Cuộc Hành Trình Đêm Tối

Lượt đọc: 101 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 21

Anh có thể muốn chết. Thậm chí anh có thể nằm dài ra đất gọi cái chết và đợi nó đến. Nhưng cuối cùng một việc duy nhất vẫn xảy ra: anh vẫn tiếp tục phải sống.

Phải dần dần Tallon mới phát hiện ra điều đó trong những giờ phút kéo dài khi anh lang thang trong con tàu im ắng.

Đối với anh, con tàu Lyle Star đã trở thành một bọt nước rạng rỡ treo lơ lửng trong cõi tối tăm vô hạn. Bản thân anh chỉ còn là một nguyên tử tăm tối trôi trong không gian cùng với một vũ trụ ánh sáng tí xíu với những giới hạn được xác định rõ ràng.

Không có cái gì vô ích hơn là kéo dài tình cảnh này trong vòng mười lăm năm. Dù sao anh cũng đang thấy đói. Trên tàu có thức ăn. Vậy tại sao anh lại không ăn nhỉ?

Anh suy nghĩ về điều này. Đây là một mục đích ngắn hạn. Sau khi cái mục đích ban đầu ấy đã đạt được rồi thì anh sẽ phải làm gì? Không, anh không nên suy nghĩ theo kiểu như vậy. Nếu anh cứ tiếp tục tồn tại bằng cách đặt ra một loạt mục đích ngắn hạn, thì anh sẽ phải quên đi cái lôgic được gắn một cách thông thường với việc tìm kiếm các mục đích dài hạn. Anh thấy đói. Anh nấu một cái gì đó. Anh ăn. Sau đó có thể anh cảm thấy mệt. Anh đi ngủ. Khi tỉnh dậy anh lại thấy đói...

Anh bỏ kính nhìn ra. Nhưng anh cảm thấy đôi mắt bằng chất dẻo của anh trở nên trần trụi khi không có kính bảo vệ. Thế là anh lại đeo nó vào.

Mục đích ngắn hạn đầu tiên của cuộc sống mới này là dọn sạch chỗ ở. Anh đi tìm cái xác mềm nhũn của Cherkassky. Anh tìm thấy nó rồi kéo nó đến tận buồng thông áp, đặt nó dựa vào cánh cửa trong. Anh phải mất nhiều phút đồng hồ mới đặt được cái xác sao cho nó có thể bị quẳng ra ngoài cùng với lượng không khí vẫn còn có trong buồng. Ngay cả trong những hoàn cảnh bình thường thì một cái xác chết cũng đã không phải là một người bạn đường tốt. Một khi nó đã ở bên ngoài máy điều áp rồi thì nhìn nó sẽ còn khó chịu hơn nữa.

Sau khi anh cảm thấy cái xác đã được đặt vào một vị trí vừa ý rồi thì anh quay sang đi tìm con chó Seymour. Anh đặt cái di hài bé nhỏ đáng thương lên gối Cherkassky.

Sau đó anh quay trở lại buồng lái. Anh có thể dùng tay sờ để nhận ra những cái nút bấm và cần gạt điều khiển cơ chế mở cửa buồng thông áp.

Thế là lại thêm hai nhân vật của vở kịch kết thúc vai diễn của mình, - anh tự nhủ. - Chỉ còn lại một mình anh chàng Sam Tallon trên sân khấu. Winfield là nhân vật ra đi trước tiên. Sau đó là Hélène với mái tóc hung và đôi mắt màu rượu uýtxky. Nói cho cùng thì có thể nàng chưa chết. Nhưng anh không biết làm thế nào để biết được sự thật về điều này. Anh lại đi lạc đề vào những lĩnh vực cấm. Đáng ra anh không nên nghĩ đến những sự việc như thế này nữa.

Thế là anh đi xuống bếp. Anh lấy mấy thùng đồ hộp trong tủ rồi mở ra. Một khi xác định được mỗi chiếc hộp chứa thức gì thì anh cố ghi nhớ chính xác nó được lấy ra từ chỗ nào. Chán ngán vì phải ăn cá từ mấy năm nay, bây giờ anh quyết định làm một miếng bíttết. Trong khi nấu nướng anh tìm thấy một chiếc tủ lạnh chất đầy những hộp nhựa đựng bia. Anh cảm ơn Thượng Đế là đã tạo cho hành tinh Parane, nơi con tàu Lyle Star xuất phát, có dồi dào protein và ở đó người ta biết thừa nhận rằng rượu bia có công dụng của nó.

Sau đó anh ngồi vào bàn ăn bữa cơm đầu tiên trong cái không gian vũ trụ xa lạ và thù nghịch. Sau khi ăn xong anh quẳng bát đĩa và những đồ dùng bằng nhựa đi.

Rồi anh lại ngồi xuống. Ngồi để chờ đợi những việc chẳng bao giờ xảy ra.

Một lát sau anh buồn ngủ, thế là anh đi tìm một chiếc ghế nằm. Anh nằm mãi mới ngủ được. Bởi vì anh đang ở cách xa thế giới giống loài của anh hàng nghìn năm ánh sáng.

Anh cựa quậy và ngủ liền trong suốt bốn ngày. Sau đó anh đi đến kết luận là nếu cứ tiếp tục tồn tại như thế thì anh sẽ phát điên lên mất. Thế là anh quyết định tìm cho mình một mục đích dài hạn để đem lại một ý nghĩa cho cuộc sống. Cho dù việc đó có thể sẽ choán hết thời gian còn lại của cuộc đời anh. Cho dù cái mục đích đó tỏ ra là không thể đạt được.

Anh bước vào buồng lái và vừa đưa ngón tay xem xét cái khối trung tâm của máy tính điện tử vừa tỏ ra hối tiếc là đã không nghiên cứu nó kỹ hơn khi anh vẫn còn đủ hai con mắt.

Anh phải mất một thời gian nhất định mới tin chắc được rằng đây là một mô hình tiêu chuẩn. Việc du hành trong hệ phi không gian đòi hỏi một con tàu phải có mặt ở những cửa ải chỉ có bề rộng hai giây ánh sáng. Đến lượt nó, sự chính xác cần thiết cho loại thao tác này đòi hỏi máy tính điện tử cùng toàn bộ các dụng cụ lái tàu cần phải được liên kết với nhau trong một hệ thống điều khiển tự động duy nhất.

Cái hệ thống đó được đặt chương trình để tính đến mọi sự biến thiên trong phạm vi bầu trời được nhận thức, ví dụ như một ngôi sao có độ sáng biến thiên. Nhưng người ta cũng đã có những sự chuẩn bị cần thiết để cho việc xác định tọa độ không bị sai lạc bởi những hiện tượng hiếm hoi và bất ngờ như các ngôi sao mới và các ngôi sao mới cực sáng. Chính vì thế mà các bảng điều khiển của bộ phận nhập dữ liệu có thể cho phép ta truy cập bộ nhớ mà trong đó có những lời chỉ dẫn cùng với những điều khác nữa. Cái cách liên lạc với các dữ liệu như thế này đã không thay đổi kể từ buổi đầu thời đại du hành qua hệ phi không gian. Tallon đã nghe nói rằng sở dĩ người ta vẫn duy trì cái hệ thống tương đối sơ đẳng đó chỉ vì một lý do duy nhất là nó cho phép một kỹ sư tương đối tinh thông biến một con tàu vũ trụ thành một con tàu thăm dò vũ trụ.

Nói một cách khác, ý tưởng của các công trình sư khi họ chế tạo nguyên mẫu của con tàu này được trình bày như sau: con tàu được bảo hành về mặt cấu tạo và nó sẽ luôn luôn đưa anh đến nơi nào mà anh cần đi đến; trong trường hợp ngược lại, anh chỉ còn cách cố phát hiện ra một thế giới mới trong chừng mực mà anh còn ở trên không trung.

Bản thân Tallon chưa bao giờ nghiên cứu vấn đề này, nhưng anh sẵn sàng tin tưởng vào tính đúng đắn của những câu chuyện đó, bởi vì hoàn toàn vô nghĩa nếu anh cố tìm cách thử tiến hành những bước nhảy khác mà không có một cách nào để kiểm nghiệm vị trí của mình.

Trong mười lăm năm liên tục thực hiện các bước nhảy, có thể anh sẽ có một phần tỷ cơ may là đến một ngày nào đó anh sẽ gặp được một hành tinh có sự sống.

Anh không muốn mắc sai lầm khi thử tìm kiếm những cơ may thành công ấy, nhưng từ nay anh chẳng còn cách nào khác. Và anh cũng không thể chịu được cái cảnh phải sống lay lắt như anh đã thử sống trong bốn ngày qua. Hơn nữa, trong một vũ trụ mà mọi cái đều tuân theo quy luật ngẫu nhiên thì rất có thể chỉ bằng một bước nhảy là anh đã có mặt trên Trái Đất, trong khi anh đã tưởng tượng thấy mình đang được hít thở bầu không khí của khí quyển, đã cảm thấy mùi khói của lá khô cháy đang chầm chậm bốc lên trên không trung êm ả mù sương của một buổi chiều tháng mười...

Thế là anh bắt đầu tiến hành làm việc với hệ thống điều khiển trung tâm. Anh phải mất hai ngày vừa nghỉ ngơi vừa làm việc mới đạt được kết quả hài lòng: anh đã thành công lập lại được chương trình cho hệ thống để nó có thể đáp ứng cho những nhu cầu mới của anh. Trong cảnh mù lòa, anh đã phải vận dụng mọi nguồn lực của trí não để làm việc. Trong công cuộc mầy mò này, anh đã có được một sự say mê chẳng khác sự say mê đã khiến anh chế tạo những chiếc máy nhìn khi còn ở Nhà chòi.

Nhiều lần anh đã có được một cảm giác viên mãn sâu sắc. Ta sinh ra là để làm điều này, - anh tự nhủ, - ta đã biết cái nghề này rồi. Thế quái nào mà ta lại từ bỏ tất cả sau khi rời trường đại học nhỉ? Có phải vì ta thích nhảy từ một ngôi sao này sang một ngôi sao khác không? Và những lúc anh cảm thấy vui sướng thì mái tóc màu hung cùng đôi mắt kỳ lạ của Hélène lại xuất hiện một cách không thể giải thích nổi như là một hình ảnh xếp chồng lên cái hình ảnh đang tưởng tượng của anh về hệ thống điều khiển.

Cuối cùng anh đã thành công biến đổi cái mạng lưới du hành vũ trụ: anh đã biến một con vật chỉ biết nhảy khi nó biết được nó đang ở đâu thành một con vật ngoan ngoãn biết từ chối không di động nếu mọi giác quan của nó dò ra được một hệ thống hành tinh ở bên cạnh.

Làm xong những công việc đó Tallon cảm thấy là đã lấy lại được toàn bộ lý trí của mình. Mọi suy nghĩ của anh đã trở nên sáng sủa rõ ràng. Anh lên giường nằm và ngủ một giấc say sưa.

Sau bữa ăn sáng - anh gọi bữa ăn đầu tiên sau một giai đoạn nghỉ ngơi là một bữa ăn sáng - anh bước sang buồng lái rồi ngồi vào chiếc ghế giữa buồng. Anh ngập ngừng một lát, chuẩn bị đón nhận trạng thái đau đớn tâm lý, sau đó anh ấn vào nút bấm phóng con tàu vào một thế giới xa lạ khác. Cách! Một ánh chớp lóe lên! Một ánh chớp gần như không thể chịu nổi đốt cháy đôi mắt anh; và bước nhảy đã hoàn tất.

Anh giật máy nhìn ra khỏi mắt rồi ngồi thụp xuống chiếc ghế bành, hai tay ôm lấy mắt với một tâm trạng hoàn toàn bị xáo động. Anh ngồi yên suy nghĩ. Anh đã không nhớ đến cái ánh chớp đã đốt cháy dây thần kinh thị giác của anh khi anh thực hiện cú nhảy đầu tiên đưa con tàu Lyle Star thoát ra khỏi thành phố New Wittenberg. Anh không hề nhớ liệu là có cuốn sách nào nói đến những ánh chớp hay ánh sáng trong hệ phi không gian không? Trên thực tế phần lớn mọi người đều bị mù tức thời trong một chuyến bay chuyển tiếp qua hệ phi không gian. Anh chú ý lắng nghe: chiếc máy tính điện tử vẫn câm lặng. Điều đó có nghĩa là anh vẫn không tới gần được một hành tinh nào trong cái dải thiên hà mênh mông lạnh giá.

Anh nhún vai và chuẩn bị tiến hành một bước nhảy nữa. Lần này, anh hạ công suất máy nhìn xuống gần như bằng không, và khi xuất hiện ánh chớp thì nó tỏ ra yếu vô cùng. Anh bỏ máy ra và lại làm một bước nhảy khác. Không hề thấy có ánh sáng. Anh đeo máy vào và thực hiện bước nhảy thứ tư. Ánh chớp lại đốt cháy thần kinh anh.

Anh cảm thấy vô cùng phấn chấn mà không biết tại sao. Ánh chớp có liên quan đến chiếc máy. Đó là điều chắc chắn. Nhưng nguyên nhân của nó là gì? Có một dạng bức xạ nào đó trong hệ phi không gian mà chiếc máy đã bắt được chăng? Thật khó tin, bởi vì các mạch điện tử của máy nhìn đã được chế tạo sao cho chỉ để cho lọt qua những bức xạ vô cùng tinh vi của các tế bào thần kinh đệm của mắt người được phát ra theo pha. Thế thì ánh chớp do đâu mà có? Bởi lẽ trong hệ phi không gian không có người.

Tallon đột nhiên đứng bật dậy rồi bắt đầu đi đi lại lại trong buồng lái. Anh đi tám bước một lượt rồi lại quay lại tám bước.

Anh bỗng nhớ lại cuộc nói chuyện với Hélène Juste về công việc của anh trai nàng tại phòng nghiên cứu thăm dò vũ trụ của Emm Luther. Anh nhớ là Karl có một lý thuyết cho rằng vũ trụ phi không gian rất có thể là vô cùng nhỏ bé, thậm chí chỉ có đường kính vài mét. Sở dĩ các dụng cụ rađiô thông thường không bao giờ hoạt động được trong hệ phi không gian - và vì thế chúng không giúp con người tiến hành đo vẽ địa hình được, - thì phải chăng có thể là vì bản thân các dụng cụ đó bị ngập chìm trong chính các làn sóng tín hiệu của chúng, vì các chỗ lõm của các bước sóng được lấp đầy trong khi chúng không ngừng du hành xung quanh cái vũ trụ nhỏ bé đó? Nếu vậy thì con mắt người, vì là vật truyền tin không phải bằng sự điều biến biên độ, không phải bằng sự điều biến tần suất và thậm chí cũng không phải bằng sự điều biến pha, mà bằng cách đặt theo pha, nên rất có thể nó là chiếc máy điện tử duy nhất có khả năng hoạt động trong hệ phi không gian mà không xóa đi hoàn toàn chính các tín hiệu đặc trưng của nó. Và khi ấy chính chiếc máy mà anh, Tallon, đang đeo trên mắt, rất có thể là chiếc máy thu duy nhất đầu tiên hoạt động được trong hệ phi không gian. Nhưng vẫn còn lại một câu hỏi phải giải đáp: Những ánh chớp do đâu mà có?

Tallon bỗng dừng bước. Anh vừa tìm ra câu trả lời. Có con người trong hệ phi không gian!

Thời gian mà các máy phát đặt ra để nâng cao trường sức của chúng rồi sau đó làm cho nó biến mất là chưa đầy hai giây dành cho một bước nhảy với tốc độ tối thiểu. Nhưng các con đường thương mại đang có một lưu lượng giao thông chật cứng. Hàng giờ có hàng triệu tấn hàng hóa và cùng hành khách qua lại zích zắc trên những con đường thương mại lớn xuyên suốt thiên hà. Đến nỗi mỗi một giây đều có hàng nghìn người qua lại trong hệ phi không gian. Đến nỗi sự nhiễu loạn do có sự lặp lại của các tín hiệu trong cái vũ trụ khép kín ấy gây ra có lẽ cũng đủ để tập hợp tất cả các bức xạ phát ra từ dây thần kinh thị giác của họ thành một luồng phát duy nhất, vừa rộng vừa không có sự phối hợp với nhau.

Tallon cảm thấy trống ngực đập dồn vì cảm giác phấn chấn. Các bức xạ của tế bào thần kinh đệm yếu đến nỗi chúng gần như không tồn tại. Như vậy có thể chúng chỉ được phát đi trong vũ trụ phi không gian một số lần nhất định trước khi tắt hẳn. Điều đó có nghĩa là có thể tìm thấy được những thông tin về hướng đi của chúng trong ánh chớp mà chúng đã gây ra trong máy nhìn của anh. Đó là chưa kể khi ấy anh có thể hình dung ra được một dạng thức du hành trong hệ phi không gian được điều khiển bởi ý chí của con người chứ không phải bởi những yêu cầu của một loại hình học xa lạ.

Tallon ngồi im một lát. Sau đó anh bước ra hành lang tìm đến xưởng sửa chữa của con tàu Lyle Star .

Anh lục lọi mấy phút trong những chiếc hộp đồ nghề trên giá kệ và tìm thấy được một chiếc cưa cơ khí xoay chiều cỡ lớn kiểu thông thường. Anh chọn loại cưa này chứ không chọn chiếc cưa lade, bởi vì với một chiếc cưa lade thì một người mù như anh rất dễ cắt vào tay.

Anh vác cưa lên vai đi về phía sau tàu qua những đống bao tải đựng rau. Và anh bắt đầu tiến hành làm một tấm lá chắn chống phóng xạ đầu tiên. Anh lấy một tấm vật liệu dày ba centimét cắt ra làm ba tấm, mỗi tấm rộng một mét năm mươi trên năm mươi centimét, và một tấm nữa nhỏ hơn rộng năm mươi centimét vuông. Thứ vật liệu bằng chất dẻo pha kim loại này rất nặng và cồng kềnh, nó làm cho Tallon phải ngã nhiều lần mới đưa được về tới buồng lái.

Sau khi đem được những tấm lá chắn về buồng rồi, ban đầu anh định sử dụng một chiếc máy hàn, nhưng anh đã phải từ bỏ ý định, bởi vì đôi mắt lòa của anh sẽ là một sự cản trở lớn. Thế là anh bỏ máy hàn, lấy vỏ đồ hộp làm những chiếc góc sắt rồi dùng đinh ốc gắn chúng vào các tấm chất dẻo kim loại. Công việc đó chiếm mất một thời gian dài - ngay cả một chiếc khoan quay tay thông thường cũng tỏ ra khó thao tác và nguy hiểm đối với một người mù - nhưng cuối cùng anh đã làm được một thứ trông giống như một cái chòi gác. Anh thay mũi khoan và trổ một lỗ nhỏ duy nhất ở vách giữa của chiếc hộp.

Suýt nữa thì Tallon mất hết can đảm khi anh thử vần chiếc chòi để chuyển nó đến chỗ anh muốn đặt. Nó quá nặng và cồng kềnh. Sau vài phút thử dùng đòn bẩy để bẩy nó lên anh mới nhớ ra rằng anh đang có mặt trên một con tàu vũ trụ mà ở đó trọng lượng là một món hàng xa xỉ của kỹ thuật. Anh lần tìm chiếc cần điều khiển hệ thống trọng lực nhân tạo rồi hạ nó xuống. Tất nhiên chiếc hộp trở nên dễ thao tác hơn nhiều. Anh đem nó đặt trước chiếc ghế chỉ huy, cửa mở quay ra phía sau. Sau đó anh lại nâng cần điều khiển lên để trở về trọng lực bình thường.

Vừa hy vọng thành công vừa sợ bị thất vọng, Tallon leo lên ghế rồi chui vào trong hộp. Cửa mở của chiếc hộp cách chỗ để chân của chiếc ghế vài centimét, và khi anh quỳ gối trên bề mặt được khép kín bởi ba tấm vách của chiếc hộp, thì anh cảm thấy mình được bảo vệ rất tốt bởi vì chúng làm thành tấm lá chắn ngăn cách anh với những chiếc cửa kính cho phép nhìn ra bên ngoài. Anh đưa tay phải ra ngoài kéo chiếc bàn điều khiển hệ thống đẩy qua hệ phi không gian lại gần và sờ thấy nút bấm phát động bước nhảy. Tay trái anh lần tìm cái lỗ nhỏ mà giờ đây nó là điểm duy nhất cho phép các tín hiệu của dây thần kinh thị giác đụng tới được người anh. Anh để mắt mình hướng thẳng vào chỗ cái lỗ nhỏ.

Anh ấn nút bấm. Lần này, như anh hy vọng, ánh chớp chỉ là một tia sáng lóe lên trong nháy mắt và với một cường độ hoàn toàn có thể chịu được. Đã đến lúc phải làm một thử nghiệm quyết định.

Anh vừa thực hiện một loạt bước nhảy vừa chú ý giữ nguyên khoảng cách giữa mắt mình với cái lỗ nhỏ. Khi ra khỏi chiếc hộp anh mỉm cười hài lòng. Cường độ của ánh chớp mỗi lần có khác nhau.

Mặc dù thấy đói nhưng Tallon vẫn muốn tiếp tục làm thí nghiệm. Anh ngắt điện hệ thống đẩy qua hệ phi không gian và đặt các máy phát của trường sức ở chế độ điều khiển bằng tay. Giờ đây con tàu Lyle Star đang sẵn sàng thực hiện những chuyến đi dài trong vũ trụ phi không gian mà không thay đổi vị trí trong một bình diện tồn tại này hay một bình diện tồn tại khác.

Tallon lấy ra từ máy tính điện tử trung tâm một đơn vị tính toán số đơn giản, và anh vừa dành một lát để làm quen với bàn phím của nó vừa cố tìm lại sự thành thạo xưa kia mà bây giờ gần như đã bị bỏ quên, sự thành thạo trước đây đã thông qua những ngón tay của anh để biến cái dụng cụ này thành một sự nối dài thêm cho cơ thể của anh. Sau khi đã chuẩn bị sẵn sàng anh liền hình dung hoàn cảnh của mình như thế này: anh đang có mặt ở giữa một quả cầu rỗng. Và anh quy các tọa độ cơ sở cho hai nghìn điểm cách đều nhau trên bề mặt phía trong của quả cầu.

Giai đoạn thứ hai của kế hoạch đòi hỏi phải xoay con tàu Lyle Star trên ba trục chính của nó và lần lượt hướng mũi tàu vào từng điểm. Ở mỗi một vị trí anh lại thực hiện một chuyến bay chuyển tiếp vào hệ phi không gian; đánh giá mức độ ánh chớp của tín hiệu theo một thang bậc tùy ý đặt ra một cách đơn giản, sau đó thông báo cho máy tính điện tử biết.

Từ lúc khởi hành công việc cho đến khi kết thúc anh đã phải ngừng công việc ba lần để đi ngủ. Nhưng sau khi công việc kết thúc anh đã có trong tay một tấm bản đồ đầu tiên do con người làm ra về vũ trụ phi không gian, một tấm bản đồ quá thô sơ theo khả năng của anh cho phép.

Nói một cách chính xác, đây là một mô hình toán học vẫn còn thiếu chi tiết về mạng lưới các tuyến đường trong hệ thiên hà được nhìn từ một điểm của vũ trụ phi không gian. Cái mà anh cần bây giờ là một mô hình tương tự về vũ trụ của không gian thông thường được nhìn từ cùng một điểm như trên. Sau khi có được mô hình đó thì anh có thể thông báo hai mô hình cho máy tính điện tử để nó so sánh.

Hiện đang có mười chín hành tinh có sự sống trong Đế quốc Trái Đất. Và vì cái cửa ải thứ nhất và cửa ải cuối cùng dẫn đến tất cả các hành tinh kia - trừ hai hành tinh - là ở gần Trái Đất, cho nên cái mô hình của không gian thông thường sẽ cho thấy một sự tập trung cao độ các con đường thương mại ở khu vực này. Thế nhưng cái bản đồ về vũ trụ phi không gian lại không cho thấy một sự tập trung giống như vậy, bởi vì giữa hai vũ trụ không có một sự tương xứng tuyệt đối, nhưng Tallon rất hy vọng rằng máy tính điện tử sẽ tìm thấy một mối tương quan nào đó giữa hai tấm bản đồ.

Và nếu nó tìm ra được thì gần như anh đã trở về được Trái Đất rồi. Điều đó là chắc chắn.

Để ăn mừng trí thông minh của mình, Tallon quyết định thưởng cho mình một bữa ăn thịnh soạn trong khi vẫn nghĩ đến giai đoạn tiếp theo. Anh nướng một miếng bíttết khổng lồ và thong thả uống một phần lớn lượng bia dự trữ.

Sau khi ăn uống no nê, anh vẫn ngồi yên trên bàn bếp và xem xét tình cảnh của mình.

Cho đến giờ anh đã xoay xở rất tốt trong cảnh bị mù, bởi vì anh mới chỉ phải giải quyết những vấn đề quen thuộc với sự trợ giúp của những dụng cụ mà anh có thể sử dụng được gần như theo bản năng. Nhưng thật là nghịch lý, xây dựng một mô hình cho vũ trụ không gian thông thường của chính mình lại tỏ ra là một việc khó hơn nhiều.

Quả thực, anh không thể nhìn thấy được mật độ của các tuyến đường du hành vũ trụ qua lại chằng chịt trong mạng lưới của chúng. Giải pháp duy nhất là thông báo cho máy tính điện tử các tọa độ thiên hà của mỗi cửa ải. Đây là một công việc khá nặng nề. Chẳng hạn đối với chuyến bay từ Emm Luther về Trái Đất anh sẽ phải lần lượt cung cấp cho máy tính các tọa độ của tất cả tám mươi nghìn cửa ải, trong đó mỗi cửa ải có ba tọa độ. Tất nhiên điều đó có thể làm được. Các dữ liệu thông tin chắc là đang được lưu giữ ở đâu đó. Nhưng nếu không có mắt thì công việc sẽ... khó thực hiện. Anh định nói là không thể thực hiện được nhưng lại thôi ngay.

Anh vẫn tiếp tục uống bia. Nhưng niềm say sưa thắng lợi cùng nỗi phấn khích vừa xâm chiếm lòng anh đang dần dần lắng xuống.

Trong hoàn cảnh bị mù, để hiểu được khối máy tính điện tử trung tâm, anh sẽ phải xem xét nó thật thấu đáo, nói một cách khác là phải tháo nó ra rồi lại lắp ráp lại trong cảnh mò mẫm. Sau đó anh sẽ phải lắng nghe tất cả những gì nó giữ lại được trong bộ nhớ của nó cho đến khi anh thu được những thông tin mong muốn.

Điều đó có thể phải mất năm năm, hoặc mười năm. Có thể anh sẽ chết vì đói lả trước khi thực hiện được những gì mà một người bình thường có thể làm trong vài tiếng đồng hồ, với điều kiện là người đó có hai con mắt và biết đọc ngôn ngữ máy tính.

Tallon chợp mắt thiu thiu ngủ. Nhưng anh bị đánh thức dậy bởi một tiếng động thoáng qua. Một tiếng cọt kẹt. Rồi một tiếng kêu chút chít. Từ bao năm nay anh không nghe thấy cái âm thanh đó. Anh phải ngồi im một lát mới có thể xác định được nó là cái gì.

Sau đó anh hiểu rằng anh đang nghe thấy tiếng kêu của một nhân vật thuộc hàng con cháu của một hành khách lậu vé đầu tiên ở ngoài Trái Đất mà từ thời xa xưa, khi con người Trái Đất đang còn phải đương đầu với đại dương trên những chiếc thuyền con, thì nó đã lén lút lẻn được lên một con tàu vũ trụ.

Đó là một con chuột.

« Lùi
Tiến »