Tôi nên nói thêm một chút về chiếc đèn chùm này.
Tại sao không? Tôi đâu còn gia đình thân thích nữa. Tất cả những gì tôi có là những chiếc đèn chùm.
Tôi có một chiếc ở đây, ngay trên đầu tôi trong phòng làm việc, và còn hai chiếc trong căn hộ của mình ở Khu villa Raj Mahal Giai đoạn Hai. Một chiếc trong phòng khách, một chiếc nhỏ trong nhà vệ sinh. Đó hẳn là nhà vệ sinh duy nhất ở Bangalore có gắn đèn chùm!
Vào một hôm tôi trông thấy những chiếc đèn này, treo trên cành của một cây đa to gần Vườn Lalbagh; một thằng bé trong làng đang đứng bán, và tôi đã mua hết tại chỗ. Tôi thuê một anh bạn đánh xe bò chở về nhà. Chúng tôi đánh xe băng qua Bangalore, tôi với anh bạn này và ba chiếc đèn chùm, trong chiếc limousine bò kéo!
Mỗi lần ngắm một chiếc đèn chùm là tôi thấy lâng lâng trong dạ. Sao lại không nhỉ, tôi là kẻ tự do tự tại, hãy để mặc tôi mua tất cả những chiếc đèn chùm mà tôi muốn. Vì một lý do, chúng đuổi thằn lằn ra khỏi phòng. Đó là sự thật, thưa ngài. Thằn lằn không thích ánh sáng, vì thế ngay khi vừa trông thấy đèn chùm là chúng biến mất tăm.
Tôi không hiểu tại sao những người khác lại không say mê mua đèn chùm và treo chúng lên khắp nơi. Người tự do chẳng hiểu giá trị của sự tự do, vấn đề là thế.
Đôi khi, trong căn hộ của mình, tôi bật cả hai chiếc đèn chùm, rồi sau đó nằm xuống giữa ánh sáng ấy, và cất tiếng cười. Một kẻ trốn chui trốn nhủi, vậy mà xung quanh lại đầy những đèn chùm.
Đấy - tôi đang tiết lộ bí quyết để có một vụ đào thoát trót lọt. Cảnh sát tìm kiếm tôi trong bóng tối: nhưng tôi nấp trong ánh sáng.
Tại Bangalore!
Bây giờ, một trong những công dụng của đèn chùm, thứ đồ vật không được thừa nhận và yêu quý này, là khi ngài quên một điều gì đó, tất cả những gì ngài cần làm là nhìn đủ lâu vào những mảnh thủy tinh chiếu sáng trên trần nhà một cách chăm chú, và trong vòng năm phút ngài sẽ nhớ chính xác điều mà mình đang cố nhớ.
Thấy chưa, tôi đã quên mất câu chuyện của chúng ta đang dừng ở đoạn nào tối qua, vì thế tôi phải nói về đèn chùm một chút, làm cho ngài phân tâm, nhưng giờ thì tôi nhớ chúng ta nói đến đâu rồi.
Delhi - tối qua chúng ta đang nói đến Delhi thì tôi dừng bút.
Thủ đô đất nước vinh quang của chúng tôi. Trụ sở của quốc hội, của tổng thống, của tất thảy các bộ trưởng và thủ tướng. Niềm tự hào của chương trình quy hoạch dân sự của chúng tôi. Nơi phô trương của chế độ cộng hòa.
Đó là những gì người ta đặt tên cho nó.
Hãy để một tài xế nói với ngài sự thật. Và sự thật là, Delhi là một thành phố điên rồ.
Ngài xem, những người giàu sống trong các khu dân cư như Defence Colony hoặc Greater Kailash hoặc Vasant Kunj, mà trong các khu dân cư, nhà nào cũng có số và chữ, nhưng hệ thống đánh số đặt chữ này không theo một quy luật nào cả. Ví dụ, trong bảng chữ cái tiếng Anh, sau A là B, ai cũng biết, ngay cả đứa dốt tiếng Anh như tôi. Thế nhưng trong một khu dân cư, tiếp theo nhà số A 231 là F 378. Vì thế có lần bà Pinky muốn tôi đưa đến Greater Kailash E 231, tôi đã lần theo các căn nhà đến số E 200, và ngay khi tôi nghĩ rằng chúng tôi đã gần đến, thì dãy E biến mất hoàn toàn. Căn kế tiếp là S gì đó.
Bà Pinky bắt đầu mắng nhiếc. “Đã bảo đừng có đem cái ngữ nhà quê này theo rồi mà!”
Lại còn chuyện này nữa. Mỗi con đường ở Delhi có một cái tên, như Đường Aurangazeb, hoặc Đường Humayun, hoặc Đường Archbishop Makarios. Và không một ai, chủ cũng như tớ, biết tên đường. Ngài thử hỏi một người nào đó, “Nikolai Copernicus Marg ở đâu?”
Và người đó có thể là đã sống trên đường Nikolai Copernicus Marg cả đời, nhưng sẽ mở miệng nói, “Hả?”
Hoặc người đó sẽ nói, “Đi thẳng, rồi rẽ trái,” dù chẳng biết ất giáp gì.
Và tất cả các con đường đều giống nhau, tất cả đều chạy quanh những chiếc vòng xoay cỏ mọc um tùm trong đó đám đàn ông đang nằm ngủ hoặc ăn uống hoặc chơi bài, và rồi bốn con đường tách ra từ chiếc vòng xoay cỏ dại um tùm đó, ngài đi vào một con đường, rồi ngài lại gặp một vòng xoay cỏ mọc um tùm khác nơi đám đàn ông đang nằm ngủ hoặc chơi bài, rồi lại có thêm bốn con đường tách ra từ đó. Thế là ngài cứ đi lạc, rồi đi lạc, rồi đi lạc trong Delhi.
Hàng nghìn người sống bên lề đường ở Delhi. Bọn họ cũng đến từ Bóng tối - ngài có thể nhận ra qua những cơ thể gầy đét, những khuôn mặt bẩn thỉu, qua cái cách họ sống như-súc-vật bên dưới những chiếc cầu sông và cầu vượt to rộng, nhóm lửa, tắm giặt và bắt chấy cho nhau trong lúc những chiếc xe ô tô rú ga vượt qua họ. Những kẻ vô gia cư này thực sự là một vấn nạn đối với người lái xe. Bọn họ không bao giờ chờ đèn đỏ - cứ thế mà băng ào qua đường. Và mỗi khi tôi phanh xe để tránh đâm sầm vào một trong số họ, tiếng chửi bới lại vọng lên từ băng ghế phía sau.
Nhưng tôi hỏi ngài, ai đã xây Delhi theo cách điên rồ này? Thiên tài nào chịu trách nhiệm làm cho dãy F xuất hiện sau dãy A và Nhà số 69 xuất hiện sau Nhà số 12? Ai quá bận bịu với tiệc tùng và uống rượu Anh và dẫn chó Pomeran đi dạo và tắm rửa cho chúng đến nỗi họ đặt cho các con đường những cái tên mà không ai có thể nhớ nổi?
“Mày lại lạc đường nữa đấy à, tài xế?”
“Đừng bắt bẻ cậu ấy nữa.”
“Sao chú lúc nào cũng bênh vực nó, Ashok?”
“Chúng ta không có những việc nghiêm túc hơn để nói à? Tại sao chúng ta cứ nói về cậu tài xế này suốt vậy?”
“Được thôi, vậy thì ta thảo luận chuyện khác nào. Đầu tiên hãy nói về vợ chú, và cái tính khí nóng nảy của thím ấy.”
“Anh có thực sự nghĩ rằng chuyện đó quan trọng hơn chuyện thuế má không? Em hỏi đi hỏi lại anh chúng ta sẽ tính sao về vấn đề này, còn anh thì cứ đổi chủ đề. Em nghĩ thế là điên rồ, số tiền mà chúng bắt chúng ta phải nộp ấy.”
“Anh bảo chú rồi, đấy là chuyện chính trị. Chúng nhũng nhiễu ta vì bố đang tìm cách bứt ra khỏi Đảng viên Đại xã hội.”
“Em không hiểu tại sao bố lại dính vào tay xỏ lá này.”
“Bố phải tham gia vào chính trị vì ông buộc lòng phải thế, Ashok - ở Bóng tối chú không có quyền chọn lựa. Mà chú cũng đừng bấn loạn thế, chúng ta có thể giải quyết vụ thuế thu nhập này. Đây là Ấn Độ, không phải Mỹ. Ở đây luôn có lối thoát. Anh đã bảo chú rồi, chúng ta có đàn em ở đây - thằng Ramanathan. Nó chạy chọt giỏi lắm.”
“Ramanathan là thằng đần tởm lợm chỉ giỏi nịnh hót. Ta cần một luật sư thuế mới, anh Mukesh! Ta cần đi đến các tờ báo tố cáo với họ rằng ta đang bị các chính trị gia này cưỡng đoạt.”
“Nghe này” - Cầy Mangut lên giọng - “chú chỉ mới từ Mỹ về. Ngay cả thằng tài xế này còn biết về Ấn Độ nhiều hơn chú. Chúng ta cần một kẻ chạy chọt. Hắn sẽ sắp xếp cho chúng ta một cuộc gặp riêng với một bộ trưởng mà ta cần. Đó là cách làm việc ở Delhi.”
Cầy Mangut chồm tới đặt tay lên vai tôi. “Lại đi lạc nữa hả? Liệu mày có tìm được đường về nhà mà không phải đi lạc thêm một chục lần nữa không?”
Ông ta thở dài rồi ngả phịch ra ghế. “Lẽ ra ta không nên đưa nó đến đây, thằng này không có tương lai gì cả. Ram Bahadur nói sai bét về thằng nhỏ này. Ashok.”
“Hử?”
“Rời mắt khỏi cái điện thoại một phút đi. Chú có bảo với Pinky là chú ở lại đây luôn chưa?”
“Ừm. Có.”
“Thế Bà hoàng nói sao?”
“Đừng gọi cô ấy như thế chứ anh. Cô ấy là em dâu anh mà, Mukesh. Cô ấy sẽ thoải mái khi ở Gurgaon, thành phố có khu ấy là giống Mỹ nhất.”
Thật, ông Ashok suy nghĩ mới thông minh chứ. Người ta nói mười năm trước chẳng có gì ở Gurgaon, chỉ có trâu nước và những người nông dân Punjab béo ị. Ngày nay nó là khu ngoại ôhiện đại nhất Delhi. American Express, Microsoft, tất cả những công ty lớn của Mỹ đều mở văn phòng tại đó. Con đường chính tràn ngập các khu phố mua sắm - mỗi khu có một rạp chiếu phim bên trong! Vì thế nếu bà Pinky nhớ nước Mỹ, đây là nơi tốt nhất để đưa bà đến.
“Cái thằng ngốc này,” Cầy Mangut càm ràm, “xem nó làm gì kìa. Nó lại lạc nữa rồi.”
Ông ta với tay ra đập vào đầu tôi. “Đến đài phun nước thì rẽ trái, thằng ngốc! Mày không biết đi từ đây về nhà thế nào à?”
Tôi lên tiếng xin lỗi, nhưng một giọng nói phía sau tôi cất lên, “Không sao đâu, Balram. Chỉ cần đưa chúng ta về nhà.”
“Đấy - chú lại bênh nó rồi.”
“Cứ đặt mình vào hoàn cảnh cậu ta xem, Mukesh. Anh không hình dung được Delhi rối rắm với cậu ấy ra sao ư? Chắc là cũng giống như em lần đầu tiên đến New York.”
Cầy Mangut đổi sang tiếng Anh - và tôi không hiểu ông ta nói gì - nhưng ông Ashok trả lời bằng tiếng Hindi, “Pinky cũng nghĩ thế. Đó là điều duy nhất anh và cô ấy đồng tình, nhưng em thì không đâu, anh Mukesh ạ. Ở Delhi ta có biết ai với ai đâu. Anh bạn này, chúng ta có thể tin tưởng được. Cậu ấy dù gì cũng là người đồng hương.”
Vào lúc ấy tôi nhìn vào kính chiếu hậu, và bắt gặp ánh mắt ông Ashok nhìn tôi: trong đôi mắt ông chủ, tôi nhận ra thứ cảm xúc ít ngờ đến nhất.
Sự thương hại.
***
“Nhà ấy trả mày bao nhiêu, Chuột Đồng?”
“Đủ xài. Tao hài lòng rồi.”
“Không muốn nói với tao hử, Chuột Đồng? Ngoan thật. Một đầy tớ trung thành đến hết đời. Thích Delhi không?”
“Có.”
“Ha! Đừng láo toét với tao, thằng chó. Tao biết mày hoàn toàn lạc lõng ở đây. Mày phải ghét nó lắm!”
Hắn định để tay lên người tôi, nhưng tôi né người lùi lại. Hắn mắc bệnh da liễu - chứng bạch biến khiến môi hắn biến thành màu hồng nhạt giữa khuôn mặt đen như than. Tôi nên giải thích về bệnh ngoài da này một chút, vì rất nhiều người nghèo ở nước tôi mắc phải. Tôi không biết tại sao người ta mắc bệnh này, nhưng khi đã bị rồi thì da sẽ đổi màu từ nâu sang hồng. Chín trên mười ca chỉ là một vài đốm lấm tấm màu hồng nhạt trên mũi hoặc má của một đứa nhóc, trông giống một ngôi sao đang nổ tung trên mặt nó, hoặc một vệt màu hồng trên trán như bị ai đó giội nước sôi vào, nhưng thỉnh thoảng toàn thân người ta bị đổi màu, và khi ngài đi ngang qua, ngài thầm nghĩ, Một người Mỹ! Ngài dừng lại nhìn, miệng há hốc; ngài muốn đến gần để chạm vào. Rồi ngài nhận ra đó chỉ là một người trong số chúng tôi, bị cái chứng bệnh khủng khiếp đó.
Trong trường hợp tay tài xế này, vì đốm màu hồng đã tẩy sạch màu môi hắn - những chỗ khác thì chả bị gì - nên trông hắn như một thằng hề trong gánh xiếc với đôi môi vẽ son. Trông thấy mặt hắn thôi là bụng tôi đã phát dợn. Tuy nhiên, hắn lại là người duy nhất trong đám tài xế đối tốt với tôi, vì thế tôi chơi thân với hắn.
Chúng tôi đứng bên ngoài khu phố buôn bán. Chúng tôi - đâu chừng một tá tài xế riêng - đang chờ đợi chủ của mình đi mua sắm. Chúng tôi không được phép vào trong khu nhà, đương nhiên rồi - chẳng cần ai phải bảo chúng tôi điều này. Chúng tôi đứng thành vòng tròn cạnh bãi đỗ xe, hút thuốc và nói chuyện phiếm - thỉnh thoảng lại có một người phun nước trầu đỏ ra khỏi mồm.
Vì bản thân hắn ta cũng đến từ Bóng tối - hắn đương nhiên đã đoán ra gốc gác của tôi ngay - gã tài xế với đôi môi bệnh da liễu đã dạy tôi một khóa làm sao để sống sót ở Delhi và đảm bảo tôi không bị tống lên nóc xe buýt gửi trả về Bóng tối.
“Điều quan trọng cần biết về Delhi là đường sá thì tốt, còn con người thì tồi. Bọn cảnh sát thì hoàn toàn thối nát. Nếu bọn nó thấy mày không cài dây an toàn, mày phải bón cho nó một trăm rupee. Mấy ông chủ cũng chẳng tốt lành gì. Khi mấy bố tiệc tùng thâu đêm thì mày tiêu tùng. Mày ngủ trong xe cho muỗi ăn tươi nuốt sống. Nếu đó là muỗi sốt rét thì không sao, mày chỉ bị mê sảng vài tuần là xong, nhưng nếu đó là muỗi sốt xuất huyết thì đời mày coi như đứt, chết là cái chắc. Khoảng hai giờ sáng, ông chủ tàn tiệc đi ra, đập lên cửa xe kêu gào mày, người bốc mùi bia nồng nặc, và đánh rắm trong xe suốt đường về nhà. Trời tháng Giêng thì lạnh thôi rồi. Nếu mày biết ông ta sắp có tiệc khuya thì hãy đem theo một cái chăn để đắp trong xe. Tránh được bọn muỗi mòng nữa. Rồi, ngồi trong xe chờ ông chủ tàn tiệc sẽ làm mày chán ốm - tao biết một tay tài xế đã phát rồ vì phải chờ đợi quá lâu - thế cho nên mày cần cái gì đấy để đọc. Mày biết đọc mà, phải không? Tốt. Đây là thứ tuyệt nhiên tốt nhất để đọc trong xe.”
Hắn đưa tôi một quyển tạp chí với trang bìa rất bắt mắt - một cô ả mặc đồ lót đang nằm trên giường, co rúm người trước cái bóng của một gã đàn ông.
TUẦN SAN GIẾT NGƯỜI
4,5 RUPEE
CHUYỆN CÓ THẬT ĐỘC QUYỀN:
“MỘT THI THỂ TỐT KHÔNG BAO GIỜ PHÂN HỦY”
GIẾT NGƯỜI. CƯỠNG HIẾP. BÁO THÙ.
Bây giờ tôi phải nói với ngài về quyển tạp chí này, Tuần san Giết người, vì chắc chắn thủ tướng chúng tôi sẽ không cho ngài biết gì về nó cả. Nó được bán tại mọi sạp báo trong thành phố, cùng với những quyển tiểu thuyết rẻ tiền, và nó được tất cả đám đầy tớ trong thành phố chuộng đọc - bất kể đó là đầu bếp, vú em, hay thợ làm vườn. Tài xế cũng không ngoại lệ. Hàng tuần khi quyển tạp chí này ra sạp, với ảnh bìa một cô ả rúm ró trước kẻ sắp giết mình, một tay tài xế lại mua về đọc rồi chuyền tay cho các tài xế khác.
Đừng hoảng sợ trước thông tin này, ngài thủ tướng - không một giọt mồ hôi lạnh toát nào nhất thiết xuất hiện trên vầng trán da vàng của ngài. Việc đám tài xế và đầu bếp ở Delhi đọc Tuần san Giết người không có nghĩa là tất cả bọn họ đều sẽ cắt cổ ông chủ của mình. Dĩ nhiên, họ muốn làm thế. Dĩ nhiên, một tỉ đầy tớ đang bí mật mơ tưởng đến cảnh siết cổ ông chủ mình - và đó là lý do vì sao chính phủ Ấn Độ phát hành quyển tạp chí này và bán nó trên đường phố chỉ với giá bốn rupee rưỡi, để cho ngay cả người nghèo cũng mua được. Ngài xem, kẻ sát nhân trong tạp chí bị tâm thần và rối loạn tình dục nặng, chẳng có độc giả nào lại muốn trở thành giống như y - và kết cục y sẽ luôn bị một viên cảnh sát mẫn cán, trung thực nào đấy tóm gọn (ha!), hoặc sẽ phát rồ rồi treo cổ tự vẫn bằng tấm ga trải giường sau khi viết một lá thư lâm li gửi mẹ hay thầy giáo tiểu học, hoặc bị anh trai của cô ả mà hắn vừa giết truy đuổi, đập cho tơi bời và bóp nát cổ. Vì thế nếu tài xế của ngài có bận bịu dán mắt vào những trang báo của tờ Tuần san Giết người, hãy thư giãn. Không có nguy hiểm gì cho ngài cả. Trái lại hoàn toàn.
Chỉ khi tài xế của ngài bắt đầu đọc về Gandhi và Đức Phật, đó mới là lúc ngài nên sợ vãi quần, ngài Gia Bảo ạ.
Sau khi cho tôi xem, Môi Bạch Biến gấp quyển tạp chí lại rồi ném nó vào trong vòng xoay nơi đám tài xế khác đang ngồi; họ chộp lấy nó, như một bầy chó chạy đuổi theo khúc xương. Hắn ngáp dài rồi nhìn tôi.
“Chủ mày làm nghề gì, Chuột Đồng?”
“Tao không biết.”
“Mày trung thành hay là ngốc vậy Chuột Đồng? Ông ta đến từ đâu?”
“Dhanbad.”
“Vậy là làm than đá rồi. Chắc đến đây để hối lộ mấy ông bộ trưởng. Cái nghề than đá này nó thối lắm.” Hắn lại ngáp. “Tao từng lái xe cho một tay bán than. Cái nghề tồi, rất tồi. Nhưng ông chủ hiện giờ của tao làm thép, và nhìn bố ấy tao lại thấy mấy ông làm than hãy còn tốt như thánh. Ông chủ mày sống ở đâu?”
Tôi nói tên dãy nhà của chúng tôi.
“Chủ tao cũng sống ở đó! Tụi mình là hàng xóm rồi!”
Hắn trườn đến trước mặt tôi; không dám quay mặt đi - như thế thì thô lỗ quá - tôi nghiêng người hết sức để tránh đôi môi hắn.
“Chuột Đồng này - chủ của mày” - hắn nhìn dáo dác, rồi hạ giọng thầm thì - “cần gì không?”
“Ý mày là sao?”
“Chủ mày có thích rượu ngoại không? Tao có thằng bạn làm tài xế ở một đại sứ quán nước ngoài. Nó có mối mang ở đó. Mày biết phi vụ rượu ngoại sứ quán ngoại không?”
Tôi lắc đầu.
“Vụ đó là thế này, Chuột Đồng ạ. Ở Delhi rượu ngoại rất đắt đỏ, vì bị đánh thuế mà. Nhưng các sứ quán lại được mua miễn phí. Đáng lẽ uống thì họ bán lại ra chợ đen. Tao còn cung cấp cho chủ mày được nhiều thứ khác nữa. Ổng có cần bóng đánh golf không? Tao có người quen trong Lãnh sự Mỹ bán cái đó. Ổng cần em út không? Tao cũng có mối. Nếu ổng thích mấy đứa trai tơ, có tuốt.”
“Chủ tao không làm những chuyện đấy. Ông ấy là người tốt.”
Đôi môi bạch biến nở thành nụ cười. “Thế thôi sao?”
Rồi hắn huýt sáo một điệu nhạc phim Hindi. Một tay tài xế đang đọc lớn câu chuyện trong quyển tạp chí; đám còn lại im lặng. Tôi quan sát khu phố buôn bán một chốc, rồi quay sang tay tài xế có đôi môi hồng và nói, “Tao có chuyện này muốn hỏi mày.”
“Được thôi. Hỏi đi. Mày biết tao sẽ làm mọi thứ cho mày mà, Chuột Đồng.”
“Tòa nhà này - cái mà người ta gọi là phố buôn bán ấy - cái mà treo đầy áp phích gái đẹp ấy - nó là nơi mua sắm, đúng không?”
“Đúng.”
“Vậy cái đó - tôi trỏ vào một tòa nhà bằng kính sáng choang ở bên tay trái chúng tôi - “nó cũng là phố buôn bán hả? Sao tao không thấy áp phích gái đẹp nào treo ở đấy cả.”
“Đó không phải phố buôn bán, Chuột Đồng à. Đó là một cao ốc văn phòng. Người ta gọi điện thoại từ đó đến Mỹ.”
“Gọi làm gì?”
“Tao không biết. Con gái ông chủ tao cũng làm trong một tòa nhà giống như thế. Tao thả nó ở đó lúc tám giờ rồi nó về nhà lúc hai giờ sáng. Tao biết nó kiếm được khối tiền ở tòa nhà ấy, vì nó tiêu xài cả ngày trong khu phố mua sắm.” Hắn rướn đến gần hơn - cặp môi hồng chỉ cách môi tôi vài centimet. “Cái này nói riêng với mày, tao nghĩ chuyện này hơi kì cục - đám con gái đi vào trong mấy tòa nhà buổi tối rồi về nhà vào sáng hôm sau với một đống tiền.”
Hắn nháy mắt với tôi. “Còn gì nữa không, Chuột Đồng? Mày tò mò thật đấy!”
Tôi trỏ vào một cô gái đi ra từ khu phố mua sắm.
“Con bé ấy hả, Chuột Đồng? Mày thích nó à?”
Tôi đỏ mặt. “Thế,” tôi hỏi, “con gái thành phố - như con bé ấy - có lông nách và lông chân như con gái nhà quê không?”
***
Nửa giờ sau, Ngài Mukesh, ông Ashok cùng bà Pinky rời khỏi tòa nhà với những chiếc túi mua sắm; tôi chạy đến xách túi dùm họ, cho vào sau xe, đóng cốp xe và nhảy vào ghế tài xế của chiếc Honda City, rồi chở họ về nhà mới, nằm trên tầng thứ mười ba của một khu chung cư khổng lồ. Tòa nhà có tên Cao ốc Buckingham Dãy B. Nó nằm cạnh một khu chung cư khổng lồ khác do cùng một công ty địa ốc xây dựng, có tên là Cao ốc Buckingham Dãy A. Cạnh bên là Windsor Manor Dãy A. Và có những dãy chung cư như thế này, tất cả đều sáng choang và mới toanh, mang toàn những cái tên tiếng Anh hoành tráng đứng từ xa cũng có thể nhận ra. Cao ốc Buckingham Dãy B là một trong những tòa nhà đẹp nhất - nó có sảnh chờ rộng rãi, ở đấy có thang máy mà chúng tôi dùng để đi lên tầng mười ba.
Cá nhân tôi không thích căn hộ lắm - cả một căn chỉ to bằng cái nhà bếp ở Dhanbad. Trong nhà có một bộ ghế sofa trắng êm ái, trên bức tường phía trên bộ sofa có một bức ảnh to đóng khung của Cuddles và Puddles. Lão Cò không cho chúng theo chúng tôi lên thành phố.
Tôi không chịu đựng nổi khi nhìn thấy những con vật ấy, ngay cả trong ảnh, vì thế tôi dán mắt xuống thảm suốt thời gian ở trong phòng - như thế còn có thêm một cái lợi là làm cho tôi trong có vẻ giống một đầy tớ thứ thiệt.
“Cứ để túi đâu cũng được, Balram.”
“Không. Để chúng xuống cạnh bàn ấy. Để ngay đấy,” Cầy Mangut nói.
Sau khi đặt túi xuống, tôi đi vào nhà bếp để xem có cần lau dọn gì không - có một đầy tớ quán xuyến việc coi sóc căn hộ, nhưng tay này quá ư cẩu thả, vả lại như tôi đã nói, họ thực ra không có “tài xế”, mà chỉ là một đầy tớ thỉnh thoảng lái xe. Tôi biết không cần đợi bảo cũng phải coi sóc căn hộ. Có gì cần lau dọn thì tôi phải làm, rồi quay ra chờ gần cửa, hai tay khoanh lại cho đến khi Ngài Mukesh nói, “Mày đi được rồi. Nhớ đến lúc 8 giờ sáng. Đừng có mà lên thành phố rồi kiếm chuyện nọ kia, hiểu chứ?”
Sau đó tôi đi thang máy xuống, ra khỏi tòa nhà, đi thang bộ xuống khu nhà của đầy tớ trong tầng hầm.
Tôi không rõ các tòa nhà ở nước ngài được thiết kế như thế nào, nhưng ở Ấn Độ mỗi dãy chung cư, mỗi căn nhà, mỗi khách sạn đều được xây kèm một khu cho đầy tớ - đôi khi nằm phía sau, và đôi khi (như trong trường hợp của Cao ốc Buckingham Dãy B) dưới hầm - đó là một dãy các phòng thông nhau, nơi toàn thể tài xế, thợ nấu ăn, lao công, giúp việc và đầu bếp của dãy chung cư có thể ngả lưng, chợp mắt và chờ đợi. Khi chủ có việc cần gọi, một chiếc chuông điện sẽ réo inh ỏi khắp khu nhà - chúng tôi sẽ chạy bổ ra một tấm bảng để tìm ánh đèn đỏ nhấp nháy cạnh con số của căn hộ mà người đầy tớ đang được triệu tập trên lầu.
Tôi đi xuống hai dãy cầu thang rồi đẩy cửa bước vào khu nhà của đầy tớ.
Khi tôi vừa đến, đám đầy tớ hét toáng lên - bọn chúng thi nhau la ó, cười rú.
Tay tài xế môi bạch biến đang ngồi với bọn chúng, rú to nhất. Hắn vừa kể lại câu hỏi mà tôi hỏi hắn. Bọn chúng không làm sao hết buồn cười; từng đứa một đến chỗ tôi, xộc ngón tay vào tóc tôi, gọi tôi là “thằng ngốc nhà quê”, còn vỗ vào lưng tôi nữa. Đầy tớ có nhu cầu bắt nạt đầy tớ khác. Nó đã ngấm vào chúng tôi, như giống chó béc giê có bản năng tấn công người lạ. Chúng tôi tấn công bất kì ai mình quen biết.
Có đôi lúc tôi tự hứa với lòng không bao giờ kể cho ai ở Delhi bất cứ điều gì tôi nghĩ trong đầu nữa. Đặc biệt là không kể cho một đứa đầy tớ khác. Bọn chúng trêu chọc tôi suốt cả tối, cho đến khi mọi người đều đã đến phòng ngủ tập thể vẫn chưa chịu thôi. Có cái gì đó về mặt mũi răng miệng tôi, tôi cũng chả biết, làm cho bọn chúng lên cơn. Thậm chí chúng còn trêu tôi vì bộ đồng phục nữa. Chúng bảo tôi trông giống hệt con khỉ khi mặc bộ đồng phục ấy. Vì vậy tôi phải thay bằng quần tây áo sơ mi lem luốc như bọn chúng, nhưng những lời cười cợt không ngớt suốt đêm dài.
Có một người đàn ông quét dọn phòng ngủ, sáng hôm sau tôi hỏi ông ta, “Ở đây có chỗ nào người ta được yên tĩnh một mình không?”
“Có một căn phòng trống ở mé bên kia của khu nhà, nhưng không ai muốn ở đó,” ông ta đáp. “Ai mà muốn sống một mình chứ?”
Căn phòng này thật khinh khủng. Sàn nhà còn xây dang dở, có một tấm thạch cao trắng rẻ tiền trên tường in đầy dấu tay của người đã treo nó lên. Có một chiếc giường ọp ẹp nhỏ xíu, chỉ vừa đủ rộng cho một đứa thậm chí gầy gò như tôi, phía trên giăng một chiếc màn ngăn muỗi.
Thế được rồi.
Đêm thứ hai, tôi không ngủ trong phòng ngủ tập thể - mà đi đến căn phòng đó. Tôi quét nhà, buộc màn vào bốn chiếc đinh đóng trên tường, rồi đánh một giấc. Đến giữa đêm tôi mới hiểu vì sao chiếc màn được để lại đó. Tiếng ồn đánh thức tôi. Bức tường tràn ngập gián, chúng đến ăn khoáng chất hoặc vôi vữa trên tấm thạch cao; tiếng nhai của chúng tạo ra âm thanh rào rào, những cặp râu run rẩy ngo ngoe từ mọi điểm trên bức tường. Một vài con đáp lên nóc màn; từ bên trong, tôi có thể trông thấy thân hình đen ngòm của chúng nổi bật trên lớp vải màn trắng. Tôi gấp vải màn lại, nghiền nát một con gián. Những con khác chẳng màng bận tâm; chúng cứ thay nhau sà xuống màn - để rồi bị nghiền nát. Có lẽ mọi người sống trong thành phố đều trở nên chậm chạp và đần độn thế này, tôi nghĩ, mỉm cười, và nhắm mắt ngủ.
“Tối qua ngủ với gián vui không?” bọn chúng cười nhạo tôi khi tôi đến nhà vệ sinh tập thể.
Mọi ý nghĩ tôi từng có về việc quay lại phòng ngủ tập thể chấm dứt ở đó. Căn phòng đầy gián, nhưng nó là của tôi, và không có ai cười nhạo tôi cả. Chỉ có một điều bất tiện là tiếng chuông điện không lọt vào phòng này - nhưng đó lại là một lợi ích mà về sau tôi mới phát hiện ra.
Sáng hôm ấy, sau khi chờ đến lượt tại nhà vệ sinh tập thể, rồi đến lượt tại bồn rửa mặt tập thể, rồi đến lượt vào phòng tắm tập thể, tôi leo lên một dãy cầu thang, đẩy cửa bước vào bãi đỗ xe, đi đến chỗ chiếc Honda City. Chiếc xe phải được lau chùi bằng vải mềm ướt, cả trong lẫn ngoài; một nén hương phải được cắm vào bức tượng nhỏ thần Lakshmi, nữ thần của sự thịnh vượng, được đặt ngồi trên mặt đồng hồ công tơ mét - việc làm một công đôi lợi, vừa đuổi bọn muỗi chui vào đêm trước, vừa thắp lên bên trong xe một mùi hương thần thánh. Tôi lau các ghế ngồi - những chiếc ghế bọc da bóng lộn đẹp đẽ; rồi lau mặt đồng hồ; đoạn nhấc những tấm thảm da lên khỏi sàn xe để phủi bụi. Có ba miếng nhãn dán hình nữ thần mẹ Kali gắn trên mặt đồng hồ công tơ mét - tôi đã dán chúng lên đó sau khi ném hết những nhãn dán của Ram Persad; tôi lau cả chúng. Có một con yêu tinh nhồi bông nhỏ xíu với cái lưỡi đỏ thè ra khỏi mồm treo lủng lẳng bằng dây xích ở kính chiếu hậu. Nó được xem là bùa may mắn, lão Cò rất thích nhìn nó nảy lên rơi xuống khi xe chạy. Tôi đấm vào mồm con yêu tinh - rồi lau nó sạch sẽ. Sau đó đến công đoạn kiểm tra hộp khăn giấy ở sau xe - chiếc hộp được chạm trổ và mạ vàng hết sức tinh tế, như một vật sở hữu của hoàng gia, dù thực ra nó làm từ giấy bồi. Tôi phải đảm bảo có khăn giấy mới trong hộp. Bà Pinky dùng hàng chục mảnh mỗi lần đi ra ngoài - bà bảo ô nhiễm ở Delhi kinh quá. Bà đã để lại những mảnh khăn giấy bị vò nát gần chiếc hộp, tôi phải nhặt chúng lên vứt đi.
Tiếng chuông điện inh ỏi khắp bãi xe. Một giọng nói từ chiếc micro của sảnh đợi cất lên, “Tài xế Balram. Vui lòng cho xe đến cổng chính Buckingham Dãy B.”
Vậy là tôi ngồi vào chiếc Honda City, lái xe lên một đoạn dốc, và tiến ra để nhìn thấy ánh sáng đầu tiên trong ngày.
Hai anh em ông chủ mặc y phục bóng bẩy - họ đang đứng tại cửa tòa nhà, say sưa nói chuyện; khi lên xe, Cầy Mangut nói, “Đến Trụ sở Đảng Quốc Đại nhé, Balram. Ta đến đấy hôm trước rồi - hi vọng mày nhớ và đừng có đi lạc nữa đấy.”
Tôi sẽ không làm ông thất vọng đâu, thưa ông.
Giờ cao điểm ở Delhi. Ô tô, xe tay ga, xe gắn máy, xe lam, taxi đen, tất cả hối hả giành chỗ trên đường. Ô nhiễm trầm trọng đến mức những người ngồi trên xe máy phải dùng khăn tay bịt quanh mặt - mỗi khi dừng xe ở đèn đỏ, ngài sẽ thấy một hàng người đeo kính đen và mặt nạ, cứ như cả thành phố tổng tham gia vào một vụ cướp nhà băng sáng hôm ấy.
Có một lý do chính đáng cho những chiếc mặt nạ ấy; người ta nói không khí ở Delhi xấu đến mức làm con người giảm mười năm tuổi thọ. Đương nhiên, những người ngồi trong xe con thì không cần phải thở thứ không khí bên ngoài - đã có không khí mát mẻ, sạch sẽ từ máy điều hòa nhiệt độ cho chúng tôi. Kéo kín cửa sổ, những chiếc xe của người giàu như những quả trứng đen lăn trên đường phố Delhi. Thỉnh thoảng một quả trứng nứt ra - một bàn tay phụ nữ, lấp lánh những vòng tay bằng vàng, với ra khỏi cửa sổ xe, ném một chai nước khoáng rỗng xuống đường - rồi cửa kính kéo lên, và quả trứng đóng kín trở lại.
Tôi đang điều khiển quả trứng đen của mình vào trung tâm thành phố. Ở bên trái tôi trông thấy mái vòm của Dinh tổng thống - nơi mà mọi hoạt động quan trọng của đất nước diễn ra. Khi ô nhiễm không khí thật sự tồi tệ, tòa nhà hoàn toàn bị xóa mờ trên đường, nhưng hôm nay nó tỏa sáng đẹp đẽ.
Trong vòng mười phút, tôi đã đến trụ sở Đảng Quốc Đại. Nơi này rất dễ tìm, vì ở bên ngoài luôn treo hai, ba tấm áp phích khổng lồ in hình Sonia Gandhi.
Tôi dừng xe, chạy ra, mở cửa cho ông Ashok và Cầy Mangut; khi bước ra, ông Ashok nói, “Chúng ta sẽ quay ra sau nửa giờ nữa.”
Điều này khiến tôi bối rối; lúc ở Dhanbad họ không bao giờ nói với tôi khi nào thì quay lại. Dĩ nhiên nó chẳng có ý nghĩa gì. Họ có thể quay lại sau hai giờ, hoặc ba giờ. Nhưng đó là một thứ phép lịch sự mà rõ ràng giờ đây họ phải thể hiện với tôi vì chúng tôi đang ở Delhi.
Một nhóm nông dân đến trụ sở. Không được phép vào bên trong, họ gào thét cái gì đó rồi bỏ đi. Một chiếc xe truyền hình đến bấm còi; và được cho vào ngay lập tức.
Tôi ngáp dài. Tôi đấm vào cái miệng màu đỏ của con yêu tinh đen, nó bật lại rồi nảy lên. Tôi xoay đầu vòng vòng, từ bên này sang bên kia.
Tôi nhìn tấm áp phích lớn của Sonia Gandhi. Bà ta giơ một tay lên, như thể đang vẫy tay với tôi - tôi vẫy tay đáp lại.
Tôi ngáp, nhắm mắt, trượt xuống ghế. Một mắt nhắm một mắt mở, tôi nhìn vào miếng nhãn dán nữ thần Kali - một nữ thần da đen rất hung hãn, đang cầm thanh đại đao và xâu sọ người. Tôi tự nhủ phải thay miếng dán đó. Bà ta trông giống bà nội quá.
Hai giờ sau, hai anh em trở lại xe.
“Chúng ta sẽ đến Dinh tổng thống nhé, Balram. Đi lên đồi. Mày biết chỗ đó không?”
“Vâng thưa ông, con đã nhìn thấy nó rồi.”
Bây giờ, tôi đã thấy hầu hết những địa danh nổi tiếng của Delhi - Tòa nhà quốc hội, đài thiên văn Jantar Mantar, đài chiến thắng Qutub - nhưng tôi chưa đến nơi này - nơi quan trọng nhất. Tôi lái xe về hướng Đồi Raisina, lên đồi, dừng lại mỗi khi một lính canh thò tay ra kiểm tra trong xe, rồi sau đó dừng ngay trước một trong những tòa nhà mái vòm lớn xung quanh Dinh tổng thống.
“Chờ trong xe, Balram. Bọn ta sẽ quay lại sau ba mươi phút.”
Trong nửa giờ đầu tôi quá hãi không dám rời xe. Tôi mở cửa - bước ra - ngó nghiêng xung quanh. Ở một nơi nào đó bên trong những mái vòm và tòa nhà bao bọc quanh tôi, những ông lớn của đất nước - thủ tướng, tổng thống, các bộ trưởng hàng đầu và các quan chức - đang thảo luận công việc, viết chúng ra và đóng dấu lên giấy tờ. Một người nói, “Đấy, năm trăm triệu rupee cho cái đập nước ấy!”, và người khác nói, “Được thôi, vậy thì tấn công Pakistan đi!”
Tôi muốn chạy vòng quanh và hét lên: “Balram cũng ở đây! Balram cũng ở đây!”
Tôi chui lại trong xe để đảm bảo mình không làm gì ngu ngốc đến nỗi bị bắt.
Khi hai anh em rời tòa nhà, trời đã tối; một người đàn ông to béo đi ra cùng họ, và nói chuyện với họ một chốc, bên ngoài xe, sau đó bắt tay họ và vẫy chào tạm biệt chúng tôi.
Ông Ashok mặt mũi tối sầm và sưng sỉa khi bước vào xe. Cầy Mangut bảo tôi chở họ về nhà - “Không được phạm sai lầm gì nữa, hiểu không?”
“Vâng, thưa ông.”
Họ ngồi lặng thinh, khiến tôi bối rối. Nếu tôi vừa mới vào trong Dinh tổng thống, thì tôi sẽ kéo cửa kính xuống và hét toáng lên với mọi người trên đường!
“Nhìn kìa!”
“Cái gì?”
“Bức tượng đó.”
Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ thấy một bức tượng bằng đồng lớn tạc một nhóm người - đây là bức tượng rất nổi tiếng, chắc chắn ngài sẽ trông thấy ở Delhi: dẫn đầu là Mahatma Gandhi với chiếc gậy, theo sau là nhân dân Ấn Độ, được dẫn dắt từ bóng tối ra ánh sáng.
Cầy Mangut liếc nhìn bức tượng.
“Nó thì sao? Anh từng thấy nó rồi.”
“Chúng ta đang lái xe ngang qua Gandhi, sau khi mới đút lót cho một ông bộ trưởng. Thật đ. chịu nổi, nhỉ.”
“Chú bây giờ nói chuyện giống vợ rồi đấy,” Cầy Mangut nói. “Anh không thích chửi thề - ở đây chúng ta không có thói quen đó.”
Nhưng ông Ashok đang giận đỏ mặt tía tai nên không giữ im lặng được nữa.
“Thật đ. chịu nổi - cái hệ thống chính trị của chúng ta - và em sẽ còn nói thế chừng nào em thích.”
“Mọi chuyện ở Ấn Độ phức tạp lắm, Ashok à. Không giống như ở Mỹ đâu. Làm ơn giữ mồm giữ miệng của chú.”
***
Tắc đường kinh khủng trên con đường đến Gurgaon. Cứ mỗi năm phút đoàn xe lại rùng rùng di chuyển - chúng tôi nhích được vài tấc - hi vọng nhen nhóm - rồi sau đó những ánh đèn đỏ lại lóe lên trên những chiếc xe phía trước, và chúng tôi lại bị kẹt. Mọi người đều bấm còi. Thỉnh thoảng, những chiếc còi khác nhau, mỗi chiếc một âm vực riêng, hòa quyện vào nhau tạo thành tiếng van vỉ không dứt nghe như bê con bị tách rời khỏi mẹ. Khói xe ngộp đặc không khí. Những dải khói màu xanh sáng lên trước mỗi chiếc đèn pha; khí thải tăng nhiều và dày đến độ không bay lên hay thoát ra được nữa, mà lan tỏa theo chiều ngang, lờ đờ mù mịt, tạo thành một lớp sương mù quanh chúng tôi. Que diêm liên tiếp được đánh lên - những người lái xe lam châm thuốc hút, góp thêm ô nhiễm thuốc lá vào ô nhiễm xăng dầu.
Một người đánh xe bò dừng trước chúng tôi; đống hộp dầu động cơ ô tô rỗng cao gần năm mét được buộc bằng một sợi dây thừng vào xe. Con trâu của người này mới đáng thương làm sao! Phải chở đống đồ ấy - trong khi hít thứ không khí này!
Người lái xe lam cạnh tôi bắt đầu ho dữ dội - ông ta quay người sang bên nhổ ra, ba lần liền. Một ít chất nhổ dính vào thành xe Honda City. Tôi trợn mắt - giương nắm đấm. Ông ta khúm núm, namaste tôi để xin lỗi.
“Cứ như đang ngồi xem màn trình diễn khạc nhổ!” ông Ashok nói, nhìn người lái xe lam.
Gớm, nếu ông ở ngoài đấy hít thở cái không khí axít ấy, ông cũng sẽ khạc nhổ như ông ta thôi, tôi thầm nghĩ.
Những chiếc xe lại nhích lên - chúng tôi tiến thêm được một mét - rồi những ánh đèn đỏ lại lóe lên và mọi thứ dừng lại lần nữa.
“Ở Bắc Kinh hình như người ta đã có cả tá đường vành đai. Ở đây ta chỉ có một. Chả trách sao cứ tắc đường suốt. Chẳng có quy hoạch gì hết. Làm sao bắt kịp người Trung Quốc được?”
(Nhân tiện đây, thưa ngài Gia Bảo - một tá đường vành đai á? Wow.)
Ánh đèn đường nhợt nhạt chiếu xuống vỉa hè ở hai bên làn xe; và trong thứ ánh sáng lờ mờ màu cam ấy, tôi có thể nhìn thấy vô số những con người bé nhỏ, gầy gò, cáu bẩn đang ngồi xổm, chờ xe buýt đến đưa đi đâu đấy, hoặc không có nơi nào để đi và đang sửa soạn trải một tấm chiếu ra ngủ ngay tại đó. Những kẻ bần cùng khốn nạn này đã từ Bóng tối đến Delhi để tìm chút ánh sáng - nhưng họ vẫn chìm trong tăm tối. Dường như có hàng trăm kẻ như thế ở hai bên làn xe, cuộc sống của họ không mảy may bị ảnh hưởng bởi chuyện tắc đường. Biết đâu họ còn không nhận thức được rằng đang có một vụ tắc đường ấy chứ. Chúng tôi như hai thành phố riêng biệt - bên trong và bên ngoài quả trứng đen. Tôi biết tôi đang có mặt ở một nơi nên đến. Nhưng bố tôi, nếu còn sống, sẽ ngồi ở vỉa hè đó, nấu ít cháo suông cho bữa tối, rồi sửa soạn nằm xuống ngủ dưới một ngọn đèn đường. Tôi không thể thôi mường tượng đến điều đó và nhận ra dáng hình ông trong người ăn xin nào đó ngoài kia. Vậy là tôi, theo một cách nào đó, cũng đang ở bên ngoài chiếc xe, dù tôi đang lái nó.
Sau một giờ vật lộn qua đám tắc đường, chúng tôi cuối cùng cũng về đến nhà ở Buckingham Dãy B. Nhưng sự tra tấn chưa hết.
Khi bước ra khỏi xe, Cầy Mangut sờ tay vào túi, trông thoáng bối rối, rồi nói, “Tao mất một rupee.”
Ông ta búng ngón tay về phía tôi.
“Quỳ xuống. Tìm nó trên sàn xe.”
Tôi quỳ xuống. Tôi đánh hơi giữa những tấm thảm như con chó, chỉ để tìm đồng một rupee đó.
“Mày nói nó không có đấy là sao? Đừng tưởng vào thành phố rồi thì mày có thể ăn cắp của bọn tao. Tao muốn lấy lại đồng rupee đó.”
“Mình mới đút lót nửa triệu rupee mà, anh Mukesh, bây giờ lại đi hành hạ người này chỉ vì một đồng rupee. Thôi ta lên nhà làm một ly scotch nào.”
“Chú cứ thế là làm hỏng bọn đầy tớ đấy. Chúng hư hỏng từ một rupee vặt vãnh thế này. Đừng đem lối hành xử kiểu Mỹ ra đây.”
Đồng rupee ấy đi đâu vẫn còn là một ẩn số với tôi cho đến tận hôm nay, thưa thủ tướng. Cuối cùng, tôi lấy từ túi áo mình ra một đồng rupee, thả nó xuống sàn xe, nhặt lên, rồi đưa cho Cầy Mangut.
“Đây ạ, thưa ông. Xin tha lỗi cho con vì tìm lâu quá!”
Trên gương mặt chủ nô sậm sịt của ông ta hiện lên một niềm vui trẻ thơ. Ông ta cho đồng rupee vào tay rồi sít hai hàm răng, như thể đó là điều tốt nhất xảy ra với ông ta suốt ngày hôm ấy.
Tôi đi thang máy lên cùng hai anh em, để xem có việc gì cần làm trong căn hộ không.
Bà Pinky đang ngồi trên ghế sofa xem tivi; ngay khi chúng tôi vào nhà, bà nói, “Em ăn rồi,” tắt tivi, rồi đi sang phòng khác. Cầy Mangut nói không muốn ăn tối, vậy là ông Ashok phải ăn một mình ở bàn ăn. Ông bảo tôi hâm nóng ít rau củ trong tủ lạnh, tôi đi vào nhà bếp để làm.
Ngoái nhìn nhanh trong tích tắc lúc mở cửa tủ lạnh, tôi thấy ông đang chực khóc.
***
Khi làm tài xế, ngài không bao giờ nhìn thấy toàn cảnh. Chỉ những cái nhìn lướt, liếc nhanh, vài mẩu đối thoại - và rồi, ngay khi các ông chủ sắp bước vào phần quan trọng của cuộc trò chuyện - điều đó lại xảy ra.
Một thằng điên nào đó lái xe jeep trắng suýt đâm vào ngài trong lúc tìm cách vượt một chiếc xe chạy sai tuyến. Ngài quặt sang bên, trừng mắt nhìn gã điên, chửi thề (thầm trong bụng) - và đến lúc ngài nghe lỏm tiếp, cuộc nói chuyện ở băng ghế sau đã trôi qua... và ngài không bao giờ biết phần kết của câu nói đó.
Tôi biết có chuyện không ổn, nhưng không nhận ra tình hình xấu đến mức nào cho đến buổi sáng ông Ashok bảo với tôi, “Hôm nay cậu thả ngài Mukesh xuống ga tàu hỏa nhé, Balram.”
“Vâng, thưa ông,” Tôi lưỡng lự. Tôi muốn hỏi, Chỉ ông ta thôi ạ?
Như thế có phải là ông ta sẽ về nhà luôn không? Như thế có phải là bà Pinky cuối cùng đã tống khứ được ông ta bằng những lần đóng sầm cửa và những lời nói ngoa ngoắt không?
Lúc sáu giờ, tôi đưa xe đến chờ bên ngoài lối vào. Tôi chở hai anh em đến ga tàu hỏa. Bà Pinky không đi cùng.
Tôi xách túi của Cầy Mangut đến toa tàu, rồi đi đến quầy mua một cái dosa[17] gói trong giấy cho ông ta. Đó là món ông ta luôn thích ăn trên tàu. Nhưng tôi mở giấy gói dosa và bóc khoai tây ra, ném lên đường ray, vì khoai tây làm ông ta đánh rắm, mà ông ta không thích thế. Đầy tớ phải biết đường đi tuyến ruột của chủ mình từ đầu chí cuối - từ mồm đến hậu môn.
Cầy Mangut bảo tôi, “Gượm đã. Tao có điều căn dặn mày.”
Tôi ngồi xổm ở một góc toa tàu.
“Balram, mày không còn ở Bóng tối nữa.”
“Vâng, thưa ông.”
“Ở Delhi có luật lệ.”
“Vâng, thưa ông.”
“Mày biết mấy bức tượng đồng của Gandhi và Nehru ở khắp mọi nơi chứ? Cảnh sát đã đặt máy quay bên trong mắt tượng để quan sát xe cộ. Mày làm gì họ thấy hết, hiểu chứ?”
“Vâng, thưa ông.”
Đoạn ông ta nhíu mày, như thể suy nghĩ xem còn gì để nói. Ông ta bảo, “Phải tắt máy điều hòa khi mày ở trong xe một mình.”
“Vâng ạ.”
“Không được mở nhạc khi mày ở một mình.”
“Vâng ạ.”
“Cuối mỗi ngày mày phải cho bọn tao xem công tơ để biết chắc mày không tự tiện lái xe.”
“Vâng ạ.”
Cầy Mangut quay sang ông Ashok và chạm vào trán ông ấy. “Quan tâm đến chuyện này một chút đi, chú em Ashok ạ, chú phải kiểm tra thằng tài xế khi anh đi rồi.”
Nhưng ông Ashok đang mải mê với chiếc điện thoại di động của mình. Ông hạ nó xuống và nói, “Cậu tài xế rất trung thực. Cậu ấy đến từ Laxmangarh. Em đã trông thấy gia đình cậu ấy khi đến đấy rồi.” Đoạn ông lại cắm cúi với chiếc điện thoại.
“Đừng nói như thế. Đừng xem thường những gì anh bảo,” Cầy Mangut nói.
Nhưng ông ấy chẳng chú ý gì đến anh trai mình - chỉ mải mê nhấn vào các phím điện thoại: “Một phút, đợi một phút, em đang nói chuyện với người bạn ở New York.”
Tài xế thường hay gọi một số người nào đó thuộc tuýp người số-một. Ông Ashok là người đàn ông số-một điển hình. Ông ấy thích khởi động sự việc, nhưng không có gì giữ được sự quan tâm của ông quá lâu.
Nhìn ông ấy, tôi phát hiện hai điều, gần như cùng lúc. Mỗi điều lại khiến tôi đâm ra thắc mắc. Thứ nhất, ta có thể “nói chuyện” trên điện thoại di động - với một người ở New York - chỉ bằng cách nhấn các phím. Sự kì diệu của khoa học hiện đại không bao giờ thôi làm tôi kinh ngạc!
Thứ hai, tôi nhận ra rằng người đàn ông cao ráo, vai rộng, đẹp trai, được học hành ở nước ngoài này, người sẽ là ông chủ duy nhất của tôi trong ít phút nữa, khi tiếng còi dài dằng dặc cất lên và chiếc tàu tiến về hướng Dhanbad, lại là một kẻ yếu đuối, vô dụng, đãng trí, và hoàn toàn không được bảo vệ bởi những bản năng thông thường chảy trong huyết quản của một địa chủ.
Nếu ông mà trở lại Laxmangarh, bọn tôi sẽ gọi ông là Cừu non.
“Sao mày cười nhăn nhở như lừa thế?” Cầy Mangut vỗ vào người tôi, làm tôi suýt quỳ rạp xuống xin lỗi ông ta.
Tối hôm ấy, lúc tám giờ, ông Ashok gửi một tin nhắn cho tôi thông qua một người đầy tớ khác: “Chuẩn bị trong nửa giờ nữa, Balram. Bà Pinky và tôi sẽ đi ra ngoài.”
Và hai người họ quả thực có đi xuống, muộn khoảng hai giờ bốn mươi lăm phút.
Giây phút Cầy Mangut ra đi, tôi xin thề, những chiếc váy thậm chí còn trở nên ngắn hơn nữa.
Khi bà ấy ngồi sau xe, tôi có thể nhìn thấy một nửa bộ ngực lộ ra từ lớp áo của bà mỗi khi tôi phải nhìn vào kính chiếu hậu.
Điều này đặt tôi vào một tình huống rất tệ, thưa ngài. Vì một lẽ, thằng nhỏ của tôi dựng đứng lên, vốn là một điều tự nhiên ở một thanh niên khỏe mạnh như tôi. Mặt khác, như ngài biết, ông bà chủ giống như là bố mẹ, vậy thì làm sao mà tôi có thể bị bà chủ làm cho hứng lên được?
Tôi chỉ còn cách tránh nhìn vào kính chiếu hậu. Nếu có bị đâm xe, thì đấy không phải lỗi của tôi.
Ngài thủ tướng, có lẽ nếu mà ngài lái xe, giữa dòng xe cộ thế này, ngài dừng xe và hạ kính xe xuống; thì ngài sẽ cảm nhận được hơi thở hổn hển nóng hổi của ống xả chiếc xe tải ở cạnh ngài. Bây giờ hãy cẩn thận, ngài thủ tướng, vì có một động cơ dầu diesel nóng hổi hổn hển ngay trước mũi ngài.
Tôi.
Mỗi lần bà ta vào xe với chiếc váy đen trễ nải ấy, thằng nhỏ của tôi lại cương to. Tôi ghét bà ta vì mặc chiếc váy ấy; nhưng tôi còn ghét thằng nhỏ của mình hơn vì điều nó đang làm.
***
Cuối tháng, tôi đi lên căn hộ. Ông ấy đang ngồi đấy, một mình, trên chiếc ghế sofa dưới bức ảnh đóng khung hai con chó Pomeran.
“Thưa ông?”
“Ừm. Chuyện gì, Balram?”
“Đã một tháng rồi ạ.”
“Thì sao?”
“Thưa ông... lương của con.”
“À, ừ. Ba nghìn, đúng không?” Ông ấy móc chiếc ví ních đầy tiền ra, rút ba tờ giấy bạc đặt lên bàn. Tôi cầm lên và cúi đầu. Lời dặn dò của người anh trai hẳn đã được ông ấy lưu ý, bởi vì ông nói, “Cậu sẽ gửi về nhà một ít, phải không?”
“Tất cả ạ, thưa ông. Chỉ giữ lại đủ ăn uống ở đây - còn lại gửi về nhà hết.”
“Tốt lắm, Balram. Tốt lắm. Gia đình thì tốt.”
Lúc mười giờ tối hôm ấy tôi đi xuống ngôi chợ nằm ở góc đường gần Cao ốc Buckingham Dãy B. Đó là cửa hiệu cuối cùng trong chợ; trên tấm bảng phía trên, những dòng chữ Hindi màu đen to tướng:
CỬA HÀNG RƯỢU ANH “ACTION”
CÓ BÁN RƯỢU NGOẠI LÀM TẠI ẤN
Lại là cảnh nội chiến thường thấy trong cửa hàng rượu mỗi tối: những người đàn ông xô đẩy và căng óc tại quầy tính tiền, hai tay với về trước la hét khản cả giọng. Mấy thằng nhóc sau quầy tính tiền chả nghe được lấy một từ trong mớ tiếng ồn đấy, làm cho lệnh mua nhặng cả lên, càng khiến người ta la hét và đánh nhau nhiều hơn. Tôi lấn qua đám đông - đến quầy tính tiền, đập nắm đấm và gào lên, “Whisky! Loại rẻ nhất! Phục vụ ngay - nếu không khôn hồn có đứa ăn đấm, tao thề đấy!”
Mất mười lăm phút tôi mới lấy được chai rượu. Tôi nhét nó vào quần, vì chẳng còn chỗ nào để giấu, rồi đi về Buckingham.
***
“Balram. Không việc gì phải vội.”
“Xin bà thứ lỗi.”
“Trông mày yếu quá, Balram. Mày có làm sao không?”
“Vâng, thưa bà. Con bị đau đầu. Tối qua con ngủ không ngon lắm.”
“Bây giờ pha ít trà đi. Hi vọng mày nấu ăn giỏi hơn lái xe?”
“Vâng thưa bà.”
“Nghe nói mày là người Halwai, gia đình mày là thợ nấu ăn. Mày biết loại trà gừng truyền thống đặc biệt nào không?”
“Có ạ.”
“Vậy làm món ấy đi.”
Tôi không biết bà Pinky muốn gì, nhưng ít nhất ngực bà cũng được che chắn - thật là nhẹ cả người.
Tôi lấy ấm ra bắt tay vào pha trà. Tôi vừa bắc ấm nước lên đun thì khắp nhà bếp ngạt ngào mùi nước hoa. Bà ấy đang đứng nhìn ở bậu cửa.
Đầu tôi vẫn còn váng vất sau chai whisky tối hôm qua. Tôi đã nhai hạt hồi suốt buổi sáng để không ai nhận ra mùi rượu trong hơi thở mình, nhưng tôi vẫn lo ngay ngáy, vì vậy tôi quay đi khỏi bà trong lúc rửa một củ gừng dưới vòi nước.
“Mày đang làm gì đấy?” bà ta quát.
“Rửa gừng, thưa bà.”
“Đấy là tay phải. Tay trái mày đang làm gì đấy?”
“Gì cơ ạ?”
Tôi nhìn xuống.
“Đừng lấy tay trái gãi háng nữa.”
“Xin bà đừng giận, thưa bà. Con không làm nữa.”
Nhưng chẳng có ích gì. Bà ta tiếp tục quát tháo:
“Mày thật là tởm lợm! Nhìn mày mà xem, nhìn răng mày, nhìn quần áo mày xem! Trầu đỏ dính đầy răng, áo thì lốm đốm đỏ. Thật là kinh tởm! Đi ra - dọn dẹp nhà bếp rồi đi ra ngay.”
Tôi đặt củ gừng vào tủ lạnh, tắt nước sôi, rồi đi xuống cầu thang.
Tôi đến trước tấm kính tập thể, há mồm ra. Răng đỏ quạch, thâm đen, bị trầu làm mục hết. Tôi rửa miệng, nhưng môi vẫn đỏ.
Bà ta đã đúng. Trầu - thứ mà tôi nhai suốt mấy năm trời, như bố tôi và anh Kishan và mọi người mà tôi biết - đã làm đổi màu răng tôi và làm mục nướu răng.
Tối hôm sau, ông Ashok và bà Pinky cãi nhau lúc xuống lối vào, cãi nhau lúc lên xe, và tiếp tục cãi nhau suốt thời gian tôi lái chiếc Honda City từ Cao ốc Buckingham Dãy B ra ngoài đại lộ.
“Ta đi đến khu mua sém[18] hả ông?” Tôi cất tiếng hỏi lúc họ im lặng.
Bà Pinky bật ra một tiếng cười ngắn, lảnh lót.
Tôi đã quen với những phản ứng như thế từ bà ta, không phải từ ông ấy - nhưng lần này ông cũng tham gia.
“Không phải khu mua sém, là khu mua sắm,” ông ấy nói. “Nhắc lại xem.”
Tôi cứ nói “khu mua sém”, còn họ cứ bảo tôi nhắc lại, rồi cười rũ rượi mỗi lần tôi nói sai. Cuối cùng họ lại nắm tay nhau. Vậy là sự nhục nhã của tôi cũng có tác dụng đấy chứ - ít ra tôi thấy vui vì điều đó.
Họ xuống xe, đóng sầm cửa, đi vào khu mua sắm; một nhân viên canh gác cúi chào khi họ đến gần, rồi những chiếc cửa kính tự động mở ra và nuốt chửng họ vào trong.
Tôi không rời khỏi xe: ngồi trong đây giúp tôi tập trung tốt hơn. Tôi nhắm mắt lại.
Khu mua súm.
Không, không phải thế.
Khu mua sóm.
Khu mua sám.
“Chuột Đồng! Xuống xe lại đây mau!”
Một nhóm nhỏ tài xế đang vây thành vòng tròn ngoài bãi đỗ xe của khu mua sắm. Một đứa trong bọn hét gọi tôi, tay vẫy một quyển tạp chí.
Đó chính là tay tài xế với đôi môi bạch biến. Tôi cười toe rồi đi đến chỗ hắn ta.
“Còn muốn hỏi gì về đời sống đô thị không, Chuột Đồng?” hắn hỏi. Loạt súng đại bác tiếng cười nổ ầm ầm xung quanh hắn.
Hắn đặt một tay lên tôi thì thầm, “Mày có nghĩ về điều tao nói chưa, cục cưng? Chủ mày có cần gì không? Thuốc phiện? Gái gú? Trai tơ? Bóng đánh golf - hàng chất lượng cao của Mỹ, hàng miễn thuế?”
“Thôi đừng mời mọc nó bây giờ,” một tài xế khác nói. Gã này đang quỳ gối, xoay chùm chìa khóa có gắn chìa khóa xe của ông chủ như một đứa bé trai nô đùa với món đồ chơi của mình. “Nó là dân nhà quê lên tỉnh, còn ngây thơ lắm. Trước tiên phải để đời sống thành thị làm hư nó đã.” Gã chộp quyển tạp chí - Tuần san Giết người, đương nhiên rồi - và bắt đầu đọc to. Câu chuyện tán phét dừng lại. Tất cả tài xế xích lại gần.
“Đó là một đêm mưa bão. Vishal nằm trên giường, hơi thở nồng nặc mùi rượu, mắt hắn nhìn ra ngoài cửa sổ. Cô nàng sống cạnh bên đã về nhà, đang chuẩn bị cởi...”
Gã có đôi môi bạch biến hét lên, “Nhìn kìa! Hôm nay lại xảy ra nữa...”
Gã cầm quyển tạp chí bực bội vì bị quấy rầy, tiếp tục đọc - nhưng những người khác đều đứng dậy, nhìn về hướng khu mua sắm.
Chuyện đang xảy ra, thưa ngài thủ tướng, là một trong những sự cố rất đỗi phổ biến trong những ngày đầu các trung tâm mua sắm mở cửa, và thường được đăng tải trên các tờ nhật báo với tiêu đề “Không có chỗ cho người nghèo trong các khu mua sắm ở Ấn Độ mới ư?”
Cánh cửa kính đã mở, nhưng kẻ đang muốn vào thì không được vào. Tay bảo vệ cửa đã chặn ông ta lại. Hắn chĩa cây gậy xuống chân người đàn ông rồi lắc đầu - ông ta đang mang xăngđan. Toàn thể tài xế chúng tôi cũng đều mang xăngđan cả thôi. Nhưng những người được phép vào bên trong khu mua sắm phải mang giày tây.
Thay vì lùi lại bỏ đi - như chín trên mười người trong trường hợp ông ta sẽ làm - người đàn ông mang xăngđan bùng nổ, “Bộ tao không phải là con người hả?”
Ông ta hét to đến nỗi nước bọt sùi lên quanh mồm như đài phun nước, hai chân ông ta run lẩy bẩy. Một người tài xế huýt sáo. Người đàn ông đang quét dọn bên ngoài khu mua sắm đặt chổi xuống đứng xem. Có lúc người đàn ông ở cửa trông như chuẩn bị thoi tay bảo vệ đến nơi - nhưng rồi ông ta quay lưng và bỏ đi.
“Tay này cứng cựa đây,” một người tài xế lên tiếng. “Nếu bọn mình ai cũng như thế thì chúng ta sẽ thống trị Ấn Độ, và bọn chúng sẽ phải đánh giày cho bọn ta.”
Rồi cánh tài xế quay trở lại vòng tròn. Lại tiếp tục đọc câu chuyện dang dở.
Tôi nhìn những chiếc chìa khóa xoay vòng trong xâu chìa. Tôi nhìn khói bốc lên từ những điếu thuốc. Tôi nhìn những bãi trầu đỏ đánh toẹt xuống đất.
Điều tệ hại nhất khi làm một tài xế là ngài có hàng đống thì giờ rảnh rỗi cho mình trong lúc chờ đợi ông chủ. Ngài có thể dành thời gian buôn chuyện và gãi háng sồn sột. Ngài có thể đọc tạp chí cướp, hiếp, giết. Ngài có thể hình thành thói quen của người tài xế - giống như môn yoga vậy, thật đấy - là đặt ngón tay lên mũi rồi để tâm trí trống rỗng trong hàng giờ liền (họ nên gọi đó là thế“tài xế chán ốm”). Ngài có thể tuồn một chai rượu Ấn vào trong xe - sự nhàm chán khiến rất nhiều tài xế tử tế trở thành bợm rượu.
Nhưng nếu người tài xế nhận thấy thời gian rảnh rỗi là cơ hội, nếu anh ta dùng nó để suy nghĩ, thì điều tệ hại nhất trong công việc của anh ta trở thành điều tốt nhất.
Tối hôm ấy, khi lái xe về căn hộ, tôi nhìn vào kính chiếu hậu. Ông Ashok đang mặc một chiếc áo phông.
Nó không giống bất kì chiếc áo phông nào mà tôi sẽ chọn mua ở cửa hiệu. Chiếc áo hầu như trắng trơn, chỉ có một họa tiết nhỏ ở giữa. Tôi thì nhất định mua cái gì đấy sặc sỡ, có thật nhiều chữ và hình trên đó. Phải tận dụng đồng tiền của mình chứ.
Rồi một đêm, sau khi ông Ashok và bà Pinky đã lên nhà, tôi đi ra khu chợ gần đó. Dưới ánh đèn vàng vọt trơ trọi, những người đàn ông ngồi xổm trên đường, bán những rổ đầy vòng đeo tay thủy tinh, dây chuyền bạc, đồ chơi, khăn choàng đầu, bút, và móc khóa. Tôi tìm thấy anh bạn bán áo phông.
“Không,” tôi liên tục nói trước mỗi chiếc áo anh ta đưa tôi xem - cho đến khi tìm thấy một chiếc màu trắng, với một chữ tiếng Anh nhỏ ở giữa. Rồi tôi đi tìm người bán giày tây đen.
Tôi mua ống kem đánh răng đầu tiên trong đời vào tối hôm ấy. Tôi mua nó từ người thường bán trầu cho tôi; ông ta có nghề phụ là bán kem đánh răng có tác dụng loại bỏ tác hại của trầu.
THUỐC TẨY TRẮNG SHAKTI
VỚI THAN ĐÁ VÀ LÁ ME THẢO LÀM SẠCH RĂNG BẠN
CHỈ MỘT RUPEE NĂM MƯƠI PAISE[19]
Khi tôi dùng tay đánh răng, tôi để ý tay trái mình đang làm gì: nó đã lần lên háng một cách vô thức - như con thằn lằn lén lút bò lên tường - và đang chuẩn bị gãi.
Tôi chờ đợi. Đúng lúc nó cục cựa, tôi lấy tay phải tóm chặt nó.
Tôi véo chỗ da dày giữa ngón cái và ngón trỏ, nơi đau nhất, rồi giữ như thế suốt một phút. Khi thả ra, một vết màu đỏ đã hằn vào lòng bàn tay.
Đấy.
Đấy là hình phạt cho cái thói quen gãi háng kể từ lúc này.
Trong mồm, thuốc đánh răng đã dày lên thành một lớp bọt trắng đục; nó bắt đầu nhiễu xuống khóe miệng. Tôi nhổ ra.
Chà. Chà. Nhổ.
Chà. Chà. Nhổ.
Tại sao bố tôi không bao giờ bảo tôi đừng gãi háng? Tại sao bố không bao giờ dạy tôi đánh răng bằng thứ bọt trắng đục? Tại sao ông lại nuôi tôi lớn như một con vật? Tại sao tất cả người nghèo sống trong sự ghê tởm, sự xấu xa như thế?
Chà. Chà. Nhổ.
Chà. Chà. Nhổ.
Giá mà người ta có thể nhổ sạch quá khứ của mình dễ dàng như vậy.
***
Sáng hôm sau, trong lúc chở bà Pinky đến khu mua sắm, tôi cảm thấy một cục bông nhỏ cộm trong đôi chân mang giày của mình. Bà ta rời xe, đóng sầm cửa; tôi chờ trong mười phút. Và rồi, ngồi bên trong xe, tôi thay áo.
Tôi đi đến lối vào khu mua sắm trong chiếc áo phông mới màu trắng. Nhưng tại đấy, đúng vào lúc trông thấy tay bảo vệ, tôi quay đầu - trở lại chiếc Honda City. Tôi chui vào xe đấm con yêu tinh ba lần. Tôi chạm vào những miếng nhãn dán nữ thần Kali, với chiếc lưỡi dài màu đỏ, để lấy may.
Lần này tôi vào bằng cửa sau.
Tôi chắc chắn tay bảo vệ trước cửa sẽ gây khó dễ cho tôi và nói, Không, mày không được vào đây, ngay cả khi mang giày tây đen và mặc áo phông toàn trắng chỉ có một từ tiếng Anh trên đó. Tôi rất chắc chắn, cho đến giây phút cuối cùng, rằng tôi sẽ bị bắt, bị gọi lại, bị tát và nhục mạ ở đấy.
Thậm chí khi đã đi vào trong khu mua sắm rồi, tôi vẫn tin chắc sẽ có người hô to, Ê! Thằng đấy là tài xế ăn lương! Nó đang làm gì ở đây? Bảo vệ mặc đồng phục đứng ở mỗi tầng lầu - dường như tất cả bọn họ đều đang theo dõi tôi. Đó là lần đầu tiên tôi nếm trải mùi vị của một cuộc sống trốn tránh.
Tôi nhận ra mùi nước hoa trong không khí, ánh sáng màu vàng, không khí mát mẻ của máy điều hòa, những người mặc áo phông quần jeans đang nhìn tôi lạ lẫm. Tôi nhìn thấy một chiếc thang máy chạy lên chạy xuống trông giống như làm toàn bằng kính vàng nguyên chất. Tôi thấy những cửa hàng có tường bằng kính, những tấm ảnh to tướng của nam thanh nữ tú châu Âu treo trên mỗi bức tường. Giá mà bọn tài xế trông thấy tôi lúc này!
Đi ra cũng khó như đi vào, nhưng một lần nữa những tay bảo vệ chẳng nói lời nào với tôi, và tôi cứ ung dung trở lại bãi đỗ xe, chui vào xe, mặc lại chiếc áo sơ mi màu mè thường ngày, cuộn cái áo phông nhà giàu trắng trơn lại đặt dưới chân.
Tôi chạy lại chỗ cánh tài xế đang ngồi. Không đứa nào để ý tôi đã đi vào hoặc bước ra. Bọn chúng đang bận tâm với một thứ khác. Một tay tài xế - là gã thích xoay xâu chìa khóa trong tay suốt ngày - có một chiếc điện thoại di động. Gã một mực bảo tôi cầm nó lên xem.
“Mày gọi cho vợ bằng cái này à?”
“Cái này chẳng gọi cho ai được hết, thằng ngốc à - nó là điện thoại một chiều!”
“Thế điện thoại mà không dùng để nói chuyện với gia đình được thì xài làm quái gì?”
“Để ông chủ tao gọi cho tao dặn đón ông ấy ở đâu. Tao chỉ cần giữ nó ở đây - trong túi tao này - bất kể đi đâu.”
Gã lấy điện thoại lại từ tay tôi, lau sạch, rồi cho vào túi. Cho đến tối nay, địa vị của gã trong nhóm tài xế luôn ở mức thấp: chủ gã chỉ đi chiếc Maruti-Suzuki Zen, một con xe nhỏ xíu. Hôm nay thì gã tha hồ hống hách. Đám tài xế chuyền tay nhau chiếc điện thoại và nhìn nó chăm chú như lũ khỉ nhìn trừng trừng vào một vật bóng lộn mà chúng vừa nhặt được. Trong không khí sực lên mùi nước tiểu; một tay tài xế đang đứng xả van cách chúng tôi không xa.
Môi Bạch Biến quan sát tôi từ một góc.
“Chuột Đồng,” hắn nói. “Trông mày như có chuyện muốn nói.”
Tôi lắc đầu.
***
Giao thông ngày càng tệ hơn. Dường như tối nào cũng có thêm nhiều xe ô tô trên đường. Tắc đường càng tồi tệ, bà Pinky càng cáu bẳn. Một tối nọ, khi chúng tôi đang bò xuống đường M.G. để đến Gurgaon, bà hoàn toàn không giữ nổi bình tĩnh nữa. Bà bắt đầu hét lên.
“Tại sao chúng ta không quay lại, Ashoky? Nhìn cái đám tắc đường chó đẻ này xem. Ngày nào cũng như thế này.”
“Xin đừng khơi lại chuyện đó nữa. Làm ơn mà.”
“Tại sao không? Anh hứa với tôi mà, Ashoky, chúng ta sẽ chỉ sống ở Delhi trong ba tháng rồi làm giấy tờ và quay lại. Nhưng tôi bắt đầu nghĩ anh chỉ đến đây để giải quyết vụ thuế thu nhập mà thôi. Anh đã nói dối tôi suốt thời gian qua phải không?”
Đó không phải là lỗi ông ấy, chuyện xảy ra giữa họ - tôi phải nhấn mạnh như thế, ngay cả trước tòa án. Ông là một người chồng tốt, lúc nào cũng nghĩ ra cách để làm bà vui lòng. Vào ngày sinh nhật của bà chẳng hạn, ông đã bảo tôi ăn mặc như maharaja[20], đội khăn xếp màu đỏ và đeo kính mát đen, rồi phục vụ họ thức ăn trong lúc mặc trang phục này. Mà đấy không phải là nấu nướng ở nhà bình thường - ông ấy bảo tôi dọn cho bà mấy món ăn bốc mùi từ những chiếc hộp giấy bồi mà cánh nhà giàu say mê điên cuồng.
Bà ta cười ngất khi trông thấy tôi mặc trang phục đó, cúi xuống trước mặt bà với chiếc hộp giấy bồi. Tôi phục vụ họ, rồi sau đó, như ông Ashok đã căn dặn, đứng khoanh tay chờ đợi gần bức chân dung Cuddles và Puddles.
“Ashok,” bà nói. “Bây giờ nghe nhé. Balram, chúng ta đang ăn món gì đây?”
Tôi biết đấy là cái bẫy, nhưng tôi còn làm được gì? - tôi đành trả lời.
Hai người họ phá ra cười nắc nẻ.
“Nói lại lần nữa đi, Balram.”
Họ lại cười.
“Đó không phải là piJJA. Đó là piZZa. Nói cho đúng xem.”
“Gượm đã - em cũng đang phát âm sai rồi. Có chữ T ở giữa. Peet.Zah.”
“Đừng chỉnh tiếng Anh của em, Ashok. Không có chữ T trong pizza. Nhìn chiếc hộp xem.”
Tôi phải nín thở trong lúc đứng đấy chờ họ ăn xong. Món này bốc mùi kinh quá.
“Nó cắt bánh xấu quá. Em không hiểu nổi làm sao nó lại xuất thân từ giai cấp thợ nấu ăn được.”
“Em mới đuổi việc đầu bếp. Làm ơn đừng đuổi anh chàng này luôn - cậu ta là người thật thà.”
Khi họ ăn xong, tôi dẹp thức ăn trên đĩa rồi rửa bát. Từ cửa sổ nhà bếp, tôi có thể thấy con đường chính của Gurgaon, ngập trong ánh đèn từ các khu phố mua sắm. Một trung tâm mua sắm mới vừa khai trương ở cuối con đường, xe cộ đang chen chúc nhau vào cổng.
Tôi kéo rèm cửa xuống rồi quay lại rửa bát.
“Pijja.”
“Pzijja.”
“Zippja.”
“Pizja.”
Tôi dùng bàn tay lau sạch bồn rửa bát rồi tắt đèn.
Hai người đã vào phòng ngủ. Tôi nghe tiếng la thét từ bên trong. Tôi nhón chân, rón rén đi đến cánh cửa đã đóng. Tôi áp tai vào lớp gỗ.
Tiếng la phát ra từ cả hai bên - sau đó là một tiếng thét - sau đó là âm thanh da thịt đàn ông đập vào da thịt đàn bà.
Đã đến lúc ông ra tay rồi, hỡi Con-cừu-sinh-ra-từ-trứng-nước-của-địa-chủ. Tôi đóng cánh cửa sau lưng và đi thang máy xuống.
Nửa giờ sau, khi tôi thiu thiu sắp ngủ thì một người đầy tớ đến gào tên tôi. Chuông đang reo! Tôi mặc quần, rửa tay nhiều lần tại vòi nước tập thể, rồi lái xe lên lối vào tòa nhà.
“Chở chúng ta vào thành phố.”
“Vâng thưa ông. Đến khu nào trong thành phố ạ?”
“Em muốn đi đâu không, Pinky?”
Không một lời đáp.
“Đưa chúng ta đến Connaught Place nhé, Balram.”
Cả chồng lẫn vợ đều không nói trong lúc tôi lái xe. Tôi vẫn còn mặc bộ đồ maharaja trên người. Ông Ashok hồi hộp nhìn bà Pinky nhiều lần.
“Em nói đúng, Pinky ạ,” ông nói giọng khàn khàn. “Anh không cố ý gây sự với em về điều em nói đâu. Nhưng anh bảo em rồi, chỉ một thứ duy nhất không ổn về nơi này - chúng ta có cái hệ thống chó chết gọi là dân chủ nghị viện. Nếu không chúng ta sẽ giống như Trung Quốc...”
“Ashok. Em đau đầu lắm. Xin anh.”
“Tối nay chúng ta sẽ có trò vui. Ở đây có một nhà hàng T.G.I. Friday’s rất ngon. Em sẽ thích nó.”
Khi chúng tôi đến Connaught Place, ông ấy bảo tôi dừng xe trước chiếc đèn neon đỏ to tướng.
“Chờ ở đây nhé, Balram. Chúng ta sẽ quay ra sau hai mươi phút nữa.”
Họ đã đi được một giờ và tôi vẫn ngồi đợi trong xe, quan sát những ánh đèn của Connaught Place. Tôi đấm con yêu tinh lông xù đen hàng chục lần. Tôi nhìn những miếng nhãn dán của nữ thần Kali với những chiếc sọ người và cái lưỡi đỏ dài - tôi thè lưỡi ra với mụ phù thủy già. Tôi ngáp.
Đã quá nửa đêm, trời lạnh căm.
Tôi muốn mở nhạc lên để giết thì giờ, nhưng dĩ nhiên Cầy Mangut đã cấm làm thế.
Tôi mở cửa xe: có mùi hăng hắc trong không trung. Đám tài xế đã nhóm một đống lửa, và giữ lửa bằng cách ném những mảnh ni lông vào đấy. Người giàu ở Delhi, để sống sót qua mùa đông, thì mở máy sưởi điện, hay máy sưởi khí đốt, hoặc thậm chí nhóm những khúc củi trong lò sưởi. Khi những kẻ vô gia cư, hoặc đầy tớ như nhân viên gác cổng và tài xế buộc phải ra ngoài trời vào mùa đông, muốn sưởi ấm, họ đốt bất cứ thứ gì tìm thấy trên đất. Một trong những thứ tốt nhất để cho vào lửa là giấy bóng kính, loại dùng để gói hoa quả, rau củ, và sách kinh doanh: trong lửa, nó biến dạng và tan chảy thành nhiên liệu trong suốt. Rắc rối duy nhất là trong lúc cháy, nó tỏa ra khói trắng khiến dạ dày người ta muốn dợn. Môi Bạch Biến đang cho bao giấy kính vào lửa; tay kia vẫy tôi.
“Chuột Đồng, đừng ngồi đấy một mình! Như thế sẽ làm mày nghĩ vớ vẩn cho mà xem!”
Hơi ấm mời mọc.
Nhưng không. Mồm tôi sẽ ngứa ngáy nếu tôi đến gần bọn họ, và rồi tôi sẽ xin tí trầu.
“Trông cái thằng trưởng giả kìa! Hôm nay còn bày đặt mặc đồ giống maharaja nữa chứ!”
“Đến đây nào, maharaja của Buckingham!”
Tránh xa hơi ấm, tránh xa sự cám dỗ, tôi bước xuống lối đi của Connaught Place, cho đến khi nghe thấy mùi bùn lợm giọng tràn ngập trong không khí.
Ở Delhi nhìn đâu cũng thấy công trường xây dựng. Những bộ khung bằng kính được dựng lên cho khu phố mua sắm hoặc cao ốc văn phòng; những khung đỡ bê tông khổng lồ hình chữ T, như một hàng những cái đe, từ đó mọc lên những chiếc cầu hoặc cầu vượt; những cái hố vĩ đại được đào lên cho các dinh thự mới của người giàu. Và ở đây cũng thế, ngay trung tâm của Connaught Place, dù đang là giữa đêm, dưới ánh đèn sáng trưng, việc xây dựng vẫn tiếp diễn. Một cái hầm khổng lồ đã được đào lên. Máy móc đang chạy ầm ầm trong đấy.
Tôi đã nghe nói đến công trình này: người ta đang xây dựng một đường ray ngầm ở Delhi. Cái hầm người ta đào cho công trình này to bằng vài ba mỏ than mà tôi đã thấy ở Dhanbad. Một người khác cũng đang quan sát cái hầm với tôi - một người ăn mặc lịch sự áo sơ mi thắt cravat và quần tây xếp pli phẳng phiu. Thông thường loại người như ông ấy sẽ không bao giờ nói chuyện với tôi, nhưng có thể bộ trang phục maharaja của tôi khiến ông ta nhầm lẫn.
“Thành phố này sẽ giống như Dubai trong năm năm tới, nhỉ?”
“Năm?” tôi khinh khỉnh đáp. “Trong hai năm thôi!”
“Nhìn chiếc cần cẩu vàng kia xem. Nó là một con quái vật.”
Nó đúng là một con quái vật, ngồi chễm chệ trên hầm với những cái hàm kim loại đồ sộ hết ngoạm rồi nhả hàng đống bùn. Như những sinh vật phải phục tùng nó, đám đàn ông khiêng máng bùn trên đầu đi thành vòng tròn quanh cỗ máy; trông họ chẳng lớn hơn những con chuột là bao. Ngay cả trong đêm đông, mồ hôi vẫn khiến áo của họ dính bết vào thân thể đen bóng.
Trời lạnh thấu xương khi tôi trở lại xe. Toàn thể đám tài xế đã bỏ đi hết. Nhưng vẫn không thấy bóng dáng chủ tôi đâu. Tôi nhắm mắt cố nhớ lại mình đã ăn gì cho bữa tối. Món cà ri cay ngon tuyệt với những viên thịt đen đậm đà. Dầu lềnh thành mảng to trong nước thịt.
Ngon.
Họ đánh thức tôi dậy bằng cách đập vào cửa xe. Tôi bò ra mở cửa cho họ. Cả hai nói cười ầm ĩ rất vui vẻ, người nồng nặc mùi rượu Anh: bất kể đấy là loại gì, tôi chưa uống thử trong cửa hàng rượu.
Tôi phải nói, họ làm như thú khi tôi chở họ ra khỏi Connaught Place. Ông ấy đè tay miết lên miết xuống đùi bà, còn bà thì cười khúc khích. Tôi nhìn không chớp mắt suốt một giây dài. Ông ấy phát hiện ra tôi trong gương.
Tôi có cảm giác như một đứa trẻ nhìn trộm bố mẹ mình qua khe hở cửa buồng ngủ của họ vậy. Tim tôi bắt đầu vã mồ hôi - tôi nửa mong ông ấy túm lấy cổ áo mình, ném tôi xuống đất và dùng đôi bốt giẫm lên người tôi, như bố ông ấy từng làm với những ngư dân ở Laxmangarh.
Nhưng người đàn ông này, như tôi đã kể với ngài, thì khác - ông ấy có khả năng trở thành người tốt hơn bố mình. Đôi mắt tôi đã chạm đến lương tâm ông ấy; ông đánh khuỷu tay bà Pinky nói, “Trên xe không chỉ có mình, em à.”
Bà ta trở nên cáu bẳn ngay, ngoảnh mặt đi chỗ khác. Năm phút trôi qua trong im lặng. Nồng nặc mùi rượu Anh, bà chồm về phía tôi.
“Đưa tay lái cho tao.”
“Không, Pinky, đừng, em đang say mà, để cậu ta...”
“Nói cái đ. gì! Tất cả mọi người ở Ấn Độ đều say xỉn rồi cầm lái đấy thôi. Vậy mà anh không cho tôi làm thế?”
“Ôi, bực mình quá.” Ông ấn mình xuống ghế. “Balram, nhớ đừng bao giờ lấy vợ.”
“Nó đang dừng đèn đỏ à? Balram, sao mày lại dừng xe? Cứ lái đi!”
“Đang đèn đỏ mà, Pinky. Để cậu ta dừng xe. Balram, phải tuân thủ luật giao thông. Tôi ra lệnh cho cậu.”
“Tao ra lệnh mày phải lái xe, Balram! Lái đi!”
Đến lúc này thì tôi chẳng biết đường nào mà lần, đành thỏa hiệp cả hai - tôi cho xe chạy lấn lên lằn vạch trắng khoảng một mét rưỡi, rồi dừng lại.
“Em thấy cậu ta làm gì không?” Ông Ashok hỏi. “Khá thông minh đấy.”
“Ừ, Ashok. Nó là một thiên tài chó chết.”
Đồng hồ cạnh đèn đỏ cho thấy còn ba mươi giây nữa mới đổi sang xanh. Tôi đang nhìn bảng đồng hồ thì Đức Phật hiện hình ra ở bên phải của tôi. Một đứa bé ăn xin đến bên chiếc Honda City giơ lên một bức tượng Phật bằng thạch cao rất đẹp. Hằng đêm ở Delhi, luôn có người ăn xin bán cái gì đó bên vệ đường, sách hoặc tượng hoặc dâu tây đựng trong hộp - nhưng vì lý do gì đó, có thể vì tinh thần đang không thoải mái, tôi lại trân trối nhìn bức tượng lâu hơn bình thường... Tôi chỉ nghiêng đầu, chỉ một động tác xảy ra trong nửa giây, nhưng bà ta đã phát hiện ra.
“Xem Balram kính trọng bức tượng chưa kìa,” bà nói.
Ông Ashok cười hinh hích.
“Phải rồi, cậu ta là chuyên gia mỹ thuật mà.”
Bà ta tách quả trứng ra - hạ cửa kính và nói, “Cho chúng tao xem nó nào,” với đứa bé ăn xin.
Thằng bé - hoặc con bé, ngài không thể phân biệt được ở những đứa trẻ ăn xin - ấn bức tượng vào trong chiếc Honda.
“Mày muốn mua bức tượng này không, tài xế?”
“Không thưa bà. Con xin lỗi.”
“Balram Halwai, kẻ làm bánh kẹo, người lái xe ô tô, chuyên gia điêu khắc.”
“Con xin lỗi, thưa bà.”
Tôi càng xin lỗi, hai người bọn họ càng khoái trá. Cuối cùng, ánh đèn chuyển sang xanh, chấm dứt nỗi đau khổ của tôi, và tôi phóng xe nhanh hết mức có thể khỏi ông Phật khốn khổ.
Bà ta chồm lên bóp vai tôi. “Balram, dừng xe lại.” Tôi nhìn phản ứng của ông Ashok - ông ấy không nói gì.
Tôi dừng xe.
“Balram, ra ngoài. Bọn tao để mày dành đêm nay cho ông Phật của mày. Maharaja và ông Phật, cùng nhau qua đêm.”
Bà ta ngồi vào ghế tài xế, nổ máy xe, rồi lái đi mất, trong khi ông Ashok say bí tỉ cười hinh hích và vẫy chào tôi. Nếu ông ấy không say, ông ấy sẽ không bao giờ cho phép bà ta đối xử với tôi như thế - tôi chắc chắn như vậy. Người khác luôn lợi dụng ông. Nếu chỉ có tôi và ông ấy trong xe, sẽ không có chuyện gì xấu xảy ra cho hai chúng tôi.
Có một tiểu đảo chia con đường ra thành hai, trên đảo có trồng cây. Tôi ngồi bệt xuống một gốc cây.
Con đường vắng ngắt - hai chiếc xe lao qua, chiếc nọ nối đuôi chiếc kia, đèn pha xe tạo thành vệt sáng lăn tăn trên lá cây, trông như những nhánh cây lay động trên mặt hồ. Còn bao trăm nghìn cảnh đẹp phải ngắm như thế ở Delhi. Chỉ cần ta được tự do đi bất cứ nơi nào mình muốn, làm bất cứ việc gì mình thích.
Một chiếc xe lao thẳng về phía tôi, chớp tắt đèn pha và bấm còi inh ỏi. Chiếc Honda City đã đánh một vòng chữ U - một vòng sai luật đấy ạ - xuôi theo con đường, bây giờ đang lăm le nhằm vào tôi, như muốn cày tôi xuống đất.
Tôi trông thấy bà Pinky sau vô lăng, cười cợt và hò hét, còn ông Ashok cạnh bên đang nhoẻn miệng cười.
Tôi có trông thấy cái nhíu mày lo lắng cho vận mệnh của tôi trên trán ông ấy - tôi có thấy bàn tay ông với ra giữ chặt vô lăng để chiếc xe không đâm vào tôi?
Tôi muốn nghĩ như thế lắm.
Chiếc xe dừng lại cách tôi mười lăm centimet, tiếng cao su rít bỏng rát. Tôi co rúm: những lốp xe tội nghiệp của tôi chịu bao khổ sở vì người đàn bà này.
Bà Pinky mở cửa và khuôn mặt hí hửng thò ra khỏi xe.
“Tưởng bị ta bỏ lại rồi phải không, ông Maharaja?”
“Không, thưa bà.”
“Mày không giận đấy chứ?”
“Không hề ạ.” Rồi sau đó tôi bồi thêm, để làm ra vẻ đáng tin hơn, “Ông bà chủ cũng như cha mẹ. Làm sao tôi tớ dám giận ạ?”
Tôi ngồi vào băng ghế phía sau. Họ lại đánh một vòng chữ U băng qua giữa đại lộ, rồi phóng xe hết tốc lực, vượt qua hết đèn đỏ này đến đèn đỏ khác. Hai người bọn họ cười ngặt nghẽo, cấu véo nhau, đùa giỡn khúc kha khúc khích, còn tôi đang bất lực ngồi xem màn trình diễn từ ghế sau, thì bỗng đâu một vật nhỏ bé màu đen nhảy bổ ra giữa đường. Chúng tôi đâm vào nó, hất nó ngã rồi những bánh xe cán qua nó.
Qua cách mà bánh xe nghiền nát cái thứ ấy, và từ chỗ không một tiếng động nào phát ra khi bà ta dừng xe, dù chỉ là tiếng rên hay tiếng sủa, tôi biết ngay chuyện gì đã xảy ra với thứ mà chúng tôi đâm phải.
Bà ta say khướt đến nỗi không kịp đạp phanh -lúc phanh được thì chúng tôi đã đâm thêm hai ba trăm mét nữa, rồi xe dừng hẳn. Ở ngay giữa đường. Bà ta vẫn đặt tay trên vô lăng; mồm há ra.
“Chó à?” Ông Ashok hỏi tôi. “Là một con chó, phải không?”
Tôi gật đầu. Đèn đường quá mờ, còn thứ ấy - một đống lùm lùm màu đen - ở quá xa phía sau chúng tôi nên không trông thấy rõ được. Không có chiếc xe nào khác xung quanh. Không một người nào khác xung quanh.
Như phim quay chậm, đôi tay bà ta rời khỏi vô lăng rồi bịt tai lại.
“Nó không phải chó! Nó không phải...”
Không nói với nhau một lời, ông Ashok và tôi phản ứng ăn ý với nhau. Ông túm lấy vợ, đưa tay bịt miệng rồi kéo bà ra khỏi ghế tài xế; tôi lao ra khỏi ghế sau. Chúng tôi cùng đóng sầm cửa; tôi vặn chìa khởi động rồi lái xe hết tốc lực trở về Gurgaon.
Trên nửa đoạn đường trở về bà ta im thin thít, nhưng rồi, khi chúng tôi gần đến khu chung cư, bà lại lên cơn. Bà nói, “Chúng ta phải quay lại.”
“Đừng điên rồ thế, Pinky. Balram sẽ đưa chúng ta về khu chung cư trong vài phút nữa. Mọi chuyện đã qua rồi.”
“Chúng ta đã đâm phải một cái gì đó, Ashoky.” Bà ta nói bằng giọng nhẹ bẫng. “Chúng ta phải đưa thứ ấy đi bệnh viện.”
“Không.”
Mồm bà lại há ra - bà định hét lên lần nữa. Trước khi bà kịp làm thế, ông Ashok đã lấy tay bịt chặt miệng bà lại - rồi ông với tay đến hộp khăn lấy giấy nhét vào miệng bà; khi bà cố phun ra, ông xé chiếc khăn choàng trên cổ bà buộc chặt quanh miệng, ấn đầu bà xuống đùi mình và giữ chặt ở đấy.
Khi chúng tôi về đến căn hộ, ông lôi bà, với chiếc khăn choàng vẫn buộc quanh miệng, vào thang máy.
Tôi đem ra một xô nước và đi rửa xe. Tôi giội sạch sẽ, chà sạch từng mẩu máu và thịt - mỗi thứ một ít dính quanh bốn bánh xe.
Khi ông ấy xuống nhà, tôi đang rửa lốp xe lần thứ tư.
“Thế nào?”
Tôi cho ông xem một mảnh vải màu xanh lục vấy máu dính vào bánh xe.
“Đồ rẻ tiền, thưa ông, miếng vải xanh này,” tôi đáp, ngón tay vân vê chất liệu thô ráp. “Người ta cho trẻ con mặc thứ này.”
“Vậy cậu có nghĩ là đứa bé...” Ông không thể nói ra từ ấy.
“Không có một âm thanh nào hết, thưa ông. Không một âm thanh. Còn thân người thì không nhúc nhích lấy một cái.”
“Tốt, Balram, chúng ta sẽ làm gì bây giờ - làm gì...” Ông vỗ tay vào đùi. “Mấy đứa trẻ con này làm gì, đi lang thang ở Delhi lúc một giờ sáng mà không có ai chăm sóc?”
Khi nói ra điều này, đôi mắt ông sáng lên.
“Ồ, con bé là một trong số những người ấy.”
“Những người sống dưới gầm cầu, thưa ông. Con cũng đoán thế.”
“Trong trường hợp này, liệu có ai nhớ đến nó...?”
“Con không nghĩ vậy ạ. Ông biết người ở Bóng tối rồi đấy: họ có tám, chín, mười đứa con - đôi khi họ còn chẳng biết tên của con mình. Bố mẹ con bé - cho dù có ở Delhi này, cho dù biết con bé đi đâu tối nay chăng nữa - cũng sẽ không đi báo cảnh sát.”
Ông đặt một tay lên vai tôi, như đã làm với bà Pinky tối hôm ấy.
Rồi ông đặt ngón tay lên môi mình.
Tôi gật đầu. “Dĩ nhiên, thưa ông. Bây giờ chúc ông ngủ ngon - đêm nay ông và bà Pinky đã vất vả quá.”
Tôi cởi bỏ bộ trang phục maharaja, rồi đi nằm. Người tôi mệt bã - nhưng trên môi nở một nụ cười hài lòng rạng rỡ của kẻ đã làm tròn bổn phận mà chủ giao phó ngay cả trong những thời khắc khó khăn nhất.
Sáng hôm sau, tôi lau yên xe như thường lệ - lau những miếng dán có mặt nữ thần - lau con yêu tinh - rồi thắp một nén hương cắm vào trong xe để ghế ngồi có mùi dễ chịu và sự linh thiêng. Tôi rửa bánh xe thêm lần nữa, để đảm bảo không còn một vết máu nào bị bỏ sót từ đêm qua.
Sau đó tôi trở lại phòng mình chờ đợi. Buổi tối có một tài xế nhắn tôi được gọi lên sảnh đợi - không kèm xe. Cầy Mangut đang chờ tôi ở đấy. Tôi không biết ông ta làm cách gì đến Delhi nhanh như thế - hẳn ông ta đã thuê một chiếc xe và lái suốt đêm. Ông ta tươi cười chào tôi và vỗ lên vai tôi. Chúng tôi đi lên căn hộ bằng thang máy.
Ông ta ngồi xuống bàn, rồi bảo, “Ngồi, ngồi đi, tự nhiên nhé Balram. Cậu là thành viên của gia đình này.”
Lòng tôi tràn ngập tự hào. Tôi ngồi bó gối trên sàn nhà, vui sướng như một con chó, chờ ông ta lặp lại câu ấy. Ông ta hút một điếu thuốc. Tôi chưa bao giờ trông thấy ông làm thế trước đây. Ông ta nheo mắt nhìn tôi.
“Bây giờ, quan trọng là cậu phải ở đây trong Cao ốc Buckingham Dãy B và không đi đâu hết - ngay cả đến Dãy A cũng không - trong một vài hôm. Và đừng hé răng với bất kì ai về chuyện đã xảy ra.”
“Vâng, thưa ông.”
Ông ta vừa rít thuốc vừa nhìn tôi một lúc. Rồi ông lại nói, “Cậu là thành viên của gia đình này, Balram.”
“Vâng, thưa ông.”
“Bây giờ đi xuống khu đầy tớ và chờ ở đấy.”
“Vâng, thưa ông.”
Một giờ trôi qua, tôi lại được gọi lên lần nữa.
Lần này có một người mặc áo choàng đen ngồi tại bàn ăn cạnh Cầy Mangut. Ông ta đang xem một tờ giấy đánh máy, lẩm nhẩm đôi môi dính trầu đỏ quạch. Ông Ashok đang nói chuyện điện thoại trong phòng mình; tôi nghe tiếng ông ấy vọng từ sau cánh cửa đóng kín. Cửa phòng bà Pinky cũng đóng. Cả căn nhà đã được giao vào tay Cầy Mangut.
“Ngồi xuống đi, Balram. Cứ tự nhiên.”
“Vâng, thưa ông.”
Tôi ngồi xổm và lại làm mình cảm thấy mất tự nhiên.
“Muốn ít trầu không, Balram?” Cầy Mangut hỏi.
“Không, thưa ông.”
Ông ta mỉm cười. “Đừng ngại, Balram. Cậu nhai trầu mà, phải không?” Ông ta quay sang người đàn ông mặc áo choàng đen. “Làm ơn cho cậu ấy chút gì để nhai.”
Người đàn ông mặc áo choàng đen sờ túi, lấy ra một lá trầu xanh. Tôi chìa tay ra. Ông ta thả nó xuống lòng bàn tay mà không chạm vào tôi.
“Cho vào mồm đi, Balram. Cái đấy cho cậu.”
“Vâng, thưa ông. Rất tốt ạ. Ngon lắm. Cám ơn ông.”
“Chúng ta nói qua toàn bộ chuyện này thật chậm và rõ ràng, được chứ?” người đàn ông mặc đồ đen lên tiếng. Nước trầu đỏ suýt chảy ra khỏi miệng ông ta khi nói.
“Được thôi.”
“Thẩm phán thì lo liệu xong rồi. Nếu người của ông chịu làm những gì cần làm thì chúng ta chẳng còn gì phải lo.”
“Người của tôi sẽ làm những gì phải làm, khỏi lo chuyện đấy. Cậu ta là thành viên của gia đình này. Cậu ta là một thanh niên tốt.”
“Tốt, tốt.”
Người đàn ông mặc áo choàng đen nhìn tôi rồi lấy ra một tờ giấy.
“Biết đọc không, anh bạn?”
“Biết ạ.” Tôi cầm tờ giấy từ tay ông ta và đọc:
KÍNH GỬI NGƯỜI CÓ LIÊN QUAN,
TÔI, BALRAM HALWAI, CON TRAI VIKRAM HALWAI, TỪ LÀNG LAXMANGARH Ở HUYỆN GAYA, TỰ NGUYỆN TỰ GIÁC LẬP RA BẢN TUYÊN BỐ SAU ĐÂY:
RẰNG TÔI ĐÃ LÁI CHIẾC XE ĐÂM PHẢI MỘT NGƯỜI, HOẶC NHIỀU NGƯỜI, HOẶC NGƯỜI VÀ VẬT KHÔNG XÁC ĐỊNH, VÀO ĐÊM 23 THÁNG 1 NĂM NAY. RẰNG SAU ĐÓ TÔI ĐÃ HOẢNG LOẠN VÀ TỪ CHỐI THỰC HIỆN NGHĨA VỤ CỦA MÌNH LÀ ĐƯA BÊN HOẶC CÁC BÊN BỊ THƯƠNG ĐẾN PHÒNG CẤP CỨU CỦA BỆNH VIỆN GẦN NHẤT. RẰNG KHÔNG CÓ NGƯỜI NÀO KHÁC TRÊN XE VÀO THỜI ĐIỂM XẢY RA TAI NẠN. RẰNG TÔI CHỈ CÓ MỘT MÌNH TRONG XE, VÀ MỘT MÌNH CHỊU TRÁCH NHIỆM VẾ TẤT CẢ NHỮNG GÌ XẢY RA.
TÔI XIN THỀ TRƯỚC THƯỢNG ĐẾ LÒNG LÀNH RẰNG TÔI LẬP BẢN TUYẾN BỐ NÀY KHÔNG CHỊU SỰ ÉP BUỘC VÀ GỢI Ý CỦA AI.
CHỮ KÍ HOẶC VÂN TAY:
(BALRAM HALWAI)
TUYÊN BỐ LẬP VỚI SỰ CHỨNG KIẾN CỦA CÁC NHÂN CHỨNG SAU:
KUSUM HALWAI, TỪ LÀNG LAXMANGARH, HUYỆN GAYA
CHAMANDAS VARMA, LUẬT SƯ, TÒA ÁN TỐI CAO DELHI
Mỉm cười âu yếm với tôi, Cầy Mangut nói, “Chúng ta đã báo gia đình cậu rồi. Bà của cậu, tên bà ta là gì ấy nhỉ?”
“...”
“Ta không nghe thấy.”
“...m.”
“Phải, đúng rồi. Kusum. Ta đã lái xe xuống Laxmangarh - đường xấu quá, nhỉ? - và đích thân giải thích mọi chuyện với bà ta. Một bà lão khá là hay ho.”
Ông ta chà xát cánh tay và nhe răng cười, vì thế tôi biết ông ta đang nói thật.
“Bà ta nói rất tự hào về cậu vì đã làm chuyện này. Bà ta cũng chấp nhận làm chứng cho lời thú tội. Đấy là dấu vân tay của bà ta, Balram ạ. Ngay bên dưới chỗ mà cậu sẽ kí tên.”
“Nếu không biết chữ, cậu ta có thể lăn ngón tay cái,” người mặc áo choàng đen nói. “Như thế này.” Ông ta ấn ngón tay cái vào không khí.
“Cậu ta biết chữ mà. Bà cậu ta bảo với tôi cậu ta là người đầu tiên trong gia đình biết đọc biết viết. Bà nói cậu luôn là một đứa trẻ thông minh, Balram à.”
Tôi nhìn vào tờ giấy, giả vờ đọc lại, và nó bắt đầu khiến tay tôi run bắn.
Điều tôi đang thuật lại với ngài đây chính là điều xảy ra hằng ngày với cánh tài xế ở Delhi, thưa ngài. Ngài không tin tôi - ngài nghĩ rằng tôi bịa ra tất cả, phải không ngài Gia Bảo?
Khi ngài đến Delhi, hãy kể lại câu chuyện mà tôi thuật với ngài cho một người thuộc tầng lớp trung lưu thành thị tử tế, đường hoàng. Bảo với ông ấy ngài nghe câu chuyện hoang đường, ngông cuồng, vô lý này từ một tên tài xế sắp bị khép tội vì một vụ giết người mà ông chủ của y gây ra trên đường. Và hãy quan sát khi khuôn mặt của người bạn trung lưu tử tế, đường hoàng trắng bệch ra. Hãy xem cách ông ta nuốt nước miếng một cách khó nhọc - cách ông ta quay mặt ra cửa sổ - hãy xem cách ông ta đổi đề tài ngay tức khắc.
Các trại giam ở Delhi đầy ắp những tài xế sau song sắt vì nhận trách nhiệm cho ông chủ thuộc tầng lớp trung lưu tử tế, đường hoàng của mình. Chúng tôi đã rời khỏi làng quê, nhưng những ông chủ vẫn sở hữu chúng tôi, cả thể xác, linh hồn, và tội lỗi.
Vâng, đúng thế: tất cả chúng tôi sống trong nền dân chủ vĩ đại nhất thế giới tại đây.
Đùa cái đ. gì thế.
Gia đình người tài xế không chống đối sao? Ngược lại là khác. Thực tế, họ sẽ đi ba hoa chích chòe khắp nơi. Thằng Balram của họ đã nhận tội, vào Trại giam Tihar thay chủ mình. Nó trung thành như một con chó. Nó là đứa đầy tớ hoàn hảo.
Thế các thẩm phán? Họ không phát hiện ra lời tự thú bị cưỡng ép mười mươi này hay sao? Nhưng họ cũng là cá mè một lứa. Họ nhận của hối lộ, họ phớt lờ những điểm thiếu nhất quán trong vụ án. Và cuộc sống vẫn tiếp diễn.
Với tất cả mọi người, trừ tài xế.
Đêm nay đến đây là hết, thưa ngài Gia Bảo. Chưa đến 3g đâu, nhưng tôi phải dừng tại đây thôi, ngài ạ. Nghĩ đến chuyện này lại khiến tôi điên tiết, chỉ muốn ra ngoài cắt cổ một tay nhà giàu nào đấy ngay bây giờ.