nốt những vảy gỗ còn dính lại trên lưỡi. Nhưng chẳng ích gì. Mà giờ cả tay anh cũng dính đầy mạt gỗ. Anh búng nhẹ vài lần cho chúng rơi ra nhưng chẳng ăn thua liền bỏ cuộc, quay lại đống tài liệu đang trải trên bàn. Chẳng thấy gì hay ho nên anh đành bắt đầu với tờ hóa đơn điện thoại của công ty viễn thông Telia. Anders rất ít gọi điện nhưng cộng các loại phí phụ trội thì tổng cước phí cũng khá cao. Chi tiết các cuộc gọi được đính kèm với hóa đơn và Patrik khẽ thờ dài khi nhận ra mình sẽ phải làm mấy việc xác nhận thông tin tẻ nhạt. Dù anh không cho rằng hôm nay là ngày thích hợp để làm mấy việc lẻ tẻ, chán ngắt theo thông lệ đó.

Anh lần lượt gọi hết số điện thoại này tới số điện thoại khác trên danh sách cuộc gọi. Anh nhanh chóng nhận ra Anders chỉ gọi vài số nhất định. Nhưng có một số điện thoại tách biệt hẳn ra. Nó không hề có mặt ở đoạn đầu danh sách nhưng kể từ lần xuất hiện đầu tiên, đã trở thành số điện thoại được gọi nhiều nhất. Patrik quay số và chờ điện thoại đổ chuông.

Anh vừa định gác máy sau tám hồi chuông thì nghe thấy câu trả lời từ hộp thoại. Tên người ở bên kia đầu máy khiến anh nhỏm phắt dậy trên ghế khiến hai bên háng đau nhói vì quên mất lúc trước hai chần anh còn đang gác trên bàn. Anh duỗi chân xuống sàn và bắt đầu mát xa phía bên trong đùi phải lúc này đang bị đau.

Patrik dập máy trước khi nghe thấy tiếng bíp ra hiệu cho người gọi để lại tin nhắn. Anh khoanh một vòng tròn quanh một ghi chép trước đó trong sổ tay và sau một lúc nghĩ ngợi anh bắt đầu một cuộc gọi khác. Có một việc anh muốn đích thân đi làm còn việc khác có thể để lại cho Annika. Anh tới bàn làm việc của chị với quyển sổ ghi chép trên tay. Chị đang chăm chú gõ bàn phím với cặp kính làm việc trễ xuống mũi. Chị nhìn anh với vẻ thắc mắc.

“Phải chăng cậu tới đây để giúp tôi giảm nhẹ gánh nặng công việc vô lý này?”

“Tôi e là không.” Patrik toét miệng cười.

“Tôi biết ngay mà,” Annika làm bộ trưng ra vẻ mặt giận dỗi. “Thế lại có việc gì khiến tôi chóng chết đấy?”

“Chỉ là một thỉnh cầu nho nhỏ mà thôi!” Patrik minh chứng cho cái sự nho nhỏ đó bằng cách chụm hai đầu ngón tay lại, chỉ để hở ra chút xíu.

“Thôi được, cậu nói đi.”

Patrik kéo ghế ngồi xuống cạnh bàn Annika. Phòng làm việc của chị tuy rất nhỏ nhưng lại là nơi dễ chịu nhất trong đồn này. Chị để rất nhiều chậu cây trong phòng, trông chúng đều có vẻ khỏe khoắn và phát triển tốt. Có thể ví đây như một phép màu vì ánh sáng duy nhất trong căn phòng tới từ chiếc cửa sổ thông ra hành lang. Trong phòng, bốn bức tường bê tông lạnh lẽo treo đầy ảnh về hai niềm đam mê lớn nhất của Annika và chồng chị, Lennart, là những chú chó và các cuộc đua xe. Họ có hai chú chó Labrador màu đen thường xuyên đi theo chủ vào các dịp cuối tuần khi hai vợ chồng lái xe khắp Thụy Điển tìm tới các cuộc đua. Thật ra Lennart mới là người tham gia thi đấu nhưng Annika luôn có mặt ở đó để cổ vũ, chuẩn bị đồ ăn và cà phê nóng. Về cơ bản, họ luôn gặp cùng một nhóm người ở các cuộc đua và sau nhiều năm đã thành một hội rất thân. Tất cả điều coi nhau là bạn chí cốt. Ít nhất mỗi tháng sẽ diễn ra hai cuộc đua và sẽ rất khó thuyết phục Annika làm việc vào những ngày đó.

Anh nhìn sổ ghi chép của mình.

“Không biết chị có thể giúp tôi đối chiếu lại một chút các thông tin liên quan tới Alex Wijkner chăng. Bắt đầu từ cái chết của cô ấy, kiểm tra lại tất cả những mốc thời gian trước đó với những số hiệu mà chúng ta đã nhận được. Cô ấy đã kết hôn với Henrik được bao lâu. Đã về sống ở Thụy Điển bao lâu. Xác thực các thông tin về cô ấy với các trường ở Pháp và Thụy Sĩ, v.v…Chị hiểu là tôi muốn tìm gì rồi chứ?”

Annika ghi ra giấy rồi nhìn anh với vẻ chấp thuận. Anh chắc rằng chị sẽ tìm ra cái gì đó. Quan trọng hơn là sẽ phát hiện ra những điểm không khớp giữa tài liệu mà họ có được và những gì anh ghi chú. Vì hẳn phải có một lỗ hổng ở đâu đó.

“Cảm ơn chị Annika. Chị đúng là bảo bối.”

Patrik toan đứng dậy thì bị tiếng quát “Ngồi xuống” của Annika làm cho khựng lại rồi ngoan ngoãn ngồi ngay lại. Giờ thì anh mới hiểu vì sao mấy chú chó Labrador của Annika lại ngoan như thế.

Chị ngả người ra sau, tựa vào lưng ghế và mỉm cười khoan khoái khiến Patrik lập tức hối hận đã đích thân tới đây tìm Annika thay vì để lại lời nhắn. Lẽ ra anh phải nhớ là chị vẫn luôn nhìn thấu mình. Bên cạnh đó, lại vô cùng thính mũi khi đánh hơi mấy chuyện tình cảm. Thôi thì giơ cờ trắng đầu hàng cho nhanh, anh nghĩ vậy nên thoải mái tựa lưng vào ghế và chờ đợi một núi câu hỏi chuẩn bị ập xuống. Chị bắt đầu một cách mềm mỏng mà vô cùng xảo quyệt.

“Hôm nay trông cậu hẳn là mệt chết đi được.”

“Mmm…”

Anh sẽ không để chị dễ dàng moi được tin.

“Hôm qua có tiệc tùng gì à?” Annika tiếp tục thăm dò nhằm tìm ra sơ hở trong phòng bị của Patrik.

“Chị có thể gọi đó là tiệc tùng cũng được. Nhưng còn tùy quan điểm của mỗi người. Theo chị thì thế nào là tiệc tùng?” Anh giơ hai tay ra và mở to mắt vẻ vô tội.

“Ô, cậu làm ơn dẹp mấy cái trò với vẩn ấy đi cho tôi, Patrik. Chỉ cần nói cho tôi biết cô ấy là ai?”

Nhưng anh không nói gì, cố tình tra tấn lòng kiên nhẫn của Annika bằng sự im lặng. Một lúc sau, anh thấy hai mắt Annika sáng lên.

“A ha!” Chị khoái trá reo lên rồi hoa chân múa tay vẻ đắc thắng. “Là người phụ nữ đó, tên cô ấy là gì, tên cô ấy là gì ấy nhỉ…” Rồi chị vừa búng ngón tay vừa cố lục lọi trí nhớ của mình. “Erica! Erica Falck!”

Thở phào, chị dựa lưng vào ghế. “Vậy là… chuyện này đã xảy ra được bao lâu rồi, Patrik?”

Anh không bao giờ hết sửng sốt trước việc chị luôn có khả năng đánh quá trúng đích. Có muốn chối bay cũng không được. Anh cảm thấy cả người đang đỏ bừng lên, từ đầu tới chân, bằng chứng rành rành, còn rõ hơn cả lời nói. Rồi anh lại không tự chủ được, miệng ngoác tới tận mang tai và đối với Annika, đó chính là lời kết án.

Sau năm phút bị thẩm vấn, cuối cùng Patrik cũng có thể lết ra khỏi phòng làm việc của Annika. Cứ như là vừa bị cho vào máy vắt. Không phải là không hay khi nói về Erica nhưng phải đi làm nhiệm vụ ngay sau đó thực chẳng dễ dàng gì. Anh mặc áo khoác, nói với Annika đi có việc rồi lao ra ngoài đường trong tiết trời mùa đông với những bông tuyết lớn bắt đầu chầm chậm rơi xuống.

—★—

Erica nhìn tuyết bay phấp phới ngoài cửa sổ. Cô đang ngồi trước máy tính nhưng đã tắt nguồn và nhìn chằm chằm vào màn hình đen ngòm. Đầu đau như búa bổ nhưng cô vẫn cố ép mình viết thêm mười trang về Selma Lagerlöf. Cô chẳng còn chút hào hứng nào với cuốn hồi ký này nhưng đã bị trói buộc bởi hợp đồng và phải hoàn thành nó trong vài tháng tới. Cuộc trò chuyện với Dan đã khiến tâm trạng vui vẻ của cô giảm đi đôi chút và cô tự hỏi không hiểu anh có kể hết mọi chuyện với Pernilla không. Cô quyết định dùng việc lo lắng cho Dan vào một mục đích sáng tạo hơn và khởi động lại máy tính.

Bản thảo quyển sách về Alex nằm ngay trên màn hình giao diện nên cô chỉ việc mở tập tài liệu lúc này đã dày hơn trăm trang. Cô cẩn thận đọc lại từ đầu tới cuối. Tốt. Thậm chí là rất tốt. Giờ đây điều khiến cô lo lắng nhất là tất cả bạn bè và người thân của Alex sẽ phản ứng như thế nào nếu quyển sách được xuất bản. Dĩ nhiên Erica cũng ngụy trang câu chuyện một chút, thay đổi tên tuổi và địa điểm cùng với chút tưởng tượng hư cấu. Nhưng cuốn sách cơ bản dựa trên cuộc đời của Alex qua lăng kính của Erica. Phần liên quan tới Dan thực sự khiến cô đau đầu. Cô phải làm thế nào để không đả động tới anh và gia đình? Mặt khác, cô lại cảm thấy nhất định phải viết ra chuyện này. Lần đầu tiên ý tưởng viết một quyển sách thực sự khiến cô hăng hái. Biết bao nhiêu ý tưởng đã bị bỏ rơi và ruồng rẫy suốt nhiều năm qua khiến cô không thể đánh mất cơ hội lần này. Trước tiên, cô sẽ tập trung vào việc hoàn thành cuốn sách sau đó sẽ giải quyết các vấn đề liên quan tới tình cảm của những người trọng cuộc sau.

Gần một tiếng đồng hồ viết lách vô cùng sung sức đã trôi qua thì cô nghe thấy chuông cửa reo. Lúc đầu cô cảm thấy hơi khó chịu vì đang đến lúc có thể viết trôi chảy thì lại bị quấy rầy, nhưng khi nghỉ rằng có thể đó là Patrik, cô liền nhảy ra khỏi ghế. Cô kiểm tra nhanh bộ dạng mình trong gương trước khi lao xuống cầu thang ra mở cửa. Nụ cười trên môi cô lập tức tắt ngấm khi nhìn thấy người đang đứng bên ngoài. Pernilla trông rất tệ. Dường như đã già đi mười tuổi so với lần gặp trước. Hai mắt sưng đỏ vì khóc, tóc tai bù xù và có vẻ như đã vội vàng tới quên cả mặc áo khoác, run lập cập trong chiếc áo len mỏng. Erica mời Pernilla vào bên trong ấm áp. Với một cử chỉ hoàn toàn bộc phát, cô choàng tay ôm lấy Pernilla và nhẹ nhàng vỗ lưng cô ấy hệt như với Dan vài giờ trước. Việc đó khiến Pernilla mất hết chút tự chủ còn lại và bắt đầu khóc thảm thiết trên vai Erica. Một lúc sau cô ấy ngẩng lên. Mascara lại càng lem dữ hơn khiến cô ấy giống như một chú hề trên sân khấu.

“Xin lỗi,” Pernilla ngước nhìn qua làn nước mắt vai áo màu trắng của Erica lúc này đã lấm lem vì mascara.

“Không sao. Đừng bận tâm chuyện đó. Vào trong đi.”

Erica khoác vai Pernilla và dẫn cô ấy vào phòng khách. Cô có thể cảm thấy cả người Pernilla đang run lên bần bật và cô biết đó không hẳn chỉ vì lạnh. Trong giây lát cô tự hỏi vì lý do gì mà Pernilla lại chọn tới chỗ cô. Erica luôn là bạn của Dan hơn là bạn của Pernilla. Nên hơi lạ là sao cô ấy không tìm tới bạn thân hay chị gái mình. Nhưng giờ thì cô ấy đã ở đây và cô sẽ làm mọi chuyện trong khả năng của mình để giúp Pernilla.

“Tôi vẫn còn cà phê. Chị có muốn làm một tách không? Tôi pha khoảng một tiếng trước nhưng giờ vẫn còn ấm.”

“Ừ, cảm ơn cô.”

Pernilla ngồi xuống sofa và siết chặt hai tay quanh ngực như sợ mình sẽ tan ra từng mảnh. Nói thế cũng không sai, trên một khía cạnh nào đó.

Erica trở lại với hai tách cà phê. Cô đặt một tách xuống bàn, trước mặt Pernilla, và một tách trước mặt mình rồi ngồi xuống chiếc ghế tựa đối diện với Pernilla, chờ cô ấy lên tiếng trước.

“Cô có biết chuyện đó không?”

Erica hơi do dự. “Có, nhưng chỉ rất gần đây thôi. Chính tôi đã giục Dan nói với chị.”

Pernilla gật đầu. “Tôi nên làm gì bây giờ?”

Câu hỏi mang tính trần thuật nên Erica im lặng không trả lời. Pernilla tiếp tục. “Từ đầu tôi đã biết mình chỉ là một biện pháp giúp Dan quên cô đi mà thôi.”

Erica toan phản đối thì Pernilla đã xua tay chặn lại.

“Tôi biết thế nhưng vẫn nghĩ rằng thời gian sẽ thay đổi tất cả và chúng tôi sẽ yêu nhau thật lòng. Chúng tôi đã sống rất hòa hợp và tôi hoàn toàn tin tưởng anh ấy.”

“Dan yêu chị, Pernilla. Tôi biết là anh ấy rất yêu chị.”

Pernilla không có vẻ gì như đang lắng nghe mà cứ vừa tiếp tục lẩm nhẩm vừa nhìn chằm chằm vào tách cà phê của mình. Cô ấy giữ tách cà phê chặt tới mức các khớp xương đều trắng bệch ra.

“Tôi có thể chấp nhận việc anh ấy ngoại tình và đổ lỗi cho chứng khủng khoảng tiền trung niên hay gì đó. Nhưng tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho anh ấy vì đã khiến người phụ nữ ấy mang thai.”

Sự giận dữ trong giọng nói của Pernilla ghê gớm tới mức Erica suýt phải ngồi lùi lại. Khi Pernilla ngẩng đầu lên nhìn cô, sự thù ghét trong ánh mắt cô ấy dữ dội tới mức Erica rùng mình vì một linh cảm xấu. Cô chưa bao giờ chứng kiến một cơn thịnh nộ bừng bừng và mãnh liệt như thế. Trong giây lát cô tự hỏi không hiểu Pernilla thực sự đã biết về mối quan hệ giữa Dan và Alex từ khi nào. Và cô ấy định lên kế hoạch trả thù xa đến mức nào. Nhưng cô lập tức gạt ý nghĩ ấy ra khỏi đầu. Đây là Pernilla, một phụ nữ nội trợ có ba con nhỏ, kết hôn với Dan từ nhiều năm, chứ không phải một thiên thần nổi giận lên kế hoạch trả thù tình nhân của chồng. Nhưng trong ánh mắt Pernilla vẫn có một vẻ hung ác lạnh lẽo khiến cô sợ hãi.

“Chị định thế nào?”

“Tôi không biết. Lúc này tôi chẳng còn biết gì cả. Tôi chỉ biết phải ra khỏi nhà. Đó là ý nghĩ duy nhất trong đầu tôi. Tôi thậm chí còn không thể nhìn anh ấy.”

Erica thương cảm thay cho Dan. Anh hẳn đang sống trong địa ngục của chính mình. Đúng ra người tìm tới cô để được an ủi phải là Dan. Như vậy cô còn biết cách ăn nói để trấn an anh. Cô không hiểu Pernilla tới mức có thể đưa ra các phương thức giúp đỡ. Có lẽ chỉ cần lắng nghe cô ấy là đủ.

“Cô nghĩ tại sao anh ấy lại làm thế? Anh ấy tìm thấy ở cô ta cái gì mà tôi không có sao?”

Giờ thì Erica đã hiểu tại sao Pernilla lại tới tìm cô chứ không tới chỗ một cô bạn thân nào đó. Cô ấy tin rằng Erica luôn có các câu trả lời về Dan. Rằng cô có thể đưa cho cô ấy chiếc chìa khóa giải mã hành động của anh. Đáng tiếc là Erica chỉ có thể khiến cô thất vọng. Cô vẫn luôn biết Dan trong hình tượng của một người thành thực, không mảy may nghĩ tới việc anh có thể không chung thủy. Trong đời mình, cô chưa bao giờ choáng váng như khi bấm số máy liên lạc cuối cùng từ điện thoại của Alex và phát hiện ra hộp thư thoại của Dan. Thật lòng mà nói, cô đã vô cùng thất vọng, thất vọng khi phát hiện ra một người vốn thân thiết với mình hóa ra không giống như mình vẫn nghĩ. Chính vì thế, cô nhận ra rằng Pernilla ngoài cảm giác bị phản bội và lừa dối còn đang tự chất vấn rằng người đàn ông mà cô ấy từng chung sống bấy nhiêu năm thực sự là ai.

“Tôi không biết, Pernilla. Tôi thực sự choáng váng khi phát hiện ra chuyện này. Đó không phải là Dan mà tôi từng biết.”

Pernilla gật đầu. Có vẻ như điều đó đã an ủi cô ấy một chút vì nhận ra mình không phải là người duy nhất bị lừa gạt. Cô ấy hấp tấp nhặt một sợi chỉ thừa không có thật trên chiếc áo len rộng thùng thình của mình. Mái tóc dài màu nâu sẫm vẫn còn vết tích của lần uốn xoăn được vội vã buộc lên khiến cô càng có vẻ lôi thôi. Erica vẫn luôn có chút thiếu cảm tình với vẻ bên ngoài của Pernilla vì cô ấy hoàn toàn có thể cải thiện nó. Cô ấy vẫn đi uốn tóc dù kiểu này đã lỗi mốt giống như những chiếc áo đã lửng của nam giới. Rồi lúc nào cũng mua mấy thứ quần áo rẻ tiền xem trên mạng, giá rẻ nhưng gu thời trang cũng vậy. Nhưng chưa bao giờ trông cô ấy nhích nhác như lúc này.

“Pernilla, tôi biết lúc này đối với chị đang vô cùng khó khăn nhưng hai người là một gia đình, Dan và chị. Hai người có ba cô con gái tuyệt vời và mười lăm năm đồng cam cộng khổ. Chị đừng nên hành động hấp tấp. Đừng hiểu sai ý tôi, tôi không bỏ qua những gì anh ấy đã gây ra. Có lẽ hai người không thể sống tiếp với nhau sau chuyện này. Có lẽ chị không thể tha thứ cho anh ấy. Nhưng hãy đợi một chút, cho mọi chuyện sáng tỏ rồi hẵng quyết định. Nghĩ kỹ trước khi hành động. Tôi biết là Dan rất yêu chị, mới ngày hôm nay anh ấy còn nói với tôi như thế. Tôi cũng biết là anh ấy vô cùng hối hận vì những gì mình đã làm. Anh ấy nói với tôi rằng anh ấy muốn cắt đứt với cô ấy và tôi tin là anh ấy nói thật.”

“Tôi chẳng còn biết tin vào cái quái gì nữa, Erica. Những gì tôi vốn tin tưởng đều là giả dối, tôi biết tin vào cái gì bây giờ?”

Erica không thể trả lời và cả hai chìm trong im lặng nặng nề. “Cô ta trông thế nào?”

Một lần nữa Erica lại nhìn thấy một ngọn lửa lạnh lẽo bùng lên trong khóe mắt Pernilla. Cô không hỏi cũng biết cô ấy muốn ám chỉ ai.

“Đã từ lâu lắm rồi. Giờ tôi không còn biết cô ấy trông thế nào nữa.”

“Cô ta rất đẹp. Tôi nhìn thấy cô ta ở đây dạo hè. Cô ta đúng là mẫu người ta muốn hóa thân. Xinh đẹp, thanh lịch, đài các. Cô ta khiến tôi có cảm giác mình đúng là một mụ nhà quê. Tôi sẵn sàng đánh đổi bất cứ thứ gì để được như cô ta. Trên một khía cạnh nào đó tôi có thể hiểu được Dan. Đặt tôi và Alex bên cạnh nhau, dễ dàng thấy ai là người thắng cuộc.”

Pernilla tuyệt vọng giày vò bộ quần áo tiện dụng nhưng lỗi mốt của mình như muốn minh chứng điều đó.

“Tôi vẫn luôn ghen tị với cô. Mối tình khắc cốt ghi tâm thời trai trẻ của anh ấy, người đã bỏ lên thành phố lớn để anh ấy ở lại trong hao mòn. Nữ tác giả từ Stockholm, người thực sự đã gây dựng được danh tiếng, thỉnh thoảng lại về đấy lên giọng khoe khoang với chúng tôi, những kẻ tẻ nhạt tẩm thường. Dan vẫn luôn mong đợi những chuyến thăm của cô từ nhiều tuần trước đó.”

Sự chua xót trong giọng nói của Pernilla khiến Erica hoảng hốt. Lấn đầu tiên cô cảm thấy thực sự hổ thẹn vì thái độ kẻ cả của mình đối với Pernilla. Thật là kém hiểu biết. Nhìn lại cô thật có chút tự mãn khi để ý thấy sự khác biệt giữa mình và Pernilla. Giữa kiểu tóc làm ở Stureplan giá năm trăm kronor và việc tự uốn tóc ở nhà. Giữa những trang phục thiết kế cao cấp mua ở Biblioteksgatan và những chiếc váy dài và áo sơ mi lỗi thời của Pernilla. Nhưng sự khác biệt đó thì ích lợi gì chứ? Vì sao những phút yếu đuối cô lại cảm thấy vui vẻ trước sự khác biệt đó? Chính cô là người đã rời bỏ Dan. Chỉ để thỏa mãn cái tôi của mình hay vì cô thực sự ghen tị khi thấy Dan và Pernilla đã có được nhiều thứ hơn mình? Sâu trong lòng mình, cô phải chăng đang thèm muốn hạnh phúc gia đình của họ và hối hận vì đã không ở lại Fjällbacka? Rằng cô không phải là người có được cái gia đình mà Pernilla hiện có? Rằng cô vẫn luôn cố tình hạ thấp Pernilla vì ghen tị với cô ấy? Những ý nghĩ như vậy thật xấu xa nhưng cô không tài nào xua chúng đi được. Chúng khiến cô cảm thấy hổ thẹn tới tận tâm can. Đồng thời cô cũng băn khoăn không biết mình có thể làm gì để bảo vệ những gì Pernilla đang có. Và dự định của Pernilla sẽ đi tới đâu? Erica nhìn Pernilla, vẻ trầm ngâm.

“Lũ trẻ sẽ nói gì?” Có vẻ như đây là lần đầu tiên Pernilla nghĩ tới việc cô và Dan không phải là những người duy nhất bị ảnh hưởng bởi sự việc này. “Chuyện đó hẳn sẽ lọt ra ngoài, chị không nghĩ vậy sao? Ý tôi là, chuyện cô ta mang thai? Các cháu sẽ nghĩ gì?”

Ý nghĩ đó dường như làm Pernilla hoảng sợ và Erica cố gắng hết sức giúp cô ấy bình tĩnh trở lại.

Cần phải thông báo với cảnh sát về việc Dan có hẹn hò với Alex, điều đó không có nghĩa là tất cả những người khác cũng phải biết. Rồi hai người có thể tìm cách nào đó để nói với tụi trẻ. Pernilla, hiện nay chị vẫn là người làm chủ tình huống.”

Điều đó có vẻ trấn an Pernilla, cô ấy liền uống vài ngụm cà phê. Cà phê hẳn đã nguội nhưng Pernilla chẳng có vẻ bận tâm. Lần đầu tiên trong đời, Erica thực sự nổi giận với Dan. Cô lấy làm lạ là mình đã không lên cơn trước đó mà chỉ tới lúc này mới thấy lửa giận bừng lên. Anh ấy có điên hay không? Làm sao anh ấy có thể vứt đi mọi thứ mình đang có, hấp dẫn với chả không hấp dẫn? Anh ấy không nhận ra rằng cuộc đời mình đang rất may mắn hay sao? Cô siết chặt hai tay trong lòng và cố gắng truyền sự đồng cảm của mình tới Pernilla ở phía bên kia bàn. Nhưng Pernilla có đón nhận nó hay không thì cô không biết.

“Cảm ơn đã lắng nghe. Tôi thực sự rất cảm kích.”

Ánh mắt họ giao nhau. Chưa đầy một tiếng kể từ khi Pernilla nhấn chuông nhưng Erica có cảm giác đã được cô vỡ ra rất nhiều điều trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó, nhất là về bản thân mình.

“Chị xoay xở được chứ? Chị có chỗ nào để đi không?”

“Tôi sẽ về nhà.” Pernilla nói, rõ ràng và cương quyết. “Cô ta sẽ không khiến tôi rời bỏ gia đình và nhà của mình. Tôi sẽ không để cho cô ta thỏa mãn. Tôi sẽ về nhà với chồng mình và sẽ giải quyết chuyện này. Nhưng phải có một số điều kiện. Mọi việc sẽ phải khác đi kể từ giây phút này.”

Erica không kìm được, khẽ nở một nụ cười. Dan sẽ tha hồ mà bị đàn áp. Kể cũng đáng đời.

Hai người ngượng ngùng ôm hôn tạm biệt ngoài cửa. Erica thầm mong những điều tốt đẹp nhất cho Dan và Pernilla khi đứng nhìn theo Pernilla bước lên xe rồi rời đi. Đồng thời cô cảm thấy có gì đó bất ổn âm ỉ trong lòng. Hình ảnh Pernilla với đôi mắt ngùn ngụt hận thù vẫn quanh quẩn trong đầu cô. Trong đôi mắt đó, không hề có mảy may thương xót.

—★—

Tất cả các bức ảnh đều được trải trên mặt bàn trước mặt Vera. Những bức ảnh là tất cả những gì còn lại của Anders. Phần lớn trong số đó đã cũ và xỉn màu. Đã nhiều năm trôi qua kể từ khi bà không còn lý do gì để chụp ảnh thằng bé nữa. Những bức ảnh trắng đen ngày bé và những bức ảnh phai màu lúc lớn hơn một chút. Đó là một đứa trẻ hạnh phúc. Có chút hoang dã nhưng luôn vui vẻ. Lịch sự và chu đáo. Nghiêm túc đảm nhận vai trò người đàn ông trong gia đình. Đôi khi có hơi quá trịnh trọng nhưng bà vẫn chiều theo. Đúng hay sai thật khó mà biết. Có lẽ bà nên hành động khác đi trong nhiều chuyện, mà có lẽ cũng chẳng thay đổi được gì? Ai biết được?

Vera mỉm cười khi nhìn thấy một trong những bức ảnh yêu thích của mình. Anders ngồi trên chiếc xe đạp của nó, hãnh diện như một chú chim công. Bà đã phải làm thêm không biết bao nhiêu buổi tối và ngày cuối tuần để mua cho thằng bé chiếc xe đạp ấy. Chiếc xe đạp có màu xanh sẫm và yên xe hình quả chuối. Theo Anders, đó là thứ duy nhất mà nó từng khao khát trong đời. Thằng bé muốn có được chiếc xe đạp ấy hơn bất cứ thứ gì và bà không bao giờ quên được vẻ mặt nó khi nhìn thấy chiếc xe vào lần sinh nhật thứ tám. Cứ rảnh là thằng bé lại đạp xe đi loanh quanh và bức ảnh này bà chụp được khi nó đang cầm tay lái. Mái tóc dài và loăn xoăn của thằng bé rủ xuống tận cổ chiếc áo khoác Adidas bó sát với hai đường viền màu trắng dọc theo tay áo. Đó là hình ảnh mà bà sẽ luôn ghi nhớ. Trước khi mọi chuyện bắt đấu xấu đi.

Bà đã đợi ngày này từ rất lâu. Mỗi cú điện thoại, mỗi tiếng gõ cửa đều khiến bà sợ hãi. Có thể chính cú điện thoại này hay tiếng gõ cửa kia sẽ đem đến cái tin mà bà vốn lo sợ từ lâu. Cho tới giờ bà vẫn hy vọng cái ngày đó sẽ không bao giờ xảy đến. Thật trái với tự nhiên khi một đứa con lại chết trước bố me mình và có lẽ đó cũng là lý do tại sao bà không thể nào tưởng tượng ra khả năng đó. Hy vọng là thứ cuối cùng biến mất, và bà vẫn phải tiếp tục tin rằng mọi chuyện sẽ được giải quyết. Cho dù phải nhờ tới một phép mầu. Nhưng chẳng có phép mầu nào cả. Và cũng chẳng còn hy vọng. Điều duy nhất còn lại là sự vô vọng và một đống ảnh cũ đã xỉn màu.

Chiếc đồng hồ trong bếp kêu tíc tắc trong không gian tĩnh lặng. Lần đầu tiên bà nhìn thấy nhà mình mới nhếch nhác làm sao. Suốt bấy nhiêu năm, bà đã chẳng làm gì cho ngôi nhà, và có thể thấy rất rõ điều đó. Bà chỉ giữ chúng khỏi bụi nhưng không thể lau sạch sự lãnh đạm, thờ ơ đã bám chặt vào trần nhà và mỗi bức tường. Mọi thứ đều xám xịt và không có sức sống. Lãng phí. Đó chính là điều khiến bà sầu não nhất. Mọi thứ, mọi nỗ lực đều là lãng phí và vô ích.

Gương mặt hạnh phúc của Anders trong ảnh như thể đang mỉa mai bà. Đó là bằng chứng rõ ràng nhất về sự thất bại của bà. Nhiệm vụ của bà là khiến thằng bé tiếp tục cười như thế, mang tới niềm tin, hy vọng và tình yêu để nó đối mặt với tương lai. Thay vào đó bà chỉ lặng câm đứng nhìn mọi thứ lần lượt bị tước đoạt khỏi thằng bé. Bà đã lơ là trách nhiệm làm mẹ của mình và sẽ không bao giờ có thể thoát khỏi nỗi hổ thẹn ấy.

Bà chợt nhận ra rằng có thật ít bằng chứng về việc Anders từng sống ở đây. Những bức tranh đã biến mất, và đồ đạc ít ỏi trong căn hộ sẽ bị vứt bỏ nếu không ai muốn lấy. Trong ngôi nhà của bà chẳng còn sót lại vật gì của thằng bé. Anders hoặc đã bán chúng đi hoặc tự tay từ từ phá hủy. Thứ duy nhất chứng tỏ nó thực sự từng tồn tại là những bức ảnh ít ỏi đang nằm trên bàn trước mặt bà. Và trong ký ức của người mẹ. Dĩ nhiên nó cũng sẽ tồn tại trong ký ức của những người khác, nhưng là một kẻ nghiện rượu suốt ngày say xỉn chứ không phải một người để nhớ thương hay tiếc nuối. Bà là người duy nhất có được những ký ức tốt đẹp về thằng bé. Đôi khi thật khó để gọi chúng dậy nhưng chúng vẫn luôn ở đó. Và một ngày như ngày hôm nay, đó là những ký ức duy nhất vé thằng bé trỗi dậy. Chẳng còn gì khác nữa.

Vera ngồi bén bàn bếp với đống ảnh trước mặt từ vài phút rồi vài tiếng. Các khớp xương của bà bắt đầu cứng đờ. Mắt bà bắt đầu không nhìn rõ những chi tiết trên bức ảnh khi bóng tối mùa đông từ từ bóp nghẹt lấy ánh sáng. Nhưng có hề gì. Lúc này bà đã trở nên hoàn toàn cô độc và không lối thoát.

—★—

Tiếng chuông cửa vang vọng khắp căn nhà. Một lúc lâu không nghe thấy tiếng động gì ở bên trong, Patrik đã định xoay người và trở ra ô tô. Nhưng rồi anh kiên nhẫn chờ thêm một lúc nữa và nghe thấy ai đó đang thận trọng tiến vế phía cửa. Cánh cửa chậm chạp mở vào bên trong và anh nhìn thấy Nelly Lorentz đứng ở cửa với vẻ mặt dò xét. Anh ngạc nhiên khi thấy bà ra mở cửa. Anh vốn hình dung sẽ có một viên quản gia mặc chế phục cứng nhắc lịch thiệp mời anh vào. Nhưng có lẽ giờ chẳng nhà nào cần thuê quản gia nữa.

“Tôi là Patrik Hedström từ đồn cảnh sát Tanumshede. Tôi đang tìm Jan, con trai bà.”

Anh đã gọi điện tới văn phòng và được báo là hôm nay Jan làm việc ở nhà.

Quý bà chẳng có vẻ mảy may ngạc nhiên, chỉ bước sang một bên nhường lối cho anh vào.

“Tôi sẽ gọi Jan. Xin chờ một lát.”

Chậm rãi nhưng thanh lịch, Nelly bước về phía một cánh cửa mở ra cầu thang dẫn xuống tầng dưới. Patrik nghe nói Jan sống trong căn phòng dưới tầng hầm của ngôi nhà sang trọng này.

“Jan, con có khách này. Là cảnh sát.”

Patrik đang nghi ngờ không hiểu giọng nói yếu ớt của Nelly có vang được tới cuối cầu thang hay không thì đã nghe thấy tiếng bước chân vang lên. Một cái nhìn kín đáo đầy ý nghĩa được trao đổi giữa hai mẹ con họ khi Jan xuất hiện trên đầu cầu thang. Nelly gật đầu chào Patrik rồi đi vào phòng mình trong khi Jan tiến lên phía trước chìa tay ra cho anh với một nụ cười phô rõ nhiều răng. Patrik đột nhiên nghĩ tới một con cá sấu. Một con cá sấu đang cười. “Xin chào. Patrik Hedström. Đồn cảnh sát Tanumshede.”

“Jan Lorentz. Hân hạnh được gặp anh.”

“Tôi đang điều tra về vụ giết hại Alex Wijkner và có một số chuyện muốn hỏi anh nếu anh không ngại.”

“Dĩ nhiên rồi. Tôi không biết có thể giúp được gì, nhưng việc quyết định là của anh chứ không phải của tôi, đúng không nào?”

Con cá sấu lại toét miệng ra cười. Patrik bắt đầu cảm thấy các ngón tay ngứa ngáy, chỉ muốn xé toạc cái nụ cười ấy khỏi khuôn mặt anh ta. Điệu cười ấy có gì đó khiến anh điên tiết.

“Chúng ta có thể đi xuống phòng tôi, như vậy sẽ không quấy rầy mẹ tôi ở đây.”

“Dĩ nhiên rồi.”

Patrik buộc phải nghĩ rằng sự sắp xếp chỗ ở có vẻ hơi kỳ lạ. Thứ nhất, anh không tài nào hiểu nổi những người đàn ông trưởng thành mà vẫn sống cùng nhà với mẹ. Thứ hai, anh không cắt nghĩa được tại sao Jan lại chấp nhận việc bị đày xuống tầng hầm trong khi bà già sống xa hoa ở tầng trên trong một ngôi nhà rộng hơn hai trăm mét vuông. Jan hẳn không phải là người nếu không từng nghĩ tới việc nếu Nils còn sống, hẳn anh ta sẽ không bị đày xuống tầng hầm như ngày hôm nay.

Patrik đi theo Jan xuống cầu thang. Anh phải thừa nhận rằng đối với một căn phòng ở dưới tầng hầm thì nó cũng không đến nỗi nào. Chi phí không tiếc tay. Căn phòng được trang trí dưới bàn tay một người thích phô trương sự giàu có của mình. Rất nhiều tua rèm bằng vàng, nhung và gấm thêu, đồ đạc hẳn đều là những nhãn hiệu nổi tiếng nhất nhưng tiếc là trang trí nội thất không thể hiện được hết sự ưu việt của nó vì thiếu ánh sáng. Hậu quả là trông nó hơi giống như một cái nhà thờ. Patrik biết là Jan đã kết hôn nên thắc mắc không biết đây là gu của ai trong hai người bọn họ. Dựa trên kinh nghiệm bản thân, anh đoán là người vợ.

Jan dẫn anh vào trong một phòng làm việc nhỏ. Bên cạnh bàn làm việc và máy tính còn có một ghế sofa. Hai người ngồi ở hai góc đối diện và Patrik lôi quyển sổ ghi chép ra khỏi túi. Anh quyết định chưa nhắc tới cái chết của Anders Nilsson, anh không muốn tiết lộ bất cứ điều gì với Jan cho tới lúc cần thiết. Chiến lược và thời điểm là những yếu tố vô cùng quan trọng nếu muốn khai thác được những thông tin hữu dụng từ Jan Lorentz.

Anh chăm chú quan sát người đàn ông trước mặt. Quá mức hoàn hảo. Không có lấy một nếp nhăn trên bộ vest hay áo sơ mi. Cà vạt được thắt chỉn chu và rõ ràng là vừa mới cạo râu. Không một sợi tóc nào nằm không đúng chỗ, cả người toát lên vẻ bình tĩnh và tự tin. Bình tĩnh và tự tin quá mức. Kinh nghiệm của Patrik cho thấy những người bị cảnh sát thẩm vấn đều tỏ ra lo lắng ít nhiều, kể cả khi họ không có gì giấu giếm. Một vẻ ngoài hoàn toàn bình tĩnh chứng tỏ cá nhân đó thực sự có đều giấu giếm chính là một giả thiết đã được Patrik gầy dựng. Nó đã được minh chứng không ít lần.

“Căn hộ của anh rất đẹp.” Lịch sự một chút chẳng bao giờ có hại.

“Vâng, là do Lisa, vợ tôi, đã trang trí mọi thứ. Tôi nghĩ là cô ấy đã khá thành công.”

Patrik nhìn quanh phòng làm việc nhỏ và tối được trang trí xa hoa lộng lẫy với đá hoa cương bóng loáng và những chiếc gối có núm tua màu vàng. Một ví dụ tuyệt vời về sự kết hợp giữa việc thừa tiền nhưng thiếu gu thẩm mỹ.

“Các anh đã đưa ra được kết luận nào chưa?”

“Chúng tôi vừa phát hiện ra một vài thông tin hữu ích và bắt đầu điều tra theo một hướng rất khả quan.”

Sự thật không hẳn là thế nhưng cần phải dọa anh ta một chút.

“Anh có quen Alex Wijkner không?” Patrik hỏi. “Nghe nói mẹ anh đã tới buổi tiệc hôm tang lễ.”

“Không. Không thể nói là quen. Dĩ nhiên tôi biết cô ấy là ai, ở Fjällbacka này mọi người đều biết nhau, ít hay nhiều. Nhưng gia đình cô ấy đã chuyển đi từ nhiều năm trước. Chúng tôi vẫn chào hỏi nhau khi gặp trên đường nhưng chỉ dừng ở mức đó. Còn về mẹ tôi, tôi không thể trả lời cho hành động của bà ấy được. Anh phải hỏi bà ấy thôi.”

“Một trong những thông tin thu được trong quá trình điều tra cho biết Alex Wijkner có một, nói thế nào nhỉ… một mối quan hệ với Anders Nilsson. Anh cũng biết anh ta, đúng không?”

Jan mỉm cười. Một nụ cười khúm núm, giảo hoạt.

“Thì ở thị trấn này có ai tránh được việc quen biết Anders chứ. Tai tiếng hơn là nổi tiếng. Phải nói vậy. Anh nói là cậu ta có quan hệ với Alex ư? Xin lỗi nhưng tôi thật khó tưởng tượng ra điều đó. Nói một cách nhẹ nhàng thì đúng là một đôi kỳ quặc, tôi có thể hiểu cậu ta nhìn thấy gì ở Alex nhưng không hình dung ra được cô ấy thì muốn gì ở cậu ta. Các anh chắc là đã không nhầm đấy chứ?”

“Chúng tôi hoàn toàn chắc chắn về việc hai người bọn họ thực sự có quan hệ. Về Anders thì sao? Anh có biết anh ta không?”

Lại một lần nữa anh nhìn thấy nụ cười đầy vẻ trịch thượng nở trên môi Jan nhưng lần này thậm chí còn khoa trương hơn. Anh ta lắc đầu với vẻ thích thú.

“Anh biết không? Có thể nói chúng tôi không thuộc cùng một tầng lớp. Tôi thỉnh thoảng có thấy cậu ta với mấy gã nghiện rượu khác nhưng tôi có biết cậu ta hay không thì phải nói là không. Giọng nói của anh ta rõ ràng cho thấy câu hỏi này thật là ngớ ngẩn.

“Chúng tôi chỉ xã giao với những người thuộc tầng lớp xã hội hoàn toàn khác và thường không có chỗ cho những kẻ nghiện rượu.” Anh ta nói tiếp.

Jan bác bỏ câu hỏi của Patrik như thể đó là một câu nói đùa nhưng Patrik cho rằng mình nhìn thấy chút bất an lóe lên trong mắt anh ta. Nó biến mất rất nhanh nhưng chắc chắn là anh không nhìn nhầm. Những câu hỏi về Anders đã khiến Jan lo lắng. Tốt thôi, vậy là anh đã đi dúng hướng.

Câu hỏi tiếp theo thực sự mang lại cho anh cảm giác mãn nguyện ngay cả trước lúc nói ra. Anh lưỡng lự một chút để gây ấn tượng rồi mới dặt câu hỏi, lại còn ra vẻ vô cùng ngạc nhiên: “Nếu đúng thế thì tại sao gần đây Anders cứ gọi liên tục vào số của anh?”

Patrik vô cùng thỏa mãn khi nhìn thấy nụ cười dần biến mất trên môi Jan. Câu hỏi rõ ràng đã khiến anh ta mất tự chủ và trong giây lát Patrik có thể nhìn thấy chân tướng phía sau hình ảnh một người đàn ông lịch thiệp sành điệu mà Jan cố công xây dựng. Phía sau cái vẻ mặt giả tạo kia là một nỗi sợ hãi thuần khiết. Khi Jan đã lấy lại bình tĩnh, anh ta tìm cách trì hoãn bằng việc châm một đều xì gà và cẩn thận tránh nhìn vào mắt Patrik.

“Anh không ngại nếu tôi hút thuốc chứ?” Anh ta nói vậy nhưng cũng chẳng thèm đợi câu trả lời mà Patrik cũng không nói ra. “Nếu Anders gọi điện tới đây thì tôi thực sự không biết tại sao. Tôi chưa hề nói chuyện với cậu ta mà vợ tôi cũng vậy. Lạ thật đấy!”

Anh ta chú tâm hút thuốc, dựa hẳn vào lưng ghế, hai tay duỗi ra đặt trên những chiếc gối trang trí.

Patrik không nói gì. Theo kinh nghiệm, cách tốt nhất để người khác nói nhiều hơn chính là giữ im lặng. Họ tự cảm thấy có trách nhiệm phải lấp đầy sự im lặng kéo dài quá lâu. Đây là một trò mà Patrik đã chơi lão luyện. Anh đợi.

“Sau khi nghĩ kỹ, tôi cho rằng mình biết chuyện gì đã xảy ra.” Jan hơi nhoài người ra phía trước, ve vẩy điếu xì gà. “Ai đó đã gọi đến hộp thư thoại nhà tôi nhưng chẳng nói gì cả. Chúng tôi chỉ nghe thấy tiếng thở trên máy. Rất nhiều lần tôi đã trả lời nhưng không có ai ở bên kia đầu dây. Đó hẳn là Anders, không biết bằng cách nào cậu ta có được số máy của chúng tôi.”

“Tại sao anh ta lại gọi cho anh?”

“Làm sao mà tôi biết được?” Jan giơ hai tay ra. “Có lẽ là do ghen tị. Chúng tôi có quá nhiều tiền và điều đó khiến một số người tức giận. Những người như Anders luôn sẵn sàng đổ lỗi sự bất hạnh của mình cho người khác, nhất là những người thành công trong cuộc sống.”

Nghe có vẻ miễn cưỡng. Nhưng cũng khó bác bỏ lập luận của anh ta, có điều Patrik chẳng mảy may tin những gì anh ta vừa nói.

“Tôi đoán là anh cũng không lưu lại mấy cuộc gọi tương tự trên hộp thư thoại?”

“Đáng tiếc là không.” Jan cố tình chau mày tỏ vẻ hối tiếc. “Những tin nhắn khác đã chèn lên. Tôi xin lỗi. Giá như tôi có thể giúp anh. Nhưng nếu anh ta gọi lại nữa thì tôi sẽ thu lại.”

“Anh có thể hoàn toàn yên tâm là Anders sẽ không gọi tới nhà anh nữa.”

“Ôi, thế là sao?”

Patrik không thể đoán được vẻ ngạc nhiên của anh ta là thật hay giả.

“Bởi vì Anders đã bị giết.”

Một ít tàn thuốc từ điếu xì gà rớt xuống đùi Jan. “Anders đã bị giết?”

“Đúng vậy, thi thể của anh ta đã được tìm thấy sáng nay.”

Patrik quan sát Jan kỹ càng. Giá như có thể biết được chuyện gì đang diễn ra trong đầu anh ta thì tốt biết mấy. Anh ta thực sự ngạc nhiên hay anh ta là một diễn viên xuất sắc?

“Thủ phạm có phải vẫn chính là người đã sát hạ Alex không?”

“Vẫn còn quá sớm để kết luận.” Anh vẫn chưa muốn buông tha Jan. “Vậy anh hoàn toàn chắc chắn là mình không quen biết gì với Alexandra Wijkner cũng như Anders Nilsson?”

“Tôi hoàn toàn nhận thức được những người mà tôi có quan hệ xã giao hay không. Tôi đều biết hai người bọn họ bằng nhận dạng nhưng chỉ thế mà thôi.” Jan trở lại với cái vẻ bình tĩnh tươi cười của mình.

Patrik quyết định thử hỏi theo hướng khác.

“Trong nhà Alex Wijkner chúng tôi tìm thấy một bài báo cắt ra từ tờ Bohusläningen về vụ mất tích của anh trai anh. Anh có biết tại sao cô ấy lại quan tâm tới việc cất giữ bài báo đó?”

Một lần nữa, Jan lại giơ hai tay lên trời và mở to mắt như muốn nói anh ta hoàn toàn không có ý kiến. “Đó là một chủ đề vốn được bàn tán xôn xao ở Fjällbacka từ nhiều năm trước. Có thể cô ấy giữ lại chỉ vì hiếu kỳ.”

“Có thể. Anh nghĩ gì về việc anh trai anh mất tích. Có quá nhiều giả thiết khác nhau.”

“Tôi cho rằng anh ấy đang sống vui vẻ tại một đất nước nhiệt đới nào đó. Ngược lại mẹ tôi hoàn toàn tin rằng anh ấy đã gặp tai nạn.”

“Hai người có gần gũi với nhau không?”

“Không, tôi không nghĩ vậy. Nils nhiều tuổi hơn hẳn tôi và không hẳn thích thú với việc chia sẻ sự quan tâm của mẹ với một cậu em nuôi. Nhưng chúng tôi cũng không phải là kẻ thù không đội trời chung. Nói chung chúng tôi khá lãnh đạm với đối phương.”

“Sau khi Nils mất tích một năm thì Nelly chính thức nhận nuôi anh đúng không?”

“Đúng vậy. Khoảng một năm sau đó.”

“Cùng với một nửa vương quốc?”

“Có thể nói vậy.”

Điếu xì gà chỉ còn sót lại một mẩu tí xíu và có nguy cơ làm bỏng tay Jan. Anh ta vội dụi nó vào một chiếc gạt tàn lòe loẹt.

“Phải sống bằng tiền của người khác hoàn toàn không phải là việc dễ chịu, nhưng thật lòng mà nói tôi đã trả món nợ ấy từ lâu lắm rồi. Khi tôi tiếp quản việc lãnh đạo nhà máy thì công việc buôn bán đang xuống dốc trầm trọng. Tôi đã tái cơ cấu và vực dậy công ty từ con số không, và giờ đây chúng tôi đã xuất khẩu cá hộp và hải sản đi khắp thế giới, tới Mỹ, Úc và Nam Mỹ…”

“Tại sao anh cho rằng Nils đã trốn ra nước ngoài?”

“Tôi thực sự không nên nói ra chuyện này nhưng một khoản tiền lớn đã biến mất khỏi tài khoản nhà mấy ngay sau khi Nils mất tích. Ngoài ra, hộ chiếu, một chiếc va li và ít quần áo của anh ấy cũng biến mất.”

“Tại sao số tiền bị mất đó không được báo cho cảnh sát?”

“Mẹ không muốn. Bà nói hẳn có nhầm lẫn vì Nils không bao giờ hành động như thế. Anh vẫn biết các bà mẹ là thế nào mà. Công việc chính của họ là chỉ nghĩ tốt về con mình.”

Anh ta lại châm một đều xì gà khác. Patrik cảm thấy căn phòng nhỏ bắt đầu ngập ngụa khói nhưng không nói gì.

“Anh có muốn làm một điếu không? Xì gà Cuba, quấn tay đấy?”

“Cảm ơn, tôi không hút thuốc.”

“Tiếc thật! Anh không biết là mình đã bỏ lỡ thứ gì đâu.” Jan nhìn điếu xì gà với vẻ khoan khoái.

“Tôi đã đọc tài liệu về vụ hỏa hoạn hại chết bố mẹ anh. Hẳn rất khủng khiếp. Lúc đó anh mới có mấy tuổi? Chín hay mười?”

“Tôi mới mười tuổi. Anh nói đúng, thật kinh hoàng. Nhưng tôi đã may mắn. Phần lớn bọn trẻ mồ côi không được một gia đình như nhà Lorentz nhận nuôi.”

Patrik cảm thấy anh ta có chút thiếu tế nhị khi nói về vận may trong bối cảnh đó.

“Theo như tôi biết thì người ta nghi ngờ đấy là một vụ phóng hỏa. Người ta còn phát hiện ra điều gì khác không?”

“Không, anh đã đọc báo cáo rồi đấy. Cảnh sát chẳng tìm thấy gì. Cá nhân tôi thì cho rằng cha tôi hẳn là đã hút thuốc trên giường như thường lệ rồi ngủ quên.”

Lần đầu tiên trong cuộc trò chuyện Jan tỏ ra mất kiên nhẫn. “Có thể cho tôi hỏi chuyện này thì có liên quan gì đến án mạng không? Tôi đã nói là tôi không quen biết nạn nhân nào và tôi không thấy thời thơ ấu khốn khó của mình thì có liên quan gì tới chuyện này?”

“Chúng tôi phải điều tra từ những manh mối nhỏ nhất. Những cuộc điện thoại Anders gọi tới nhà anh khiến tôi bắt buộc phải kiểm chứng. Nhưng có vẻ như chẳng dẫn tới đâu. Xin lỗi vì đã chiếm dụng thời gian của anh một cách không cần thiết.”

Patrik đứng dậy chìa tay ra. Jan cũng đứng dậy đặt điếu xì gà xuống chiếc gạt tàn trước khi bắt tay Patrik.

“Không sao, không hề gì. Rất hân hạnh được gặp anh.”

Hân hạnh cái nỗi gì, thật là giả tạo quá mức, Patrik thầm nghĩ. Anh đi theo Jan lên cầu thang, ngay sát phía sau. Sự khác biệt như đập vào mắt khi anh lên tới tầng chính của căn nhà với gu trang trí vô cũng tinh tế. Tiếc là vợ Jan không có được số điện thoại nhà thiết kế nội thất của Nelly.

Anh cảm ơn Jan rồi rời khỏi ngôi nhà với cảm giác mình nhai đi nhai lại những chi tiết bé như con muỗi trong khi lại nuốt chửng mất con lạc đà. Thứ nhất, giống như anh đã nắm bắt được thứ gì đó ở Jan mà anh chưa thể giải mã ngay được, một thứ gì đó không phù hợp với căn hộ trang trí xa hoa của anh ta. Thứ hai là Jan Lorentz có điểm gì đó không ổn. Patrik trở lại với ý nghĩ ban đầu của mình: anh ta quá mức hoàn hảo.

—★—

Gần bảy giờ tối, khi bão tuyết bắt đầu hoành hành thì Patrik mới xuất hiện trước cửa nhà cô. Erica ngạc nhiên trước cảm xúc tuôn trào của mình khi nhìn thấy Patrik và tự nhiên ôm choàng lấy anh. Patrik đặt hai túi đồ ăn mua từ siêu thị xuống hành lang rồi ôm đáp lại Erica, giữ cô thật lâu trong vòng tay.

“Anh nhớ em.”

“Em cũng vậy.”

Họ âu yếm hôn nhau. Một lát sau thì bụng Patrik bắt đầu reo. Họ bắt tín hiệu và mang các túi đồ vào trong bếp. Anh mang tới quá nhiều đồ ăn, Erica phải cất bớt vào tủ lạnh. Cứ như đã thỏa thuận từ trước, họ không nhắc tới công việc trong lúc chuẩn bị bữa tối. Chỉ tới khi cả hai đều đã ăn no và ngồi đối diện nhau bên bàn ăn thì Patrik mới kể cho cô chuyện xảy ra.

“Anders Nilsson đã chết. Thi thể được tìm thấy trong căn hộ của anh ta sáng nay.”

“Anh là người đã phát hiện ra anh ta à?”

“Không, nhưng anh lập tức có mặt ở đó.”

“Anh ta chết như thế nào?”

Patrik hơi do dự một chút. “Bị treo cổ.”

“BỊ treo cổ? Ý anh nói là anh ta bị giết? Erica không giấu nổi sự kích động. Có phải do cùng một người đã sát hại Alex?”

Patrik tự hỏi không biết đã nghe câu hỏi này lần thứ bao nhiêu trong ngày. Nhưng rõ ràng đó chính là mấu chốt của vụ án.

“Bọn anh cũng cho là vậy.”

“Các anh có thêm manh mối nào chưa? Có ai nhìn thấy gì không? Các anh đã có bằng chúng vững chắc đế móc nối hai án mạng này với nhau chưa?”

“Kiềm chế chút nào,” Patrik giơ hai tay lên trời. “Anh không thể nói gì thêm với em. Chúng ta có thể chuyển sang chủ đề gì khác dễ chịu hơn được không, như là ngày hôm nay của em thế nào chẳng hạn?”

Erica mỉm cười giảo hoạt. Nếu anh ấy biết ngày hôm nay của cô cũng khó chịu như thế nào. Nhưng cô không thể nói với anh. Cô muốn để Dan tự lên tiếng về chuyện này.

“Em dậy khá muộn rồi viết lách cả ngày. Tẻ nhạt hơn nhiều so với một ngày của anh.”

Tay họ tìm nhau trên mặt bàn. Những ngón tay đan lại. Cảm giác ấm áp và an lành khi ngồi bên nhau lúc bóng đêm bắt đầu bao trùm lên ngôi nhà. Những bông tuyết lớn bồng bềnh như những vì sao tí hon, rớt xuống từ bầu trời đen kịt.

“Em cũng có chút thời gian nghĩ tới Anna và ngôi nhà. Em thực sự đã quá lời với con bé trên điện thoại lần trước và thực sự cảm thấy hối hận vì hành vi nóng nảy của mình. Có lẽ em cũng hơi ích kỷ thật. Em chỉ nghĩ nếu như ngôi nhà bị bán chuyện đó sẽ ảnh hưởng tới mình như thế nào, về những tổn thất của bản thân mình, nhưng hoàn cảnh Anna lúc này thật chẳng dễ dàng gì. Con bé chỉ cố gắng cải thiện tình hình của mình và mặc dầu em cho rằng con bé đang làm sai thì nó làm thế cũng chỉ vì bắt buộc. Đúng là đôi khi con bé có thể vừa vô ý vừa ngây thơ nhưng nhìn chung nó là một người tận tâm và hào phóng còn em thì gần đây chỉ biết trút hết buồn phiền, thất vọng lên nó. Có lẽ bán nhà rốt cuộc là giải pháp tốt nhất cho tất cả mọi người. Để bắt đầu lại từ đầu. Em có thể mua một ngôi nhà mới nhỏ hơn bằng số tiền đó. Có lẽ em đã quá đa cảm. Đã tới lúc phải tiến lên phía trước, ngừng hối hận về những gì đã qua và nhìn vào những gì mình đang có.”

Patrik hiểu rằng cô không bao giờ còn muốn nhắc tới chuyện ngôi nhà nữa.

“Anh xin lỗi phải hỏi em chuyện này nhưng tai nạn của bố mẹ em đã xảy ra như thế nào?”

“Không sao,” Erica hít một hơi thật sâu. “Bố mẹ em lúc đó đang ở Stromstad thăm chị gái của bố. Trời tối và mưa, đường thì đóng băng. Bố luôn lái xe rất cẩn thận. Vì tưởng có con thú hoang nào nhảy ra trước xe, bố đánh tay lái, xe trượt một đoạn rồi húc mạnh vào một cái cây lớn bên vệ đường. Cả hai có lẽ mất ngay lập tức. Ít nhất là họ nói với em và Anna như vậy. Còn thực hự thế nào thì không biết.”

Một giọt nước mắt lẻ loi trượt xuống má Erica. Patrik nhoài người sang, lau đi giọt nước mắt rồi giữ lấy cằm của Erica để cô nhìn thẳng vào mắt mình.

“Họ sẽ không nói vậy nếu đó không phải là sự thật. Anh chắc chắn là bố mẹ em đã không phải chịu đau đớn, Erica. Chắc chắn là vậy.”

Cô im lặng gật đầu. Cô tin anh và có cảm giác như trút được một gánh nặng ngàn cân. Chiếc xe ô tô đã bốc cháy khiến cô nhiều đêm mất ngủ trong nỗi dằn vặt kinh hoàng rằng không hiểu bố mẹ cô có còn sống khi bị ngọn lửa thiêu trụi. Những lời của Patrik đã xua tan đi nỗi bất an trong cô và lần đầu tiên cô cảm thấy bình tĩnh khi nghĩ tới tai nạn đã cướp đi bố mẹ mình. Thương tiếc vẫn chưa nguôi ngoai nhưng nỗi bất an không còn nữa. Patrik tiếp tục lau những dòng lệ đang lăn trên má Erica.

“Tội nghiệp Erica. Erica đáng thương!”

Cô cầm lấy tay anh và áp lên má mình.

“Không cần phải thương xót em, Patrik. Em chưa bao giờ hạnh phúc như lúc này, như giây phút này. Thật kỳ lạ, nhưng em có cảm giác vô cùng an toàn khi ở cạnh anh. Không còn những nỗi bất an em vẫn luôn cảm thấy khi ở bên người khác. Anh có biết tại sao không?”

“Anh nghĩ bởi vì chúng ta sinh ra là để cho nhau.”

Erica đỏ mặt vì tính trọng đại trong lời nói của Patrik. Nhưng cô không thể chối bỏ được thực tế rằng mình cũng có cảm giác tương tự. Giống như đã tìm được đường về nhà.

Cứ như đã hẹn trước, họ cùng đứng dậy rời khỏi bàn, mặc kệ đống bát đĩa dở đang, tay trong tay đi lên phòng ngủ. Bên ngoài, một cơn bão tuyết đang di chuyển hết tốc lực.

—★—

Bước vào căn phòng cũ khiến cô có cảm giác thật kỳ lạ. Nhất là khi sở thích đã có nhiều thay đổi mà căn phòng thì vẫn vậy. Quá nhiều màu hồng và chất liệu ren, từ lâu đã không còn hợp với phong cách của cô nữa.

Julia nằm ngửa trên chiếc giường trẻ con hơi hẹp và nhìn lên trần nhà, hai tay khoanh trước bụng. Mọi thứ bắt đầu tan rã. Cuộc đời cô đang vỡ vụn, rơi lả tả xung quanh rồi chồng chất lên nhau, những mảnh vụn chắp vá, trôi dạt. Cứ như thể cô đã sống cả đời trong một nhà gương với những hình ảnh lừa dối, không đúng sự thật. Cô cũng không biết sẽ tiếp tục việc học hành như thế nào. Mọi nhiệt tình đều đã bị vắt kiệt trong nháy mắt và học kỳ mới đã bắt đầu mà không có cô. Cũng sẽ chẳng có ai để ý thấy sự vắng mặt của cô. Cô vẫn luôn gặp khó khăn trong việc kết bạn.

Lúc này cô chỉ nghĩ có lẽ mình nên sống ở đây, trong căn phòng màu hồng này và nhìn lên trần nhà cho tới khi già yếu. Birgit và Karl-Erik sẽ chẳng dám làm gì ngoài việc nhượng bộ. Cô có thể sống dựa vào họ cho tới hết đời nếu cần thiết. Lương tâm tội lỗi sẽ khiến họ phải suốt đời mở hầu bao của mình ra nuôi cô.

Cô có cảm giác như mình đang đi dưới nước. Mọi cử động đều trở nên khó khăn, nặng nề và những âm thanh mà cô nghe thấy đều giống như đang thẩm thấu qua một tấm màng lọc. Ban đầu, mọi thứ đều không giống như thế. Cô đã luôn cảm thấy phẫn nộ và thù ghét bản thân, dữ dội tới mức phát sợ. Cô vẫn còn cảm thấy sự thù ghét đó, nhưng giờ đã lẫn với cảm giác cam chịu chứ không còn hừng hực thù hận. Trước đây, cô vẫn thường khinh bỉ bản thân mình nhưng chỉ thuần túy về mặt ngoại hình, còn bây giờ có vẻ như sự thù ghét đó đã đổi hướng. Thay vì công kích ngoại hình, giờ nó bắt đầu hướng vào bên trong, khoét thành những hố đen lớn trong lồng ngực. Những thói quen cũ thật khó sửa. Thù ghét bản thân chính là một loại hình nghệ thuật mà cô đã học được cách thực hành tới thuẫn thục.

Cô nằm nghiêng sang một bên. Trên bàn có một bức ảnh cô chụp chung với Alex và cô tự nhắc bản thân phải nhớ vứt nó đi. Đứng dậy một cái là sẽ phải xé tan nó ra nghìn mảnh rồi ném đi. Trong ảnh, sự ngưỡng mộ trong ánh mắt cô khiến cô nhăn nhó. Alex trông thoải mái và xinh đẹp như thường lệ trong khi con vịt xấu xí bên cạnh thì quay cái mặt tròn xoe về phía Alex với vẻ tôn thờ. Trong mắt cô, Alex chẳng làm gì sai cả. Julia vẫn luôn nuôi dưỡng một hy vọng thầm kín rằng một ngày nào đó cô sẽ thoát khỏi cái vỏ kén xấu xí và chui ra bên ngoài với vẻ đáng yêu và tự tin như Alex. Cô cười nhạo sự ngây ngô của mình. Đúng là một trò đùa. Mà cô luôn là người phải trả giá. Cô tự hỏi không biết họ có nói về chuyện đó sau lưng mình. Liệu họ có cười nhạo Julia xấu xí và ngu ngốc?

Một tiếng gõ cửa rụt rè khiến Julia co rúm lại. Cô biết đó là ai.

“Julia, chúng ta rất lo lắng cho con. Con có thể xuống đây một lát không?”

Cô không trả lời Birgit. Thay vào đó cô bắt đầu nhìn ngắm một lọn tóc của mình với vẻ tập trung cao độ.

“Julia, xin con đấy, Julia.”

Birgit ngồi xuống chiếc ghế cạnh bàn, đối mặt với Julia.

“Ta hiểu tại sao con lại tức giận và có lẽ còn chán ghét chúng ta, nhưng con phải tin rằng chúng ta không bao giờ có ý định làm gì tổn hại tới con.”

Julia cảm thấy chút thỏa mãn khi nhìn Birgit mệt mỏi và tiều tụy. Trông như bà đã nhiều đêm mất ngủ. Mà có lẽ là thế thật. Những nếp nhăn mới tạo thành những vết chân chim xung quanh mắt bà và Julia khoái trá nghĩ rằng ca phẫu thuật nâng mặt mà bà định tiến hành vào sinh nhật lần thứ sáu mươi lăm trong năm tới chắc sẽ phải tiến hành sớm hơn dự định. Birgit dịch chiếc ghế lại gần và đặt tay lên vai Julia. Cô liền hất tay bà ra khiến Birgit co rúm lại, vẻ tổn thương.

“Con yêu quý, tất cả chúng ta đều rất thương con. Con biết thế mà.”

Biết cái con khỉ. Tấn trò này có ích gì? Tất cả bọn họ đều nhận thức được vị trí của mình trong lòng người khác. Yêu thương ư? Birgit thậm chí chẳng còn biết yêu thương là gì. Người duy nhất mà bà ấy từng yêu là Alex. Luôn luôn là Alex.

“Chúng ta phải nói chuyện, Julia. Từ giờ trở đi chúng ta sẽ phải nương tựa vào nhau.”

Giọng Birgit run rẩy. Julia tự hỏi không biết bao nhiêu lần liệu có phải Birgit thầm mong người chết đi là cô chứ không phải là Alex. Cô nhìn Birgit bỏ cuộc và bàn tay bà run lên bần bật khi đẩy chiếc ghế vào chỗ cũ. Trước khi đóng cửa, Birgit nhìn Julia lần cuối, vẻ cầu khẩn. Nhưng Julia đã cố tình quay mặt vào tường. Cánh cửa lặng lẽ khép lại sau lưng Birgit.

—★—

Vốn dĩ bình thường buổi sáng đã không phải là thời điểm ưa thích của Patrik, nhưng buổi sáng hôm nay phải nói là cực hình. Trước tiên, anh buộc phải rời khỏi cái giường ấm áp của Erica và rời khỏi cô để tới chỗ làm. Thứ hai, anh phải xúc tuyết tới gần nửa tiếng để dọn đường cho ô tô. Thứ ba, cái ô tô khốn kiếp kia nhất định không chịu nổ máy. Sau khi thử đi thử lại anh đành bất đắc dĩ trở vào trong mượn xe Erica. Thật may là xe của cô đã hoạt động ngay từ lần nổ máy đầu tiên.

Anh tới văn phòng trễ mất nửa tiếng. Việc đào tuyết khiến cả người anh sũng mồ hôi, thỉnh thoảng anh lại phải kéo cổ áo ra cho thoáng. Máy pha cà phê, điểm dừng đầu tiên trước khi bắt đầu làm việc. Chỉ tới khi đã yên ổn ngồi bên bàn làm việc của mình với ly cà phê trên tay anh mới cảm thấy bình tĩnh trở lại. Anh cho phép bản thân được mơ mộng một chút, chìm đắm trong cảm giác yêu đương cuồng dại, mất cả lý trí. Đêm qua cũng tuyệt vời như đêm đầu tiên. Nhưng họ cũng còn chút tỉnh táo, cố kiềm chế để có thể ngủ được vài tiếng. Nói là được nghỉ ngơi thì hơi quá nhưng ít nhất anh cũng không mệt chết như ngày hôm qua.

Việc đầu tiên anh phải làm là đọc lại những ghi chép từ cuộc trò chuyện với Jan hôm trước. Chẳng có chi tiết nào khiến anh hứng thú nhưng cuộc trò chuyện cũng không hẳn là lãng phí thời gian. Những linh cảm liên quan tới những người trong cuộc hay có khả năng dính dáng tới vụ án đều rất quan trọng cho việc điều tra. ‘Điều tra án mạng chính là điều tra về con người.’ Một thầy giáo ở học viện cảnh sát vẫn thường xuyên nhắc nhở và những lời thông thái đó đã ăn sâu trong đầu Patrik. Bên cạnh đó, anh nghĩ mình có khả năng phán đoán người khác khá chính xác. Trong quá trình thẩm vấn nhân chứng và nghi phạm, anh luôn cố gắng tách khỏi thực tế trong giây lát và tập trung cảm nhận những ấn tượng từ người đối diện. Jan không tạo ra bất cứ ấn tượng tích cực nào từ Patrik. Không đáng tin cậy, lươn lẹo, ham mê nhục dục là những từ xuất hiện trong đầu anh khi thu thập những ấn tượng về nhân cách của Jan. Rõ ràng người đàn ông này đang che giấu điều gì đó chưa nói ra. Một lần nữa, Patrik lại cầm tập tư liệu liên quan tới gia đình Lorentz. Anh vẫn chưa tìm thấy mối liên hệ chắc chắn giữa gia đình này và hai vụ án mạng, ngoài những cuộc điện thoại của Anders gọi cho Jan. Anh cũng không thể chứng minh câu chuyện của Jan về việc gọi nhầm số là không đúng. Patrik cầm tập tài liệu nói về cái chết của bố mẹ Jan. Có gì đó trong giọng nói của anh ta khi nhắc tới tai nạn này khiến Patrik nghi ngờ. Hẳn có gì đó không đúng. Anh chợt có một ý nghĩ. Anh nhặt điện thoại và quay một số mà anh vốn thuộc lòng.

“Vicky, xin chào, chị có khỏe không?”

Người bên kia đầu máy khẳng định mọi chuyện đều tốt đẹp. Sau và câu thăm hỏi vui vẻ, Patrik đi thẳng vào vấn đề.

“Vicky, chị có thể giúp tôi một việc được không? Tôi đang kiểm tra tư liệu về một cậu bé nằm trong danh sách bảo trợ xã hội vào năm 1975. Mười tuổi, tên là Jan Norin. Chị có tài liệu gì về trường hợp này không? Được, tôi sẽ chờ.”

Anh bồn chồn gõ tay trên mặt bàn trong lúc chờ đợi Vicky Lind bên văn phòng bảo trợ xã hội kiểm tra thông tin. Một lúc sau anh nghe thấy tiếng chị trở lại ở đầu dây bên kia.

“Chị có tư liệu à? Tuyệt vời. Chị có thể cho tôi biết ai là cán bộ theo dõi vụ đó không? Siv Persson. Tốt quá. Chị có số điện thoại của bà ấy không?”

Patrik nhanh chóng ghi lại số điện thoại rồi ngắt máy sau khi đã hứa mời Vicky hôm nào đi ăn trưa. Anh bấm số điện thoại mà chị vừa cho và lập tức nghe thấy một giọng khàn khàn ở đầu dây bên kia. Hóa ra Siv nhớ rất rõ trường hợp của Jan Norin và anh có thể tới gặp bà ngay lập tức.

Patrik vội vàng chộp lấy áo khoác khiến cả chiếc mắc áo đổ ụp xuống, kéo theo một bức tranh treo tường và một lọ hoa trên giá sách, tiếng đổ vỡ loảng xoảng. Nhưng hiện tại anh chỉ còn cách mặc kệ, giữ nguyên hiện trường như thế cho tới lúc trở về. Lúc ra tới hành lang, anh thấy ai nấy đều thò đầu ra nghe ngóng. Anh chỉ kịp xua tay rồi chạy ra ngoài trước con mắt hiếu kỳ của mọi người.

Văn phòng bảo trợ xã hội chỉ cách đồn cảnh sát và trăm mét. Patrik cực nhọc băng qua con đường đầy tuyết trên phố chính. Tới cuối đường anh rẽ trái về phía Quán trọ Tanumshede rồi tiếp tục đi hết nửa con phố. Văn phòng bảo trợ xã hội trong cùng một tòa nhà với cơ quan hành chính của thị trấn. Anh leo lên cầu thang, bước vào văn phòng của Siv sau khi vui vẻ chào hỏi nhân viên lễ tân, một cô bạn cùng lớp thời trung học. Siv Persson cũng chẳng buồn đứng dậy bắt tay khi anh tiến vào. Hai người họ đã nhiều lần tiếp xúc từ khi Patrik làm cảnh sát và luôn tôn trọng năng lực nghề nghiệp của đối phương dù không phải lúc nào cũng đồng quan điểm trong cách giải quyết vấn đề. Một phần do Siv là một trong những người tử tế nhất mà anh đã từng biết, nhưng đối với một nhân viên xã hội, việc chỉ nhìn thấy ưu điểm của người khác đôi khi không phải là tốt. Anh đồng thời cũng ngưỡng mộ bà ở chỗ luôn giữ được quan điểm tích cực của mình về bản chất của con người bất chấp tất cả những ví dụ hoàn toàn trái ngược mà bà đã gặp phải trong bằng ấy năm công tác. Patrik cảm thấy dường như anh đã đi theo chiều ngược lại.

“Chào cậu, Patrik. Vẫn xoay xở lội tuyết để tới đây cơ đấy.”

Patrik phản ứng một cách tự nhiên trước thái độ vui vẻ bất thường của bà.

“Vâng, nhưng nếu có máy ủi tuyết thì vẫn tốt hơn.”

Bà nhấc cặp kính buộc lủng lẳng trên một sợ dây quanh cổ lên và đeo vào mắt. Siv thích những màu sắc tươi sáng và đôi mắt kính màu đỏ rất hợp với trang phục hôm nay của bà. Vẫn luôn một kiểu tóc kể từ khi anh biết bà. Đầu vuông, hai bên tỉa vát tới cằm, mái hỉ nhi ngắn trên lông mày. Tóc bà màu đồng đỏ rực rỡ, và những gam màu tươi sáng ấy khiến Patrik cảm thấy chỉ cần nhìn bà cũng đã cảm thấy tràn trề sức sống.

“Cậu muốn xem lại một hồ sơ cũ chỗ tôi đúng không? Jan Norin hả?”

Giọng nói của bà vẫn còn vẻ gượng gạo. Bà đã chuẩn bị tài liệu trước khi anh tới, một chồng dày cộp trên mặt bàn.

“Chúng tôi có khá nhiều tư liệu về người này như cậu thấy đấy. Cả bố lẫn mẹ thằng bé đều nghiện hút và nếu họ không chết trong một tai nạn thì chúng tôi sớm muộn cũng sẽ phải can thiệp. Họ bỏ mặc thằng bé để nó tự xoay xở. Thằng bé tới trường trong những bộ quần áo bẩn thỉu, rách nát và bị các bạn học bắt nạt vì quá hôi hám. Rõ ràng, nó đã phải ngủ trong chuồng ngựa cũ và chỉ có một bộ quần áo để mặc.”

Bà nhìn Patrik từ trên giọng kính.

“Tôi nghĩ là cậu sẽ không tới đây để lợi dụng lòng tin của tôi đúng không? Cậu sẽ tiến hành các thủ tục cần thiết cho phép tiếp cận các dữ liệu về Jan, cho dù là muộn hơn một bước?”

Patrik gật đầu. Anh biết tầm quan trọng của việc tuân thủ quy định nhưng đôi khi để việc điều tra có hiệu quả, khâu hành chính giấy tờ có thể vận hành chậm một bước sau hành động. Siv và anh vẫn luôn có một mối quan hệ công việc thực tế và hiệu quả nhưng anh biết bà vẫn phải hỏi anh câu đó.

“Sao không can thiệp sớm hơn?” Patrik hỏi. “Sao lại để tình hình diễn biến xấu tới mức đó? Có vẻ như Jan đã bị bỏ bê từ lúc sinh ra mà khi bố mẹ mất thì thằng bé đã mười tuổi rồi.”

Siv thở dài. “Tôi biết cậu định nói gì nhưng tin tôi đi, tôi cũng đã nhiều lần nghĩ như vậy. Nhưng hoàn cảnh lúc đó khác, tôi mới chỉ bắt đầu làm việc ở đây vài tháng trước khi xảy ra vụ hỏa hoạn. Phải trong những trường hợp cực kỳ nghiêm trọng thì chính quyền mới được can thiệp vào việc giới hạn quyền nuôi dưỡng con cái của bố mẹ như mong muốn. Thời điểm đó lại có rất nhiều người ủng hộ quyền tự do nuôi dưỡng và giáo dục con cái và thật không may, những đứa trẻ như Jan đã trở thành nạn nhân. Chúng tôi chưa bao giờ tìm thấy trên người thằng bé vết tích của bạo lực gia đình. Nói trắng ra là nếu thằng bé bị đánh đập thì tốt quá vì như vậy nói có thể tới bệnh viện. Và chúng tôi có thể lấy cớ để theo dõi thực trạng gia đình. Nhưng thằng bé không bị đánh đòn hay không bao giờ để lộ ra bị đánh hoặc chỉ đơn thuần là bị bố mẹ bỏ bê mà thôi.” Siv khoanh tròn ngón tay quanh chữ “đơn thuần” để ám chỉ một từ nghi vấn.

Patrik đột nhiên thấy thương cảm cho cậu bé Jan. Làm sao một người có thể bình thường khi lớn lên trong hoàn cảnh như thế?”

“Nhưng cậu vẫn chưa nghe thấy phần tồi tệ nhất đâu. Chúng tôi không có bằng chứng, nhưng có những dấu hiệu cho thấy bố mẹ thằng bé đã để những người đàn ông khác lạm dụng tình dục con mình để đổi lấy tiền hoặc thuốc phiện.”

Cằm Patrik như sắp rớt xuống. Còn tệ hơn nhiều so với tưởng tượng của anh.

“Như tôi đã nói, chúng tôi không thể chứng minh được gì, nhưng giờ thì chúng tôi biết rằng lúc đó ở Jan đã xuất hiện một hình thái bệnh điển hình ở những đứa trẻ bị lạm dụng tình dục. Thằng bé nhiều lần vi phạm kỷ luật nghiêm trọng ở trường. Những đứa trẻ khác có thể bắt nạt thằng bé nhưng đồng thời cũng sợ nó.”

Siv mở một tập tài liệu, giở qua vài trang cho tới khi tìm được thứ mình muốn.

“Ở đây cũng có ghi lại. Lên lớp bốn, thằng bé có mang một con dao tới trường và dùng nó để đe dọa một trong những đứa trẻ hay bắt nạt nó nhất. Nó đã thực sự rạch lên mặt thằng bé kia nhưng nhà trường đã ỉm đi. Theo như tôi được biết, thằng bé đã không bị trừng phạt. Rất nhiều vụ tương tự đã xảy ra khi Jan có những biểu hiện bạo lực thái quá đối với các bạn học, nhưng vụ dâm dao kia là nghiêm trọng nhất. Thằng bé cũng nhiều lần bị báo cáo lên ban giám hiệu vì có những hành vi không phù hợp đối với các bạn gái trong lớp. Thằng bé có kiến thức về các hành vi tình dục và những vấn đề liên quan ở mức vượt xa tuổi của nó. Nhưng tất cả những lời tố cáo này đều không biến thành hành động. Vì không ai thực sự biết phải làm gì với một đứa trẻ có những hành vi đáng lo ngại như vậy đối với những người xung quanh. Ngày nay thì chúng tôi hẳn sẽ lập tức phản ứng trước những dấu hiệu rõ ràng như vậy và tiến hành can thiệp nhưng cậu phải nhớ rằng chuyện đó xảy ra từ đầu những năm bảy mươi. Một thế giới hoàn toàn khác.”

Patrik gần như muốn xỉu vì giận dữ và thương xót cho thằng bé. Làm sao người ta có thể đối xử với một đứa bé như vậy?

“Sau vụ hỏa hoạn… có còn xảy ra những sự việc như thế không?” anh hỏi.

“Không, lạ ở chỗ đó. Sau vụ hỏa hoạn thằng bé lập tức được chuyển tới gia đình Lorentz và chúng tôi không có bất cứ thông tin gì về việc thằng bé lại gây chuyện nữa. Tôi đã lái xe tới nhà họ vài lần để theo dõi diễn biến tình hình và nhìn thấy một cậu bé hoàn toàn khác. Nó ngồi đó trong bộ lễ phục, tóc bóng mượt nhìn tôi không hề chớp mắt và lịch sự trả lời mọi câu hỏi. Thực sự rất đáng sợ. Một người không thể thay đổi hoàn toàn chỉ sau một đêm như vậy.”

Patrik khẽ giật mình. Đây là lần đầu tiên anh nghe Siv ám chỉ theo cách tiêu cực về một trong những vụ việc mình phụ trách. Anh lập tức hiểu rằng thông tin này rất đáng đào sâu. Bà rõ ràng muốn nói gì đó nhưng anh phải đặt đúng câu hỏi mới được.

“Liên quan tới vụ hỏa hoạn…”

Anh bỏ dở câu nói giữa chừng và thấy Siv ngồi thẳng dậy trên ghế. Có nghĩa là anh đã đoán đúng.

“Tôi có nghe được một số tin đồn xung quanh vụ hỏa hoạn.” Anh nhìn Siv vẻ dò hỏi.

“Tôi không thể lo cho các tin đồn được. Cậu nghe được những gì?”

“Rằng vụ hỏa hoạn là do phóng hỏa. Hồ sơ điều tra của chúng tôi thậm chí còn ghi rõ ‘nhiều khả năng là do phóng hỏa’ nhưng lại không tìm thấy dấu hiệu nào của thủ phạm. Ngọn lửa bắt đầu từ tầng trệt ngôi nhà. Bố mẹ thằng bé ngủ ở tầng trên nên không thể nào là họ. Bà có biết ai nuôi thù oán với nhà Norin tới mức phải làm chuyện đó không?”

“Có.” Câu trả lời của bà cụt lủn và khẽ khàng tới mức anh cứ ngỡ mình nghe lầm.

“Có, tôi có biết ai là người ghét nhà Norin tới mức muốn phóng hỏa.” Bà nhắc lại, lần này lớn tiếng hơn.

Patrik vẫn ngồi im để bà nói tiếp.

“Tôi đi cùng cảnh sát tới ngôi nhà. Bên cứu hỏa đến hiện trường đầu tiên. Một lính cứu hỏa tiến hành kiểm tra khu vực xung quanh xem còn có mồi lửa nào thoát ra từ ngôi nhà và đang âm ỉ cháy đâu đó không. Anh ta tìm thấy Jan trong chuồng ngựa. Khi thằng bé không chịu ra khỏi đó, họ đã liên hệ với chúng tôi. Tôi là nhân viên mới và phải thừa nhận rằng lúc ấy tôi cảm thấy rất phấn khích. Jan đang ngồi trong chuồng ngựa, tít sâu bên trong, dựa lưng vào tường dưới sự theo dõi của một người lính cứu hỏa. Người lính cứu hỏa đã thở phào nhẹ nhõm khi thấy chúng tôi xuất hiện, tôi xua cảnh sát đi chỗ khác và bước vào trong, cố an ủi Jan như tôi nghĩ mình nên làm để đưa thằng bé ra khỏi đó. Hai tay của thằng bé tiếp tục chuyển động trong bóng tối nơi nó đang ngồi nhưng tôi không thể nhìn thấy nó đang làm gì. Khi lại gần hơn tôi thấy nó đang ngồi nghịch mấy thứ ở trong lòng.

Đó là một hộp diêm. Với một niềm hoan hỉ không che đậy, thằng bé đang phân loại diêm, những que diêm đã cháy đen sang một bên và những que diêm chưa quẹt sang một bên. Thằng bé thực sự giống như đang bốc cháy từ bên trong. Đó là hình ảnh khủng khiếp nhất mà tôi đã từng chứng kiến trong cuộc đời mình, Patrik. Thỉnh thoảng tôi vẫn nhìn thấy gương mặt đó trước lúc đi ngủ. Tôi lại gần, cẩn thận lấy hộp diêm ra khỏi thằng bé. Nó ngước nhìn tôi và nói, ‘Giờ thì họ đã chết chưa?’ Chỉ vậy thôi. ‘Giờ thì họ đã chết chưa?’ Rồi nói cười khúc khích và để tôi dẫn ra khỏi chuồng ngựa. Thứ cuối cùng tôi nhìn thấy trước khi rời khỏi là một cái chăn, một cái đèn pin và một đống quần áo trong góc vựa cỏ. Và rồi tôi hiểu ra chính chúng tôi là những kẻ đồng lõa trong cái chết của bố mẹ thằng bé. Đáng ra chúng tôi phải hành động sớm hơn.”

“Bà có nói với ai về chuyện này không?”

“Không, tôi biết nói gì chứ? Rằng tôi cho là thằng bé đã giết bố mẹ mình vì nó đang chơi với diêm? Không, tôi sẽ không bao giờ nói bất cứ điều gì nếu như lúc này cậu không tới và hỏi tôi về chuyện đó. Nhưng tôi vẫn luôn nghi ngờ rằng sớm muộn thằng bé sẽ đụng độ với cảnh sát mà thôi. Lần này thì là chuyện gì vậy?”

“Tôi vẫn chưa thể tiết lộ gì nhưng tôi hứa sẽ thông báo với bà ngay khi có thể. Tôi vô cùng cảm kích vì bà đã kể cho tôi tất cả những chuyện này và tôi sẽ lo ngay vụ giấy tờ thủ tục để bà không phiền phức.”

Anh vẫy tay chào rồi rời đi.

Sau khi anh đi khỏi, Siv vẫn ngồi một chỗ. Cặp kính màu đỏ đã được lấy xuống, bà khẽ day day sống mũi và nhắm mắt lại.

Đúng lúc Patrik bước ra ngoài, đạp lên đám tuyết bám trên vỉa hè thì chuông điện thoại của anh reo vang. Những ngón tay của anh đã trở nên tê cứng vì lạnh nên phải mất một lúc mói mở được nắp điện thoại. Anh hy vọng là Erica nhưng lập tức thất vọng khi nhận ra số điện thoại của đồn nhấp nháy trên màn hình.

“Patrik Hedström. Chào chị Annika. Không, tôi ở ngay trước văn phòng bảo trợ xã hội. Được rồi, chờ tôi hai phút là tôi có mặt ở đồn.”

Anh sập nắp điện thoại. Annika lại làm được điều đó nữa rồi. Chị ấy đã tìm ra sơ hở trong thời gian biểu của Alex.

—★—

Tuyết kêu lép bép dưới chân khi Patrik chạy về đồn. Xe dọn tuyết đã đi qua trong lúc anh ở trong văn phòng của Siv khiến cho đường về không còn vất vả như lúc đi. Chỉ có vài người can đảm dám thò mặt ra trong tiết trời lạnh giá, con phố chính vắng ngắt ngoại trừ vài người qua đường thỉnh thoảng xuất hiện vội vã với những chiếc cổ áo dựng đứng và mũ kéo.

Đằng sau cửa đồn cảnh sát, Patrik bắt đầu giậm chân để giũ tuyết bám trên giày. Anh phải ghi nhớ chuyện này mới được, ra trời tuyết mà đi giày thường thì tất cũng ướt. Đáng lẽ phải tính trước chuyện này mới phải.

Anh đi thẳng tới phòng Annika. Chị rõ ràng đang chờ anh và nhìn biểu hiện hài lòng trên mặt chị anh có thể đoán được chị hẳn đã tìm thấy cái gì đó vô cùng thú vị.

“Quần áo của cậu bị đem đi giặt hết rồi hay sao?”

Lúc đầu Patrik không hiểu câu hỏi của Annika, nhưng nhìn nụ cười trêu chọc của chị thì anh biết là mình đang bị chòng ghẹo. Một lúc sau, nhìn xuống quần áo của mình, anh mới vỡ lẽ. Khỉ thật, anh đã không thay quần áo từ ngày hôm kia. Chẳng hiểu có bốc mùi không nữa.

Anh lẩm bẩm trả lời Annika rồi cố lườm chị với ánh mắt hằn học nhất có thể. Nhưng lại càng làm chị khoái trá hơn.

“Rồi, rồi tôi hiểu rồi,” Patrik nói. “Giờ thì đi vào trọng tâm. Nữ nhân kia, có gì thì khai ra mau!”

Anh đấm mạnh xuống bàn giả bộ giận dữ. Không ngờ làm đổ một lọ hoa, nước chảy lênh láng.

“Ôi xin lỗi, tôi không định làm thế. Tôi đúng là một tên khốn vụng về…”

Anh tìm thứ gì định lau bàn nhưng Annika, như thường lệ, sớm hơn anh một bước, lập tức lôi ra một cuộn giấy ăn. Chị bình tĩnh lau bàn rồi sử dụng cách ra hiệu quen thuộc với Patrik rằng đã tới lúc làm việc.

“Ngồi xuống!”

Anh lập tức tuân lệnh, cảm thấy không công bằng vì chẳng được chị ném cho một chiếc kẹo làm phần thưởng cho sự ngoan ngoãn.

“Chúng ta bắt đầu chứ?” Annika không đợi câu trả lời của Patrik mà bắt đầu đọc những gì hiện lên trên màn hình vi tính của mình.

“Xem nào. Tôi bắt đầu từ thời điểm cái chết của cô ấy và ngược trở lại. Mọi thứ có vẻ đều khớp trong khoảng thời gian cô ấy sống ở Göteborg. Cô ấy bắt đầu mở phòng tranh với bạn vào năm 1989. Trước đó cô ấy học năm năm đại học ở Pháp, chuyên ngành lịch sử hội họa. Tôi đã nhận được bảng điểm của cô ấy bằng fax ngày hôm nay, cô ấy luôn thi cử đúng lịch và vượt qua hết các kỳ thi. Cô ấy học trung học tại trường Hvitfeldtskia ở Göteborg. Tôi cũng có bảng điểm của cô ấy. Không phải là một học sinh xuất sắc nhưng cũng không quá kém. Thường xuyên xếp hạng trung.”

Annika dừng lại nhìn Patrik đang cúi sát vào để đọc trước đoạn tiếp theo trên máy tính của chị. Chị liền quay màn hình máy tính đi chỗ khác để anh không đọc trước được phát hiện của mình.

“Trước đó là trường nội trú ở Thụy Sĩ. Cô ấy theo học một trường quốc tế có tên là L’École de Chevalier, cực kỳ đắt.” Annika nhấn mạnh vào ba chữ cuối. “Theo thông tin tôi nhận được khi gọi điện cho họ thì học phí vào khoảng một trăm nghìn kronor cho một học kỳ chưa kể đến tiền phòng, tiền nội trú, quần áo và sách vở. Tôi cũng kiểm tra giá cả lúc Alex theo học, cũng cao ngang ngửa.”

Mỗi lời của chị đều khiến Patrik hết súc nhập tâm và lập tức diễn giải thành: “Vậy câu hỏi là ở chỗ làm thế nào gia đình Carlgren có đủ khả năng để gửi Alex tới ngôi trường đó. Theo như tôi biết thì Birgit chỉ ở nhà nội trợ và Karl-Erik không thể kiếm đủ tiền để trang trải khoản chi phí đó. Chị có kiểm tra…”

Annika liền cắt ngang: “Có, có, tôi có hỏi ai là người thanh toán học phí cho Alexandra nhưng họ không thể cũng cấp những thông tin như vậy. Điều duy nhất có thể khiến họ hợp tác là một yêu cầu bằng văn bản của cảnh sát Thụy Sĩ nhưng với các thủ tục hành chính lằng nhằng thì phải mất ít nhất sáu tháng mới làm được. Tôi đành phải tra ngược lại từ đầu mối bên kia và kiểm tra tình hình tài chính của nhà Carlgren trong những năm qua. Biết đâu họ được thừa kế gì đó thì sao? Tôi đang chờ báo cáo của ngân hàng, cũng phải mất một vài ngày. Nhưng…” Chị đột ngột dừng lại để tăng thêm độ gay cấn: “nhưng đó vẫn chưa phải là phát hiện thú vị nhất. Theo lời khai của nhà Carlgren thì Alex bắt đầu học nội trú vào học kỳ mùa xuân năm 1977. Còn theo tư liệu của nhà trường thì tận mùa xuân 1978 cô ấy mới theo học.”

Annika ngả người ra sau ghế vẻ đắc thắng và khoanh hai tay trước ngực.

“Chị chắc chứ?” Patrik gần như không giấu nổi vẻ phấn khích.

“Tôi đã kiểm tra đi kiểm tra lại, thậm chí tới ba lần. Giai đoạn một năm kéo dài từ mùa xuân 1977 tới mùa xuân 1978 hoàn toàn mất hút trong cuộc đời Alex. Trong thời gian đó chúng ta không biết cô ấy đã ở đâu. Gia đình họ chuyển khỏi đây vào tháng Ba năm 1977 rồi không còn một chút tin tức nào nữa cho tới khi Alex bắt đầu học nội trú ở Thụy Sĩ. Cùng lúc đó, bố mẹ cô ấy xuất hiện ở Göteborg. Họ mua một ngôi nhà và Karl-Erik bắt đầu công việc mới của mình với vai trò tổng giám đốc điều hành một công ty cỡ vừa trong lĩnh vực bán sỉ.”

“Vậy là trong một năm đó chúng ta cũng không biết bố mẹ cô ấy ở đâu?”

“Chưa, chưa biết, nhưng tôi sẽ tiếp tục tìm kiếm. Tôi chỉ biết rằng không có bất kỳ dữ liệu nào cho thấy họ có mặt ở Thụy Điển vào thời điểm ấy.”

Patrik gở ngón tay ra đếm. “Alex sinh năm 1967, xem nào, nên sẽ tròn mười tuổi vào năm 1977.”

Annika kiểm tra lại màn hình. “Cô ấy sinh vào tháng Một, đúng rồi, cô ấy được mười tuổi khi họ chuyển đi.”

Patrik trầm ngâm gật đầu. Thông tin mà Annika tìm được rất có giá trị nhưng cho tới giờ nó chỉ làm phát sinh thêm nhiều câu hỏi khác mà thôi. Gia đình Carlgren đã dọn đi đâu trong khoảng thời gian từ năm 1977 tới năm 1978? Cả một gia đình không thể nào đơn giản biến mất như vậy. Họ hẳn phải để lại dấu vết, vấn đề là làm thế nào để tìm ra chúng. Nhưng đồng thời còn có gì đó hết sức bí ẩn. Thông tin Alex từng sinh con trước đó vẫn khiến anh lấn bấn trong đầu.

“Chị có tìm thấy lỗ hổng nào trong lý lịch của cô ấy không? Ví dụ như có thể ai đó đã ghi danh đi thi hộ cô ấy ở trường đại học? Hay đối tác của cô ấy đã phải điều hành phòng tranh một mình trong một quãng thời gian nào đó? Không phải là tôi không tin chị nhưng có lẽ chị nên thử kiểm tra lại lần nữa xem sao. Và kiểm tra các dữ liệu bệnh viện xem có Alexandra hay Wijkner nào sinh con ở đó không? Bắt đầu từ các bệnh viện ở Göteborg và nếu không tìm được gì thì mở rộng ra các vùng lân cận. Hẳn phải có chứng sinh của đứa trẻ ở đâu đó. Một đứa bé không thể nào bốc hơi như thế được.”

“Nhỡ cô ấy sinh con ở nước ngoài thì sao? Trong thời gian học nội trú chẳng hạn? Hay ở Pháp?”

“Dĩ nhiên rồi, sao tôi không nghĩ ra nhỉ? Chị xem có thể khai thác được thông tin nào qua các kênh quốc tế không. Đồng thời xem có cách nào tìm ra nhà Carlgren đã đi đâu. Hộ chiếu, Visa, các sứ quán. Hẳn phải có chỗ nào đó lưu thông tin về nơi họ tới.”

Annika chăm chỉ ghi chép lại tất cả.

“Tiện thể, những người khác có tìm được thông tin nào hữu ích không?”

“Ernst đã kiểm tra chứng cứ ngoại phạm của Bengt Larsson, hoàn toàn chắc chắn, nên có thể loại ông ta ra khỏi danh sách. Martin đã nói chuyện với Henrik Wijkner qua điện thoại nhưng cũng chẳng biết được gì hơn về mối liên hệ giữa Anders và Alex. Cậu ấy đang định thẩm vấn mấy tay bạn rượu của Anders xem liệu anh ta có nói gì với họ về chuyện đó không. Còn Gösta… Gösta đang ngồi khổ sở, than thân trách phận ở trong phòng, dồn hết sức lực để tới Göteborg thẩm vấn nhà Carlgren. Tôi cuộc là sớm nhất thứ Hai ông ấy mới có thể đi được.”

Patrik thờ dài. Nếu muốn phá án thì có lẽ không nên chờ đợi đồng nghiệp của mình. Anh sẽ phải tự làm cả những công việc thu thập thông tin lẻ tẻ này.

“Cậu có nghĩ tới việc đến hỏi thẳng nhà Carlgren không?” Annika nói. “Cũng có thể chẳng có gì đáng nghi. Có thể họ sẽ đưa ra một vài lời giải thích hợp lý.”

“Nhưng chính họ là người cung cấp cho chúng ta thông tin về Alex. Vì lý do nào đó họ đã cố tình giấu nhẹm thông tin về giai đoạn 1977-1978? Tôi sẽ nói chuyện với họ, nhưng chờ thêm chút manh mối đã. Tôi không muốn họ có cơ hội chối bỏ việc này.”

Annika ngả lưng ra ghế và mỉm cười xảo quyệt. “Thế khi nào sẽ được nghe chuông đám cưới ở nhà thờ ấy nhỉ?”

Patrik biết là chị sẽ không dễ dàng từ bỏ chủ để hấp dẫn này nên đành tặc lưỡi đảm nhiệm vai trò mua vui cho đồn cảnh sát.

“Có lẽ vẫn còn hơi sớm. Cũng phải cho chúng tôi sống chung ít nhất một tuần rồi mới đi đặt lịch nhà thờ chứ.”

“Ôi… thế có nghĩa là hai người đã sống chung rồi phải không?”

Patrik lập tức nhận ra rằng mình đã thản nhiên sập bẫy.

“Không, mà có… mà có lẽ… Tôi không biết nữa, cho tới giờ chúng tôi rất hòa hợp nhưng tất cả đều hết sức mới mẻ và có lẽ cô ấy sẽ phải trở lại Stockholm… Ôi, tôi thật tình không biết. Trước mắt chị biết thế là nhiều lắm rồi đấy.” Patrik ngồi vặn vẹo trên ghế như một con sâu.

“Thôi được rồi, nhưng tôi muốn được cập nhật thông tin đấy nhé, cậu nghe rõ chưa?” Annika chỉ tay về phía anh.

Anh gật đầu chấp thuận. “Được rồi, tôi sẽ báo cáo chị. Tôi hứa. Hài lòng chưa?”

“Được rồi, giờ thì xong việc rồi đấy.”

Chị đứng dậy đi vòng qua bàn làm việc và trước khi hiểu ra thì anh đã bị siết chặt trong vòng ôm của gấu mẹ, trước bộ ngực đồ sộ của Annika.

“Tôi rất mừng cho cậu. Lần này đừng làm hỏng chuyện nữa nhé, Patrik, hứa với tôi đi.” Chị nói rồi lại ôm siết thêm một lần nữa khiến xương sườn anh suýt lên tiếng. Vì bị ôm đến ngạt thở và không có chỗ để cựa quậy nên Patrik không tài nào phát biểu được và sự im lặng của anh được Annika nghiễm nhiên coi như một sự chấp thuận, thế là chị liền thả anh ra không quên nhéo thêm một cú rõ đau vào má.

“Về nhà thay quần áo ngay đi, nghe thấy chưa! Hôi chết đi được!”

Sau lời bình luận đó, Patrik đã thấy mình bị đuổi ra hành lang với xương sườn và một bên má đau nhức. Anh cẩn thận sờ nắn hai bên xương sườn của mình. Anh rất thích Annika nhưng đôi khi anh vẫn thầm mong chị có thể nhẹ nhàng hơn với một gã ba mươi lăm tuổi đáng thương, thể trạng đang suy nhược như mình.

—★—

Badholmen, hòn đảo với những bãi tắm, giờ trông hoang vu, tiêu điều. Vào mùa hè, hòn đảo chật ních những người tắm biển và tiếng trẻ con huyên náo, nhưng giờ đây chỉ còn những cơn gió hú từng chặp lẻ loi qua những vạt tuyết trắng, đổ bộ xuống từ đêm trước như một tấm chăn dày. Erica bước đi cẩn thận qua những mỏm đá phủ đẩy tuyết. Cô đột nhiên có nhu cầu đi ra ngoài hít thở không khí trong lành và từ đây, tại đảo Badholmen này, cô có thể nhìn thấy toàn cảnh các hòn đảo và màu trắng bất tận của băng tuyết. Ngoài tiếng xe cộ rì rầm từ rất xa vọng lại, chỉ là một sự tĩnh lặng kinh người, cô gần như có thể nghe thấy cả tâm tư của mình. Chiếc cầu nhảy hiện ra lờ mờ phía bên cạnh. Không cao vươn tới cả bầu trời như hồi nhỏ cô vẫn nghĩ, nhưng cũng đủ khiến cô sợ, không bao giờ dám nhảy từ tầng trên cùng xuống trong những ngày hè ấm áp.

Cô có thể đứng mãi ở đây. Quấn mình trong lớp áo lông thú, cô có thể cảm thấy giá lạnh đang hoài công cố gắng xuyên qua lớp áo dày. Trong lòng cô băng giá cũng bắt đầu tan. Cô không hề nhận ra mình đã cô đơn như thế nào cho tới khi nó rời khỏi cô. Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra với cô và Patrik nếu như cô phải chuyển về Stockholm? Hai người sẽ sống cách nhau hàng trăm cây số và cô đã quá lớn tuổi để duy trì một mối quan hệ xa xôi như thế.

Nếu buộc phải chấp thuận việc bán nhà thì có phải cô sẽ có khả năng ở lại đây? Cô không muốn dọn tới nhà Patrik trước khi quan hệ của họ trải qua một thời gian thử thách. Nên sự lưa chọn duy nhất là tìm thấy một chỗ nào đó ở Fjällbacka.

Vấn đề là chẳng có nơi nào khiến cô hài lòng. Nếu phải bán nhà thì cô thà cắt đứt mọi quan hệ với Fjällbacka hơn là tới đây và chứng kiến những người lạ sinh hoạt trong ngôi nhà thơ ấu của mình. Cô cũng không hình dung ra việc đi thuê một căn hộ ở đây, hẳn sẽ rất lạ lùng. Cô cảm thấy hạnh phúc của mình đang trượt dần khỏi tầm tay khi những suy nghĩ tiêu cực cứ lần lượt xuất hiện chồng chất. Dĩ nhiên, khó khăn này có thể giải quyết được nhưng cô phải thừa nhận rằng dù mình không hẳn đã lớn tuổi nhưng nhiều năm sống một mình, chỉ biết nghĩ cho bản thân nên khả năng xoay xở đã trở nên rất kém. Sau khi suy nghĩ chán chê, cô quyết định sẵn sàng rời bỏ Stockholm nếu có thể sống trong ngôi nhà thơ ấu của mình. Nếu không thì thành ra xáo trộn nhiều quá. Cô không thể nào cùng lúc đối mặt với bằng ấy sự thay đổi, cho dù có đang yêu đương cuồng nhiệt tới đâu đi nữa.

Có lẽ cái chết của bố mẹ đã khiến cô do dự hơn trước những thay đổi lớn. Vì sự kiện bi thảm đó chính là một sự thay đổi lớn mà cô sẽ mất nhiều năm để nguôi ngoai. Thế nên, lúc này đây, cô thực sự muốn có một cuộc sống bình yên, ổn định, bất biến. Trước đây cô rất sợ phải cam kết trong một mối quan hệ nào đó. Nhưng lúc này cô lại muốn hơn bao giờ hết đưa cả Patrik vào cuộc sống an toàn và không biến động đó. Cô những muốn lên kế hoạch cho tất cả các bước tiếp theo: sống chung, đính hôn, đám cưới, sinh con rồi những ngày bình thường nối tiếp nhau cho tới một ngày khi hai người nhìn nhau và nhận ra rằng họ đã cùng già đi. Đòi hỏi như thế hẳn không có gì quá đáng.

Lần đầu tiên Erica cảm thấy trong lòng đau nhói khi nghĩ tới Alex. Như thể bây giờ cô mới vỡ lẽ rằng cuộc đời Alex thế là đã kết thúc, vĩnh viễn kết thúc. Ngay khi hai người họ không còn liên hệ suốt nhiều năm thì cô vẫn thỉnh thoảng nghĩ tới cô ấy. Và luôn biết rằng cuộc đời cô ấy vẫn luôn chạy song song với mình. Nhưng giờ chỉ mình cô là người còn có tương lai, có thể nếm trải mọi niềm vui cũng như nỗi buồn trong những năm tháng tới. Còn Alex, cho tới hết đời, sẽ luôn xuất hiện trong tâm trí cô dưới hình ảnh một thi thể nguội lạnh trong bồn tắm. Những vệt máu trên sàn nhà và mái tóc như một vầng hào quang băng giá. Có lẽ đó chính là lý do khiến cô quyết định viết về cô ấy. Là một cách làm sống lại quãng thời gian thân thiết của hai người, và cũng là để hiểu rõ hơn người phụ nữ mà Alex đã trở thành.

Điều khiến Erica lo lắng nhất trong mấy ngày gần đây là các tư liệu dùng cho cuốn sách đều có vẻ hơi phiến diện. Cứ như thể cô đang nhìn ngắm một nguyên mẫu ba chiều nhưng chỉ từ một phía. Những mặt khác cũng rất quan trọng nếu cô muốn có một cái nhìn tổng quan về nguyên mẫu nhưng cô lại không được phép nhìn chúng. Thế nên cô quyết định sẽ bắt đầu tìm kiếm thêm thông tin từ những người xung quanh Alex, không chỉ là những nhân vật chính mà tất cả những vai phụ đã từng xuất hiện trong cuộc đời cô ấy. Những suy nghĩ của Erica lập tức bị hút trở lại với một linh cảm thời thơ ấu mà lúc đó cô không tài nào cắt nghĩa được vì vẫn là một đứa trẻ con.

Có chuyện gì đó đã xảy ra vào năm trước khi Alex chuyển đi và chẳng ai buồn tiết lộ với Erica. Những tiếng xì xào luôn ngừng lại ngay khi cô xuất hiện, người ta che giấu cô một chuyện gì đó mà giờ đây cô vô cùng muốn biết. Điều duy nhất cô có thể nhơ được trong những lần vụng trộm nghe lén các cuộc đối thoại của người lớn là từ “trường học” được nhắc tới nhiều lần. Không nhiều, nhưng đó là tất cả những gì cô nghe được. Erica biết thầy giáo cấp hai của cô và Alex vẫn đang sống ở Fjällbacka. Có lẽ nên bắt đầu từ đó.

Gió bắt đầu nổi lên và bất chấp lớp quần áo dày của Erica, giá lạnh thấm vào bên trong. Đã tới lúc phải di chuyển. Cô nhìn lần cuối cùng về phía Fjällbacka đang bình yên ẩn nau dưới sự bao bọc của những rặng núi phía sau. Vào mùa hè, hòn đảo tắm mình dưới ánh sáng mặt trời rực rỡ nhưng lúc này đây trông nó xám xịt và trơ trụi, nhưng Erica lại thích nó như thế. Vào mùa hè, thị trấn này cứ giống như một cái tổ kiến, hoạt động tấp nập. Giờ đây, một không khí yên bình, tĩnh lặng bao trùm lấy thị trấn, cứ như thể nó đang chìm trong một giấc ngủ đông. Nhưng cô cũng đồng thời hiểu rằng sự yên lặng ấy chỉ là ảo ảnh. Dưới bề mặt đó cũng đầy những tội ác như bất cứ nơi nào có con người sinh sống. Erica đã chứng kiến không ít ở Stockholm và cô tin rằng ở đây cũng vậy, có khi còn ghê gớm hơn. Thù hận, đố kỵ, lòng tham và sự báo thù, tất cả đều được che giấu dưới một nắp đậy không lồ được tạo ra bởi những tâm tính như: “Mọi người sẽ nói về chuyện này như thế nào nhỉ?” Tất cả tội ác, sự nhỏ nhen, hiểm độc lặng lẽ lên men dưới một bề mặt luôn có vẻ sạch sẽ và trang nhã. Từ những mỏm đá ở Badholmen, Erica nhìn về phía thị trấn tuyết phủ kia và tự hỏi, nó đang muốn che giấu những bí mật gì, dưới vẻ lặng lẽ đó.

Cô rùng mình vì lạnh, dấn hai tay sâu hơn vào trong túi áo rồi đi về phía thị trấn.

—★—

Mỗi năm trôi qua, cuộc sống lại càng trở nên đáng sợ. Axel Wennerström luôn phát hiện ra những mối nguy hiểm mới. Mọi việc bắt đầu khi ông đột nhiên nhận thức được sự hiện diện của hàng triệu, hàng tỉ những con vi khuẩn và trực khuẩn xung quanh mình. Phải chạm vào bất cứ vật gì cũng trở thành một thách thức, mỗi khi buộc phải làm vậy ông lại nhìn thấy những đội quân vi khuẩn lao vào tấn công mình với nguy cơ gây ra vô số bệnh tật mới cũng như cũ khiến ông sẽ phải chết trong đau đớn kéo dài. Ngay môi trường xung quanh cũng trở thành một hiểm họa lớn. Diện tích lớn thì hiểm họa lớn mà diện tích nhỏ thì cũng lại tiềm ẩn những nguy cơ khác. Ở chỗ đông người, mồ hôi sẽ túa ra từ mọi lỗ chân lông trên người ông và việc hít thở sẽ trở nên khó khăn. Cái môi trường duy nhất mà ông có thể điều khiển ở mức độ nào đó chính là nhà riêng. Và ông nhanh chóng nhận ra rằng ông có thể thực sự sống suốt đời ở đây mà không phải đặt chân ra ngoài cửa thêm một lần nào nữa.

Lần cuối cùng Axel ra ngoài là vào tám năm trước. Ông đã tiêu diệt mọi ham muốn được đi ra ngoài hiệu quả tới mức chẳng còn biết liệu phần còn lại của thế giới còn tồn tại nữa hay không. Ông hài lòng với cuộc sống của mình tới mức chẳng thấy có lý do gì để thay đổi.

Mỗi ngày của Axel Wennerström đều diễn ra theo một trình tự nhất định và quen thuộc. Ngày nào cũng giống ngày nào và hôm nay cũng không ngoại lệ. Ông thức dậy vào lúc bảy giờ và ăn sáng. Sau đó ông sẽ lau chùi toàn bộ phòng bếp bằng các chất tẩy rửa mạnh để diệt trừ bất cứ loại vi khuẩn nào có thể phát sinh từ bữa sáng sau khi lấy ra khỏi tủ lạnh. Sau đó ông sẽ dùng vài tiếng quét dọn, lau chùi và sắp xếp gọn ghẽ phần còn lại của ngôi nhà. Tới một giờ chiều, ông mới cho phép mình nghỉ ngơi và ra hiên ngoài đọc báo. Theo một thỏa thuận đặc biệt với Signe, người đưa thư, các tờ báo buổi sáng ông đặt đều được gói trong túi ni lông. Điều đó khiến ông có thể yên tâm một chút không phải nghĩ tới cảnh bàn tay bẩn thỉu của người khác chạm vào tờ báo trước khi tới hộp thư mình.

Một tiếng gõ cửa khiến lượng adrenalin trong người ông vọt lên. Bình thường làm gì có ai đến vào giờ này. Người giao thực phẩm thường tới vào sáng sớm ngày thứ Sáu. Đó là vị khách duy nhất tại nhà ông. Nặng nhọc, Axel nhích từng bước về phía cửa. Tiếng gõ cửa lại kiên trì vang lên. Ông thò một tay run rẩy về phía ổ khóa trên rồi mở nó ra. Ông thầm mong có một cái lỗ nhìn trên cửa giống như ở các khu nhà hiện đại nhưng trong các tòa nhà cũ kỹ này thì đến một cái cửa sổ gần cửa ra vào cũng chẳng có để nhìn xem kẻ đường đột kia là ai. Ông tiếp tục mở thêm chốt khóa dưới rồi mở cửa ra, tim đập thình thịch. Ông phải kiềm chế lắm mới không nhắm mắt lại khước từ cái sinh vật quyến rũ không biết tên đang đợi ông ngoài kia.

“Axel? Axel Wennerström phải không ạ? Ông thấy nhẹ cả người. Phụ nữ thì cũng đỡ sợ hơn cánh nam giới. Vì lý do an toàn, ông vẫn giữ lại chiếc xích khóa.

“Đúng vậy, có chuyện gì?”

Ông cố tỏ ra khó chịu. Chỉ muốn cái người kia, dù cô ta có là ai đi nữa, bỏ đi chỗ khác để ông được yên tĩnh.

“Xin chào thầy Axel. Không biết thầy có còn nhớ em không nhưng em là học sinh cũ của thầy, Erica Falck.” Ông lục tìm trong trí nhớ. Đã nhiều năm về trước và có biết bao nhiêu gương mặt học trò. Dần dần, hình ảnh một bé gái tóc vàng bắt đầu hiện ra. Đúng rồi, con gái nhà Tore đây mà.

“Em không biết có thể nói và lời với thầy không ạ?”

Cô nhìn ông với vẻ bức thiết qua khe cửa hẹp. Axel thở dài, mở nốt chiếc khóa xích rồi để cô đi vào. Ông cố không nghĩ tới việc cô ta đã đem theo bao nhiêu vi sinh vật lại vào trong ngôi nhà sạch sẽ của mình. Ông chỉ lên giá để giày ra hiệu cho cô tháo giày. Cô lịch sự làm theo và cũng treo áo khoác cùng khăn quàng cổ của mình lên. Để tránh việc cô làm bẩn ngôi nhà, ông dẫn cô tới bộ bàn ghế mây ngoài hiên. Cô ngồi xuống ghế và ông tự nhắc mình phải giặt lại áo gối ngay khi cô rời khỏi.

“Đã lâu lắm rồi em không gặp thầy.”

“Ừ, phải hai mươi lăm năm rồi, kể từ khi em còn học tôi, nếu tôi nhớ không nhầm.”

“Đúng thế ạ. Thời gian trôi thật là nhanh.”

Axel thấy câu chuyện phiếm này thật ngớ ngẩn, nhưng miễn cưỡng bồi theo. Ông chỉ mong cô đi thẳng vào trọng tâm và nói ra lý do tới đây. Rồi cô có thể rời đi và ông lại được ở nhà một mình. Ông nhất thời không hiểu cô muốn gì. Bằng ấy năm dạy học, học sinh cũ có đến hàng trăm người nhưng cho tới giờ ông vẫn may mắn chưa phải gặp trực tiếp bất kỳ ai. Nhưng lúc này đây Erica Falck lại đang ngồi trước mặt ông. Ông có cảm giác như đang ngồi trên một đống gai nhọn trong chiếc ghế mây đối diện. Ông thực nóng lòng muốn đuổi cô đi. Mắt ông không rời chiếc vỏ gối bọc tấm đệm mà cô đang ngồi và có thể nhìn thấy tất cả những con vi khuẩn mà cô mang tới đang len lỏi, bò trườn xuống ghế và tỏa ra khắp sàn nhà. Có lẽ chỉ giặt vỏ gối thôi thì không đủ, phải lau rửa và tiệt trùng toàn bộ ngôi nhà sau khi cô đi khỏi.

“Thầy có lẽ đang đoán vì sao em lại tới đây?”

Ông chỉ gật đầu đáp lại.

“Thầy hẳn đã nghe tin Alexandra Wijkner bị giết hại?”

Ông có biết và tin đồn đó lại một lần nữa khuấy động lên những thứ mà ông đã dùng phần lớn thời gian trong đời để áp chế. Giờ thì ông lại càng muốn Erica Falck đứng dậy và ra khỏi cửa nhà mình. Nhưng cô vẫn ngồi đó và ông cố kiềm chế không làm ra một hành động hết sức trẻ con là giơ hai tay lên bịt tai lại rồi lu loa ầm ĩ để khỏi phải nghe thấy những lời mà ông biết sắp được tuôn ra.

“Em có một vài lý do riêng phải điều tra về một số sự việc có liên quan tới Alex và cái chết của cô ấy, và em muốn hỏi thầy vài câu nếu thầy không ngại.”

Axel nhắm mắt lại. Ngày này cuối cùng đã tới.

Ông cũng không muốn hỏi lý do riêng của cô là gì. Nếu muốn, cô có thể cứ giữ chúng cho riêng mình, ông chẳng quan tâm. Cô có thể đặt ra các câu hỏi nhưng chẳng ai bắt ông phải trả lời. Nhưng đồng thời, ông không khỏi sửng sốt vì bản thân đột nhiên xuất hiện một mong muốn được kể hết mọi chuyện với người phụ nữ tóc vàng đang ngồi trước mặt ông. Trút bỏ cho ai đó, bất kế là ai, tất cả những gì mà ông đã phải che giấu suốt hai mươi lăm năm qua. Thứ đã đầu độc cuộc đời ông. Nó lớn lên như một hạt giống đã bắt rễ sâu trong lương tâm rồi chậm rãi lan tỏa khắp cơ thể và trí óc ông như một thứ độc dược. Trong những lúc tỉnh táo, ông biết rằng đó chính là nguồn gốc căn bệnh cuồng sạch cũng như nỗi sợ hãi ngày càng lớn lên trong ông đối với bất cứ thứ gì có thể đe dọa sự kiểm soát của ông đối với môi trường xung quanh. Erica Falck có thể hỏi bất cứ thứ gì mà cô ta muốn nhưng ông sẽ phải thận trọng trước mỗi câu trả lời. Chỉ cần mất bình tĩnh thì mọi chuyện sẽ vỡ lở và tấm khiên bấy lâu ông mất công dựng lên sẽ có nguy cơ sụp đổ. Chuyện đó nhất định không thể xảy ra.

“Thầy có nhớ Alexandra hồi đi học không ạ?”

Ông mỉm cười cay đắng. Phần lớn những đứa trẻ mà ông dạy dỗ chỉ để lại những ký ức mờ ảo, nhạt nhòa nhưng Alexandra trong trí nhớ của ông vẫn rõ ràng như hai mươi lăm năm về trước. Dù vậy ông không thể nói lên suy nghĩ của mình.

“Có, tôi có nhớ Alexandra. Mặc dù là Alexandra Carlgren chứ không phải Alexandra Wijkner, dĩ nhiên.”

“Vâng, đúng vậy. Thầy có nhớ gì về cô ấy hồi còn đi học không ạ?”

“Lặng lẽ, hơi kín đáo, và trưởng thành hơn rất nhiều so với tuổi của mình.”

Ông thấy Erica có vẻ thất vọng trước câu trả lời cụt lủn của mình nhưng ông vẫn luôn nhắc nhở bản thản phải nói càng ít càng tốt, như thể các từ ngữ sẽ chiếm mất thế thượng phong và ồ ạt quay lại tấn công ông nếu ông nói quá nhiều.

“Cô ấy học có giỏi không ạ?”

“Không hẳn. Cô ấy không phải là một trong những học sinh tham vọng nhất, theo như tôi nhớ, nhưng thông minh kiểu điềm tỉnh. Cô ấy luôn xếp hạng khoảng giữa lớp.”

Erica do dự một lát và Axel nhận ra rằng họ đang tiến gần tới những câu hỏi mà cô thực sự muốn tung ra. Những câu hỏi từ trước tới giờ đều chỉ là phần khởi động.

“Nhưng gia đình cô ấy đã chuyển đi giữa chừng. Thầy có nhớ lý do mà bố mẹ cô ấy đã đưa ra cho việc chuyển trường không?”

Ông giả bộ nghiền ngẫm, chụm các ngón tay lại rồi chống dưới cằm ra vẻ đang cố nhớ lại. Ông thấy Erica hơi nhô mình về phía trước để lộ vẻ hứng thú chờ câu trả lời. Nhưng ông sẽ phải khiến cô thất vọng. Điều duy nhất ông có thể nói với cô là sự thật.

“Có, tôi nghĩ là cha cô ấy tìm được việc làm ở một thị trấn khác. Nói thực tôi không nhớ chính xác, nhưng hình như là vậy.”

Erica không giấu nổi vẻ thất vọng. Một lần nữa, Axel những muốn mở tung lồng ngực và phơi bày tất cả những gì ông đã che giấu suốt bằng ấy năm. Để rửa sạch lương tâm bằng cách phơi bày hoàn toàn sự thật trần trụi kia. Nhưng ông lại hít một hơi thật sầu rồi nén lại những điều vừa chực phun ra.

Erica ngoan cố tiếp tục. “Nhưng quyết định đó có hơi đột ngột theo như em biết. Trước đó, thầy có bao giờ nghe họ nhắc tới chuyện này hay Alex có ám chỉ gì đó về việc họ sẽ chuyển đi không ạ?”

“Tôi thì không nghĩ chuyện đó có gì lại. Dĩ nhiên là nó xảy ra khá bất ngờ như em nói, nếu tôi nhớ không nhầm. Nhưng những chuyện như thế vẫn thường xảy ra rất mau lẹ. Biết đầu cha cô ấy bất ngờ nhận công việc mới, tôi sao biết được?”

Ông giơ hai tay lên trời như muốn nói ông cũng chỉ biết phỏng đoán như cô và hai chân mày của Erica càng chau lại. Đây không phải là câu trả lời mà cô mong muốn. Nhưng cô sẽ phải chấp nhận nó thôi.

“Vâng, nhưng sau đó còn xảy ra một chuyện khác nữa,” Erica tiếp tục “Em nhớ láng máng là những ngày đó mọi người hay bàn tán một chuyện gì đó liên quan tới Alex. Em cũng nhớ người lớn hay nhắc tới chuyện gì đó liên quan tới trường học. Thầy có biết là chuyện gì không ạ? Em chỉ nhớ láng máng thôi, như em đã nói, nhưng hẳn có chuyện gì đó mà người lớn không dám nói trước mặt trẻ con.”

Axel cảm thấy mọi khớp xương trên người như đang cứng đờ ra. Ông thầm mong vẻ lo lắng của mình không bị lộ ra ngoài. Tất nhiên ông biết những tin đồn đó là gì. Giữ bí mật hoàn toàn là chuyện không thể tuy nhiên ông tin rằng tác hại của câu chuyện đó đã được giảm thiểu đi rất nhiều. Và ông thậm chí đã góp phần vào việc giảm thiểu tác hại đó, và hành động này chính là một trong những điều vẫn luôn gặm nhấm lương tâm ông. Erica vẫn đang đợi câu trả lời.

“Không, tôi không biết là chuyện gì. Tin đồn lúc nào cũng đầy rẩy, em biết người dân ở đây mà. Phần lớn các tin đồn đều chẳng có chút cơ sở nào. Nếu tôi là em thì tôi sẽ không mất thời gian đế ý tới chúng.”

Cô có vẻ thất vọng ra mặt. Cô đã không tìm thấy thông tin nào phù hợp với mục đích khi tới đây, ông biết thế. Nhưng ông chẳng còn cách nào khác Thật giống như một cái nồi áp suất. Chỉ cần hé vung ra một chút là mọi thứ sẽ nổ tung. Đồng thời vẫn có cái gì đó nhất định muốn thoát ra. Ông có cảm giác như ai đó đã tiếp quản cơ thể mình. Ông có cảm giác như miệng ông đang há ra và lưỡi chuẩn bị uốn thành những từ không nên nói. Ông nhẹ cả người khi thấy Erica đứng dậy và khoảnh khắc mất tự chủ ấy cũng trôi qua. Cô mặc áo, đi ủng rồi chìa tay ra. Ông nhìn tay cô, nuốt nước miếng vài lần trước khi nắm lấy. Ông phải cố không nhăn mặt. Tiếp xúc với da thịt của người khác là việc kinh tởm nhất, ngoài sức miêu tả. Cô cuối cùng cũng đi ra khỏi cửa nhưng chợt quay lại ngay khi ông định đóng cửa.

“À nhân tiện, thầy cho em hỏi luôn thầy có biết Nils Lorentz có liên quan gì tới Alex hay nhà trường không ạ?”

Axel lưỡng lự một lát rồi đưa ra quyết định. Sớm muộn gì cô cũng tìm ra, nếu không từ ông thì cũng từ người khác.

“Em không nhớ ư? Cậu ta là giáo viên dạy thay ở trường trong một học kỳ.”

Rồi Axel đóng cửa, khóa hai lần, kéo dây xích lên, dựa vào cánh cửa và nhắm mắt lại.

Ông nhanh chóng lấy ra các thiết bị vệ sinh và lau chùi tất cả những dấu vết của vị khách không mời mà đến. Chỉ tới lúc đó thế giới của ông mới an toàn trở lại.

—★—

Buổi tối đã có một khởi đầu tồi tệ. Lucas trở về nhà trong tâm trạng xấu và cô đã cố gắng chuẩn bị mọi việc đâu vào đấy để anh ta thông có thêm bất cứ lý do nào mà nổi quạu. Anna biết rằng khi trở về với tâm trạng xấu, anh ta sẽ tìm mọi cớ để trút giận.

Cô đặc biệt chuẩn bị bữa tối kỹ càng hơn thường lệ. Cô nấu món ăn ưa thích nhất của anh ta và bày biện bàn ăn một cách hoàn hảo. Cô để bọn trẻ con trong phòng, bật phim Vua sư tử cho Emma và cho Adrian uống một bình sữa để đi ngủ. Cô bật Chet Baker, đĩa nhạc ưa thích nhất của Lucas và cuối cùng tự ăn diện hơn một chút, làm tóc va trang điểm cẩn thận. Nhưng cô mau chóng nhận ra rằng đêm nay cô có làm gì cũng vô ích. Lucas rõ ràng đã trải qua một ngày làm việc tồi tệ và cơn giận dữ tích tụ trong người nhất định phải bung ra. Anna nhìn thấy ánh sáng lóe lên trong mắt anh ta, giống như đang bước đi trên bãi mìn và chờ bom nổ. Cú đánh đầu tiên đến một cách bất ngờ. Một cú tát từ phía bên phải khiến đầu cô ong ong. Cô ôm lấy má và nhìn Lucas như thể vẫn hy vọng anh ta sẽ động lòng khi nhìn thấy vết đánh trên má mình. Nhưng nó lại càng làm anh ta nổi thú tính muốn hành hạ cô hơn nữa. Cô phải mất rất nhiều thời gian mới hiểu và chấp nhận được việc anh ta thực sự thích anh hạ mình. Trong nhiều năm cô vẫn tin lời anh ta nói việc đánh cô cũng khiến anh ta đau đớn chẳng kém, nhưng giờ thì hết rồi. Cô đã nhìn thấy con quái vật bên trong anh ta và nó càng ngày càng trở nên quen thuộc.

Cô co người lại theo bản năng để bảo vệ mình khỏi những cú đấm sắp giáng xuống. Khi chúng bắt đầu trút xuống như mưa trên đầu cô thì cô cố tập trung vào một điểm ở trong đầu, một nơi mà Lucas chưa thể chạm tới. Cô làm điều đó càng ngày càng thành thục. Dù vẫn cảm nhận được cơn đau nhưng phần lớn thời gian cô có thể tách ra khỏi nó. Như thể cô đang bay lơ lửng trên trần nhìn xuống cơ thể mình đang co rúm dưới sàn nhà trong lúc Lucas trút giận.

Một tiếng động khiến cô nhanh chóng quay về với thực tế và chịu trở lại vào thân xác của mình. Emma đang đứng trên ngưỡng cửa, ngậm ngón tay cái, chăn khoác trên tay. Anna đã cố bắt con bé dừng mút tay hơn một năm trước nhưng giờ con bé lại mút tay vì sợ hãi. Lucas vẫn chưa phát hiện ra vì anh ta đứng xoay lưng về phía phòng Emma nhưng khi thấy mắt Anna nhìn trừng trừng vào một điểm thì anh ta liền quay người lại.

Nhanh như cắt, trước khi Anna kịp ngăn cản thì anh ta đã xông tới bên con gái, thô lỗ nhấc nó lên rồi rung con bé cho tới khi Anna có thể nghe thấy hai hàm răng của nó va vào nhau lập cập.

Anna bắt đầu bò dậy nhưng mọi thứ xảy ra cứ như trong một thước phim quay chậm. Cô biết rằng cảnh tượng kia sẽ luôn tái hiện trong đầu cô khi Lucas ra sức lắc lấy lắc để Emma còn con bé vẫn nhìn cha mình với đôi mắt mở to, không hiểu chuyện gì đang xảy ra, vì sao người cha thân yêu của mình đột nhiên lại biến thành một kẻ xa lạ đáng sợ như thế.

Anna lao vào Lucas để bảo vệ Emma. Nhưng trước khi cô kịp chạm vào anh ta thì cô kinh hãi nhìn thấy Lucas quăng mạnh đứa bé vào tường. Anna nghe thấy một tiếng răng rắc khủng khiếp vang lên và cuộc đời cô từ đó đã hoàn toàn thay đổi. Mắt Lucas như bị một tấm màng lập lòe bao phủ. Có vẻ như chính anh ta cũng không nhận thức được hành động của mình khi cúi nhìn đứa trẻ trong tay rồi cẩn thận và nhẹ nhàng đặt con bé xuống sàn. Sau đó anh ta lại bế nó lên, lần này giống như cục cưng của mình và nhìn Anna với đôi mắt rừng rực như người máy.

“Con bé phải đi viện. Nó ngã cầu thang và bị thương. Chúng ta phải giải thích như thế. Con bé bị ngã cầu thang.”

Anh ta bắt đầu nói năng không mạch lạc rồi lao ra cửa chính, không cần biết Anna có đi theo hay không. Cô vẫn còn đang bị sốc và mơ màng đi theo anh ta. Cô có cảm giác như đang mộng du và có thể thức dậy bất cứ lúc nào.

Lucas vẫn nhắc đi nhắc lại. “Con bé bị ngã cầu thang. Họ phải tin chúng ta nếu chúng ta cùng nói như vậy, Anna. Bởi vì chúng ta sẽ cùng nói như vậy, Anna. Con bé bị ngã cầu thang, đúng không nào?”

Lucas tiếp tục lải nhải và Anna chỉ còn biết gật đầu. Cô muốn giằng lấy Emma, lúc này đang khóc như điên vì đau đớn và sợ hãi khỏi tay Lucas nhưng không dám. Vào những giây cuối cùng lúc họ đã xuống tới chân cầu thang thì cô mới như bừng tỉnh khỏi cơn mê muội và sực nhớ tới Adrian vẫn còn ở trong phòng. Cô vội vàng trở vào bế thằng bé và nựng nó trong tay suốt chặng đường tới bệnh viện, lòng càng lúc càng rối.

—★—

“Anh về ăn trưa với em chứ?”

“Ừ, tốt quá. Khi nào thì anh có thể qua?”

“Em cần khoảng một tiếng để chuẩn bị đồ ăn. Được không ạ?

“Hoàn hảo. Như vậy anh sẽ có thời gian để dọn dẹp một chút. Gặp lại em sau nhé.” Patrik ngừng lại một lúc rồi ngập ngừng nói tiếp: “Hôn em, tạm biệt.”

Erica đỏ mặt sung sướng vì cách dùng từ biểu đạt sự thân mật lần đầu tiên giữa hai người bọn họ, không có gì to tát nhưng đầy ý nghĩa.

Trong lúc chuẩn bị bữa trưa cô có chút hổ thẹn về kế hoạch của mình. Nhưng cũng chẳng còn cách nào khác. Khi chuông cửa reo một tiếng sau đó, cô hít một hơi thật sâu rồi ra mở cửa. Patrik lập tức nhận được một sự tiếp đón nồng nhiệt nhưng bị gián đoạn ngay sau đó bởi tiếng đồng hồ hẹn giờ báo món mì Ý đã chín.

“Bữa trưa có món gì thế?” Patrik vỗ bụng vẻ háu ăn.

“Mì Ý thịt bằm xốt cà chua.”

“Mmmm, ngon thế. Em đúng là người phụ nữ trong mơ của mọi đàn ông đấy, em biết không?”

Patrik tới sau lưng cô, vòng tay ôm lấy eo và bắt đầu hôn lên cổ Erica.

“Em gợi cảm, thông mình, tuyệt vời ở trên giường, và quan trọng hơn cả là một đầu bếp cừ khôi. Một người đàn ông còn mong muốn gì nữa…”

Chuông cửa bỗng vang lên, Patrik nhìn Erica vẻ dò hỏi. Cô tránh ánh mắt anh và đi mở cửa, không quên chùi tay vào khăn lau bếp. Người bên ngoài là Dan. Trông anh mệt mỏi và tiều tụy. Cả người rũ xuống và đôi mắt chẳng còn chút sinh khí nào. Erica sửng sốt khi trông thấy anh như vậy nhưng cố giữ bình tĩnh không để lộ ra ngoài.

Khi Dan tiến vào bếp, Patrik tò mò liếc nhìn Erica. Cô hắng giọng rồi giới thiệu hai người bọn họ với nhau.

“Patrik Hedström, Dan Karlsson. Dan có chuyện muốn nói với anh, Patrik. Nhưng trước hết hãy ngồi vào bàn đã.”

Erica bê nồi xốt sang phòng ăn. Họ cùng ngồi xuống dùng bữa trong không khí có phần bức bối. Erica trong lòng nặng trĩu nhưng cô cần phải làm thế. Sáng nay cô gọi điện cho Dan và thuyết phục anh báo cho cảnh sát về mối quan hệ với Alex. Cô đề nghị tiến hành việc đó tại nhà mình, hy vọng có thể khiến sự việc diễn ra nhẹ nhàng hơn.

Cô phớt lờ cái nhìn nghi vấn của Patrik và bắt đầu giải thích.

“Patrik này, Dan tới đây hôm nay vì có chuyện muốn nói cùng anh với tư cách là cảnh sát.”

Cô gật đầu với Dan, khuyến khích anh lên tiếng. Dan nhìn chằm chằm vào đĩa của mình, thức ăn vẫn chưa hề đụng đến. Sau một hồi im lặng ngại ngùng, anh bắt đầu nói.

“Tôi là người đàn ông mà Alex đã hẹn hò. Tôi là cha đứa trẻ mà cô ấy mang trong bụng.”

Patrik đánh rơi nĩa xuống đĩa thức ăn đánh cạch một tiếng. Erica đặt tay lên tay anh và giải thích: “Dan là người bạn thân nhất và lâu năm nhất của em, Patrik. Em phát hiện ra anh ấy chính là người đàn ông mà Alex hẹn hò ở Fjällbacka. Em mời cả hai người tới đây ăn trưa vì nghĩ rằng ở đây sẽ dễ nói chuyện hơn là ở đồn cảnh sát.”

Cô có thể thấy Patrik không tán thành việc cô can dự vào vụ này, nhưng chuyện đó sẽ tính sau. Dan là bạn thân của cô và cô sẽ làm mọi thứ để cứu vãn tình hình. Trong lúc nói chuyện điện thoại sáng nay, Dan nói với cô là Pernilla đã mang bọn trẻ tới nhà chị gái của cô ấy ở Munkedal. Cô ấy nói cần có thời gian suy nghĩ. Cô ấy không biết chuyện gì sẽ xảy ra sau đó, và cũng không thể hứa hẹn bất cứ điều gì. Dan nhìn mọi thứ đang sụp đổ xung quanh mình, ở một khía cạnh nào đó, việc khai báo với cảnh sát cũng là một lối thoát. Mấy tuần lễ vừa rồi quả thật là khủng khiếp. Anh buộc phải âm thầm để tang Alex, mỗi khi điện thoại đổ chuông hay nghe thấy tiếng gõ cửa là anh lại nhảy dựng lên vì cho rằng cảnh sát đã phát hiện ra anh là người đàn ông đã hẹn hò với Alex. Giờ thì Pernilla cũng đã biết rồi, anh chẳng còn sợ phải báo cảnh sát nữa. Chẳng gì tệ hơn nữa có thể xảy ra. Anh chẳng quan tâm chuyện gì sẽ xảy ra với mình ngoài nỗi lo sợ mất đi gia đình.

“Dan không liên quan gì tới án mạng, Patrik. Anh ấy sẽ nói với anh tất cả những gì anh muốn biết về anh ấy và Alex, nhưng anh ấy thề không bao giờ làm bất cử điều gì tổn hại cô ấy và em tin Dan. Em hy vọng cảnh sát sẽ giữ kín chuyện này. Anh biết miệng lưỡi thế gian là thế nào rồi đấy, gia đình Dan đã chịu đau khổ đủ rồi, anh ấy cũng vậy. Anh ấy đã phạm sai lầm, và tin em đi, anh ấy đã phải trả một cá giá rất cao.”

Patrik trông vẫn không tươi tỉnh lên là mấy nhưng gật đầu ra hiệu đã hiểu những gì cô vừa nói.

“Erica, anh muốn nói chuyện riêng với Dan một chút.”

Cô không phản đối, từ tốn đứng dậy đi vào trong bếp dọn rửa. Từ trong bếp cô có thể nghe thấy tiếng hai người đối đáp. Giọng Dan trầm buồn trong khi giọng Patrik thì nhẹ nhàng hơn. Cuộc đối thoại đôi lúc có vẻ gay cấn nhưng khi hai người bọn họ trở vào trong bếp thì Dan trông đã nhẹ nhõm hơn hẳn. Patrik thì vẫn nghiêm nghị như thế. Trước khi rời khỏi Dan ôm hôn tạm biệt Erica và bắt tay Patrik.

“Tôi sẽ liên lạc với anh nếu cần hỏi gì thêm,” Patrik nói. “Anh có thể sẽ phải trình diện ở đồn cảnh sát và cho lời khai bằng văn bản.

Dan im lặng giật đầu, vẫy tay chào bọn họ rồi rời đi.

Ánh mắt Patrik chẳng hứa hẹn điều gì tốt đẹp.

“Erica, em đừng bao giờ, đừng bao giờ làm thế nữa. Bọn anh đang điều tra một vụ án mạng và mọi việc phải được tiến hành theo quy định.”

Trán anh cau lại, biểu hiện của cơn giận dữ và Erica cố kiềm chế để không chồm tới hôn lên những nếp nhăn nhó kia.

“Em biết, Patrik. Nhưng các anh đã xếp cha đứa bé vào vị trí số một trong danh sách nghi phạm. Em biết là nếu Dan tới đồn cảnh sát thì các anh sẽ lập tức đẩy anh ấy vào phòng thẩm vấn và tra hỏi gắt gao. Dan không thể chịu đựng được điều đó ngay lúc này. Vợ anh ấy đã mang lũ trẻ đi và không biết có quay trở lại hay không. Bên cạnh đó, Dan cũng vừa mất đi một người rất quan trọng đối với anh ấy, cho dù anh muốn nhìn nhận sự việc như thế nào đi nữa. Anh ấy vừa mất đi Alex mà không thể chia sẻ hay tâm sự với bất kỳ ai. Vì thế, em cho rằng chúng ta có thể nói chuyện đó ở đây, trong một môi trường trung gian, không có những nhân viên cảnh sát khác. Em biết là anh sẽ phải thẩm vấn anh ấy thêm nhưng phần khó khăn nhất đã qua rồi. Xin hãy tha thứ cho em vì đã gạt anh, Patrik. Anh nghĩ là anh có thể tha thứ cho em chứ?”

Cô chu môi làm ra vẻ mặt gợi cảm nhất có thể rồi dính chặt lấy người anh. Cô cầm tay anh đặt lên eo mình rồi kiễng chân chạm vào môi anh. Cô cố tình dùng đầu lưỡi để công kích anh và chưa đầy mấy giây sau đã cảm thấy anh có phản ứng. Một lúc sau anh khẽ đẩy cô ra rồi nhìn vào mắt cô với vẻ kiên định:

“Em được tha thứ lần này, nhưng đừng bao giờ lặp lại nữa đấy, nghe rõ chưa? Giờ thì mình phải hâm nóng lại đồ ăn trong lò vi sóng để phục vụ cái dạ dày đang cồn cào.”

Erica gật đầu, tay trong tay với Patrik trở lại phòng ăn bên bữa trưa vẫn gần như còn nguyên trên đĩa.

Khi Patrik phải trở lại đồn, đã ra gần tới cửa rồi thì Erica sực nhớ ra vẫn còn một chuyện muốn nói.

“Anh biết không, em từng kể với anh về việc mang máng nhớ được lúc còn nhỏ người lớn có giấu giếm chuyện gì đó liên quan tới Alex và trường học trước khi gia đình cô ấy chuyển đi. Em đã cố đi xác minh chuyện ấy nhưng không có mấy kết quả. Nhưng lại tìm ra một mối liên hệ khác giữa Alex và Nils ngoài việc Karl-Erik từng làm việc tại nhà máy đóng hộp. Nils là gáo viên dạy thay trong một học kỳ ở trường cấp hai. Em thì không học anh ta nhưng lớp Alex thì có. Em không biết thông tin này thì có ích gì không nhưng vẫn muốn nói với anh.”

“Như vậy, Alex là học sinh của Nils,” Patrik dừng lại, nghĩ ngợi. “Như em đã nói, có thể nói không quan trọng nhưng cho tới giờ, mọi liên hệ giữa Nils Lorentz và Alex đều đáng quan tâm. Bọn anh cũng chẳng còn manh mối nào khác.” Anh nhìn cô vẻ nghiêm nghị. “Có một điều Dan nói khiến anh suy nghĩ. Anh ấy nói rằng về sau Alex rất hay nhắc đến việc đối mặt với quá khứ. Rằng phải dũng cảm giải quyết khó khăn thì mới có thể tiến lên phía trước. Anh không biết liệu điều đó có dính dáng gì tới những chuyện em vừa nói không nữa.”

Anh trầm ngầm một lúc rồi giống như giật mình trở lại với thực tế. “Anh vẫn chưa thể loại bỏ Dan ra khỏi vòng nghi vấn, anh hy vọng là em có thể hiểu được.”

“Em biết, Patrik. Nhưng làm ơn nhẹ tay với anh ấy nếu có thể. Tối nay anh có tới không?”

“Có. Nhưng anh phải về nhà thay quần áo trước đã. Anh sẽ có mặt ở đây vào khoảng bảy giờ.”

Hai người hôn tạm biệt rồi Patrik đi ra xe. Erica đứng trên ngưỡng cửa nhìn theo cho tới khi xe của anh mất hút.

—★—

Patrik không lái thẳng tới chỗ làm. Anh cũng không rõ vì sao mình lại mang theo chìa khóa căn hộ của Anders lúc rời khỏi đồn cảnh sát. Anh quyết định sẽ ghé lại đó một chút, từ từ tìm kiếm. Anh cần tìm thấy một thứ gì đó, bất kể là gì, để có thể khai thông vụ án. Anh có cảm giác như mình đi đâu cũng đều đâm vào ngõ cụt và sẽ không bao giờ tìm được kẻ sát nhân hay những kẻ sát nhân. Người tình bí mật của Alex, đúng như Erica nói, là người đứng đầu danh sách nghi phạm, nhưng giờ thì anh không còn chắc nữa. Anh vẫn chưa sẵn sàng loại bỏ Dan ra khỏi danh sách nhưng anh phải thừa nhận rằng đây không phải là một mối nóng.

Cảm giác bên trong căn hộ của Anders thật lạ lùng. Anh giống như vẫn đang nhìn thấy Anders đong đưa lủng lẳng trên đoạn dây thừng dù khi Patrik tới nơi thì anh ta đã được cắt dây và đặt xuống sàn. Anh không biết mình phải tìm gì nhưng anh vẫn đeo găng tay để tránh làm đảo lộn chứng cứ. Anh đứng ngay phía dưới móc treo đèn nơi một cụm dây thừng đã buộc vào và siết chặt để tái dựng hiện trường. Làm thế nào để có thể nâng Anders lên cao như thế? Không thể đoán nổi. Trần nhà rất cao và nút thắt thì ngay phía dưới móc treo. Phải tốn rất nhiều sức lực mới có thể nâng cơ thể của Anders lên tới độ cao này. Dĩ nhiên anh ta khá gầy, nhưng với chiều cao đó thì hẳn cũng chẳng nhẹ nhàng gì. Patrik thầm nhủ sẽ phải kiểm tra lại cân nặng của Anders khi nhận được kết quả khám nghiệm tử thi. Lời giải thích duy nhất anh nghĩ ra được là có nhiều người đã cùng nâng anh ta lên. Nhưng sao lại không tìm thấy bất kỳ dấu vết nào trên người anh ta? Ngay cả khi anh ta bị chuốc thuốc ngủ thì việc nâng cả người anh ta lên như thế cũng phải để lại dấu vết. Ở đây có gì đó không phù hợp.

Anh đi sâu vào trong căn hộ và kiểm tra kỹ lưỡng mọi thứ. Vì ở đây chẳng có mấy đồ đạc ngoài tấm đệm trong phòng ngủ, một chiếc bàn và hai chiếc ghế trong bếp nên cũng không mất nhiều thời gian. Patrik để ý thấy vật chứa đồ duy nhất trong căn hộ là cái tủ bếp nên anh bắt đầu lục lọi từng ngăn một. Chúng đã được lục soát trước đó nhưng anh vẫn muốn kiểm tra lại xem có bỏ lại gì không. Trong ngăn kéo thứ tư anh tìm thấy một quyển sổ ghi chép, anh liền lấy ra đặt lên bàn bếp để xem cho kỹ. Anh giơ quyển sổ lên ở một góc độ phù hợp với ánh sáng hắt từ cửa sổ để xem có nét bút hằn lại không. Anh nhận ra rằng những chữ được viết ở trang trước vẫn còn hằn lên trang sau, bèn dùng một biện pháp cổ điển để đọc chúng. Bằng cây bút chì tìm được trong cùng ngăn kéo đó, anh nhẹ nhàng cọ bút lên trang giấy. Anh chỉ có thể đọc được một phần của văn bản nhưng cũng đủ hiểu ý nghĩa của thông điệp đó là gì. Anh khẽ huýt sáo. Thật là thú vị, vô cùng thú vị. Nó khiến anh tìm thấy động cơ làm việc trở lại. Anh cẩn thận đặt quyển sổ vào một chiếc túi lông mang theo.

Anh tiếp tục lục soát các ngăn kéo. Phần lớn là đồ ăn vặt, nhưng ở ngăn kéo cuối cùng anh lại tìm thấy một thứ vô cùng thú vị. Anh nhìn mẩu da nhỏ kẹp trên tay. Nó giống hệt với mẩu da anh nhìn thấy ở nhà Alex khi tới đó cùng Erica. Mẩu da nằm trên bàn đọc sách của cô ấy với cùng một ký hiệu được nung trên đó: “L.N.L. 1976”.

Lật lại miếng da, anh nhìn thấy đằng sau nó cũng giống hệt như miếng da của Alex với những vệt máu mờ mờ. Điều này không đem đến phát hiện gì mới về mối liên hệ giữa Alex và Anders. Nhưng mỗi khi nhìn xuống miếng da này, anh luôn có một cảm giác lạ lùng.

Có gì đó trong tiềm thức đang gục giã phải chú ý tới nó. Như đang muốn nói rằng mẩu da bé kia thực ra rất quan trọng. Patrik hẳn đã bỏ lỡ điều gì, nhưng tạm thời không đoán ra. Nhưng giờ thì anh biết mối liên hệ giữa Alex và Anders đã có từ rất lâu trong quá khứ. Ít nhất là từ năm 1976. Một năm trước khi Alex và gia đình chuyển khỏi Fjällbacka và mất hút không dấu vết suốt mười hai tháng. Một năm trước khi Nils Lorentz vĩnh viễn biến mất. Nils, theo như lời Erica, là thầy giáo ở ngôi trường mà Alex và Anders theo học.

Patrik nhận ra mình cần phải nói chuyện với bố mẹ Alex. Nếu những nghi ngờ bắt đầu hình thành trong đầu anh là chính xác thì họ là người đang nắm giữ câu trả lời cuối cùng, câu trả lời sẽ ghép lại những mảnh vụn mà anh nghĩ mình đã phần nào hình dung được. Anh nhặt quyển sổ và mẩu da thuộc rồi liếc nhìn căn phòng lần cuối. Trong đầu anh lại hiện ra hình ảnh thi thể xương xẩu, nhợt nhạt của Anders đung đưa. Anh thể sẽ đi tới cùng, tìm ra nguyên nhân tại sao Anders lại kết thúc cuộc đời đau buồn của mình bằng việc thắt cổ. Nếu những phán đoán của anh là đúng thì đó quả thật là một tấn thảm kịch vượt qua mọi sự tưởng tượng của người đời. Anh thật lòng hy vọng rằng mình đã sai.

—★—

Patrik tìm thấy tên của Gösta trong danh mục điện thoại và quay số máy bàn ông ở đồn. Anh có lẽ sẽ làm gián đoạn việc chơi game của ông.

“Xin chào, là Patrik.”

“Chào cậu, Patrik.” Giọng nói uể oải thường ngày của Gösta vang lên ở đầu dây bên kia. Buồn bã và chán nản khiến ông từ trong ra ngoài lúc nào cũng có vẻ uể oải.

“Ông đã có kế hoạch tới nói chuyện với nhà Carlgren ở Göteborg chưa?”

“Chưa, tôi vẫn chưa nghĩ tới chuyện đó. Còn biết bao nhiêu việc phải làm.”

Gösta cỏ vẻ phòng thủ. Câu hỏi của Patrik khiến ông cảnh giác lo bị phê bình vì đã không thực hiện nhiệm vụ của mình. Ông không tài nào nhấc người lên được. Chỉ cần cầm điện thoại ấn số đã khó rồi nói gì tới việc chui vào xe và lái tới tận Göteborg.

“Ông có phản đối không nếu tôi đi thay ông?”

Patrik biết câu hỏi ấy chỉ là lấy lệ. Anh thừa biết là Gösta sẽ mừng húm nếu thoát được việc này. Đúng như anh nghĩ, Gösta trả lời, giọng điệu vui vẻ trở lại. “Ồ không, không hề! Nếu cậu thấy là cậu có thể làm thay tôi thì cứ việc. Tôi còn có quá nhiều việc phải làm nên đang không biết xếp việc đó vào đầu nữa đây.”

Cả hai người đều biết rằng họ đang đóng kịch, vai diễn đã phân từ lâu với sự đồng thuận của hai bên. Patrik có thể làm những gì mình muốn còn Gösta thì có thể chơi game mà nhiệm vụ vẫn hoàn thành.”

“Ông tìm cho tôi số điện thoại của họ được không? Để tôi gọi luôn.”

“Dĩ nhiên rồi, tôi có ở ngay dây. Xem nào…” Gösta đọc số điện thoại.

Patrik ghi lại số điện thoại vào quyển sổ ghi chép luôn ghim vào bảng điều khiển trong xe. Anh cảm ơn Gösta rồi gác mấy để gọi cho nhà Carlgren. Anh thầm mong họ có ở nhà. Khi Patrik đề cập có việc muốn gặp họ, Karl-Erik ban đầu có chút do dự nhưng cuối cùng cũng đồng ý để anh tới hỏi vài câu. Ông ta cố gặng hỏi xem anh muốn biết thêm điều gì nhưng Patrik chỉ nói là có vài điểm không rõ ràng cần họ làm sáng tỏ.

Anh lùi ra khỏi bãi đỗ xe trước khu nhà, rẽ phải rồi rẽ trái ở ngã tư tiếp theo về hướng đường cao tốc tới Göteborg. Đoạn đường đầu phải đi chậm với những con đường nhỏ, ngoằn ngoèo qua rừng nhưng ra tới đường cao tốc thì nhanh hơn hẳn. Anh vượt qua Dingle, Munkedal và khi tới Uddevalla thì coi như đã đi được nửa đường. Anh luôn bật nhạc rất to trong lúc lái xe. Lái xe, với anh mà nói, chính là một cách thư giãn. Anh ngồi một lúc trong xe phía bên ngoài căn villa lớn màu xanh nhạt ở Kalltorp để lên dây cót. Nếu dự cảm của anh đúng thì anh sắp sửa làm tan nát cả gia đình có vẻ như quá mức lý tưởng này. Nhưng đôi khi đó chính là công việc của anh.

—★—

Một chiếc xe đang rẽ vào lối dành riêng cho ô tô. Cô không nhìn thấy nhưng nghe thấy tiếng sỏi lạo xạo. Erica mở cửa trước nhìn ra.

Miệng cô há hốc ngạc nhiên khi nhìn thấy người vừa ra khỏi xe. Anna uể oải vẫy tay chào cô rồi mở cửa sau nhấc lũ trẻ ra khỏi ghế an toàn. Erica xỏ vội đôi sục rồi đi ra giúp Anna. Anna không hề báo trước về việc sẽ tới đây nên Erica băn khoăn không hiểu chuyện gì đã xảy ra.

Anna trông tái nhợt trong chiếc áo khoác màu đen. Cô cẩn thận nhấc Emma xuống đất còn Erica thì tháo dây an toàn cho ghế của Adrian rồi bế cậu bé lên. Cô nhận được một nụ cười cảm ơn toe toét từ cái miệng còn chưa mọc răng của cậu bé và lập tức đáp lại bằng một nụ cười rất tươi. Rồi cô quay sang nhìn Em gái với vẻ thắc mắc nhưng Anna chỉ lắc đấu như muốn nói “đừng có hỏi gì lúc này”. Erica biết Anna sẽ nói với cô khi nào cô ấy sẵn sàng và cảm thấy thích hợp. Còn trước đó thì dừng hòng moi được lời nào từ cô em gái.

“Hôm nay, toàn là rồng đến nhà tôm thế này sao? Các cháu yêu quý tới thăm bác của chúng đây!”

Erica thỏ thẻ, mỉm cười với đứa bé trên tay rồi cúi xuống chào Emma. Emma vẫn luôn rất thích cô nhưng lần này con bé không hề mỉm cười đáp lại. Ngược lại, nó còn túm áo mẹ nói chặt hơn và nhìn Erica chằm chằm với vẻ nghi ngờ.

Erica đi đằng trước với Adrian. Anna theo sát phía sau, một tay dẫn Emma, một tay xách đồ. Erica ngạc nhiên nhìn thấy khoang hành lý trên xe chật cứng nhưng cố gắng không bật ra câu hỏi.

Hai tay lóng ngóng vụng về, Erica cố cởi trang phục bên ngoài của Adrian trong khi Anna thành thục giúp Emma cởi áo khoác. Lúc này Erica mới nhìn thấy một tay của Emma bị bó bột tới tận khuỷu. Cô nhìn Anna vẻ sửng sốt. Nhưng em gái cô tiếp tục lắc đấu lờ đi. Emma vẫn nhìn Erica với đôi mắt to, nghiêm nghị và đứng nép vào mẹ. Con bé lại cho ngón tay cái vào miệng, chứng tỏ đã xảy ra chuyện gì đó nghiêm trọng. Anna đã tuyên bố từ năm ngoái là cuối cùng cũng đã khiến Emma bỏ thói quen mút tay.

Ôm lấy cơ thể nhỏ bé ấm áp của Adrian vững vàng trong tay, Erica đi vào phòng khách rồi ngồi xuống ghế sofa với thằng bé ở trong lòng. Adrian ngước nhìn cô với vẻ thích thú. Thằng bé liên tục cười mủm mỉm rồi lại thôi như thể chưa quyết định nên cười hay không. Nó dễ thương tới mức Erica chỉ muốn cắn.

“Chuyến đi có vất vả không?”

Erica không biết phải nói gì nên cho rằng những câu chuyện phiếm sẽ an toàn hơn cho tới khi Anna quyết định cho cô biết đã xảy ra chuyện gì.

“Vâng, hành trình khá dài. Bọn em phải đi qua Dalsland. Đường rừng ngoằn ngoèo khiến Emma bị say xe, phải dừng lại mất mấy lần cho nó ra ngoài hít thở không khí trong lành.”

“Chẳng vui tẹo nào, Emma nhỉ?”

Erica cố gắng lấy lòng Emma. Nhưng con bé vẫn lắc đầu, nhìn cô gườm gườm, không quên túm chặt lấy mẹ.

“Mẹ nghĩ con nên đi ngủ một lát đi, Emma,” Anna nói “Con thấy sao? Con chẳng chợp mắt chút nào suốt chuyến đi, nên chắc mệt lắm rồi.”

Emma gật đầu đồng ý và bắt đầu đưa tay lên dụi mắt

“Em cho chúng ngủ ở trên gác được không, Erica?”

“Dĩ nhiên rồi. Đặt chúng vào phòng bố mẹ ấy. Chị đang ngủ ở đấy nên đã chuẩn bị sẵn giường rồi.”

Anna đón lấy Adrian từ tay Erica lúc này đang sung sướng và thấy thằng bé phản đối khi bị lôi ra khỏi vòng tay ấm áp của bà bác yêu quý.

“Mẹ, chăn của con,” Emma nhắc Anna khi ba người họ đã đi lên được nửa cầu thang và Anna đành phải quay lại tìm chiếc túi đi trong hành lang.

“Em có cần giúp gì không?”

Erica thấy thật chẳng dễ dàng gì cho Anna, một tay bế Adrian, một tay xách túi với Emma bướng bĩnh đeo chặt không rời.

“Không cần đâu ạ, cảm ơn chị. Em quen rồi.”

Anna lại nở cái nụ cười khó hiểu, có phần chua xót mà Erica vẫn không tài nào cắt nghĩa được.

Trong lúc Anna cho bọn trẻ con đi ngủ, Erica bận rộn pha cà phê. Cô tự hỏi hôm nay đã uống tới ấm cà phê thứ mấy rồi không biết. Bụng cô hẳn sẽ lên tiếng phản đối. Cô đang chuẩn bị đổ cà phê vô phin thì bỗng khựng lại. Thôi chết rồi. Quần áo của Patrik vứt lung tung khắp nơi trong phòng ngủ và Anna phải ngốc lắm mới không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Nụ cười trêu ghẹo của Anna lúc bước xuống cầu thang vài phút sau đó xác nhận tất cả.

“Ôi chị gái. Có chuyện gì khai báo đây? Người đàn ông nào mà đến treo quần áo lên cũng không kịp nữa thế?”

Mặt Erica đỏ lên.

“Ờ, e hèm… thì… thì mọi chuyện diễn ra nhanh quá, em biết đấy.”

Cô bắt đầu nói lắp khiến Anna càng khoái trá. Những nếp nhăn mệt mỏi trên gương mặt Anna dường như giãn ra và trong chốc lát, Erica tưởng như tìm thấy em gái của mình ngày trước, khi chưa gặp Lucas.

“Thôi được rồi, người đó là ai? Đừng có lúng búng nữa mà cho em chút thông tin nóng hổi đi. Chị có thể bắt đầu bằng tên của anh ta chẳng hạn. Có phải là một người mà em cũng biết không?”

“Ờ đúng thế. Chị không biết em có nhớ Patrik Hedström không?”

Anna rú lên rồi vỗ tay đánh bốp vào đầu gối. “Patrik! Tất nhiên là em nhớ Patrik. Anh ấy thường đi theo chị khắp nơi như một con cún, lưỡi thè ra. Thế là cuối cùng anh ấy cũng có cơ hội…”

“Ừ, thật ra chị cũng đoán được anh ấy có hơi thích chị hồi trẻ nhưng không hề biết tình cảm thực của anh ấy…”

“Ôi Chúa ơ, chị đúng là không có mắt! Anh ấy từ đầu tới chân đều chết chị rồi. Trời ơi, lãng mạn quá. Anh ấy cứ ở đây chờ chị bằng ấy năm và cuối cùng chị cũng chịu nhìn sâu vào mắt anh ấy và phát hiện tình yêu vĩ đại của đời mình.”

Anna giả bộ ôm siết lấy trái tim vì cảm động khiến Erica không nhịn được cười. Đây mới chính là cô em gái mà cô biết và yêu quý.

“Cũng không hẳn như vậy. Anh ấy cũng đã kết hôn nhưng vợ anh ấy bỏ đi mấy năm trước, giờ thì anh ấy đã ly hôn và sống ở Tanumshede.”

“Thế anh ấy làm gì? Đừng nói với em là thợ mộc nhé. Em sẽ ghen tị lắm đấy. Em vẫn luôn mơ được làm tình với một anh thợ mộc nóng bỏng đấy.”

Erica tinh nghịch thè lưỡi ra với Anna và Anna cũng thè lưỡi đáp lại.

“Không, anh ấy không phải là thợ mộc. Anh ấy là cảnh sát, nếu em muốn biết.”

“Cảnh sát, ôi trời. Nói cách khác là một người đàn ông có dùi cui. Nghe cũng không tệ lắm…”

Erica gần như đã quên mất em gái cô có thể là một người hài hước như thế nào. Cô chỉ biết lắc đầu khi rót cà phê vào hai chiếc tách. Anna thoải mái như ở nhà mình. Anna tới tủ lạnh lấy bình sữa rót vào tách của mỗi người một ít. Nụ cười vui vẻ biến mất trên gương mặt Anna và Erica hiểu rằng đã tới lúc cô được biết lý do tại sao Anna và lũ trẻ đột ngột xuất hiện ở Fjällbacka.

“Còn câu chuyện tình yêu của em thì đã chấm dứt. Hoàn toàn. Mà thật ra đã từ nhiều năm rồi, chỉ có đều bây giờ em mới nhận ra.”

Anna rơi vào im lặng, nhìn chằm chằm vào tách cà phê vẻ buồn bã.

“Em biết chị chưa bao giờ thích Lucas, nhưng em thực sự yêu anh ta. Vì một lý do nào đó, em luôn tìm cách hợp lý hóa việc anh ta đánh em. Sau đó anh ta luôn cầu xin tha thứ và thề rằng anh ta vẫn yêu em hay ít nhất đã từng yêu. Vì một lý do nào đó, em đã tìm cách thuyết phục bản thân rằng tất cả đều là lỗi của em. Nếu em có thể là một người vợ tốt hơn, một người tình tốt hơn và một người mẹ tốt hơn thì anh ta hẳn sẽ không đánh em.”

Anna đang trả lời những câu hỏi trong đầu Erica.

“Phải, em biết, nghe thì vô lý, nhưng em đã rất giỏi trong việc tự lừa dối bản thân. Em đã vin rất nhiều vào cái cớ rằng anh ta là một người cha tốt đối với Emma và Adrian. Em thật không muốn tước đi khỏi chúng một người cha.”

“Nhưng rồi đã xảy ra chuyện?”

Erica khích lệ Anna nói tiếp. Cô biết Anna cảm thấy rất khó khăn khi phải nói ra chuyện này. Niềm kêu hãnh của cô ấy bị tổn thương, mà Anna vẫn luôn là một người vô cùng kiêu ngạo, không bao giờ muốn thừa nhận mình sai.

“Vâng, đã xảy ra một chuyện. Tối hôm qua anh ta lại đánh em như thường lệ. Gần đầy, chuyện đó càng trở nên thường xuyên. Nhưng hôm qua…”

Giọng Anna vỡ ra nghẹn ngào nhưng vẫn cố nhịn để không trào nước mắt.

“Tối hôm qua anh ta đã ra tay với Emma. Anh ta đang điên, lúc anh ta đang đánh em thì con bé xuất hiện và anh ta không kiềm chế được.” Anna lại nén khóc. “Bọn em lái xe tới phòng cấp cứu và họ bảo rằng con bé bị rạn xương tay.”

“Em báo cảnh sát rồi chứ?”

Erica cảm thấy cơn giận dâng lên cuồn cuộn, càng lúc càng mạnh mẽ.

“Không “ Anna nói rất khẽ và nước mắt bắt đầu rơi lã chã trên hai gò má tái nhợt của cô. “Không, bọn em nói là con bé bị ngã cầu thang.”

“Ôi Chúa ơi, thế mà họ cũng tin sao?”

Anna lại mỉm cười khó hiểu. “Chị biết Lucas có thể diễn vai quyến rũ đạt như thế nào không. Anh ta khiến bác sĩ và các y tá mê mẫn, thậm chí còn cảm thấy thương xót anh ta chẳng kém gì Emma.”

“Nhưng Anna, em phải báo cảnh sát chuyện này. Em không thể để anh ta thoát trách nhiệm được.”

Cô nhìn em gái mình nức nở. Vừa giận dữ vừa thương xót. Anna co rúm lại trước ánh mắt của chị gái.

“Em sẽ trông chừng để chuyện đó không bao giờ xảy ra nữa. Em giả vờ nghe theo lời xin lỗi của anh ta rồi chờ anh ta đi làm liền thu xếp đồ đạc và lái xe bỏ đi. Em sẽ không bao giờ quay lại với anh ta nữa. Lucas sẽ không bao giờ có thể hành hạ các con em nữa. Nếu em báo cảnh sát thì có lẽ họ sẽ yêu cầu bên bảo trợ xã hội can thiệp và có khi tước luôn quyền nuôi dưỡng của cả hai bọn em.”

“Nhưng Lucas sẽ không bao giờ chịu ngồi yên cho em mang con của anh ta đi đâu, Anna. Nếu không có báo cáo và điều tra của cảnh sát thì làm sao em có thể chứng minh rằng mình mới là người xứng đáng được quyền nuôi dưỡng hai đứa bé?”

“Em không biết, em không biết, Erica. Em không thể nghĩ về chuyện đó ngay lúc này, em chỉ vừa mới rời khỏi anh ta. Những chuyện còn lại để sau hẵng tính. Làm ơn đừng mắng em!”

Erica đặt tách cà phê xuống bàn, đứng dậy tới bên Anna và quàng tay ôm lấy em gái mình. Cô vừa vuốt tóc Anna vừa thủ thỉ những lời an ủi, vỗ về. Cô để Anna khóc thoải mái trên vai mình cho tới khi vai áo cô ướt sũng. Cùng lúc nỗi căm ghét đối với Lucas càng lớn thêm. Cô thật muốn cho tên khốn ấy một quả đấm vào giữa mặt.

—★—

Birgit nấp sau tấm rèm che, nhìn ra ngoài phố. Nhìn hai vai vợ còng xuống, Karl-Erik có thể nhận thấy sự căng thẳng của bà. Bà sốt ruột đi tới đi lui kể từ khi cảnh sát gọi tới. Còn ông, lần đầu tiên sau bằng ấy năm, lại cảm thấy vô cùng bình tĩnh. Ông định sẽ nói hết với cảnh sát, nếu anh ta biết cách đặt câu hỏi.

Những bí mật đã thiêu đốt ông suốt ngần ấy năm trời. Trên một khía cạnh nào đó, với Birgit thì có vẻ dễ dàng hơn. Cách giải quyết tình huống của bà chính là chối bỏ, coi như chuyện đó chưa hề xảy ra. Bà từ chối nhắc đến nó và tiếp tục sống như chưa từng xảy ra chuyện gì. Nhưng nó đã xảy ra. Không một ngày nào trôi qua mà ông không nghĩ tới nó với gánh nặng mỗi lúc một tăng. Ông biết nếu nhìn từ bên ngoài thì có vẻ như Birgit là người mạnh mẽ hơn. Trong các sự kiện xã hội, bà luôn tỏa sáng như một ngôi sao, trong khi ông là một người buồn tẻ, vô hình bên cạnh bà. Bà dùng quần áo đẹp, trang sức đắt tiền và cách trang điểm hoàn hảo như một thứ áo giáp.

Mỗi khi về nhà sau một buổi tối hăm hở, hào nhoáng, bà dường như lại cởi bỏ tấm áo giáp đó và trở lại là một thứ vô nghĩa. Chỉ còn lại một đứa trẻ run rẩy, bất an, bám lấy ông để được che chở. Trong suốt cuộc hôn nhân của họ, ông luôn bị giằng xé giữa những cảm xúc rất mâu thuẫn về vợ mình. Sắc đẹp và sự mỏng manh của bà làm trỗi dậy sự dịu dàng và bản năng bảo vệ của người đàn ông. Nhưng sự thiếu dũng khí khi phải đối mặt với những khó khăn của cuộc sống đôi khi khiến ông muốn phát điên. Điều khiến ông bực bội nhất chính là bà không hề ngốc nhưng lại tiếp thu một nền giáo dục quy định bằng mọi giá không được để lộ ra rằng một người phụ nữ thì cũng có trí óc. Thay vào đó, phải tập trung mọi sức lực vào việc làm đẹp và trở nên vô dụng. Và làm vui lòng người khác. Khi bọn mới kết hôn, ông chẳng thấy những chuyện đó có gì kỳ lạ, vì đó là tính cách chung của thời đại. Nhưng thời đại đã thay đổi, cùng với những đòi hỏi mới đối với đàn ông và đàn bà. Ông đã thích ứng được nhưng vợ ông thì không. Nên ngày hôm nay sẽ là một ngày vô cũng khó khăn đối với bà ấy. Karl-Erik biết rằng sâu trong lòng vợ ông hoàn toàn biết dự định của ông. Đó là lý do tại sao bà cứ đi tới đi lui trong phòng suốt hai tiếng đồng hồ vừa qua. Nhưng ông cũng biết rằng bà sẽ không để ông phơi bày mọi bí mật của gia đình ra ngoài ánh sáng mà không làm gì.

“Vì sao Henrik cũng phải tới?” Birgit quay về phía ông, hai tay vặn vẹo vẻ lo lắng.

“Cảnh sát muốn nói chuyện với gia đình, Henrik cũng là người nhà, không phải ư?”

“Đúng thế, nhưng cũng không cần để nó dính vào chuyện này. Cảnh sát chắc chỉ hỏi mấy câu chung chung. Chúng ta có thực sự cần phải lôi nó tới tận đây chỉ vì thế không? Không, tôi nghĩ là không cần thiết.”

Giọng bà lên xuống, tuy không hỏi mà lại giống như đang chất vấn. Ông hiểu bà quá rõ.

“Anh ta đến rồi.”

Birgit nhanh chóng rời khỏi cửa sổ. Phải mất một lúc mới thấy tiếng chuông cửa reo lên. Karl-Erik hít một hơi thật sâu rồi đi mở cửa trong khi Birgit rút vào phòng khách nơi Henrik đang ngồi trên ghế sofa, đắm chìm trong suy nghĩ của riêng mình.

“Xin chào, Patrik Hedström.”

“Karl-Erik Carlgren.”

Họ lịch sự bắt tay nhau. Karl-Erik đoán anh chàng cảnh sát chắc cùng độ tuổi với Alex. Gần đây ông vẫn hay làm thế, nghĩ về người khác trong mối liên tưởng với Alex.

“Mời vào. Chúng ta có thể nói chuyện trong phòng khách.”

Patrik có vẻ hơi giật mình khi nhìn thấy Henrik nhưng mau chóng trấn tĩnh lại và lịch sự chào hỏi Birgit cùng Henrik. Tất cả bọn họ ngồi xuống quanh bàn uống nước và sau một hồi im lặng đầy khẩn trương, Patrik cuối cùng cũng lên tiếng.

“Tôi biết là chuyện này có chút đường đột nên rất cảm kích khi gia đình đã đồng ý gặp tôi gấp gáp như vậy.”

“Chúng tôi cũng băn khoăn không biết đã xảy ra chuyện gì. Các anh có phát hiện gì mới không? Chúng tôi lâu rồi không nhận được tin tức gì…”

Birgit nói tới đây thì dừng lại nhìn Patrik đầy hy vọng.

“Tôi chỉ có thể nói rằng việc điều tra tiến triển chậm nhưng chắc chắn. Việc Anders Nilsson bị sát hại cũng đã thay đổi cục diện vụ án.”

“Hẳn rồi, nhưng các anh đã xác định được thủ phạm giết hại Anders và con gái tôi có phải cùng là một người hay chưa?”

Giọng Birgit có vẻ mất tự chủ tới mức Karl-Erik phải kiềm chế lắm mới không nhoài người sang, cầm tay vợ vỗ về. Hôm nay ông sẽ cương quyết không sắm vai người bảo hộ mà ông vốn đã diễn tới thành thục.

Trong giây lát ông để suy nghĩ của mình thoát ra khỏi hiện tại trôi dạt về một quá khứ tưởng chừng như đã quá xa vời. Ông nhìn quanh căn phòng với một vẻ gần như chán ghét. Họ đã rơi vào cám dỗ quá dễ dàng, có thể nói đây chính là những đồng tiền dính đầy máu. Ngôi nhà ở Kalltorp này vượt xa mọi giấc mơ của họ hồi ấy, khi lũ trẻ còn nhỏ. Rộng rãi, thoáng mát với những đường nét kiến trúc tinh tế của những năm ba mươi còn được lưu giữ kết hợp cùng những đồ nội thất mới, hiện đại. Với mức lương hiện nay của ông ở Göteborg, họ cuối cùng cũng đủ khả năng chi trả cho tất cả những thứ này.

Căn phòng họ đang ngồi là căn phòng rộng rãi nhất. Trang trí hơi quá cầu kỳ so với gu của ông nhưng Birgit vốn là một người say mê những đồ vật bóng bẩy, lấp lánh và mới mẻ. Cứ được khoảng ba năm là bà lại than phiền rằng mọi thứ trông thật cũ kỹ. Bà sẽ nói với ông rằng bà đã chán ngấy mọi đồ đạc trong nhà và sau vài tuần lễ đối diện với vẻ van nài của bà thì ông lại nhượng bộ mở hầu bao. Cứ như thể bà luôn có khả năng tái tạo bản thân và cuộc sống của mình bằng cách thay đổi hết các đồ vật xung quanh. Hiện giờ bà đang mê mẫn phong cách Laura Ashley* nên căn phòng tràn ngập những trang trí họa tiết hình hoa hồng và diêm dúa, nữ tính tới ngạt thở. Karl-Erik biết ông không thể nào chịu đựng nổi chúng quá một năm. Nếu may mắn thì lần trang trí lần sau có thể Birgit sẽ chọn mấy chiếc ghế bành kiểu Chesterfield với những mô tiếp săn bắn kiểu Anh. Ngược lại, nếu không may mắn, e là sẽ phải chịu đựng một kiểu trang trí toàn những vằn hổ báo.

Patrik hắng giọng. “Tôi có một số câu hỏi và hy vọng mọi người sẽ giúp tôi làm sáng tỏ vấn đề.”

Không ai nói gì nên anh tiếp tục. “Ông bà có biết tại sao Alex và Anders Nilsson lại quen nhau không?”

Henrik có vẻ sốc còn Karl-Erik nói không biết. Ông thấy đau lòng khi nói vậy nhưng chẳng còn cách nào khác.

“Hai đứa học cùng lớp nhưng đã là từ lâu lắm rồi.”

Birgit ngồi không yên, vặn vẹo trên ghế vẻ lo lắng bên cạnh anh con rể.

Henrik nói: “Tôi nhận ra tên anh ta. Không phải Alex có bán một số tranh của anh ta tại phòng tranh của cô ấy sao?”

Patrik gật đầu. Henrik nói tiếp: “Tôi không biết nhưng có phải là mối liên hệ giữa họ còn sâu xa hơn thế chăng? Vì lý do gì mà có người muốn sát hại cả vợ tôi và một trong những họa sĩ của cô ấy?”

“Đó chính là điều mà tôi đang cổ gắng tìm ra.” Patrik dừng lại trước khi nói tiếp. “Đáng tiếc là chúng tôi phải xác nhận rằng hai người họ còn có quan hệ thân mật.”

Trong sự im lặng tiếp sau đó, Karl-Erik nhìn thấy những cảm xúc khác nhau trên khuôn mặt của hai người ngồi trước mặt ông, Birgit và Henrik. Bản thân ông chỉ có chút ngạc nhiên nhưng nhanh chóng chấp nhận sự thật đó. Điều viên cảnh sát vừa nói hẳn là đúng. Ở hoàn cảnh đó, xảy ra chuyện này cũng là tự nhiên.

Birgit lấy tay che miệng với vẻ kinh hoàng còn gương mặt của Henrik trở nên trắng bệch. Karl-Erik cũng nhận thấy Patrik chẳng thích thú gì với vai trò làm kẻ đưa tin thất thiệt.

“Không thể nào!” Luống cuống, Birgit nhìn những người khác nhưng không nhận được sự tương trợ nào. “Tại sao Alex lại có quan hệ với một kẻ như thế?” Bà nhìn Karl-Erik đầy khẩn thiết nhưng ông từ chối nhìn vào mắt bà, thay vào đó, ông ngó trừng trừng xuống hai bàn tay mình. Henrik không nói gì cả, như thể đã hoàn toàn suy sụp.

“Ông bà có biết họ vẫn giữ liên lạc sau khi gia đình ông bà chuyển đi hay không?” Patrik hỏi.

“Không, tôi không nghĩ thế. Alex đã cắt đứt mọi mối quan hệ khi chúng tôi rời khỏi Fjällbacka.”

Lại là Birgit trả lời trong khi Henrik và Karl-Erik vẫn im lặng.

“Tôi muốn hỏi thêm một chuyện nữa. Các vị chuyển đến Göteborg vào giữa học kỳ năm lớp sáu của Alex. Vì sao vậy? Việc chuyển nhà có vẻ rất đột ngột.”

“Chẳng có gì lạ cả. Karl-Erik nhận được một công việc tuyệt vời và đương nhiên không thể từ chối. Ông ấy phải quyết định ngay lập tức vì họ cần người gấp. Đó là lý do mọi chuyện đều xảy ra rất nhanh.”

“Nhưng hai người đã không đăng ký cho Alex vào bất kỳ trường học nào ở Göteborg, đúng không? Thay vào đó, cô ấy học nội trú ở Thụy Sĩ? Vì sao?”

“Với công việc mới của Karl-Erik, tình hình tài chính của chúng tôi được cải thiện đáng kể và chúng tôi muốn cho Alex cơ hội phát triển tốt nhất,” Birgit nói.

“Ở Göteborg không có trường nào tốt sao?” Patrik không hề nao núng, vẫn kiên trì với các câu hỏi của mình. Karl-Erik không khỏi ngưỡng mộ thái độ hết mình đó. Ông cũng từng có một thời trẻ trung và nhiệt tình như thế. Giờ đây ông chỉ cảm thấy mệt mỏi

Birgit nói tiếp: “Dĩ nhiên là có nhưng cứ nghĩ mà xem con bé sẽ có một mạng lưới quan hệ xã hội như thế nào nếu gia nhập trường nội trú danh giá? Ở trường đó thậm chí còn có một số hoàng tử theo học. Thử nghĩ xem, những mối quan hệ như thế sẽ giúp ích thế nào cho con bé?”

“Ông bà có cùng sang Thụy Sĩ với Alex không?”

“Dĩ nhiên là chúng tôi có tới đó để đăng ký nhập học cho con bé, nếu đó là đều cậu muốn hỏi.”

“Không, không hẳn thế.” Patrik nhìn xuống quyển sổ ghi chép để xác định lại.

“Alexandra rời khỏi đây vào giữa học kỳ mùa xuân năm 1977. Cô ấy đang ký vào trường nội trú ở Thụy Sĩ vào năm 1978 và đó cũng là lúc Karl-Erik bắt đầu công việc tại Göteborg. Câu hỏi của tôi là, ông bà đã ở đâu trong quãng thời gian một năm đó?”

Henrik khẽ cau mày, hết nhìn Birgit tới Karl-Erik. Cả hai đều tránh ánh mắt của anh. Karl-Erik cảm thấy một cơn đau xé đang lan dần tới tìm và càng lúc càng trở nên dữ dội.

“Tôi không hiểu anh muốn ám chỉ điều gì sau tất cả những câu hỏi này. Việc chúng tôi chuyển đi vào năm 1977 hay 1978 thì có ảnh hưởng gì? Con gái chúng tôi đã chết mà anh lại tới đây hỏi những câu như thể chúng tôi mới là kẻ có tội. Hẳn đã có nhầm lẫn ở khâu nào đó. Chắc ai đó đã ghi sai ngày nhập trường. Chúng tôi chuyển khỏi đây vào năm 1977 và đó là khi Alex bắt đầu theo học nội trú ở Thụy Sĩ.”

Patrik áy náy nhìn Birgit khi thấy bà càng lúc càng khó chịu. “Tôi xin lỗi nếu đã gây cho bà những chuyện không vui, bà Carlgren. Tôi biết ông bà đang trải qua một giai đoạn khó khăn nhưng tôi vẫn phải hỏi những câu đó. Những thông tin của chúng tôi là hoàn toàn chính xác. Hai ông bà chưa hề chuyển tới đây trước mùa xuân năm 1978 và trong suốt một năm trước đó không có bất cứ bằng chứng nào cho thấy ông bà ở đâu đó tại Thụy Điển. Vậy tôi xin hỏi lại một lần nữa: ông bà đã ở đâu trong vòng một năm từ mùa xuân 1977 tới mùa xuân 1978?”

Birgit quay sang nhìn Karl-Erik với vẻ tuyệt vọng nhưng ông biết mình không thể tiếp tay cho vợ như bà mong muốn. Về lâu dài ông tin mình làm thế là muốn tốt cho gia đình, nhưng ngay lúc này đây, nó sẽ là một đòn phũ phàng đối với bà. Ông nhìn bà với vẻ buồn bã rồi hắng giọng.

“Chúng tôi đã ở Thụy Sĩ. Alex, tôi và vợ tôi.”

“Im ngay Karl-Erik, đừng nói thêm một lời nào nữa!”

Ông phớt lờ vợ. “Chúng tôi ở Thụy Sĩ vì con gái mười tuổi của chúng tôi có thai.”

Ông không ngạc nhiên khi thấy Patrik sửng sốt tới đánh rơi cả bút. Cho dù viên cảnh sát có nghi ngờ hay đoán định gì thì việc tận tai nghe thấy vẫn khác. Ai có thể hình dung ra một chuyện kinh khủng như thế chứ?

“Con gái tôi đã bị lạm dụng và bị cưỡng hiếp. Nó mới chỉ là một đứa bé.”

Giọng ông trở nên nghẹn ngào, tay ông siết thành nắm đấm chặn trước miệng để khỏi bật ra thành tiếng khóc. Một lúc sau, ông mới bình tĩnh lại. Birgit không thèm nhìn ông nữa, nhưng bây giờ đã chẳng thể quay trở lại nữa rồi.

“Chúng tôi cũng nhận thấy có gì đó không ổn nhưng không biết chuyện gì. Con bé lúc nào cũng vui vẻ và bình ổn. Đến đầu năm lớp sáu, con bé bắt đầu thay đổi. Nó trở nên lặng lẽ và kiệm lời. Bạn bè nó không tới chơi nữa và thỉnh thoảng nó lại biến mất vài tiếng đồng hồ. Chúng tôi không biết con bé đi đâu. Chúng tôi không nghĩ là nghiêm trọng, vì cho rằng đây chỉ là một giai đoạn dở dở ương ương mà con bé sẽ phải trải qua. Một giai đoạn của trẻ mới lớn.”

Ông phải dừng lại hắng giọng. Cơn đau trong ngực ông vẫn không ngừng gia tăng. “Nhưng chỉ tới khi con bé mang thai tháng thứ tư thì chúng tôi mới phát hiện ra. Đáng ra chúng tôi phải thấy những dấu hiệu trước đó, nhưng ai mà tin là… Chúng tôi thật không thể tưởng tượng nổi…”

“Karl-Erik, làm ơn.” Mặt Birgit xám ngoét như một chiếc mặt nạ. Henrik có vẻ đờ đẫn như không thể tin vào những gì mình vừa nghe thấy. Ngay cả Karl-Erik khi nghe những lời từ chính miệng mình nói ra cũng thấy chối tai. Những từ này đã gặm nhấm ông suốt hai mươi lăm năm qua. Vì Birgit ông đã cố nhịn không nói ra, nhưng giờ từ ngữ cứ tự tuôn trào mà ông không thể nào kiểm soát được.

“Chúng tôi không thể tính tới chuyện nạo thai. Trong hoàn cảnh đó. Chúng tôi cũng không để cho Alex bất cứ cơ hội được lựa chọn nào. Chúng tôi chưa bao giờ hỏi con bé về cảm giác cũng như mong muốn của nó. Thay vào đó, chúng tôi giấu nhẹm mọi chuyện. Chúng tôi đưa con bé ra khỏi trường, ra nước ngoài và ở đó cho tới khi Alex sinh con. Không ai được phép biết chuyện ấy. Vì họ sẽ đồn đại độc ác tới đâu chứ?”

Ông có thể cảm thấy nỗi cay đắng trong câu nói cuối cùng của mình. Chẳng có gì quan trọng hơn những tin đồn. Họ đã đặt nó trước cả hạnh phúc và lợi ích của con mình. Ông thậm chí không thể đổ hết lỗi cho Birgit vì bà là người đã chọn phương án này. Bà không phải là người quan tâm nhiều nhất tới thể diện. Sau nhiều năm tự kiểm điểm, ông bắt buộc phải thừa nhận rằng ông để bà xử sự như vậy chính là vì nó phù hợp với những mong muốn của ông về việc gìn giữ một vẻ ngoài hoàn hảo. Ông cảm thấy dịch vị dạ dày như sắp trào lên cổ họng. Ông cố nuốt chúng xuống và nói tiếp.

“Sau khi Alex sinh con, chúng tôi đãng ký cho con bé vào học trường nội trú rồi trở về Göteborg và tiếp tục cuộc sống của mình.” Mỗi từ nói ra đều chất chứa cay đắng và sự khinh bỉ đối với bản thân. Ánh mắt Birgit tràn ngập giận dữ, thậm chí là thù ghét. Bà nhìn ông chòng chọc như thể chỉ bằng sức mạnh ý chí đã có thể khiến ông câm miệng. Nhưng kể từ gây phút người ta tìm thấy thi thể Alex trong bồn tắm thì ông đã biết rằng chuyện này sớm muộn sẽ xảy ra. Rằng cảnh sát sẽ đào bới khắp nơi, lật từng viên gạch và lôi mọi thứ lẩn khuất ra ngoài ánh sáng. Họ nên tự nói ra sự thật thì hơn. Hay như lúc này đây, là ông đang tự nói ra theo cách của mình. Có lẽ ông nên làm chuyện này sớm hơn, nhưng ông cần thời gian để tích lũy can đảm. Cuộc điện thoại của Patrik Hedström chính là cú thúc cuối cùng mà ông cần.

Karl-Erik biết mình vẫn còn nhiều đều chưa nói nhưng cơn mệt mỏi đã nhanh chóng lan ra khắp người không trừ một kẽ hở nào, nên ông để Patrik là người dẫn dắt, đặt ra những câu hỏi cần thiết. Ông ngả người ra lưng ghế, túm chặt lấy hai bên thành ghế.

Henrik là người đầu tiên lên tiếng. Giọng anh không giấu được sửng sốt. “Sao bố mẹ không nói với ai? Sao Alex không nói bất cứ điều gì về chuyện này? Con biết là cô ấy có chuyện giấu con nhưng không ngờ là một chuyện như thế này.”

Karl-Erik vung hai tay lên vẻ bất lực. Ông chẳng thể nói gì với chồng Alex.

Patrik cố gắng giữ vẻ chuyên nghiệp của mình nhưng rõ ràng là anh cũng bị sốc. Anh nhặt chiếc bút đánh rơi xuống sàn lên và cố gắng tập trung vào quyển sổ ghi chép trước mặt.

“Ai là người đã tấn công Alex?Có phải là một người ở trường?”

Karl-Erik chỉ gật đầu.

“Có phải là…” Patrik do dự một lúc trước khi nói tiếp. “Có phải là Nils Lorentz không?”

“Nils Lorentz là ai?” Henrik hỏi.

Birgit trả lời anh với giọng lạnh lẽo. “Hắn là thầy giáo dạy thay ở trường. Là con trai của Nelly Lorentz.”

“Thế hiện giờ hắn đang ở đâu? Hắn hẳn phải đi tù vì những gì đã gây ra cho Alex, đúng không?” Henrik giống như đang cố gắng vật vã để hiểu được những gì Karl-Erik vừa nói.

“Anh ta đã mất tích từ hai mươi lăm năm trước,” Patrik giải thích. “Kể từ đó không còn ai nhìn thấy anh ta nữa. Tôi cũng muốn biết tại sao cảnh sát không nhận được hồ sơ báo cáo về vụ này. Tôi đã tra cứu mọi tư liệu nhưng không thấy bất kỳ đơn kiện nào nhắm vào anh ta.”

Karl-Erik nhắm mắt lại. Patrik không đặt câu hỏi như một lời buộc tội nhưng cảm giác chung quy vẫn là thế. Mỗi từ đều giống như kim châm, xuyên qua da thịt, nhắc nhở ông về cái lỗi lầm khủng khiếp mà họ đã mắc phải hai mươi lăm năm trước.

“Chúng tôi chưa bao giờ khiếu nại. Khi nhận ra Alex mang thai và nghe con bé kể lại mọi chuyện, tôi đã đùng đùng tới nhà Nelly và nói với bà ta về việc làm của con trai bà ta. Tôi đã chủ định đi báo cảnh sát và tôi cũng đã nói vậy với Nelly, nhưng…”

“Nhưng Nelly tới nói chuyện với tôi và đề nghị giải quyết chuyện này mà không cần tới sự can dự của cảnh sát.” Birgit lúc này đang ngồi thẳng đơ trên ghế bỗng lên tiếng. “Bà ấy nói rằng chẳng có lý do gì hạ nhục Alex thêm nữa với cả Fjällbacka thì thầm sau lưng con bé về chuyện đã xảy ra. Chúng tôi chỉ có thể đồng ý và quyết định rằng nếu có thể giải quyết chuyện này trong phạm vi hai gia đình thì cũng là vì lợi ích của con bé. Nelly hứa sẽ xử lý Nils một cách đích đáng.”

“Nelly cũng thu xếp một công việc hậu hĩnh cho tôi ở Göteborg,” Erik nói. “Tôi cho rằng chúng tôi cũng chẳng tốt đẹp hơn phần lớn những người khác, hoàn toàn lóa mắt trước những hứa hẹn của đồng tiền.” Karl-Erik thành thực tới phũ phàng với bản thân. Giai đoạn trốn tránh, thoái thác trách nhiệm đã qua rồi.

“Chuyện đấy chẳng có gì liên quan tới nhau. Sao ông có thể nói thế, Karl-Erik? Chúng ta chỉ nghĩ điều gì tốt nhất cho Alex mà thôi. Con bé sẽ bị ảnh hưởng thế nào nếu tất cả mọi người đều biết chuyện đó? Chúng ta đã cho con bé một cơ hội để tiến lên phía trước.”

“Không đúng, Birgit, là chúng ta cho mình cơ hội tiến lên phía trước. Còn Alex đã mất đi cơ hội đó khi chúng ta quyết định giấu nhẹm mọi việc.”

Hai người họ trừng trừng nhìn nhau qua bàn và Karl-Erik hiểu rằng có những chuyện sẽ không bao giờ hàn gắn được nữa. Bà ấy sẽ không bao giờ hiểu được điều đó.

“Thế còn đứa bé? Chuyện gì đã xảy ra với đứa trẻ? Được cho làm con nuôi à?” Patrik hỏi.

Đáp lại anh chỉ là sự im lặng. Rồi một giọng nói vang lên từ ngưỡng cửa.

“Không, đứa bé không bị cho đi làm con nuôi. Họ quyết định giữ lại đứa bé và lừa dối nó về thân phận thật của mình.”

“Julia! Ta nghĩ là con đang ở trong phòng cơ mà!”

Karl-Erik quay lại và nhìn thấy Julia đang đúng trên ngưỡng cửa. Con bé hẳn đã nhón chân đi xuống cầu thang vì không ai phát hiện ra. Ông không biết con bé đã đứng đó được bao lâu rồi.

Julia đứng dựa lưng vào thành cửa, hai tay khoanh trước ngực. Cả người con bé toát lên vẻ khó chịu. Dù đã bốn giờ chiều nhưng con bé vẫn chưa thèm thay bộ đồ ngủ. Trông nói như đã cả tuần chưa tắm. Karl-Erik vừa thương tiếc lại vừa cảm thấy một nỗi đau xót nhói lên trong ngực. Con vịt nhỏ bé, xấu xí và đáng thương của ông.

“Nếu không nhờ có Nelly, hay tôi nên gọi là bà nội, thì các người sẽ không bao giờ nói ra, đúng không? Các người sẽ chẳng bao giờ bận tâm nói với tôi rằng mẹ tôi không phải là mẹ mà là bà ngoại tôi còn bố tôi thì không phải là bố mà là ông ngoại tôi và nhất là chị gái tôi không phải là chị gái mà là mẹ tôi. Này, anh nghe thế có hiểu hết không đấy? Có cần tôi nhắc lại lần nữa không? Nó hơi phức tạp một chút.”

Câu bình luận đầy vẻ nhạo báng cuối cùng của Julia là dành cho Patrik. Con bé gần như có vẻ thích thú khi nhìn thấy người khác bối rối.

“Biến thái, đúng không?” Julia nhỏ giọng, thì thào như đang đóng kịch, rồi đặt tay lên môi: “Nhưng, suỵt, anh không được nói với bất kỳ ai đâu đấy nhé. Bởi vì mọi người sẽ nói gì hả? Tưởng tượng xem người ta sẽ đồn đại gì xung quanh gia đình Carlgren tốt đẹp.”

Cô cao giọng trở lại. “Nhưng ơn Chúa, Nelly đã nói hết với tôi mùa hè năm ngoái khi tôi tới làm việc ở nhà máy. Bà ấy nói rằng tôi có quyền được biết thân phận thật của mình. Cả đời tôi đã luôn phải chịu cảm giác của một kẻ ngoài cuộc, rằng tôi không thuộc về cái gia đình này. Có một người chị như Alex dĩ nhiên chẳng dễ dàng gì nhưng tôi vẫn luôn ngưỡng mộ chị ấy. Chị ấy là tất cả những gì tôi không có và muốn trở thành. Tôi thấy cái cách hai người nhìn chị ấy và cái cách hai người nhìn tôi. Và Alex có vẻ như chẳng bao giờ muốn quan tâm đến tôi, điều đó chỉ càng khiến tôi thêm tôn thờ chị ấy. Giờ thì tôi đã hiểu tại sao. Chị ấy hẳn không chịu đựng nổi việc nhìn thấy tôi. Đứa con hoang sinh ra từ một vụ cưỡng hiếp. Và hai người đã bắt chị ấy phải nhớ lại chuyện đó mỗi khi nhìn thấy tôi. Các người thực sự không nhận ra chuyện đó tàn nhẫn tới mức nào ư?”

Karl-Erik giật bắn mình cứ như vừa bị vả vào mặt. Con bé nói đúng. Thật quá mức nhẫn tâm khi giữ lại Julia và buộc Alex sống đi sống lại cái sự kiện khủng khiếp đã chấm dứt thời thơ ấu của mình. Mà cũng không công bằng đối với Julia. Ông và Birgit đã không cách nào quên được chuyện con bé đã được thụ thai trong hoàn cảnh nào. Và Julia rõ ràng đã cảm nhận được điều đó ngay từ đầu, vì con bé vừa chào đời đã gào khóc dữ dội. Và tiếp tục gào thét, chống chọi với cả thế giới suốt thời thơ ấu của mình. Julia không bỏ lỡ bất kỳ cơ hội phá phách, nổi loạn nào mà ông và Birgit thì đã quá lớn tuổi để có thể theo sát một đứa nhỏ, nhất là một đứa trẻ nhiều đòi hỏi như Julia.

Trên một khía cạnh nào đó, đó chính là một sự trút bỏ gánh nặng khi con bé, vào mùa hè năm trước, một hôm trở về nhà, đối mặt với họ trong cơn giận dữ tột cùng. Cũng không ngạc nhiên khi Nelly tự cho mình cái quyền nói rõ chân tướng sự việc với Julia. Nelly là một mụ già khốn kiếp, chỉ biết nghĩ tới lợi ích của riêng mình. Nếu việc tiết lộ sự thật cho Julia khiến bà ta có lời thì bà ta nhất định sẽ làm. Đó cũng là lý do tại sao họ đã cố ngăn cản Julia nhận công việc làm thêm mùa hè ở nhà máy nhưng Julia vẫn khăng khăng, cố chấp như thường lệ.

Khi Nelly nói cho Julia biết sự thật, cả một thế giới mới đã mở ra trước mắt con bé. Lần đầu tiên trên đời có một người thật sự quan tâm tới con bé. Bất chấp việc bà ta đã có một người con như Jan, mối quan hệ máu mủ vẫn luôn là thứ quan trọng nhất đối với bà ta. Bà ta cũng nói với Julia là sẽ để lại cho con bé toàn bộ gia tài, Karl-Erik hiểu rằng điều này đã ảnh hưởng sâu sắc tới Julia. Con bé đang nổi giận với những người mà nói vẫn tưởng là bố mẹ mình và một mực tôn thờ Nelly với cùng cường độ mãnh liệt như dành cho Alex trước đây. Tất cả những chuyện đó thoáng hiện lên trong đầu ông khi nhìn thấy Julia đứng trên ngưỡng cửa giữa thứ ánh sáng nhàn nhạt hắt lên từ lò sưởi. Đúng là có nhiều lúc nhìn Julia khiến họ nhớ tới cái quá khứ kinh hoàng kia nhưng chạnh lòng nhất là con bé không bao giờ nhận ra rằng họ cũng yêu thương nó biết bao. Con bé luôn tỏ ra xa lạ trong căn nhà của họ, còn họ thì luôn bối rối và bất lực trước Julia. Bây giờ vẫn vậy. Nhưng có lẽ họ buộc phải chấp nhận thực tế rằng họ đã thực sự đánh mất Julia. Con bé vẫn hiện diện ở đây, nhưng chỉ là về mặt thể xác, còn linh hồn nó đã rời bỏ họ.

Henrik trông như đang ngạt thở. Cậu ấy gục đầu xuống và nhắm mắt lại. Trong giây lát Karl-Erik tự hỏi không biết yêu cầu Henrik tới đây là đúng hay sai. Ông đã mời cậu ấy đến vì nghĩ rằng Henrik xứng đáng được biết sự thật. Cậu ấy cũng rất yêu Alex.

“Nhưng, Julia…” Birgit lúng túng dang hai tay về phía Julia vẻ van nài. Nhưng Julia quay lưng lại vẻ khinh bỉ rồi ầm ầm bỏ lên gác.

“Tôi rất lấy làm tiếc,” Patrik giơ hai tay lên vẻ bất lực. “Tôi biết là có chuyện gì đó không đúng nhưng không bao giờ có thể tưởng tượng ra kết cục này. Tôi không biết phải nói gì nữa.”

“Chúng tôi cũng chẳng biết phải nói gì. Nhất là giữa tôi và vợ.” Karl-Erik nhìn sang vợ.

“Vụ lạm dụng đó kéo dài trong bao lâu? Ông bà có biết không?”

“Chúng tôi cũng không rõ lắm. Alex không muốn nói về chuyện đó. Có thể vài tháng mà cũng có thể là một năm.” Ông do dự trước khi nói tiếp. “Và tôi cũng xin trả lời câu hỏi trước của anh.”

“Ông muốn nói câu hỏi nào cơ?”

“Câu hỏi về mối liên hệ giữa Alex và Anders. Anders cũng là một nạn nhân. Một ngày trước khi rời đi, chúng tôi tìm thấy một mẩu giấy Alex viết cho Anders. Có vẻ như thằng bé cũng bị Nils cưỡng bức. Rõ ràng là hai đứa bằng cách nào đó đã nhận thấy hay phát hiện ra việc cùng chung cảnh ngộ, bằng cách nào thì tôi không biết. Chúng tìm tới nhau để an ủi. Tôi mang tờ giấy đó tới nhà Vera Nilsson. Tôi kể cho bà ấy chuyện đã xảy ra với Alex và có lẽ cũng đã xảy ra với Anders. Đó là một trong những việc khó khăn nhất mà tôi từng làm. Anders là… hay từng là,” ông nhanh chóng chữa lại, “tất cả của bà ấy. Tôi đã hy vọng Vera có thể làm cái việc mà chúng tôi không đủ dũng khí để làm, đó là tố cáo Nils với cảnh sát, khiến hắn phải chịu trách nhiệm vì những gì đã gây ra. Nhưng chẳng có động tĩnh gì nên tôi cho rằng Vera chắc cũng yếu đuối như chúng tôi.”

Ông bắt đầu đấm tay lên ngực mà không nhận thức được hành động của mình. Cơn đau càng lúc càng trở nên dữ dội. Chúng bắt đầu lan tới tận đầu ngón tay.

“Ông bà không hề biết Nils đã đi đâu sao?”

“Không, không hề. Nhưng dù có đi đâu chăng nữa thì tôi cũng mong cho hắn phải chịu đau khổ, cái con quỷ đội lốt người ấy.”

Cơn đau lúc này giống như một cơn chấn động. Những ngón tay ông bắt đầu mất hết cảm giác và ông biết chuyện gì đó đã xảy ra. Vô cùng nghiêm trọng. Cơn đau khiến thị giác của ông rối loại nhưng ông vẫn có thể nhìn thấy miệng người khác chuyển động và tất cả hình ảnh, âm thanh đều diễn ra như một thước phim chậm. Lúc đầu, ông cảm thấy sung sướng vì vẻ giận dữ đã biến mất khỏi đôi mắt Birgit nhưng rồi ông lại thấy nó được thay thế bởi sự lo lắng, và ông hiểu rằng đã xảy ra chuyện gì đó vô cùng nghiêm trọng. Và rồi bóng tối tràn tới.

—★—

Sau chuyến cấp cứu hết hồn tới bệnh viện Sahlgrenska, Patrik ngồi vào xe mình và cố lấy lại hơi. Anh đã lái theo xe cấp cứu và ở đó với Birgit và Henrik cho tới khi họ nhận được thông báo rằng cơn đau tim của Karl-Erik dù nghiêm trọng nhưng đã qua được giai đoạn nguy hiểm nhất. Hôm nay là một trong những ngày phiền não nhất đời anh. Anh đã chứng kiến nhiều thảm kịch trong thời gian làm cảnh sát nhưng chưa bao giờ nghe một câu chuyện đau lòng như Karl-Erik vừa kể.

Mặc dù biết đó là sự thật nhưng anh vẫn thấy thật khó chấp nhận những gì vừa nghe được. Làm sao người ta có thể tiếp tục sống bình thường sau những gì Alex đã phải chịu đựng? Cô ấy không chỉ bị lạm dụng, tước đoạt mất tuổi thơ mà trong suốt quãng đời còn lại luôn buột phải đối diện với sự nhắc nhở về thảm kịch kinh hoàng đó. Cho dù cố gắng thế nào đi nữa, Patrik cũng không thể hiểu nổi hành động của bố mẹ Alex. Anh không thể tưởng tượng nổi mình có thể để thủ phạm chạy thoát nếu con mình là nạn nhân hay có thể giấu nhẹm đi một chuyện như thế. Việc giữ thế diện làm sao quan trọng bằng sức khỏe và cuộc đời sau này của một đứa trẻ? Anh không tài nào cắt nghĩa nổi việc này.

Anh ngồi trong xe, tựa đầu lên thành ghế, hai mắt nhắm lại. Hoàng hôn đã buông xuống, đã tới lúc phải về nhà nhưng anh lại cảm thấy mệt mỏi và hờ hững. Ngay cả khi nghĩ rằng Erica đang đợi ở nhà cũng không thuyết phục được anh. Thái độ tích cực đối với cuộc sống tưởng như đã ăn sâu trong đầu anh đang lung lay tới tận gốc. Lần đầu tiên trong đời, anh cảm thấy nghi ngờ về việc cái thiện thực sự vượt xa cái ác trong mỗi con người.

Ở một khía cạnh khác, anh lại cảm thấy có lỗi. Mặc dù câu chuyện chấn động kia đã tác động tới anh sâu sắc, nhưng anh không tránh được việc có cảm giác mãn nguyện về mặt chuyên môn khi những mảnh ghép của câu chuyện đó lần lượt hiện ra đúng chỗ. Rất nhiều câu hỏi đã có lời giải đáp trong buổi chiều hôm nay. Thế nhưng, lúc này đầy anh lại cảm thấy thất vọng hơn cả lúc trước. Dù đã tìm được lời giải thích cho rất nhiều chuyện nhưng liên quan tới việc ai là thủ phạm giết hại Alex và Anders thì vẫn giống như đang dò dẫm trong bóng tối. Có lẽ động cơ giết người có liên quan tới chuyện trong quá khứ, cũng có thể là không, mặc dù hơi khó tin. Nhưng nói gì đi nữa thì đây cũng chính là mối liên hệ duy nhất giữa Alex và Anders mà anh tìm được.

Nhưng tại sao lại có người muốn giết họ vì một vụ lạm dụng đã xảy ra hơn hai mươi lăm năm trước? Nếu đó là nguyên nhân tại sao phải đợi tới tận lúc này? Điều gì đánh thức một sự việc đã ngủ quên suốt hai mươi lăm năm và dẫn tới kết quả là hai mạng người trong vòng một vài tuần lễ? Và bực nhất là lúc này Patrik không còn biết phải tiếp tục điều tra theo hướng nào nữa.

Buổi chiều hôm nay là một bước đột phá đối với quá trình điều tra, đồng thời lại dẫn anh đi vào ngõ cụt. Patrik lục lại trong đầu những gì anh đã nghe được và đã làm trong ngày hôm nay và đột ngột nhận ra rằng vốn còn một manh mối chủ chốt nữa trong xe. Một thứ mà anh đã quên bẵng sau cú sốc ở nhà Carlgren và những biến cố xảy ra sau vụ nhồi máu cơ tim của Karl-Erik. Một lần nữa anh tìm lại được cảm giác hào hứng của buổi sáng nay. Anh cũng nhận ra mình có một cơ hội tuyệt vời để phát triển manh mối này. Nếu may mắn.

Anh mở điện thoại, phớt lờ ba cuộc gọi nhỡ rồi gọi tổng đài xin số điện thoại của bệnh viện Sahlgrenska và yêu cầu họ nối máy tới đó.

“Bệnh viện Sahlgrenska nghe đây!”

“Vâng, xin chào, tôi là Patrik Hedström. Không biết bệnh viện mình có ai tên là Robert Ek làm việc tại bộ phận pháp y không nhỉ?”

“Xin đợi một lát để tôi kiểm tra.”

Patrik nín thở chờ đợi. Robert là một bạn học cũ ở trường cảnh sát chuyên về lĩnh vực kỹ thuật pháp y. Họ giao du với nhau suốt thời sinh viên nhưng sau đó thì mất liên lạc. Patrik nghe đồn Robert đang làm việc tại bệnh viện Sahlgrenska và thầm mong tin đó là chính xác.

“Xem nào, đúng vậy, chúng tôi có một người tên là Robert Ek làm việc ở đây. Ông có muốn tôi nối máy không?”

Patrik thầm sung sướng trong lòng. “Vâng, làm ơn!”

Chuông điện thoại reo vài lần rồi anh nghe thấy giọng nói quen thuộc của Robert.

“Phòng pháp y, Robert Ek.”

“Xin chào, Robban, cậu có nhận ra ai đây không?”

Đầu dây bên kia im lặng mất mấy giây. Patrik không bao giờ nghĩ rằng Robert có thể nhận ra giọng nói của mình và đã định lên tiếng. Nhưng đúng lúc đó thì nghe thấy một tiếng rú lên ở đầu dây bên kia.

“Patrik Hedström, đồ khốn nhà cậu! Con mẹ nó, lâu lắm rồi ấy nhỉ! Sao tự dưng lại gọi đến thế? Ý tớ là không phải ngày nào cũng nhận được vinh dự đó.”

Robert trêu anh nhưng Patrik cũng tự cảm thấy có chút xấu hổ. Anh biết mình luôn rất kém trong việc giữ liên lạc với mọi người. Robert thì đỡ hơn nhiều nhưng rồi cũng dần dần bỏ cuộc sau khi thấy Patrik không bao giờ gọi lại. Anh lại càng hổ thẹn vì rốt cuộc anh đã gọi tới cho cậu ấy, nhưng là để nhờ vả. Nhưng đã quá muộn để rút lui.

“Tớ biết, tớ cực tệ trong việc giữ liên lạc. Nhưng giờ tớ đang ngồi trong bãi đậu xe bên ngoài Sahlgrenska và nhớ ra có ai đó đã nói cậu đang làm việc ở đây. Tớ nghĩ thử kiểm tra xem có đúng cậu ở đây không thì ghé qua chào hỏi một câu.”

“Tất nhiên rồi, khỉ gió. Lên đây đi, đừng ngại.”

“Tớ làm sao tìm được cậu? Phòng làm việc của cậu ở đâu?”

“Bọn tớ ở dưới tầng hầm. Vào cửa chính, đi thang máy xuống dưới, rẽ phải và đi tới cuối hành lang. Ở đó có một cái cửa dẫn vào nơi làm việc của bọn tớ. Chỉ cần nhấn chuông, tớ sẽ mở cửa cho cậu. Gặp lại cậu rất vui!”

“Tớ cũng vậy. Gặp nhau trong vài phút nữa nhé!”

Patrik lại một lần nữa cảm thấy xấu hổ khi nghĩ tới việc sẽ phải lợi dụng một người bạn cũ. Mặt khác, Robert cũng từng nợ anh khá nhiều ân tình. Ở trường cảnh sát, Robert là bạn cùng phòng với anh. Robert lúc đó đã đính hôn với một cô gái tên là Susanne nhưng đồng thời lại có quan hệ thân mật với một trong những bạn học nữ cùng lớp tên là Marie, cũng đã có chồng chưa cưới. Chuyện này kéo dài gần hai năm và Patrik không thể đếm nổi số lần anh từng nói dối để cứu Robert. Anh đã cũng cấp không biết bao nhiêu chứng cớ ngoại phạm, vận hành trí tưởng tượng phong phú của mình mỗi khi Susanne gọi điện và hỏi anh có biết Robert đang ở đâu không.

Mặc dù anh không cho rằng đó là một hành vi đúng đắn lắm, kể cả đối với anh lẫn Robert, nhưng lúc đó họ còn quá trẻ và chưa trưởng thành. Thật lòng mà nói, Patrik còn cảm thấy chuyện này khá thú vị, anh thậm chí còn có chút ghen tị với Robert vì có thể cùng lúc lên giường với hai cô gái. Dĩ nhiên, mọi chuyện cuối cùng cũng vỡ lở và kết thúc với việc Robert chẳng còn cả nhà lẫn bạn gái! Nhưng vốn là một chàng trai quyến rũ bẩm sinh, Robert chẳng cần phải ngủ quá lâu trên ghế sofa của Patrik trước khi tìm được một cô bạn gái mới và chuyển tới sống với cô ta.

Ngoài việc Robert đang làm việc tại bệnh viện Sahlgrenska thì anh còn nghe nói cậu ấy đã kết hôn và có con, nhưng anh không tài nào tin được và định bụng sẽ làm rõ chuyện này khi gặp mặt.

Anh đi dọc theo hành lang dài tưởng như bất tận của bệnh viện. Mặc dù nghe có vẻ đơn giản khi Robert chỉ đường, nhưng anh cũng suýt bị lạc mất hai lần rồi mới tới được đúng chỗ. Anh nhấn chuông rồi chờ. Cánh cửa lập tức mở toang.

“Hey-y-y-y!”

Họ phấn khởi ôm chầm lấy nhau rồi lùi lại một bước để nhìn cho rõ thời gian đã thay đổi đối phương như thế nào. Patrik có thể thấy rằng thời gian đã rất ưu ái Robert và hy vọng cậu ấy cũng nghĩ như vậy về mình. Để an toàn, anh cố thóp bụng lại và ưỡn ngực ra một chút.

“Vào đi, vào đi.”

Robert dẫn anh vào trong phòng làm việc, khá chật chội dù chỉ cho một người, chưa nói gì tới hai. Patrik ngắm Robert kỹ hơn khi ngồi xuống chiếc ghế phía trước bàn làm việc của cậu. Mái tóc vàng được chải chuốt khéo léo giống như hồi trẻ và dưới chiếc áo blouse trắng, quần áo là lượt phẳng phui. Patrik vẫn luôn cho rằng nhu cầu chỉn chu của Robert chính là để cân bằng với những lộn xộn thường xuyên xảy ra trong đời sống riêng tư của mình. Anh liền chú ý tới một bức ảnh trên giá sách.

“Gia đình cậu đấy à?” Anh không giấu nổi sự ngạc nhiên trong giọng nói của mình.

Robert hãnh diện mỉm cười và lấy bức ảnh xuống.

“Ừ, đây là vợ tớ, Carina, và hai đứa nhóc, Oscar và Maja.”

“Bọn trẻ con mấy tuổi rồi?”

“Oscar hai tuổi và Maja sáu tháng.”

“Tuyệt vời. Cậu kết hôn lâu chưa?”

“Cho tới nay là được ba năm. Tớ cược là cậu không tin nổi một người như tớ có thể làm cha.”

Patrik bật cười. “Không, tớ phải thừa nhận, về chuyện này, cậu đã khiến tớ đánh cược một vố quá rủi ro đấy.”

“Thì cậu biết đấy, bọn quỷ lúc già thường đâm ra sùng tín. Thế cậu thì sao? Giờ thì cậu phải có cả một đàn con rồi ấy nhỉ.”

“Không, mọi chuyện lại không diễn ra theo chiều hướng đó. Tớ thật ra đã ly hôn. Chưa có con, hóa ra lại là may, trong bối cảnh đó.”

“Tớ rất lấy làm tiếc.”

“Cũng không quá tệ. Tớ đang trong một mối quan hệ vô cùng hứa hẹn, nên cứ chờ xem thế nào.”

“Vậy vì cớ gì mà sau bằng ấy năm cậu lại đùng đùng xuất hiện cứ như trò ảo thuật thế này?”

Patrik bối rối. Anh lại nhớ cái cảm giác lúng túng, áy náy ban nãy khi đã lâu chẳng thăm hỏi gì bạn bè, giờ lại bỗng dưng xuất hiện để nhờ vả.

“Tớ vào thành phố vì công việc và nghe nói cậu đang làm pháp y ở đây. Tớ có một vụ cần giúp đỡ và thật sự tớ không có thời gian để tiến hành theo các kênh chính thức. Phải mất nhiều tuần mơi có câu trả lời mà tớ thì không có đủ thời gian cũng như sự kiên nhẫn.”

Có vẻ như điều đó đã khơi dậy tính hiếu kỳ của Robert. Anh chắp hai bàn tay lại chờ Patrik nói tiếp.

Patrik cúi xuống lấy từ trong túi ra một mẩu giấy bọc bằng giấy bóng. Anh đưa nó cho Robert, lúc này đang giơ ra dưới ánh đèn để nhìn cho kỹ.

“Tớ lấy tờ giấy này từ một tập ghi chép tại nhà nạn nhân một vụ án mạng. Tớ thấy có những vết từ trang viết trước hằn lại, nhưng quá mờ nên chỉ lờ mờ đoán ra một phần. Ở đây, cậu hẳn có thiết bị tăng cường độ rõ của các vết hằn này, đúng không?”

“Đúng… vậy, chúng tớ đúng là có thiết bị đó.”

Câu trả lời của Robert có phần do dự trong lúc tiếp tục nghiên cứu mẩu giấy dưới ánh đèn. “Nhưng như cậu nói đấy, có những quy định khắt khe về việc xử lý các yêu cầu điều tra theo đúng trình tự. Chúng tớ có cả núi công việc đang chờ đây này.”

“Hẳn là vậy rồi, tới biết chứ. Nhưng tớ nghĩ việc này khá đơn giản và sẽ không tốn mấy thời gian. Tớ nghĩ chỉ cần nhờ cậu liếc qua một cái xem có thể khai thác được gì không thì có lẽ…”

Robert cau mày suy nghĩ về những gì Patrik vừa nói. Rồi cậu ấy nở nụ cười một cách xảo quyệt và đứng dậy.

“Được thôi, tớ nghĩ mình cũng không nên hành chính quan liêu quá. Sẽ chỉ mất và phút thôi. Đi nào.”

Anh dẫn Patrik ra khỏi căn phòng chật chội bước qua cánh cửa phòng đối diện. Căn phòng này vừa rộng vừa sáng sủa với các thiết bị vô cùng lạ mắt. Căn phòng sạch bóng đúng phong cách điển hình của bệnh viện, tường trắng, bàn làm việc dài và các ngăn tủ bằng hợp chất crom sáng loáng. Thiết bị mà Robert cần nằm trong một góc xa của căn phòng. Anh cẩn thận lấy tờ giấy ra khỏi túi ni lông rồi đặt nó lên một chiếc đĩa bằng kính. Anh ấn nút và một ánh sáng xanh nhạt xuất hiện. Những nét chữ hằn trên giấy lập tức xuất hiện một cách rõ ràng.

“Nhìn xem. Đây có phải là thứ cậu đang tìm kiếm không?”

Patrik đọc lướt nhanh nội dung văn bản. “Chính là thứ tới đang cần. Cậu có thể giữ nó vài phút cho tớ ghi lại không?”

Robert mỉm cười. “Tớ có thể làm tốt hơn thế. Với chiếc máy này tới có thể chụp lại ảnh của văn bản và cậu có thể mang nó đi.”

Patrik cười toét miệng. “Tuyệt vời! Thế thì quá hoàn hảo! Cảm ơn cậu.”

Nửa tiếng sau, Patrik rời bệnh viện với bản sao mẫu giấy lấy từ tập ghi chép của Anders. Anh thầm hứa sẽ thường xuyên liên lạc hơn nữa với Robert và hy vọng có thể giữ được lời hứa đó. Đáng tiếc là anh quá hiểu bản thân.

Anh suy nghĩ rất nhiều dọc đường về. Anh rất thích lái xe buổi tối. Sự yên lặng bao bọc lấy anh với màn đêm êm ái thỉnh thoảng bị phá vỡ bởi xe đi ngược chiều, khiến anh suy nghĩ rõ ràng hơn. Từng chút một, anh liên kết những gì đã biết với nội dung trên mẩu giấy. Lúc rẽ vào bãi đậu trước cửa tòa nhà mình sống ở Tanushede anh đã hoàn toàn chắc chắn mình vừa giải được ít nhất một trong những câu đố bấy lâu khiến anh trăn trở.

—★—

Khi bọn trẻ cuối cùng đã ngủ, hai chị em mới có cơ hội nói chuyện. Erica nhanh chóng hâm lại mấy món đồ đông lạnh vì nhìn Anna giống như đang cần nhét thứ gì đó vào bụng. Erica cũng quên mất việc ăn uống và bụng cô bắt đầu réo ầm ĩ.

Nhưng Anna gần như chỉ chọc chọc nĩa vào đĩa thức ăn. Erica lại cảm thấy một mối lo lắng quen thuộc đối với em gái mình. Giống như hồi cả hai còn nhỏ. Cô những muốn ôm em gái vào lòng, vỗ về con bé và nói rằng mọi chuyện sẽ ổn thôi, hôn lên những chỗ bị đau và làm cho chúng biến mất. Nhưng giờ họ đều đã trưởng thành và những vấn đề của Anna nghiêm trọng hơn nhiều một vết xước trên đầu gối. Đối mặt với vấn đề này, Erica cảm thấy bất lực và vô dụng. Lần đầu tiên trong đời, cô có cảm giác em gái mình giống như một người xa lạ mà cô thấy lúng túng, hay không biết làm thí nào để bắt chuyện. Nên cô im lặng chờ đợi Anna dẫn dắt. Chờ đợi một lúc lâu, cuối cùng thì Anna cũng lên tiếng.

“Erica, em không biết phải làm gì. Chuyện gì sẽ xảy ra với em và bọn trẻ? Chúng em sẽ đi đâu? Em sẽ làm gì để nuôi sống ba mẹ con em? Em đã ở nhà làm nội trợ quá lâu, tới mức không còn biết làm gì nữa.”

Erica nhìn thấy những khớp tay của Anna trắng bệch ra vì túm chặt lấy mép bàn như thể đang cố gắng làm chủ tình thế.

“Suỵt, đừng có nghĩ về chuyện đó lúc này. Mọi việc rồi sẽ được giải quyết. Em cứ từ từ suy nghĩ và có thể ở đây với bọn trẻ tới lúc nào em muốn. Đây cũng là nhà của em mà, nhớ không?”

Cô tự cho phép mình nở một nụ cười tinh quái và vui mừng khi thấy Anna đáp lại. Anna dùng mu bàn tay chùi mũi rồi gảy gảy khăn trải bàn một cách bâng quơ.

“Em chỉ không thể tha thứ cho mình đã để chuyện đó đi quá xa. Anh ta đã làm tổn thương Emma. Làm sao mà em có thể để anh ta làm tổn thương con bé chứ?”

Cô lại bắt đầu sụt sịt nhưng lần này thì dùng giấy ăn chứ không dùng tay để chùi mũi.

“Tại sao em lại để anh ta làm tổn thương Emma? Không phải là sâu trong lòng em đã biết rằng chuyện đó sớm muộn sẽ xảy ra hay sao? Có phải em đã lựa chọn nhắm mắt lại vì lợi ích của chính mình khi đang tỉnh táo?”

“Anna, nếu có một điều mà chị có thể hoàn toàn chắc chắn thì chính là em sẽ không bao giờ để bất kỳ ai làm tổn thương tới các con mình.”

Erica vươn tay qua mặt bàn cầm lấy tay Anna. Tay Anna gầy gò khủng khiếp. Xương mảnh như chim, e rằng chỉ khẽ siết mạnh thôi cũng sẽ bị gãy.

“Điều em không hiểu nổi là bất chấp những gì anh ta đã làm, một phần nào đó trong em vẫn còn yêu anh ta. Em từng yêu Lucas lâu tới mức tình yêu đó đã bắt rễ trong lòng em và trở thành một phần con người em. Cho dù anh ta có làm gì, em cũng không vứt bỏ được cái phần ấy. Em ước có thể dùng một con dao cắt nó ra khỏi mình. Em cảm thấy nó thật kinh tởm và dơ dáy.”

Cô đưa bàn tay đang run lên bần bật chạm vào ngực như để chỉ nơi cái xấu đang trú ngụ.

“Chuyện đó chẳng có gì bất thường, Anna. Em không cần phải hổ thẹn. Điều duy nhất em cần phải làm bây giờ là tập trung vào việc lấy lại những cảm xúc tốt đẹp.” Cô ngừng lại một lúc trước khi nói tiếp. “Nhưng em thực sự phải tố cáo Lucas với cảnh sát.”

“Không, Erica. Em không thể.”

Nước mắt cô bắt đầu trào xuống má và lơ lửng trên cằm trước khi rớt xuống, tạo thành những vết ướt trên khăn trải bàn.

“Không, Anna, em nhất định phải báo cảnh sát. Em không thể để anh ta thoát khỏi vụ này. Đừng nói với chị rằng em có thể sống yên ổn nếu để anh ta gần như đánh gãy tay con gái mình mà không phải gánh phịu bất kỳ hậu quả nào.”

“Không phải, mà đúng, ôi, em không biết, Erica. Em không thể suy nghĩ tỉnh táo được, giống như cả đầu óc em đang trong cơn u mê. Em không thể nghĩ về chuyện đó ngay lúc này. Có lẽ sau hẵng hay.”

“Không, Anna. Không có sau này. Sau này sẽ là quá muộn. Em phải làm chuyện đó ngay lập tức. Ngày mai, chị sẽ tới đồn cảnh sát với em và em phải làm điều đó, không chỉ vì con em mà vì chính bản thân em nữa.”

“Em không chắc là em có đủ sức mạnh để làm điều đó.”

“Chị biết là em có thể. Không giống như em và chị, Emma và Adrian có một người mẹ yêu thương chúng, một người mẹ sẵn sàng làm mọi thứ cho chúng.”

Erica không thể kiềm chế thốt ra mấy lờ chua xót đó.

Anna thở dài. “Chị phải quên chuyện đó đi, Erica. Từ lâu em đã chấp nhận việc bố là phụ huynh duy nhất của chị em mình. Em cũng không còn suy nghĩ tới nguyên nhân của chuyện đó nữa. Làm sao biết được chứ? Có thể mẹ chưa bao giờ muốn có con. Có thể chúng ta là những đứa con mà bà không muốn có. Giờ thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được nữa, và sẽ chẳng có ích gì khi cứ đào sâu vào chuyện đó. Mặc dù trong hai chúng ta thì em có lẽ là người may mắn hơn vì em còn có chị. Có lẽ em chưa bao giờ nói ra điều này với chị, nhưng em vẫn biết chị đã làm bao nhiêu việc vì em. Em biết chị quan trọng với em tới mức nào khi chúng ta trưởng thành. Nhưng chị thì chẳng có ai, Erica, chẳng có ai quan tâm tới chị ngoài mẹ. Chị không nên cảm thấy chua xót vì điều đó hãy hứa với em. Chị nghĩ là em không nhìn thấy mỗi khi chị hẹn hò, hễ mối quan hệ bắt đầu trở nên nghiêm túc là chị lại tìm cách rút lui hay sao? Chị luôn thoái lui vì sợ bị tổn thương. Chị phải học cách buông tay với quá khứ, Erica. Có vẻ như hiện nay chị đang có một mối quan hệ rất tốt. Lần này, chị không nên thoái lui nữa. Em muốn được lên chức dì.”

Cả hai cùng phá ra cười sau làn nước mắt và lần này đến lượt Erica phải dùng khăn giấy để chùi mũi. Những cảm xúc khác nhau lưu chuyển trong căn phòng khiến không khí trở nên nặng nề, nhưng cùng lúc lại giống như họ đang trải qua một quá trình gột rửa tâm hồn. Đã có quá nhiều điều chưa kịp nói, quá nhiều bụi trong các ngóc ngách, và đây chính là lúc để quét dọn chúng.

Họ nói chuyện cả đêm cho tới khi bóng tối mùa đông bắt đầu được thay thế bằng làn sương mù màu xám của buổi sáng. Lũ trẻ ngủ lâu hơn thường lệ và khi Adrian bắt đầu tuyên bố thức dậy bằng một tiếng hét chói tai, Erica nói sẽ trông lũ trẻ để Anna có thể ngủ một lát.

—★—

Tâm trạng cô nhẹ nhàng hơn bao giờ hết. Mặc dù vẫn còn giận dữ đối với chuyện vừa xảy ra với Emma, cô và Anna đã tâm sự rất nhiều về những điều họ nên nói với nhau từ lâu. Một vài sự thật không dễ chịu nhưng cần thiết và cô ngạc nhiên khi nhận ra rằng em gái cô có thể dễ dàng nhìn thấu cô như thế nào. Erica phải thừa nhận rằng cô có lẽ đã đánh giá quá thấp Anna. Cô thậm chí đã hơi kẻ cả khi suốt ngày xem em gái là một đứa trẻ to xác và vô trách nhiệm. Nhưng em gái cô không đơn giản như thế và Erica vô cùng hài lòng vì cuối cùng đã tìm thấy một Anna đích thực.

Họ cũng nói rất nhiều về Patrik và lúc này, cô vừa bế Adrian vừa bấm máy gọi cho anh. Số máy ở nhà không có ai trả lời nên cô gọi sang di động. Gọi điện thoại trong lúc bế cháu hóa ra không đơn giản như cô tưởng vì Adrian đột nhiên trở nên phấn khích trước thứ đồ chơi hay ho mà cô đang cầm trong tay và tìm mọi cách để đoạt được nói. Khi Patrik trả lời điện thoại chỉ sau một hồi chuông, mọi nỗi mệt mỏi của đêm trước đột nhiên biến sạch như có phép mầu.

“Chào em yêu!”

“Hmm, em rất thích anh gọi em như thế,” Erica nói.

“Em thế nào?”

“Cũng ổn, cảm ơn anh. Có chút khủng hoảng gia đình đang diễn ra. Em sẽ kể cho anh lúc gặp nhau. Đã xảy ra rất nhiều chuyện, em và Anna đã thức nói chuyện cả đêm. Giờ em đang trông lũ trẻ để con bé có thể ngủ một chút.”

Anh nghe thấy cô cũng đang cố nén lại một cái ngáp.

“Nghe giọng em có vẻ mệt.”

“Em mệt thật ấy chứ. Muốn xỉu tới nơi. Nhưng Anna còn cần ngủ hơn cả em nên em phải thức thêm vài tiếng nữa. Hai đứa còn bé quá không để tự chơi một mình được.”

Adrian cũng bi bô đồng tình.

Patrik đưa ra một quyết định chớp nhoáng. “Có một giải pháp khác nữa.”

“Ôi thế á, biện pháp gì cơ? Buộc chúng vào lan can ư?” Erica phá ra cười.

“Anh đến trông cháu cho em.”

Erica phì một tiếng đầy vẻ hoài nghi. “Anh á? Trông trẻ á?”

Anh liền giả vờ tỏ vẻ phật ý: “Em định ám chỉ anh không đủ đàn ông để làm việc đó hả? Nếu anh có thể một tay dễ dàng hạ gục hai tên cướp thì dĩ nhiên là anh cũng có thể dễ dàng xử lý hai nhân vật bé tí kia. Hay là em không tin anh?”

Anh dừng lại ra vẻ hăm dọa và nghe thấy Erica cười sằng sặc ở đầu dây bên kia.

“Thôi được rồi, anh có thể làm được, làm được. Nhưng em cảnh cáo anh trước, hai đứa này quậy dữ lắm đấy. Anh chắc là mình đuổi theo được chứ, ý em nói là ở tuổi anh mà chạy theo bọn nhóc…?”

“Anh sẽ cố gắng. Để phòng bị, anh sẽ mang theo thuốc trợ tim.”

“Thôi được rồi, em đồng ý. Khi nào anh tới?”

“Anh tới ngay đây. Thật ra anh đang trên đường tới Fjällbacka vì có chút công chuyện và vừa đi qua chỗ sân gôn. Hẹn em năm phút nữa nhé!”

Cô đứng chờ trên ngưỡng cửa lúc anh bước ra khỏi xe. Trên tay cô là một cậu bé hai má bầu bĩnh, hai tay vung vẩy. Trốn sau lưng cô là một bé gái đang ngậm ngón tay cái, cánh tay còn lại đang bị bó bột lủng lẳng. Anh không biết nguyên nhân sự xuất hiện đường đột của Anna nhưng với những gì Erica kể cho anh về ông em rể cùng với cánh tay bó bột của bé gái, anh không thể nào không nghi ngờ về một kịch bản tồi tệ. Anh không hỏi. Erica sẽ tự kể với anh khi có cơ hội.

Patrik chào ba người họ. Erica nhận được một nụ hôn, Adrian một cái vuốt má và rồi anh ngồi xổm xuống chào Emma đang mang vẻ mặt rầu rĩ. Anh cầm lấy tay cô bé và nói: “Xin chào, chú tên là Patrik. Còn cháu tên là gì?”

Một lúc sau con bé mới trả lời: “Emma.” Rồi lại đút ngón tay cái vào miệng.

“Con bé sẽ sớm thân thiện thôi,” Erica nói trong lúc đưa Adrian cho Patrik bế rồi quay sang Emma.

“Mẹ và bác phải đi ngủ một chút nên chú Patrik tới đây để trông các cháu. Được không Emma? Chú ấy là bạn của bác và chú ấy rất… rất ngoan. Và nếu cháu cũng rất rất ngoan thì có thể Patrik sẽ lấy kem ở trong tủ lạnh ra cho cháu ăn.”

Emma nhìn Erica với vẻ ngờ vực nhưng nhanh chóng khuất phục trước sức hấp dẫn không cưỡng lại được của que kem, liền miễn cưỡng gật đầu.

“Vậy em để bọn trẻ lại với anh, lát nói chuyện sau nhé. Cố mà giữ cho chúng lành lặn tới khi em trở lại đấy.”

Erica nói rồi lập tức mất hút trên cầu thang.

Patrik quay sang Emma, lúc này vẫn đang nhìn anh với vẻ nghi ngờ.

“Cháu nghĩ sao? Mình chơi cờ nhé? Không à? Thế ăn kem thay cơm thì sao? Cháu thấy có được không? Được hả. Vậy thì chạy thi, ai mà đến tủ lạnh chậm hơn thì sẽ phải ăn cà rốt nhé!”

—★—

Anna chậm rãi tĩnh lại. Như thể cô vừa ngủ suốt trăm năm giống trong truyện Công chúa ngủ trong rừng. Lúc vừa mở mắt, cô còn không nhớ mình đang ở đâu. Cho tới khi cô nhận ra lớp giấy dán tường trong căn phòng thời thơ ấu thì thực tế mới dội về như ngàn viên gạch vỡ. Cô ngồi bật dậy trên giường. Lũ trẻ! Rồi cô nghe thấy tiếng cười reo vui vẻ của Emma dưới cầu thang và nhớ ra Erica đang trông chúng cho cô ngủ. Cô lại nằm xuống và quyết định nấn ná thêm vài phút nữa trên chiếc giường ấm. Thức dậy là phải lập tức đối mặt với mọi thứ, cô muốn có thêm vài phút trốn tránh thực tế.

Nhưng dần dần cô nhận ra giọng nói vọng lên từ dưới cầu thang lẫn với tiếng cười của Emma và Adrian không phải là của Erica. Trong giây lát, tim cô như ngừng đập khi nghĩ Lucas đã xuất hiện, nhưng rồi nhận ra rằng Erica thà bắn chết anh ta tại chỗ chứ sẽ nhất định không cho vào trong nhà. Cô lờ mờ đoán ra vị khách kia là ai và sự hiếu kỳ thúc giục cô rón rén đi ra hành lang và nhìn qua tay vịn lan can. Cứ như là có một trái bom vừa nổ trong phòng khách phía dưới. Những chiếc gối dựa được xếp dọc theo bốn chiếc ghế lấy từ bàn ăn với một chiếc chăn trùm lên trên tạo thành một cá lều và những món đồ chơi của Adrian nằm rải rác khắp nơi. Trên mặt bàn nước là một đống giấy gói kem khiến Anna thầm hy vọng đấy chủ yếu là do Patrik tiêu thụ. Cô thở dài, biết rằng lát nữa sẽ khó mà bắt con bé ăn trưa hay ăn tối thêm nữa. Con bé lúc này đang ngồi trên vai một người đàn ông tóc sẫm, gương mặt dễ chịu, đôi mắt màu nâu ấm áp. Con bé cười như nắc nẻ tới suýt thì nghẹn. Adrian nằm trên một chiếc chăn trải xuống sàn nhà, trên người chỉ đeo có bỉm, dường như cũng đang chia sẻ niềm hân hoan với cô chị. Nhưng người có vẻ vui nhất lại chính là Patrik và từ giây phút đó anh đã hoàn toàn chiếm được một vị trí trong lòng Anna.

Cô đứng dậy, hắng giọng để lôi kéo sự chú ý của ba người đang chơi đùa vui vẻ kia.

“Mẹ, nhìn xem, con có một chú ngựa này.”

Emma liền thể hiện uy quyền của mình với ‘chú ngựa’ bằng cách kéo thật mạnh tóc của chú ta, và phản ứng quá mức rụt rè của Patrik không khiến nữ hoàng bé nhỏ thay đổi ý định.

“Emma, con phải nhẹ nhàng với chú ngựa. Nếu không thì sẽ không có cơ hội được cưỡi ngựa nữa đâu.”

Nhận xét đó có tác dụng tức thì đối với nữ kỵ sĩ. Vì lý do an toàn, cô bé vỗ nhẹ lên gáy Patrik bằng bàn tay lành lặn của mình để an ủi chú ngựa và đảm bảo cho quyền lợi sau này của mình.

“Chào em, Anna, lâu rồi không gặp.”

“Em biết. Em hy vọng anh không bị hai đứa quần cho tan tác.”

“Không, bọn anh đã chơi rất vui.” Anh đột nhiên có chút lo lắng. “Anh đã rất cẩn thận với cánh tay của con bé.”

“Em biết. Trông con bé rất ổn. Erica đang ngủ ạ?”

“Ừ, lúc nói chuyện điện thoại, thấy cô ấy có vẻ mệt nên anh đề nghị tới giúp một tay.”

“Và rõ ràng là rất hiệu quả.”

“Ừ, dù có hơi bừa bãi một chút. Anh hy vọng Erica không nổi điên khi thức dậy nhìn thấy phòng khách đã bị anh phá hoại như thế nào.”

Anna cảm thấy nỗi lo lắng của anh thật dễ thương. Như thể Erica đã cho anh vào khuôn khổ.

“Em sẽ giúp anh dọn dẹp. Nhưng trước hết em cần một tách cà phê đã. Anh có muốn làm một tách không?”

Họ cùng uống cà phê và trò chuyện như hai người bạn cũ. Chinh phục được lũ trẻ cũng chính là chinh phục được Anna, cô thấy rõ vẻ ngưỡng mộ không lẫn vào đâu được trong ánh mắt của Emma khi con bé trèo lên người Patrik, bỏ qua mọi ý kiến của mẹ khi muốn con bé để cho chú ngồi yên một lúc. Đến lúc Erica đi xuống với đôi mắt ngái ngủ khoảng một tiếng đồng hồ sau đó thì Anna đã kịp hỏi Patrik về mọi thứ từ cỡ giày cho tới chuyện vì sao anh ly dị. Khi anh rốt cuộc nói phải đi thì tất cả phái nữ đều phản đối và Adrian hẳn cũng vậy nếu đang không bận ngủ.

Ngay khi nghe tiếng xe của anh rời khỏi, Anna quay sang nhìn Erica, mắt tròn xoe.

“Ôi trời, đúng là mẫu con rể trong mơ nhé. Anh ấy có em trai không nhỉ?”

Erica chỉ vui vẻ cười đáp lại.

—★—

Patrik tự cho phép mình trì hoãn vài tiếng cái nhiệm vụ mà anh sẽ phải đối mặt và khiến anh trằn trọc, trăn trở suốt đêm. Anh hiếm khi có cảm giác sợ hãi như khi tiến hành nhiệm vụ này nhưng anh biết đó là một phần không thế tránh được trong nghề nghiệp mà anh đã chọn. Giờ đây anh đã tìm ra cách giải quyết một trong hai vụ án mạng nhưng lại không cảm thấy vui vẻ.

Patrik chậm chạp lái xe từ Sälvik xuống trung tâm thành phố. Anh muốn trì hoãn việc này càng lâu càng tốt nhưng vi chỗ đó khá gần nên anh thành ra lại tới sớm hơn cả dự định. Anh đỗ xe trong bãi đậu trước siêu thị Eva’s Food rồi đi bộ nốt quãng đường còn lại. Ngôi nhà nằm trên đỉnh một con dốc đứng, chạy thẳng xuống khu nhà thuyền dọc theo mép nước. Đó là một ngôi nhà cổ đẹp mắt nhưng đã xuống cấp. Trước khi gõ cửa, anh hít một hơi thật sâu, nhưng ngay khi những đốt tay chạm vào cánh cửa gỗ thì anh đã sẵn sàng hành động. Anh không thể để cảm xúc cá nhân can thiệp vào công việc. Anh là một cảnh sát và có nghĩa vụ phải thực hiện công việc của mình bất chấp về mặt cá nhân, anh có quan điểm gì đi nữa.

Vera gần như mở cửa ngay tức thì. Bà nhìn anh vẻ dò hỏi rồi lập tức bước sang một bên nhường đường khi anh yêu cầu được vào trong nhà nói chuyện. Bà dẫn anh vào trong bếp và hai người cùng ngồi xuống bên bàn ăn. Patrik ngạc nhiên khi thấy bà không hỏi anh tới làm gì và trong giây lát anh nghĩ có lẽ vì bà đã biết. Nhưng cho dù lý do có là gì đi nữa thì anh cũng sẽ phải lựa lời mà nói.

Bà nhìn anh với vẻ bình tĩnh nhưng hai mắt thâm quầng, cho thấy sự đau khổ của bà sau cái chết của con trai. Trên bàn có một quyển album cũ và anh đoán nếu mở ra hẳn anh sẽ nhìn thấy những bức ảnh của Anders hồi bé. Thật đau lòng khi phải tới đây gặp một người mẹ đang thương tiếc đưa con trai vừa mới qua đời vài ngày trước. Một lần nữa, anh lại phải bỏ qua bản tính muốn bảo vệ người khác của mình để tập trung vào công việc. Tìm hiểu sự thật về cái chết của Anders.

“Vera, lần cuối cùng chúng ta gặp nhau là trong một hoàn cảnh tồi và tôi chỉ muốn nói rằng tôi thực sự lấy làm tiếc vì cái chết của con trai bà.”

Bà chỉ gật đầu đáp lại rồi im lặng chờ anh nói tiếp.

“Dù tôi biết chuyện này thật khó cho bà, nhưng công việc của tôi là đều tra xem chuyện gì đã xảy ra với Anders nên tôi hy vọng bà có thể hiểu được.”

Patrik nói một cách chậm rãi và rõ ràng như với một đứa trẻ. Vì sao, anh cũng không biết nữa, nhưng anh muốn bà thực sự có thể hiểu được những gì anh đang nói.

“Chúng tôi đang điều tra về cái chết của Anders ở góc độ một vụ án mạng và mối liên hệ của nó với vụ sát hại Alexandra Wijkner, một người phụ nữ mà anh ấy có quan hệ. Chúng tôi không tìm thấy bất kỳ dấu vết nào của hung thủ hay chứng cứ cho thấy đó là một vụ giết người. Điều đó thực sự đã dồn chúng tôi vào thế bí. Không ai có thể đưa ra bất cứ lời giải thích hợp lý nào về quá trình diễn biến sự việc. Cho tới khi tôi tìm thấy thứ này ở nhà Anders.”

Patrik đặt bản sao tờ giấy xuống mặt bàn, trước mặt Vera, để bà có thể đọc được. Mặt bà đầy vẻ sửng sốt và bà hết nhìn Patrik lại nhìn tờ giấy trên bàn, hết lần này tới lần khác. Cuối cùng bà nhặt tờ giấy lên và lật mặt sau. Những ngón tay của bà khẽ vuốt nhẹ theo các hàng chữ rồi lại trả nói về chỗ cũ, trên mặt bàn, vẻ mặt vẫn chưa hết sửng sốt.

“Cậu tìm thấy nó ở đâu?”

Giọng bà khàn khàn đầy phiền muộn.

“Ở nhà Anders. Bà ngạc nhiên vì nghĩ mình đã lấy đi bản duy nhất của bức thư này, đúng không?”

Bà gật dầu.

Patrik tiếp tục. “Bà đúng là đã lấy đi bản duy nhất. Nhưng tôi lại tìm thấy cuốn sổ mà Anders đã dùng để viết bức thư này và khi anh ấy tì bút xuống giấy thì cũng đồng thời để lại những vết hằn ở trang dưới. Đó là lý do tại sao chúng tôi có thể khôi phục được nội dung bức thư.”

Very mỉm cười nhăn nhó. “Tôi thậm chí còn không nghĩ tới chuyện đó. Cậu thật là nhanh trí.”

“Tôi nghĩ là tôi cũng đoán được tương đối chuyện gì đã xảy ra nhưng tôi vẫn muốn nghe chính bà nói ra.”

Bà tiếp tục sờ lên tờ giấy một lúc như thế muốn cảm nhận từng từ ngữ trên đó bằng các đầu ngón tay, như cách đọc chữ nổi của người khiếm thị. Bà thở dài rồi quay sang trả lời câu hỏi mềm mỏng nhưng cương quyết của Patrik.

“Tôi đem đồ ăn tới cho nó. Cửa không khóa, nhưng lúc nào mà chẳng vậy, nên tôi chỉ gọi to rồi bước vào. Căn hộ rất yên tĩnh, hoàn toàn im ắng. Và tôi lập tức nhìn thấy thằng bé. Tôi có cảm giác như tim mình đã ngừng đập giây phút đó. Cảm giác của tôi lúc đó chính xác là như vậy. Như thể tim tôi đã ngừng đập, và chỉ còn lại một thứ lặng câm trong lồng ngực. Thằng bé hơi đung đưa. Từ trước ra sau. Cứ như thể có một cơn gió thổi trong phòng mà dĩ nhiên là không phải.”

“Tại sao bà không gọi cảnh sát? Hay xe cấp cứu?”

Bà nhún vai. “Tôi không biết. Bản năng đầu tiên của tôi là chạy tới giúp đỡ thằng bé xuống nhưng khi bước vào phòng thì tôi nhận ra đã quá trễ. Con trai tôi đã chết.”

Lần đầu tiên trong cuộc nói chuyện anh cảm thấy giọng bà hơi run nhưng ngay lập tức bà kiềm chế và tiếp tục tỏ ra bình tĩnh tới kỳ lạ.

“Tôi tìm thấy bức thư này trong bóp. Cậu đã đọc nó và cậu biết nó nói gì. Rằng thằng bé không thể tiếp tục sống nữa. Rằng cuộc sống là một cuộc tra tấn kéo dài mà nó không còn khả năng chống trả. Mọi lý do để tiếp tục đã không còn tồn tại. Tôi hẳn đã ngồi đó gần một tiếng đồng hồ, hay hai tiếng gì đó, tôi cũng không biết nữa. Tôi nhét vội tờ giấy vào trong ví rồi lấy chiếc ghế mà thằng bé dùng để trèo lên đặt trở lại vào trong bếp.”

“Nhưng tại sao, Vera? Tại sao bà lại làm thế? Vì mục đích gì?”

Ánh mắt bà vẫn kiên định nhưng hai tay bà run bần bật chứng tỏ sự bình tĩnh bên ngoài chỉ là giả tạo. Anh không thể hình dung nổi nỗi kinh hoàng của một người mẹ khi nhìn thấy con trai mình treo lủng lẳng trên trần nhà với cái lưỡi dày xanh lét và hai tròng mắt thò ra ngoài. Ngay cả anh khi nhìn thấy Anders trong cảnh tượng đó còn thấy hãi hùng nữa là mẹ anh ta, người sẽ phải sống suốt đời với hình ảnh ấy in sâu trong đầu.

“Tôi không muốn thằng bé chịu thêm sự nhục nhã nào nữa. Suốt thời gian qua, người ta đã luôn nhìn nói với vẻ khinh bỉ. Người ta chỉ trỏ rồi cười nhạo nó. Mặt vênh lên khi đi qua trước mặt nó, cảm thấy mình thì cao quý hơn. Họ sẽ nói gì khi nghe tin Anders đã treo cổ tự sát? Tôi chỉ muốn tránh cho thằng bé nỗi hổ thẹn đó, và đó là điều duy nhất tôi có thể nghĩ tới.”

“Nhưng tôi vẫn không hiểu. Việc tự sát thì có gì tệ hơn so với việc bị sát hại?”

“Cậu còn quá trẻ để có thể hiểu được điều đó. Sự khinh bỉ đối với những kẻ tự sát vẫn ăn sâu trong máu dân cư vùng duyên hải này. Tôi không muốn người ta nói như vậy về con trai bé bỏng của tôi. Họ đã nói đủ những chuyện rác rưởi về thằng bé suốt nhiều năm qua.”

Có gì đó lạnh lùng trong giọng nói của Vera. Suốt bằng ấy năm bà đã toàn tâm toàn ý bảo hộ và giúp đỡ con trai mình và mặc dù Patrik không hiểu được động cơ của bà, anh chỉ có thể cho rằng đó là bản năng tự nhiên của một người mẹ, tiếp tục bảo vệ con ngay cả khi đứa con đã chết đi rồi.

Vera với tay lấy cuốn album ảnh trên bàn rồi mở ra để cả bà và Patrik đều có thể nhìn thấy. Dựa vào trang phục trên tấm ảnh, chúng hẳn được chụp vào những năm 1970. Anders luôn mỉm cười, cởi mở, vô tư lự trong tất cả những bức ảnh đã hơi ố vàng đó.

“Thằng bé thật là ưa nhìn, Anders của tôi.”

Giọng Vera trở nên mơ màng và bà nhẹ nhàng vuốt ve bức ảnh.

“Nó luôn là một thằng bé ngoan. Chưa bao giờ có vấn đề.”

Patrik xem ảnh với vẻ hứng thú. Thật không thể tin nổi cậu bé này với kẻ nghiện ngập mà anh đã gặp là cùng một người. Thật may là cậu bé trong ảnh không biết số phận nào đang đợi mình. Một bức ảnh trong số đó đặc biệt thu hút sự chú ý của anh. Một cô bé mảnh mai, tóc vàng đứng cạnh Anders, lúc này đang ngồi trên một chiếc xe đạp có yên dài hình quả chuối và ghi đông cao kiểu xe đua. Cô bé chỉ hơi mỉm cười, mắt nhìn ngượng nghịu dưới lớp tóc mái.

“Đây hẳn là Alex, đúng không?”

“Phải,” Vera trả lời cộc lốc.

“Khi còn nhỏ, họ có hay chơi với nhau không?”

“Cũng không thường xuyên, nhưng thỉnh thoảng thì có. Dù sao hai đứa cũng học cùng lớp.”

Patrik thận trọng bước vào một chủ đề nhạy cảm. Anh nhón chân thử mực nước trước khi bước hẳn vào.

“Theo tôi hiểu thì có một thời gian, Nils Lorentz là giáo viên dạy hai người bọn họ?”

Vera nhìn anh vẻ dò xét. “Hình như thế, chuyện xảy ra đã lâu lắm rồi.”

“Có một vài tin đồn về Nils Lorentz, nhất là khi anh ta tự dưng biến mất.”

“Ở Fjällbacka cái gì người ta chẳng đem ra bàn tán được. Thế nên họ có nói về Nils Lorentz cũng không lạ.”

Rõ ràng là anh đã chọc đúng vết thương đang mưng mủ, nhưng anh vẫn phải tiếp tục kiên trì đào sâu hơn.

“Tôi đã nói chuyện với bố mẹ Alex, họ đã xác nhận một số chuyện liên quan tới Nils Lorentz. Những xác nhận này cũng có liên quan tới Anders.”

“Tôi hiểu.” Bà rõ ràng không muốn giúp anh qua câu trả lời cộc lốc của mình.

“Theo như họ nói thì Nils Lorentz đã tấn công tình dục đối với Alex và họ cho rằng Anders cũng bị lạm dụng.”

Vera ngồi đờ ra trên mép ghế và không trả lời tuyên bố của Patrik vốn được anh đặt ra như một câu hỏi. Anh quyết định chờ bà nói ra, nhưng sau một lúc đấu tranh nội tâm bà chậm rãi đóng quyển album ảnh lại và đứng dậy.

“Tôi không muốn nói những chuyện xưa cũ. Tôi muốn cậu rời khỏi đây. Nếu cậu muốn buộc tội tôi về những gì tôi đã làm sau khi tìm thấy Anders thì cậu đã biết phải tìm thấy tôi ở đâu rồi đó. Nhưng tôi không muốn cậu đào bới những chuyện đáng bị chôn vùi mãi mãi.”

“Chỉ một câu hỏi nữa thôi: bà đã bao giờ nói với Alex về chuyện này? Như tôi được biết, cô ấy đã quyết định đối mặt với quá khứ và cô ấy hẳn sẽ nói với bà về chuyện đó?”

“Có, cô ta có nói. Tôi từng đến nhà cô ta khoảng một tuần trước khi cô ta chết, lắng nghe những ý tưởng ngây thơ của cô ta về việc đoạn tuyệt với quá khứ, lôi hết các bí mật ra ngoài ánh sáng, vân vân và vân vân. Mấy trò vô vị của những người trẻ tuổi bây giờ. Thời nay, hình như ai cũng bị ám ảnh về việc phải giặt đồ dơ của mình ở nơi công cộng, rằng việc phơ bày tất cả bí mật và tội lỗi là một hành động lành mạnh. Nhưng có những thứ cần phải giữ nguyên tính riêng tư của nó. Tôi cũng bảo với cô ta như thế. Tôi không biết cô ta có nghe hay không, nhưng tôi hy vọng là có. Nếu không, thật đúng là phí công tôi ngồi đó, trong căn nhà lạnh cóng của cô ta, đau hết cả bàng quang.”

Sau câu nói đó, Vera ra hiệu rằng cuộc trò chuyện đã kết thúc và đi về phía cửa. Bà mở cửa cho Patrik và lạnh lùng chào tạm biệt.

Đứng ngoài đường trong giá rét, mũ sụp xuống tai, găng tay đầy đủ cả nhưng anh vẫn lạnh tới mức không muốn nhấc chân. Sau khi nhảy chồm chồm vài lượt cho đỡ lạnh anh mới vội vàng chạy ra bãi đỗ xe.

Vera là một phụ nữ phức tạp, anh rút ra kết luận sau cuộc chuyện trò giữa hai người. Bà thuộc về một thế hệ hoàn toàn khác, nhưng lại xung đột với những giá trị của thế hệ đó trên nhiều phương diện. Lúc con trai còn nhỏ, bà đã làm lụng vất vả để nuôi con nhưng ngay cả khi Anders đã trưởng thành, bà vẫn tiếp tục săn sóc, che chở trong vòng tay mình. Bà vừa là một người phụ nữ tự do sống nhiều năm không cần tới đàn ông, nhưng cũng lại là một người bị trói buộc bởi những luật lệ của thời đại mình. Anh không khỏi cảm thấy có chút ngưỡng mộ đối với Vera. Bà đúng là một phụ nữ mạnh mẽ. Một phụ nữ tâm tính phức tạp, đã phải chịu đựng một cuộc đời nhọc nhằn hơn bất kỳ ai.

Anh không biết Vera sẽ phải gánh chịu hậu quả gì khi chuyện bà tạo hiện trường giả vụ tự sát của Anders bị phát hiện. Anh chắc chắn sẽ báo cáo chuyện này với cấp trên nhưng anh không biết hậu quả sẽ ra sao. Nếu trong thẩm quyền của anh thì anh sẽ chọn bỏ qua chuyện này, nhưng anh không dám hứa chắc điều gì. Từ góc độ pháp luật thuần túy, Vera có thể sẽ bị buộc tội cản trở thi hành công vụ nhưng anh thực sự hy vọng chuyện đó sẽ không xảy ra. Anh cảm thấy quý Vera và anh không thể phủ nhận điều đó. Bà ấy chính là một người không bao giờ bỏ cuộc, mà trên đời này chẳng có được mấy người như thế.

Khi đã ngồi vào trong xe và mở điện thoại ra thì anh nhận được một tin nhắn của Erica. Cô nhắn rằng có ba quý bà và một quý ông tí hon hy vọng anh sẽ tới dùng bữa tối với họ. Patrik nhìn đồng hồ. Đã năm giờ, nên anh chẳng hề áy náy khi quyết định không quay trở lại đồn nữa vì đã quá trễ. Ở nhà cũng chẳng có gì phải làm. Nhưng trước khi khởi động xe, anh gọi cho Annika và báo cáo sơ bộ về những gì anh đã điều tra được nhưng giữ lại một số chi tiết để chờ trình bày trực tiếp với Mellberg. Anh không muốn xảy ra hiểu lầm rồi Mellberg lại huy động một lực lượng cành sát lớn chỉ để làm trò.

Trong lúc lái xe đến nhà Erica, những suy nghĩ về vụ án mạng của Alex không ngừng xuất hiện trong đầu anh. Anh cảm thấy bất lực vì lại đâm đầu vào một ngõ cụt mới. Hai vụ án mạng thì cơ hội thủ phạm xảy ra sơ suất cũng nhân làm hai Nhưng giờ anh lại một lần nữa quay về điểm xuất phát, đâm ra anh lại nghĩ sẽ chẳng bao giờ tìm ra kẻ đã sát hại Alex. Điều đó khiến anh vô cùng ủ dột. Có cảm giác như anh dần trở nên hiểu rõ Alex hơn bất cứ ai. Những phát hiện về thời thơ ấu và cuộc đời của cô sau vụ lạm dụng đã khiến anh rung động sâu sắc. Chưa bao giờ anh mong phá án đến thế, anh thật muốn tìm ra kẻ đã sát hại cô.

Nhưng anh phải chấp nhận thực tế. Giờ anh đang ở trong ngõ cụt và không biết phải tiếp tục từ đâu hay theo hướng nào. Nhưng lúc này, anh phải tạm thời gác chuyện đó sang một bên để đi gặp Erica, em gái cô và nhất là lũ trẻ, đó chính là thứ mà anh cần cho buổi tối hôm nay. Trong lòng anh vẫn còn đang xáo động bởi những đau khổ mà anh vừa chứng kiến.

—★—

Mellberg nôn nóng gõ tay lên bàn. Cái tên nhãi nhép vắt mũi chưa sạch còn làm ra bộ huênh hoang kia đang chết giẫm ở đâu không biết? Cậu ta cho rằng mình đang đi nghỉ dưỡng hay sao? Rằng cậu ta thích đến thì đến thích đi thì đi sao? Dĩ nhiên, hôm nay là Chủ nhật, nhưng bất cứ ai dám nghỉ vào ngày nghỉ trước khi vụ này được giải quyết đều là sai lầm nghiêm trọng. Đúng vậy, ông sẽ phải giác ngộ cậu ta về chuyện này. Ở đồn của Mellberg thì kỷ luật phải rõ ràng, quy định phải khắt khe. Lãnh đạo sáng suốt. Đây chính là những khẩu hiệu của thời đại mà nếu có ai sinh ra đã hội tụ đầy đủ phẩm chất của một nhà lãnh đạo thì đó chính là ông ta. Mẹ ông luôn nói rằng ông ta hẳn sẽ làm được chuyện gì đó lớn lao. Mặc dầu ông ta phải thừa nhận rằng chuyện đó sẽ xảy ra có chút lâu hơn so với mong đợi của cả hai người bọn họ, nhưng ông ta không bao giờ nghi ngờ về việc những phẩm chất tuyệt vời của mình sớm muộn cũng sẽ cho kết quả.

Thế nên ông ta lại càng cảm thấy khó chịu khi hai vụ án này vẫn giậm chân tại chỗ. Mellberg cảm thấy cơ hội to lớn của mình đã gần tới mức ông ta có thể nhận ra mùi vị của nó. Nhưng nếu đám nhân viên bất tài của ông ta không sớm tìm ra kết quả thì có lẽ ông ta sẽ phải từ bỏ mọi hy vọng thăng tiến và cơ hội chuyển về Göteborg. Một lũ lười biếng, chính thế, mấy gã cảnh sát nhà quê đã có đủ hai tay và đèn pin cũng không dò được mông mình ở đâu. Ông ta vốn có chút hy vọng đối với cảnh sát trẻ Hedström, nhưng có lẽ như ngay cả cậu ta cũng khiến ông ta thất vọng. Patrik vẫn chưa báo cáo kết quả chuyến đi Göteborg, xem ra lại là một chuyến vô bổ, chỉ tổ tốn tiền công tác phí. Đã chín giờ mười phút rồi mà vẫn chưa thấy bóng dáng cậu ta đâu.

“Annika!” Ông ta gào lên về phía cánh cửa đang mở và càng lúc càng cảm thấy giận dữ vì phải mất đến một phút Annika mới tới.

“Vâng, có chuyện gì ạ?”

“Cô có tin tức gì từ Hedström không? Cậu ta vẫn ngủ nướng ở giường ấm nhà mình hay sao thế?”

“Tôi không nghĩ thế. Cậu ấy gọi điện và nói có một chút rắc rối với việc khởi động xe sáng nay nhưng cậu ấy đang trên đường tới rồi ạ.” Chị nhìn đồng hồ. “Cậu ấy sẽ có mặt trong vòng mười lăm phút.”

“Mẹ kiếp nếu muốn thì cậu ta đã đi bộ tới rồi.”

Annika do dự một lát và ông ta ngạc nhiên khi thấy chị hơi mỉm cười.

“Nhưng tôi không nghĩ cậu ấy ở nhà.”

“Vậy thì cậu ta ở chỗ quái nào mới được chứ?”

“Cái đó thì ông phải hỏi cậu ấy.” Annika nói rồi quay về chỗ của mình.

Việc Patrik có cớ để đến muộn lại càng khiến Mellberg bực mình. Sáng nay cậu ta đáng lẽ phải lên kế hoạch từ trước, dậy sớm hơn một chút phòng khi xe bị hỏng chứ?

Mười lăm phút sau, Patrik gõ nhẹ lên cánh cửa đang mở rồi bước vào. Cậu ta trông như sắp hết hơi, hai má đỏ lựng, mặt mũi thì hây hây sung sướng và phấn khởi dù đã để ông sếp đợi gần nửa tiếng đồng hồ.

“Cậu nghĩ công việc của cậu ở đây là công việc bán thời gian đấy hả? Mà hôm qua, cậu đã ở cái chỗ quái quỷ nào thế? Không phải việc đi Göteborg là của hai ngày trước ư?”

Patrik ngồi xuống chiếc ghế dành cho khách trước bàn sếp và bình tĩnh trả lời một loại câu hỏi của Mellberg.

“Tôi xin lỗi vì đã tới muộn. Sáng nay ô tô mãi không khởi động và tôi phải mất hơn nửa tiếng mới nổ máy được. Đúng là ngày hôm kia tôi đã tới Göteborg và tôi sẽ báo cáo với sếp vụ đó trước, sau đó sẽ trình bày về diễn biến của ngày hôm qua.”

Mellberg miễn cưỡng gầm gừ đồng ý. Patrik kể với ông về những chuyện đã xảy ra trong thời thơ ấu của Alex. Không bỏ qua bất kỳ chi tiết gớm ghiếc nào. Cả thông tin Julia là con gái của Alex khiến cằm Mellberg muốn rụng xuống ngực. Ông ta chưa bao giờ nghe thấy chuyện nào như thế. Patrik kể tiếp cả vụ cấp cứu của Karl- Erik tới bệnh viện và tờ giấy anh tìm thấy ở nhà Anders và đã mang đi phân tích pháp y. Patrik giải thích hóa ra đó là một lá thư tuyệt mệnh, sau đó báo cáo về những gì anh đã làm ngày hôm qua và lý do tại sao. Patrik đã tóm tắt tất cả cho Mellberg, lúc này chỉ im lặng lắng nghe một cách bất thường.

“Vậy kết luận là một trong hai vụ án mạng là tự sát còn vụ kia chúng ta vẫn chưa biết ai là thủ phạm cũng như động cơ giết người. Tôi có cảm giác rằng chuyện này hẳn liên quan tới những gì bố mẹ Alex kể với tôi nhưng tôi không có bất cứ bằng chứng hay vật chứng nào để hỗ trợ giả thiết đó. Giờ thì sếp cũng đã rõ hết mọi chuyện. Sếp có ý kiến về quá trình tiếp theo nên làm gì không?”

Sau một lúc im lặng, Mellberg cũng lấy lại được bình tĩnh. “Đây thật đúng là một câu chuyện khó tin. Tôi sẽ đặt cược vào cái tên mà cô ta đã lén lút quan hệ hơn là chăm chăm vào những chuyện cũ rích xảy ra từ hai mươi lăm năm trước. Tôi khuyên cậu nên nói chuyện với cái tên đã lên giường với cô ta cứng rắn hơn một chút. Có thế mới chứng tỏ việc sử dụng hiệu quả các nguồn tin.

Patrik vừa nói với ông ta về cha của đứa bé là ai, Mellberg lập tức chuyển Dan lên đầu danh sách tình nghi.

Patrik gật đầu và đứng dậy. Mellberg, thấy anh chấp nhận dễ dàng, không khỏi có chút khả nghi.

“Làm việc rất tốt, Hedström,” Mellberg miễn cưỡng nói. “Cậu sẽ tiếp tục theo dõi vụ này chứ?”

“Hẳn rồi, thưa sếp, cứ giao cho tôi.”

Có phải là ông ta đang nghe thấy ý chế nhạo gì ở đây không nhỉ? Nhưng Patrik nhìn ông ta với một vẻ mặt ngây ngô khiến Mellberg vội xua đi nghi ngờ. Cậu chàng này hẳn cũng đủ thông minh để nhận ra những lời khuyên có giá trị của tiền bối.

—★—

Mục đích của việc ngáp chính là để tăng ôxy cho não nhưng Patrik rất nghi ngờ tác dụng của nó đối với anh. Cơn mệt mỏi do trăn trở mất ngủ cả đêm bắt đầu hành hạ anh vì kế hoạch ngủ cùng với Erica hôm qua đã bị phủ quyết bởi đa số. Anh rầu rĩ nhìn chồng tài liệu quen thuộc trên bàn và phải kiềm chế lắm mới không quẳng hết vào thùng rác. Anh thực sự phát ốm với vụ điều tra này. Cứ như hàng tháng đã trôi qua trong khi thực ra mới chỉ có hai tuần. Có quá nhiều chuyện đã xảy ra nhưng anh vẫn không có chút tiến triển nào. Annika đi qua phòng anh và thấy anh đang ngồi dụi mắt. Chị lập tức quay trở lại với một ly cà phê, đúng là thứ mà anh đang cần, rồi ngồi xuống trước mặt anh.

“Đang sa lầy à?”

“Vâng. Phải nói là có hơi xương. Tôi phải xem xét, bắt đầu hết lại từ đầu. Câu trả lời nằm đâu đó trong đống tư liệu kia, tôi biết thế. Chỉ cần tìm thấy chút manh mối đã bỏ lỡ trước đó thôi.” Anh ném chiếc bút chì lên trên đống tài liệu vẻ đầu hàng.

“Còn gì nữa không?”

“Gì cơ?”

“Ý tôi là, cuộc sống riêng tư thì sao, ngoài công việc ra? Cậu biết thừa ý tôi là gì.”

“Vâng, Annika, tôi biết chính xác ý chị là gì. Thế chị muốn biết gì?”

“Vẫn chơi lô tô đấy chứ?”

Patrik không chắc là anh thực sự muốn biết ý nghĩa của câu hỏi này nhưng anh không muốn đoán mò nên cứ hỏi: “Chơi lô tôi là sao?”

“Thì cậu biết rồi còn gì. Là một cú làm liền năm phát ấy…” Rồi chị rời đi, đóng sập cửa lại với một nụ cười tinh quá trên môi.

Patrik tủm tỉm cười. Đúng là có thể nói như vậy thật.

Anh buộc mình trở lại với công việc trước mắt, cầm bút chì gãi gãi lên đầu vẻ tư lự. Có chi tiết nào đó không phù hợp. Vera đã nói gì đó không đúng. Anh lấy quyển sổ ghi chép cuộc trò chuyện của họ và xem xét lại từng chữ một. Một ý tưởng chậm rãi thành hình. Chỉ là một chi tiết nhỏ nhưng có thể vô cũng quan trọng. Anh rút ra một tờ giấy trong đống tài liệu trước mặt. Vẻ bừa bãi trên mặt bàn chỉ là lừa gạt. Anh luôn biết chính xác vị trí mọi thứ.

Anh đọc lại tờ giấy một cách cực kỳ cẩn thận và kỹ lưỡng rồi với tay lấy điện thoại.

“Vâng, xin chào, tôi là Patrik Hedström từ đồn cảnh sát Tanumshede. Không biết ông có còn ở nhà lâu không vì tôi muốn hỏi ông vài chi tiết. Ông sẽ không đi đâu cả ư? Tốt quá, khoảng hai mươi phút nữa tôi sẽ tới. Nhà ông chính xác ở đoạn nào nhỉ? Trên đường tới Fjällbacka. Rẽ phải sau đó, ngôi nhà thứ ba bên tay trái. Một ngôi nhà màu đỏ với những đường viền trắng? Tốt rồi, tôi chắc sẽ tìm được thôi. Nếu không tôi sẽ gọi cho ông. Hẹn gặp lại ông sau!”

Chưa đầy hai mươi phút sau, Patrik đã đứng ngoài cửa. Anh dễ dàng tìm thấy ngôi nhà nhỏ nơi anh đoán Eilert đã sống từ nhiêu năm nay với gia đình của mình. Cánh cửa gần như được mở ra tức thì sau tiếng gõ bởi một người phụ nữ mặt mũi khắc khổ. Bà nồng nhiệt tự giới thiệu mình la Svea Berg, vợ của Eilert, rồi dẫn anh vào trong một phòng khách nhỏ nhắn. Patrik nhận thấy cuộc gọi từ anh đã tạo ra một không khí náo nhiệt. Những đồ sứ đẹp mắt đã được bày ra trên bàn ăn và bảy loại bánh ngọt khác nhau được bày trên một chiếc đĩa để bánh ba tầng. Vụ này điều tra xong thì vòng bụng của anh cũng tăng lên cho mà xem, Patrik khẽ thờ dài.

Mặc dù theo bản năng anh cảm thấy không ưa Svea Berg, nhưng lại lập tức có cảm tình với ông chồng khi nhìn thấy một đôi mắt màu xanh nhạt sống động và một cái bắt tay thật chặt. Anh có thể cảm nhận được những vết chai trên tay Eilert và biết rằng đây là một người đàn ông đã làm việc chăm chỉ suốt cả cuộc đời.

Chiếc khăn phủ ghế sofa trông có vẻ hơi nhăn khi Eilert đứng dậy khiến Svea cau mày thò tay vuốt lại, không quên ném cho chồng cái nhìn khiển trách. Cả ngôi nhà sạch bóng, không một vết dơ khiến người ta khó mà tin rằng trong nhà có người ở. Patrik lấy làm tiếc cho Eilert. Trông ông giống như đang đi lạc trong chính ngôi nhà của mình.

Lại càng kịch hơn khi Svea thay đổi nhanh đến chóng mặt giữa nụ cười lấy lòng trước mặt Patrik và cái lườm nguýt cau có dành cho chồng. Patrik tự hỏi không hiểu chồng bà đã làm ra chuyện gì để bị ghét bỏ như vậy. Anh ngờ rằng chỉ riêng sự hiện diện của Eilert thôi cũng đã là nguyên nhân khiến vợ ông bực bội.

“Ngài cảnh sát, mời ngồi dùng chút cà phê và bánh ngọt.”

Patrik ngoan ngoãn ngồi xuống chiếc ghế đối diện cửa sổ và Eilert dịch chuyển tới chiếc ghế trước mặt anh.

“Không phải chỗ này, Eilert, ông biết rồi đấy. Ra kia ngồi đi.”

Svea độc đoán chỉ chiếc ghế phía đầu bàn và Eilert ngoan ngoãn nghe lời. Patrik nhìn xung quanh trong lúc Svea cứ lanh chanh tới đi lui, vừa rót cà phê vừa liên tục vuốt phẳng những nếp nhăn không có thực trên khăn trải bàn và rèm cửa. Ngôi nhà rõ ràng được trang trí dưới bàn tay của một người muốn tạo ra ấn tượng về một vẻ ngoài sung túc, nhưng thực tế lại không phải vậy. Tất cả đều là những bản sao vụng về, từ những chiếc rèm cửa đáng ra phải bằng lụa với quá nhiều xếp li và nút thắt hình hoa hồng nhìn hoa cả mắt tới một loại đồ trang trí linh tinh mạ vàng bạc. Eilert trông giống như một con cá thiếu nước trong thứ lung linh giả tạo này.

Patrik không khỏi ngán ngẩm vì phải mất một lúc lâu anh mới có thể đi vào chuyện chính. Svea không ngừng lải nhải rồi húp cà phê soàn soạt.

“Bộ ly tách cà phê này, anh biết không, là chị tôi ở Mỹ gửi cho. Chị ấy đã kết hôn với một người đàn ông rất giàu có và lúc nào cũng gửi cho tôi những món quà đắt tiền. Bộ ly tách này rất đắt đấy.”

Bà giơ chiếc tách cà phê được trang trí nhã nhặn lên cao với điệu bộ cực kì khoa trương. Patrik hơi nghi ngờ về giá trị bộ li tách, nhưng đủ khôn ngoan để không đưa ra bình luận gì.

“Tôi đáng lẽ cũng đã đi Mỹ lâu rồi nếu không phải vì sức khỏe không cho phép. Nếu không thì có lẽ tôi đã lấy một người giàu có ở Mỹ ròi ấy chứ, thay vì năm mươi năm sống mãi ở cái xó này.”

Svea liếc Eilert vẻ oán trách trong khi ông vẫn bình tĩnh bỏ qua. Ông hẳn đã nghe cái giọng điệu này nhiều thành quen.

“Là bệnh gút, ngài cảnh sát hẳn cũng nhận thấy. Tất cả xương khớp của tôi đều đã bị mài mòn, lúc nào cũng đau đớn từ sáng đến tối. Cũng may tôi không phải là loại người hay than phiền. Những cơn đau dầu của tôi nữa chứ, có rất nhiều chuyện đáng than phiền nhưng bản chất tôi không phải là một người như vậy, ngài biết đấy. Không, mỗi người nên bình thản chấp nhận tai ách của mình, như người ta vẫn nói. Tôi không biết đã bao nhiêu lần nghe thấy mọi người nói những câu như ‘Bà mới mạnh mẽ làm sao Svea, có thể chịu đựng tất cả những bệnh tật đó từ ngày này sang ngày khác.’ Nhưng tôi vốn là một người như thế đấy.”

Bà ta e lệ cúi đầu giả vờ xoa nắn hai tay nhưng Patrik với con mắt trần tục của mình chẳng nhìn thấy gì khác ngoài một người bị mắc bệnh gút nặng. Đúng là một phụ nữ tham lam. Trang điểm và đắp lên người quá nhiều trang sức rẻ tiền dưới lớp phấn dày bự. Ưu điểm duy nhất ở vẻ ngoài của bà ta là nó cực kỳ phù hợp với các đồ trang trí trong ngôi nhà. Làm sao một cặp chênh lệch như Eilert và Svea có thể duy trì một cuộc hôn nhân suốt năm mươi năm như vậy? Hẳn lại là vấn đề thời đại và thế hệ. Thế hệ họ sẽ không ly hôn chỉ vì không hợp nhau. Thật đáng hổ thẹn. Eilert hẳn không có ngày nào vui vẻ.

Patrik hắng giọng cắt ngang cơn ba hoa chích chòe Svea. Bà ta ngoan ngoãn im lặng, hai mắt hau háu nhìn vào miệng anh chờ nghe tin tức thú vị. Những lời đồn đại đã lan truyền khắp nơi ngay khi anh đặt chân vào cửa.

“Tôi có vài câu muốn hỏi về mấy ngày trước khi ông tìm thấy thi thể của Alexandra Wijkner. Khi ông tới kiểm tra nhà cửa cho cô ấy.”

Anh dừng lại nhìn Eilert chờ ông trả lời. Nhưng Svea lại lanh chanh trước.

“Tôi đã nói rồi mà. Những chuyện như thế rồi cũng sẽ xảy ra. Chính Eilert nhà tôi đã phát hiện ra thi thể nạn nhân. Gần đây mọi người chỉ toàn bàn tán về chuyện đó.”

Hai má bà ta đỏ lựng lên vì hưng phấn khiến Patrik phải kiềm chế lắm mới không gay gắt đáp lại. Thay vào đó anh chỉ cười khẩy và nói: “Nếu bà cho phép, tôi xin được nói chuyện riêng với ông nhà một chút. Đây là thông lệ của cảnh sát, khi lấy lời chứng sẽ không có mặt những người không liên quan.”

Nói dối trắng trợn nhưng anh hài lòng thấy Svea, dù bực bội vì bị loại ra khỏi trọng tâm câu chuyện, vẫn chấp thuận đề nghị của anh và miễn cưỡng rời khỏi bàn. Patrik lập tức được khen thưởng bằng một cái nhìn vui vẻ và tán thành từ phía Eilert lúc này gần như không thể che giấu được sự hoan hỉ khi nhận thấy Svea bị phũ phàng tước đoạt món buôn chuyện ưa thích của mình.

Sau khi bà ta miễn cưỡng rời khỏi, Patrik mới tiếp tục câu chuyện. “Chúng ta đang nói tới đâu rồi nhỉ? À đúng rồi, ông có thể bắt đầu bằng việc kể cho tôi về cái tuần trước khi xảy ra án mạng, khi ông tới trông nhà cho Alexandra Wijkner.”

“Chuyện này thì có gì quan trọng?”

“Tôi cũng chưa dám chắc. Nhưng có thể là rất quan trọng. Ông làm ơn nhớ được càng chi tiết càng tốt.”

Eilert suy nghĩ một lúc, tranh thủ nhồi chiếc tẩu với một bao thuốc lá hiệu ba mỏ neo. Ông không nói gì cho tới khi châm tấu thuốc và hít vài hơi.

“Xem nào. Tôi tìm thấy cô ấy vào một ngày thứ Sáu. Tôi luôn tới đó vào các ngày thứ Sáu để kiểm tra mọi thứ trước khi cô ấy trở về vào buổi tối. Lần cuối cùng tôi ở đó là thứ Sáu tuần trước đó. À không, chúng tôi phải đi dự tiệc sinh nhật lần thứ bốn mươi của thằng con trai út vào thứ Sáu nên tôi đã tới trước một ngày, vào hôm thứ Năm.”

“Tình trạng ngôi nhà lúc đó thế nào? Ông nhận thấy có gì bất thường không?”

Patrik khó mà kiềm chế niềm hưng phấn của mình.

“Có gì bất thường ư?” Eilert nhè nhẹ nhả khói ra trong lúc suy nghĩ. “Không, mọi thứ đều ổn. Tôi làm một vòng quanh ngôi nhà, kiểm tra cả tầng hầm, nhưng mọi thứ đều ổn cả. Tôi cẩn thận khóa cửa lúc rời đi như mọi khi. Cô ấy đã đưa chìa khóa riêng cho tôi.”

Patrik bắt buộc phải hỏi thẳng mối nghi vấn đang cồn cào trong đầu anh. “Thế còn hệ thống sưởi? Nó có hoạt động không? Trong nhà có ấm không?”

“Ồ có chứ, dĩ nhiên rồi. Hệ thống sưởi không có vấn đề gì cả. Nó hẳn là đã ngừng hoạt động sau khi tôi rời khỏi. Tôi không biết chuyện đó thì có gì quan trọng. Hệ thống sưởi đã ngừng hoạt động khi nào vậy?”

“Thành thực mà nói thì tôi vẫn chưa biết nó có quan trọng hay không. Nhưng vẫn xin cảm ơn sự giúp đỡ của ông. Có thể nói sẽ rất có ý nghĩa.”

“Chỉ tò mò thôi nhé, sao cậu không hỏi tôi luôn chuyện đó qua diện thoại?”

Patrik mỉm cười. “Tôi làm việc có hơi theo phong cách cũ. Tôi không nghĩ nói chuyện điện thoại thì có thể khai thác được nhiều thông tin bằng nói chuyện trực diện. Đôi khi tôi cũng tự hỏi có phải mình nên sinh ra vào một trăm năm trước lúc tất cả phát minh hiện dại chưa ra đời.”

“Vớ vẩn. Cậu đừng tin vào những thứ rác rưởi cho rằng ngày trước thì tốt hơn. Đó, lạnh và làm việc hùng hục từ tám giờ sáng tới tối mịt không phải là chuyện đáng ghen tị. Không, tôi là tôi tận dụng hết các phương tiện hiện đại. Tôi thậm chí còn có cả máy tính nối mạng internet. Tôi cược là cậu không tin một ông già như tôi lại thế đúng không.” Ông hướng tẩu thuốc chỉ về phía Patrik.

“Không, tôi cũng không ngạc nhiên quá đâu. Nhưng thôi, đã tới lúc tôi phải đi.”

“Tôi hy vọng có thể giúp cậu được ít nhiều, khỏi mất công cậu lái xe đến đây rồi lại công cốc.”

“Không mất công đâu, tôi đã tìm được đúng thông tin mình cần. Lại còn được nếm những chiếc bánh ngọt tuyệt vời của bà chủ nhà nữa chứ.”

Eilert miễn cưỡng gật đầu. “Ừ, bà ấy đúng là biết làm bánh, điều này thì tôi có thể thừa nhận.” Rồi ông lại chìm vào sự im lặng có vẻ như đã đồng hành suốt năm mươi năm vất vả của mình.

Svea rõ ràng đã chán việc đứng áp tai vào cửa liền chớp lấy cơ hội xuất hiện. “Vậy anh đã tìm được mọi thông tin cần thiết chưa?”

“Rồi ạ, cảm ơn bà. Chồng bà đã rất hợp tác. Và tôi cũng muốn cảm ơn bà vì cà phê và bánh ngọt rất ngon.”

“Không có gì. Tôi rất vui là anh thích chúng. Eilert này, ông dọn bàn đi nhé để tôi tiễn ngài cảnh sát ra cửa.”

Eilert bắt đầu ngoan ngoãn thu dọn tách cà phê và đĩa bánh trong khi Svea tiễn Patrik ra cửa trước, miệng vẫn không ngừng lải nhải.

“Nhớ đóng mạnh cửa nhé. Tôi không chịu nổi gió lùa.”

Patrik thở phào nhẹ nhõm khi cánh cửa khép lại sau lưng. Thật là một người phụ nữ đáng sợ. Nhưng anh đã có được sự xác nhận cần thiết. Giờ thì anh đã hoàn toàn chắc chắn kẻ giết hại Alex Wijkner là ai.

—★—

Đám tang của Anders, thời tiết không đẹp như hôm chôn cất Alex. Gió cắt da cắt thịt, má ai cũng đỏ ửng vì lạnh. Patrik đã mặc bộ quần áo ấm nhất của mình nhưng vẫn không địch nổi cái rét thấu xương. Anh rùng mình khi đứng bên cạnh miệng huyệt lúc quan tài được từ từ hạ xuống. Tang lễ vừa ngắn ngủi vừa thê lương. Chỉ có vài người xuất hiện ở nhà thờ và Patrik lặng lẽ ngồi ở hàng ghế cuối. Một mình Vera ngồi ở hàng đầu.

Anh đã ngần ngại không biết có nên tới tang lễ không nhưng cuối cùng lại quyết định ít nhất anh cũng có thể làm điều đó cho Anders. Biểu hiện của Vera không hề thay đổi trong suốt thời gian anh quan sát bà nhưng nỗi đau thương hẳn vẫn chẳng vơi đi chút nào. Bà chỉ là một người không muốn thể hiện tình cảm ngoài đám đông.

Patrik có thể hiểu và thông cảm với điều đó. Ở một khía cạnh nào đó, anh vẫn ngưỡng mộ bà. Đúng là một người phụ nữ mạnh mẽ.

Sau khi lễ tang kết thúc, vài vị khách tới dự mỗi người đi một ngả. Mặt cúi gằm, Vera bước đi chậm rãi trên con đường rải sỏi về phía nhà thờ. Gió lạnh vẫn quất từng đợt khiến bà phải thắt chặt chiếc khăn trên đầu thành hình mỏ quạ. Trong giây lát, Patrik cảm thấy do dự. Nội tâm đấu tranh dữ dội vì khoảng cách giữa anh và Vera càng lúc càng tăng, cuối cùng thì anh cũng ra quyết tâm và rảo bước tói cạnh bà.

“Tang lễ rất chu đáo.”

Bà mỉm cười chua xót. “Tôi cũng biết rõ như cậu rằng tang lễ của Anders cũng thảm hại như cuộc đời thằng bé. Nhưng dù sao cũng cảm ơn. Cậu thật tử tế khi nói vậy.”

Giọng nói của Vera mang dấu ấn của nhiều năm mệt mỏi tích tụ. “Tôi phải thấy biết ơn mới phải. Nếu là nhiều năm trước thì thằng bé hẳn sẽ không được phép hạ táng trong nghĩa trang nhà thờ. Nó sẽ phải nằm ở một chỗ bên rìa, ngoài khu vực được thông công của nhà thờ, một nơi dành riêng cho những kẻ tự sát. Vẫn còn rất nhiều người lớn tuổi tin rằng những kẻ tự sát thì không được lên thiên đàng.”

Bà im lặng một lúc. Patrik đợi cho bà nói tiếp.

“Việc tôi thay đổi hiện trường tự sát của Anders có phải chịu trách nhiệm pháp lý gì không?”

“Không, tôi có thể đảm bảo rằng sẽ không có chuyện gì. Việc bà đã làm là rất đáng tiếc và dĩ nhiên có những quy định luật pháp về việc này nhưng cáo trạng thì không. Tôi không nghĩ là sẽ có hậu quả gì.”

Họ đi qua địa phận của nhà thờ rồi bước chậm rãi về hướng nhà Vera chỉ cách đó khoảng trăm mét. Patrik đã lo lắng cả đêm không biết nên xử lý chuyện này ra sao và cuối cùng đã đi tới một giải pháp, tuy tàn nhẫn nhưng nhiều cơ hội thành công.

Anh làm ra vẻ lãnh đạm nói: “Theo tôi, bi kịch lớn nhất trong toàn bộ câu chuyện của Anders và Alex là một đứa bé đã phải chết.”

Vera quay phắt sang nhìn anh. Bà dừng bước túm chặt lấy tay áo anh.

“Đứa bé nào cơ? Cậu đang nói gì vậy?”

Patrik cảm thấy may mắn vì thông tin này, lạ thay, vẫn chưa bị lọt ra ngoài.

“Đứa bé trong bụng Alexandra. Cô ấy đang mang thai lúc bị sát hại. Vào tháng thứ ba.”

“Chồng cô ta…”

Vera bắt đầu nói lắp, nhưng Patrik buộc phải tiếp tục tỏ ra dửng dưng. “Chồng cô ấy không dính dáng gì tới chuyện này. Họ rõ ràng đã không có bất kỳ quan hệ thân mật nào từ nhiều năm. Không, cha của đứa bé hẳn phải là một người nào đó cô ấy hay gặp ở Fjällbacka này.”

Vera bấu chặt vào tay áo của anh tới mức những khớp xương trên bàn tay trở nên trắng bệch.

“Ôi Chúa ơi. Lạy Chúa lòng lành.”

“Đúng vậy, thật là tàn nhẫn. Giết một hài nhi còn trong bụng mẹ. Theo báo cáo pháp y th rõ ràng là một bé trai.”

Trong lòng anh giống như đang bị giày xéo nhưng anh buộc phải im lặng không đưa ra thêm bất kỳ lời giải thích nào, chờ đợi phản ứng của bà.

Hai người họ đang đứng dưới một cây dẻ lớn, cách nhà Vera khoảng năm mươi mét. Bà đột nhiên bùng nổ khiến anh không phòng bị kịp. Bà lao đi như tên bắn, tốc độ quá nhanh so với độ tuổi của mình và Patrik phải mất và giây để định thẩn lại rồi chạy theo. Khi anh chạy đến nhà Vera thì cánh cửa ngoài vẫn mở toang, anh liền thận trọng bước vào trong. Anh nghe thấy những tiếng nức nở từ phòng tắm cuối hành lang và rồi tiếng nôn ọe ầm ĩ.

Anh cảm thấy không phải khi đứng ở đây, tay cầm mũ, nghe tiếng Vera nôn thốc nôn tháo, liền cởi đôi giày đã ướt sũng, cởi áo khoác và đi vào trong bếp. Khi Vera xuất hiện và phút sau đó, máy cà phê đã bắt đầu sôi với hai chiếc tách trên mặt bàn. Trông bà tái nhợt và lần đầu tiên anh nhìn thấy nước mắt. Dù chỉ là dấu vết còn sót lại, ươn ướt nơi khóe mắt, nhưng thế là đủ. Vera đờ đẫn ngồi xuống một chiếc ghế trong phòng.

Chỉ mới vài phút mà trông bà già đi nhiều tuổi, cử động chậm chạp như một bà lão. Patrik để cho bà thêm một vài phút tĩnh tâm rồi rót cà phê vào hai chiếc tách. Nhưng khi ngồi xuống anh không quên nhìn bà với vẻ nghiêm trang, rằng đã tới lúc nói ra sự thật. Bà biết rằng anh đã biết và không còn có đường lùi.

“Vậy là tôi đã giết hại cháu trai mình.”

Patrik co đó là một câu tự thoại và không trả lời. Nếu trả lời thì anh sẽ buộc phải nói dối. Đã đi tới bước này anh không thể quay lại nữa. Bà sẽ tìm ra sự thật vào thời điểm thích hợp. Nhưng đầu tên phải là lượt của anh.

“Tôi biết bà là người sát hại Alex khi bà nói dối về cái tuần lễ trước khi cô ấy chết. Bà nói là bà ngồi trong ngôi nhà lạnh cóng của cô ấy, nhưng lúc đó lò sưởi vẫn chưa bị ngắt cho tới tuần lễ sau đó, cái tuần mà cô ấy chết.”

Vera nhìn chăm chăm vào khoảng không như thể không hề nghe thấy những gì Patrik vừa nói.

“Lạ thật. Chỉ tới giờ tôi mới thực sự nhận ra rằng tôi đã lấy đi mạng sống của một con người. Đối với tôi, cái chết của Alexandra vẫn giống như chưa hề có thật nhưng đứa bé của Anders… Tôi gần như có thể nhìn thấy nó trước mặt mình…”

“Vì sao Alex phải chết?”

Vera giơ hai tay lên trời. Bà sẽ kể cho Patrik mọi chuyện, nhưng với tốc độ của mình.

“Bời vì lúc đó hẳn sẽ xảy ra một vụ tai tiếng. Mọi người sẽ chỉ vào thằng bé và bàn tán về nó. Tôi đã làm một việc mà mình cho là đúng. Tôi không biết thằng bé rốt cuộc cũng vẫn trở thành chủ để đàm tiếu của mọi người. Sự im lặng của tôi đã giết dần giết mòn và tước đi của thằng bé những thứ đáng quý nhất, chuyện rất đơn giản. Karl-Erik tìm tới tôi và kể cho tôi chuyện đã xảy ra. Ông ta đã nói chuyện với Nelly trước khi tới tìm tôi và bọn họ đã đạt được một thỏa thuận. Chẳng có gì tốt nếu cả thị trấn đều biết về chuyện ấy. Đó sẽ là bí mật giữa chúng tôi và nếu tôi quan tâm tới lợi ích của Anders thì tôi sẽ ngậm miệng. Thế nên tôi đã ngậm miệng lại. Tôi đã im lặng suốt bằng ấy năm. Và mỗi năm thằng bé lại tiếp tục chết dần chết mòn trong cái nhà ngục của riêng nó nhưng tôi vẫn chọn không thừa nhận vai trò của mình trong đó. Tôi giải quyết hậu quả sau lưng thằng bé và hỗ trợ nó một cách tối đa nhưng điều duy nhất tôi không làm được là làm cho chuyện cũ biến mất. Sự im lặng cũng không thể lấy lại được.”

Bà uống và ngụm cà phê lớn rồi giơ chiếc tách ra trước mặt Patrik. Anh đứng dậy lấy bình cà phê rót thêm cho bà. Như thể thói quen uống cà phê chính là thứ đã giúp bà tỉnh táo trong cuộc đời.

“Đôi khi tôi nghĩ rằng im lặng còn ghê gớm hơn cả bạo hành. Chúng tôi chưa bao giờ nói về chuyện đó, kể cả trong bốn bức tường này, và chỉ lúc này đây tôi mới hiểu chính điều đó đã ảnh hưởng tới thằng bé. Có thể nó đã tiếp nhận sự im lặng như một lời trách cứ. Đó là điều duy nhất tôi không chịu đựng nổi. Rằng có thể thằng bé nghĩ là tôi muốn trách nó về chuyện đã xảy ra. Tôi chưa từng nghĩ vậy, dù chỉ là một giây, nhưng tôi sẽ không bao giờ biết được liệu thằng bé có hiểu hay không.”

Trong giây lát, cái vỏ bọc của Vera tưởng chừng sắp vỡ bung ra thì bà lại gượng dậy, buộc mình tiếp tục. Patrik chỉ có thể khâm phục bản lĩnh của bà.

“Cùng với thời gian chúng tôi cũng tìm được một sự cân bằng nào đó. Dù cuộc sống của hai mẹ con đều khổ sở nhưng chúng tôi biết chúng tôi có mẹ có con và vị trí của mỗi người trong lòng người kia. Dĩ nhiên là tôi biết thằng bé thỉnh thoảng vẫn gặp Alex và giữa hai đứa bọn chúng vẫn luôn tồn tại một sức hút lạ lùng với đối phương nhưng tôi tin là cuộc sống sẽ vẫn tiếp diễn như trước. Rồi Anders nói với tôi rằng Alex muốn phơi bày những chuyện đã xảy ra với chúng. Cô ta muốn rũ sạch các bí mật, tôi nhớ thằng bé đã nói vậy. Nó có vẻ lãnh đạm khi nhắc tới chuyện ấy nhưng với tôi lại giống như bị điện giật. Vì điều đó sẽ thay đổi tất cả. Sẽ chằng còn gì như cũ nếu Alex tiết lộ những bí mật đã bị giấu kín từ nhiều năm. Chuyện đó thì có ích lợi gì? Và rồi mọi người sẽ nói sao? Bên cạnh đó, dù Anders giả vờ như điều ấy không có gì ảnh hưởng tới nó thì tôi vẫn hiểu thằng bé hơn ai hết. Tôi biết là nó cũng không muốn cô ta công bố chuyện này giống như tôi. Tôi hiểu - không, phải nói là tôi rất hiểu con trai mình.”

“Nên bà tới nhà cô ấy.”

“Đúng vậy. Tôi tới vào cái buổi tối ngày thứ Sáu đó với hy vọng sẽ khuyên giải được cô ta. Khiến cô ta hiểu rằng mình không thể đơn độc ra một quyết định ảnh hưởng tới tất cả chúng tôi như vậy.”

“Nhưng cô ấy không chịu hiểu.”

Vera mỉm cười cay đắng. “Không, cô ta không chịu hiểu.”

Bà đã uống hết tách cà phê thứ hai trong khi Patrik còn chưa uống được một nửa tách đầu. Bà đặt ly cà phê sang bên cạnh và khoanh tay trên bàn.

“Tôi đã cố gắng cầu khẩn cô ta. Tôi đã cố giải thích rằng cô ta sẽ làm khổ Anders nếu công khai chuyện đã xảy ra nhưng cô ta nhìn thẳng vào mắt tôi và nói rằng tôi chỉ nghĩ đến mình chứ không nghĩ cho Anders. Thằng bé sẽ hài lòng nếu chuyện này rốt cuộc được đưa ra ánh sáng, cô ta nói. Thằng bé chưa bao giờ yêu cầu chúng tôi phải giữ bí mật và cô ta cũng bảo với tôi rằng tôi, Nelly, Karl-Erik và Birgit chưa bào giờ nghĩ tới hai người bọn họ khi quyết định giấu nhẹm chuyện này. Chúng tôi chỉ quan tâm tới việc gìn giữ thanh danh của mình. Cậu xem, thật không biết xấu hổ!”

Một tia giận dữ thoáng chốc bùng lên trong ánh mắt Vera rồi nhanh chóng biến mất, thay vào đó là một cái nhìn thờ ơ, đờ đẫn. Bà tiếp tục, giọng đều đều.

“Trong lòng tôi giống như có một trái bộc phá vừa nổ tung sau khi nghe cô ta tuyên bố một câu báng bổ như thế. Khi tôi đã tận tâm làm mọi thứ vì lợi ích của Anders. Tôi gần như có thể nghe thấy một tiếng nói tán thành vang lên trong đầu rồi bắt đầu hành động mà không suy nghĩ. Tôi luôn có thuốc ngủ trong ví nên khi cô ta đi vào trong bếp tôi liền thả mấy viên vào trong nước táo của cô ta. Cô ta đã rót cho tôi một ly rượu lúc tôi mới tới. Khi cô ta quay lại từ bếp, tôi giả vờ đồng ý với những gì cô ta vừa nói và muốn cụng ly chúc mừng quyết định đó trước khi rời khỏi. Cô ta có vẻ biết ơn vì điều đó nên đã uống ly nước táo. Một lúc sau, cô ta ngủ gục trên ghế sofa. Lúc đó tôi thực sự chưa nghĩ ra phải làm gì tiếp theo. Chuốc thuốc ngủ cho Alex là do bị kích động tức thời và chỉ sau đó tôi mới nảy ra ý định dàn dựng một vụ tự sát. Tôi không có đủ thuốc ngủ cho một liều tử vong. Cách duy nhất tôi có thể nghĩ ra là rạch cổ tay cô ta. Tôi biết rất nhiều người đã làm thế trong bồn tắm nên có vẻ khả thi.”

Giọng bà không hề có chút cảm xúc nào. Như thể bà đang kể một câu chuyện thường ngày hết sức tầm phào chứ không phải là một án mạng.

“Tôi cởi hết quần áo của cô ta ra. Tôi nghĩ mình có thể vác cô ta lên nhờ hai cánh tay khỏe mạnh suốt đời làm việc nặng nhọc nhưng không được. Thế là tôi đành kéo cô ta vào buồng tắm rồi cũng xoay sở lôi được cô ta vào trong bồn. Rồi tôi rạch hai bên cổ tay cô ta bằng lưỡi dao cạo tìm thấy trong tủ thuốc. Sau nhiều năm làm người dọn dẹp cho ngôi nhà này, một tuần mỗi lần, tôi đã trở nên hết sức quen thuộc với mọi thứ ở đây. Tôi rửa sạch chiếc ly mình vừa uống, tắt đèn, khóa cửa, rồi đặt chìa khóa vào vị trí quen thuộc.”

Patrik rõ ràng bị chấn động nhưng vẫn cố gắng giữ cho giọng mình bình tĩnh.

“Bà cũng biết là bây giờ thì bà sẽ phải đi cùng tôi đúng không? Tôi sẽ không cần gọi tới lực lượng tiếp ứng, phải không?”

“Không, cậu không cần làm thế. Tôi có thể thu xếp vài thứ mang theo được không?”

Anh gật đầu. “Được thôi, không thành vấn đề.”

Bà đứng dậy. Đi tới ngưỡng cửa thì bà quay lại.

“Làm sao tôi biết cô ta đang mang thai chứ? Cô ta từ chối uống rượu, tôi quả thật có thắc mắc chuyện này nhưng không đoán ra nguyên nhân tại sao. Có lẽ cô ta không thích uống rượu hay sắp phải lái xe đi đâu đó. Làm sao mà tôi biết được chứ? Tôi không thể nào biết được, cậu nghĩ có đúng không?”

Giọng bà đầy vẻ nài nỉ và anh chỉ còn biết lẳng lặng gật đầu. Đến thời điểm thích hợp, anh sẽ nói cho bà biết đứa bé không phải là con của Anders nhưng hiện tại anh không muốn làm hỏng thế cân bằng niềm tin đã được thiết lập giữa hai người bọn họ. Bà sẽ phải kể lại chuyện này với một số người nữa trước khi có thể khép lại vụ án. Nhưng có điều gì đố vẫn khiến anh canh cánh trong lòng. Anh có linh cảm Vera vẫn chưa kể hết với anh mọi chuyện.

Sau đó, khi trở vào xe của mình, anh lấy bản sao bức thư mà Anders đã để lại phía sau, thông điệp cuối cùng của anh ta với thế giới. Anh chậm rãi đọc lại những gì Anders đã viết và một lần nữa, cảm thấy nỗi đau mới mãnh liệt làm sao sau từng con chữ.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của camilla lackberg