Cuộc Hành Trình Đêm Tối

Lượt đọc: 99 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 20

Ban đầu anh chỉ có cảm giác về một sự trống vắng vô hạn. Rồi đến cảm giác nhẹ nhõm. Cuối cùng thì anh cũng đã được giải thoát sau mấy tuần căng thẳng lo âu không thể chịu nổi. Cũng giống như cái đêm anh trốn khỏi Nhà chòi. Nhưng hôm nay cái cảm giác tự do này tỏ ra mạnh hơn nhiều: anh không còn tung tích của mình nữa, và vì thế cũng không còn bất cứ một trách nhiệm nào. Trong giây lát anh không còn là ai nữa, không còn là gì nữa, không còn ở bất cứ đâu nữa. Và anh hài lòng về tình trạng phi tồn tại đó.

Sau đấy dần dần anh bắt đầu hiểu được toàn bộ tình cảnh khủng khiếp của anh. Nỗi hoảng sợ xâm chiếm cơ thể anh. Chẳng bao lâu anh đã phải cắn răng để khỏi la lên.

Anh đang tiến hành một chuyến bay không bao giờ trở lại!

Anh có thể làm một bước nhảy khác, rồi thêm một bước nhảy nữa, và cứ tiếp tục như thế khi nào anh vẫn còn có cái ăn, hoặc cho đến khi anh chết vì già yếu. Những chuyến bay chuyển tiếp tức thời sẽ quẳng anh vào hết chỗ này đến chỗ khác qua những vùng trời sao vô hạn. Nhưng anh có thực hiện bao nhiêu bước nhảy hú họa cũng vô ích, cơ may gặp được một hành tinh có thể ở được hiếm đến nỗi gần như bằng không. Ngồi mãi trên một chiếc ghế, anh sẽ vừa già đi vừa quan sát gần như tất cả mọi hiện tượng biểu hiện của vật chất và năng lượng: những ngôi sao đơn lẻ, những ngôi sao kép, những khối sao, những đám mây khí dị hình, những chòm sao hình bánh xe; nhưng anh đã quên mất một điều là chỉ sau vài tiếng đồng hồ nữa anh sẽ lại trở thành người mù.

Tallon dứt mình ra khỏi vòng xoáy tuyệt vọng thụt lùi rồi nhìn con chó Seymour đang nằm run trên gối anh, người cuộn tròn quanh vết thương đen đặc của nó. Mạch đập ở bụng nó ngày càng nhanh trong khi nó vẫn cố thở, nhưng càng ngày nó càng kiệt sức. Con Seymour sắp chết, Tallon tin chắc như vậy.

Tallon cởi áo vét, gập lại làm thành một kiểu như cái ổ rồi để nó lên bàn điều khiển của hệ thống đẩy phản trọng lực. Anh nhẹ nhàng đặt con chó nhỏ vào ổ. Con Seymour phải khó khăn lắm mới giữ cho mắt mở được, và Tallon thỉnh thoảng lại bị chìm trong bóng tối. Anh đứng lên, đi tìm quanh phòng một chiếc túi cứu thương, trong khi trọng lực nhân tạo làm cho bước chân anh nặng nề. Trường trọng lực đã được tái lập để trả lại cho con người trọng lượng bình thường của nó. Nhưng vì trọng lực nhân tạo được khởi đầu từ những tấm sàn nhà và tuân theo định luật Newton, cho nên phần dưới cơ thể luôn luôn tỏ ra nặng hơn nhiều so với đầu và tay.

Với con mắt cận của con Seymour anh không thể tìm thấy được thuốc cũng như bông băng trong buồng lái. Nếu muốn sang các khoang khác để tìm thì anh phải đem con chó đi theo. Tallon có vẻ do dự. Anh cần phải tìm được thức ăn. Tốt hơn hết là anh phải tổ chức mọi việc trong khi mà anh vẫn còn có thể nhìn thấy được những gì mình làm.

- Tha thứ cho ta nhé, Seymour, đây sẽ là công việc cuối cùng của mi.

Tallon thận trọng bế con chó săn lên rồi đi về phía sau tàu.

Về đại thể con tàu Lyle Star được chế tạo như một con tàu chở hàng. Buồng lái chiếm tầng trên ở phía trước trong mũi tàu. Phần lớn các động cơ đẩy được đặt ở phía đuôi tàu. Ở giữa tàu có một khoảng không gian hình trụ rộng lớn được dành để chứa hàng hóa. Ở phía trước tàu, ngoài buồng lái còn có phòng ở của đội bay, có buồng chứa lương thực thực phẩm và các thứ đồ dự phòng khác. Và ở tầng dưới có các dụng cụ du hành vũ trụ, có các máy phát dùng để tiếp liệu cho các hệ thống nội bộ của con tàu, cùng các dụng cụ, đồ dùng và các kho hàng dự trữ đủ các loại. Ở phía sau buồng lái có một chiếc cầu nhỏ nằm vắt ngang bên trên các khoang hầm rộng mênh mông phía dưới. Các khoang hầm này chứa đầy các kiện rau khô giàu vitamin nằm ở gần đuôi tàu. Nhưng các khoang nằm ở phần trước thì hoàn toàn trống rỗng, các cuộn dây dùng để bó hàng đang được gấp gọn gàng trong các hốc của chúng. Tallon biết rằng trên tàu có vũ khí, nhưng anh không nhận ra được bất cứ một hệ thống phòng thủ hoặc tấn công nào và từ đó anh kết luận rằng chắc là Trung tâm đã sử dụng một loại vũ khí hiện đại và tinh vi hơn nhiều so với loại mà anh đã nhìn thấy lần cuối cùng khi anh lên một trong những con tàu vũ trụ của Trung tâm.

Anh đi kiểm tra một lượt căn bếp nhỏ, xem xét kho lương thực, đọc bản kiểm kê các kho hàng dự trữ, và anh phát hiện ra rằng anh có đủ đồ dự trữ để sống trong vòng mười lăm năm.

Cái ý tưởng về việc phải sống trong bóng tối một quãng thời gian lâu như thế để rồi sau đó sẽ chết vì đói đã làm cho anh chán nản một cách ghê gớm. Anh vội vã ra khỏi bếp, mở các cánh cửa khác và chỉ liếc qua những căn phòng trống.

Thật là một kết cục khủng khiếp, - anh nghĩ. - Phải chết một cách quá thê thảm và vô ích. Từ khi con người học được cách phóng các con tàu hàng lên vũ trụ, thì trong vũ trụ đã ngập đầy những vỏ tàu kim loại chứa đựng tất cả những thứ mà người ta có thể tưởng tượng ra được, kể từ những ống nghiệm đựng đầy vi khuẩn cho đến những quả tên lửa mang đầu đạn hạt nhân. Nhưng một sinh vật có lý trí, đến từ một cõi xa lạ, khi tình cờ gặp con tàu Lyle Star , có thể tìm thấy trong bụng nó một mẫu rác vũ trụ mà anh ta chưa bao giờ tìm thấy: một con người có hai cái nút nhựa màu nâu thay cho hai con mắt, đang lang thang trong một con tàu rỗng, bế một con chó đang chết trên tay.

Nhưng tất nhiên không có một sinh vật nào đến từ nơi khác lọt vào con tàu này. Người ta đã phóng lên vũ trụ hàng triệu tàu thăm dò, nhưng không bao giờ có một con tàu nào đem về một bằng chứng cho thấy rằng những sinh vật có lý trí...

Choang! Có tiếng kim loại va đập vang lên ở gần cửa thông áp! Tiếng vọng âm vang một lúc lâu rồi mất dần trong khoang hầm rộng lớn.

Tallon suýt ngất xỉu vì choáng váng, bởi lẽ các sợi dây thần kinh của anh đã phải chịu thử thách quá nhiều rồi. Lúc ấy anh đang có mặt ở một hành lang hẹp thông phòng dẫn đến chiếc cầu nhỏ bắc qua hầm tàu. Như vậy anh có thể thấy được cái gì đã gây ra tiếng động nếu anh ra tới đó và nhìn qua lan can cầu. Anh thận trọng bước tới cái khung cửa hình chữ nhật mờ tối rồi khe khẽ bước ra cầu. Có một bóng đen đang di động ở tầng dưới, cách không xa cánh cửa trong của buồng thông áp.

Đó là Lorin Cherkassky.

Hắn ngước mắt lên, Tallon nhận thấy rằng trên trán hắn có một vết xước dài nhuốm máu và tay hắn đang cầm một khẩu súng ngắn. Họ im lặng nhìn nhau trong mấy giây ghê rợn. Sau đó Cherkassky mỉm cười với một vẻ mỉa mai lạnh lùng và cái đầu hắn lắc lư chầm chậm trên cái cổ dài như cổ gà tây. Tallon bất giác lùi lại một bước.

- Thế là ta tìm thấy mi rồi, Tallon, - Cherkassky nhã nhặn nói. - Và cả anh bạn bé nhỏ của mi nữa.

- Mi đừng có hòng trèo lên, - Tallon không biết nói gì hơn.

Cherkassky tựa lưng vào bức tường kim loại, miệng vẫn mỉm cười.

- Tallon, chúng ta chỉ gặp nhau có hai lần, và lần nào mi cũng muốn giết ta. Vừa rồi nếu mi ngắm thấp xuống một chút thì ta đã đi đời rồi.

- Tao vẫn còn đạn, - Tallon đáp, hy vọng kẻ kia không đoán được là anh nói dối.

- Nếu thế thì thật ngu ngốc là mi đã bỏ rơi khẩu súng xinh xắn kia. Ta nghĩ là mi đã nghe thấy ta đá khẩu súng văng vào hầm tàu như thế nào. Nếu ta biết là nó vẫn còn đạn thì ta đã thận trọng hơn khi mà...

- Thôi đủ rồi, Cherkassky, mi quá đáng lắm, mi thật thiếu tế nhị...

Anh vừa hấp tấp chạy vào lối hành lang thông phòng vừa tự hỏi mình có thể dùng cái gì để tự vệ. Anh cần phải kiếm một cái gì đó để ném vào kẻ thù. Anh chạy vào bếp, và, với một tay bận bế con chó, anh dùng tay kia hối hả mở những chiếc tủ và ngăn kéo. Ở đây không có một con dao phay nào, còn những con dao thông thường thì đều được làm bằng chất dẻo. Giây phút cứ trôi đi nhanh chóng. Và hai con mắt của con Seymour đang gần như khép kín chỉ cho phép anh nhìn thấy những hình ảnh xam xám lờ mờ.

Đồ vật duy nhất có thể có ích cho anh là mấy cái hòm to đựng đồ hộp hoa quả để ở gần một chiếc tủ dự trữ thực phẩm. Anh thử nâng chiếc hòm chỉ bằng một tay, nhưng nó tuột khỏi tay anh lăn xuống đất. Thế là anh đặt con Seymour xuống, cố bê mấy cái hòm lên rồi chạy ra hành lang mà chẳng nhìn thấy gì cả. Anh vừa chạy về buồng lái vừa đợi một viên đạn găm vào sống lưng. Sau khi chạy được vào buồng lái rồi anh lóng ngóng chỉnh máy nhìn cho đến khi anh bắt được mắt của gã Cherkassky.

Anh nhận được một hình ảnh rõ nét và bất động của lối đi thông phòng nhìn từ đầu đằng kia, và anh hiểu rằng Cherkassky đã leo lên tới chiếc cầu vắt qua hầm tàu và đã nhìn anh chạy mà không bắn. Như vậy điều đó có nghĩa là Cherkassky đã quyết định biến cuộc truy kích thành một cuộc thử sức. Tallon bê một chiếc hòm nặng đựng đồ hộp lên, thận trọng bước tới gần cửa ra vào rồi lấy hết sức ném chiếc hòm ra hành lang. Bằng con mắt của Cherkassky, anh nhìn thấy bàn tay anh xuất hiện và thấy chiếc hòm quay tròn trong không khí. Cherkassky tránh được đường đi của nó không khó khăn gì, và chiếc hòm rơi xuống hầm tàu gây lên tiếng động vang khắp con tàu.

Tallon sờ soạng tìm một chiếc hộp khác. Anh quyết định đợi cho Cherkassky vào hẳn trong hành lang, điều đó sẽ làm cho hắn không kịp nhận ra và không tránh kịp quả đạn ứng tác của anh. Đứng tựa lưng vào tường, Tallon nhìn thấy hành lang đang tiến đến sát gần, nhìn thấy cái khung cửa hình chữ nhật của buồng lái đang dần dần hiện to ra. Đến trước cửa ra vào của căn bếp, Cherkassky quay đầu nhìn, Tallon liền nhận được cảnh mấy chiếc tủ và ngăn kéo để mở bừa bộn. Và anh cũng nhìn thấy con Seymour đang lê bước trên sàn nhà, con vật tội nghiệp vừa nhe răng vừa cố sủa một cách nực cười. Anh đoán ngay chuyện gì sẽ xảy ra.

- Seymour, - anh thét lên, - lùi lại, nằm xuống!

Anh chỉ còn biết cách thét to mà không làm gì được. Anh nhắm mắt cũng chẳng xóa đi được những hình ảnh mà anh nhận được qua con mắt của gã Cherkassky. Thế là anh đành phải bất lực đứng đó nhìn qua đường ngắm của khẩu súng ngắn bằng mắt của Cherkassky. Một tiếng súng vang lên, và xác con Seymour bị xé nát văng vào bức tường ở cuối phòng.

Tallon bước một bước ra khỏi phòng rồi lấy hết sức quăng mạnh một chiếc hộp. Anh nghe thấy một tiếng đập khô đục như thể nó đụng phải một vật mềm. Thế là với một lòng căm hận sục sôi, anh lao ra lối đi thông phòng. Những vách tường kim loại quay cuồng khi anh va vào Cherkassky. Hai người ôm nhau lăn tới tận mép cầu; sau đó họ va vào lan can cầu và lại lăn lộn ngược trở lại suốt chiều dài của lối đi. Trong khi vật lộn, chiếc máy nhìn bị đẩy ngược lên trán Tallon; anh không còn nhìn thấy gì nữa, nhưng anh mặc kệ. Anh đánh nhau giáp lá cà với Cherkassky, và trong đầu anh vang lên một lời thôi thúc là trên đời sẽ không có gì ngăn cản được anh hoàn thành cái nhiệm vụ giết người này.

Nhưng anh đã lầm.

Nếu như anh sử dụng các kỹ thuật đánh nhau học được ở Trung tâm Tình báo thì chắc là anh đã có thể giết chết được Cherkassky trong vòng vài giây, nhưng các ngón tay của anh lại tuân theo một lối đánh cổ xưa hơn, tức là siết chặt cổ họng kẻ thù. Anh cảm thấy cái cơ thể của kẻ thù nằm dưới người anh đang lấy lại được sức mạnh giống y như cái sức mạnh mà hắn đã chứng tỏ vào cái đêm cách đây đã lâu lắm khi họ cùng rơi từ trên cửa sổ khách sạn xuống đất. Con người này tỏ ra có những cơ bắp bằng thép. Bằng cách sử dụng một miếng đỡ cổ điển nhất, hắn giơ hai cánh tay lên tách được hai tay Tallon và đẩy mạnh anh ra. Hắn đã thoát được khỏi tay anh. Tallon định giữ không cho hắn lùi ra xa, bởi vì khi ấy Cherkassky sẽ có lợi thế hơn anh, nhưng tên này đã quai cho anh mấy cú báng súng làm anh tê dại cả hai tay. Anh đã phải mất một giây quý giá để hạ máy nhìn xuống sống mũi, để rồi anh biết rằng đúng vào lúc anh làm như thế thì cuộc vật lộn cũng đã chấm dứt, rằng anh đã thua.

Tất nhiên Cherkassky sẽ không bỏ qua một cơ hội thuận lợi như thế này để kết liễu kẻ thù, và Tallon vừa kịp lấy lại được thị giác thì nhìn thấy họng súng ngắn chĩa vào thái dương anh. Anh ngã ngửa người vào buồng lái, cổ họng nghẹn lại. Một lần nữa anh lại nhìn thấy đường ngắm khẩu súng của Cherkassky chĩa vào người anh. Hắn đang ngắm vào bụng anh, sau đó ngắm vào đầu, rồi lại ngắm vào bụng.

- Mi đã làm được những gì mà mi muốn làm từ bấy lâu nay, Tallon ạ, - hắn bình tĩnh nói. - Mi đã gặp may. Theo một nghĩa nào đó thì ta cảm thấy vui sướng vì điều này. Hạ một tên tù binh tầm thường sẽ làm hại danh tiếng của ta trước Quan Điều tiết đáng kính của bọn ta. Nhưng mi đã gây ra cho bọn ta nhiều điều phiền toái đến nỗi nếu như ta có giết mi thì cũng sẽ chẳng có ai oán trách ta.

Tallon vừa thở hổn hển vừa lăn người khi anh nhìn thấy ngón tay của Cherkassky co lại trên cò súng.

Sau đó anh bỗng nghĩ ra rằng đối thủ của anh vẫn còn tin là hắn có thể ra khỏi được con tàu. Anh hiểu rằng anh vẫn còn một hy vọng cuối cùng để thoát khỏi cơn nguy khốn.

- Hãy khoan... hãy khoan nào, - anh vừa cố lấy sức để nói vừa khó nhọc thở.

- Vĩnh biệt, Tallon.

- Hãy khoan, Cherkassky... có một việc mà mi không biết... mi hãy nhìn các màn hình đi!

Cherkassky liếc nhanh về phía hình ảnh những chòm sao lạ đang xuất hiện trên nền trời đen của màn hình. Hắn lại nhìn Tallon. Rồi không cưỡng nổi tò mò hắn lại quay sang nhìn những chiếc màn hình.

- Lại một mánh khóe nữa của mi, - hắn nói bằng một giọng không hoàn toàn bình thường nữa. - Mi không thể...

- Có đấy. Chúng ta đã nhảy vào một cõi xa lạ không có đường trở về, - Tallon vừa đáp lại vừa cố lấy lại hơi thở. - Như vậy là mi đã nói đúng khi bảo rằng nếu mi có giết ta thì cũng sẽ không làm hại đến danh tiếng của mi. Bởi vì sẽ chẳng bao giờ còn có ai biết đến điều đó nữa, Cherkassky ạ.

- Mi nói dối. Những chiếc màn hình kia có thể đang chiếu những cảnh được quay từ một chuyến bay khác.

- Vậy thì mi hãy nhìn ra cửa kính xem. Làm sao mi lại tin rằng bọn ta có thể phóng được tàu lên không trung bất chấp hàng rào đại bác và máy phóng lade mà bọn mi đã giăng ra?

- Họ biết là tao đang ở trên tàu. Họ sẽ không bắn.

- Họ đã bắn. Và tao đã phải nhảy vào hệ phi không gian.

- Không, - Cherkassky lẩm bẩm, - họ không thể bắn được. Không thể bắn vào ta .

Tallon phóng một chân ra làm Cherkassky ngã vào người anh. Lần này anh lạnh lùng đánh một cách có hiệu quả, quên đi tất cả nỗi sợ hãi và lòng căm hận, quên đi cả những tiếng súng, quên cả một điều rằng con mắt sống của kẻ thù là cánh cửa duy nhất còn lại để cho anh nhìn thấy ánh sáng, thấy cái đẹp, thấy những vì sao.

Tallon đã khép lại vĩnh viễn cái cánh cửa này.

« Lùi
Tiến »