Hacker Lược Sử

Lượt đọc: 429 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ai là ai - Các phù thủy và những cỗ máy

Bob Albrecht. Nhà sáng lập hãng People’s Computer Company, người lấy việc đưa máy tính đến với những người trẻ làm niềm vui.

Altair 8800. Chiếc máy tính tiên phong khiến các hacker phần cứng vô cùng phấn khích. Việc lắp ráp bộ linh kiện của chiếc máy giúp bạn có thể học hỏi về hack và cố gắng khám phá xem mình có thể làm gì với nó.

Apple II. Chiếc máy tính nhỏ gọn, đẹp mã và thân thiện của Steve Wozniak đã gặt hái được nhiều thành công rực rỡ và trở thành linh hồn của một nền công nghiệp phát đạt.

Atari 800. Chiếc máy tính gia đình này cung cấp khả năng đồ họa tuyệt vời cho các hacker trò chơi như John Harris, dù công ty sản xuất đã miễn cưỡng tiết lộ cho chúng ta biết cách thức hoạt động của nó.

Bob và Carolyn Box. Những người nắm kỷ lục thế giới về khai thác vàng đã chuyển nghề thành siêu sao phần mềm, làm việc cho Sierra On-Line.

Doug Carlston. Một luật sư doanh nghiệp, người đã bỏ lại tất cả để thành lập Công ty Phần mềm Brøderbund.

Bob Davis. Anh đã từ bỏ công việc ở quán rượu để trở thành tác giả ăn khách nhất của trò chơi trên máy tính Ulysses and the Golden Fleece (tạm dịch: Ulysses và mớ tóc vàng) do công ty Sierra On-Line phát hành. Để thành công, anh đã phải trải qua vô vàn thất bại.

Peter Deutsch. Tuy chơi thể thao khá tệ nhưng Peter lại vô cùng giỏi toán, anh vẫn còn là một thằng nhọc vắt mũi chưa sạch khi tiếp xúc với cỗ máy TX-0 tại MIT— và đã cùng hack máy với các bậc thầy khác.

Steve Dompier. Thành viên của Câu lạc bộ Máy tính Homebrew, người đầu tiên có thể khiến chiếc Altair chơi nhạc, sau đó anh đã viết trò chơi Target (tạm dịch: Mục tiêu) trên máy Sol, thứ đã mê hoặc Tom Snyder.

John Draper. “Đội trưởng Răng rắc” nổi tiếng, người luôn kiên trì khám phá các hệ thống điện thoại, vào tù ra tội rồi lại hack máy tính. Anh rất ghét thuốc lá.

Mark Duchaineau. Bậc thầy của trò chơi Dungeon trẻ tuổi, chuyên gia chống sao chép đĩa của On-Line.

Chris Espinosa. Cậu học trò 14 tuổi của Steve Wozniak và là một trong những nhân viên đầu tiên của Apple.

Lee Felsenstein. Cựu “biên tập viên quân đội” của tờ Berkeley Barb 1 và là nhân vật chính trong một cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng. Anh là người thiết kế những chiếc máy tính theo kiểu đồng nát và là nhân vật quan trọng trong hoạt động hack phần cứng tại Vùng Vịnh 2 hồi thập niên 1970.

1 Một tuần san ngầm được xuất bản ở Berkeley, California trong những năm 1965 đến 1980. (ND)

2 Ý chỉ vùng vịnh San Francisco, khu vực nằm quanh vịnh San Francisco, tiểu bang California, Mỹ. Đây là khu vực ven biển, tập trung các thành phố lớn và quan trọng của tiểu bang này như: San Francisco, San Jose, Oakland. (ND)

Ed Fredkin. Nhà sáng lập lịch thiệp của tổ chức Information International. Ông luôn tự nhận mình là lập trình viên vĩ đại nhất thế giới cho đến khi ông gặp Stewart Nelson. Ông chính là cánh chim đầu đàn của các hacker.

Gordon French. Hacker phần cứng có mái tóc bạc. Trong ga-ra của anh không chỉ có ô tô mà còn có cả chiếc máy Chicken Hawk tự chế. Anh là người đứng ra tổ chức buổi gặp gỡ đầu tiên của Câu lạc bộ Máy tính Homebrew.

Richard Garriott. Con trai của một phi hành gia, người mang nhiều nét tương đồng với Lord British 3 . Anh là người đã sáng tạo ra thế giới Ultima trên những chiếc đĩa máy tính.

3 Tên của vị vua cai trị Britanica, vương quốc trong thế giới viễn tưởng Sosaria xuất hiện trong trò chơi Ultima. Đây cũng là biệt danh của Richard Garriott. (BTV)

Bill Gates. Tay phù thủy tự phụ, một sinh viên Harvard bỏ học, người đã viết chương trình Altair BASIC và lên tiếng phàn nàn khi chương trình này bị các hacker sao chép.

Bill Gosper. Horowitz 4 của bàn phím máy tính, bậc thầy toán học và là người hack trò LIFE tại phòng thí nghiệm trí tuệ nhân tạo của MIT, bậc thầy về Đạo đức hacker kiêm nghiên cứu sinh về thực đơn nhà hàng Trung Quốc.

4 Vladimir Horowitz, nghệ sĩ dương cầm nổi tiếng người Ý, ám chỉ Bill Gosper giống như nghệ sĩ bậc thầy của bàn phím máy tính vậy. (ND)

Richard Greenblatt. Hacker gạo cội của trường MIT, một kẻ lôi thôi lếch thếch, có tư duy độc lập và thú vị, người thường xuyên sống về đêm tới mức lỡ dở cả sự nghiệp học hành. Anh chính là hacker của mọi hacker.

John Harris. Hacker trò chơi trẻ tuổi trên máy Atari 800, lập trình viên ngôi sao tại Sierra On-Line, anh luôn khao khát có được một mảnh tình vắt vai

IBM PC. Bước tiến của IBM trong thị trường máy tính cá nhân, chiếc máy này cũng bao gồm một chút Đạo đức Hacker, và chiếm được thị phần.

IBM 704. IBM là tên Ma Vương và đây cỗ máy do hắn tạo ra, gã Khổng lồ Xanh được đặt tại Tòa 26 của MIT. Sau này, nó được chỉnh sửa thành IBM 709, rồi IBM 7090. Đây là cỗ máy có thể xử lý theo lô (batch-process) và khó sử dụng.

Jerry Jewell. Cựu binh tại Việt Nam, ông đã chuyển sang làm lập trình viên và sau này thành lập công ty Sirius Sofware.

Steve Jobs. Chàng trai ôm đầy tham vọng và mộng tưởng, không phải là hacker, người đã thương mại hóa chiếc Apple II của Wozniak và thành lập một công ty trị giá hàng tỷ đô-la.

Tom Knight. Một hacker 16 tuổi của MIT, người đã tạo ra Hệ thống Chia sẻ thời gian Không tương thích (Incompatible Time-sharing System), đối thủ của Greenblatt khi rời bỏ máy LISP.

Alan Kotok. Sinh viên trường MIT có ngoại hình mũm mĩm đến từ Jersey, thành viên của TMRC, thích tìm hiểu về hệ thống điện thoại tại Western Electric, và là huyền thoại về TX-0 kiêm hacker PDP-1.

Efrem Lipkin. Nhà hoạt động xã hội kiêm hacker đến từ New York, yêu thích các cỗ máy nhưng lại ghét công dụng của chúng. Anh là nhà đồng sáng lập nhóm Community Memory; và là bạn của Felsenstein.

Máy LISP. Sản phẩm của các hacker siêu cấp, được tạo ra chủ yếu nhờ công của Greenblatt và là chủ đề châm ngòi cho mâu thuẫn gay gắt ở MIT.

“Bác” John McCarthy. Vị Giáo sư thông tuệ nhưng đãng trí tại MIT (sau này là Stanford), ông là người đi tiên phong trong lĩnh vực chơi cờ trên máy tính, trí tuệ nhân tạo, LISP.

Bob Marsh. Người Berkeley và có sở thích tự chế, anh đã chia sẻ ga-ra với Felsenstein và thành lập Processor Technology, công ty sản xuất máy tính Sol.

Roger Melen. Thành viên Câu lạc bộ Máy tính Homebrew, đồng sáng lập công ty Cromemco chuyên sản xuất bảng mạch cho Altair. Bảng mạch “Dazzler” của anh đã chạy chương trình LIFE ngay trên bàn bếp.

Louis Merton. Hacker môn cờ vua trên AI, người có xu hướng mang cộng đồng hacker xích lại gần nhau hơn.

Jude Milhon. Anh đã gặp Lee Felsenstein thông qua một quảng cáo trên tờ Berkeley Barb và cả hai đã trở thành những người bạn thân thiết – thành viên của nhóm Community Memory.

Marvin Minsky. Vị giáo sư MIT khôi hài và thông thái, người đứng đầu Phòng Thí nghiệm AI và là người cho phép các hacker chạy máy miễn phí.

Fred Moore. Người theo chủ nghĩa hòa bình, ưa nay đây mai đó, ghét tiền bạc, yêu công nghệ và là nhà đồng sáng lập Câu lạc bộ Homebrew.

Stewart Nelson. Hacker răng vẩu thuộc Phòng Thí nghiệm AI, có vóc dáng bé hạt tiêu nhưng luôn năng nổ. Anh là người đã kết nối máy tính PDP-1 để hack hệ thống điện thoại. Sau này, anh trở thành nhà đồng sáng lập của Công ty Systems Concepts.

Ted Nelson. Anh tự nhận mình là “nhà cải cách” và kẻ keo kiệt có tiếng. Anh đã tự xuất bản cuốn sách có tầm ảnh hưởng lớn mang tên Computer Lib (tạm dịch: Giải phóng máy tính).

Russell Noftsker. Quản trị viên phiền nhiễu của Phòng Thí nghiệm AI tại MIT cuối những năm 1960; sau này là Chủ tịch của Công ty Symbolics.

Adam Osborne. Nhà sản xuất máy tính sinh ra ở Bangkok này trước đây từng là người làm việc trong lĩnh vực xuất bản, anh luôn tự coi mình là một triết gia. Anh đã thành lập công ty Osborne Computer để sản xuất những cỗ máy “phù hợp”.

PDP-1. Chiếc máy tính cỡ nhỏ đầu tiên của Digital Equipment, vào năm 1961, nó là món quà trời ban mang tính tương tác với các hacker của MIT và là một sự sỉ nhục đối với “chủ nghĩa phát-xít” IBM.

PDP-6. Được thiết kế từng phần bởi Kotok, chiếc máy tính cỡ lớn này chính là linh hồn của Phòng Thí nghiệm AI, với tập lệnh phức tạp cùng 16 thanh ghi đáng ao ước.

Tom Pittman. Thành viên sùng đạo của Câu lạc bộ Homebrew, người dù đã đổ vỡ trong hôn nhân, nhưng vẫn giữ vững niềm tin với chương trình Tiny BASIC của mình.

Ed Roberts. Nhà sáng lập bí ẩn của công ty MITS, người đã làm rung chuyển thế giới với chiếc Altair của mình. Anh muốn giúp mọi người xây dựng các kim tự tháp tinh thần.

Steve (Slug) Russell. Trợ lý của McCarthy, người đã hack chương trình Spacewar (Chiến tranh không gian), trò chơi video đầu tiên, trên máy PDP-1. Anh chưa từng kiếm một xu nào từ việc đó.

Peter Samson. Một trong những hacker đầu tiên tại MIT, yêu các hệ thống, tàu hỏa, TX-0, âm nhạc, thủ tục pháp lý, những trò chơi khăm và hack.

Bob Saunders. Hacker của TMRC vui vẻ, hói đầu, kết hôn sớm, vừa hack tới đêm vừa ăn “kẹo chanh”, và là người nghĩ ra “chiến thuật CBS” trong trò Chiến tranh không gian.

Warren Schwader. Hacker tóc vàng, có vẻ ngoài đô con đến từ vùng quê Wisconsin, người đi từ dây chuyền lắp ráp tới ngôi sao trong giới phần mềm, nhưng điều đó cũng không thể thay đổi được lòng sùng đạo của anh dành cho Nhân chứng Giê-hô-va 5 .

5 Tôn giáo có niềm tin dựa trên Kinh thánh Ki-tô giáo. (BTV)

David Silver. Anh đã bỏ học từ năm 14 tuổi để trở thành nhân vật quan trọng của Phòng Thí nghiệm AI, người đã làm ra những chiếc chìa khóa trái phép và phát minh ra một con robot nhỏ xíu có thể thực hiện những điều không tưởng.

Dan Sokol. Anh chàng tinh nghịch có mái tóc dài, thường miệt mài khám phá các bí mật công nghệ tại Câu lạc bộ Homebrew. Anh là người có công trong việc “giải phóng” chương trình Altair BASIC trên băng giấy.

Máy tính Sol. Thiết bị đầu cuối kiêm máy tính của Lee Felsenstein, được hoàn thiện trong suốt 2 tháng nỗ lực không ngừng nghỉ, chiếc máy tính này gần như đã làm xoay chuyển mọi thứ. Nhưng như vậy vẫn là chưa đủ.

Les Solomon. Biên tập viên của tờ Popular Electronics, người có tiếng nói đáng kể đã đưa cuộc cách mạng máy tính vào guồng.

Marty Spergel. Người Rác, một thành viên của Câu lạc bộ Homebrew, người chuyên cung cấp mạch và dây cáp, bạn có thể kiếm được bất kỳ thứ gì từ chỗ anh.

Richard Stallman. Vị hacker cuối cùng, anh đã thề sẽ bảo vệ các nguyên tắc của chủ nghĩa hacker tới cùng. Anh đã ở lại MIT cho tới khi không còn ai cùng ăn đồ Tàu với mình.

Jeff Stephenson. Cựu võ sĩ kiêm hacker 30 tuổi, người đã sửng sốt khi biết rằng gia nhập Sierra On-Line đồng nghĩa với việc tham gia Trại Hè.

Jay Sullivan. Lập trình viên đẳng cấp bình tĩnh đến kinh hồn ở Informatics, người đã gây ấn tượng với Ken Williams nhờ việc biết ý nghĩa của từ “bất kỳ” (any).

Dick Sunderland. Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh mặt hoa da phấn, người luôn tin rằng sự quan liêu trong quản lý là mục tiêu đáng đeo đuổi, nhưng khi trở thành Chủ tịch của Sierra On-Line, ông nhận ra rằng các hacker không nghĩ theo hướng đó.

Gerry Sussman. Hacker trẻ tuổi tại MIT, người bị gắn mác “kẻ thua cuộc” chỉ vì hút tẩu và “thay đổi” chương trình của mình; sau này, anh trở thành “người chiến thắng” nhờ vào sự kỳ diệu của thuật toán.

Margot Tommervik. Cùng với chồng mình là Al, học giả Margot có mái tóc dài đã tập hợp các đánh giá trò chơi thành một cuốn tạp chí nhằm tôn vinh công ty Apple Computer.

Thiết bị đầu cuối Tom Swift. Thiết bị đầu cuối máy tính huyền thoại chưa từng được lắp ráp của Lee Felsenstein, thiết bị cho phép người dùng tiếp cận với thế giới.

TX-0. Có diện tích ngang với một căn phòng nhỏ, nhưng vào cuối những năm 1950, cỗ máy trị giá 3 triệu đô-la này là chiếc máy tính cá nhân đầu tiên trên thế giới – và cộng đồng hacker tại MIT đã được hình thành nhờ nó.

Jim Warren. Tay đưa tin trong giới công nghệ, có thân hình đẫy đà, và là thành viên của Câu lạc bộ Homebrew. Anh còn là biên tập viên đầu tiên của tạp chí mang phong cách hippie có tên Dr. Dobbs Journal (tạm dịch: Nhật ký Tiến sĩ Dobbs), sau này anh đã thành lập Công ty Computer Faire.

Randy Wigginton. Cậu bé 15 tuổi – một trong những học trò nhỏ tuổi của Steve Wozniak, người đã giúp Woz giới thiệu chiếc Apple II tới Homebrew. Anh là nhân viên phần mềm đầu tiên của Apple từ khi còn học phổ thông.

Ken Williams. Lập trình viên trẻ tuổi, thông minh và kiêu ngạo, người đã lập trình chữ viết trên CRT và thành lập Sierra On-Line nhằm kiếm thật nhiều tiền và cải thiện xã hội bằng cách bán các trò chơi dành cho máy tính của Apple.

Roberta Williams. Người vợ rụt rè của Ken Williams, người đã tìm thấ được khả năng sáng tạo nhờ viết Mystery House (tạm dịch: Ngôi nhà bí ẩn), trò chơi đầu tiên trong số các trò chơi máy tính bán chạy của cô.

Stephen “Woz” Wozniak. Hacker phần cứng liều lĩnh có trái tim cởi mở, đến từ ngoại ô San Jose. Woz đã thành lập công ty Apple Computer vì niềm vui của bản thân và những người bạn.

« Lùi
Tiến »