Hacker Lược Sử

Lượt đọc: 432 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
đạo đức hacker

Có thứ gì đó mới mẻ đang hợp lại quanh chiếc TX-0: Đó là lối sống mới với một triết lý, một đạo đức và một giấc mơ.

Các hacker TX-0 chợt hiểu ra rằng bằng cách dồn mọi khả năng kỹ thuật điện toán của bản thân với sự sùng bái hiếm thấy bên ngoài các tu viện, họ sẽ là những người tiên phong về sự cộng sinh táo bạo giữa người và máy. Với tinh thần hăng hái giống như những thanh niên lái xe độ gắn bó với các động cơ độ, họ coi môi trường độc nhất xung quanh là điều tất nhiên. Ngay cả khi các phần tử của một văn hóa mới đang dần hình thành, các huyền thoại bắt đầu được sinh ra, và khả năng họ làm chủ việc lập trình đã bắt đầu vượt qua bất kỳ cấp độ kỹ năng nào được biết đến trước đó, khoảng một tá hacker vẫn miễn cưỡng công nhận rằng xã hội tí hon của họ, trong phạm vi quen thuộc là chiếc TX-0, đang dần tập hợp lại với nhau quanh một khung ý tưởng, niềm tin và tập tục.

Các giới luật của Đạo đức Hacker mang tính cách mạng này không được tranh luận và thảo luận nhiều mà chủ yếu được chấp thuận một cách âm thầm. Không có tuyên ngôn nào được đưa ra. Không có nhà truyền giáo nào cố gắng tập hợp những người muốn cải đạo. Máy tính đã thực hiện việc cải đạo, và dường như những người tuân theo Đạo đức Hacker một cách chính xác nhất là những người như Samson, Saunders và Kotok. Đó là những người có cuộc sống trước khi đến MIT có vẻ đơn thuần là khúc dạo đầu cho khoảnh khắc họ được thỏa mãn bản thân khi đứng sau bảng điều khiển của chiếc TX-0. Sau đó, sẽ có những hacker ngầm chấp nhận Đạo đức này một cách nghiêm túc hơn những gì mà các hacker TX-0 đã làm, như huyền thoại Greenblatt hay Gosper, dù vẫn còn vài năm nữa mới tới thời điểm các nguyên tắc của chủ nghĩa hacker được vạch ra một cách tường minh.

Dù vậy, ngay cả trong thời của TX-0 thì các cương lĩnh của tuyên ngôn hacker cũng đã hình thành. Đó là Đạo đức Hacker:

Việc truy cập máy tính – và bất kỳ thứ gì có thể dạy bạn đôi điều về cách thức vận hành của thế giới – cần phải vô hạn và toàn diện. Trên hết, nó luôn đi liền với Nhu cầu Thực hành!

Cộng đồng hacker tin tưởng rằng họ có thể học được các bài học thiết yếu về hệ thống – về thế giới – bằng cách tháo tung mọi thứ, xem cách chúng hoạt động, và sử dụng kiến thức này để tạo ra những thứ thậm chí còn mới mẻ và thú vị hơn. Họ bực tức với bất kỳ ai, bất kỳ rào cản vật chất hay luật lệ nào ngăn cản họ làm vậy.

Điều này đặc biệt đúng khi một hacker muốn sửa chữa thứ gì đó (mà theo quan điểm của anh ta là) đang hỏng hóc hoặc cần cải tiến. Các hệ thống kém hoàn chỉnh khiến các hacker phát điên khi bản năng của họ là mong muốn sửa chữa chúng. Đây là lý do tại sao các hacker thường ghét lái xe – hệ thống đèn đỏ được lập trình ngẫu nhiên và được lắp đặt một cách kỳ lạ trên các con phố một chiều dẫn tới sự cản trở không cần thiết tới mức thôi thúc họ sắp xếp lại hệ thống biển chỉ dẫn, mở tung các hộp điều khiển đèn giao thông… và thiết kế lại toàn bộ.

Trong thế giới hacker hoàn hảo, bất kỳ ai đủ kiên nhẫn mở chiếc hộp điều khiển gần cột đèn giao thông, tháo nó ra để chỉnh sửa và làm cho nó hoạt động tốt hơn thì đều nên được ủng hộ để họ có thể thực hiện nỗ lực đó. Các luật lệ ngăn cản bạn xử lý những vấn đề như thế thật lố bịch. Thực tế này đã giúp TMRC ra mắt, dựa trên cơ sở vô cùng thoải mái, cái gọi là Ban Trưng dụng lúc Nửa đêm. Khi TMRC cần một bộ đi-ốt hoặc vài rơ-le để chế tạo một đặc tính nào đó cho Hệ thống thì một vài thành viên S&P sẽ chờ tới khi trời tối và tìm cách tới nơi cất trữ những thứ này. Không có hacker nào, những người cực kỳ trung thực trong các vấn đề khác, có vẻ đánh đồng hành động này với việc “ăn trộm”. Đó quả là một sự mù quáng có chủ đích.

Mọi thông tin đều nên miễn phí.

Nếu bạn không có quyền truy cập vào những thông tin cần thiết để cải tiến mọi thứ, thì làm sao bạn có thể sửa chữa chúng? Một sự trao đổi thông tin miễn phí, nhất là khi thông tin đó nằm dưới dạng một chương trình máy tính, sẽ tạo ra tổng thể sáng tạo lớn hơn. Khi làm việc với một cỗ máy như TX-0, thứ vốn gần như không đi kèm với phần mềm nào cả, mọi người sẽ đổ xô đi viết các chương trình hệ thống nhằm giúp công việc lập trình trở nên dễ dàng hơn – Công cụ để Tạo ra Công cụ, được giữ trong ngăn kéo bên cạnh bàn điều khiển để mọi người đều có thể truy cập. Việc này đã giúp ngăn chặn những hành động tốn công vô ích, lãng phí thời gian và đáng sợ: Thay vì để mọi người tự viết riêng từng phiên bản của cùng một chương trình thì chúng ta hãy cùng tạo ra một phiên bản tốt nhất dành cho tất cả mọi người, và ai cũng được thoải mái xem xét mã nguồn và cải tiến nó. Một thế giới đầy rẫy những chương trình đầy đủ tính năng, tối giản nhất và được gỡ lỗi tới mức hoàn hảo.

Niềm tin, đôi khi được tiếp nhận một cách vô điều kiện, cho rằng thông tin nên được miễn phí là một chỉ báo cho thấy một cỗ máy vi tính hay một chương trình hoàn hảo, hoạt động tốt với các bit nhị phân di chuyển theo đường dẫn logic và trực tiếp nhất để thực hiện công việc phức tạp của nó. Máy tính là gì nếu không phải là thứ được hưởng lợi từ một dòng chảy tự do của thông tin? Giả sử, thanh ghi tích lũy phát hiện ra rằng bản thân nó không thể lấy được thông tin từ các thiết bị đầu ra/đầu vào (I/O) như bộ đọc băng giấy hay các thiết bị chuyển mạch thì toàn bộ hệ thống sẽ sụp đổ. Theo quan điểm của hacker, mọi hệ thống đều có thể hưởng lợi từ dòng chảy dễ dàng đó của thông tin.

Quyền hồ nghi – Thúc đẩy sự phi tập trung hóa.

Cách tốt nhất để thúc đẩy tự do trao đổi thông tin là phải có một hệ thống mở, nơi không có giới hạn giữa hacker và thông tin hoặc trang thiết bị mà anh ta cần để tìm kiếm tri thức, sự tiến bộ và thời gian trực tuyến. Thứ cuối cùng mà bạn cần là sự quan liêu. Các hệ thống quan liêu, bất kể là ở tập đoàn, chính phủ hay trường đại học, đều là các hệ thống lỗi, nguy hiểm nằm ở chỗ chúng không tạo điều kiện cho tinh thần khám phá của các hacker đích thực. Những kẻ quan liêu ẩn nấp sau các luật lệ độc đoán (tương phản với những thuật toán logic mà các cỗ máy và chương trình máy tính vận hành): Họ viện dẫn các luật lệ này để củng cố quyền lực, và coi tinh thần xây dựng của các hacker là một mối nguy hại.

Hình ảnh thu nhỏ của thế giới quan liêu ấy đã được phát hiện tại một công ty rất lớn có tên là IBM. Những chiếc máy tính của họ được coi như là những cỗ máy tính khổng lồ xử lý theo lô một phần là do công nghệ ống chân không. Lý do thực sự là IBM là một gã khổng lồ, vụng về và không hiểu tinh thần hacker. Nếu IBM thành công (các hacker TMRC cũng nghĩ vậy), thì cả thế giới sẽ xử lý theo lô, phụ thuộc vào các tấm thẻ đục lỗ phiền phức, và chỉ những tu sĩ có đặc quyền cao nhất mới được phép tương tác thực sự với máy tính.

Tất cả những gì bạn cần làm là quan sát ai đó trong thế giới IBM, chú ý tới chiếc áo sơ mi cài cúc, cà vạt đen chỉnh tề, tóc tai gọn gàng và khay thẻ đục lỗ trên tay. Bạn có thể đi lại trong Trung tâm Máy tính, nơi đặt chiếc 704, 709 và sau này là 7090 – cỗ máy tốt nhất mà IBM từng cung cấp – để thấy sự ngăn nắp đến ngột ngạt, rồi tới các khu vực được niêm phong mà những người không có thẩm quyền sẽ không được phép bước vào. Để rồi bạn có thể so sánh điều đó với không khí rất thoải mái xung quanh chiếc TX-0, nơi dành cho những bộ quần áo xuề xòa và là chốn ra vào của bất kỳ ai.

Giờ đây, IBM đã và sẽ tiếp tục làm nhiều việc để thúc đẩy ngành điện toán. Do quy mô và tầm ảnh hưởng to lớn, nó đã khiến máy tính trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống ở Mỹ. Với nhiều người, “IBM” và “máy tính” là các từ đồng nghĩa. Máy tính của IBM như những chú ngựa thồ đáng tin cậy, đáng để các doanh nhân và nhà khoa học đầu tư vào. Việc này một phần là do cách tiếp cận bảo thủ của công ty: Nó không làm ra các cỗ máy tiên tiến nhất về mặt công nghệ, nhưng sẽ dựa vào các khái niệm đã được chứng minh cùng cách marketing cẩn thận và tích cực. Khi sự thống trị của IBM trong lĩnh vực máy tính được thiết lập, công ty sẽ một tay gây dựng cơ đồ, đầy bí mật và tự mãn.

Điều thực sự khiến các hacker phát điên là thái độ của các tu sĩ cấp cao và tu sĩ cấp thấp của IBM, những người cho rằng chỉ IBM mới có máy tính “thực thụ”, còn tất cả những thứ khác chỉ là rác rưởi. Bạn không thể nói chuyện với những người này – bạn không thể thuyết phục họ. Họ là những người xử lý theo lô, và điều này không chỉ thể hiện trong sở thích của họ về máy móc, mà còn trong những ý tưởng về cách thức vận hành của một trung tâm máy tính hay thế giới. Những người này không bao giờ có thể hiểu được sự ưu việt rõ ràng của một hệ thống phi tập trung không có thứ bậc – một hệ thống nơi mọi người có thể theo đuổi các mối quan tâm của họ, và nếu trong quá trình đó, họ phát hiện ra lỗi trong hệ thống, họ có thể lao vào xem xét đầy tham vọng. Không cần phải làm phiếu yêu cầu. Chỉ cần hoàn thành công việc là đủ.

Khuynh hướng phi quan liêu này hoàn toàn trùng khớp với tính cách của nhiều hacker, những người từ thuở thơ ấu đã lớn lên cùng việc xây dựng các dự án khoa học, trong khi phần lớn các bạn cùng lớp đang học hỏi các kỹ năng xã hội trên sân thể thao. Những thanh niên từng bị xã hội ruồng bỏ này đã phát hiện ra máy tính là một sự cân bằng tuyệt vời, họ đã được trải nghiệm cảm giác mà theo Peter Samson, “giống như bạn mở cánh cửa ra và bước vào một vũ trụ hoàn toàn mới…” Một khi đã vượt qua cánh cửa đó và ngồi vào sau bàn điều khiển của một cỗ máy trị giá hàng triệu đô-la, các hacker này thực sự có quyền lực. Do đó, việc ngờ vực bất kỳ động lực nào cố gắng hạn chế sự phát triển của quyền lực đó là lẽ tất yếu.

Hacker nên được đánh giá qua khả năng hack của họ thay vì các tiêu chí viển vông như bằng cấp, tuổi tác, chủng tộc hay vị trí.

Việc sẵn sàng chấp nhận Peter Deutsch mới 12 tuổi vào cộng đồng TX-0 là một ví dụ điển hình. Tương tự, những kẻ thích phô trương văn bằng có vẻ ấn tượng sẽ không được nghiêm túc chấp nhận cho tới khi tự chứng minh được bản thân trên bàn điều khiển của một chiếc máy tính. Điểm tài năng này chưa chắc đã bén rễ từ những đức tính tốt cố hữu của các hacker – chủ yếu là do họ ít quan tâm tới các đặc điểm bên ngoài hơn tiềm năng trong việc cải tiến tình trạng chung của hoạt động hack, tạo ra các chương trình mới đáng ngưỡng mộ hay nói chuyện về tính năng mới trong hệ thống.

Bạn có thể tạo ra cái đẹp và nghệ thuật trên một chiếc máy tính

Chương trình âm nhạc của Samson là một ví dụ. Nhưng với các hacker, tính nghệ thuật của chương trình không nằm ở những âm thanh dễ chịu phát ra từ một chiếc loa trực tuyến. Mã chương trình tiềm ẩn vẻ đẹp của riêng nó. (Dù vậy, Samson đã thực sự giấu giếm việc từ chối thêm chú thích cho mã nguồn của mình để giải thích những gì anh làm tại một thời điểm nhất định. Một chương trình được phân phối rộng rãi mà Samson viết có hàng trăm dòng lệnh hợp ngữ mà chỉ có một chú thích bên cạnh một câu lệnh chứa con số 1750. Chú thích đó là RIP JSB và mọi người đã nghĩ nát óc về ý nghĩa của nó cho tới khi có người phát hiện ra rằng 1750 là năm mất của Bach và Samson đã viết tắt câu Rest In Peace Johann Sebastian Bach – Chúc yên nghỉ Johann Sebastian Bach.)

Mỹ học trong phong cách lập trình đã xuất hiện. Do dung lượng bộ nhớ giới hạn của chiếc TX-0 (một bất lợi của tất cả các máy tính thời kỳ này), nên các hacker rất trân trọng kỹ thuật sáng tạo cho phép các chương trình thực hiện những tác vụ phức tạp với rất ít dòng lệnh. Chương trình càng ngắn thì càng có chỗ cho các chương trình khác, và nó càng chạy nhanh hơn. Đôi lúc, khi không cần nhiều tốc độ hay không gian, không nghĩ về nghệ thuật và cái đẹp, bạn sẽ cùng hack một chương trình xấu xí, tấn công vấn đề bằng các phương pháp “vét cạn”. “Ừ thì chúng ta có thể làm việc này bằng cách cộng 20 con số lại với nhau,” Samson có thể tự nhủ, “và sẽ nhanh hơn nếu viết các câu lệnh để làm việc đó thay vì nghĩ ra một vòng lặp ngay từ đầu và hoàn thành công việc đó trong bảy hay tám dòng lệnh.” Nhưng chương trình thứ hai sẽ được các hacker khác ngưỡng mộ hơn và có một vài chương trình bị cắt tới dòng cuối cùng một cách nghệ thuật tới mức bạn bè của tác giả chương trình ấy sẽ quan sát nó và thầm kính nể.

Đôi khi việc cắt xén chương trình trở nên cạnh tranh và trở thành một cuộc thi để ai đó chứng tỏ quyền chỉ huy hệ thống của mình khi có thể nhận ra vài cách làm tắt sáng tạo nhằm cắt bỏ một hai dòng lệnh hay tốt hơn là tư duy lại toàn bộ vấn đề và tạo ra một thuật toán mới giúp tiết kiệm cả khối lệnh. (Thuật toán là một thủ tục cụ thể mà một người có thể áp dụng để giải một bài toán phức tạp trên máy tính; giống như một chiếc chìa khóa vạn năng dưới dạng thuật toán.) Điều này có thể được thực hiện bằng cách tiếp cận vấn đề từ một góc độ khác mà chưa ai từng nghĩ tới, nhưng khi hồi tưởng lại thì tất cả đều rất hợp lý. Chắc hẳn đã có một xung lực đậm chất nghệ thuật nằm trong những người có thể tận dụng kỹ thuật thiên-tài-đến-từ-sao-Hỏa này – một thứ ma lực đen, có tầm nhìn cho phép họ bỏ qua lối mòn cũ rích của những bộ óc vĩ đại nhất Trái đất và đưa ra một thuật toán mới đầy bất ngờ.

Điều này đã xảy ra với chương trình in số thập phân thông thường. Đây là chương trình con – một chương trình nằm trong một chương trình khác mà đôi khi bạn có thể tích hợp vào nhiều chương trình khác nhau – để dịch các số nhị phân mà máy tính cung cấp thành các số thập phân thông thường. Theo cách nói của Saunders, vấn đề này trở thành “con tốt của lập trình – nếu có thể viết một chương trình in số thập phân hiệu quả, tức là bạn đã có đủ kiến thức máy tính để tự xưng là lập trình viên.” Nếu bạn viết một chương trình con in số thập phân rất tốt, bạn có thể tự xưng là hacker. Hơn cả một cuộc thi, việc cắt giảm đến cùng của chương trình con in số thập phân đã trở thành một dạng Chén Thánh đối với các hacker.

Nhiều phiên bản khác nhau của các chương trình con in số thập phân đã xuất hiện trong vài tháng. Nếu bạn giả vờ ngây ngô hay giả làm một gã khờ chính chống – một “kẻ thất bại” toàn tập – bạn sẽ cần tới 100 dòng lệnh để máy tính có thể chuyển đổi ngôn ngữ máy sang số thập phân. Nhưng bất kỳ hacker thực thụ nào cũng có thể cần ít câu lệnh hơn, và cuối cùng, bằng cách tận dụng những thứ tốt nhất của chương trình, cắt giảm câu lệnh ở những chỗ khác nhau, chương trình con này đã được rút gọn chỉ còn khoảng 50 câu lệnh.

Sau đó, mọi chuyện trở nên nghiêm túc. Mọi người sẽ làm việc trong hàng giờ liền, tìm cách thực thi công việc đó với ít câu lệnh hơn. Nó đã trở thành một cuộc đua – một cuộc săn lùng. Với tất cả nỗ lực đã bỏ ra, dường như không ai có thể vượt qua rào cản 50 dòng. Câu hỏi đặt ra là liệu việc cắt giảm có khả dĩ không. Liệu có một điểm mà ở đó, một chương trình không thể bị cắt giảm thêm nữa?

Trong số những người đang vật lộn với tình thế tiến thoái lưỡng nan này có một người tên là Jensen, một hacker với dáng người cao ráo và ít nói đến từ Maine, người sẽ ngồi yên lặng trong Phòng Kluge và viết nguệch ngoạc các dữ liệu in ra với thái độ bình tĩnh của một người từng sống ở rừng đang đốn củi. Jensen luôn tìm cách nén chương trình của mình về mặt thời gian và không gian – mã nguồn của anh là một chuỗi rất kỳ lạ các hàm số học và Boolean 16 trộn lẫn với nhau, thường dẫn tới một vài tính toán khác xảy ra trong những khu vực khác nhau của cùng một “từ” 18 bit. Đây quả là những điều đáng kinh ngạc và là những nỗ lực tuyệt vời.

16 Một kiểu dữ liệu chỉ có hai giá trị duy nhất: đúng và sai. (ND)

Trước Jensen, người ta vẫn cho rằng thuật toán logic duy nhất cho một chương trình con in số thập phân sẽ khiến máy tính lặp lại các phép tính trừ, sử dụng một bảng gồm các bội số của 10 để giữ các con số trong các cột số thích hợp. Bằng cách nào đó, Jensen đã phát hiện ra rằng bảng bội-số-của-10 không cần thiết; anh đã tạo ra một thuật toán có thể chuyển đổi các con số theo thứ tự đảo ngược, nhưng bằng một mánh khóe nào đó, lại có thể in chúng ra theo thứ tự chính xác. Có một sự điều chỉnh toán học phức tạp chỉ rõ ràng với các hacker khác khi họ thấy chương trình của Jensen được đăng trên một bản tin, để nói với họ rằng chương trình in số thập phân của ông đã đạt được giới hạn của nó. 46 câu lệnh. Mọi người sẽ há hốc mồm khi dán mắt vào mã nguồn ấy. Marge Saunders nhớ lại rằng các hacker đã im lặng đến bất thường vài ngày sau đó.

“Chúng tôi biết rằng mọi việc đã kết thúc,” Bob Saunders sau này nói lại. “Đó chính là Niết Bàn.”

Máy tính có thể khiến cuộc sống của bạn tốt đẹp hơn

Niềm tin này là một điều hiển nhiên tế nhị. Hacker hiếm khi cố gắng áp đặt quan điểm của mình về lợi ích vô tận của máy tính vào một người ngoại đạo. Dù vậy, tiền đề này vẫn chi phối các hành vi hằng ngày của những hacker TX-0 cũng như các thế hệ hacker sau.

Hẳn là máy tính đã làm thay đổi cuộc sống của họ, khiến nó trở nên phong phú hơn, đem lại sự tập trung và mang tới nhiều cuộc phiêu lưu hơn. Nó đã biến họ trở thành những bậc thầy của một đoạn đường đời. Sau này, Peter Samson nói rằng: “25-30% những gì chúng tôi làm đều có chủ đích bởi đó là những gì chúng tôi có thể làm và làm tốt, và 60% là để có được “những đứa con” theo lối nói ẩn dụ, sẽ tự làm mọi việc khi chúng tôi đã hoàn thành. Đó là điều tuyệt vời của lập trình, sự hấp dẫn kỳ diệu mà nó mang lại… Một khi bạn đã sửa đổi vấn đề hành vi [một chương trình hay một chiếc máy tính] thì nó sẽ được sửa đổi mãi mãi, và nó chính xác là hình ảnh bạn muốn hình dung.”

Giống như cây đèn thần của Aladdin, bạn có thể khiến nó thực hiện mệnh lệnh của mình.

Chắc hẳn mọi người đều có thể hưởng lợi từ trải nghiệm quyền lực này. Chắc hẳn mọi người đều có thể hưởng lợi từ một thế giới dựa trên Đạo đức Hacker. Đây là đức tin ngầm định của các hacker và họ đã mở rộng quan điểm thường quy về việc máy tính có thể làm gì và nên làm gì – dẫn dắt thế giới đến với một cách thức mới về việc nhìn nhận và tương tác với máy tính.

Thực hiện việc này chẳng dễ dàng gì. Ngay tại học viện tiên tiến như MIT, một vài giáo sư cũng coi sự hấp dẫn bất thường với máy tính là phù phiếm và thậm chí là mất trí. Hacker của TMRC, Bob Wagner, đã phải giải thích với một giáo sư công nghệ rằng máy tính là gì. Wagner thậm chí đã trải qua cuộc đụng độ giữa phe máy tính và phản máy tính một cách sống động hơn khi tham gia một lớp Phân tích Số học mà ở đó, giáo sư yêu cầu mỗi sinh viên làm bài tập về nhà bằng những chiếc máy tính cơ điện lạch cà lạch cạch. Kotok cũng ở lớp đó và cả hai đã vô cùng kinh hoàng trước viễn cảnh làm việc với những cỗ máy công nghệ lạc hậu này. Họ tự hỏi: “Tại sao chúng ta phải làm vậy trong khi đã có chiếc máy tính điện toán này chứ?”

Do đó, Wagner bắt đầu tập trung vào chương trình điện toán mô phỏng hành vi của máy tính. Ý tưởng này khá kỳ quặc. Với một số người thì đây là hành động biển thủ thời gian quý báu của cỗ máy. Theo tư duy tiêu chuẩn về máy tính, thời gian của chúng quý báu tới mức chúng ta chỉ nên cố gắng tận dụng tối đa lợi thế của nó, những việc mà nếu không có máy tính sẽ khiến các nhà toán học tiêu tốn nhiều ngày để thực hiện các tính toán vô nghĩa. Hacker thì nghĩ khác: Bất kỳ thứ gì có vẻ thú vị hoặc vui vẻ đều là cảm hứng cho điện toán máy tính – và bằng cách sử dụng những máy tính điện toán tương tác, không có ai đứng nhìn sau lưng và đòi hỏi giấy phép cho dự án cụ thể của bạn, thì bạn có thể hành động dựa trên niềm tin đó. Sau hai hoặc ba tháng vật lộn với sự rắc rối của các tính toán dấu phẩy động (rất cần để cho phép chương trình biết cách đặt dấu thập phân ở chỗ nào) trên một cỗ máy không hề có phương pháp đơn giản nào để thực hiện phép nhân sơ đẳng, Wagner đã viết 3.000 dòng lệnh để thực hiện công việc đó. Anh đã khiến cỗ máy tính đắt đỏ đến lố bịch thực hiện chức năng của một chiếc máy tính giản đơn có giá chỉ bằng một phần nghìn. Để vinh danh sự trớ trêu này, anh gọi chương trình đó là “Chiếc máy tính Để bàn Đắt đỏ” và tự hào làm bài tập về nhà trên đó.

Anh nhận được điểm 0. “Vì cậu đã sử dụng máy tính điện toán!” vị giáo sư cho biết. “Điều này không thể chấp nhận được.”

Wagner chẳng buồn giải thích. Làm sao anh có thể nói với thầy rằng máy tính điện toán đã tạo ra những thực tại từ những thứ từng là các khả năng lạ thường? Hay rằng một hacker khác thậm chí đã viết một chương trình gọi là “Chiếc máy chữ Đắt đỏ” để biến chiếc TX-0 thành thứ mà bạn có thể gõ và xử lý văn bản của bạn thành chuỗi các ký tự và in ra trên máy Flexowriter – bạn có thể tưởng tượng nổi một giáo sư sẽ chấp nhận bài làm được viết bằng một chiếc máy tính điện toán không? Làm sao vị giáo sư này – hay ai đó chưa từng đắm mình vào vũ trụ người-máy chưa được thám hiểm này – có thể hiểu được Wagner và các hacker đồng nghiệp của anh luôn sử dụng máy tính điện toán để tái tạo thứ mà theo Wagner là “các tình huống kỳ lạ mà ta chắc chắn không thể mường tượng khác được” bằng cách nào? Vị giáo sư đó, cũng như tất cả mọi người, cuối cùng sẽ hiểu ra rằng thế giới sắp được máy tính điện toán mở ra là một thế giới vô hạn.

Nếu có người cần bằng chứng xác thực hơn, bạn có thể nhắc tới dự án mà Kotok đã nghiên cứu trong Trung tâm Máy tính hoặc chương trình đánh cờ mà vị giáo sư AI râu xoăn, “bác” John McCarthy, đã khởi tạo trên chiếc IBM 704 khi anh bắt đầu có tiếng tăm trong giới sinh viên hacker. Dù Kotok và một vài hacker đồng hành cùng anh trong quá trình xây dựng chương trình rất coi thường năng lực xử lý theo lô của IBM, nhưng họ vẫn xoay xở để xin vài giờ sử dụng nó vào tối muộn. Kotok và các bạn đã cùng với các lập trình viên hệ thống trên chiếc 704 “đua” xem nhóm nào sử dụng máy trong thời gian nhiều hơn. Vị trí dẫn đầu được luân phiên thay đổi, và nhóm sơ-mi-trắng-cà-vạt-đen đã gây được ấn tượng đủ để thực sự cho phép Kotok và nhóm chạm vào các nút bấm, khởi động chiếc 704: Đây là sự tiếp xúc hiếm hoi với con quái vật được ca tụng của IBM.

Vai trò của Kotok trong việc đưa chương trình đánh cờ vào cuộc sống là minh chứng cho thấy vai trò của hacker trong AI: một Tư tưởng Lớn như McCarthy hoặc đồng nghiệp của anh, Marvin Minsky, sẽ bắt đầu một dự án hay lớn tiếng khẳng định liệu điều gì đó có khả dĩ hay không, và các hacker quan tâm sẽ bắt tay thực hiện nó.

Chương trình chơi cờ đã bắt đầu sử dụng FORTRAN, một trong những ngôn ngữ lập trình thời kỳ đầu. Các ngôn ngữ máy tính trông giống tiếng Anh hơn hợp ngữ, dễ viết hơn, và làm được nhiều việc hơn với ít câu lệnh hơn; tuy nhiên, mỗi khi một câu lệnh được đưa ra dưới dạng ngôn ngữ máy tính như FORTRAN, đầu tiên nó sẽ phải dịch câu lệnh đó thành ngôn ngữ nhị phân của riêng nó. Một chương trình có tên “trình biên dịch” sẽ làm việc này và đòi hỏi phải mất thời gian xử lý, cũng như tiêu tốn bộ nhớ quý giá trong máy tính. Hệ quả là, việc sử dụng ngôn ngữ máy tính sẽ khiến bạn rời xa khỏi việc tương tác trực tiếp với nó, và các hacker nhìn chung đều thích hợp ngữ, hay như cách họ gọi là ngôn ngữ “máy” hơn so với các ngôn ngữ “bậc cao” như FORTRAN.

Dù vậy, Kotok đã nhận ra rằng do máy tính phải xử lý một lượng lớn các con số trong chương trình cờ vua, nên một phần của chương trình sẽ phải được thực hiện bằng FORTRAN và một phần bằng hợp ngữ. Họ đã hack từng phần chương trình bằng “các hàm tạo nước đi”, các cấu trúc dữ liệu cơ bản, và tất cả các thuật toán sáng tạo dùng trong chiến thuật. Sau khi cung cấp cho máy tính các quy tắc di chuyển cho mỗi loại quân cờ, họ cho nó một vài tham số để ước tính tình thế của nó, cân nhắc một vài nước đi, và thực hiện nước đi mang lại cho nó nhiều lợi thế nhất. Kotok đã gắn bó với công việc này nhiều năm trời, và chương trình tiếp tục phát triển khi MIT nâng cấp các máy tính IBM của mình. Vào một đêm đáng nhớ, vài hacker đã tụ tập để xem chương trình thực hiện vài nước đi đầu tiên trong một ván đấu thực sự. Phần khai cuộc của máy tính khá tốt, nhưng sau khoảng tám nước đi, đã có một vấn đề thực sự nảy sinh khi máy tính sắp bị chiếu hết. Mọi người đều tự hỏi máy tính sẽ phản ứng như thế nào. Một lúc sau, (mọi người đều biết rằng trong suốt khoảng dừng đó, máy tính đang thực sự “tư duy”, nếu cách nghĩ của bạn về tư duy bao gồm việc cân nhắc vài nước đi một cách máy móc, ước lượng chúng, bỏ qua hầu hết lựa chọn và sử dụng một tập các tham số định trước để đưa ra lựa chọn cuối cùng), máy tính di chuyển một con tốt tiến lên hai ô, phạm luật khi nhảy qua một quân cờ khác. Đây là một lỗi chương trình! Nhưng là một lỗi thông minh khi nó giúp máy tính không bị chiếu. Có lẽ, chương trình này đã tìm ra một thuật toán mới nào đó để chinh phục bộ môn cờ vua.

Ở những trường đại học khác, các giáo sư đang đưa ra tuyên bố công khai rằng máy tính không bao giờ có thể chiến thắng con người trong môn cờ vua. Nhưng các hacker là người hiểu rõ điều này hơn ai hết. Họ sẽ là những người hướng dẫn máy tính đi tới các đỉnh cao vĩ đại mà con người có thể trông đợi. Và hacker, qua các liên kết đầy ý nghĩa và tốt đẹp với máy tính, sẽ trở thành những người thụ hưởng đầu tiên.

Nhưng họ không phải là những người thụ hưởng duy nhất. Tất cả mọi người đều có thể thu được thứ gì đó bằng cách sử dụng các máy tính tư duy trong một thế giới tự động hóa về mặt trí tuệ. Và chẳng phải thậm chí mọi người còn được hưởng lợi nhiều hơn khi tiếp cận thế giới với mức độ tò mò và chủ nghĩa hoài nghi tương tự như đối với tính quan liêu, cởi mở với sáng tạo, không ích kỷ khi chia sẻ thành tựu, sự háo hức muốn thực hiện cải tiến và khát khao xây dựng như những người ủng hộ Đạo đức Hacker hay sao? Bằng cách chấp nhận những người khác trên cùng cơ sở khách quan mà ở đó, máy tính chấp nhận bất kỳ ai đưa mã nguồn vào một chiếc Flexowriter ư? Chẳng phải chúng ta sẽ được hưởng lợi nếu học hỏi từ máy tính cách thức tạo ra một hệ thống hoàn hảo, và cạnh tranh vì sự hoàn hảo đó trong một hệ thống nhân văn? Nếu tất cả mọi người đều có thể tương tác với máy tính bằng sự trong sáng, năng suất và thôi thúc sáng tạo như các hacker thì Đạo đức Hacker có thể được lan tỏa trong cả xã hội như gợn sóng của lòng nhân từ, và khi đó máy tính quả thực sẽ thay đổi thế giới theo hướng tốt hơn.

Trong các ranh giới tu viện của MIT, mọi người được tự do sống với giấc mơ này – giấc mơ hacker. Không ai dám mơ tưởng tới việc giấc mơ này có thể lan tỏa. Thay vào đó, mọi người bắt đầu xây dựng ngay một “cõi Niết bàn” dành cho hacker ngay tại MIT, để nó có thể trở thành nơi có một không hai.

« Lùi
Tiến »