Nó sâu hơn một thước, rộng hai thước rưỡi và dài tám thước, chính xác. Tôi biết vì các kích thước đó đựoc in bằng chữ màu đen trên một cái ghế bên sườn. Còn ghi rõ là chiếc xuồng đựơc thiết kế để chở đựơc tối đa là ba mươi hai người. Liệu cùng chung xuồng với bằng ấy người có vui thú không đây? Chúng tôi chi có ba mà đã chật đến thế. Cái xuồng có hình đối xứng, hai đầu đều tròn khó phân biệt đầu đuôi. Nhận ra đằng đuôi vì có một cái bánh lái lắp cố định ở đó, chỉ như cái sống xuồng chạy nhô ra một tí, còn đằng mũi thì,
ngoài tôi ra, có một đoạn kéo dài thêm và kết thúc bằng một cái mũi có hình dáng buồn rầu, rẹt gí nhất trong lịch sử đóng tàu. Vỏ xuồng bằng nhôm đầy đinh tán và sơn màu trắng.
Đó là bên ngoài. Bên trong, nó không rộng như người ta tưởng vì có các hàng ghế hai bên và các thùng phao. Ghế bên chạy dọc suốt chiều dài xuồng, nối với nhau ở hai đầu thành các đoạn ghế mũi và đuôi có hình gần như là tam giác. Các đoạn ghế này chính là mặt trên của các thùng phao gắn kín. Ghế chạy hai bên rộng chừng hơn bốn muơi lăm phân, cònở hai đầu thì quãng chín mươi phân. Vì vậy, khoảng trống lộ thiên của xuồng chỉ dài hơn sáu thước và rộng khoảng thứơc rưỡi. Nó tạo nên một lãnh thổ chừng mươi thứơc vuông cho rp. Bắc ngang qua cái không gian đó là ba chiếc ghế dài nữa, kể cả cái bị cong vì con ngựa vằn đè gẫy. Các ghế ngang này rộng sáu muơi phân và cách đều nhau. Mặt ghế cách sàn xuồng sáu mươi phân. Nếu Richar Parker nằm dưới gầm ghế, nó chỉ có khoảng sáu mươi phân đó để xoay sở. Bên dưới tấm bát thì nó có thêm khoảng ba mươi phân nữa, là khoảng cách giữa mui xuồng có phủ bạt và mặt ghế, và như vậy có cả thẩy độ một thước không gian, may ra vừa vặt cho nó có thể đứng lên. Sàn xuồng phẳng phiu, lát các thanh gỗ hẹp đã xử lý chống nước, và mặt bên các thùng phao thì vuông góc với sàn. Vì vậy, cái xuồng tròn tròn ở cả hai bên sườn và hai đầu, nhưng bên trong thì lại là một khối vuông hình chữ nhật, trông cũng là lạ.
Có vẻ như mầu da cam - một mầu Hinđu tốt lành – là mầu của sống còn vì toàn bộ bên trong xuồng, tấm bạt và các áo phao, cái phao, mái chèo và hầu hết các thứ trên xuồng đều mầu da cam cả. Cả cái còi bằng nhựa không có bi kêu cũng thế.
Hai bên mũi xuồng có kẻ chữ Tsimtsum và Panama, chữ hoa kiểu La Mã đen nhánh và trần trụi.
Tấm bạt là loại vải bố rất chắc có phủ nhựa chống thấm, chạm phải một lúc là ráp da. Nó đã được cuộn lại vừa qua khỏi cái ghế ngang giữa xuồng. Cho nên trong chỗ ẩn nấp của rp; cái ghế ngang, giữa thì lộ thiên nhưng ngay sát mép bạt; còn cái thứ ba thì gẫy gục dưới con ngựa vằn đã chết.
Có sáu cái lõng đón chèo, là những lỗ khoét hình chữ u trên mép xuồng, và năm mái chèo, vì tôi đã để rơi mất một cái khi cố đẩy Richar Parker ra khỏi xuồng. Ba mái chèo nằm trên một cái ghế bên, một cái nữa trên cái ghế đối diện, và một cái đang là cái mũi xuồng cứu nạn của tôi. Tôi không tin có thể dùng chúng để chèo xuồng đi được. Cái xuồng này không phải là xuồng đua. Nó là một cấu trúc nặng và chắc nịch được thiết kể để nổi cho vững chứ không phải để vi hành. Giả dụ có ba mươi hai người cùng chèo thì may ra còn đi được chút đỉnh.
Tôi không thấy hết các chi tiết đó – và nhiều thứ nữa – ngay lập tức như vừa kể. Tôi đã thấy chúng dần dần, cần cái gì thì lại phát hiện ra thêm cái nấy. Cú khi tôi rơi và tình trạng thật khó khăn, không thấy tương lai đâu nữa, thì một thứ gì đó, nhỏ thôi, lại hiện ra trong óc tôi dưới một ánh sáng mới mẻ. Nó không còn là cái thứ nhỏ bé ấy nữa, mà là một thứ quan trọng nhất trên thế giới sẽ cứu sống tôi. Điều đó lặp lại nhiều lần. Quả thực người ta bảo cái khó ló cái khôn, quả thực là vậy.
Chương 51
Nhưng lần đầu tiên tôi quan sát cái xuồng thì tôi chưa nhìn ra chi tiết nào mình cần cả. Mặt ghế chạy liên tục gừ đuôi sang hai bên xuồng, cũng như cái vách đứng của các thùng phao. Mặt sàn nằm phẳng phiu sát đáy xuồng; không thể có khoang giấu đồ bên dưới. Chắc hẳn không có một hộc tủ, một cái thùng hay bất kì thứ gì có đựng đồ ở chỗ nào trên xuồng. Chỉ thấy các bề mặt nhẵn thín liền liền nhau màu da cam.
Tôi đâm ra nghi ngờ khả năng của các thuyền trưởng và đám nhà thầu. Hy vọng sống sót của tôi lụi dần. Chỉ có cơn khát là còn y nguyên.
Nhưng biết đâu đồ dự trữ họ để ở mũi xuồng, bên dưới tấm bạt thì sao? Tôi quay người bò trở lại. Cảm thấy mình là một con thằn lằn đang chết khô. Tôi dúi mạnh tấm bạt. Nó rất căng. Nếu cuộn được nó lên, tôi sẽ với đựơc đồ dự trự có thể cất ở phía dưới. Nhưng có nghĩa là tôi sẽ tạo ra một cái cửa xuống sào huyệt của Richar Parker.
Thây kệ. Cơn khát thúc giục tôi. Tôi rút nhẹ cái chèo ra khỏi bên dưới tấm bạt. Tôi quàng cái phao vào người. Tôi đặt cái chèo nằm ngang trên mũi xuồng. Tôi tì lên mui xuồng và dùng ngón tay cái cố ấn cho cái dây chằng bạt tuột ra khỏi một cái móc. Thật khó khăn. Nhưng sau cái móc đầu, cái thứ hai đã dễ hơn và cái thứ ba còn dễ nữa. Tôi làm như vậy ở phía bên kia mũi xuồng. Tấm bạt chùng xuống dứơi khuỷu tay tôi. Tôi nằm bẹp ở trên, hai chân chĩa về phía đuôi xuồng.
Tôi cuốn tấm bạt lên một chút. Ngay lập tức đựơc đền bù công sức đã bỏ ra. Cũng như đàng đuôi, mũi xuồng cũng có ghế. Và trên mặt ghế, chỉ cách mũi xuồng độ dăm bảy phân, là một cái chốt cửa sáng óng ánh như kim cương. Nhìn rõ đường viền của một cái nắp đậy. Tim tôi bắt đầu đập thình thịch. Tôi cuốn tấm bạt thêm chút nữa. Tôi ghé xuống nhìn. Cái nắp hình chữ nhật bốn cạnh lượn tròn, rộng hơn chín mươi phân và sâu tám mươi phân. Đúng lúc đó tôi nhận thấy một khối to mầu da cam. Tôi thụt ngay đầu lên trên. Nhưng cái đám da cam ấy không động đậy, và trông nó không ra sao. Tôi lại thò đầu xuống. Không phải là con hổ mà là một cái áo phao cấp cứu. Có một lô áo phao ở sau sào huyệt của Richard Parker.
Một cơn ớn lạnh chạy khắp người tôi. Giữa các áo phao đó, như thể giữa một đám lá cây, tôi nhìn thấy rõ ràng lần đầu tiên hình ảnh thấp thoáng của Richard Parker. Tôi thấy rõ hai cái vai nhô lên và một phần lưng của nó. Vằn vện nổi bật cà kềnh càng trước mắt. Nó nằm sấp, quay mặt về phía đuôi xuồng. Nó nằm im, chỉ thấy hai bên sườn phập phồng theo nhịp thờ. Tôi hấp háy mắt, không thể tin rằng nó gần tôi đến thế. Nó ngay kia, dưới tôi chỉ năm sáu mươi phân. Tôi có thể với tay cấu đít nó đựơc. Giữa chúng tôi chỉ là một tấm bạt mỏng.
“Thượng đế hãy thương lấy con!” Không có lời nguyện nào lại thống thiết và nhỏ nhẹ như vậy trong hơi thở của tôi. Tôi nằm bất động tuyệt đối.
Tôi phải có nước uống. Tôi đưa tay xuống và lẳng lặng gỡ cái chốt. Tôi kéo cái nắp lên. Thì là một cái tủ hẳn hoi.
Tôi đã nhắc đến chuyện nhận ra những chi tiết cứu mạng. Đây là 1: bản lề của cái nắp tủ chỉ cách mép ghế vài phân - có nghĩa là khi mở lên, nó sẽ thành một cái vách ngăn kín hết khoảng trống 30 phân giữa mặt ghế và mui xuồng che bạt, chắn giữa tôi với đống áo phao rồi đến chỗ Richard Parker. Tôi mở cái nắp lên cho đến khi nó dựa được vào cái chèo bắc ngang mui và mép bạt. Tôi chuyển mình lên trên sống mũi xuồng, quay mặt vào trong, một chân đặt lên mép cái tủ đã mở nắp, chân kia lên cái nắp đã mở. Nếu Richard Parker định tấn công tôi từ phía dưới, nó sẽ phải đẩy cái nắp. Tôi sẽ biết ngay và đủ thời gian rút lên và nhào ngửa người xuống biển với cái phao. Nếu nó đi đường khác, trèo lên trên tấm bạt từ phía đuôi xuồng, tôi sẽ nhìn thấy nó ngay từ sớm và cũng kịp nhào xuống biển. Tôi nhìn quanh xuồng. Không thấy có cá mập.
Tôi ngó xuống giữa hai chân. Tôi tưởng mình sẽ ngất đi vì sướng. Cái tủ lấp lánh toàn những thứ mới tinh bóng nhoáng. Chao ôi, niềm khoái lạc của sản phẩm công nghiệp, những vật dụng do chính con người làm ra, những sáng tạo phẩm! Cái giây phút phát ngộ vật chất ấy đem lại một khoái cảm mãnh liệt - một trộn lộn chóng mặt của hy vọng, ngạc nhiên, ngỡ ngàng, ngây ngất, và lòng biết ơn, tất cả nghiền vào thành một món quà - hay hơn bất kì món quà nào khác mà cả đời tôi đã được nhận trong các dịp Giáng sinh, sinh nhật, cưới xin và các kì lễ lạt khác. Tôi thật sự hoa mắt chóng mặt vì hạnh phúc.
Mắt tôi lập tức nhìn thấy cái đang tìm. Cho dù đóng chai, đóng hộp kim loại hay hộp giấy, bao bì nước uống không có thể nhầm lẫn được. Trên cái xuồng cứu nạn ấy, món rượu vang của sự sống được cung phụng trong các hộp kim loại màu vàng nhạt nắm vừa khít tay. Nhãn hiệu bằng chữ đen đề rõ Nước uống. Tên công ty sản xuất: HP Food Ltd. 500 mililít một hộp. Có hàng dãy hộp như thế. Nhiều wá không thể liếc một cái mà đếm hết ngay được.
Tay run lẩy bẩy, tôi với xuống nhặt lên một hộp. Vừa sờ vào đã mát lạnh và nặng trĩu tay. Tôi lắc nó. Các bọt khí bên trong phát ra tiếng kêu glúp glúp glúp. Tôi sắp sửa được cứu thoát khỏi cơn khát hỏa ngục này. Mạch tôi rộn lên với ý nghĩ đó. Tôi chỉ việc mở cái hộp nước.
Tôi dừng lại. Mở nó thế nào đây?
Tôi có một cái hộp - chắc tôi phải mở được nó chứ? Tôi nhìn vào tủ. Có biết bao nhiêu là thứ. Tôi lục lọi. tôi mất bình tĩnh. Kì vọng lắm tất thất vọng nhiều. Tôi phải uống ngay bây giờ, nếu không tôi sẽ chết. Tôi không thể tìm thấy cáidụng cụ mình muốn. Nhưng không thể mất thì giờ buồn bực. Cần phải hành động. Dùng móng tay được chăng? Tôi thử. Không thể được. Dùng răng chăng? Thử cũng vô ích thôi. Tôi nhìn lên mép xuồng. Những cái móc buộc bạt. Ngắn, cùn, chắc chắn. Tôi quì lên mặt ghế và nghiêng người ra ngoài. Giữ cái hộp bằng cả hai tay, tôi thúc mạnh nó lên vào một cái móc. Một vết lõm kha khá. Tôi thúc cái nữa. Thêm một vết lõm nữa. Cứ thế, tôi làm thủng được hộp. Một hạt châu nước xuất hiện. Tôi liếm nó luôn. Tôi quay cái hộp và thúc đầu kia lên móc. Tôi thúc như quỉ. Tôi đục được một cái lỗ to hơn. Tôi ngồi xuống mui xuồng. Tôi giơ cái hộp lên trên mặt. Tôi há miệng. Tôi nghiêng hộp.
Có thể tưởng tượng ra những cảm giác của tôi lúc đó, nhưng khó có thể mô tả chúng. Theo nhịp ừng ực của cổ họng tham lam, dòng nước tinh khiết, ngon lành, đẹp đẽ và trong vắt như pha lê chảy vào cơ thể tôi. Nước của sự sống, đúng thế. Tôi dốc cạn cái chén vàng ấy cho đến giọt cuối cùng, mút mát cái lỗ thủng cho thật hết cả những ẩm ướt còn lại. Tôi thốt lên, ''Aaaaaaa!'', ném cái hộp xuống biển và lấy một hộp nữa. Tôi mở nó cũng nhanh như cái hộp kia và nốc cạn nó cũng nhanh chẳng kém. Rồi lại quẳng nó xuống biển và mở một hộp khác. Cũng lại nhanh chóng bị ném xuống biển. Rồi lại thêm một hộp nữa. Tôi uống hết 4 hộp, hai lít thuốc trường sinh tuyệt vời nhất, rồi mới thôi. Người ta sẽ nghĩ uống vội vàng sau khi đã chịu khát kéo dài như thế có thể sẽ làm đảo lộn cơ thể. Nhảm nhí cả! tôi chưa bao giờ thấy dễ chịu như vậy. Cứ sờ lông mày tôi thì thấy! Trán tôi ướt đẫm những giọt mồ hôi tươi mới, sạch sẽ và mát lạnh. Mọi thứ trong tôi, đến tận các lỗ chân lông, đều biểu lộ vui mừng.
Cảm giác khỏe khoắn nhanh chóng đến với tôi. Mồm miệng tôi ẩm và mềm mại. Quên sạch cả cái cổ họng. Da cũng mềm đi. Các khớp cử động dễ dàng. Tim tôi bắt đầu đập như một cái trống vui mừng và máu bắt đầu chảy qua huyết mạch như đoàn xe đám cưới inh ỏi bóp cò chạy qua thành phố. Sức lực và phản xạ trở lại trong cơ bắp tôi. Đầu óc tôi sáng suốt hẳn ra. Quả thực, tôi đã vừa từ cõi chết trở về. Vinh hiển thay! Vinh hiển thay! Để tôi nói bạn nghe, say rượu là một điều xấu hổ, nhưng say nước là một niềm si cuồng cao quí. Trong nhiều phút đồng hồ, tôi đắm mình tận hưởng đến cùng.
Rồi tôi cảm thấy một cái gì đó trống rỗng. Tôi sờ bụng. Một cái hốc lõm sâu cứng nhắc. Có cái gì ăn thì tốt. Một đĩa chả chay mềm có rưới nước sốt dừa! Một đĩa cary đậu! Ôi chao! Tôi đưa cả hai tay lên miệng - hoặc giá được một đĩa bánh bột lọc mẹ vẫn làm! Nghĩ đến đó, hai hàm răng tôi bỗng đau nhức lên và nước bọt ứa ra xối xả. Bàn tay phải tôi bắt đầu xoay xoay. Nó cứ thể bốc những miếng bánh tròn bèn bẹt làm bằng bột lọc trong trí tưởng tượng. Nó để các ngón tay tha hồ bấm sấu vào làn bột mềm nóng hổi...Nó nắn, vê một cái bánh thấm đẫm nước sốt...Nó đưa cái bánh ấy lên miệng...Tôi nhai...Ôi chao, thật đau đớn mà cũng thật tuyệt diệu.
Tôisục vào cái tủ. Tôi tìm thấy nhiều hộp giấy đựng các suất đồ ăn cấp cứu tiêu chuẩn của hãng Seven Seas, làm tận Bergen, Na Uy. Mỗi suất đề là có thể bù cho 9 bữa chưa được ăn gì, từng gói nửa kí, chắc nịch, đóng gói chân không trong giấy nhựa màu bạc có in chi chít các hướng dẫn sử dụng bằng 12 thứ tiếng. Bằng tiếng Anh, hướng dẫn nói suất ăn này có 18 cái bánh quy làm bằng bột mì nướng, mỡ động vật và đường glucô, không được ăn quá 6 cái trong vòng 24 giờ. Khổ nhất là nó có cả mỡ động vật. Nhưng trong hoàn cảnh đặc biệt như thế, cái phần chay tịnh trong con người tôi chỉ có cánh bịt mũi mà ăn đại đi thôi.
Trên gói có chỗ đề Bóc chỗ này để mở, với một mũi tên đen chỉ vào cái mép nhựa. Tôi xé toạc chỗ đó ra. Chính cái góivuông vắn bọc giấy nến rơi ra. Tôi bóc một gói. Nó tự động tách ra làm đôi. hai cái bánh qui gần như vuông vắn, màu nhạt, mùi thơm. Tôi cắn một cái. Lạy Chúa tôi, ai mà biết được. Tôi không tưởng tượng nổi. Tôi vừa khám phá một bí mật: đồ ăn Na Uy là ngon nhất thế giới! Những cái bánh qui ấy ngon một cách lạ lùng. Chúng vừa đậm đà thơm ngon vừa tinh tế, không ngọt wá cũng không mặn quá. Chúng vỡ ra giữa hai hàm răng với một tiếng động giòn tan. Trộn với nước bọt, chúng thành một thứ bột bánh vẫn còn độ hạt rất vừa vặn. Và khi tôi nuốt, bụng tôi chỉ còn biết reo lên một chữ: Hallelujah! (1)
Cả hộp hết vep trong vòng vài phút, giây gói tơi tả bay theo gió. Tôi định mở một hộp nữa, nhưng lại thôi. Kiềm chế một chút bao giờ cũng tốt. hơn nữa, với nửa kí thức ăn cấp cứu trong bụng, tôi thấy no thực sự.
Tôi quyết định phải biết rõ có những thú gì trong cái hòm châu báu của mình. Đó là một cái tủ to, trong lòng rộng hơn phạm vi của cái nắp nhiều, vào hẳn đến vỏ xuồng và lan ra đến wá vị trí của hai cái ghế bên một chút. Tôi thò cả hai chân xuống lòng tủ và ngồi trên mép nó, lưng dựa vào cái sống nhô ra của mũi xuồng. Tôi đếm các hộp Seven Seas. Tôiđã ăn mất 1: vẫn còn 30 hộp nữa. Theo như hướng dẫn, mỗi hộp 500 gram là đủ dinh dưỡng cho một người sống được 3 ngày. Có nghĩa là tôi có đủ thức ăn dự trữ để sống trong 31 nhân 3 là 93 ngày! Hướng dẫn cũng khuyên chỉ nên uống nửa lít nước một ngày. Tôi đếm các hộp nước. Có 124 hộp. Mỗi hộp nửa lít. Vậy là tôi có đủ nước uống trong 124 ngày. Chưa bao giờ những phép tính số học đơn giản lại đem đến cho tôi một niềm hỉ hả như vậy.
Còn có những gì nữa nào? Tôi hẳm hở khoắng tủ và mang ra hết thứ này đến thứ khác, cái gì cũng kì diệu cả. Tôi thèm bạn đồng hành và cảm giác được an ủi đến xót xa mỗi khi chăm chú nâng một món đồ ấy trên tay, chúng không còn là hàng hóa được sản xuất hàng loạt nữa mà trở thành một cái gì đó thật đặc biệt và chỉ cho riêng tôi. Tôi lẩm bẩm luôn mồm, ''Cám ơn! Cám ơn! Cám ơn!''
--------------------------------------------------------------------
(1) Hellelujah! : Câu ca ngợi Chúa của ng` Cơ đốc giáo.
Chương 52
Sau khi đã điều tra kỹ lưỡng, tôi làm một danh mục đầy đủ:
- 192 viên thuốc chống say sóng
- 124 hộp nước uống bằng thiếc, mỗi hộp 500 mili-lít, vị chi là 62 lít tất cả
- 31 hộp thức ăn cấp cứu, mỗi hộp 500 gram, tất cả là 15 kí rưỡi
- 16 cái chăn len
- 12 cái cất nước dùng ánh sáng mặt trời
- Một chục cái áo phao cấp cứu màu da dam, cái nào cũng có một cái còi cũng màu da cam buộc ở áo
- 6 ống tiêm chứa morphine
- 6 quả pháo sáng cầm tay
- 5 mái chèo không chìm
- 4 quả pháo sáng thăng thiên có dù
- 3 túy nylon trong suốt rất chắc, mỗi cái có dung tích khoảng 50 lít.
- 3 cái mở hộp
- 3 cái cốc có thang vạch dung tích và miệng rót để đong nước uống
- hai hộp diêm cháy được trong nước
- hai cái phao tín hiệu khói
- hai thùng bằng nhựa cỡ trung bình màu da cam
- hai cái gáo múc nước bằng nhựa không chìm màu da cam
- hai thùng chứa đa năng bằng nhựa có nắp kín khí ]
- hai miếng bọt biển hình chữ nhật màu vàng
- hai cuộn dây sợi tổng hợp không chìm, mỗi cuộn 50m
- hai cuộn dây sợi tổng hợp không nổi được trong nước, không thấy đề dài bao nhiêu nhưng có lẽ mỗi cuộn khoảng 30m
- hai bộ đồ câu cá với đủi các loại lưỡi câu, dây và hạt chì
- hai cái lao móc cá có lưỡi kiểu dây thép gai rất sắc
- hai cái neo biển
- hai cái rìu
- hai cái hứng nước mưa
- hai cái bút bi mực đen
- một cái lưới đựng đồ bằng nylon
- một cái phao cứu nạn đặc, đường kính trong 40 phân và đường kính ngoài 80 phân, có dây nối liền
- một con dao săn lớn có cán liền, lưỡi nhọn, một cạnh sắc và một cạnh răng cưa, có dây dài buộc vào một cái vòng sắt trong tủ
- một bộ đồ khâu với các kim khâu thẳng và cong, cùng với chỉ trắng rất chắc
- một bộ đồ cấp cứu đựntg trong một hộp nhựa kín nước
- một cái gương dùng để ra tín hiệu
- một gói thuốc lá Trung Quốc có đầu lọc
- một thỏi sôcôla to
- một cuốn cẩm nang cho ng` gặp nạn đắm tàu
- một cái la bàn
- một cuốn vở ghi chép với các trang giấy có 98 dòng kẻ
- một thằng bé còn đủ một bộ quần áo mỏng trên người nhưng đã mất một chiếc giày
- một con linh cẩu lông chấm
- một con hổ Bengal
- một cái xuồng cứu nạn
- một Thượng đế
Tôi ăn một phần tư thỏi sôcôla to. Tôi xem xét kĩ một cái hứng nước mưa. Đó là một thứ dụng cụ trông giống một cái ô lật ngược, gồm một túi hứng nước rộng nối với một cái ống cao su.
Tôi khoanh tay trên cái phao choàng khít quanh người, gục đầu xuống và ngủ say sưa.
Chương 53
Tôi ngủ suốt buổi sáng. Rồi tôi thức dậy vì lo lắng. Đồ ăn, nước uống và nghỉ ngơi đã như một ngọn triều dâng lên trong cơ thể đang suy yếu của tôi, mang cho tôi một sức sống mới, nhưng đồng thời cũng làm cho tôi đủ tỉnh táo để nhận ra tình trạng tuyệt vọng của mình. Tôi tỉnh dậy để nhớ ra Richard Parker. Có một con hổ trên xuồng. Không muốn nhưng phải tin đó là sự thật. Và tôi phải cứu mạng mình như thế nào đây.
Có thể nhảy xuống biển và bơi đi, nhưng cơ thể tôi không chịu nhúc nhích. Tôi đang cách đất liền hàng trăm dặm, có khi hàng nghìn dặm cũng nên. Tôi không thể bơi xa như vậy, có phao cũng thế thôi. Rồi ăn gì? Uống gì? Làm sao ngăn cá mập? Làm sao cho khỏi rét mướt? Mà biết bơi theo hướng nào? Không thể nghi ngờ một tí gì nữa: rời khỏi xuồng có nghĩa là chết. Nhưng ở lại xuồng thì sao? Nó sẽ mò sang tôi như một con mèo điển hình, không một tiếng động. Chưa kịp biết thì nói đã ngoạm chặt lấy gáy hoặc cổ họng và tôi sẽ bị xuyên thủng với những lỗ răng nanh. Tôi sẽ không kịp nói gì hết. Dòng sinh huyết sẽ rời bỏ thân thể tôi không một lời trăng trối. Hoặc giả nó sẽ dùng móng vuốt ấy để quật chết tôi, bẻ gãy cổ tôi.
“Ta chết mất thôi,” tôi lắp bắp, môi run bắn.
Biết mình sắp chết đã đủ khủng khiếp rồi. Nhưng khủng khiếp hơn là biết mình sắp chết mà lại còn thời gian để thấy rõ những hạnh phúc mình đã có và có thể đã có. Ta thấy tất cả những gì mà ta đang mất, rõ mồn một. Những hình ảnh đó đã dìm ra vào một nỗi đau đớn và không một cỗ xe nào sắp đâm chết ta hoặc một làn nước nào sắp dìm chết ta có thể so sánh được. Cái cảm giác ấy thật sự không thể chịu nổi. Những từ cha, mẹ, ravi, ấn độ, winnipeg đâm vào tôi buối nhói đến xé lòng.
Tôi đang định đầu hàng. Và chắc chắn đã đầu hàng rồi, nếu không có một tiếng nói bỗng vọng lên trong đầu tôi. Tiếng ấy nói, “ta sẽ không chết. Ta không chấp nhận cái chết. Ta sẽ qua được cơn ác mộng này. Ta sẽ chiến thắng mọi rủi ro, cho dù chúng lớn đến mấy. Ta đã sống được cho đến bây giờ, một cách thần kỳ. Ta sẽ biến điều thần kỳ ấy thành lệ thường. Điều không thể tin được sẽ đến với ta hàng ngày. Ta sẽ làm tất cả những gì cần thiết. Đúng vậy, chừng nào thượng đế còn ở bên ta, ta sẽ không chết. Amen.”
Tôi làm mặt nghiêm nghị và cương quyết. Tôi không dám nói ngoa, nhưng quả thực vào lúc đó tôi mới phát hiện ra rằng mình có một ý chí sống thật mãnh liệt. Theo kinh nghiệm bản thân, tôi thấy đó không phải la một điều hiển nhiên. Có nhiều người trong số chúng ta chịu bỏ cuộc chỉ với một tiếng thở dài. Những người khác chiến đấu chút đỉnh, rồi mất hy vọng. Nhưng một số khác nữa, trong đó có tôi, thì không bao giờ bỏ cuộc. Chúng tôi chiến đấu, chiến đấu và chiến đấu. Chúng tôi chiến đấu bất kể giá nào, bất kể những thất bại phải chịu, bất kể sự bất khả chiến thắng. Chúng tôi chiến đấu đến tận cùng. Đó không phải là vấn đề can đảm. Nó là một cái gì đó thuộc về bản chất, một tình trạng không có khả năng đầu hàng. Có thể cũng chỉ là sự ngu ngốc của lòng ham sống mà thôi.
Richard Parker bắt đầu gầm gừ vào đúng thời điểm tôi nghĩ đến những cái đó, cứ như thể nó đã đợi cho đến lúc tôi đã thành một đối thủ xứng đáng. Tôi thắt ngực lại vì sợ.
“Mau lên, nào, chóng lên,” tôi thì thào trong bụng. Tôi phải thu xếp việc sống còn của mình. Không thể phí một giây. Tôi cần nơi ẩn náu và cần ngay lập tức. Tôi nghĩ đến cái mái chèo mà tôi đã cắm vào mũi xuồng. Nhưng bây giờ tấm bạt đã cuộn lên ở đó, chẳng còn gì giữ được mái chèo nữa. Hơn nữa, làm sao có thể an toàn bằng cách treo người lên mái chèo như vậy được? Richard Parker sẽ dễ dàng tóm được tôi. Phải tìm cách khác. Đầu óc tôi quay như chong chóng.
Phải làm một cái bè. Những mái chèo, nếu ta còn nhớ, không bị chìm. Và tôi còn có đống áo phao với một cái phao cứu nạn chắc nịch.
Cố thở thật nhẹ, tôi đóng cái tủ rồi với xuống bên dưới tấm bạt để nhặt những cái chèo ở trên hai cái ghế bên xuồng. Richard Parker để ý. Tôi nhìn thấy nó qua các khe hở của đống áo phao. Khi tôi rút từng cái chéo lên - cẩn thận vô cùng, nó có phản ứng động đậy đôi chút, nhưng không quay lưng lại. Tôi lấy lên được ba cái chèo. Cái thứ tư đã nằm ngang trên tấm bạt. Tôi nhấc cái nắp đậy để chặn khoảng hở thông sang chỗ nằm của Richard Parker.
Tôi đã có bốn cái phao không chìm. Tôi xếp chúng trên tấm bạt, xung quanh cái phao tròn, làm thành một hình vuông. Cái bè của tôi giống như một ô cờ carô với một chữ o vừa mới vẽ cho nước cờ đầu tiên.
Phần nguy hiểm bắt đầu. Tôi phải lấy được các tấm áo phao. Tiếng gầm gừ của Richard Parker lúc ấy đã thành một âm thanh trầm và rền, rung hết cả không khí. Con linh cẩu đáp lại bằng một tiếng ư ử the thé và run rẩy. Chắc chắn sắp có chuyện.
Tôi không có sự lựa chọn nào khác. Phải hành động thôi. Tôi hạ cái nắp xuống. Đống áo phao nằm trong tầm tay với của tôi. Một số chúng chạm hẳn vào người Richard Parker. Con linh cẩu đột nhiên kêu ré lên.
Tôi với đến cái gần nhất. Khó khăn mới túm được nói vì tay tôi run bắn. Tôi kéo cái áo đó ra. Có vẻ Richard Parker không chú ý gì. Tôi kéo một cái áo nữa. Một cái nữa. Tôi gần muốn ngất vì sợ. Rất khó thở. Tôi tự nhủ, nếu cần thì mình có thể nhảy xuống biển với đống áo phao. Tôi lại kéo ra được một cái. Thế là bốn cái tất cả.
Tôi luồn các mái chèo qua các lỗ tay của từng cái ao phao ở bốn góc phà, buộc chắc chúng lại với nhau, rồi giật dây bơm căng chúng lên. Tôi lấy một cuộn dây không chìm, dùng dao cắt thanh bốn đoạn, rồi buộc thật chặt những đoạn hai mái chèo gác vào nhau. Nhờ trời, tôi đã được học và tập buộc các loại nút rất chu đáo. Tôi thắt mười nút trên các góc phà mà vẫn còn lo các mái chèo có thể sẽ bị lỏng và rời nhau ra. Tôi làm như lên cơn sốt, luôn mồn tự rủa mình ngu ngốc. Một con hổ trên xuồng mà tôi đã đợi ba ngày ba đêm rồi mới tính chuyện tự vệ bản thân.
Con linh cẩu bắt đầu kêu thét hết cỡ.
Vẫn còn một việc cuối cùng phải làm. “lạy chúa, xin cho con một lát nữa,” tôi cầu khẩn. Tôi túm lấy phần còn lại của cái dây không chìm. Có một cái lỗ xuyên qua gần đỉnh của thanh nhọn mũi xuồng. Tôi luồn sợi dây qua cái lỗ ấy và thắt nút. Chỉ cần buộc chặt đầu dây kia vào bè là tôi có thể thoát.
Con linh cẩu lại lặng im. Tim tôi ngừng bặt, rồi đập trở lại nhanh gấp ba lần. Tôi quay lại.
“Lạy Chúa Jesus, Đức Mẹ Mary, Thánh Muahamad và Thần Vishnu!”
Những gì hiển hiện trước mắt tôi lúc ấy sẽ hằn lại trong tôi cho đến chết. Richard Parker đã trỗi dậy và xuất đầu lộ diện. Nó cách tôi chưa đầy năm mét. Ôi, nó mới to lớn làm sao! Con linh cẩu tận số đến nơi rồi, và cả tôi nữa. Tôi đứng chôn chân tại chỗ, tê liệt hoàn toàn, hãi hùng chứng kiến những gì đang diễn ra trước mắt. Đã từng thấy mấy con thú hoang bỏ xổng trên xuồng quan hệ với nhau ra sao, tôi đã tưởng cuộc đổ máu sẽ phải ầm ĩ và đầy vật lộn. Nhưng nó xảy ra thật sự im lìm. Con linh cẩu chết không một tiếng rên la và Richard Parker đã giết con linh cẩu một cách im phăng phắc. Con thú ăn thịt màu lửa ấy đã trỗi dậy từ dưới tấm bạt và bước đến chỗ con linh cẩu. Con này đang đứng dựa vào chiếc ghế dưới xuồng, đằng sau xác con ngựa vằn, như bị đóng đanh vào đó. Nó không chống cự. Nó khuỵu xuống sàn, giơ một chân trước lên trong một dáng điệu tư vệ tuyệt vọng. Vẻ mặt nó là hình ảnh của sự hãi hùng. Móng vuốt khổng lồ của con hổ bổ xuống vai nó. Richard Parker ngoạm vào cổ nó, cặp mắt như men ướt trừng to hẳn ra. Tiếng thịt xương rau ráu khi thanh quản và dây sống bị nghiền nát. Con linh cẩu giãy một cái, mặt nó đờ ra. Thế là xong.
Richard Parker nhả mồi và cất tiếng gầm gừ. Một tiếng gầm gừ dường như chán nản và không hề muốn ai nghe thấy. Nó thở dốc, lưỡi thè lè. Nó liếm mép. Nó lắc đầu. Nó hít ngửi con linh cẩu đã chết. Nó ngẩng cao đầu và đón ngửi không khí. Nó chống cả hai chân trước lên mặt ghế băng và rướn lên. Hai chân nó giang rộng. Cái xuồng lắc lư, mặc dù rất nhẹ, rõ ràng đang làm nó khó chịu. Nó nhìn qua mạn xuồng ra phía biển khơi. Nó cất một tiếng gầm trầm trầm đặc và cáu kỉnh. Nó lại ngửi không khí. Nó từ từ quay đầu. Nó quay, quay hẳn lại đằng sau, cho đến lúc nhìn thẳng vào tôi.
Ước gì tôi có thể mô tả lại những gì xảy ra sau đó, không phải những cái tôi nhìn thấy, điều đó còn có thể ta được, mà là những gì tôi đã trải qua trong cảm giác của mình. Tôi nhìn Richard Parker từ một góc độc cho thấy hết vẻ đẹp ghê gớm của nó, nghĩa là từ sau lưng, khi nó đang vươn người lên và quay đầu lại. Dáng điệu ấy có vẻ như cố tình làm mẫu, thậm chí hơi quá, để phô trương nghệ thuật của sức mạnh. Mà quả thật cũng đáng là nghệ thuật, đáng là sức mạnh. Sự hiện diện của nó thật choáng ngợp và áp đảo, mà vẻ uyển chuyển thì thật duyên dáng. Người nó đầy cơ bắp, nhưng các khớp nhô ra lại gầy nhỏ và bộ da bóng bầy đang treo lỏng lẻo trên khung xương của nó. Thân thể nó, màu da cam sáng có sắc nâu với những vạch đứng đen tuyền, đẹp không thể so sánh với cái gì được, và thật hài hòa với màu trắng tinh khiết của bộ ngực và dưới hai bên sườn cũng như những vòng đen chạy suốt bộ đuôi dài. Khổ đầu nó to và tròn, phô trương bộ râu quai nón đáng kính nể, một chòm râu cằm sành điệu, và những sợi râu mép đẹp nhất trong thế giới hổ báo - dầy, dài và trắng tinh. Trên đỉnh đầu là đôi tai nhỏ sinh động có hình dáng của những mái vòm tuyệt hảo. Bộ mặt màu cam cà rốt có một sống mũi rộng, một chỏm mũi màu hồng, và được thiết kế rất phóng khoáng, táo bạo. Các chấm đen hình sóng chạy vòng quanh gương mặt theo một kiểu vừa nổi bật, vừa tinh tế, vì chúng thu hút sự chú ý vào chúng thì ít mà vào phần không có chúng thì nhiều, tức là phần sóng mũi sáng sủa gần như rỡ ràng. Các mảng trắng, phía trên mắt, xung quanh má và hai bên miệng nổi bật lên như những nét trang điểm cuối cùng xứng đáng với một vũ nữ Kathakali. Kết quả là một gương mặt trông giống như đôi cánh bướm và mang một vẻ gì đó hơi già nua Trung Quốc. Nhưng khi cặp mắt mầu hoàng ngọc của Richard Parker nhìn tôi, cái nhìn chằm chằm của nó thật căng thẳng, lạnh lùng và không nhượng bộ, không dễ dãi hoặc thân thiện chút nào, biểu lộ một thái độ tự chủ đến độ giận dữ sắp nổ tung ra được. Hai tai nó vẫy vẫy rồi quay tròn. Một môi bắt đầu vén lên hạ xuống, để lộ chiếc nanh vàng khè dài phải bằng ngón tay dài nhất của tôi.
Lông tóc trên người tôi dựng đứng hết cả, ngộp thở vì sợ hãi.
Đúng lúc đó thì con chuột xuất hiện. Không biết từ đâu, một con chuột nâu xơ xác hiện hình trên mặt ghế bên cạnh xuồng, hốt hoảng, hết hơi. Richard Parker có vẻ cũng kinh ngạc như tôi. Con chuột nhảy vọt lên tấm bạt và chạy về phía tôi. Thấy thế, vừa choáng vừa ngạc nhiên, hai chân tôi khuỵu xuống gần như ngã vào trong cái tủ bên dưới. Trước cặp mắt kinh hoàng của tôi con chuột nhảy thoăn thoắt qua các phần của cái bè, vọt lên người tôi và trèo luôn lên đỉnh đầu. Những cái móng tí xíu của nó bám chặt xuống da đầu tôi, khư khư níu lấy sự sống.
Cặp mắt của Richard Parker đã dõi theo con chuột. Bây giờ thì chúng nhìn chằm chằm vào đầu tôi.
Nó không quay đầu thêm nữa mà từ từ xoay người đồng thời đưa hai chân trước dọc theo ghế cạnh xuồng. Nó uyển chuyển và nhẹ nhàng nhảy xuống sàn xuồng. Tôi có thể thấy đỉnh đầu, cái lưng và cái đuôi dài uốn cong lên của nó. Hai tai nó ép sát xuống sọ. Chỉ ba bước nó đã về đến giữa xuồng. Cũng nhẹ nhàng như không, nó đứng hẳn nửa thân trước lên và vịn chân vào mép tấm bạt đã cuộn lên.
Nó chỉ cách tôi chừng hai mét. Đầu nó, ngực nó, chân nó – to quá! To quá! Hàm răng nó như cả một tiểu đoàn bộ binh. Nó đang sửa soạn nhảy lên tấm bạt. Tôi sắp chết rồi.
Nhưng tấm bạt bập bùng làm nó khó chịu. Nó ấn thử chân xuống chỗ này chỗ kia. Nó ngẩng lên có vẻ lo lắng – hình như khó chịu vì có quá nhiều ánh sáng và quá mênh mông ở chung quanh. Cái xuồng liên tục lắc lư cũng tiếp tục làm nó không yên. Trong giây lát, Richard Parker lưỡng lự.
Tôi túm con chuột và ném nó về phía con hổ. Tôi vẫn còn thấy nó trong kí ức khi nó bay vọt qua trong không gian – chân duỗi hết ra và cái đuôi dựng đứng, cái bìu dái dài dài nhỏ xíu và cái lỗ đít như lỗ châm kim. Richard Parker ngoác miệng ra và con chuột đang kêu chí chóe biến mất vào đó như một quả bóng chày chui tọt vào găng của người bắt bóng. Cái đuôi trụi thùi lụi của nó biến đi như một sợi mì ống bị mút chụt vào mồm.
Con hổ có vẻ hài lòng vì món quà. Nó lùi lại và quay về chỗ ở bên dưới tấm bạt. Chân tôi lập tức sinh động trở lại. Tôi nhảy lên mở cái nắp tủ để bịt khoảng trống giữa mặt ghế dài mũi xuồng và cái mui bạt.
Tôi nghe tiếng hít ngửi ầm ĩ và tiếng thịt nặng bị kéo lê trên sàn. Thân thể nó dịch chuyển khiến xuồng tròng trành. Tôi bắt đầu nghe tiếng ăn nhóp nhép. Tôi liếc xuống bên dưới tấm bạt. Nó đang ở giữa xuồng. Nó đang ăn con linh cẩu với từng miếng lớn, nhai nuốt liên tục. Không thể để lỡ cơ hội duy nhất này. Tôi với xuống và lấy lên được những chiếc áo phao còn lại – sáu chiếc tất cả - và cả cái chèo cuối cùng. Chúng sẽ củng cố thêm cho cái bè. Tôi để ý thấy có mùi gì. Không phải sặc sụa như mùi nước đái hổ. Mà là mùi nôn. Và tôi thấy cả một bãi nôn dưới sàn. Chắc hẳn là của Richard Parker. Như vậy là nó có bị say sóng thật.
Tôi buộc cái dây dài vào bè. Bây giờ thì bè đã được nối vào xuồng. Tiếp đó, tôi buộc thêm bốn chiếc áo phao vào bốn cạnh bè, ở phía dưới. Một chiếc áo phao nữa thì tôi buộc trải ngang qua cái phao để làm thành cái ghế ngồi. Tôi biến cái chèo cuối cùng thành cái để gác chân, chằng vào một cạnh bè, chiếc áo phao còn lại vào đó. Những ngón tay tôi run bắn, tôi hụt hơi và khó thở. Tôi kiểm tra đi kiểm tra lại các nút buộc.
Tôi nhìn ra xung quanh. Chỉ thấy những đợt sóng dài và nhẹ. Không có sóng bạc đầu. Gió thổi nhẹ và đều. Tôi nhìn xuống nước. Có nhiều cá – cá to với bộ trán dô và các vây lưng rất dài, thường gọi là các dorados, những con cá nhỏ hơn, mảnh và dài, tôi chưa từng thấy bao giờ, và các loại cá nhỏ hơn nữa - rồi thấy cả cá mập.
Tôi nhẹ nhàng thả cái bè ra khỏi xuồng. Nếu vì lý do nào đó mà nó không nổi thì tôi chỉ có chắc chết mà thôi. Nó xuống nước thật đẹp. Thực tế là các áo phao nổi mạnh đến nỗi chúng nhấc cả cái phao và các mái chèo lên hẳn khỏi mặt nước. Nhưng lòng tôi nặng trĩu. Vừa khi cái bè chạm nước, các bầy cá tản ngay ra, chỉ trừ bọn cá mập. Chúng ở lại. Ba hoặc bốn con. Một con bơi qua ngay dưới bè. Richard Parker hắng giọng.
Tôi thấy mình giống như một người tù bị bọn cướp biển bắt phải nhảy xuống biển.
Tôi kéo cái bè vào gần, cho đến khi các đầu mái chèo chạm hẳn và thành xuồng. Tôi nghiêng xuống đặt tay lên cái phao. Qua các kẽ hở trên mặt bè - gọi chúng là những khe hở toang hoác thì đúng hơn – tôi nhìn thẳng xuồng những tầng sâu thăm thẳm của biển cả. Tôi lại nghe thấy tiếng Richard Parker. Tôi trườn úp bụng xuống bè. Tôi nằm bẹp dí, dang hết chân tay và không dám cựa một ngón tay nào. Cái bè có thể lật bất kỳ lúc nào. Hoặc một con cá mập sẽ lao lên cắn thủng qua các áo phao và mái chèo. Nhưng không có gì xẩy ra. Cái bè chìm xuống một chút, bập bềnh và tròng trành, các đầu chèo chúi xuống dưới mặt nước, nhưng nó nổi một cách chắc chắn. Lũ cá mập đến gần, song không động chạm gì hết.
Tôi cảm thấy một cái giật dây nhẹ. Cái bè xoay một vòng. Tôi ngẩng đầu. Xuồng và bè đã cách xa nhau bằng hết đoạn dây, chừng mươi hai mươi ba thước. Sợi dây căng thẳng, bật lên khỏi mặt nước và rún rẩy trong không khí. Thật là một cảnh tượng đáng ghét. Tôi đã rời xuồng để cứu mạng mình. Và bây giờ thì lại muốn quay lại xuồng. Cái bè thật là một giải pháp chất chưởng. Chỉ cần một con cá mập cắn đứt dây, hoặc một cái nút bị tuột, hoặc một con sóng lớn ào xuống đầu tôi, thế là đi đứt. So với cái bè, chiếc xuồng bây giờ dường như là một chốn cư ngụ thật tiện nghi và an toàn.
Tôi lập cập trở mình. Tôi ngồi dậy. Cho đến lúc ấy, cái bè có vẻ khá ổn định. Cái để chân của tôi rất có tác dụng. Nhưng cái gì cũng quá nhỏ. Chỉ đủ chỗ để ngồi lên thôi, không hơn. Cái bè đồ chơi, cái bè mini, cái bè micro này có thể dùng để chu du trong một cái ao, không thể đi qua thái bình dương được. Tôi túm lấy sợi dây và kéo. Càng gần xuồng, tôi kéo càng chậm lại. Khi vào đến cạnh xuồng, tôi lại nghe tiếng Richard Parker. Nó vẫn đang ăn.
Tôi lưỡng lự nhiều phút dài.
Tôi ngồi nguyên dưới bè. Không biết có thể làm gì khác hơn thế. Các lựa chọn của tôi chỉ là vắt vẻo trên một con hổ hoặc lửng lơ trên bọn cá mập mà thôi. Tôi đã biết quá rõ Richard Parker nguy hiểm như thế nào. Còn cá mập thì tôi chưa thấy chúng nguy hiểm ra sao. Tôi kiểm tra các nút buộc của sợi dây của xuồng và bè. Tôi thả dây ra cho đến khi cách xuồng chừng mười mét, cái khoảng cách có vẻ cân bằng hai cái sợ của tôi: quá gần Richard Parker và quá xa chiếc xuồng. Đoạn dây còn lại, khoảng ba mét gì đó, tôi cuốn vòng quanh cái chèo để chân. Nếu cần, tôi có thể dễ dàng thả đoạn dây đó ra.
Ngày đang tàn. Mưa bắt đầu rơi. Trời đã nặng mây và ấm áp suốt ngày. Bây giờ thì nhiệt độ hạ hẳn xuống, mưa tầm tã và lạnh. Khắp xung quanh tôi, nhưng giọt nước ngọt nặng trĩu rơi rào rào và phí phạm xuống biển, làm nhăn nheo mặt sóng. Tôi lại kéo sợi dây. Vào sát mũi xuồng, tôi quỳ lên và ôm lấy chỗ thanh nhô. Tôi đu người lên và thận trọng nhìn qua mạn xuồng. Không thấy nó đâu.
Tôi vội vàng mò và tủ. Tôi vớ một cái hứng nước mưa, một túi nhựa năm mươi lít, một cái chăn và cuốn cẩm nang. Tôi dập cái nắp tủ xuống. Tôi không định làm thế, tuy cũng lo mưa vào ướt hết những của quý của tôi, nhưng cái nắp tuột khỏi bàn tay ướt nhoẹt của tôi. Đó là một sai lầm tệ hại. Hạ cái nắp xuống đã là hành động để lộ mình cho Richard Parker nhìn thấy rồi, mà lại còn làm đến rầm một cái để gọi nó nữa! Đang phủ phục trên con linh cẩu, nó lập tức quay đầu lại. Nhiều con thú rất ghét bị quấy rầy lúc đang ăn. Richard Parker gầm lên. Móng vuốt nó giương ra. Chỏm đuôi nó vẫy qua vẫy lại như có động cơ điện. Tôi nhảy ào xuống bè. Chắc chắn là sợ hãi đã khiến tôi nhanh đến thế. Và cùng với gió và nước ròng, chỉ nhoáng một cái là tôi đã ra xa xuồng. Tôi thả hết dây. Nhất định Richard Parker sẽ lao ra khỏi xuồng, vọt qua không trung nhe nanh giương vuốt vồ lấy tôi. Tôi không rời mắt khỏi chiếc xuồng. Càng nhìn càng hãi.
Nó không xuất hiện.
Để khi mở được cái hứng nước mưa ra trên đầu và buộc chân và trong cái túi nylon, người tôi đã ướt thấu đến xương. Cái chăn cũng ướt hết cả. Nhưng tôi vẫn quấn nó quanh người.
Đêm đến. Xung quanh tôi chỉ còn là bóng tối dầy đặc. Chỉ nhờ vào những cú kéo giật đều đặn của sợi dây mà tôi biết mình vẫn còn nối với xuồng. Biển, chỉ ở bên dưới tôi độ chục phân mà mắt tôi không thể thấy, im lặng nâng đỡ chiếc bè. Những ngón tay nước vụng trộm thò lên qua các khe hở và quệt ướt hết cả đít tôi.
Chương 54
Mưa suốt đêm. Một đêm mưa hãi hùng, không chợp mắt và đầy tiếng động. Mưa rơi xuống cái hứng nước rào rào như trống đánh, và rít lên trong bóng đen bủa vây khắp quanh tôi, như thể tôi đang ở giữa một ổ rắn khổng lồ đang giận dữ. Gió xoay chiều thổi bạt nước mưa hết hướng này sang hướng khác, khiến thân thể tôi cứ vừa hơi khô được một chỗ thì lại ướt sũng trở lại. Tôi xoay chuyển cái hứng mưa, nhưng chỉ được vài phút lại phải chuyển theo hướng gió đổi chiều khác. Tôi cố giữ cho ấm một tí ở ngực, nơi tôi độn cuốn hướng dẫn sống còn, nhưng nước lạnh kiên quyết lan khắp người tôi một cách bệnh hoạn. Tôi rét run cầm cập suốt cả đêm, lúc nào cũng lo cái bè vỡ, dây nối với xuồng bị tuột, hoặc cá mập tấn công. Hai tay tôi sờ nắn các đoạn dây và nút buộc không ngừng nghĩ, như thể đang đọc chúng như người mù đọc chữ nổi vậy.
Đêm càng khuya, gió càng mạnh và biển càng động dữ dằn hơn. Sợi dây nối bè vối xuồng không còn giật nhẹ nữa mà căng thẳng với những cú giật nẩy người, và cái bè tròng trành mạnh không theo nhịp độ nào nhất định. Nó tiếp tục nổi, cưỡi lên các con sóng, nhưng vì không có mạn che chắn nên sóng nước cứ việc ào qua trên người tôi như con sông chảy qua một hòn đá giữa dòng. Nước biển ấm hơn nước mưa, song người tôi thật không còn một chỗ tí xíu nào khô ráo trong suốt đêm hôm đó.
ít nhất thì tôi cũng được uống. Thực ra tôi không khát, mà tôi buộc mình phải uống nước. Cái hứng mưa giống như một cái ô để ngửa, một cái ô bị gió thổi lộn ngược. Nước mưa chảy vào chỗ trũng ở giữa, qua cái lỗ, vào cái ống cao-su rồi xuống cái túi chứa bằng nhựa đầy đặn và trong suốt. Lúc đầu, nước có vị cao-su, nhưng chỉ một lúc sau thì mọi thứ được rửa sạch và nước uống ngon lành.
Trong những giờ phút dài đằng đẵng, lạnh cóng và tói đen ấy, ù tai trong mưa, vất vưởng trên những ngọn sóng khi biển cả gầm rít, tôi vẫn đnh ninh một ý nghĩ: Richard Parker. Tôi nghĩ ra đủ các kế hoạch để thủ tiêu nó và giành lại chiếc xuồng.
Kế hoạch sồ 1: Đẩy nó ra khỏi xuồng. Liệu có ích gì không? trước hết là liệu có đủ sức đẩy một con thú dữ còn đang sống và nặng hơn hai tạ ra khỏi xuồng không? Và có chăng nữa, thì hổ lại là loài thú bơi giỏi. Tại Sundarban, người ta đã thấy hổ bơi hàng năm dặm ngoài biển khơi sóng dữ. Vậy thì có bị đẩy xuống biển, Richard Parker chỉ việc đạp vài cái, trèo lên xuồng trở lại và bắt tôi trả giá cho hành động phản bội của mình.
Kế hoạch số 2: Giết nó bằng 6 ống Morphine. Nhưng cũng không biết morphine có tác dụng gì không. Liệu có đủ để giết nó không? Và tôi sẽ tiêm morphine vào người nó như thế nào? Cứ cho là tôi có thể lừa được nó một lần và bất ngờ tiêm một ống. Nhưng làm sao lừa nó 6 lần liên tiếp? Không thể được. Chỉ cần cắm kim tiêm vào nó là tôi sẽ lạnh đủ một cú tát có thể rụng đầu rồi.
Kế hoạch số 3: Tấn công nó bằng tất cả những gì có thể dùng làm vũ khí. Phi lí và nực cười. Tôi đâu phải Tarzan. Tôi chỉ là một hình nhân ăn chay yếu ớt và nhỏ bé. Muốn săn giết hổ ở ấn Độ, cần phải cưỡi voi khỏe và dùng súng lớn. Còn ở đây thì tôi làm thế nào? Ném một quả pháo sáng vào mặt nó chăng? Xông vào nó với hai tay hai rìu và mồm ngậm dao găm chăng? Giết nó bằng các kim khâu cong và thẳng ư? Làm cho nó ngứa ngáy thôi cũng là một chiến công rồi chứ đừng nói gì đến giết! Và đổi lại, nó sẽ xé tôi ra từng mảnh, chân tay, gan ruột. Một con thú bị thương nguy hiểm hơn một con thú lành mạnh rất nhiều.
Kế hoạch số 4: Thắt cổ nó. Tôi có dây. Nếu tôi trụ ở mũi xuồng làm sao chạy được sợi dây vòng qua đuôi xuồng, rồi thắt một thòng lọng vào cổ nó, tôi sẽ kéo dây khi nó lao về phía tôi. Như thế, càng cố lao vào tôi, nó sẽ càng bị thít chặt cổ. Một kế hoạch tự vẫn thông minh.
Kế hoạch số 5: Đánh thuốc độc. Phóng hỏa. Phóng điện. Nhưng làm thế nào? Dùng cái gì?
Kế hoạch số 6: Đánh nhau kiểu vây hãm cho chết đói. Chỉ việc để mặc nó với các qui luật khắc nghiệt của tự nhiên và tôi sẽ chiến thắng. Chẳng phải nhọc sức làm gì. Cứ đợi cho nó đói khát cho đến chết. Tôi có dự trữ hàng nhiều tháng. Nó có gì? Chỉ một vài con mồi đã chết và sẽ thiu thối rất nhanh. Sau đó thì nó sẽ ăn gì? Và hơn nữa, nước đâu mà uống. Nó có thể nhịn ăn hàng nhiều tuần lễ, nhưng không có con thú nào, dù khỏe đến đâu, có thể nhịn uống trong một thời gian dài.
Một tia hy vọng nhỏ nhoi loé lên trong tôi, như ngọn nến trong đêm. Tôi đã có kế hoạch và là một kế hoạch tốt. Chỉ cần tôi sống sót là thành công.
Chương 55
Ngày rạng và mọi thứ càng tệ hơn. Vì bây giờ, ra khỏi bóng đêm, tôi nhìn thấy cả những gì mà trước đây chỉ có thể cảm thấy: những màn mưa mênh mang từ các tầng trời cao thẳm đổ xuống như muốn nghiền nát tôi, và những con sóng thay nhau cuốn tôi lên cao rồi dìm tôi xuống thấp.
Mắt đờ đẫn, run lẩy bẩy và tê dại, một tay quắp cái hứng mưa, tay kia bám chặt vào bè, tôi tiếp tục chờ đợi.
Một lúc sau, với sự bất ngờ được nhấn mạnh hơn nữa bằng cái yên ắng tiếp theo, mưa ngừng rơi. Trời trong, và dường như các con sóng đã theo mây mà biến đi. Thay đổi thật nhanh và triệt để, như khi ta đi từ nước này sang nước kia trên đất liền. bây giờ thì tôi đang ở trên một đại dương khác hẳn. Một lát sau, mặt trời ngự trị trên cái vòm xanh và biển cả là một làn da mịn phản chiếu ánh sáng với ức triệu mảnh gương lấp lánh.
Tôi tê cứng hết người, đau nhức và kiệt sức, chẳng biết có nên mừng vì còn sống hay không nữa. Những từ ''Kế hoạch số 6, Kế hoạch số 6, Kế hoạch số 6,'' lặp đi lặp lại trong đầu tôi như một câu thần chú và đem lại một chút an ủi, mặc dù tôi không còn nhớ nội dung của Kế hoạch số 6 là cái gì nữa. Xương cốt tôi bắt đầu ấm trở lại. Tôi gập cái hứng mưa. Tôi quấn chăn quanh người và nằm nghiêng, cuộn tròn sao cho không có chỗ nào chạm xuống đến nước, rồi ngủ thiếp đi. Không biết tôi đã ngủ bao lâu. Tỉnh dậy thì thấy có vẻ đã gần trưa, nóng bức. Cái chăn đã gần như khô. Một giấc ngủ ngắn thật say. Tôi nghển lên, chống một khuỷu tay.
Xung quanh tôi phẳng phiu vô tận, một toàn cảnh vô cùng tận của màu xanh nước biển. Không có gì cản tầm mắt. Cái mênh mang đập vào tôi như một cú đấm thúc vào bụng. Tôi nằm vật xuống, đầu óc quay tít. Cái bè này chỉ là một trò đùa. Nó chỉ là vài cái que và một mẩu nút chai buộc lại với nhau. Nước trào lên qua các kẽ hở. Đáy nước thăm thẳm bên dưới sẽ khiến cho ngay cả một con chim cũng phải chóng mặt. Tôi thấy cái xuồng nó chẳng hơn gì một nửa cái vỏ hạt dẻ. Nó nổi trên mặt nước cũng như mấy ngón tay đang bám víu lấy mép vực thẳm. Sớm muộn gì rồi trong lực cũng kéo nó xuống mà thôi.
Kẻ cùng cảnh ngộ với tôi xuất hiện. Nó đứng hai chân trước lên mạn xuồng và nhìn về phía tôi. Cảnh tượng một con hổ thình lình xuất hiện thì bao giờ và ở đâu cũng choáng ngợp cả, nhưng nó càng choáng ngợp hơn trong khung cảnh lúc đó. Vẻ tương phản lạ lùng giữa bộ cánh da cam tươi có vằn đen của nó với màu trắng đục của vỏ xuồng thật mạnh mẽ và hấp dẫn không thể tưởng tượng được. Các giác quan mệt mỏi của tôi đột nhiên ngừng hết cả lại như một chiếc xe đang chạy hết tốc lực bị kéo hết phanh. Thái Bình Dương mênh mông là vậy, thế mà đột nhiên giữa chúng tôi, nó trở thành chật hẹp như thể chỉ là một hào nước hẹp, không rào không giậu.
''Kế hoạch số 6, Kế hoạch số 6, Kế hoạch số 6,'' tâm trí tôi thì thào khẩn cấp. Nhưng Kế hoạch số 6 là cái gì? A, đúng rồi. Chiến tranh vây hãm và bỏ đói. Trò chờ đợi. Trò thụ động. Kệ cho mọi việc tự nó xảy ra. Quy luật sắt của thiên nhiên. Cuộc hành quân không ngừng nghỉ của thời gian và việc tàng trữ lương thực. Đó là Kế hoạch số 6.
Một ý nghĩ ré lên trong đầu tôi như một tiếng thét giận dữ: ''Đồ ngu ngốc! Thằng cả đần! Đồ khỉ! Kế hoạch số 6 là kế hoạch dở nhất! Richar Parker đang sợ hãi biển cả như một nấm mồ của chính mình. Nhưng đói khát sẽ làm cho nó hết sợ. Và nó sẽ làm đủ thứ để thỏa mãn nhu cầu đó. Nó sẽ biến con hào nước hẹp này thành một cái cầu. Nó sẽ bơi đến tận khi nào đến được bè để có thức ăn. Còn nước uống, chẳng nhẽ mi đã quên là ở Sundarbans người ta thấy hổ uống cả nước biển mặn đấy ư? Mi tưởng có thể thi gan với quả thận kiểu đó của nó hay sao? Ta nói cho mi biết, nếu mi phát động chiến tranh vây hãm và bỏ đói, mi sẽ thua! Mi sẽ chế! Đã Rõ CHƯA?''
Chương 56
Tôi phải có vài lời về sự sợ hãi. Sợ hãi là đối thủ thực sự duy nhất của cuộc sống. Chỉ có sợ hãi mới đánh bại được cuộc sống. Nó là một đối thủ khôn ngoan và xảo quyệt, tôi biết điều này quá rõ. Nó không có liêm sỉ, không tuân thủ bất cứ một luật lệ gì, không biết thương xót. Nó tấn công chỗ yếu nhất của ta, và bao giờ cũng tìm thấy chỗ đó một cách dễ dàng. Nó luôn luôn tấn công trước hết vào tinh thần của ta. Ta đang bình tĩnh, chủđộng, hạnh phúc. Đùng một cái, sợ hãi, ngụy trang dưới dạng một nghi ngờ, nhẹ nhàng, lẻn vào tinh thần ta như một tên gián điệp. Nghi ngờ gặp phải Không tin và Không tin cố đánh bật nó ra. Nhưng không tin là một anh lính quèn kém võ trang. Nghi ngờ loại anh này ra khỏi vòng chiến một cách dễ dàng. Ta bắt đầu lo lắng, bồn chồn. Lý lẽ liền xung trận bảo vệ ta. Ta thấy yên lòng lại. Lý lẽ được trang bị bằng mọi thứ vũ khí và công nghệ hiện đại nhất. Nhưng, trước sự kinh ngạc của ta, mặc dù đã có những chiến thuật siêu đẳng và một số chiến thắng không thể phủ nhận, Lý lẽ vẫn bị yếu thế. Ta lại thấy yếu lòng, hoang manh. Nỗi lo lắng và bồn chồn của ta trở thành kinh hoàng.
Lúc ấy, Sợ hãi dồn toàn lực sang cở thể ta, vốn đã lờ mờ cảm thấy có chuyện chẳng lành đang xảy ra. Lập tức, hai lá phổi ta vỗ cánh bay mất như một con chim, và ruột gan ta thì như bầy rắn hốt hoảng trườn đi. Rồi đến lưỡi ta cứng đơ lại, còn hàm thì bắt đầu phi nước kiệu tại chỗ. Tai ta điếc đặc. Cơ bắp bắt đầu run rẩy như sốt rét và hai đầu gối thì lắc như múa. Tim ta thắt lại quá nhỏ và các cơ vòng thì lỏng ra quá nhiều. Và tất cả các bộ phận khác cũng vậy. Bộ phận nào cũng hỏng, theo kiểu riêng của chúng. Chỉ có hai con mắt là vẫn chạy tốt. Chúng luôn chú ý đến Sợ hãi.
Và thế là ta nhanh chóng có những quyết định rất tai hại. Ta bỏ rơi những đồng minh cuối cùng của mình là Hy vọng và Tin tưởng. Đó là lúc ta đã tự đánh bại chính mình. Và Sợ hãi, thực chất chỉ là một ấn tượng, đã đánh bại ta.
Chuyện đó rất khó nói ra bằng lời. Bở vì Sợ hãi, nỗi Sợ hãi thực sự, hằn sâu vào tận cốt tủy như khi ta phải đối mặt với cái chết, sẽ làm tổ trong kí ức ta như một ổ thịt thối: nó tìm cách làm thối mọi thứ, kể cả những lời sẽ phải dùng để nói về chính nó. Cho nên ta phải tranh đấu kịch liệt để diễn đạt nó ra. Ta phải chiến đấu đến cùng để làm rõ ràng ánh sáng của những lời dùng để nói về nói. Bởi lẽ nếu không thế, nếu nỗi Sợ hãi của ta trở thành một cõi đen tối không lời mà ta lẩn tránh, thậm chí còn có thể lãng quên, ta sẽ bỏ ngỏ chính ta cho những cuộc tấn công khác nữa của Sợ hãi, vì ta đã chưa bao giờ thực sự kháng cự kẻ đã từng đánh bại ta.
Chương 57
Chính Richard Parker làm tôi bình tĩnh trở lại. Điều trớ trêu trong chuyện này là ở chỗ lúc đầu nó đã làm tôi sợ mất mật nhưng lại cũng chính nó đem lại cho tôi sự bình yên, mục đích, và tôi dám nói rằng cả lành mạnh nữa.
Nó đang nhìn tôi rất chăm chú. Một lúc sau thì tôi hiểu ra cái hình của nó. Tôi đã lớn lên với nó. Đó là cái nhìn của một con thú đang bằng lòng với cuộc đời của mình, kiểu như ta đang nhìn ra ngoài sau một bữa ăn ngon trong tiệm và thấy đã đến lúc nhìn ngó mọi người và chuyện gẫu với nhau. Rõ ràng, Richard Parker đã ăn con linh cẩu đến căng bụng và uống đã nước mưa. Nó không hề nhe răng nhe lợi, không gầm gừ làu bàu gì hết. Nó chỉ giản dị nhìn tôi, quan sát tôi, với dáng vẻ tỉnh táo những không đe dọa. Nó vẫy tai, quay đầu sang hai bên với các góc độ khác nhau, hệt như loài mèo vẫn ó thói quen như thế. Nó trông giống một con mèo to béo nuôi trong nhà, một con mèo cảnh nặng hơn hai tạ.
Nó khụt khịt, một tiếng khụt khịt từ trong mũi. Tôi dỏng tai. Nó khụt khịt lẫn nữa. Tôi kinh ngạc. Chẳng lẽ thế?
hổ phát ra nhiều âm thanh khác nhau. Chúng bao gồm một số tiếng gầm và tiếng gừ, to nhất trong số nào có lẽ là tiếng aaoonh, rung hết các thanh đới, mà cả các con đực và cái thường phát ra trong mùa giao phối. Đó là tiếng kêu vang rất xa và rộng, nếu nghe gần thì cực kỳ khủng khiếp. Khi bị bất ngờ, hổ hộc lên một tiếng nghe như tiếng nổ gọn và sắc của một khối giận dữ, và ngay lúc ấy khiến chân ta bật lên tháo chạy nếu không phải đã bị rúm lại tại chỗ. Khi chúng xông vào con mồi, hổ phát ra những tiếng gầm ngắn như tiếng ho tận trong cổ họng. Còn để dọa thì tiếng gầm của chúng lại mang âm sắc khác. Hổ còn có lối phì và gừ qua kẽ răng, nghe có lúc như tiếng lá thu xào xạc trên đất, nhưng âm vang hơn một chút, hoặc nếu là một tiếng gừ giận dữ thì nghe như một cánh cửa khổng lồ đang từ từ mở ra trên những chiếc bản lề gỉ sét, và cả hai loại âm thanh này đều làm ta buốt hết cả các đốt sống lưng. Hổ còn có nhiều âm thanh khác nữa. Chúng càu nhàu và rền rĩ. Chúng ư ử nhè nhẹ, mặc dù không có âm điệu và không thường xuyên như mèo, và chỉ ư ử khi thở ra. (Chỉ có mèo là ư ử cả khi thở ra lẫn hít vào. Đặc tính này phân biệt rõ rệt mèo với hổ. Đặc tính phân biệt nữa là chỉ có hổ mới có thể gầm. Thế cũng là tốt. Giả dụ mèo nhà mà biết gầm như hổ thì chắc là chẳng ai muốn nuôi chúng như hiện nay.) Hổ thậm chí có lúc kêu meo meo như mèo nhà, như tiếng to hơn và âm vực thấp hơn, không khuyến khích người nghe cúi xuống bế chúng lên. Và hổ có thể hoàn toàn im lặng một cách oai vệ, đúng thế.
Tôi đã từng nghe tất cả những âm thanh đó từ hồi còn nhỏ. Trừ cái tiếng khụt khịt này mà người ta gọi là prusten. Sở dĩ tôi biết đến prusten là vì cha đã kể cho tôi biết. Trong sách đã có những miêu tả về tiếng khụt khịt này của hổ. Nhưng cha đã một lần nghe thấy nó khi đến thăm và làm việc ở vườn thú Mysore, trong bệnh viện của bầy thú tại đó, từ một con hổ đực còn non đang được điều trị bệnh viêm phổi. Prusten là âm thanh im ắng nhất của loài hổ, một âm thanh phát ra lỗ mũi để biểu thị lòng thân thiện và những ý định vô hại.
Richard Parker lại khụt khịt nữa, lần này thì với một động tác quay đầu. Trông nó đúng là đang cất tiếng hỏi tôi một điều gì.
Tôi nhìn nó, lòng tràn đầy một sự kì diệu đáng sợ. Không thấy bị đe dọa ngay lập tức nữa, hơi thở tôi dịu lại, tim không còn đập loạn xạ, và tôi bắt đầu tỉnh táo trở lại.
Phải thuần phục nó. Tôi chợt nhận ra điều đó. Không còn là vấn đề nó hoặc tôi, mà là nó và tôi. Cả nghĩa đen và nghĩa bóng, chúng tôi đang cùng hội cùng thuyền. Chúng tôi sẽ sống - hoặc sẽ chết - cùng với nhau. Nó có thể bị chết vì một tai biến nào đó, hoặc có thể chết nhanh chóng hơn vì các nguyên nhân tự nhiên, nhưng hy vọng một kết cục như vậy là một điều xuẩn ngốc. Điều ng ược lại còn dễ xảy ra hơn, vì với thời gian, sức người yếu ớt nơi tôi sẽ không thể bền bỉ như sức vóc thú vật của nó.Chỉ khi tôi thuần phục được nó, may ra tôi mới có thể lừa nó vào cái chết trước, nếu chúng tôi bị dồn vào tình trạng đáng buồn đó.
Còn nhiều chuyện nữa. Tôi sẽ nói hết. Tôi sẽ thú nhận một bí mật: một phần con người tôi thấy vui vì có Richard Parker . Một phần con người tôi không muốn Richard Parker chết một tí nào, vì nếu nó chết, tôi sẽ chỉ còn lại một mình với tuyệt vọng, một đối thủ còn ghê gớm hơn một con hổ. Nếu như tôi vẫn còn muốn sống, thì đó là vì Richard Parker. Nó khiến tôi không phải nghĩ quá nhiều đến gia đình tôi và hoàn cảnh bi thảm của tôi. Nó thúc tôi tiếp tục sống. Tôi căm ghét nó vì thế, mà cũng biết ơn nó vì thế. Đúng là tôi biết ơn nó. Sự thật hiển nhiên là: không có Richard Parker, tôi đã không còn sống để kể câu chuyện này.
Tôi nhìn ra chân trời khắp xung quanh. Chẳng phải tôi đang có một sân khấu xiếc hoàn hảo, tròn trịa, không thể đào tẩu đi đâu và cũng không có một ngóc ngách nào để lẩn trốn được hay sao? Tôi nhìn xuống biển. Chẳng phải đó là nguốc các món ăn có thể dùng để thưởng và dạy nó nghe lời hay sao? Tôi để ý thấy một cái còi lủng lẳng ở một chiếc áo phao. Đó chẳng phải là chiếc roi tốt để giữ cho nó đi đúng hàng đúng lối hay sao? Còn thiếu gì nữađể thuần phục Richard Parker? Thời gian ư? Phải hàng nhiều tuần lễ nữa trước khi có chiếc tàu nào tình cờ phát hiện ra tôi. Tôi có tất cả thời gian cần thiết trên thế gian này. Quyết tâm ư? Không có gì khiến ta quyết tâm bằng nhu cầu sống còn. Kiến thức ư? Chẳng phải tôi là con trai một người chủ vườn thú đấy sao? Phần thưởng ư? Có phần thưởng nào lớn lao hơn chính cuộc sống? Có hình phạt nào khủng khiếp hơn chính cái chết? tôi nhìn Richard Parker. Tôi không còn hoảng loạn nữa. Tôi đã chế ngự được sợ hãi. Sống còn đã nằm trong tầm tay.
Hãy nổi kèn hiệu lên. Gióng trống lên. Hãy bắt đầu màn trình diễn. Tôi đứng hẳn lên. Richard Parker để ý ngay. Đứng cho vững trên bè không phải dễ. Tôi hít một hơi dài và gào lên, ''Thưa quí bà và quí ông, quí cô và quí cậu, hãy mau về chỗ của mình! Mau lên, mau lên. Quí vị không muốn bị muộn trò đâu. Hãy ngồi xuống, hãy mở mắt, mở lòng và chuẩn bị để được kinh hoàng. Nó đây rồi, để mang lại cho quí vị những vui vẻ mới lạ và niềm hoan lạc tràn đầy, buổi diễn mà quí vị đã chờ đợi bấy lâu nay, buổi diễn vĩ đại nhất trên trái đất này đã đến đây rồi! Quí vị đã sẵn sàng thưởng thức những điều kì diệu của nó chưa? rồi phải không ạ? Vậy thì, những kì diệu này biến ảo vô cùng. Quí vị đã thấy chúng trong những khi rừng ôn đới phủ đầy tuyết trắng. Quí vị đã thấy chúng trong những khu rừng rậm nhiệt đới gió mùa. Quí vị đã thấy chúng ở những xứ sở hoang vu cây cối thưa thớt. Quí vị đã thấy chúng trên những đầm lầy nước lợ mọc đầy xoài và mãng cầu. Sự thực là buổi diễn này có thể làm ở bất cứ đâu. Nhưng chưa bao giờ quí vị được thấy buổi diễn ấy tại một nơi như nơi này! Quí bà và quí ông, quí cô và quí cậu, không dám nhiều lời thêm nữa, tôi xin vinh hạnh giới thiệu: ''ĐOàN XIếC NổI XUYÊN THáI BìNH DƯƠNG, ấN-CANADA, PI PATEL! TUYýYYT! TUYýYYT! TUYýYYT! TUYýYYT! TUYýYYT!''
Tôi có tác động đến Richard Parker. Ngay tiếng còi đầu tiên, nó rùng mình và nhe nanh. Ha! Cứ việc nhảy xuống biển nếu mày muốn! Cứ thử đi xem nào!
'' TUYýYYT! TUYýYYT! TUYýYYT! TUYýYYT! TUYýYYT! TUYýYYT! TUYýYYT! TUYýYYT!''
Nó gầm lên và cào hai chân trước vào không khí. Nhưng nó không nhảy. Nó có khả năng không sợ hãi biển nữa khi bị đói khát giày vò, nhưng bây giờ thì tôi phải tận dụng nỗi sợ hãi ấy của nó.
'' TUYýYYT! TUYýYYT! TUYýYYT! TUYýYYT! TUYýYYT! TUYýYYT! TUYýYYT! TUYýYYT!''
Nó lùi lại và chúi xuống sàn xuồng. Buổi huấn luyện đầu tiên thế là xong. Một thành công vang dội. Tôi ngừng thổi còi, ngồi phịch xuống bè, hết hơi và mệt rũ người.
Và thế là ra đời:
Kế hoạch số 7: Giữ cho nó sống.
Chương 58
Tôi lôi cuốn cẩm nang ra đọc. Các trang sách vẫn còn ướt. Tôi cẩn thận giở từng trang. Tác giả là một sĩ quan thuỷ quân hoảng gia Anh. Cuốn sách là kho báu các thông tin thực dụng về việc làm sao để sống sót sau khi bị đắm tàu, bao gồm cả những mẹo nho nhỏ như sau:
- Luôn luôn đọc kĩ các hướng dẫn.
-Đừng uống nước giải. Hoặc nước biển. Hoặc máu chim.
- Đừng ăn sứa. Hoặc các loại cá có ngạnh. Hoặc cá có mồm như mỏ vẹt. Hoặc cá có thể phồng người lên như bóng thổi.
- Bóp mạnh hai mắt cá sẽ làm cho nó tê liệt.
- Cơ thể tự nó rất dai sức để sinh tồn. Nếu bị thương, phải cảnh giác với các phương pháp chữa trị tưởng là hay nhưng vô căn cứ. Phương pháp lang băm là nguy hiểm nhất. Không có hộ lí nào tốt hơn là nghỉ ngơi và giấc ngủ.
- Nhấc chân cao lên ít nhất 5 phút một lần.
- Nên tránh gắng sức không cần thiết. Nhưng đầu óc nhàn rỗi sẽ sinh u mê, cho nên cần tận dụng mọi cơ hội để có hoạt động trí não. Đánh bài, chơi trò Hai mươi câu hỏi và trò Trinh thám bằng mắt là những hình thức giải trí đơn giản tuyệt vời. Cùng nhau hát cũng là cách nâng cao tinh thần rất hữu hiệu. Kể chuyện cũng vậy.
- Nước có màu xanh lá cây thì nông hơn chỗ nước có màu xanh da trời.
- Phải cảnh giác khi thấy các đám mây ngoài xa có dáng dấp như các dãy núi. Hãy để mắt tìm màu xanh lá cây. Chỉ khi nào đặt chân lên mặt đất hãy nghĩ là mình đã trên bờ.
- Đừng bơi. Việc này tiêu hao năng lượng. Hơn nữa, xuồng cứu nạn thường trôi nhanh hơn bơi. Chưa kể các nguy hiểm khác trong khi bơi. Nếu thấy nóng, tốt nhất là dấp nước lên quần áo.
- Đừng đái vào quần. Có thể thấy ấm một chút lúc đó nhưng sẽ ngứa ngày rất khó chịu sau này.
- Hãy tìm cách che nắng. Phơi nắng có thể chết nhanh hơn cả khát hoặc đói.
- Khi không bị mất quá nhiều nước qua đường mồ hôi và bài tiết, cơ thể có thể sống sót được tới 12 ngày mà không cần nước uống. Nếu thấy khát, hãy mút một cái khuy.
- Rùa vừa dễ bắt vừa ăn ngon. Máu rùa là đồ uống không có muối, rất bổ; thịt rùa thơm và chắc dạ; mỡ có nhiều công dụng khác nhau; và trứng rùa thì tuyệt hảo. cẩn thận mỏ và móng rùa.
- Đừng để xuồng tinh thần. Sờn lòng thì chấp nhận được, nhưng đừng bao giờ chịu đầu hàng. Hãy nhớ rằng: tinh thần là quan trọng nhất. Nếu ta có ý chí muốn sống, ta sẽ sống. Chúc may mắn!
Cũng có một vài dòng ngắn gọn chắt lọc từ nghệ thuật và khoa học hàng hải. Tôi học được rằng trong một ngày đẹp trời, lặng gió và với tầm mắt ở độ cao một thước 6, thì đường chân trời cách ta khoảng hai dặm rưỡi.
Lời khuyên đừng uống nước giải là hoàn toàn không cần thiết. Chẳng có ai bị người ta gọi là ''Pissing'', nghĩa là đang đi đái, từ thời thơ ấu chịu phải chết với một cốc nước giải trên môi, ngay cả khi có một mình giữa Thái Bình Dương. Còn các lời khuyên liên quan đến các món ăn chỉ làm tôi thêm tin chắc rằng người Anh không biết được ý nghĩa của từ thực phẩm. ngoài những chi tiết đó ra thì cuốn cẩm nang là một tài liệu tuyệt với. Chỉ có một chủ đề quan trọng không thấy nói đến: việc thiết lập mối quabn hệ alpha-omega, chủ và tớ, với mấy con vật nuôi trên xuồng cứu nạn.
Tôi phải thiết kế một chương trình huấn luyện cho Richard Parker. Tôi phải làm nó hiểu được rằng tôi là con hổ đầu đàn và rằng lãnh thổ của nó chỉ là dưới sàn xuồng, kể từ cái ghế đuôi đến cái ghế giữa mà thôi. Tôi phải ấn vào đầu nó một ý thức rõ ràng rằng phần mui bạt và khu vực mũi xuồng, kể cho đến cái ghế giữa, là lãnh thổ của tôi, và tuyệt đối nó không được xâm phạm.
Tôi phải bắt đầu nghĩ cách câu cá càng sớm càng tốt. Chẳng mấy chốc, Richard Parker sẽ ăn hết chỗ thịt chết kia ở trên xuồng. Trong vườn thú, một con hổ hoặc sư tử đã trưởng thành trung bình ăn hết khoảng 5 cân thịt mỗi ngày.
Và còn nhiều việc khác phải làm. Tôi phải tìm phương tiện che chắn cho mình. Nếu Richard Parker chúi dưới tấm mui bạt suốt ngày như thế là có lí do chính đáng lắm. liên tục ở ngoài trời như thế này, nắng, mưa, gió, biển, sẽ làm kiệt quệ cả cơ thể lẫn tinh thần. tôi đã chẳng đọc thấy rằng mưa nắng có thể đưa đến một cái chết rất nhanh đó hay sao? Tôi phải làm một cái mái che kiểu gì đó cho mình.
Tôi phải buộc cái bè vào với cái xuồng bằng một sợi dây nữa, đề phòng cái dây hiện nay bị đứt hoặc lỏng ra.
Tôi phải cải thiện cái bè. hiện thời thì nó nổi đấy, nhưng khó lóng ở trên nó lâu được. Tôi sẽ phải làm cho nó tiện nghi hơn để sống cho đến khi có thể dọn về và ổn định chỗ của mình trên xuồng. Chẳng hạn như phải làm sao vẫn ở trên bè mà không bị ướt. Da dẻ tôi nhăn nhúm và sưng tấy khắp người do loên tục bị ướt. Tình trạng đó phải chấm sứt. Và cũng phải tìm cách cất giấu đồ ngay trên bè nữa.
Tôi phải thôi đừng hy vọng quá nhiều vào việc một con tàu sẽ đến cứu tôi. Không nên chờ đợi cái gì khác. Việc sống còn phải bắt đầu từ chính bản thân mình. Theo kinh nghiệm của tôi, sai lầm tệ hại nhất của một nạn nhânđắm tàu là hy vọng quá nhiều và hành động quá ít. Việc sống còn bắt đầu bằng ý thức để ý đến những gì sờ thấy lấy được. Trông chờ xa xôi với niềm hy vọng lười nhác cũng có nghĩa là mộng mị và để cuộc sống của mình tuột đi dần dần.
Có biết bao nhiêu việc tôi phải làm.
Tôi phóng tầm mắt về phía chân trời trống rỗng. Sao mà nhiều nước đến thế. Còn tôi thì chỉ có một mình. Chỉ có một mình.
Tôi bật khóc. Nước mắt tôi nóng bỏng. Vùi mặt vào hai khoeo tay, tôi khóc tấm tức. Tình trạng của tôi chắc chắn là vô vọng rồi.
Chương 59
Một mình hay không, mất hay còn, tôi vẫn thấy đói và khát. Tôi kéo dây. Nó hơ căng. Lỏng tay kéo là nó tuột đi, và khoảng cách giữa cái bè và chiếc xuống lại tăng lên. Có nghĩa là chiếc xuồng trôi nhanh hơn cái bè và đang kéo nó theo. Tôi để ý thấy hiện tượng đó nhưng không nghĩ gì về nó. Đầu óc tôi còn đang tậo trung vào những hành động của Richard Parker.
Trông thì có vẻ như nó đang ở dưới tấm bạt.
Tôi kéo dây cho tới khi đến sát cạnh mũi xuồng. Tôi ruớn lên mép xuồng. Và khi đang cúi xuống, chuẩn bị tấn công vào cái tủ đựng đồ, một loạt các con sóng ào đến khiến cho tôi phải nghĩ. Và tôi nhận ra rằng với cái bè ở ngay sát cạnh, chiếc xuồng đã đổi hướng trôi. Nó không còn đi vuông góc với các ngọn sóng nữa mà quay ngang sườn về phía chúng và bắt đầu lắc ngang từ bên này sang bên kia, kiểu lắc làm cho nôn nao hết cả bụng. Tôi chợt hiểu ra: cái bè, khi ở xa chiếc xuồng thì có tác dụng như một cái neo có lực kéo khiến cho xuồng trôi trực diện qua các con sóng. Sóng và gió ổn định thường có chiều vuông góc với nhau, cho nên nếu một chiếc xuồng được gió đẩy đi nhưng lại bị neo nổi kéo lại, nó sẽ quay dần vào vị trí ít cản gió nhất, tức là nằm xuôi theo chiều gió và vuông góc với sóng. Lúc ấy, nó dập dềnh theo chiều mũi và đuôi xuồng, dễ chịu hơn nhiều so với tình trạng lắc lư theo chiều ngang. khi cái bè đã ở sát cạnh xuồng thì tác dụng neo kéo của nó mất đi, không có gì giữ cho xuồng đi xuôi gió nữa, và nó liền quay ngang.
Một chi tiết nhỏ nhặt ấy thôi sẽ cứu mạng tôi và sẽ khiến cho Richard Parker phải hối hận.
Như thể khẳng định cho ý nghĩ thoáng qua ấy của tôi là đúng, tôi nghe thấy nó gừ lên một tiếng. Đó là một tiếng gừ bất an, có một âm hưởng khó chịu và sống sượng rất khó định nghĩa. Nó có thể là một tay bơi lội cừ, nhưng không phải là một thủy thủ ra trò.
Tôi còn có cơ hội.
Có vẻ như tôi đã quá tự phụ về khả năng chi phối nó, nên ngay lúc ấy trời gửi đến cho tôi một dấu hiệu cảnh báo rất lạ. Hình như Richard Parker là một cây nam châm sống với sức hút mãnh liệt đến nỗi các sinh vật ở gần nó không thể chịu nổi. Tôi đang sắp trèo lên mũi xuồng thì chợt nghe có tiếng xoèn xoẹt nhè nhẹ. Có cái gì nho nhỏ rơi xuống nước ngay cạnh tôi.
Đó là một con gián. Nó nổi bập bềnh được một hai giây thì bị một cái miệng dưới nước nuốt chửng. lại một con gián nữa rơi xuống nước. Một phút sau đó, đã có khoảng chục con gián thi nhay nhảy xuống nước lõm bõm cả hai bên mạn xuồng. Con nào cũng nhanh chóng bị cá nuốt chửng.
Những hình thức sống ngoại lai đang rời bỏ chiếc xuồng.
Tôi thận trọng nhìn qua mép xuồng. Vật đầu tiên lọt vào mắt tôi là một con gián thật to, chắc là thủ lĩnh của cả bộ lạc gián trên xuồng, đang nằm trong một nếp gấp của tấm bạt phía trên cái ghế mũi xuồng. Tôi ngắm con gián, tự nhiên thấy rất lạ. Khi nó đã quyết định là đã đến lúc, con gián vươn cánh bay lên không trung với một âm thanh thật tinh tế, dừng lại một tí trên cao như thể đang kiểm tra xem còn có con nào khác ở lại trên xuồng nữa không, rồi nhào xuống biển để đón nhận cái chết.
Bây giờ thì chỉ còn hai chúng tôi. Trong 5 ngày, toàn bộ dân số gồm khỉ độc, ngựa vằn, linh cẩu, chuột, ruồi, và gián đã bị tiêu diệt. Không kể bọn vi trùng và ròi bọ có thể vẫn sống trong chỗ thịt chết của các con vật kia, trên xuồng không còn ai khác đang sống ngoài Richard Parker và tôi.
ý nghĩ đó chẳng dễ chịu chút nào.
Tôi nhổm lên và nín thở mở nắp cái thùng. Tôi cố tình không nhìn xuống phía dưới tấm bạt vì sợ rằng nhìn sẽ giống như một tiếng kêu có thể sẽ đánh động Richard Parker. Chỉ khi cái nắp thùng đã dựa vào tấm bạt rồi, tôi mới dám để ý xem phía bên kia có những gì.
Mùi khai sộc vào mũi tôi, một mùi khai khẳn rất choáng của nước đái hổ vẫn thường thấy trong vườn thú. Hổ là con vật rất có ý thức về lãnh thổ, và chúng đánh dấu lãnh thổ bằng nước đái của mình. Vậy là rất tốt, cho dù thật là khai, vì mùi nước đái này chỉ bốc ra từ bên dười tấm bạt mà thôi. Richard Parker hình như chỉ chiếm lịnh khu vực sàn xuồng. Có hy vọng rồi. Nếu tôi chiếm được khu vực mui bạt, nó với tôi sẽ có thể cùng chung sống được.
Tôi nín thở, cúi đầu xuống và ngó nghiêng qua mép cái nắp về phía bên kia. Dưới sàn xuồng có khoảng 20 phân nước mưa đọng lại và sóng sánh bên này bên kia. Đó là cái ao riêng của Richard Parker. Nó đang làm đúng điều mà tôi cũng sẽ làm trong hoàn cảnh của nó: trốn trong bóng mát. Ngày mỗi lúc một nóng bức rất khó chịu. Nó nằm bẹp, quay đuôi về phía tôi, hai chân sau duỗi dài và dang rộng, móng vuốt chổng ngược, bụng và bẹn sát tịt xuống sàn. Trông thì buồn cười nhưng rõ ràng là một tư thế rất dễ chịu.
Tôi trở lại với việc sống còn của mình. Tôi mở một hộp đồ ăn cấp cứu và ăn đến căng bụng, hết khoảng một phần 3 hộp. Rất lạ là chỉ một chút thế thôi cũng đã làm no bụng tôi rồi. Sắp sửa uống nước từ trong cái túi nước mưa vẫn quàng qua cổ thì tôi nhìn thấy mấy cái bình đong nước có chia độ. Nếu không nhúng mình xuống nước được như nó, liệu tôi có quyền nhấp một chút nước ấy không? Nguồn nước riêng của tôi không thể vô tận được. Tôi vớ một cái bìnhđong, cúi xuống, hạ cả cái nắp theo mình cho đến khi nhúng được cái bình vào nước ao của Richard Parker, chỉ cách hai bàn chân sau của nó độ hơn một thước. Hai bàn chân chổng ngược với đám lông ướt của nó giống như hai hòn đảo nhỏ nổi lên giữa đám rong biển.
Tôi múc được đến nửa lít nước. Không trong lắm. Đầy những bụi bẩn lơ lửng. Tôi có lo uống phải vi trùng không ư? Thậm chí tôi không hề nghĩ đến chuyện đó. Trong đầu tôi chỉ biết có cơn khát của mình. Tôi nốc cạn cả bình nước, rất thỏa mãn.
Thiên nhiên lúc nào cũng lo giữ quân bình, cho nên chẳng lạ gì ngay lập tức tôi thấy rất buồn đái. Tôi đái vào cái bình. Đúng đến mức nước mà tôi đã vừa uống. Và lập tức thấy thèm được uống nữa. Tôi do dự. Tự nhiên muốn nghiêng bình uống luôn. Tôi cố chống lại cơn thèm đó mà thật khó. Xấu hổ gì mặc kệ, tôi thấy nước đái trong bình thật ngon lành. Chưa bị mất nước nhiều, nên nước đái của tôi vẫn có màu trong. Nó sáng lên dưới ánh mặt trời, trông như một bình nước táo. Và nó đảm bảo tươi nguyên, chứ không như thứ nước đóng trong hộp dự trữ của tôi. Nhưng tôi chế ngự được mình. Tôi tưới nước đái của mình lên tấm bạt và nắp thùng để khẳng định lãnh thổ của mình.
Tôi trộm được thêm hai bình nước nữa của Richard Parker, lần này thì không bị đi đái, và cảm thấy mình tươi tắn như một đóa hoa vừa được tưới.
Bây giờ là lúc phải cải thiện tình hình của mình. Tôi quay về với nội dung của cái tủ và những hứa hẹn của nó.
Tôi lấy một sợi dây thứ hai và buộc thêm vào cái bè.
Tôi phát hiện ra công dụng của cái máy cất nước bằng ánh nắng mặt trời. Nó biến nước biển thành nước uống được. Cái mày bao gồm một bộ phận chất dẻo trong thổi lên thành hình chóp nón, chụp lên trên một hộp nổi có dạng như cái phao cứu nạn, trên mặt có căng một tấm vải bọc cao su đen. Nước biển chứa trên tấm vải đen được mặt trời đun nóng lên và bốc hơi, đọng lại dưới bề mặt của bộ phận chóp nón. Thứ nước cất này chảy xuống máng dẫn vòng quanh mép chóp rồi được thu góp vào một cái túi. Trên xuồng có 12 cái cất nước như vậy. Tôi đọc hướng dẫn sử dụng rất cẩn thận (như học được từ cuốn cẩm nang sống sót), rồi thổi căng cả 12 cái chóp nón, đổ đầy mỗi thùng phao được tới 10 lít nước biển. Tôi buộc các máy cất nước vào với nhau, chằng một đầu dây vào xuồng và đầu kia vào bè, vừa để giữ an toàn cả 12 cái cất nước cho dù một đầu dây có bị tuột, vừa để có thêm một đường dây nữa nối xuồng với bè. Các máy cất nước trông đẹp và có vẻ rất khoa học kĩ thuật khi chúng nổi trên mặt nước, nhưng trông chúng cũng có vẻ rất bấp bênh và không biết chúng có làm ra nước uống thật hay không.
Tôi quay sang cải thiện cái bè. tôi rà lại từng nút buộc, không để cái nào lỏng lẻo. Sau một hồi suy tính, tôi quyết định biến cái chèo thứ 5, vẫn dùng để gác chân, thành một cái cột buồm. Tôi tháo nó ra. Dùng cạnh lưỡi cưa của con dao săn, tôi hì hục cắt một cái khấc vào mái chèo, quãng giữa thân, rôidùng mũi dao khoét 3 lổ thủng qua phần bẹt của mái chèo. Việc thì chậm nhưng tốt. Tôi suy tính liên miên. Khi đã xong, tôi buộc cái chèo theo tư thế thẳng đứng vào góc trong của một góc bè, phần bẹt lên trên, phần cán đâm xuống nước. Tôi chằng dây thật chặt qua cái khấc để giữ cho cái chèo không bị tụt xuống. tiếp theo, để đảm bảo cột buồm sẽ đứng thẳng, cũng như có được những đường dây để mắc dù che và treo đồ đạc lên, tôi luồn dây qua 3 cái lỗ đã khoét và buộc căng chúng xuống các đầu của những mái chèo nằm ngang của bè. Tôi buộc cái áo phao trước đây đã chằng vào cái chèo gác chân vào chân cột buồm. Nó sẽ có hai tác dụng: vừa tăng thêm độ nổi để bù vào sức nặng thẳng đứng của cột, vừa làm một cái chỗ hơi cao lên để tôi ngồi.
Tôi ném một cái chăn lên trên dàn dây căng. Nó trôi tuột xuống. Góc chằng dây quá dốc. Tôi gập cái chăn theo chiều dài, cắt hai lỗ quãng giữa, cách nhau chừng 30 phân, rồi nối hai lỗ ấy bằng một đoạn dây ngắn. Tôi lại ném cái chăn lên, lần này thì có đoạn dây ở giữa chăn để buộc vào cột. Thế là có một cái dù che.
Tôi mất gần hết ngày hôm đó để sửa sang cái bè. rất nhiều chi tiết phải chú ý đến. Công việc chẳng dễ dàng gì vì lúc nào sóng cũng làm bè bập bềnh. Rồi lại phải dè chừng Richard Parker suốt ngày. Kết quả không cò gì đáng gọi là mỹ mãn. Cái cột buồm, là tôi cứ gọi thế, chỉ cao hơn đầu tôi chừng dăm bẩy phân. Còn sàn bè thì chỉ đủ rộng để ngồi xếp bằng hoặc nằm co gần như là trong bụng mẹ. Nhưng tôi không phàn nàn gì cả. Cái bè chịu được biển cả, và nó giữ cho tôi cách xa Richard Parker.
Khi làm xong các việc đó thì đã gần hết chiều. Tôi lấy một hộp nước, một cái mở hộp, 4 cái bánh trong khẩu phần cấp cứu và 4 cái chăn. Tôi đóng cái tủ lại (lần này rất nhẹ nhàng), ngồi vào bè và thả dây. Chiếc xuồng trôi đi. Sợi dây chính căng ra, trong khi sợi dây bảo hiểm mà tôi đã cố tình buộc dài hơn thì chùng lại. Tôi trải hai cái chăn xuống dưới, gấp cẩn thận để chúng không chạm xuống mặt nước. Tôi quấn hai cái chăn kia quanh vai và dựa lưng vào cột. Ngồi lên thêm một cái áo phao như thế rất thích, chỗ ngồi có cao hơn lên một chút. Thật ra cũng chẳng cao ráo gì nhiều, chỉ như người ngồi trên một cái gối dầy vứt dưới sàn nhà, nhưng dù sao thì tôi cũng hy vọng sẽ không bị ướt nhiều.
Bữa ăn thật ngon khi tôi vừa ăn vừa ngắm mặt trời lặn trên bầu trời không một gợn mây. Đó là một thoáng thư giãn. Vòm trời rộng lớn bao trùm thế giới với những sắc màu hùng tráng. Những vì sao háo hức hiện dần ra, và ngay khi bức màn màu sắc kia bị kéo xuống một chút thôi là chúng bắt đầu sáng rực lên trên nền xnah sẫm. Gió thổi thành những làn nhẹ nhàng và ấm áp, còn biển cả thì chuyển mình từ tốn, mặt nước nhấp nhô như thể có những đám người múa thành từng vòng tròn, giơ tay lên, tản ra rồi lại tụ lại với nhau, hết vòng này tới vòng khác.
Richard Parker đã ngồi dậy. Chỉ thấy cái đầu và một ít vai nó nhô lên khỏi mạn xuồng. Nó nhìn ra. Tôi hét lên, ''Này! Richard Parker!'' và vẫy tay. Nó nhìn tôi. Nó hít hoặc khịt mũi, cả hai động từ này đều không tả chính xác được. Prusten rồi! Thật là một con thú tuyệt vời. Thật quí phái. Đúng là một con hổ hoàng gia Bengal. Tôi may mắn thật đấy chứ. Thử nghĩ xem nếu tôi phải ở với một con vật trông ngốc nghếch hoặc xấu xí, một con tapir hoặc đà điểu hoặc một bầy gà tây chẳng hạn thì sao? Nhất định là quan hệ của chúng tôi sẽ khó khăn hơn nhiều.
Nghe có tiếng quẫy nước, tôi nhìn xuống và há hốc mồm vì kinh ngạc. Thế mà tôi cứ tưởng chỉ có một mình. Sự im ắng trong không trung, vẻ huy hoàng của ánh sáng, và cảm giác tương đối an toàn, những cái đó đã khiến tôi tưởng vậy. Bao giờ cũng có một yếu tố im ắng và cô đơn trong cảm giác bình yên, có phải không nhỉ? Khó lòng tưởng tượng mình có thể thấy bình yên trong một ga tàu điện ngầm đông đúc, có đúng không nào? Vậy thì những nhộn nhạo này là cái gì đây?
Chỉ một cái liếc nhìn tôi đã phát hiện ra rằng biển cả là một thành phố. Ngay phía dưới tôi, khắp xung quanh, tôi bất ngờ nhận ra những đường cao tốc, đại lộ, phố xá và bùng binh chật ních xe cộ ngầm dưới nước. Trong nước, chúng thật dầy đặc, trong như thủy tinh và lấm chấm hàng triệu triệu những li ti rêu tảo, những loài cá như các làn xe tải, xe buýt, xe con, xe đạp và người đi bộ đang chạy như điên, rõ ràng là đang bóp còi inh ỏi và gọi nhau í ới. Màu chủ đạo là xanh lá cây. Dưới các tầng nước sâu khác nhau, nơi mắt tôi có thể dõi đến, tôi thấy những vệt óng ánh của những bong bóng xanh lá cây có dạ quang mà các con cá bơi rất nhanh để lại đàng sau. Vệt này phai đi lập tức vệt khác xuất hiện. Chúng hiện ra theo đủ các hướng và biến đi theo đủ các hướng. Chúng giống như các bức ảnh chụp để mở ống kính thật lâu của các thành phố ban đêm, với những vệt đỏ kéo dài do đèn hậu của những chiếc xe hơi tạp ra trên phim. Chỉ khác là ở đây các làn xe phóng đi chồng chéo lên nhau nhu 7thể đọc được các mạng lưới đường vượt cao lên hàng chục tầng nhà. Và ở đây xe cộ có những màu sắc điên rồ nhất. Những con cá dorado - có tới hơn 50 con đang tuần tiễu ngay bên dưới bè - khoe ra màu vàng ròng sáng rỡ, màu xanh lục và xanh lam khi chúng lượn qua lượn lại. Những con cá khác mà tôi không thể nhận diện thì đủ cả vàng, nâu, bạc, xanh lơ, đỏ, hồng, xanh lá cây, trắng, kết hợp đủ kiểu, đơn sắc, sọc, vằn, chấm. Chỉ có bọn cá mập là nhất định không chịu có màu sắc gì hết. Nhưng cho dù xe cộ màu gì và cỡ nào đi nữa thì tất cả chúng đều có chung một đặc tính là phóng như điên. Có nhiều vụ đụng xe - tất cả đều có tử vong, phải nói thế - và một số xe bị hất tung ra khỏi luồng, đâm lung tung và nhào vọt lên khỏi mặt nước để rồi lại rơi xuống trong một chùm bọt sáng lòa. Tôi ngây người ngắm nhìn cảnh đô thị hỗn độn đó như quan sát một thành phố từ trên khinh khí cầu. Đó thật là một cảnh tượng kì vĩ, choáng ngợp. Chắc chắn là Tokyo cũng có quang cảnh tương tự vào giờ cao điểm.
Tôi nhìn mãi cho tới khi các ngọn đèn lần lượt tắt đi trong thành phố đó.
Từ tàu Tsimtsum, tôi chỉ nhìn thấy những con cá heo. Tôi đã đồ rằng Thái Bình Dương, ngoài những đàn cá kéo nhau từng lỹ đi qua, chỉ là một vùng nước thưa thốt sự sống và phí phạm. Từ bấy đến nay, tôi đã vỡ ra rằng tàu thủy chở hàng đi quá nhanh so với cá. Khả năng nhìn thấy sự sống dưới biển từ trên tàu thủy cũng chỉ như khả năng nhìn thấy các con thú hoang trong rừng từ trên một chiếc xe chạy ngoài xa lộ. Cá heo, là loài bơi rất nhanh, chơi đùa quanh tàu thuyền cũng như chó hay chạy đuổi theo xe: chúng chạy theo cho đến khi không thể theo kịp nữa. Nếu muốn nhìn thấy các con vật hoang dã, phải đi bộ, rón rén, và có ý thức thám hiểm khu rừng đó. Ngoài biển cả cũng vậy. Ta phải thả bộ qua Thái Bình Dương với những bước chân từ tốn, là nói vậy, thì mới có thể thấy được kho báu vô biên trong lòng nó.
Tôi nằm nghiêng. Lần đầu tiên sau 5 ngày, tôi cảm thấy một chút thanh thản. Một tia hy vọng - mà tôi đã xứng đáng có được sau bao công sức - sáng lên trong lòng tôi. Tôi ngủ thiếp đi.
Chương 60
Tôi thức dậy một lần trong đêm đó. Tôi gạt cái dù che sang một bên và nhìn ra ngoài. Vầng trăng lưỡi liềm có đường viền thật sắc nét và bầu trời trong vắt hoàn hảo. Những vì sao tỏa sáng thật mãnh liệt mà cũng rất kiềm chế, đến nỗi thật vô lý nếu gọi đó là đêm tối. Biển nằm yên, tắm trong thứ ánh sáng e ấp và lấp lánh, một màn khiêu vũ của màu đen và màu sáng bạc trải dài vô tận khắp xung quanh tôi. Cái gì cũng như có khối sâu và dày - khối không trung bên trên tôi, khối nước xung quanh và bên dưới tôi. Tôi vừa cảm động vừa sợ hãi. Tôi cảm thấy mình giống như nhà hiền triết Markandeya, từ trong miệng thần Vishnu ngã ra ngoài khi thần đang ngủ và nhìn thấy toàn thể vũ trụ, tất thảy mọi thứ trong vũ trụ. Trước khi nhà hiền triết có thể chết vì sợ hãi, thần Vishnu tỉnh dậy và lại quẳng ông bỏ vào miệng mình. Lần đầu tiên tôi nhận thấy - và sẽ còn nhận thấy điều đó nhiều lần trong suốt cơn hoạn nạn của mình, giữa những cơn đau đớn và tuyệt vọng - rằng khổ nạn của tôi đang xảy ra trong một cảnh trí thật sự lớn lao. Tôi nhìn nhận khổ nạn của mình đúng như bản chất của nó, hữu hạn và chẳng có nghĩa lý gì, đến nay vẫn vậy. Và tôi có thể chấp nhận điều này. Chẳng sao cả. (Chỉ có ban ngày là tôi phản đối: ''Không! Không! Không! Khổ nạn của tôi có nghĩa lí của nó. Tôi muốn sống! Tôi không thể không hoà trộn cuộc sống của tôi với cuộc sống của vũ trụ. Cuộc sống là một cái lỗ nhìn trộm, một lối duy nhất và bé xíu để đi vào cõi vô cùng - làm sao tôi lại không thể tận hưởng thêm một chút cảnh tượng của muôn vật có thể thấy được qua cái lỗ ấy? Tôi chỉ có cái lỗ bé tí ấy thôi mà!''). Tôi lúng búng những lời cầu nguyện của đạo Hồi và nằm xuống ngủ tiếp.
Chương 61
Sáng hôm sau, tôi không đến nỗi ướt lắm và cảm thấy khỏe khoắn. Tôi nghĩ điều đó rất đáng nói, nếu xét đến những khó khăn lo lắng mà tôi đang phải chịu đựng lúc bấy giờ, cũng như việc tôi đã ăn rất ít trong nhiều ngày liền.
Hôm ấy trời đẹp. Tôi quyết định thử câu cá, lần đầu tiên trong đời. Sau bữa điểm tâm ba cái bánh qui và một hộp nước, tôi đọc những gì viết về chủđề này trong cuốn cẩm nang sống còn. Vấn đề đầu tiên: mồi câu. Tôi suy tính chuyện đó. Có thịt chết, nhưng lấy trộm đồ ăn ngay dưới mũi hổ thì tôi không dám. Nó không thể hiểu được rằng đó là một khoản đầu tư sẽ đem lại cho nó những món lãi tuyệt hảo. Tôi quyết định dùng da giày. Tôi chỉ còn một chiếc. Chiếc kia đã tuột mất khi tàu đắm.
Tôi bò lên xuồng và lấy từ thùng đồ lên một bộ đồ câu, con dao, và một cái xô để đựng cá câu được. Richard Parker đang nằm nghiêng một bên. Đuôi nó nhảy dựng lên khi tôi leo lên mũi xuồng nhưng đầu nó không động đậy. Tôi thả bè ra xa.
Tôi buộc lưỡi vào dây câu qua một đoạn thép dẫn mồi. Thêm mấy hòn chì. Tôi chọn 3 hòn có hình giống như thủy lôi. Rồi cởi giày và cắt nó thành từng mẩu nhỏ. Không phải dễ, vì da giày rất dai và cứng. Tôi cẩn thận luồn lưỡi câu và một mẩu da dẹt, không đâm xuyên qua mà cố gài nó vào trong sao cho đầu nhọn lưỡi câu không lộ ra ngoài. Tôi buông dây xuống thật sâu. Tối hôm trước tôi đã nhìn thấy biết bao nhiêu là cá và nghĩ rằng sẽ rất dễ cắn câu.
Thế mà chẳng được con nào. Cả chiếc giày biến dần từng mẩu một. Dây cứ thấy động hết cái này đến cái khác, cá cứ thi nhau ăn mà không mắc câu, tôi cứ liên tục thay mồi, cho đến lúc chỉ còn có cái đế và dây giày. Khi thấy đoạn dây giày không hấp dẫn như một con giun làm mồi câu, tôi sốt ruột quá, liền móc vào lưỡi cả cái đế giày tướng. Thật là một ý tưởng không hay. Tôi thấy dây câu bị kéo nhẹ một cái, rồi căng ra rất hồi hộp, sau đột nhiên nhẹ bỗng. Tôi kéo lên, chỉ còn có dây mà thôi. Tôi đã mất cả chì lẫn chài.
Mất mát đó không làm tôi nản lòng nhiều lắm. Trong bộ đồ câu vẫn còn nhiều lưỡi thép dẫn mồi và các hòn chì khác, và ngoài ra còn có cả một bộ đồ câu khác còn nguyên. Mà thật ra tôi câu cá đâu có phải cho mình ăn. Tôi có rất nhiều đồ ăn dự trữ mà.
Mặc dù vậy, một phần của trí khôn tôi, cái phần thường nói ra những điều ta không muốn nghe, la lối rầm rĩ, ''Ngu ngốc thì phải trả giá. Lần sau thì người nên thận trọng và thông minh hơn.''
Gần hết buổi sáng hôm đó thì con rùa thứ hai xuất hiện. Nó bơi thẳng đến bè. Nếu muốn, nó đã có thể đâm lên và cắn vào đít tôi. Khi nó quay người bơi đi, tôi với xuống định tóm lấy hai chân sau của nó, nhưng vừa chạm vào nó tôi đã rụt ngay tay lại vì sợ. Con rùa bơi đi mất.
Vẫn cái phần trí khôn đã la lối tôi trong vụ câu cá thất bại kia lúc này lại lên tiếng. ''Ngươi định nuôi cái con hổ kia bằng gì, nói rõ ra xem nào? Ngươi nghĩ nó sẽ sống được bao lâu với xác mấy con vật kia? Ta có thể nhắc người là hổ không phải là loài ăn thịt chết? Công nhận rằng lúc đói gần chết thì nó cũng sẽ bịt mũi nhắm mắt mà ăn. Nhưng ngươi có nghĩ rằng trước khi phải chén con ngựa vằn đã thối rữa ra kia, nó sẽ cố ăn thịt thằng cu ấn Độ vẫn còn tươi sống nguyên lành và chỉ cách nó vài sải bơi ngắn mà thôi không? Rồi còn tình hình nước uống thì sao? Ngươi biết là hổ không chịu được khát kéo dài. Ngươi có để ý mùi hôi từ mồm miệng nó phả ra không? Dấu hiệu xấu đấy. Chẳng nhẽ ngươi hy vọng nó sẽ uống cạn Thái Bình Dương để thỏa cơn khát và do vậy cho phép ngươi cứ thế đi bộ đến châu Mỹ hay sao? Phải công nhận khả năng uống nước biển đáng kinh ngạc của bầy hổ vùng Sundarbans. Có thể là vì chúng sống nhiều đời rồi trong các khu rừng chàm ngập mặn. Nhưng khả năng đó cũng chỉ có hạn mà thôi. Người ta đã chẳng viết rằng hổ phải uống nhiều nước muối quá sẽ thèm thịt người hay sao? Chao ôi, hãy nhìn kìa. Nhắc đến quỉ thì quỉ xuất hiện. Nó kia kìa. Nó đang ngáp kìa. Kinh chưa, cả một cái hang khổng lồ. Hãy nhìn những cái răng dài như nhũ đá kia của nó. Biết đâu hôm nay ngươi sẽ có dịp vào đó chơi.''
Lưỡi của Richard Parker, to và có màu sắc như một cái túi cao su đựng nước nóng để chườm, lè ra rồi thụt vào sau khi nó ngáp. Nó nuốt khan.
Suốt ngày hôm ấy tôi lo lắng đến phát ốm. Tôi không dám đến gần chiếc xuồng. Nhưng khác với những nỗi lo lắng của tôi, Richard Parker yên ắng cả ngày hôm đó. Nó vẫn còn chỗ nước mưa và có vẻ chưa lo gì đến chuyện đói. Nhưng nó cũng đánh động theo nhiều cách - gầm, gừ, gằn giọng, rên rẩm theo kiểu hổ - nghĩa là không hề muốn làm cho tôi yên lòng. Câu đố có vẻ như không có lời giải: muốn câu thì tôi phải có mồi, mà muốn có mồi thì tôi phải câu được cá đã. Làm sao bây giờ? Lấy ngón chân ra làm mồi chăng? Hay cắt bớt một tai?
Một giải pháp tự nó xuất hiện cuối buổi chiều hôm đó một cách bất ngờ. Tôi đã kéo dây bè và lần vào cạnh xuồng. hơn nữa: tôi đã trèo hẳn lên xuồng và đang lục lọi cái tủ xem có tìm thấy ý tưởng gì có thể cứu được mình không. Tôi đã buộc bè cách xuồng chừng gần hai thước. Tôi tưởng tưởng rằng nếu Richard Parker giở trò gì thì mình sẽ có thể thoát thân chỉ bằng một cú nhảy và một cú giật tháo cái nút hờ của dây buộc bè. Tôi đã dám liều như thế chỉ vì chẳng còn cách nào khác.
Không tìm thấy gì, không mồi, không một ý tưởng nào mới, tôi ngồi dậy và lập tức thấy mình đang ở giữa tâm điểm của cái nhìn soi mói của nó. Nó ở đầu kia của xuồng, chỗ trước đây con ngựa vằn nằm chết, quay về phía tôi, có vẻ như đã kiên nhẫn đợi để tôi để ý đến nó. Làm sao tôi lại không nghe thấy những chuyển động của nó? Làm sao tôi lại có thể tự huyễn hoặc mình rằng tôi có thể đánh lừa được nó? Bất thình lình, tôi bị tát thẳng vào mặt. Tôi rú lên và nhắm nghiền mắt lại. Với tốc độ của loài mèo nó đã vừa nhảyvọt lên qua chiều dọc của xuồng và tát tôi. Mặt tôi sắp bị cào nát, đầu tôi sẽ rụng theo, chết như vậy thật hãi hùng. Đau đớn quá nên tôi lại không cảm thấy gì. Bị choáng cũng may. Và may mắn thay cái khả năng tự điều chỉnh đã cứu ta không phải chịu sự đau đớn và buồn khổ quá lớn. Trung tâm điểm của sự sống là một cái ổ cầu chì. Tôi rên rỉ, ''Làm tới đi, Richard Parker, kết thúc tao đi. Nhưng hãy làm ơn làm cho nhanh. Cầu chì đã đứt rồi, đừng thử nó thêm nữa.''
Nó chẳng vội gì. Nó ở ngay chân tôi, gầm gừ ầm ĩ. Chắc chắn nó đã phát hiện ra cái tủ và những của báu ở trong đó. Tôi kinh hoàng mở mắt.
Đó là một con cá. Có một con cá ở trong tủ. Nó đang quẫy ầm ĩ như bất kì một con cá nào khác khi mắc cạn. Nó dài khoảng hơn 30 phân và nó có cánh. Một con cá bay. Nó thon thả và có màu xanh xám đậm, với cặp cánh khô ráo không có lông, và cặp mắt tròn màu vàng không hề chớp.Chính con cá bay này đã đập vào mặt tôi, không phải Richard Parker. Con hổ vẫn ở cách tôi gần 5 thước, rõ ràng là nó đang ngạc nhiên không biết tôi đang bận chuyện gì đây. Nhưng nó đã nhìn thấy con cá. Tôi có thể đọc được vẻ tò mò sâu sắc trên mặt nó. Có vẻ nó sắp sửa muốn điều tra việc này.
Tôi cúi xuống nhặt con cá và ném về phía nó. Đó là cách dạy nó phải thuần phục. Hết chuột thì sẽ có cá bay. Chẳng may, con cá bay đi thật. Trên không trung, ngay trước mõm Richard Parker, con cá lượn vù lên và nhào xuống nước, nhanh như chớp. Richard Parker quay đầu theo và đớp một cái, những lớp da dưới cổ nó rung lên, nhưng con cá quá nhanh. Nó có vẻ rất ngạc nhiên và khó chịu. Nó lại quay về phía tôi. ''Miếng ăn của tôi đâu?'', vẻ mặt nó có vẻ hỏi thế. Tôi vừa sợ vừa buồn. Rồi tôi quay người lại với hy vọng mong manh là có thể nhảy vội xuống bè trước khi nó nhào đến tôi.
Đúng lúc đó, không khí bỗng rung lên và chúng tôi bị cả một bầy cá bay tấn công. Chúng nhào tới như một bầy châu chấu hung dữ. Không những là do chúng đông, mà rõ ràng có cái gì đó rất giống với côn trùng trong những âm thanh cành cạch và vù vù của chúng. Chúng từ dưới nước phóng vụt lên, hàng chục con một lần, có những con vỗ cánh phành phạch trên không và bay đượic đến hàng trăm thước. Nhiều con nhào xuống nước ngay cạnh xuồng. Nhiều con khác bay vù qua. Một số đâm nhào vào mạn xuồng, nghe như tiếng pháo tép nổ. Nhiều con may mắn vùng quẫy trên mui bạt và quẫy được xuống biển. Các con khác, ít may mắn hơn, rơi thẳng xuống lòng xuồng, quẫy ầm ĩ. Và còn nhiều con cứ thể đâm thẳng vào chúng tôi. Đứng trơ trọi không có gì che chắn, tôi cảm thấy mình như đang trải qua cảnh tử vì đạo của thánh Sebastian (1). Mỗi con cá đâm và tôi như một mũi tên xuyên vào da thịt. Tôi ôm chặt lấy một cái chăn để tự vệ, đồng thời cố bắt lấy vài con cá. Người tôi đầy những vết bầm tím và sứt sẹo.
Lí do cuộc tấn công ấy lập tức lộ rõ: bọn cá bay đang bị bầy cá dorados rượt đuổi sát sạt. Bọn dorados to lớn hơn, không thể nhào lượn như cá bay, nhưng chúng bơi nhanh hơn nhiều và các cú vọt lên nhào xuống bất thần của chúng rất lợi hại. Chúng có thể chộp được bọn cá bay nếu cả hai cùng từ một điểm vọt lên không và cùng rơi xuống nước theo một hướng. Và là cá mập nên bọn dorados có khả năng vọt lên khỏi mặt nước rất mãnh liệt, mặc dù không bén giọt trơn tru như cá bay. Trận chiến trên mặt nước đó diễn ra không lâu, nhưng khi đang tiếp diễn, mặt biển sôi lên sùng sục, cá nhảy loạn xạ và đớp nhau phầm phập.
Richard Parker đối mặt với bọn cá cứng cỏi và có hiệu quả hơn tôi. Nó rướn người, chạy quanh, ngăn chặn, với bắt và đớp cắn tất cả những con cá nào nhào về phía nó. Nó nuốt tươi nhiều con, những cặp cánh cá còn quẫy ngay trong miệng. Một màn trình diễn sức mạnh và tốc độ thật đẹp mắt. Thực ra, không phải chỉ có tốc độ của nó, mà ấn tượng mạnh mẽ hơn là ở dáng vẻ tự tin thuần túy súc vật của nó, sự cuốn hút hoàn toàn của nó và giây phút hành động. Sự hòa trộn của tập trung và thả lỏng, cái tinh thần tự tại cao đến thế, quả đáng là niềm ghen tị của những tín đồ Yoga cao đạo nhất.
Khi trận chiến đó qua đi thì kết quả là, ngoài một thân thể đau nhừ đối với tôi, có 6 con cá bay nằm lại trong tủ và rất nhiều con khác dưới sàn xuồng. Tôi vội bọc một con cá vào cái chăn, vớ lấy một cái rìu và trở lại bè.
Tôi tiếp tục rất thận trọng. Việc để mất cả bộ đồ câu sáng hôm ấy đã có tác dụng làm cho tôi tỉnh táo hơn. Tôi không thể cho phép mình phạm sai lầm lần nữa. Tôi cẩn thận giở con cá ra, luôn giữ chặt nó xuống bằng một tay, bởi tôi thừa biết nó sẽ tìm cách nhảy thoát thân. Càng nhìn thấy con cá, tôi cáng cảm thấy khó chịu và sợ hãi. Cái đầu nó đã ló ra hết. Trong tư thế tôi giữ nó, con cá trông như một miếng kem cá bẩn thỉu trên một cái bỏ côn bằng chăn len. Nó đang ngáp ngáp tìm nước, miệng và mang phồng lên xẹp xuống. Có thể cảm thấy cặp cánh nó đang đẩy mạnh vào tay tôi. Tôi lật úp cái xô và đè đầu con cá xuống đáy xô. Tôi cầm lấy cái rìu và nhấc rìu lên.
Tôi bắt đầu hạ rìu nhiều lần, mà không thể kết thúc được nhát chặt. Tình trạng tâm lý mềm yếu ấy có vẻ vô lý nếu xét đến những gì tôi đã chứng kiến trong những ngày vừa qua, nhưng đó là hành vi của những kẻ khác, của bọn thú vật ăn thịt lẫn nhau. Có thể coi là tôi có một phần trách nhiệm trong cái chết của con chuột, nhưng tôi chỉ ném nó đi, chứ Richard Parker mới là kẻ giết chết nó. Cả một đời chay tịnh bình yên đang ngăn không cho tôi dám chặt đầu một con cá.
Tôi lấy chăn phủ lên cái đầu cá và xoay cái rìu ngược lại. Một lần nữa tôi vung tay. Nhưng tôi không thể chịu nỗi ý nghĩ mình đang lấy búa đập xuống một cái đầu mềm mại còn đang sống.
Tôi bỏ rìu xuống, quyết định sẽ bẻ cổ con cá mà không nhìn nó. Tôi cuốn nó chặt vào trong chăn rồi dùng cả hai tay bắt đầu bẻ cong nó. Càng bẻ, con cá càng gĩay khỏe. Tưởng tượng cảnh chính mình bị quấn vào chăn và có ai cố bẻ gãy mình như thế, tôi phát hoảng. Tôi dừng lại nhiều lần. Nhưng tôi vẫn biết rằng phải làm xong việc này, và càng lâu thì con cá càng phải chịu đau đớn nhiều hơn.
Nước mắt ròng ròng, tôi cố mãi cho tới lúc nghe thấy một tiếng rắc và không còn thấy động cựa gì trong tay mình nữa. Tôi giở chăn ra. Con cá bay đã chết. Nó bị bẻ gẫy rời, đẫm máu ở một bên mang.
Tôi khóc lóc đắng cay cho linh hồn của con vật nhỏ đáng thương. Đó là sinh linh đầu tiên đã bị tôi giết chết. Từ nay tôi đã thành kẻ sát sinh. Từ nay tôi đã mắc tội như Cain (2). Tôi 16 tuổi, một thằng bé vô hại, sách vở và tín ngưỡng, và giờ thì tay tôi đã vấy máu. Đó thật sự là một gánh nặng phải mang theo cho đến hết đời. Sinh linh nào cũng thiêng liêng cả. Tôi không bao giờ quên con cá đó trong những lời cầu nguyện của mình.
Sau đó thì dễ dàng hơn. Nó đã chết rồi. Con cá bay bấy giờ chỉ còn như những con cá tôi đã thấy ngoài chợ ở Pondicherry. Nó thành một cái gì khác rồi, một cái gì đó bên ngoài quá trình sáng tạo của thế giới. Tôi dùng rìu chặt nó thành từng miếng nhỏ rồi bỏ cả vào trong xô.
Những giờ còn lại của ngày hôm đó, tôi lại thử câu cả. Lúc đầu cũng chẳng may mắn gì hơn buổi sáng. Nhưng có vẻ như sẽ dễ có kết quả hơn. Cá đớp động dây câu vẻ hăng hái hơn. Rõ ràng là chúng thích. Tôi nhận ra rằng đó là những con cá nhỏ, quá nhỏ đối với lưỡi câu. Tôi quăng dây ra xa hơn và thả cho chìm xuống sâu hơn, ra ngoài phạm vi của bọn cá nhỏ lăng quăng sát cạnh bè và xuồng.
Chỉ đến khi tôi dùng cả cái đầu con cá bay làm mồi, quăng dây ra xa rồi nhanh chóng kéo về, khiến cho cái đầu lướt nẩy trên mặt nước, tôi mới có được cú cắn câu đầu tiên. Một con dorado nhào lên và lăn xả vào cái đầu cá. Tôi thả chùng dây một chút để đảm bảo cho con cá nuốt chửng được mồi, rồi lập tức giật mạnh. Con dorado vọt hẳn lên khỏi mặt nước như một viên đạn, kéo cái dây mạnh đến nỗi tôi tưởng mình sẽ bị kéo ngã xuống biển. Cái dây câu rất chắc. Nó sẽ không đứt. Tôi bắt đầu kéo con dorado vào bè. Nó chống cự với tất cả sức mạnh của nó, nhảy lên, nhào xuống, quẫy mạnh bên này bên kia. Dây câu cứa vào tay tôi. Tôi phải lót tay bằng cái chăn. Tim tôi đập thình thịch. Con cá khỏe như một con bò đực. Không biết tôi có đủ sức kéo nó vào không.
Tôi để ý thấy tất cả những con cá khác xung quanh bè và xuồng đã biến mất. Rõ ràng là chúng đã biết tình trạng tuyệt vọng của con cá mắc câu. Tôi vội vã. Tình trạng này sẽ lôi kéo cá mập đến mất. Nhưng con cá chiến đấu hăng như quỉ. Hai cánh tay tôi đau nhừ. Mỗi lần tôi lôi được nó vào gần bè, nó lại vùng vẫy điên cuồng đến mức tôi đành phải nới dây ra một chút.
Cuối cùng thì tôi cũng kéo được nó lên. Con cá dài đến gần một thước. Cái xô thành vô dụng. Nó sẽ chỉ vừa bằng cái mỹ đội đầu cho con cá. Tôi giữ con cá xuống bằng cách quỷ lên nó và dùng cả hai tay. Một khối nguyên những cơ bắp đang quẫy, đập thình thịch lên bè, cái đuôi thò dài ra ngoài, bên dưới tôi. Tôi cưỡi lên nó như một cao-bồi cưỡi lên một con ngựa bất kham đang lồng lộn. Tâm trạng tôi thật đắc thắng và hoang dã. Một con dorado là một con cá lớn, hoành tráng, chắc nạc và thon thả, với một cái trán gồ biểu lộ một cá tính mạnh mẽ, một cái vây lưng rất dài và ngạo nghễ như cái mào của một con gà trống, và một bộ vẩy mượt mà sáng trưng. Tôi cảm thấy như đang giáng cho số phận một đòn chí tử vì đã khuất phục được một đối thủ đẹp đẽ đến vậy. Với con cá này, tôi đã trả đũa lại biển cả, gió bão, nạn đắm tàu, trả đũa lại tất cả những nghịch cảnh mà tôi đã phải chịu. Tôi hét lên, ''Hỡi thần Vishnu, con xin tạ ơn Người! Xưa kia người đã cứu thế giới bằng cách hiện hình thành cá. Nay thì Người đã cứu con cũng bằng cách hiện hình thành cá. Xin tạ ơn Người!''
Giết nó không khó. Nếu không phải lấy cái lưỡi câu ra thì tôi sẽ dành việc ấy cho Richard Parker, là kẻ có quyền và sẽ ăn sống nuốt tươi ngay con cá. Câu được con dorado khiến cho tôi hỉ hả vô cùng, hơn cả như câu được một con hổ. Tôi tự tay giết nó. Tôi cầm rìu bằng cả hai tay và hêt sức liên tiếp bổ đầu búa xuống con cá. Tôi vẫn không dám dùng lưỡi sắc của rìu. Con dorado làm một việc khác thường khi nó chết: nó bắt đầu phát ra liên tiếp đủ các ánh sáng màu sắc khác nhau. Xanh da trời, xanh lá cây, đỏ, vàng lửa, và tím, thi nhau lấp lánh như đèn neon trên tấm thân đang giẫy dụa của nó. Tôi tưởng như mình đang đập chết một dải cầu vồng. Sau này tôi mới biết loài dorado nổi tiếng vì cái chết sặc sỡ rỡ ràng của chúng. Cuối cùng, nó nằm im và không còn màu gì nữa, tôi gỡ được cái lưỡi câu. Thậm chí tôi còn gỡ lại được một phần mồi.
Có thể kinh ngạc một điều là chỉ trong một thời gian ngắn ngủi đến thế, tôi đã đi từ chỗ khóc lóc vì cái chết âm thầm của một con cá bay đến chỗ hăng hái đập chết một con dorado. Có thể biện hộ rằng tôi đã thấy e ngại và không nỡ giết một con cá bay chỉ vì trốn chạy mà lầm đường rơi vào tay tôi, còn con dorado lớn lao kia thì tôi đã phải cớ sức để bắt nó và sự phấn khích của chiến công ấy đã khiến tôi hăng máu, tự tin ở việc giết chết nó. Nhưng thực tế mà nói thì lí do không phải như vậy. Mà đơn giản và tàn khốc hơn nhiều: người ta có thể quen với bất kỳ việc gì, kể cả giết chóc.
Với lòng tự hào của một kẻ đi săn, tôi kéo cái bè vào gần xuồng. Tôi cho bè áp vào mạn xuồng, cúi người thật thấp rồi vung tay ném con dorado vào trong xuồng. Nó rơi xuống với một tiếng thịch thật nặng, và tôi nghe thấy Richard Parker phát ra một âm thanh bật gió đầy ngạc nhiên. Sau một vài tiếng hít hà, tôi nghe rõ tiếng miệng hổ ngoạm nhai nhoàm nhoạp. Tôi đẩy bè ra, không quên thổi lên nhiều hồi còi để Richard Parker biết rằng ai đã cho nó thức ăn tươi sống đó. Tôi dừng lại nhặt một ít bánh qui và một hộp nước uống. Năm con cá bay rơi vào trong tủ đã chết cả. Tôi vặt hết cánh của chúng vứt đi, rồi quấn cả vào cái chăn này đã thành thiêng liêng vì mạng cá.
Khi tôi đã rửa sạch các vết máu trên người, lau chùi bộ đồ câu, thu xếp gọn ghẽ mọi thứ và ăn xong bữa tối thì đêm đã buông xuống. Một màn mây mỏng che khuất các vì sao và vầng trăng. Trời rất tối. Tôi thấm mệt, nhưng vẫn còn phấn khích vì những sự kiện của những giờ trước đó. Cảm giác bận rộn khiến tôi thấy vô cùng sảng khoái. Tôi đã không nghĩ một tí gì đến tình trạng hoặc bản thân mình. Câu cá quả là cách dùng thời gian hay hơn kể chuyện hoặc chơi trò Gián điệp rất nhiều. Tôi quyết định sẽ lại câu cá ngay khi rạng ngày sáng hôm sau.
Tôi ngủ thiếp đi, đầu óc còn sáng rỡ những lấp lánh sặc sỡ của con dorado đang đi vào cõi chết.
=========
(1) : Người La Mã truyền giảng đạo Cơ đốc, bị chính quyền bắt và giết năm 287 TCN, sau được Giáo hội Cơ đốc phong thánh. Sebastian bị trói đứng vào cọc, trần trụi, và bị lính dùng cung nỏ bắn tên vào người cho đến chết.
(2): Nhân vật trong Kinh Thánh Cơ đốc, là kẻ sát nhân đầu tiên trong lịch sử nhân loại, đã giết chính anh trai của mình.
Chương 62
Đêm đó tôi ngủ chập chờn. Sắp sáng thì tôi không cố ngủ nữa mà chống tay nằm lên. Và cặp mắt nhỏ nhoi của tôi nhìn thấy một con hổ. RICHARD PARKER đang không yên. Nó rên rỉ, gầm gào và đi quanh quẩn vòng quanh xuồng. Lạ thật. Tôi thử đánh giá tình hình. Nó không thể đói được. Chí ít cũng không đến nỗi quá đói mà trở thành nguy hiểm. Nó khát chăng? Lưỡi nó thè lè thật, nhưng chỉ chốc lát thôi, và nó không hề hổn hển. Bụng và chân nó vẫn ướt, tuy không sũng nước như trước. Có thể là nước mưa đọng trg xuồng đã cạn bớt. Chẳng mấy chốc nó sẽ khát.
Tôi nhìn lên trời. Màn mây mỏng đã tan đi. Trời trong vắt, chỉ có vài vẩn mây nhỏ phía chân trời. Sẽ là một ngày nóng bức không mưa nữa đây. Biển chuyển mình một cách lừơi nhác, như thể đã thấy mệt vì cái nóng sắp đến.
Tôi ngồi dựa cột buồm và suy nghĩ về vấn đề của chúng tôi. Bánh qui và bộ đồ câu sẽ đảm bảo phần cứng của khẩu phần hằng ngày của chúng tôi. Phần nước mới là cái lo. Nước thì đầy rẫy quanh chúng tôi, nhưng lại không uống được vì có muối. Tôi có thể trộn một ít nước biển vào nước uống của nó, nhưng đầu tiên là phải kiếm được phần nước uống ấy đã. Các hộp nước không thể đủ cho cả hai chúng tôi về lâu dài - thực sự là tôi không hề muốn chia thứ nước này cho Richard Parker – còn trông chờ vào nước mưa không thôi thì thật ngốc.
Chỉ còn có những cái máy cất nước bằng nắng kia mà thôi. Tôi nghi ngờ liếc nhìn chúng. Chúng đã ở dưới nắng được hai ngày rồi. Tôi thấy một cái đã có vẻ xịt hơi. Tôi kéo dây buộc nó vào và thổi phồng cái chóp nón trở lại. Không mong chờ gì, tôi thò tay xuống nước xem cái túi chứa bên dưới hộp phao nó ra sao. Những ngón tay tôi sờ thấy một cái túi căng tròn một cách bất ngờ. Tôi run hết cả người, trấn tĩnh lại, nhỡ chỉ là nước biển đã lọt vào đó thì sao. Tôi gỡ cái túi ra, rồi theo đúng chỉ dẫn, hạ thấp nó xuống và nghiêng cái máy cất để bất kỳ chút nứơc nào còn đọng quanh đáy chóp sẽ chảy hết vào túi. Tôi đóng hai cái nắp nhỏ, tháo hẳn cái túi ra và kéo nó lên. Nó hình khối vuông, làm bằng nhựa dẻo dày, mềm và có màu vàng, với những vạch đo độ in ở một bên sườn. Tôi nếm thứ nước chứa trong túi. Tôi nếm lại lần nữa. Không hề mặn chút nào.
“Con bò sữa biển ngọt ngào của ta ơi!” Tôi thốt lên với cái máy cất nước. “Mày đã ra sữa rồi, và mới ngon làm sao! Vẫn hơi có mùi cao su, nhưng tao không phàn nàn đâu. Đây này, hãy xem tao uống đây này!”
Tôi uống hết túi nước. Nó có dung tích một lít và đã chứa gần đầy. Sau một phút thở dài nhắm mắt tận hưởng sung sướng, tôi đắp lại cái túi. Tôi kiểm tra các máy cất khác. Cái nào cũng có một cái túi nặng tương tự. tôi thu được hơn tám lít nước ngọt, phải nói là như sữa tươi, và chứa cả vào cái xô cá. Lập tức, những cái bẫy kỹ thuật đó trở thành quý giá với tôi như bầy gia súc đối với một trại chủ. Quả thật, dập dền dưới lười nhác trên mặt nước thế kia, chúng cũng giống như một đàn bò đang gặm cỏ trên cánh đồng. Tôi chăm chút vào chúng, đảm bảo để cái nào cũng đầy nước biển và chóp nón với hộp phao nào cũng được thổi căng vừa phải.
Sau khi thêm một ít nước biển vào xô, tôi đặt nó lên mặt ghế bên mạn xuồng ngay sát mép bạt. không khí mát mẻ của buổi sáng đã hết, Richard Parker có vẻ đã yên vị ở phía dưới. Tôi buộc cái xô vào chỗ đó bằng dây dù và dùng thêm các móc của tấm bạt ở phía sườn xuồng. Cẩn thận, tôi ngó trộm qua mạn xuồng. Nó đang nằm nghiêng. Hang ổ của nó là một cảnh tượng bẩn thỉu. Các con thú chết chất thành một đống các bộ phận cơ thể thối tha rất lạ mắt. Tôi nhận ra một vài cẳng chân, nhiều mảnh da, mảnh đầu, rất nhiều xương. Cánh các con cá bay rải rác khắp nơi.
Tôi cắt một con cá bay và ném một khúc lên trên mặt ghế. Sau khi đã thu thấp đủ những htứ cần thiết từ trong tủ đủ cho ngày hôm đó và sắp quay về bè, tôi ném thêm một khúc cá lên trên mui bạt ngay trước mũi Richard Parker. Nó có tác dụng như ý muốn. Khi bè đang trôi xa khỏi xuồng, tôi thấy nó ra khỏi chỗ nấp để lượm khúc cá. Nó quay đầu và thấy khúc cá kia cùng với món đồ lạ ngay cạnh. Nó đứng dậy, nghiêng cái đầu khổng lồ vào xô nước. Tôi cứ sợ nó làm đổ cả cái xô. Nhưng không. Mặt nó biến hẳn vào trong xô, gần khít khịt, và nó bắt đầu uống. Chỉ một nhoáng, cái xô bắt đầu lắc và kêu lạch cạch mỗi khi nó liếm xoàm xoạp vào đáy xô. Khi nó ngẩng đầu lên, tôi nhìn chằm chằm một cách dữ tợn vào mắt nó và thổi một hồi còi. Nó biến mất bên dưới tấm bạt.
Tôi nẩy ra ý nghĩ rằng cứ mỗi ngày qua đi, cái xuống lại càng giống một vườn thú hơn. Richard Parker đã có khu vực nằm nghỉ và ngủ nghê của nó, rồi chỗ chứa thức ăn, chỗ nhìn ngó ra bên ngoài, và bây giờ thì cả một chỗ để uống nước.
Nhiệt độ mỗi lúc một cao. Nóng đến ngột ngạt. Suốt ngày hôm đó, tôi ngồi dưới dù che và câu cá. Có vẻ là tôi đã hết cái may mắn của người mới đi câu với con dorado đầu tiên ấy. Cả ngày hôm đó tôi chẳng câu được gì, kể cả buổi chiều tà, khi nước biển có vẻ đầy rẫy sự sống bên dưới. Một con rùa xuất hiện, lần này là loài khác, một con rùa biển xanh lá cây, cồng kền hơn và nhẵn nhụi hơn, nhưng cũng tò mò như con rùa mỏ diều lần trước. Tôi không phản ứng gì với nó, nhưng bắt đầu nghĩ mình phải làm gì đó với bọn rùa này.
Cái duy nhất có thể gọi là tốt đẹp của một ngày nóng nực như vậy là cảnh tượng dãy phao cất nước. Chóp nón nào cũng đầy những giọt và vệt nước đọng ngoằn ngoèo bên trong.
Cuối ngày hôm đó, tôi tính ra là sáng hôm sau sẽ là trọn một tuần kể từ hôm Tsimtsum chìm xuống đáy đại dương.
Chương 63
Gia đình Robertson sống sót được tám mươi tám ngày trên biển cả. Thuyền trưởng Blight của con tầu Bounty nổi tiếng đã bị thuỷ thủ nổi loạn và ông cùng những ng cộng sự của ông bị ném ra khỏi tàu đã sống được bốn mưới bảy ngày. Steven Callaban sống được bảy mươi sáu ngày. Owen Chase, mà câu chuyện của ông về tầu đánh cá voi Essex đã bị một con cá voi đánh chìm ra sao đã là nguồn cảm hứng của Herman Melville, đã sống sót được tám mươi ba ngày trên biển cả cùng với hai thuỷ thủ, trong đó có một tuần lễ trên một hòn đảo thủ địch. Gia đình Bailey sống được một trăm mười tám ngày. Tôi nghe một thuỷ thủ thương gia Triều Tiên tên là Poon gì đó đã sống sót trên Thái Bình Dương trong một trăm bảy mươi ba ngày vào những năm 1950.
Tôi đã sống sót trên biển qua hai trăm hai mươi bảy ngày ngày. Thử thách của tôi kéo dài như vậy đấy, hơn bảy tháng trời.
Tôi giữ cho mình luôn bận rộn. Đó là chìa khóa để sống còn. Trên một chiếc xuồng, thậm chí một cái bè, lúc nào cũng có những việc cần phải làm. Một ngày điển hình của tôi, nếu khái niệm đó có thể áp dụng cho một kẻ đắm tàu, đại khái diễn ra như sau:
Từ lúc mặt trời mọc cho đến giữa buổi sáng:
* thức dậy
* cầu nguyện
* cho Richard Parker ăn sáng
* kiểm tra chung tình trạng của bè và xuồng, đặc biệt chú ý đến tất cả các nút và dây buộc
* chăm chút các máy nước (lau chùi, thổi căng, đổ nước)
* ăn sáng và kiểm tra kho đồ ăn
* câu cá và làm cá nếu cá cắn câu (mổ, rửa, phơi các dẻo thịt lên dây để phơi nắng cho chín)
Từ giữa trưa đến chiều muộn
* cầu nguyện
* ăn nhẹ bữa trưa
* nghỉ ngơi và làm những việc nhẹ nhàng (viết nhật ký, xem xét các vết sây sát trên người, sửa sang các vật dụng, thu xếp tủ chứa cho gọn gàng, quan sát và nghiên cứu Richard Parker, vân vân)
Từ cuối chiều đến tối
* cầu nguyện
* câu cá và làm cá
* chăm sóc các dẻo thịt phơi (lật mặt, cắt bỏ các chỗ ươn)
* chuẩn bị bữa ăn tối
* ăn tối cùng với Richard Parker
Mặt trời lặn
* kiểm tra tình trạng chung của bè và xuồng (dây và các nút buộc)
* thu trữ nước ngọt từ các máy cất
* cất giấu tất cả thức ăn và vật dụng
* sửa soạn cho ban đêm (soạn chỗ nằm, cất pháo sáng và nơi an toàn trên bè đễ nhỡ có gặp tầu đi qua, và cái hứng nước mưa để nhỡ có mưa ban đêm)
* cầu nguyện
Đêm
* ngủ từng giấc ngắn
* cầu nguyện
Các buổi sáng thường dễ chịu hơn lúc chiều muộn, khi sự trống rỗng của thời gian có chiều hướng hiện ra trong lòng rõ rệt hơn.
Bất kỳ sự kiện gì cũng có ảnh hưởng đến nếp sống thường ngày đó. Trời mưa, bất cứ lúc nào, cũng dừng mọi việc khác đang làm, và trong lúc mưa, tôi giữ cái hứng nước, hăng hái tập trung vào việc thu giữ nước hứng được. Có con rùa xuất hiện cũng là một ngắt quãng lớn. và tất nhiên, Richard Parker là một náo động thường xuyên. Điều gì làm cho nó yên được là tôi ưu tiên không dám lơi là một phút nào. Nó chẳng có một nếp công việc gì ngoài ăn, uống và ngủ, nhưng cũng có những lúc nó bị khuấy đảo khỏi tình trạng ù lì và lồng lộn quanh lãnh thổ của mình, đánh động, trở nên khó hiểu. May sao, lần nào như vậy, có cũng nhanh chóng bị nắng và nước biển bao là làm cho mệt mỏi và chỉ biết quay vào trong vui bạt, lại nằm nghiêng hoặc ẹp bụng xuống sàn xuồng, đầu dựa lên hai chân trước bắt chéo nhau.
Nhưng tôi không chỉ để ý đến nó vì cần thiết. tôi qua hàng nhiểu giờ liền chỉ để quan sát nó vì đó cũng là một việc thu hút sự chú ý của tôi. Một con hổ lúc nào cũng là một con thú đầy thú vị, và càng như thế khi ta chỉ có nó là bạn đồng hành.
Lúc đầu, tôi luôn có ý thức nhìn quanh và trông chờ một con tầu xuất hiện, gần như là không nhịn được. Nhưng sau một vài tuần, năm sáu tuần gì đó, tôi hầu như hoàn toàn không có ý thức ấy nữa.
Và tôi đã sống sót bởi vì tôi đã quyết định phải lãng quên. Câu chuyện của tôi bắt đầu vào một ngày có trong lịch – ngày hai tháng 7 năm 1977 – và kết thúc và một ngày cũng có trong lịch – ngày 14 tháng hai năm 1978 – nhưng khoảng thời gian giữa hai ngày đó thì không có lịch nào cả. Tôi không đếm ngày, đếm tuần, đếm tháng. Thời gian là một ảo giác chỉ làm cho ta phải thở dốc. Tôi đã sống vì tôi đã quên ý thức về thời gian.
Những gì tôi nhớ được là các sự kiện và các cuộc gặp gỡ, cùng các nếp quen thuộc hàng ngày, những dấu mốc tự chúng xuất hiện đây kia từ đại dương thời gian và in hằn vào ký ức tôi. Ví dụ như mùi của cái vỏ pháo sáng đã phóng lên từ tay tôi, những lời cầu nguyện khi rạng ngày, việc giết rùa, và các đặc tính sinh học của các loài tảo. Và nhiều cái khác nữa. Nhưng tôi không biết có thể kể lại chúng theo trình tự hay không. Kí ức tôi trở lại thành mớ hỗn độn.
Chương 64
Quần áo tôi rữa nát, nạn nhân của nắng và muối. Lúc đầu, chúng cứ mỏng dần. Rồi chúng rách tơi ra cho đến lúc chỉ còn lại những đường chỉ. Cuối cùng, cả những đường chỉ đó cũng bục đi. Nhiều tháng trời, tôi sống trần như nhộng, chỉ có cái còi lủng lẳng trên cổ bằng một sợi dây.
Bỏng rộp vì nước muối – những vết rộp khó chịu, đỏ loét và chẳng ra hình thù gì – là chứng bệnh cùi của biển khơi, do bị ngâm và sụng nước lâu ngày. Khi các vết rộp ấy vỡ, da tôi trở nên đặc biệt nhạy cảm. Nhỡ chạm phải một vết loét ấy là tôi phát khóc và nghẹt cả thở vì đau. Tất nhiên, các vết rộp này rộ lên tại những chỗ mà cơ thể tôi hay bị ướt nhất khi ở trên bè, tức là ở hai bên sườn. Biết bao ngày tôi đã không thể tìm được tư thế nào để nằm nghỉ được dễ chịu. Thời gian và ánh nắng làm lành được một vết rộp, nhưng rất lâu, và nếu tôi không giữ được khô người thì các vết rộp mới lại xuất hiện.
Chương 65
Tôi bỏ hàng nhiều giờ liền để cố hiểu hết ý nghĩa các dòng viết về kỹ thuật đi biển trong cuốn cẩm nang. Có rất nhiều các giải thích rõ ràng và dễ hiểu về việc làm sao sống được trên mặt biển, nhưng các tác giả đã giả định rằng người đọc đều đã có những kiến thức cơ bản về hàng hải. Họ cho rằng nạn nhân đắm tầu đều là những thuỷ thủ có kinh nghiệm với com-pa, bản đồ và máy ngắm trong tay, và đều biết phải tìm đường tránh nạn ra sao. Kết quả là những lời khuyên như: “Hãy nhớ rằng thời gian là khoảng cách, đừng quên lên giây đồng hồ,” hoặc “Có thể dùng ngón tay để đo vĩ độ khi cần thiết.” Tôi không có cái đồng hồ, nhưng bấy giờ nó đã nằm dưới đáy sâu Thái Bình Dương. Tôi đã mất nó khi chìm tầu Tsimtsum. Còn với kinh vĩ độ, thì ôi thôi, kiến thức hải dương của tôi chỉ bó hẹp ở những gì sống trong nước biển và không mở rộng được sang những gì chạy đi chạy lại trênmặt biển. Gió và dòng chảy là một bí hiểm đối với tôi. Các vì sao không có nghĩa lý gì với tôi. Tôi không thể gọi tên được một chòm sao nào hết. Gia đình tôi đã sống với chỉ một ngôi sao: mặt trời. Chúng tôi ngủ sớm và dậy sớm theo mặt trời. Trong đời tôi đã từng ngắm nhìn những đêm sao đẹp đẽ khi thiên nhiên vẽ nên những bức tranh vĩ đại nhất chỉ với hai mầu và những phong cách giản dị nhất, và tôi cũng cảm được sự diệu kỳ, nhỏ bé mà tất cả chúng ta đều cảm thấy, và cũng nhận ra cảm giác rõ rệt về hướng đi của cuộc đời từ khung cảnh hùng vĩ đó, hầu như rất rõ rệt, nhưng là nói với nghĩa tâm linh mà thôi, chứ không phải với nghĩa địa lý. Tôi không có một chút ý niệm gì về việc có thể dùng bầu trời sao ấy làm một bảnđồ chỉ đường. Làm sao những ngôi sao ấy, cho dù sáng đến đâu, lại có thể giúp tôi tìm đường cho mình nếu chúng cũng chuyển dịch không ngừng?
Tôi từ bỏ ý định tìm hiểu vấn đề đó. Có biết thêm được gì nữa thì cũng là vô bổ. Tôi chẳng có phương tiện gì để chủ động được hướng đi cho mình – không chân vịt, không cột buồm, không động cơ, chỉ vài mái chèo nhưng không đủ sức điều khiển. Vạch ra một hướng đi chỉ là vô nghĩa nếu tôi không thể làm gì để thi hành việc đó? Ngay cả khi có thể làm được thế, làm sao tôi biết mình nên về đâu? Sang phía Đông, đến Mỹ? Lên Bắc, đến Châu á? Xuống phía Nam, nơi có các luồng tầu? Lựa chọn nào cũng tốt xấu ngang nhau.
Thế nên tôi trôi dạt. Gió và dòng chảy quyết định nơi tôi sẽ đến. Thời gian trở thành khoảng cách đối với tôi cũng như mọi vật có sinh tử khác ở đời – và tôi dùng ngón tay mình làm các việc khác chứ không cố đo vĩ độ với chúng. Sau nay, tôi tìm ra rằng tôi đã du hành dọc một con đường nhỏ hẹp, đó là dòng hải lưu ngược xích đạo của Thái Bình Dương.
Chương 66
Tôi câu với các loại lưỡi khác nhau, ở các độ sâu khác nhau và nhằm vào các loại cá khác nhau, từ lối câu cá dưới đáy biển với các lưỡi rất to cùng nhiều hòn chì nặng thả dây thật sâu đến những lưỡi nhỏ hơn với chỉ một hai hòn chì để nhử cá ăn nổi trên mặt nước. Lâu lắm mới có cá cắn câu, khiến cho lần nào được cá tôi cũng rất mừng, nhưng kết quả có vẻ không tương xứng tí nào với nỗ lực đã bỏ ra của tôi. Chờ cá cắn câu quá lâu, cá câu được quá nhỏ, và Richard Parker luôn luôn bị đói.
Cuối cùng thì tôi thấy cái lao móc câu lại là vũ khí bắt cá rất lợi hại. Mỗi cây lao gồm có ba phần được vặn vào với nhau: hai đoạn gậy tròn tạo thành phần cán lao - một đoạn có tay nắm bằng nhựa ở một đầu và có vòng để nối cây lao vào dây bảo hiểm – và một phần nữa có một cái lưỡi móc câu có đường kính phần uốn cong rộng đến năm phân và một mũi nhọn sắc bén như kiểu dây thép gai. Lắp hết lên, một cái lao dài khoảng một thước rưỡi, cầm thấy nhẹ và chắc như một thanh gươm.
Lúc đầu tôi thường thọc lao xuống sâu độ hơn một thước, có khi móc cả một con cá vào mũi lao làm mồi, và ngồi đợi. Thường phải đợi lâu hàng giờ, thân thể tôi căng thẳng đến đau nhừ. Khi thấy một con cá đã bơi vào đúng chỗ, tôi lấy hết sức lực rút thật nhạnh cái lao lên. Đó là quyết định phải thi hành lập tức chỉ trong một phần giây đồng hồ. Kinh nghiệm dạy tôi rằng chỉ nên rút dao khi tôi thực sự cảm thấy có cơ hội bắt đựơc cá, không nên rút một cách hú họa, vì cá cũng rút kinh nghiệm rất nhanh, và không bao giờ rơi vào cùng một cái bẫy đến lần thứ hai.
Khi may mắn, lưỡi lao sẽ móc chắc vào con cá và tôi có thể bình tĩnh đem nó lên bè. Nhưng nếu tôi móc một con cá lớn vào đúng chỗ phần bụng hoặc đuôi, nó sẽ vặn người tuột khỏi lao và vọt đi mất với một tốc độ bất ngờ. Bị thương như vậy, con cá dễ dàng trở thành mồi ngon cho các con cá khác, một món quà mà tôi không hề muốn tặng cho chúng. Vì vậy mà khi thấy cá to, tôi luôn cố nhằm vào phần bên dưới mang và vây sườn của nó, vì phản ứng bản năng của cá khi bị tấn công là bơi lên trên để tránh lưỡi câu, theo đúng hướng, tôi sẽ rút lao. Có những lần, mũi lao chỉ gãi chứ không móc đựơc vào người con cá và chúng cứ thế lao thẳng lên khỏi mặt nước, nhào vào tận mặt tôi. Tôi nhanh chóng mất cảm giác sợ hại khi chạm vào các con vật dưới biển. Không còn những xúc độngn như lần giết con cá bay trong chăn nữa. Một con có nhảy khỏi mặt nước bây giờ sẽ phải đương đầu với một thằng bé đói khát đang sẵn sàng làm tất cả mọi thứ để bắt nó. Nếu cảm thấy lưỡi dao móc vào cá còn có vẻ lỏng lẻo, tôi thường buông lao – vì đã buộc nó vào dây bảo hiểm – và dùng cả hai tay bắt lấy con cá.
Ngón tay, mặc dù cùn, vẫn nhanh nhẹn và khéo léo hơn một cái móc rất nhiều. Cuộc chiến đấu sẽ rất dữ dội và nhanh chóng. Những concá thì trơn tuột và tuyệt vọng, còn tôi thì chỉ tuyệt vọng mà thôi. Ước sao tôi có thật nhiều tay như nữ thần Durga - hai tay giữ lao, bốn tay bắt cá và hai tay sử dụng rìu. Tôi phải thu xếp mọi việc với hai tay mà thôi. Tôi thọc ngón tay vào mắt, thọc cả bàn tay vào mang, dùng đầu gối ấn nát bụng, dùng răng cắn đuôi - làm đủ mọi thứ cần thiết để giữ một con cá trên bè cho đến lúc có thể với được rìu và chặt đầu nó.
Với thời gian và kinh nghiệm, tôi đã thành một thợ săn giỏi hơn. Tôi mạnh bạo hơn và lanh lẹ hơn. Tôi đã phát triển được một bản năng, một cảm giác rõ rệt về việc phải làm.
Tôi thành công lớn hơn khi bắt đầu dùng đến một phần của cái lưới đựng hàng. Với tư cách một cái lưới bắt cá thì nó hoàn toàn vô dụng - quá cứng, quá nặng, và mắt lưới dệt không đủ mau. Nhưng nó là một cái nhử cá hoàn hảo. Buông thả và uốn lượn tự do dưới nước, nó là một hấp dẫn không cưỡng lại được đối với các con cá, và càng hấp dẫn hơn khi rong biển bắt đầu mọc bám vào nó. Những con cá kiếm ăn gần bắt đầu quanh quẩn coi cái lưới như hàng xóm của mình, còn bọn ăn xa, trước chỉ hay đáo qua rất nhanh như bọn dorado, nay cũng phải lượn lờ chậm lại để xem xét cái khu phố mới mở ấy. Bọn sở tại cũng như bọn khách ghé qua có biết đâu rằng mắt lười có gài lưỡi câu. Có những ngày, chẳng may quá ít, tôi cứ rút lao lên cái nào là có cá cái ấy. Những lúc đó tôi săn được thật thừa thãi; trên xuồng không còn đủ chỗ mà dây căng trên bè cũng chật ních những rẻo thịt dorado, cá bay, cá ngừ, chim, nụ... chứ đừng nói gì đến cái bụng no kễnh của tôi. Tôitrữ tất cả những gì cần cho mình, còn lại thì cho Richard Parker. Trong những ngày no đủ ấy, tôi bắt được nhiều cá đến nỗi thân thể bắt đầu lấp lánh đầy những vẩy cá bám chặt vào da thịt. Tôi cứ để nguyên những chấm sáng ngời ánh bạc ấy trên người như một tín đồ Hinđu mang trên trán biểu tượng thần linh. Nếu có thủy thủ nào gặp tôi trên biển lúc đó, chắc hẳn họ phải nghĩ tôi là một vị thần cá đang đứng trên vương quốc của mình. Đó thật là những ngày tốt đẹp hiếm hoi.
Rùa quả thật dễ bắt, đúng như viết trong cẩm nang. Trong chương về ''săn bắt và hái lượm'', rùa được nói đến trong phần ''hái lượm''. Mặc dù chúng chắc nịch như xe tăng, rùa không phải là loài bơi nhanh và khỏe: chỉ cần một tay tóm lấy một cái chân sau là có thể bắt được chúng. Nhưng cuốn cẩm nang quên không nói rằng tóm được rùa chưa chắc đã bắt được nó. Còn phải mang nó lên khỏi mặt nước nữa. Mà kéo một con rùa nặng hàng 70 cân đang quẫy đạp lên được xuồng không phải dễ. Việc đó cần có sức khỏe phi thường. Tôi đã phải làm như sau: lôi con rùa vào sát mạn xuồng, lấy dây buộc cổ, chân trước và cả chân sau, rồi kéo nó lên cho đến khi tay muốn gẫy rời ra và mắt nổ đom đóm. Phải ghì dây thật chắc vào các cái móc của mui bạt phía bên kia mũi xuồng, rồi mỗi khi sợi dây chùng ra một tí là phải kéo thêm lên rồi ghì lại ngay, từng phân một. Con rùa sẽ được kéo lên khỏi mặt nước cũng từng phân một như thế. Không thể sốt ruột được. Tôi còn nhớ một con rùa biển màu xanh lá cây đã bị treo bên cạnh xuồng như vậy trong hai ngày, và nó liên tục quẫy đạp như điên cuồng. May sao, vào lúc cuối thì rùa lại thường giúp tôi một tay mà không biết. Tức là khi nó đã bị kéo lên đến mép xuồng, rùa càng điên cuồng muốn thoát thân và nó cố rụt 4 chân bị trói vào thật mạnh, đúng lúc ấy, tôi cũng ra sức kéo dây thật mạnh, và hai lực ngược chiều như vậy bỗng hất con rùa bật lên qua mép xuồng và rơi trượt vào tấm bạt. Tôi sẽ ngã người ra sau, kiệt sức nhưng thật hỉ hả.
Rùa biển xanh lá cây cho nhiều thịt hơn rùa mỏ diều, và mai phía bụng của chúng cũng mỏng hơn. Nhưng chúng thường to hơn rùa mỏ diều, trong nhiều trường hợp là quá to đối với một kẻ đắm tàu đang ngày càng yếu đi như tôi.
Lạy Chúa, cứ nghĩ rằng tôi vốn là một kẻ ăn chay kiêng khem rất kỹ. Cứ nghĩ lại hồi trước chỉ cần nghe tiếng bẻ một quả chuối là tôi đã rùng mình vì tưởng tượng như tiếng một con vật bị bẻ gẫy cổ. Tôi đã rơi vào tình trạng man rợ không thể tưởng tượng nổi mất rồi.
Chương 67
Đáy cái bè đã trở thành nơi trú ngụ của rất nhiều sinh vật biển, cũng giống như cái lưới, nhưng nhỏ hơn. Nó bắt đầu bằng một lớp tảo xanh rờn mềm mại bám vào các cái áo phao. Rồi đến các loại tảo cứng hơn và có màu sẫm hơn. Chúng sinh sôi nảy nở và ngày càng dày ra. Các sinh vật khác bắt đầu tới. Đầu tiên là những con tôm nhỏ xíu, trong suốt, dài chỉ độ một phân. Theo sau đó là những con cá cũng nhỏ như thế và trông như thể suốtđời bị chiếu X-quang: ruột gan chúng rõ mồn một dưới lần da thịt trong suốt. Sau đó, tôi để ý thấy những con giun màu đen có dây sống trắng ngần, bọn nhuyễn thể lầy nhầy màu xanh lá cây với đám chân tay chưa tiến hóa thành hình thù gì rõ rệt, những con cá màu sắc sặc sỡ chỉ dài độ hai ba phân với những cái bụng phệ, và cuối cùng là cua, chỉ bé độ một hai phân và có màu nâu. Tôi đã ăn thử tất cả bọn chúng, kể cả rong tảo, chỉ trừ lũ giun đen. Chỉ có bọn cua là không có những vị mặn đắng khó chịu ở trong miệng. Mỗi lần chúng đến, tôi lại ném vào miệng hết con này đến con khác như ăn kẹo, cho đến khi chúng kéo nhau đi chỗ khác. Tôi không thể kiềm chế được mình. Những đàn cua ngon lành ấy thỉnh thoảng mới kéo đến mà thôi.
Vỏ xuồng cũng trở nên đầy rẫy sự sống, dưới dạng những con hà cổ ngỗng. Tôi mút mát chúng. Thịt chúng làm mồi câu rất tốt.
Tôi trở nên gần gụi với những kẻ đi nhờ bè ngoài biển khơi của tôi, mặc dù chúng có làm cái bè nặng nề đôi chút. Chúng thu hút sự chú ý của tôi và làm tôi đỡ lo nghĩ, cũng như Richard Parker. Tôi để hàng giờ không làm gì hết, chỉ nằm nghiêng, đẩy một cái áo phao ra khỏi vị trí độ mươi phân, như thể mở một cái rèm cửa sổ, và nhìn qua đó xuống dưới nước. Những gì tôi thấy là cả một thị trấn lộn ngược, nhỏ bé, yên tĩnh và an bình, với những cư dân đi lại trong đó, lịch sự như thiên thần. Cảnh tượng ấy làm cho thần kinh mệt mỏi của tôi có được những giây phút thư giãn nghỉ ngơi.
Chương 68
Nếp ngủ của tôi thay đổi. Mặc dù nghỉ ngơi nhiều, tôi ít khi ngủ được liền một giờ, ngay cả ban đêm cũng vậy. Không phải bị sóng dập dềnh liên miên làm tôi khó ngủ, cũng không phải vì gió; người ta quen với những cái đó như quen với mấy chỗ lồi lõm trên đệm nằm của mình. Tôi cứ bị thức dậy như thế là vì sợ hãi và bồn chồn. Nghĩ lại tôi thấy quả thực mình đã ngủ rất ít.
Không như Richard Parker. Nó đã thành quán quân ngủ. Phần lớn thời gian nó nằm dưới tấm bạt. Nhưng trong những ngày dịu trời khi nắng không quá gắt và cả những đêm yên tĩnh, nó thường ra ngoài. Một trong những tư thế ưa thich khi ra ngoài trời của nó là nằm trên cái ghế đuôi xuồng, bụng chìa cả ra mép ghế, chân trước chân sau gác lên hai ghế bên. Một con hổ mà nằm được vào một chỗ chật hẹp như vậy là vì nó khôn khéo uốn lưng cho thật cong. Khi ngủ, nó gác đầu lên hai chân trước. Còn khi trong tâm trạng tương đối hưng phấn và có thể còn muốn nhìn quanh, nó gác hẳn đầu lên mép xuồng.
Một tư thế ưa thích nữa của nó là ngồi quay lưng lại phía tôi, nửa người dưới đặt trên sàn xuồng, nửa trên tì lên ghế, vùi mặt vào đuôi xuồng, hai chân trước ngay cạnh đầu, trông như thể chúng tôi đang chơi trốn tìm và nó là người đang nhắm mắt đếm. Trong tư thế này nó thường ngồi rất im lặng, chỉ thỉnh thoảng vẫy tai để chứng tỏ rằng nó không nhất thiết đang ngủ.
Chương 69
Có nhiều đêm tôi tin rằng mình đã nhìn thấy ánh sáng đèn ở đàng xa. Lần nào như vậy tôi cũng phóng một quả pháo sáng lên trời. Khi đã dùng hết loại pháp sáng thăng thiên, tôidùng đến loại cầm tay. Liệu có phải những con tàu đó đã không nhìn thấy tôi? Phải chăng đó chỉ là những phản chiếu của ánh sáng sao trên trời? Chỉ là ảo ảnh do hy vọng mỏng manh sinh ra từ những đốm trăng vỡ trên sóng nước? gì đi chăng nữa, lần àno cũng chẳng vân mòng gì. Chỉ có niềm cay đắng của hy vọng lóe lên rồi lại tắt ngấm đi ngay lập tức. Lâu dần, tôi từ bỏ hoàn toàn hy vọng được một con tàu cứu vớt. Nếuchân trời cách tôi hai dặm rưỡi nhìn từ tầm mắt cao một thước rưỡi, thì nó thực sự cách tôi bao xa khi tôi ngồi dựa cột bè, mắt chỉ cách nước biển chưa đầy một thước? Xác suất để một con tàu chạy qua Thái Bình Dương mênh mông này có thể cắt ngang qua một chấm nhỏ tí tẹo trôi dạt trên đại dương như tôi là bao nhiêu? Không những thế, xác suất của việc nó đi ngang rồi lại không nhìn thấy tôi là bao nhiêu? Không được rồi. Không thể trông mong gì vào nhân loại và những thói khôn lường của nhân loại. Tôi chỉ có thể trông chờ ở cơ hội dạt được vào đất, một mảnh đất chắc chắn, rõ ràng và thực thể.
Tôi còn nhớ mùi của những vỏ pháo sáng cầm tay. Không biết thành phần hóa học của nó ra sao mà mùi nó giống hết mùi một thứ hạt cay mà mẹ tôi hay dùng làm gia vị. Ngửi nó mà say. Tôi hít những ống nhựa ấy và lập tức thấy lại Pondicherry, một niềm an ủi kì diệu lúc không ai nghe thấy lời kêu cứu của mình. Cảm giác lúc đó thật mạnh mẽ, gần như tôi đang thấy rõ ràng mọi thứ trước mắt mình. Cả một thành phố hiện ra từ một mùi duy nhất. Còn bây giờ thì cứ ngửi thấy thứ hạt cay cay ấy là tôi lại nhìn thấy Thái Bình Dương.
Richard Parker luôn luôn cứng người lại khi một quả pháo sáng cầm tay rin rít loé lên. Cặp mắt nó, với những đồng tử tròn nheo lại chỉ bằng đầu kim, gắn chặt vào điểm sáng của quả pháo. Với tôi là quá sáng, một tâm điểm trắng đến mù mắt giữa một vầng hào quang đỏ hồng. Tôi phải quay đi chỗ khác. Tôi thẳng tay giữ chặt ống pháo và chậm chạp quay nó vòng quanh. Trong gần một phút đồng hồ, cánh tay tôi nóng rực và mọi vật sáng rỡ ràng rất lạ mắt. Mặt nước xung quanh bè, trước đấy đen ngòm trong bóng tối, lúc đó trở thành một vùng sáng chật ních những cá.
Chương 70
Giết rùa là một việc nặng nhọc. Con rùa đầu tiên của tôi là một con mỏ diều nhỏ. Cái mà tôi háo hức là máu nó, ''món đồ uống ngon, bổ và không có muối'', như hứa hẹn trong cuốn cẩm nang. Cái khát của tôi cũng háo hức chẳng kém. Tôi đã giữ được mai nó và đang cố giữ chặt một chân sau. Khi đã chắc tay, tôi lật ngửa nó ra dưới nước và định kéo nó lên bè. Con vật quẫy đạp dữ dội. Không thể trị nó ở trên bè được. Nếu không muốn thả nó đi thì phải làm sao kéo được nó lên xuồng. Tôi nhìn lên. Một ngày nóng bức và không một gợn mây. Richard Parker có vẻ chấp nhận cho tôi hiện diện ở mũi xuồng trong những ngày như thế này, khi không khí giống như ở bên trong một cái lò nướng và nó sẽ không ra khỏi tấm bạt che cho đến khi mặt trời lặn.
Một tay giữ chắc cái chân rùa, tôi dùng tay kia kéo bè về phía xuồng. Trèo lên xuồng không phải dễ. Khi đã trên xuồng, tôi kéo mạnh để hất con rùa lên không và cho nó rơi ngửa lên tấm bạt. Đúng như tôi hy vọng, Richard Parker chỉ gầm gừ một hai tiếng rồi thôi. Nó không hề có ý định làm bất cứ việc gì trong cái nóng như ngày hôm đó.
Quyết tâm của tôi nghiêm trọng và mù quáng. Tôi cảm thấy không thể để phí thời gian. Tôi mở cuốn cẩm nang như thể nó là một cuốn sách dạy nấu ăn. Sách nói trước hết phải lật ngửa con rùa. Việc đó đã xong. Rồi ''thọc lưỡi dao và cổ để cắt đứt các mạch máu chạy qua đó''. Tôi nhìn con rùa. làm gì có cổ. Nó đã rụt hết vào trong mai. Chỉ còn thấy hai con mắt với cái mỏ giữa những vòng da gấp nếp xung quanh. Nó nhìn tôi nghiêm khắc. Tôi cầm dao chọc chọc vào một cái chân trước xem nó có thò cổ ra không. Nó chỉ rụt sâu thêm vào trong mai. Tôi quyết định tiếp cận trực tiếp hơn. Tự tin như thể đã từng làm việc đó hàng nghìn lần, tôi ấn lưỡi dao vào ngay bên phải và phía dưới cái đầu con rùa, nghiêng đi một chút. Tôi thọc lưỡi dao thật sâu qua các nếp da rồi xoay đi xoay lại. Con rùa rụt đầu vào sâu nữa, nhất là phía bị đâm, rồi thình lình phóng hẳn đầu ra ngoài và dùng mỏ cắn tôi chí tử. Tôi nhảy lui. Nó thò cả 4 chân và bắt đầu cố thoát thân. Nó lắc lư rất mạnh trong tư thế bị nằm ngửa, tứ chi quẫy loạn xạ và đầu vươn ra tứ phía. Tôi vớ lấy cái rìu bổ mạnh xuống cổ nó. Máu đỏ vọt ra. Tôi với lấy cái bình đong và hứng được khoảng 300 mililít. Tôi đoán mình có thể còn hứng được nhiều hơn, có lẽ tới một lít, nhưng cái mỏ diều của nó sắc quá và hai chân trước vừa dài vừa khỏe, lại có cả móng nhọn. Chỗ máu tôi hứng được không thấy có mùi gì đặc biệt. Tôi nhấp thử. Nếu tôi nhớ đúng thì nó có vị âm ấm rất súc vật. Khó lòng nhớ được những ấn tượng ban đầu kiểu đó. Tôi đã uống cạn chỗ máu ấy.
Đã tưởng phải dùng rìuđể gỡ cái yếm bụng, nhưng rồi tôi thấy dùng cái cãnh có răng cưa của con dao dễ hơn. Tôi đè một chân lên giữa cái yếm, chân kia dạng ra hết cỡ để tránh không bị tứ chi nó cào phải. Phần da phía đầu thì dễ cắt, chỉ trừ những chỗ quanh 4 chân. Tuy nhiên, cưa phần vành đai, nơi mai với yếm gặp nhau thì rất mệt, đặc biệt vì con rùa vẫn không ngừng quẫy. Cưa đứt hết xung quanh nó thì tôi như tắm trong mồ hôi và cảm thấy kiệt sức. Tôi nhấc mãi cái yếm mới chịu rời lên, như thể miễn cưỡng, với một tiếng bụp ướt nhoét. Lục phủ ngũ tạng lộ ra, phập phà phập phồng - thịt, mỡ, máu, ruột gan, xương cốt. Mà con rùa vẫn quẫy. Tôi cắt vào cổ nó cho đấn tận xương sống. Chẳng ăn thua gì. Tứ chi nó tiếp tục đạp. Tôi chặt phăng đầu nó với hai nhát rìu. Tứ chi nó vẫn quẫy. Kinh khủng hơn nữa là cái đầu bị chặt rời ra vẫn tiếp tục ngáp lên ngáp xuống với hai cặp mắt hấp háy. Tôi gạt nó xuống biển. Cái phần vẫn cònsống kia của con rùa thì tôi cố nhấc cả lên và thả xuống chỗ Richard Parker. Con hổ đang đánh động và có vẻ như sắp ngồi dậy. Có thể nó đã ngửi thấy mùi máu rùa. Tôi bỏ chạy về bè.
Có thể nghe tiếng Richard Parker ăn và thưởng thức món rùa một cách ầm ĩ. Tôi buồn bã nhìn về phía nó. Tôi đã hoàn toàn kiệt sức. Chỗ máu uống được có vẻ chẳng bỏ bèn gì so với bao nhiêu công sức tôi đã bỏ ra để làm thịt con rùa.
Tôi bắt đầu suy nghĩ nghiêm chỉnh về chuyện sẽ phải thu xếp thế nào với Richard Parker. Tình trạng nó chỉ chịu để yên cho tôi lên xuồng trong những ngày nóng nực, nếu quả thật đó là lí do chứ không phải đơn thuần là vì nó lười nhác, không thể cứ kéo dài mãi được. Tôi không thể lúc nào cũng phải chạy trốn nó như thế. Tôi cần được tiếp cận an toàn cái tủ đồ và phần nóc mui bạt trên xuồng, bất kể lúc nào, bất kể thời tiết ra sao, bất kể tình trạng tâm lý của nó thế nào. Cái tôi cần là quyền hạn, thứ quyền hạn đi đôi với quyền hành.
Đãđến lúc phải ra tay chiếm lĩnh phần lãnh thổ của tôi ở trên xuồng.
Chương 71
Với những ai có thể sẽ rơi vào tình trạng khó xử của tôi lúc ấy, tôi xin được khuyến cáo một chương trình như sau:
1. Chọn một ngày sóng thấp nhưng đều đặn. Ta cần một mặt nước để trình diễn thật tốt khi xuồng có thể quay ngang đón sóng mà không bị lật.
2. Thả hết dây neo biển để trên xuồng ổn định và thoải mái nhất. Chuẩn bị nơi ẩn náu trên ngòai xuồng phòng khi cần đến (rất dễ có khả năng phải như vậy). Nếu có thể, hãy tao ra phương tiện gìđó để che chắn thân thể. Bất kì thứ gì cũng có thể dùng để che chắn được. Ví dụ như quấn chăn hoặc áo quần vào tay chân cũng là một dạng áo giáp tối thiểu.
3. Rồi đến phần khó làm: phải khiêu khích con vật. Nó sẽ có thể tấn công mình. Hổ, tê giác, đà điểu, gấu rừng, gấu nuôi – con gì thì con, vẫn phải khiêu khích được nó. Cách tốt nhất có lẽ là lân la ra mép lãnh thổ của chúng, rồi làm bộ xâm phạm vào vùng lãnh thổ trung lập một cách ầm ĩ. Tôi đã làm như vậy: tôi ra chỗ mép bạt rồi vừa dậm chân xuống xuồng vừa thổi còi nhè nhẹ. Điều quan trọng là tạo ra được một tiếng động nhất quán và dễ nhận ra để báo hiệu việc lấn chiếm của ta. Nhưng phải rất thận trọng. Cần phải khiêu khích con thú nhưng chỉ đến độ như vậy thôi, chứ đừng để nó khùng lên và tấn công ta ngay lập tức. Nếu xảy ra chuyện đó thì lạy Chúa tôi, ta sẽ bị xé rách thành từng mảnh, giẫm bẹp, lòi gan nát ruột, và chắc là sẽ bị ăn thịt. Ta không muốn thế. Ta muốn có một con thú bị đánh động, hoang mang, khó chịu, bứt rứt không yên nhưng không nổi máu giết người. Trong trường hợp nào cũng không được bứơc chân vào lãnh thổ của con thú. Cuộc xâm phạm của ta chỉ hạn chế ở động tác nhìn thẳng vào mắt nó và thổi còi đánh mõ mà thôi.
4. Khi con thú đã bị kích động, hãy làm sao để gây ra được một hành động xâm phạm biên giới. một cách hữu hiệu, theo kinh nghiệm của tôi, là từ từ lùi về trong khi liên tục gây tiếng động. Nhưng phải đảm bảo không rời mắt khỏi mắt con thú. Đến khi thấy nó đặt chân vào vùng lãnh thổ của ta, hoặc thậm chí chỉ tiến vào vùng giáp ranh trugn lập thôi, là tađãđạt được mục đích. Đừng so đo kiểu luật sư xem nó đãđặt chân vào đâu, có đúng là đã vào lãnh thổ của ta chưa, mà phải lập tức đối đầu ngay. Vấn đề ở đây là làm thế nào cho con thú hiểu rằng người hàng xóm trên gác của nó đặc biệt khó tính trong chuyện ai ở nhà người nấy.
5. Một khi con thú đã xâm phạm vào lãnh thổ của ta, hãy làm hết sức để tỏ rõ sự phẫn nộ của mình. Dù đã chạy khỏi xuồng hoặc còn đang trên phần lãnh thổ của ta trênxuồng, hãy lập tức thổi còn thật to và lập tức kéo các neo biển về. Hai hành động nàycực kỳ quan trọng. Phải tiến hành song song và ngay lập tức. Nếu có thể dùng cả phương tiện gì khác để điều khiển cho xuồng quay ngang với chiều sóng, ví dụ một mái chèo, htì hãy dùng ngay lập tức. Xuồng phải quay ngang càng nhanh càngtốt.
6. Với một kẻ đắm tàu kiệt sức, thổi còn liên tục là một việc rất mệt, nhưng ta không đựơc phép ngừng. con thú phải liên hệ được cảm giác say sóng khó chịu của nó với tiếng còi đinh tai nhức óc của ta. Ta có thể trợ giúp việc này bằng cách đứng ở mũi xuồng, hai chân trên hai mép xuồng và đạp qua đạp lại để xuồng bị lắt mạnhhơn nữa hteo chiều bị sóng tạt. Dù ta có nhỏ người đến đâu và xuồng có lớn đến mấy, tác dụng của việc đó thật đáng kinh ngạc. tôi đảm bảo rằng chẳng mấy chốc, chiếc xuồng sẽ lắc lư tròng trành như Elvis Presley vậy. Có điều phải thổi còn liên tục, và chớ làm quá để lật mất xuồng.
7. Ta phải làm việc đó liên tục cho tới khi con thú đã thực sự say sóng. Ta phải nghe được tiếng thở dốc và nuốt khan. Ta phải thấy nó nằm bẹp dưới sàn xuồng, chân tay run rẩy, mắt trợn ngược, mồm miệng há hốc và lẩy bẩy. Trong suốt những giây phút đó, ta phải làm ù tai con thú bằng tiếng còi lanh lảnh và chát chúa của ta. Nếu thấy mình cũng say sóng và buồn nôn, đừng phí phạm bãi nôn đó xuống biển. Đánh dấu lãnh thổ không gì tốt hơn một bãi nôn. Hãy nôn ra chỗ ranh giới của mình.
8. Lúc con thú đã thực sự mệt mỏi và thuần lành, ta có thể dừng. Say sóng nhanh nhưng lại lâu tỉnh. Ta không nên làm quá. Không ai chết vì buồn nôn, nhưng nó làm nhụt ý chí sống. Lúc thấy đủ rồi, ta lại thả dây neo biển ra. Nếu con thú nằm vật ngay dưới nắng, hãy kiếm cái gì che cho nó, và làm sao để khi nó tỉnh lại sẽ thấy có nước uống ngay cạnh. Tốt hơn nữa là khuấy tan vài viên thuốc chống nôn vào chỗ nước ấy, nếu có. Tình trạng mất nước trong hòan cảnh ấy có thể nguy hiểm đến tính mạng con thú. Còn không thì ta chỉ việc lẳng lặng rút lui về phần lãnh thổ của mình và để con thú nằm yên đó. Nước uống, nghỉ ngơi và thư giãn trên xuồng sẽ làm cho nó tỉnh táo trở lại. Nên để cho con thú hòan tòan hồi phục trước khi tiến hành các bước từ một đến tám như vừa nói.
9. Phải huấn luyện cho đến khi con thú đã thiết lập được mốt liên hệ khăng khít giữa tiếng còi và cảm giác buồn nôn chóng mặt mãnhliệt, và mối liên hệ ấy phải rõ ràng và dứt khóat. Từ đó về sau, chỉ cần tiếng còi là đủ giải quyết các vụ xâm phạm và mọi hành vi không mong muốn của con thú. Chỉ cần một hồi còi chát chúa, ta sẽ thấy con thú run lên sợ hãi và nhanh chóng lui vào nơi kín đáo an tòan nhất trong lãnh thổ của nó. Một khi đã qua được giai đọan huấn luyện này, việc dùng còi cần phải hạn chế và thận trọng.
Chương 72
Trong trường hợp của tôi, để tự vệ trong khi huấn luyện Richard Parker, tôi làm một cái khiên bằng mai rùa. Tôi cắt hai khấc hai bên và buộc một sơi dây quanh chỗ đó. Cái khiên hơi nặng, nhưng có người lính nào được lựa chọn vũ khí của mình?
Lần đầu tiên tôi thử làm những chuyện nói trên, Richard Parker nhe nanh, xoay hai tai một vòng, khạc ra một tiếng gầm gừ trong cổ họng và nhào vào tôi. Một bàn chân đầy móng vuốt giương ra của nó vung lên rồi tát vào cái khiên của tôi. Cú tát đó hất tôi văng ra khỏi xuồng. Tôi rơi xuống nước và lập tức thả cái khiêng ra. Nó chìm nghỉm sau khi đập bộp một cái vào ống đồng tôi. Tôi sợ hết hồn - sợ Richard Parker, lại sợ cả ở dưới nước. Tôi tưởng tượng một con cá mập đang lao vào tôi ngay lúc ấy. Tôi cuống cuồng bơi về bè, chân tay đập loạn xạ, đúng kiểu đánh động nước thường hấp dẫn cá mập. May sao không có con cá nào lúc ấy. Tôi đến bè, thả dây hết cỡ rồi ngồi bó gối, gục đầu, cố gắng dập tắt ngọn lửa hãi hùng vẫn đang cháy đùng đùng trong lòng. Rất lâu sau tôi mới thực sự hết run rẩy. Suốt ngày và đêm hôm đó tôi ở lì trên bè, không ăn uống gì.
Tôi chỉ tiếp tục khi đã bắt được một con rùa khác. Mai con này nhỏ và nhẹ hơn, làm khiên tốt hơn. Lại một lần nữa tôi tiến lên và dậm chân vào cái ghế ở giữa xuồng.
Không biết mọi người nghe câu chuyện này có hiểu cho tôi rằng hành vi đó của tôi không phải là vì tôi điên hoặc muốn tự tử, mà đơn thuần chỉ là vì cần thiết. Hoặc là tôi thuần phục nó, bắt nó phải thấy ai là Số Một, ai là Số Hai - hoặc là tôi sẽ chết vào một ngày xấu trời lúc tôi muốn leo lên xuồng và bị nó phản đối.
Nếu tôi đã sống qua được giai đoạn thực tập huấn luyện thú ngoài biển, đó là vì Richard Parker thực sự không muốn tấn công tôi. Hổ, cũng như các con thú khác, không thích dùng bạo hành để giải quyết các vấn đề. Khi thú vật đánh nhau, chúng đều có ý thức phải giết và hiểu rõ rằng nếu không thế thì mình sẽ bị giết. Mỗi trận đánh nhau như vậy đều phải trả giá đắt. Do vậy mà thú vật có cả một hệ thống các tín hiệu cảnh báo được đặt ra để tránh phải đánh nhau, và chúng nhanh chóng nhượng bộ, lùi bước nếu thấy có thể được. Rất ít khi một con hổ tấn công một con hổ khác mà không báo trước. thường thì nó sẽ xông vào đối thủ ngay với những tiếng gầm thét dữ dội. Nhưng ngay trước khi đã quá muộn, con hổ dừng lại, tiếng gầm dào đầy mãnh lực đe dọa của nó vẫn rung bần bật trong cổ. Nó đánh giá tình hình. Nếu thấy không có đe dọa gì, nó sẽ quayđi, cảm thấy chính kiến của mình đã được mọi người hiểu rõ.
Richard Parker làm như vậy đối với tôi cả thẩy bốn lần. Bốn lần, nó dùng chân phải tát tôi văng xuống biển, và bốn lần tôi mất khiên. Tôi bị hãi hùng trước khi, trong khi và sau khi bị tấn công như vậy, và tôi run lẩy bẩy rất lâu trên bè. cuối cùng, tôi học được cách đọc những tín hiệu mà nó muốn gửi đến tôi. Tôi nhận ra rằng với tai, mắt, râu, nanh, đuôi và cổ họng, nó đã nói một thứ ngôn ngữ đơn giản với những dấu ngắt rõ ràng để bảo cho tôi biết nó sẽ sắp làm gì. Tôi học đựơc cách thoái bộ trước khi nó giương vuốt.
Rồi tôi cũng khẳng định được chính kiến của mình, hai chân trên mạn xuồng lắc lư, ngôn ngữ một nốt của tôi lảnh lót trong tiếng còi, và Richard Parker rên rỉ, thở dốc dưới sàn xuồng.
Cái khiên thứ năm của tôi tồn tại đến cuối khoá huấn luyện đó.
Chương 73
Ước mong lớn nhất của tôi – ngoài việc được cứu – là có một cuốn sách. Một cuốn sách dài với câu chuyện không bao giờ kết thúc. Một cuốn sách tôi có thể đọc đi đọc lại, với những cách nhìn mới và những hiểu biết mới cho mỗi lần. Than ôi, trên xuồng chẳng có cuốn Kinh Thánh nào. Tôi là chàng Arjuna đơn độc trên chiếc chiến xa tơi tả mà không được những lời của thần Krishna an ủi. Lần đầu tiên tôi thấy một cuốn Kinh Thánh trong ngăn kéo chiếc bàn đầu giường của tôi tại một phòng khách sạn ở Canada, tôi đã bật khóc. Tôi gửi tiền đóng góp cho nhà xuất bản Gideons ngay hôm sau, kèm theo bức thư tha thiết đề nghị họ mở rộng phạm vi hoạt động tới tất cả những đâu có thể có những kẻ lữ hành mệt mỏi kiệt sức, chứ không phải chỉ đến các khách sạn, và rằng họ nên có cả các kinh của các tín ngưỡng khác nữa chứ không phải chỉ Kinh Thánh Cơ đốc. Tôi cho rằng đó là cách tốt nhất để rao giảng lòng tin. Không phải những đao to búa lớn từ trên bục giảng, không phải những lời lên án của giáo hội, không phải áp lực đồng đẳng, chỉ cần một cuốn sách thiêng lặng lẽ đợi ta để nói lời chào đón, nhẹ nhàng mà cũng mãnh liệt như nụ hôn của cô gái trên má ta.
Chẳng được thế thì có một cuốn tiểu thuyết cũng được! Những chỉ có mỗi cuốn cẩm nang sống sót. Chắc hẳn tôi đã đọc nó hàng nghìn hàng vạn lần trong suốt thời gian khổ nạn của tôi.
Tôi có viết nhật ký. Khó lòng đọc được nó. Tôi viết chữ nhỏ hết sức vì sợ sẽ hết giấy. Cũng chẳng có chuyện gì nhiều trong đó. Chỉ là một vài chữ vạch lên giấy mong ghi lại một thực tại đà làm tôi choáng ngợp. Tôi bắt đầu viết độ một tuần gìđó sau ngày đắm tàu. Trước đó thì tôi quá bận bịu về quá nhiều thứ khác nhau. Các đoạn nhật ký ấy không có đề ngày hoặc đánh số thứ tự. điều làm tôi ngạc nhiên khi nhìn lại là thời gian đã được ghi lại một cách lạ lùng. Nhiều ngày, nhiều tuần, tất cả chỉ tóm gọn vào một trang giấy. Tôi viết về những thứ mà ai cũng sẽ viết trong hoàn cảnh ấy: những việc xảy ra và cảm giác của tôi, những thứ tôi bắt được và không bắt được, biển cả và thời tiết, các vấn đề gặp phải và các giải pháp, rồi Richard Parker. Toàn những chuyện thực tế cả.
Chương 74
Tôi thực hành các nghi lễ tôn giáo mà tôi thích ứng được với hoàn cảnh của mình – những buổi lễ Mass(1) đơn độc không có cha đạo, những lễ darshan(2) không có thầy cả, những lễ pujas(3) có thịt rùa làm vật tế, những hành động kíinh lễ Allah mà không biết Mecca ở hướng nào và với những câu kinh tiếng ảrập sai bét của tôi. Chúng an ủi tôi, điều đó là chắc chắn. Nhưng cũng thật khó làm sao, ôi chao, thật cũng khó làm sao. Lòng tin vào Thượng đế là một hành động hỷ xả, thả lỏng, một niềm tin sâu xa, một cử chỉ yêu thương không phải trả giá – nhưng đôi khi ta thấy yêu được thật khó khăn biết bao. Đôi khi lòng tôi nặng trĩu giận hờn, tuyệt vọng và mệt mỏi, đến nỗi tưởng chừng như tôi sẽ chìm nghỉm xuống tận đáy Thái Bình Dương và không thể nào trỗi dậy được nữa.
Trong những giờ phút đó tôi đã cố tự nâng đỡ lấy mình. Tôi sẽ chạm tay vào vành khăn Hồi giáo tự quấn lấy bằng những mảnh áo quần còn sót lại và nói to, “Này là chiếc mũ của Thượng đế!”
Tôi sẽ vỗ tay vào chiếc quần của mình và nói ta, “Này là áo quần của Thượng đế!”
Tôi sẽ chỉ sang Richard Parker và nói to, “Này là con mèo của Thượng đế!”
Tôi sẽ chỉ vào chiếc xuồng và nói to, “Này là chíếc bè cứu nạn của Thượng đế!”
Tôi sẽ xòe hai bàn tay thật rộng ra biển và nói to, “Này là những giải đấy mênh mông của Thượng đế!”
Tôi sẽ chỉ lên trời và nói ta, “Này là lỗ nhĩ của Thượng đế!”
Và như thế, tôi sẽ nhắc mìmh nhớ đến công việc sáng tạo thế giới và chỗ đứng của tôi ở trong đó.
Nhưng cái mũ của Thượng đế lúc nào cũng chực tuột ra. áo quần của Thượng đế cứ rách nát dần. Con mèo của Thượng đế liôn là mối hiểm họa. Chiếc bè cứu nạng của Thượng đế là nhà tù. Dải đất mênh mông của Thượng đế đang giết dần giết mòn chính tôi. Và lỗ nhĩ của Thượng đế dường như không hề lắng nghe tôi.
Tuyệt vọng là màn tối đen dày đặc không cho ánh sáng lọt vào hoặc thoát ra. Đó là chốn địa ngục không có lời nào tả xiết. Tôi tạ ơn Thượng đế vì những cơn tuyệt vọng ấy bao giờ cũng qua đi. Một đàn cá xuất hiện quanh cái lưới hoặc một cái nút phải buộc lại. Hoặc nghĩ đến gia đình tôi, đến việc mọi người đã không phải chịu cảnh khổ nạn như tôi. Cái tối đen ấy sẽ rung động và cuối cùng tan đi, và Thượng đế cònđó, một điểm sáng ngời trong lòng tôi. Tôi sẽ sống.
Ghi chú:
(1) Lễ chịu mình thánh của đạo Cơ đốc, trong đó có cha đạo làm lễ rồi phân phát bánh thánh cho các con chiên để nhớ lại bữa ăn cúôi cùng của Jesus với các tông đồ. Trong bữa ăn đó, Jesus đã nói “Này là mình ta, hãy ăn đi; và này là huyết ta, hãy uống đi” (ND)
(2) Lễ cử hành trong các nhà nguyện Do Thái, trong đó các thầy cả giảng dạy những nội dung Affadah hoặc Halakhah trong kinh sách (ND)
(3) Nghi lễ thờ phụng một vị thần nào đó trong tín ngưỡng Hindu, thường có việc hiến tế con sinh (ND)
Chương 75
Cái ngày mà tôi ước chừng là sinh nhật mẹ, tôi hát Happy Birthday rất to để mừng mẹ.