Chính Peter Samson cũng cảm thấy khó lý giải nổi lý do anh lang thang trong Tòa 26 lúc nửa đêm. Có đôi điều thật khó nói. Nếu giống như những người mà Peter Samson sắp biết và kết bạn trong năm nhất tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) vào mùa đông năm 1958-1959, thì bạn sẽ chẳng cần lời giải thích nào cả. Thơ thẩn trong mê hồn trận của các phòng thí nghiệm và nhà kho, tìm kiếm những bí ẩn về chuyển mạch điện thoại, lần theo các dây dẫn và rơ-le trong các ống hơi nước ngầm – với một số người, đó là hành vi bình thường, và khi đối mặt với một cánh cửa đóng kín, với những âm thanh kích thích phát ra sau cửa, thì hành động mở cửa vì tò mò cũng chẳng lấy gì làm lạ. Và rồi một cách tự nhiên, nếu không có ai ngăn bạn tiếp cận thứ đang tạo ra những âm thanh kích thích ấy, rất có thể bạn sẽ chạm tay vào chiếc máy, bắt đầu bật tắt các công tắc và theo dõi các phản hồi, cuối cùng là nới một chiếc đinh ốc, gỡ một tấm khuôn ra, xóc nhẹ vài đi-ốt và điều chỉnh vài kết nối. Peter Samson và bạn bè anh đã trưởng thành cùng mối quan hệ đặc biệt với thế giới mà trong đó vạn vật chỉ có ý nghĩa nếu bạn tìm ra cách thức hoạt động của chúng. Làm sao bạn có thể đạt được điều đó nếu không mày mò khám phá chúng cơ chứ?
6 Tech Model Railroad Club hay TMRC. (BTV)
Chính trong tầng hầm của Tòa 26, Samson và các bạn của mình đã phát hiện ra phòng EAM (Electronic Accounting Machinery – Máy Kế toán Điện). Tòa 26 có kết cấu bằng kính và thép dài, là một trong những tòa nhà mới xây của MIT, tương phản với các cấu trúc cột đỡ đáng kính ở phía trước Viện trên Đại lộ Massachusetts. Phòng EAM được đặt trong tầng hầm của tòa nhà không có gì nổi trội này. Đó là một căn phòng chứa các cỗ máy chạy như những chiếc máy tính.
Vào năm 1959, chẳng có mấy người được nhìn thấy một chiếc máy tính, chứ đừng nói tới việc chạm vào nó. Samson, một anh chàng có mái tóc xoăn, khô cứng, hoe đỏ, luôn kéo dài các nguyên âm trong câu nói sao cho nghe có vẻ như anh đang lướt nhanh qua hàng loạt ý nghĩa khả dĩ của các câu nói ở giữa các từ. Anh đã quan sát máy tính trong những lần tới tham quan MIT từ hồi còn ở quê nhà Lowell, Massachusetts, chỉ cách trường chưa đến 50km. Điều này khiến anh trở thành một “thằng nhóc Cambridge”, một trong hàng tá học sinh trung học cuồng-khoa-học trong vùng bị thu hút tới khuôn viên trường Cambridge như nam châm hút sắt. Anh thậm chí còn thử lắp ráp chiếc máy tính của riêng mình từ các linh kiện bỏ đi của chiếc máy chơi pinball 7 cũ: Chúng là nguồn cung tốt nhất các phần tử logic mà anh có thể tìm được.
7 Pinball là một loại trò chơi trong đó người chơi sẽ ghi điểm bằng cách thao tác một hoặc nhiều quả bóng thép trên sân chơi được đặt trong một chiếc tủ bằng kính gọi là bàn pinball. (BTV)
Các phần tử logic: Khái niệm này dường như gói gọn điều đã thu hút Peter Samson, con trai của một thợ sửa máy, đến với điện tử. Chủ đề này thật hợp lý. Khi lớn lên cùng sự hiếu kỳ vô hạn với cách thức hoạt động của vạn vật, thì niềm vui sướng mà bạn có được khi khám phá ra một thứ tao nhã như mạch logic, nơi mọi kết nối phải hoàn thành các vòng lặp của chúng, là điều hết sức ly kỳ. Peter Samson, người đã sớm trân trọng sự đơn giản toán học của những thứ này, nhớ rằng đã từng xem một chương trình truyền hình trên kênh truyền hình công cộng của Boston, WGBH, giới thiệu sơ lược về việc lập trình một chiếc máy tính bằng ngôn ngữ của riêng nó. Điều này đã góp phần thổi bùng lên trí tưởng tượng trong anh; với Peter Samson, máy tính hẳn phải giống như cây đèn thần của Aladdin – cứ chà lên thân đèn, rồi nó sẽ thực hiện mệnh lệnh của bạn. Vì vậy, anh đã cố gắng học thêm về lĩnh vực này, chế tạo ra các cỗ máy của riêng mình, tham gia các cuộc thi, dự án khoa học, và đến nơi mà những người như anh muốn tới: MIT. Xứ sở dành cho những kẻ sáng láng nhất trong những cô cậu học sinh phổ thông kỳ lạ với cặp kính “cú vọ” và bộ ngực lép, dù luôn khiến các giáo viên dạy toán phải kinh ngạc nhưng lại chẳng thể qua nổi môn giáo dục thể chất, những người chẳng màng đến việc ghi điểm trong buổi dạ hội nhưng lại luôn mơ đến việc được tham dự vòng chung kết Hội chợ Khoa học Điện Tổng quát. Ở MIT, anh có thể thơ thẩn ngoài hành lang lúc hai giờ sáng, tìm kiếm những điều thú vị, thực sự khám phá ra thứ gì đó có thể khiến anh nảy ra ý tưởng về một kiểu sáng tạo và lối sống mới. Đó sẽ là nơi đặt anh trước ngưỡng cửa của một xã hội vốn chỉ được hình dung bởi vài tác giả khoa học viễn tưởng với một chút tai tiếng. Anh sẽ chế tạo ra một chiếc máy tính mà anh có thể chơi đùa với nó.
Phòng EAM mà Samson tình cờ phát hiện ra là nơi đặt các cỗ máy đục lỗ lớn với kích thước tương đương những chiếc tủ ngang đựng tài liệu. Không có ai bảo vệ chúng: Chỉ có người ở đây vào ban ngày, khi một nhóm người được lựa chọn và nhận được sự cho phép chính thức, có đủ đặc quyền để đệ trình những thẻ giấy dài lên những người vận hành, sau đó chính những người này sẽ sử dụng những chiếc máy để đục lỗ trên giấy tương ứng với dữ liệu mà những người có đặc quyền muốn đưa vào thẻ. Mỗi lỗ trên thẻ sẽ tượng trưng cho một chỉ dẫn nào đó cho máy tính, yêu cầu nó đặt một mẩu dữ liệu ở đâu đó, hoặc thực hiện một hàm trên mẩu dữ liệu, hay chuyển mẩu dữ liệu từ nơi này sang nơi khác. Chồng thẻ này sẽ tạo thành một chương trình máy tính, một chuỗi các chỉ dẫn cho ra kết quả mong đợi nào đó, giống như hướng dẫn trong công thức nấu ăn, khi làm theo chính xác, ta sẽ có một chiếc bánh. Những thẻ này sẽ được chuyển đến một người vận hành khác ở tầng trên để người này đưa chúng vào một “đầu đọc” nhằm xác định vị trí lỗ, rồi gửi các thông tin này tới chiếc máy tính IBM 704 ở tầng 1 của Tòa 26: Cỗ máy Khổng lồ.
Chiếc IBM 704 trị giá vài triệu đô-la, chiếm trọn một căn phòng, đòi hỏi sự chú ý thường xuyên của một nhóm người vận hành máy chuyên nghiệp. Nó cần có hệ thống điều hòa không khí đặc biệt sao cho các ống chân không đỏ rực bên trong không bị nóng tới mức làm hỏng dữ liệu. Khi hệ thống điều hòa không khí hỏng hóc – việc này vẫn thường xuyên xảy ra – một tiếng cồng lớn sẽ được gióng lên, và ba kỹ sư sẽ bật dậy từ một văn phòng gần đó để lao vào tháo thật nhanh vỏ máy sao cho các bộ phận bên trong không bị nóng chảy. Tất cả những người chịu trách nhiệm đục lỗ, đưa lỗ vào đầu đọc, ấn nút và bật công tắc trên chiếc máy thường được gọi là Tu sĩ, còn những người có đủ đặc quyền để đệ trình dữ liệu tới các tu sĩ linh thiêng nhất này là các thầy dòng chính thức. Đó là một cuộc trao đổi gần giống như một nghi lễ.
Thầy dòng: Ồ, cỗ máy kia, ngươi có chấp nhận đề nghị dữ liệu của ta, chạy chương trình của ta và cho ta một phép toán không?
Tu sĩ (thay mặt cỗ máy): Chúng tôi sẽ thử nhưng chúng tôi không hứa trước điều gì cả.
Như một quy tắc chung, ngay cả nhưng thầy dòng có đặc quyền tối thượng nhất này cũng không được phép trực tiếp tiếp cận cỗ máy, họ cũng không thể đợi cỗ máy xử lý hết “lô” thẻ trong nhiều giờ, thậm chí nhiều ngày liền.
Samson biết điều này, và tất nhiên nó khiến anh nản lòng đến phát điên khi muốn tiếp cận cỗ máy chết tiệt này. Thế nhưng, cuộc sống là phải thế.
Điều Samson không biết, và vui mừng khi khám phá ra, là phòng EAM cũng có một chiếc máy đục lỗ đặc biệt gọi là 407. Nó không chỉ có thể đục lỗ mà còn có thể đọc các tấm thẻ, sắp xếp và in chúng theo danh sách. Dường như không có ai canh gác cỗ máy vốn là một dạng máy tính điện toán này. Tất nhiên, việc sử dụng chúng sẽ không hề khó khăn: Ta cần phải thực sự kết nối một bảng điện, tấm nhựa vuông có kích thước khoảng 5x5cm với rất nhiều lỗ trên đó. Nếu cắm hàng trăm sợi dây xuyên qua các lỗ theo một trật tự nhất định, bạn sẽ có được thứ trông như ổ chuột nhưng lại vừa vặn với cỗ máy cơ điện này và làm thay đổi đặc tính của nó. Nó có thể làm điều bạn muốn.
Vậy là, dù không được phép, nhưng đó là những gì Peter Samson bắt đầu thực hiện, cùng một vài người bạn cũng học MIT có mối quan tâm đặc biệt tới mô hình đường ray. Đó là một bước đi tùy tiện, thiếu suy nghĩ, tiến tới tương lai khoa học viễn tưởng, nhưng lại là nét đặc trưng của một tiểu văn hóa kỳ quặc đang tự cố gắng vươn lên và phát triển thành thế lực ngầm – trở thành thứ văn hóa sau này được coi là linh hồn vô phép, không được thừa nhận của giới tin học. Peter Samson là một trong những hacker máy tính đầu tiên tách khỏi Câu lạc bộ Mô hình Đường tàu.
☆ ☆ ☆
Peter Samson đã trở thành thành viên của Câu lạc bộ Mô hình Đường tàu ngay từ tuần đầu tiên anh tới MIT vào mùa thu năm 1958. Sự kiện đầu tiên mà các sinh viên MIT năm nhất tham gia là một bài diễn văn chào đón truyền thống, bài diễn văn đã được truyền từ năm này qua năm khác mà bất kỳ ai từng học ởMIT còn nhớ. Hãy nhìn người ngồi bên trái em… rồi nhìn người ngồi bên phải… một trong ba em sẽ không thể tốt nghiệp học viện này. Hiệu ứng mong đợi của bài diễn văn là tạo ra cảm giác kinh khiếp trong cổ họng của các tân sinh viên, báo hiệu một sự kinh hãi chưa từng thấy. Trong suốt cuộc đời của mình, các tân sinh viên này gần như miễn nhiễm với áp lực học hành nhờ tài năng sáng chói của họ. Giờ đây, mỗi người bọn họ có một người bên trái và một người bên phải cũng thông minh như mình, thậm chí có khi còn thông minh hơn.
Nhưng với một số sinh viên nhất định thì điều này hoàn toàn không được coi là thử thách. Với họ, bạn cùng lớp được nhận thức là những người có thể sẽ trợ giúp mình trong hành trình khám phá đầy ám ảnh để tìm ra cách thức hoạt động của mọi thứ rồi làm chủ chúng. Việc học đã có đủ trở ngại rồi – hà cớ gì phải lo lắng tới những việc chán ngắt như bợ đỡ thầy cô hay phấn đấu vì điểm số? Đối với những sinh viên như Peter Samson, hành trình khám phá còn có ý nghĩa hơn nhiều so với bằng cấp.
Thỉnh thoảng, sau bài phát biểu là sự kiện Chiêu mộ Sinh viên năm Nhất (Freshman Midway). Tất cả các hội trong trường – các nhóm có sở thích đặc biệt, hội học sinh, v.v… – sẽ dựng lều trong khu thể chất rộng lớn để chiêu mộ các thành viên mới. Nhóm gây được sự chú ý với Peter là TMRC. Các thành viên của Câu lạc bộ, những sinh viên lớp trên với đôi mắt sáng, tóc đầu đinh, nói chuyện kiểu giật cục giống như những người muốn từ ngữ được phát ra nhanh chóng, đã khoe khoang về một màn trình diễn mô hình đường tàu HO đẹp mắt mà họ tạo ra trong căn phòng của Câu lạc bộ ở Tòa 20. Từ lâu, Peter Samson rất say mê những đoàn tàu, đặc biệt là tàu điện ngầm. Vì thế, anh đi bộ tới tòa nhà có kết cấu bằng đá tạm bợ được xây dựng trong Thế Chiến II. Các hành lang có nhiều ngóc ngách, và dù Câu lạc bộ nằm ở tầng hai nhưng nó vẫn mang cảm giác lạnh lẽo và tối tăm như một tầng hầm.
Mô hình tàu khổng lồ gần như choán hết căn phòng, và nếu đứng trong khu vực điều khiển nhỏ xíu gọi là “hẻm núi”, bạn có thể thấy một thị trấn nhỏ, một khu công nghiệp, một dãy xe điện tí hon đang hoạt động, một dãy núi làm từ papier-mâché 8 , và tất nhiên là rất nhiều đoàn tàu và đường ray. Các đoàn tàu được chế tạo công phu và tỉ mỉ sao cho giống với nguyên mẫu, và chạy xình xịch qua các khúc cua của đường ray với độ hoàn hảo như sách ảnh.
8 Một vật liệu composite bao gồm các mảnh giấy hoặc bột giấy, đôi khi được gia cố bằng vải dệt, gắn với một chất kết dính, chẳng hạn như keo, tinh bột hoặc giấy dán tường. (ND)
Và rồi Peter Samson nhìn xuống bên dưới các tấm bảng cao ngang ngực đang giữ mô hình. Nó khiến tim anh ngừng đập. Bên dưới mô hình là một ma trận dây điện, rơ-le và công tắc ngang phức tạp hơn tất cả những gì mà Peter Samson có thể tưởng tượng. Có hàng dãy công tắc ngăn nắp, những hàng rơ-le đồng thông thường, cùng một mớ dây điện đỏ, xanh, vàng loằng ngoằng – vặn xoắn vào nhau như một sự bùng nổ bảy sắc cầu vồng trênmớ tóc của Einstein. Đó là một hệ thống phức tạp đến kinh ngạc và Peter Samson đã thề phải tìm ra cách thức hoạt động của chúng.
TMRC sẽ tặng cho các thành viên một chìa khóa ra vào Câu lạc bộ sau khi họ đạt mức 40 giờ làm việc với mô hình. Sự kiện Chiêu mộ Sinh viên năm Nhất diễn ra vào thứ Sáu, và tới thứ Hai tuần sau, Peter Samson đã có chiếc chìa khóa của mình.
☆ ☆ ☆
Trong TMRC có hai phe. Một vài thành viên thích dành thời gian xây dựng và sơn vẽ các bản sao của những đoàn tàu nhất định có giá trị lịch sử và cảm xúc, hoặc tạo ra các khung cảnh như thật cho mô hình. Đây là nhóm dao kéo và cọ vẽ, họ đặt các tạp chí tàu hỏa và đặt vé cho Câu lạc bộ tham gia các tuyến tàu lâu năm. Phe kia tập trung thành Hội đồng Tín hiệu và Năng lượng (S&P) của Câu lạc bộ, và quan tâm nhiều hơn đến những điều diễn ra bên dưới mô hình. Đây là Hệ thống, thứ hoạt động như một sự kết hợp giữa Rube Goldberg 9 và Wernher von Braun 10 , thường xuyên được cải tiến, sửa chữa, hoàn chỉnh và đôi khi bị phá hỏng. Nhóm này bị ám ảnh về cách Hệ thống hoạt động, sự phức tạp ngày càng tăng của nó, cách một thay đổi bất kỳ sẽ ảnh hưởng tới các phần khác và cách bạn có thể đặt các mối quan hệ này giữa các phần sao cho tối ưu.
9 Rube Goldberg là hệ thống dây chuyền phản ứng phức tạp được thiết kế từ những vật đơn giản nhất. (BTV)
10 Wernher von Braun được coi là cha đẻ của ngành tên lửa. (BTV)
Nhiều phần của Hệ thống đã được Chương trình Quà tặng cho các trường Đại học của Western Electric tài trợ trực tiếp từ công ty điện thoại. Cố vấn của Câu lạc bộ cũng chịu trách nhiệm cho hệ thống điện thoại của trường, và nhận thấy rằng họ có sẵn các thiết bị điện thoại tinh vi dành cho các nhà sáng tạo mô hình đường tàu. Sử dụng thiết bị đó như một điểm khởi đầu, các nhà sáng tạo mô hình đường tàu đã sáng chế ra một sơ đồ cho phép nhiều người điều khiển cùng lúc, ngay cả khi các đoàn tàu nằm trên những khu vực khác nhau của cùng một đường ray. Sử dụng bộ quay số lấy từ điện thoại, những “kỹ sư” của TMRC có thể chỉ ra phần nào của đường ray mà họ muốn điều khiển để chạy đoàn tàu từ đó nhờ sử dụng một số loại rơ-le của công ty điện thoại, bao gồm các thiết bị điều khiển ngang và các công tắc bước cho phép bạn thực sự nghe thấy năng lượng được chuyển từ khối này sang khối kia nhờ âm thanh chunka-chunka-chunka như đến từ thế giới khác.
Chính nhóm S&P đã sáng chế ra sơ đồ tài tình này, và cũng chính họ đã nuôi dưỡng sự tò mò không biết mệt mỏi, đã khiến họ chôn chân ở khắp các tòa nhà trong trường và tìm cách được đặt tay lên những chiếc máy tính. Họ là những môn đồ suốt đời của Nhu cầu được Thực hành. Trưởng nhóm S&P là Bob Saunders, một sinh viên lớp trên với vẻ mặt hồng hào, vóc dáng đô con, điệu cười sảng khoái và có tài về bánh răng điều khiển. Khi còn là một đứa trẻ ở Chicago, anh đã xây dựng một máy biến thế tần số cao trong một dự án trung học; đó là một phiên bản cao khoảng 1,8m của một cuộn Tesla, thứ được các kỹ sư phát minh trong những năm 1800 để gửi các sóng điện mạnh. Saunders cho biết cuộn dây của anh có thể thổi bay sóng truyền hình trong phạm vi vài tòa nhà. Một người khác cũng rất có hứng thú với S&P là Alan Kotok, người New Jersey có thân hình mũm mĩm, lẹm cằm, đeo cặp kính dày cộp trong lớp của Samson. Gia đình Kotok vẫn nhớ hồi ba tuổi, anh đã táy máy tháo công tắc ra khỏi tường bằng một chiếc tuốc-nơ-vít, khiến tia lửa điện tóe ra. Năm sáu tuổi, anh đã chế tạo và nối dây cho các bóng đèn. Thời trung học, anh từng tham gia một chuyến tham quan Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Mobil ở gần Haddonfield và lần đầu tiên được nhìn thấy máy tính – sự hồ hởi đến từ trải nghiệm này đã giúp anh quyết định gia nhập MIT. Ngay từ năm nhất, anh đã có tiếng là một trong những người có năng lực nhất nhóm S&P của TMRC.
Các thành viên S&P dành các ngày thứ Bảy để đến khu phế thải của Eli Heffron ở Somerville tìm kiếm các linh kiện, dành hàng giờ nằm dài trên những chiếc ghế xoay mà họ gọi là “bunkies” (bạn cùng phòng) để tìm kiếm các chỗ thắt lại trong hệ thống chuyển mạch, hay làm việc thâu đêm để thực hiện các kết nối hoàn toàn không được phép giữa điện thoại của TMRC và Khu phía Đông. Công nghệ là sân chơi của họ.
Các thành viên chủ chốt tụ tập ở Câu lạc bộ hàng giờ liền, thường xuyên cải tiến Hệ thống, tranh luận về công việc tiếp theo và phát triển biệt ngữ của riêng họ mà người ngoài không sao hiểu nổi nếu có tình cờ bắt gặp những kẻ cuồng tín tuổi teen này với chiếc áo ngắn tay kẻ ô, bút chì trong túi, quần chino và một chai Coca-Cola lúc nào cũng kè kè bên cạnh. (TMRC đã tự mua máy bán Coke với giá khá cao 165 đô-la; với giá 5 xu một chai, số tiền bỏ ra đã được thu về chỉ sau ba tháng; để kích thích bán hàng, Saunders đã chế tạo máy đổi tiền cho người mua Coke và nó vẫn còn được sử dụng cả một thập kỷ sau đó.) Khi một bộ phận không hoạt động, tức là nó đã “thất bại”; khi một bộ phận bị hỏng, nó sẽ bị nghiền nát cho tới khi không được tích sự gì nữa (“munged” (mashed until no good)); hai chiếc bàn ở góc phòng không được gọi là văn phòng (office), mà được gọi là cái lỗ (orifice); người muốn nghiên cứu các khóa học là một “công cụ” (tool); rác được gọi là “đồ bỏ đi” (cruft); và một dự án được thực hiện hay một sản phẩm được chế tạo không chỉ để phục vụ một mục đích mang tính xây dựng nào đó, mà còn được thực hiện bằng sự ham thích mãnh liệt nhờ sự tham gia đơn thuần, được gọi là “hack”.
Thuật ngữ sau có lẽ được tham khảo từ tiếng lóng của MIT thời xưa – từ “hack” từ lâu đã được sử dụng để mô tả những trò đùa công phu trong trường mà các sinh viên MIT thường xuyên tạo ra, chẳng hạn như che phủ đỉnh vòm bao quanh toàn khuôn viên trường bằng các lá phản quang. Nhưng khi thành viên TMRC dùng từ này, tức là họ đang ám chỉ một sự tôn trọng nghiêm túc. Khi ai đó gọi một kết nối thông minh giữa các rơ-le là một “hack chính cống”, nghĩa là chiến công này phải thấm đẫm sự sáng tạo, phong cách và trình độ kỹ thuật.
Những người làm việc năng suất nhất ở S&P tự gọi mình là những “hacker” một cách đầy tự hào. Trong khuôn khổ của Câu lạc bộ ở Tòa 20, và của “Phòng Công cụ” (nơi một nghiên cứu nào đó cùng nhiều phiên làm việc đậm chất công nghệ diễn ra), họ tự cho rằng mình cũng có các đặc tính anh hùng như trong huyền thoại Iceland. Đây là cách mà Peter Samson nhìn nhận bản thân và những người bạn của anh qua bài thơ kiểu Sandburgesque trong bản tin của Câu lạc bộ:
Người ném Thiết bị chuyển mạch cho Thế giới,
Người kiểm thử ngòi, Người thiết lập Định tuyến,
Người chơi với Đường tàu và Người kiểm soát Cấp cao của Hệ thống; Bẩn thỉu, lông lá, uể oải,
Cỗ máy của Chức năng-Điểm:
Họ nói rằng anh là kẻ nguy hiểm và tôi tin họ; khi tôi thấy các bóng đèn sơn của anh dưới ánh sáng đang quyến rũ những tên cu-li của hệ thống…
Dưới ngọn tháp, xung quanh toàn bùn đất, hack với những lò xo rẽ đôi
Thậm chí là hack với tư cách sinh viên năm đầu, những người chưa bao giờ mất chỗ và đã từ bỏ, còn ngu ngốc hơn
Hack các Bảng M, bên dưới các khóa là những thiết bị chuyển mạch, và dưới hệ thống điều khiển là sự cấp tiến xung quanh mô hình.
Hacking!
Hãy hack sự bẩn thỉu, lông lá, uể oải của tuổi trẻ; không cần dây, hay các đi-ốt hấp dẫn, hãy tự hào là những người giám sát chuyển mạch, kiểm thử ngòi, thiết lập định tuyến, chơi đùa với đường tàu và gặp được Người kiểm soát Cấp cao của Hệ thống.
Bất kỳ khi nào có thể, Samson và những người khác sẽ lẻn đến phòng EAM cùng các bảng phích cắm, cố gắng sử dụng cỗ máy để theo dõi các thiết bị chuyển mạch bên dưới mô hình. Điều quan trọng là họ đã thấy điều mà hệ thống cơ điện có thể làm, và đẩy nó đi tới giới hạn.
Mùa xuân năm 1959, MIT triển khai một khóa học mới. Đó là khóa học lập trình máy tính đầu tiên mà các sinh viên năm nhất có thể đăng ký. Giảng viên là một người đàn ông lạnh lùng với mái tóc điện giật và bộ râu xoăn tít không kém – John McCarthy. McCathy là bậc thầy về toán học, một vị giáo sư đãng trí thường thấy; với đầy rẫy những câu chuyện về thói quen đột nhiên trả lời một câu hỏi sau nhiều giờ, đôi khi là nhiều ngày. Ông sẽ tiến tới chỗ bạn ở hành lang mà không cần chào hỏi, rồi bắt đầu nói như một cái máy với ngôn từ chuẩn xác, như thể khoảng dừng trong cuộc hội thoại chỉ tồn tại trong một phần nhỏ của một giây chứ không phải cả tuần. Trong hầu hết các trường hợp thì câu trả lời muộn màng của ông rất tuyệt vời.
McCarthy là một trong số rất ít người làm việc dưới hình thức truy vấn khoa học hoàn toàn mới có liên quan đến máy tính. Bản chất hoạt bát và thích tranh luận trong lĩnh vực nghiên cứu của ông rõ ràng đến từ sự kiêu ngạocủa cái tên mà McCarthy dành cho nó: Trí tuệ Nhân tạo (Artificial Intelligence – AI). Người đàn ông này thực sự cho rằng máy tính có thể trở nên thông minh. Ngay cả ở một nơi đậm chất khoa học như MIT, hầu hết mọi người đều coi ý nghĩ đó là kỳ cục: Họ cho rằng máy tính rất hữu dụng, có phần đắt đỏ đến mức lố bịch, là công cụ cho các tính toán số học khổng lồ và để tạo ra các hệ thống phòng thủ tên lửa (như cỗ máy lớn nhất của MIT, Whirlwind – Cuồng phong, đã xây dựng cho hệ thống cảnh báo sớm SAGE), nhưng lại bị chế giễu khi cho rằng những máy tính đó có thể thực sự trở thành một lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Khoa học Máy tính không tồn tại chính thức ở MIT hồi cuối những năm 1950 và McCarthy cùng những chuyên gia máy tính đã làm việc ở Khoa Kỹ thuật Điện, nơi diễn ra khóa học số 641 mà Kotok, Samson và một vài thành viên khác của TMRC đã đăng ký vào mùa xuân năm đó.
McCarthy đã khởi động một chương trình khổng lồ trên chiếc IBM 704 – Cỗ máy Khổng lồ – với khả năng đặc biệt trong việc chơi cờ. Với các nhà phê bình của lĩnh vực AI mới chớm phát triển, đây chỉ là một ví dụ về chủ nghĩa lạc quan cứng đầu của những người như John McCarthy. Nhưng McCarthy lại có một tầm nhìn kiên định rằng khả năng của máy tính và chơi cờ chỉ mới là điểm bắt đầu.
Thú vị là, tầm nhìn này không phải là thứ đã thúc đẩy Kotok, Samson và những người khác. Họ chỉ muốn biết cách thức vận hành các cỗ máy chết tiệt này, và dù ngôn ngữ lập trình mới được gọi là LISP mà McCarthy đang giảng tại khóa 641 rất thú vị, nó vẫn không thể sánh được với sự thú vị của hoạt động lập trình, hay khoảnh khắc kỳ diệu khi bạn nhận được kết quả trả về từ vị Tu sĩ, sau đó, bạn có thể dành hàng giờ nghiền ngẫm các kết quả của chương trình, xem nó có vấn đề gì không và làm thế nào để cải tiến nó. Các hacker của TMRC đã nghĩ ra các cách tiếp cận gần hơn với chiếc IBM 704, thứ chẳng bao lâu sau sẽ được nâng cấp thành mẫu mới hơn với tên gọi 709. Bằng cách lượn lờ ở Trung tâm Điện toán vào lúc nửa đêm về sáng, mối quen biết với tu sĩ, và cách trân trọng cũng như chắt chiu số lần cần thiết, cuối cùng những người như Kotok cũng được phép ấn một vài nút trên chiếc máy và quan sát những chiếc đèn khi nó hoạt động.
Vài người có thâm niên ở MIT có quyền truy cập vào chiếc 704 cùng những người bạn trong đội tu sĩ của họ đã cần mẫn khai thác được những bí mật liên quan đến các cỗ máy IBM này. Đáng ngạc nhiên là một vài lập trình viên trong số đó, những học viên cao học đang làm việc cùng McCarthy, thậm chí còn viết một chương trình sử dụng một trong các dãy đèn bé tí: Những chiếc bóng đèn có thể phát sáng theo một thứ tự sao cho chúng trông giống như một quả bóng nhỏ đang được chuyền từ phải sang trái. Nếu người vận hành bật công tắc vào đúng thời điểm thì chuyển động của ánh sáng có thể bị đảo ngược – ta sẽ có chiếc máy tính theo kiểu “đánh bóng bàn”! Đây rõ ràng là thứ mà bạn sẽ phô ra để gây ấn tượng với bạn bè, những người sẽ nhìn vào chương trình thực thụ mà bạn viết để nghiên cứu cách thức vận hành của nó.
Để chiến thắng chương trình này, người ta có thể cố gắng làm điều đó với ít câu lệnh hơn – một nỗ lực đáng thử khi dung lượng “bộ nhớ” máy tính trong những ngày này nhỏ tới mức không thể đặt nhiều chỉ lệnh trong đó. John McCarthy từng để ý thấy những học viên cao học của ông, những người tha thẩn quanh chiếc 704, sẽ làm việc với các chương trình máy tính của họ sao cho chúng có thể ra được nhiều kết quả nhất với số câu lệnh ít nhất, và nén chương trình lại để cung cấp cho cỗ máy ít thẻ hơn. Việc cắt bỏ một hai dòng lệnh gần như là một sự ám ảnh đối với họ. McCarthy so sánh các sinh viên này với niềm đam mê trượt tuyết. Cảm giác hồi hộp khi “tối ưu hóa mã nguồn” cũng tương tự như khi các vận động viên trượt tuyết cuồng tín xé gió trượt xuống đồi tuyết. Do đó, việc triển khai một chương trình và cố gắng cắt bớt các câu lệnh mà không làm ảnh hưởng tới kết quả được xem là “cắt gọt chương trình”, và bạn sẽ thường nghe họ lẩm bẩm những câu như; “Có lẽ mình có thể cắt bớt vài câu lệnh để giúp bộ tải thẻ chỉnh sửa bát phân giảm xuống còn ba thay vì bốn thẻ.”
Vào năm 1959, McCarthy đã chuyển mối quan tâm từ cờ vua sang một cách nói chuyện với máy tính kiểu mới, một “ngôn ngữ” hoàn toàn mới gọi là LISP. Alan Kotok và bạn bè anh vô cùng háo hức nhận lại dự án cờ vua. Làm việc trên chiếc IBM xử lý theo lô, họ dấn thân vào dự án khổng lồ cải tiến cách chơi cờ vua trên chiếc 704 rồi đến chiếc 709, thậm chí là cỗ máy tân tiến 7090 sau này. Cuối cùng, nhóm của Kotok trở thành những người sử dụng quỹ thời gian máy tính nhiều nhất Trung tâm Máy tính MIT.
Dù vậy, làm việc với máy IBM vẫn rất khó chịu. Không có gì chán ngán hơn việc ngồi chờ đằng đẵng từ lúc nhập thẻ tới lúc máy cho ra các kết quả. Nếu bạn đặt nhầm dù chỉ một chữ cái trong câu lệnh thì chương trình sẽ ngừng chạy luôn, và bạn sẽ phải khởi động lại toàn bộ quá trình. Việc đó đi đôi với sự gia tăng ngột ngạt của các quy tắc chết tiệt khiến những người đam mê máy tính cuồng nhiệt trẻ tuổi như Samson, Kotok và Saunders phải tránh xa cỗ máy. Quy tắc cứng nhắc nhất là không ai được phép thực sự chạm vào hay làm xáo trộn chiếc máy. Đây tất nhiên là điều mà những thành viên S&P này muốn làm nhất, và những giới hạn này khiến họ phát điên.
Một tu sĩ cấp thấp – vào một ca làm đêm muộn – đã đặc biệt khó chịu khi thực hiện quy tắc này, nên Samson đã nghĩ ra một cách trả thù thích đáng. Khi lượn quanh cửa hàng đồ điện tử cũ của Eli vào một ngày nọ, anh tình cờ tìm được một bảng điện hoàn toàn giống với loại đang chứa các ống chân không trong chiếc IBM. Vào đêm nọ, khoảng trước 4 giờ sáng, vị tu sĩ này ra ngoài một phút; và khi ông ta quay trở lại, Samson nói rằng cỗ máy không hoạt động nhưng họ đã tìm ra nguyên nhân – và giơ lên mô-đun hoàn toàn bẹp dúm của chiếc 704 cũ lấy từ cửa hàng của Eli.
Vị tu sĩ không thốt nổi nên lời. “Cậu… cậu… cậu lấy nó ở đâu?”
Samson với đôi mắt xanh to tròn vô tội từ từ chỉ vào một khe hở trên tủ máy nơi tất nhiên chưa bao giờ có bảng mạch và nhìn khá trống trải.
Vị tu sĩ thở gấp, mặt mũi tái mét, lầm rầm rên rỉ với đấng tối cao. Không còn nghi ngờ gì nữa, viễn cảnh về khoản hao hụt lên tới một triệu đô trong tài khoản đang hiển hiện trước mắt ông ta. Chỉ sau khi người giám sát của ông ta, một tu sĩ cấp cao đã biết tỏng tài trí của những chàng trai trẻ thông minh đến từ TMRC, đến và giải thích tình hình, ông ta mới bình tĩnh lại được.
Ông ta không phải là quản trị viên cuối cùng phải đón nhận sự phẫn nộ của một hacker bị cản trở quyền truy cập cỗ máy.
☆ ☆ ☆
Một ngày nọ, một cựu thành viên của TMRC hiện đang là cán bộ giảng dạy ở MIT đã đến thăm Câu lạc bộ. Tên anh là Jack Dennis. Khi còn là sinh viên đại học hồi đầu thập niên 1950, anh đã làm việc miệt mài với mô hình. Lúc đó, Dennis đang vận hành một chiếc máy tính mà MIT nhận được từ Phòng thí nghiệm Lincoln, một phòng thí nghiệm phát triển quân sự liên kết với Học viện. Chiếc máy tính đó là TX-0, và là một trong những máy tính chạy đèn bán dẫn đầu tiên trên thế giới. Phòng thí nghiệm Lincoln chuyên sử dụng nó để kiểm thử chiếc máy tính khổng lồ TX-2 với bộ nhớ quá phức tạp tới mức chỉ người anh em bé nhỏ với thiết kế đặc biệt này mới có thể xem xét một phần khả năng của nó. Giờ đây, khi nhiệm vụ ban đầu đã hoàn thành, cỗ máy trị giá 3 triệu đô-la TX-0 đã được chuyển tới Học viện theo diện “cho mượn dài hạn”, và rõ ràng là không ai ở Phòng thí nghiệm Lincoln mong đợi ngày trở về của nó. Dennis đã hỏi nhóm S&P ở TMRC rằng liệu họ có muốn xem nó hay không.
Này mấy xơ ơi! Các xơ có muốn gặp Giáo hoàng không?
Chiếc TX-0 nằm ở Tòa 26, trong Phòng thí nghiệm Nghiên cứu về Điện (Research Laboratory of Electronics – RLE) trên tầng hai, ngay bên trên Trung tâm Máy tính tầng một, nơi chứa chiếc IBM 704 khổng lồ. Phòng thí nghiệm RLE giống với phòng điều khiển của một con tàu vũ trụ thời cổ. Chiếc TX-0, hay đôi khi được gọi là Tixo, là chiếc máy rất nhỏ thời đó, do nó là một trong những máy tính đầu tiên sử dụng các bóng bán dẫn có kích thước bằng ngón tay thay vì các ống chân không to cỡ bàn tay. Dù vậy, nó vẫn chiếm nhiều không gian trong phòng, cùng với thiết bị điều hòa không khí nặng 15 tấn đi kèm. Nơi đặt chiếc TX-0 được gắn một số khung gầm cao và mảnh, giống các giá sách bằng kim loại xù xì, với dây điện rối rắm và các hàng hộp đựng nhỏ xíu để cài đặt bóng bán dẫn. Một chiếc giá khác có mặt trước làm bằng kim loại đặc, điểm xuyết bằng các máy đo nhìn dữ tợn. Đối diện với các tủ thiết bị là một bàn điều khiển hình chữ L, hệ thống điều khiển của tàu không gian H.G. Wells, với một chiếc kệ nhỏ màu xanh và giấy tờ. Trên thanh ngang của chiếc kệ hình chữ L là một chiếc máy Flexowriter 11 , trông như chiếc máy đánh chữ được cải biến dành cho xe tăng chiến, đế của nó được đặt trong một bệ đỡ màu xám quân sự. Trên đỉnh là các bảng điều khiển, những phần hình hộp nhô ra được sơn vàng. Trên bề mặt của chúng, phần đối diện với người sử dụng là một số đồng hồ đo, vài hàng bóng đèn nhấp nháy cỡ 60mm, một ma trận các thiết bị chuyển mạch bằng kim loại có kích thước bằng hạt gạo lớn, và trên hết là màn hình ống phát tia âm cực thực sự có hình tròn, màu xám khói.
11 Một loại máy đánh chữ điện hạng nặng cho phép điều khiển bằng thao tác gõ của con người, hay bằng nhiều phương pháp, bao gồm cả việc gắn trực tiếp vào máy tính và sử dụng băng giấy. (ND)
Các thành viên của TMRC đã thất kinh. Cỗ máy này không sử dụng thẻ. Đầu tiên, người sử dụng phải đưa chương trình vào một băng giấy dài và mảnh bằng chiếc Flexowriter (có thêm một vài chiếc Flexowriter trong căn phòng kế bên), rồi ngồi vào bàn điều khiển, chạy băng giấy qua bộ đọc, và cứ ngồi đó trong khi chương trình đang chạy. Nếu có lỗi xảy ra với chương trình, bạn sẽ biết ngay lập tức và có thể xem xét vấn đề bằng cách sử dụng một số thiết bị chuyển mạch hoặc kiểm tra xem bóng đèn nào đang nhấp nháy hay sáng. Cỗ máy thậm chí còn có một bộ phận phát âm thanh: Trong lúc chương trình chạy, một chiếc loa bên dưới bàn điều khiển sẽ tạo ra một đoạn nhạc, nghe như một chiếc đàn organ điện tử bị chỉnh âm sai với các nốt rung lên đinh tai nhức óc. Các hợp âm trên chiếc “organ” này sẽ thay đổi theo mỗi mili giây tùy theo dữ liệu mà máy đang đọc; sau khi đã quen với tông của nó, bạn có thể thực sự nghe được phần nào của chương trình đang được máy tính xử lý. Bạn sẽ phải phân biệt điều này, dù tiếng lách cách của chiếc Flexowriter có thể khiến bạn nghĩ rằng mình đang ở trong một cuộc đấu súng máy.
Thậm chí điều thú vị hơn là, nhờ các khả năng “tương tác” này, và cũng nhờ người sử dụng được cung cấp một số khung thời gian để tùy ý sử dụng chiếc TX-0, bạn thậm chí có thể chỉnh sửa một chương trình ngay khi ngồi tại máy. Đúng là một phép màu!
Không đời nào có chuyện Kotok, Saunders, Samson và những người khác tránh xa chiếc máy đó. May mắn thay, dường như không có sự quan liêu nào bủa vây lấy chiếc TX-0 như chiếc IBM 704. Không còn lực lượng tu sĩ nhiễu sự. Kỹ thuật viên chịu trách nhiệm là một người Ê-cốt khôn ngoan với mái tóc trắng có tên John McKenzie. Dù nhiệm vụ của ông là đảm bảo rằng các học viên cao học và những người đang làm việc tại các dự án được cấp vốn – những Người dùng được Phê chuẩn Chính thức – được tiếp cận cỗ máy, McKenzie lại rất khoan dung với những kẻ điên cuồng tại TMRC đang bắt đầu lượn lờ tại phòng thí nghiệm RLE, nơi chứa cỗ máy TX-0.
Samson, Kotok, Saunders và một sinh viên năm nhất tên là Bob Wagner đã sớm phát hiện ra thời gian tốt nhất để dạo quanh Tòa 26 là vào ban đêm, khi không ai đăng ký phiên làm việc một giờ trên mảnh giấy được dán vào thứ Sáu hằng tuần bên cạnh máy điều hòa không khí của phòng thí nghiệm RLE. Có một quy tắc là chiếc TX-0 phải được cho chạy 24 giờ mỗi ngày – máy tính thời đó quá đắt đỏ để có thể bị lãng phí bằng cách để không vào ban đêm. Ngoài ra, có một thủ tục khá khó chịu là phải để mọi thứ được bật lên và chạy nếu nó bị tắt. Do vậy, những hacker TMRC, những người sớm gọi mình là các hacker TX-0, đã thay đổi lối sống để phù hợp với chiếc máy. Họ đăng ký những khung thời gian có thể và sẽ thường xuyên viếng thăm phòng thí nghiệm vào ban đêm để tranh thủ cơ hội khi ai đó đặt lịch 3 giờ sáng nhưng không đến.
“Ôi!” Samson sẽ vui mừng thốt lên, khoảng một phút sau khi ai đó không thể có mặt vào thời điểm đăng ký trong sổ nhật ký. “Hãy chắc rằng chúng ta không phí phạm thời gian!”
Điều này dường như không bao giờ xảy ra, bởi các hacker hầu như luôn ở đó. Nếu họ không ở phòng thí nghiệm RLE chờ giờ mở cửa, thì sẽ ở phòng học bên cạnh Câu lạc bộ TMRC, Phòng Công cụ, chơi trò đố chữ kiểu Treo cổ mà Samson đã nghĩ ra gọi là Ô cửa Tiếp theo, chờ đợi một cuộc gọi từ ai đó đang ở bên cạnh chiếc TX-0, theo dõi xem liệu có ai không có mặt trong phiên làm việc hay không. Các hacker đã xây dựng mạng lưới chỉ điểm để được thông báo sớm thời gian sử dụng máy – nếu một dự án nghiên cứu chưa chuẩn bị sẵn sàng chương trình hay một giáo sư bị ốm, tin tức sẽ được chuyển đến TMRC và các hacker sẽ xuất hiện ngay, nín thở và sẵn sàng để chen vào không gian đằng sau bảng điều khiển chiếc TX-0.
Dù về mặt lý thuyết, Jack Dennis sẽ chịu trách nhiệm vận hành, nhưng khi đó ông còn đang vướng bận lịch giảng và thích dành thời gian còn lại viết mã cho máy. Dennis đóng vai người cha đỡ đầu nhân từ với các hacker: Ông cung cấp cho họ phần hướng dẫn sử dụng ngắn gọn, chỉ họ theo các hướng nhất định, và thích thú với các cuộc phiêu lưu lập trình cuồng nhiệt của họ. Ông không hứng thú lắm với việc quản trị, và rất vui lòng để John McKenzie vận hành mọi thứ. McKenzie sớm nhận ra rằng bản chất tương tác của TX-0 đã truyền cảm hứng cho một dạng thức lập trình máy tính mới, và các hacker chính là những người tiên phong. Vì thế, anh đã không đưa ra quá nhiều sắc lệnh.
Hồi năm 1959, không khí đủ lỏng lẻo cho họ – những người cuồng khoa học với trí tò mò luôn bị thiêu đốt như một kẻ chết đói, những người như Peter Samson sẽ khám phá mê cung chưa được thám hiểm của các phòng thí nghiệm ở MIT. Tiếng ồn của máy điều hòa không khí, bộ phận phát âm thanh, và chiếc máy Flexowriter kêu như búa khoan luôn quyến rũ những kẻ lang thang này, để rồi họ sẽ lao đầu vào phòng thí nghiệm như những chú mèo con vờn quanh các giỏ len.
Trong số những kẻ lang thang, có một người ngoại đạo tên là Peter Deutsch. Trước cả khi khám phá ra chiếc TX-0, Peter đã nung nấu tình yêu mãnh liệt với máy tính. Tình yêu ấy bùng lên vào ngày cậu nhặt được một cuốn sổ hướng dẫn sử dụng mà ai đó bỏ đi – cuốn sổ tay về một dạng ngôn ngữ máy tính khó hiểu dùng để tính toán. Có thứ gì đó trong sự ngăn nắp của các câu lệnh máy tính đã hấp dẫn cậu: Sau này, cậu mô tả cảm giác đó giống như một sự nhận biết siêu việt kỳ lạ mà một nghệ sĩ trải qua khi khám phá ra một công cụ hoàn toàn thích hợp với mình. Đây là nơi tôi thuộc về. Peter đã cố gắng viết một chương trình nhỏ, đăng ký thời gian dưới tên của một trong các tu sĩ, và chạy nó trên máy tính. Trong nhiều tuần, cậu đã thành thạo việc lập trình đến mức đáng kinh ngạc. Khi đó, cậu mới chỉ 12 tuổi.
Peter là một đứa trẻ hay xấu hổ, giỏi toán nhưng không chắc chắn về hầu hết những thứ còn lại. Cậu bị thừa cân đến mức khó chịu, không có khả năng chơi thể thao, nhưng lại là một người vô cùng trí tuệ. Cha cậu là giáo sư tại MIT, và Peter đã lấy đó làm cái cớ để khám phá các phòng thí nghiệm.
Việc cậu bị chiếc TX-0 thu hút là không thể tránh khỏi. Đầu tiên, Peter lang thang tới một “Phòng Kluge” nhỏ (“kluge” là nơi được xây dựng theo cách thiếu trang nhã, có vẻ thách thức logic bằng cách hoạt động hiệu quả), nơi có ba chiếc Flexowriter ngoại tuyến để đục lỗ chương trình trên các băng giấy sau này được đưa vào chiếc TX-0. Ai đó đang bận rộn đục lỗ băng giấy. Peter quan sát một lúc rồi bắt đầu dội bom linh hồn khốn khổ ấy bằng những câu hỏi về chiếc máy tính nhỏ bé khó coi ở phòng bên cạnh. Rồi cậu đi tới chiếc TX-0 và quan sát gần hơn, nhận thấy sự khác biệt của nó với các máy tính khác: Nó nhỏ hơn và có một màn hình CRT cùng những đồ chơi gọn gàng khác. Ngay lúc đó, cậu quyết định hành động như thể mình cũng hoàn toàn có quyền ở đó. Peter giữ cuốn sổ hướng dẫn và nhanh chóng khiến mọi người kinh ngạc khi trò chuyện về máy tính theo cách đầy ý nghĩa. Cuối cùng, cậu cũng được phép đăng ký các phiên buổi tối và cuối tuần, cũng như viết các chương trình của riêng mình.
McKenzie đã lo rằng ai đó có thể tố cáo anh đang vận hành một dạng trại hè, với những tên chíp hôi vừa đủ cao để cắm đầu vào bàn điều khiển TX-0, dán mắt vào mã nguồn mà một Người dùng được Cấp phép Chính thức, có thể là một học viên cao học ra vẻ ta đây nào đó, sẽ mổ cò vào chiếc Flexowriter, và nói bằng cái giọng ồm ồm, chưa trưởng thành những câu như: “Vấn đề của anh là cái này bị sai ở đây… anh cần câu lệnh này ở chỗ đó,” và chàng học viên cao học ra vẻ ta đây này sẽ phát điên – thằng oắt con này là ai thế? – rồi bắt đầu quát vào mặt thằng nhóc, bắt nó ra ngoài hoặc đi chỗ khác chơi. Dù vậy, hóa ra nhận xét của Peter Deutsch lúc nào cũng đúng. Cậu ta còn mặt dày tuyên bố rằng mình sẽ viết các chương trình tốt hơn những thứ hiện có và sẽ làm được điều đó.
Samson, Kotok và các hacker khác đã chấp nhận Peter Deutsch: Với hiểu biết về máy tính như vậy, cậu xứng đáng được đối xử công bằng. Peter không hề thích những Người dùng được Cấp phép Chính thức, đặc biệt là khi ngồi sau họ và sẵn sàng thể hiện khi họ phạm lỗi trên chiếc Flexowriter.
Những Người dùng được Cấp phép Chính thức này xuất hiện ở chiếc TX-0 một cách đều đặn. Các chương trình họ chạy là những phân tích xác suất, tương quan chéo, các mô phỏng của một phần bên trong nhân tế bào. Đó là các ứng dụng. Điều này hoàn toàn bình thường với họ nhưng có phần phí phạm theo cách nghĩ của các hacker. Các hacker nghĩ tới những thứ đằng sau bảng điều khiển của chiếc TX-0, gần giống như việc ra đằng sau họng máy bay. Hay như cách mà Peter Samson, một người đam mê nhạc cổ điển, nói thì tính toán với TX-0 giống như chơi một loại nhạc cụ: Loại nhạc cụ đắt đỏ đến mức ngớ ngẩn mà trên đó bạn có thể ứng biến, sáng tác và như những gã lập dị ở Quảng trường Harvard cách đó một dặm, than vãn như một vị thần hoàn toàn từ bỏ sự sáng tạo.
Thứ cho phép họ làm việc này là hệ thống lập trình do Jack Dennis và một giáo sư khác, Tom Stockman, viết nên. Khi chiếc TX-0 đến MIT, nó đã bị tháo rời so với khi còn ở Phòng thí nghiệm Lincoln: Bộ nhớ bị giảm đáng kể, còn 4096 “từ”, mỗi từ 18 bit. (“bit” là một số nhị phân, gồm 1 hoặc 0. Các số nhị phân này là những thứ duy nhất máy tính có thể hiểu được. Một chuỗi các số nhị phân được gọi là một “từ”.) Và chiếc TX-0 hầu như không có phần mềm. Do đó, trước khi giới thiệu chiếc TX-0 với nhóm TMRC, Jack Dennis đã viết các “chương trình hệ thống” – phần mềm giúp người dùng sử dụng cỗ máy.
Thứ đầu tiên mà Dennis tập trung hoàn thiện là một trình hợp ngữ, chuyên dịch ngôn ngữ hợp ngữ – vốn sử dụng các biểu tượng tắt gồm ba chữ cái tượng trưng các câu lệnh đối với máy tính – thành ngôn ngữ máy chỉ chứa các số nhị phân 0 và 1. Chiếc TX-0 có một ngôn ngữ hợp ngữ khá giới hạn: Do thiết kế của nó chỉ cho phép 2 bit của mỗi từ 18 bit được sử dụng cho các câu lệnh đối với máy tính, nên chỉ có 4 câu lệnh có thể được sử dụng (mỗi biến thể 2 bit khả dĩ – 00, 01, 10, 11 – tượng trưng cho một câu lệnh). Mọi thứ mà máy tính thực hiện đều có thể được tách thành việc thực thi của một trong bốn chỉ dẫn này: mất một chỉ dẫn để cộng hai số, nhưng cần một chuỗi 20 chỉ dẫn để nhân hai con số. Nhìn vào danh sách dài dằng dặc các câu lệnh máy tính được viết dưới dạng số nhị phân – ví dụ 10011001100001 – có thể khiến bạn líu lưỡi trong vài phút. Nhưng cùng câu lệnh đó trong hợp ngữ có thể trông như sau: ADD Y. Sau khi tải vào máy tính trình hợp ngữ mà Dennis viết, bạn có thể viết các chương trình dưới dạng biểu tượng đơn giản hơn này, và chờ đợi máy tính dịch nó thành mã nhị phân cho bạn. Sau đó, bạn có thể đưa mã “đối tượng” nhị phân đó trở lại máy tính. Giá trị của việc này là không thể tính toán được: Nó sẽ cho phép các lập trình viên viết ra những thứ trônggiống mật mã, thay vì một chuỗi vô tận, hoa mắt gồm các số 1 và 0.
Chương trình khác mà Dennis đã làm việc cùng Stockman là thứ thậm chí còn mới hơn – trình sửa lỗi. Chiếc TX-0 đi kèm một trình sửa lỗi gọi là UT-3 cho phép bạn nói chuyện với máy tính trong khi nó đang chạy bằng cách gõ các câu lệnh vào chiếc Flexowriter. Nhưng chương trình này cũng gặp phải những vấn đề khủng khiếp – chẳng hạn như nó chỉ chấp nhận các mã nhập vào sử dụng hệ thống số bát phân. Hệ “bát phân” là một hệ cơ số 8 (khác với hệ nhị phân là cơ số 2 và hệ Ả-rập là cơ số 10), và nó là một hệ thống khó sử dụng. Do đó, Dennis và Stockman quyết định viết ra một thứ tốt hơn UT-3, cho phép người sử dụng dùng ngôn ngữ hợp ngữ dễ làm việc. Nó được gọi là FLIT, cho phép người sử dụng thực sự tìm được lỗi chương trình trong một phiên, sửa nó và giữ chương trình tiếp tục chạy. (Dennis giải thích rằng “FLIT” là từ viết tắt của Flexowriter Interrogation Tape – Băng Dò Flexowriter, nhưng rõ ràng nguồn gốc thực sự của cái tên này là một loại thuốc xịt côn trùng.) FLIT là một bước đột phá, do nó đã giải phóng cho các lập trình viên để họ có thể thực sự làm công việc sáng tạo trên máy tính – giống như những nhà soạn nhạc sáng tác trên nhạc cụ của họ. Với việc sử dụng trình sửa lỗi, chỉ chiếm một phần ba trong số 4096 từ của bộ nhớ TX-0, các hacker đã được tự do tạo ra một cách lập trình mới táo bạo hơn.
Vậy các chương trình hacker này làm gì? Đôi khi việc họ làm gì không quan trọng. Peter Samson đã hack thâu đêm được một chương trình có thể chuyển đổi ngay lập tức các số Ả-rập thành các số La Mã, và Jack Dennis, sau khi ngưỡng mộ kỹ năng mà Samson đạt được, đã nói: “Lạy Chúa tôi, ai lại muốn làm việc đó chứ?” Nhưng Dennis biết lý do. Cảm giác về sức mạnh và thành tựu mà Samson đạt được khi anh đưa băng giấy, quan sát các bóng đèn và thiết bị chuyển mạch, rồi thấy thứ vừa mới chỉ là các con số Ả-rập giờ đã trở thành các số La Mã mà anh hack được thật khó tả.
Quả thực, chính Jack Dennis là người gợi ý cho Samson rằng khả năng của chiếc TX-0 trong việc gửi nhiễu tới các loa phát thanh có nhiều công dụng đáng kể. Dù không có bảng điều khiển dựng sẵn cho cao độ, cường độ và đặc điểm tông, nhưng vẫn có một cách để điều khiển loa – âm thanh được phát ra phụ thuộc vào trạng thái của bit thứ 14 trong các từ 18 bit mà TX-0 có trong thanh ghi tích lũy của nó trong một micro giây. Âm thanh được bật tắt tùy vào việc bit 14 là 1 hay 0. Do đó, Samson chuẩn bị viết các chương trình để thay đổi các số nhị phân trong vị trí đó theo các cách khác nhau nhằm tạo ra các cao độ khác nhau.
Vào thời điểm đó, chỉ một vài người ở nước Mỹ được trải nghiệm việc sử dụng máy tính để tạo ra bất kỳ loại âm nhạc nào, và các phương pháp mà họ sử dụng cần lượng tính toán khổng lồ trước khi cỗ máy có thể phát ra nổi một nốt nhạc. Samson, người tỏ ra thiếu kiên nhẫn với những người đã cảnh báo rằng anh đang làm một điều không thể, muốn có một chiếc máy tính chơi nhạc ngay lập tức. Vì thế, anh đã học cách điều khiển một bit trong thanh ghi tích lũy thành thạo tới mức có thể ra lệnh cho nó với sự ủy quyền của Charlie Parker trên chiếc saxophone. Trong một phiên bản mới hơn của trình biên dịch âm nhạc này, Samson đã thiết lập chương trình sao cho khi bạn mắc lỗi trong cú pháp lập trình, chiếc Flexowriter sẽ chuyển sang một đoạn ruy băng đỏ và in ra câu: “To err is human to forgive divine” (Nhân vô thập toàn).
Khi những người ngoại đạo nghe thấy các giai điệu của Johann Sebastian Bach 12 trong một sóng vuông 13 đơn âm, đơn giọng, không hòa âm, họ đều không hề bối rối. Ghê quá nhỉ! 3 triệu đô-la cho cỗ máy khổng lồ này mà nó không thể làm nổi như một chiếc piano đồ chơi sao? Chẳng có tác dụng gì khi giải thích cho những kẻ ngoại đạo này rằng Peter Samson gần như đã bỏ qua quá trình mà âm nhạc được tạo ra trong nhiều thiên niên kỷ. Âm nhạc luôn được sáng tạo trực tiếp bằng cách tạo ra các dao động âm thanh. Còn điều xảy ra trong chương trình của Samson là một chuỗi các con số, các bit thông tin được tải vào một chiếc máy tính, chứa mã mà âm thanh nằm trong đó. Bạn có thể dành hàng giờ nhìn chằm chằm vào mã nguồn mà không thể đoán được âm nhạc nằm ở đâu. Nó chỉ trở thành âm nhạc khi hàng triệu trao đổi dữ liệu ngắn diễn ra trong thanh ghi tích lũy nằm trên một trong những chiếc giá làm từ silicon dây dẫn và kim loại tạo thành chiếc TX-0. Samson đã yêu cầu máy tính, thứ rõ ràng không có kiến thức về cách sử dụng âm thanh, tự phát ra một bản nhạc và TX-0 đã biên dịch được.
12 Nhà soạn nhạc, nghệ sĩ organ, vĩ cầm, đại hồ cầm và đàn harpsichord người Đức thuộc thời kỳ Baroque (1600 – 1750). (ND)
13 Sóng có hai trị số cố định tuần tự trong khoảng thời gian bằng nhau. (BTV)
Vì vậy, đó là một chương trình máy tính không chỉ soạn nhạc theo cách nói ẩn dụ – mà nó còn thực sự soạn nhạctheo nghĩa đen! Nó trông như – và thực sự – là cùng loại với chương trình đã thực hiện các tính toán số học cũng như các phân tích xác suất phức tạp. Các con số mà Samson đưa vào máy tính là thứ ngôn ngữ vạn năng có thể sản xuất ra bất kỳ thứ gì – một bản fuga 14 của Bach hay một hệ thống phòng không.
14 Một thể nhạc có cấu trúc chặt chẽ, gồm nhiều bè viết theo phong cách và thủ pháp đối vị dựa trên nguyên tắc mô phỏng. (BTV)
Samson đã không giải thích bất kỳ điều gì với những kẻ ngoại đạo không mấy ấn tượng với chiến công của mình. Chính các hacker cũng không thảo luận về việc này – thậm chí còn không rõ là họ có phân tích hiện tượng này bằng các thuật ngữ bao quát không. Peter Samson đã làm việc đó, và các đồng nghiệp trân trọng anh, bởi đó rõ ràng là một hack tuyệt vời. Biện minh như vậy là đủ.
☆ ☆ ☆
Với các hacker như Bob Saunders – người có dấu hiệu hói đầu, dáng người mập mạp và là môn đệ vui vẻ của TX-0, hội trưởng của nhóm S&P ở TMRC, người nghiên cứu các hệ thống – thì đó là một sự tồn tại hoàn hảo. Saunders lớn lên ở vùng ngoại ô Chicago, và vẫn nhớ cách thức hoạt động của mạch điện thoại và mạch điện đã hấp dẫn anh ra sao. Trước khi theo học tại MIT, Saunders đã có một công việc mùa hè đáng mơ ước, làm việc cho một công ty điện thoại chuyên lắp đặt các thiết bị văn phòng trung tâm. Anh sẽ dành tám tiếng hạnh phúc với kìm và mỏ hàn trong tay, xử lý các hệ thống khác nhau, khung cảnh điền viên thơ mộng bị ngắt quãng bởi những giờ nghỉ trưa được dùng để nghiền ngẫm các cuốn sách hướng dẫn thao tác của công ty điện thoại. Chính thiết bị của công ty điện thoại bên dưới mô hình của TMRC đã thuyết phục Saunders trở thành thành viên tích cực.
Saunders, với tư cách tiền bối, đã tiếp cận với TX-0 trên con đường học tập muộn hơn so với Kotok và Samson: Anh dùng thời gian nghỉ xả hơi để thực sự đặt nền móng cho một cuộc sống xã hội, bao gồm việc tìm hiểu và cuối cùng cưới Marge French, người đã thực hiện một số công trình máy tính phi hack cho một dự án nghiên cứu. Dẫu vậy, TX-0 vẫn là mối quan tâm hàng đầu trong sự nghiệp học tập của anh và anh cũng có chung trải nghiệm bị điểm kém và trượt môn như các hacker khác. Điều đó không khiến Saunders quá phiền lòng bởi anh biết việc học hành thực sự chỉ diễn ra ở Phòng 240 của Tòa 26, phía sau bảng điều khiển Tixo. Nhiều năm sau, anh đã tự mô tả mình và những người khác là “một nhóm tinh hoa. Những người khác đã trốn học, dành thời gian trên các tòa nhà bốn tầng bốc hơi nước khó chịu hoặc trốn trong các phòng thí nghiệm vật lý ném đủ loại hạt vào mọi thứ hoặc bất kỳ thứ gì mà họ làm ra. Và chúng tôi chỉ đơn giản là không chú ý tới những gì mà người khác đang làm vì chúng tôi không quan tâm. Họ đang nghiên cứu thứ mà họ học còn chúng tôi nghiên cứu thứ mà chúng tôi học. Việc phần lớn những điều đó không nằm trong chương trình học được phê duyệt chính thức hoàn toàn không quan trọng.”
Các hacker thường “hành tẩu” vào ban đêm. Đó là cách duy nhất để tận dụng tối đa “giờ nghỉ” của chiếc TX-0. Vào ban ngày, Saunders thường cố gắng có mặt trong một hoặc hai lớp học. Đôi khi anh cũng dành thời gian thực hiện một số việc “bảo trì cơ bản” như ăn uống và đi vệ sinh. Anh có thể gặp Marge một lúc. Nhưng sau đó, anh sẽ lại quay về Tòa 26. Anh chạy qua vài chương trình của đêm hôm trước, in nó ra tờ giấy 23x1,3 cm mà chiếc Flexowriter sử dụng. Anh sẽ chú thích và chỉnh sửa chương trình để cập nhật mã thành bất kỳ thứ gì mà anh coi là giai đoạn tiếp theo của công tác vận hành. Sau đó, Saunders sẽ tới TMRC và trao đổi chương trình của mình với ai đó, kiểm tra đồng thời các ý tưởng tốt và lỗi tiềm tàng. Rồi quay trở lại Tòa 26, tới Phòng Kluge bên cạnh chiếc TX-0 để tìm một chiếc Flexowriter ngoại tuyến nhằm cập nhật mã nguồn. Trong suốt thời gian đó, anh sẽ kiểm tra xem liệu có ai đó đã hủy phiên làm việc kéo dài một tiếng trên chiếc máy không; phiên làm việc của anh thường được xếp vào lúc hai hay ba giờ sáng gì đó. Anh sẽ chờ trong Phòng Kluge hoặc chơi bài ở TMRC trong khi chờ tới lượt.
Ngồi tại bảng điều khiển, đối diện với các tủ kim loại đựng các bóng bán dẫn của máy tính, mỗi bóng bán dẫn đại diện cho một vị trí có giữ hoặc không giữ bộ nhớ, Saunders sẽ cài đặt chiếc Flexowriter và nó sẽ chào anh bằng từ “WALRUS”. Đây là thứ mà Samson đã hack để tôn vinh bài thơ của Lewis Carroll với câu “Giờ đã điểm, Walrus nói…”. Saunders có thể cười thầm khi đi tới ngăn kéo lấy băng giấy có chứa chương trình hợp ngữ và đưa nó vào đầu đọc. Giờ đây, chiếc máy tính đã sẵn sàng nhận chương trình của anh, nên anh sẽ lấy băng Flexowriter đang làm để gửi nó đến máy tính. Anh quan sát các bóng đèn khi máy tính chuyển mã từ “nguồn” (ngôn ngữ hợp ngữ biểu tượng) thành mã “đối tượng” (nhị phân) trong quá trình đục lỗ trên băng giấy. Do băng giấy đó là mã đối tượng mà TX-0 hiểu, nên anh sẽ nhập nó vào và hy vọng chương trình đó sẽ chạy một cách tuyệt vời.
Nhiều khả năng sẽ có một vài hacker khác chầu rìa phía sau anh, cười cợt, làm trò, uống Coke và ăn thứ đồ ăn nhanh nào đó mà họ lấy được từ chiếc máy dưới tầng. Saunders thích cái nêm thạch chanh mà mọi người gọi là “lemon gunkies”. Nhưng vào lúc bốn giờ sáng thì cái gì cũng ngon. Tất cả bọn họ đều quan sát khi chương trình bắt đầu chạy, đèn bật sáng, âm thanh từ loa phát ra trên thanh ghi cao hay thấp tùy thuộc vào bit 14 trong thanh ghi tích lũy và thứ đầu tiên anh bắt gặp trên màn hình CRT sau khi chương trình được biên dịch và chạy là chương trình bị treo luôn. Vì thế, anh chạy lại ngăn kéo để lấy băng giấy với trình sửa lỗi FLIT và cho nó vào máy tính. Máy tính sau đó sẽ trở thành một máy sửa lỗi và anh sẽ lại gửi chương trình vào. Giờ đây, anh có thể lùng tìm ra vị trí lỗi và nếu may mắn, anh sẽ sửa được bằng cách thêm vào vài dòng lệnh, thay đổi vài thiết bị chuyển mạch trên bảng điều khiển theo một thứ tự chính xác, hoặc gõ vài mã trên chiếc Flexowriter. Khi mọi thứ vận hành suôn sẻ – và chúng ta luôn vô cùng thỏa mãn khi thứ gì đó hoạt động, khi anh khiến cho căn phòng đầy bóng bán dẫn, dây dẫn, kim loại và điện hòa trộn vào nhau để tạo ra một kết quả chính xác – anh sẽ cố bổ sung cải tiến tiếp theo cho nó. Khi hết thời gian – và ai đó đang nóng lòng chờ sử dụng máy sau anh – Saunders sẽ sẵn sàng dành vài giờ tiếp theo tìm hiểu xem cái quái gì đã khiến cho chương trình bị sập.
Bản thân giờ cao điểm đã vô cùng căng thẳng, nhưng trong hàng giờ trước đó, và thậm chí là hàng giờ sau đó, một hacker luôn ở trạng thái tập trung hoàn toàn. Khi lập trình một chiếc máy tính, bạn phải biết nơi mà hàng nghìn bit thông tin đi từ câu lệnh này tới câu lệnh tiếp theo và có thể dự đoán – cũng như khai thác – hiệu ứng của tất cả các chuyển động đó. Khi đã nắm rõ những thông tin này, bạn sẽ có cảm giác như thể tâm trí mình đã hòa trộn vào môi trường hoặc máy tính. Đôi khi, bạn mất hàng giờ để đạt tới điểm mà tư duy của mình có thể hình dung toàn bộ bức tranh và sẽ thật xấu hổ nếu lãng phí nó. Vì thế, bạn cố gắng duy trì nó bằng việc nỗ lực liên tục, luân phiên làm việc trên máy tính hoặc nghiền ngẫm mã nguồn mà bạn viết trên một trong những máy Flexowriter ngoại tuyến trong Phòng Kluge. Bạn sẽ duy trì sự tập trung đó bằng cách “lấn” sang cả ngày hôm sau.
Rõ ràng, khung tâm trí đó sẽ khó tránh khỏi việc xuất hiện những kiến thức ngẫu nhiên tồn tại bên ngoài lĩnh vực điện toán. Nhóm dao-và-cọ-vẽ ở TMRC hoàn toàn không hài lòng với sự gia nhập của những người nghiện Tixo: Họ coi đó là một dạng ngựa Trojan 15 trongviệc chuyển trọng tâm của Câu lạc bộ, từ mô hình tàu sang điện toán. Và nếu tham dự một trong những buổi họp Câu lạc bộ diễn ra lúc 5 giờ 15 phút chiều thứ Ba hằng tuần, bạn có thể thấy được sự quan ngại: Các hacker sẽ lợi dụng mọi luồng thủ tục pháp lý để tạo ra một buổi họp rối rắm như các chương trình mà họ đang hack trên chiếc TX-0. Động thái được tạo ra để tạo ra động thái, từ đó tạo ra động thái tiếp, và sự phản đối bị loại bỏ như thể chúng là các lỗi máy tính. Một ghi chú trong biên bản họp ngày 24 tháng 11 năm 1959 đã chỉ rằng: “Chúng tôi thấy khó chịu với một số thành viên nhất định đang làm rất nhiều việc tốt bằng cách làm thêm S&P và ít đọc Robert’s Rules of Order (tạm dịch: Quy tắc về Trật tự của Robert).” Samson là một trong những người phạm lỗi nghiêm trọng nhất, và đã có lúc một thành viên TMRC cáu tiết quát lên: “Hãy mua một cái nút bần để chẹn miệng Samson lại”.
15 Chương trình gián điệp được cài vào để ăn cắp thông tin người dùng. (BTV)
Hack thủ tục pháp lý là một chuyện nhưng khung tư duy logic đòi hỏi việc lập trình phải liên quan tới các hoạt động tầm thường hơn. Bạn có thể đặt câu hỏi cho một hacker và cảm nhận thanh ghi tích lũy trí tuệ của anh ta xử lý các bit cho tới khi có được câu trả lời chính xác cho câu hỏi của bạn. Marge Saunders sẽ lái chiếc Volkswagen đến Safeway vào mỗi sáng thứ Bảy và khi trở lại, cô sẽ hỏi chồng: “Anh có muốn mang đồ vào giúp em không?” Bob Saunders sẽ trả lời: “Không”. Quá choáng váng, Marge đã tự kéo đồ vào. Sau vài lần như thế, cô nổi cáu, xả một tràng nguyền rủa anh và đòi biết lý do tại sao anh từ chối giúp cô. “Đó là một câu hỏi ngớ ngẩn,” anh nói. “Tất nhiên anh không muốn giúp em mang đồ vào. Nếu em bảo anh làm thì anh sẽ giúp em nhưng đó là một vấn đề khác.”
Việc đó cứ như thể Marge đã đệ trình một chương trình vào chiếc TX-0 và chương trình đó, giống như các chương trình vẫn làm khi cú pháp không phù hợp, đã bị treo. Phải đến khi cô sửa lỗi câu hỏi của mình thì Bob Saunders mới cho phép nó chạy thành công trên “máy tính” trí tuệ trong đầu anh.