Khi Colombo, và con trai là Diego cập bến ở Palos, họ đến La Rábida một nhà thờ phụ của một tu viện thuộc dòng tu Franceso cách hải cảng ba dặm rưỡi. Colombo, một người theo dòng tu Thánh Francesco, có thói quen dự lễ câu kinh vào cuối cuộc hành trình, hoặc trong những chặng dừng chân dọc đường. Ông ta cũng cần một nơi để ở lại đêm đâu tiên trên bờ, cũng như để tìm hiểu tin tức những người thân thích nhà họ vợ. Violante Moniz Perestrello, chị của người vợ đã quá cố của ông đang sống với chồng là Miguel Muliari (Mi-guen Mu-li-a) ở Huelva (Hu-èn-va), một thành phố khá gần Palos.
Cuộc viếng thăm La Rábida là việc đầu tiên Colombo làm trên đất Tây Ban Nha. Cuộc thăm viếng này là mấu chốt đối với cuộc phát hiện vĩ đại nhất trong lịch sử, cũng như việc ông ta bị dạt vào bờ ở Lagos, vì tại Rábida, Colombo đã gặp Cha Marchena. Nhiều sử gia không biết rõ về Cha Marchena. Trong thế kỷ XVI, một số sử gia đã lẫn lộn cha Marchena với Cha Pérez và tạo ra một nhân vật không bao giờ tồn tại: Cha Juan Pérez de Marchena. Thậm chí ngày nay một số sách phổ thông về Colombo và La Rábida nói về Cha Juan Pérez de Marchena. Họ là hai người riêng biệt, cả hai là tu sĩ dòng Francesco. Cha Pérez là tu sĩ sau này đã giới thiệu Colombo với triều đình nữ Hoàng Isabella. Tại Rábida năm 1485 Colombo đã phát hiện ra Cha Antonio de Marchena, người sẽ trở thành người cha tinh thần, thần hộ mệnh cho Nhà phát hiện tương lai, trong bảy năm khó khăn mà Colombo lưu lại Tây Ban Nha.
Cha Marchena không những là một giáo sĩ rất sùng đạo và nổi tiếng, mà còn là một nhà vũ trụ học và thiên văn. Colombo cần sự hỗ trợ khoa học và đã tìm được sự hổ trợ ấy ở Toscanelli. Ông không nghĩ rằng ông cần sự hỗ trợ tôn giáo, ông đã có đức tin khác thường, đi gần tới sự cuồng tín. Nhưng ông cần sự hỗ trợ tôn giáo, vì thời đó không thể làm điều gì mới, ở bên ngoài nhà thờ, hoặc không có sự hỗ trợ của nhà thờ. Thông qua Cha Marchena, Colombo còn có được một số người bạn có thế lực trong các giới tài chính và chính trị - hơn là chỉ có những đối thủ, những người thờ ơ và những kẻ nghi ngờ.
Cuộc gặp gỡ giữa Colombo và Cha Marchena có lẽ đã xẩy ra ngay buổi tới Colombo cập bến Palos. Thời đó các tu viện dòng Francesco thường cho những người hành hương ở trọ không mất tiền và Colombo có thể đã ngủ tại một trong những gian của tu viện ở La Rábida với con trai nhỏ của ông. Ta có thể tuởng tượng nhiệt tình mà Colombo đã kể lại những ý nghĩa và kế hoạch của ông cho người đứng đầu tu viện Francesco ngay khi ông được biết vị tu sĩ quan tâm đến vũ trụ học và thiên văn học. Colombo đã nói dài, say sưa và đã bộc lộ tâm hồn của ông. Một nguồn tài liệu cho biết là Colombo đã nói en poridal, tức là nói tất cả mọi việc. Nói tất cả những việc gì vậy? Một số tài liệu khác lại nói Colombo đã nói với vị tu sĩ trong lúc xưng tội, nên vị giáo sĩ không thể nói lại với ai. (Chúng ta sẽ trở lại gọi ý này về sau và chỉ rõ rằng không có gì hỗ trộ cho chuyện đó cả).
Sự việc thực tế đơn giản hơn thế. Colombo đã để lộ tất cả tư tưởng của ông. Ông đã nói về những đầu mối chỉ dẫn của những đảo Đại Tây Dương và về Galway. Ông đã nói về cuộc đi biển của ông tới Băng Đảo và về thông tin ông đã thu thập được ở đó. Ông miêu tả những chuyến đi của ông tới Madera, quần đảo Canarie, quần đảo Azzorre những đảo Cape Verde và Ghinê. Ông đã nói về chuyện đã sống một thời gian dài trên đảo Porto Santo, sàng lọc những ấn tượng, những đầu mối và kinh nghiệm của ông. Ông đã không dấu giếm những gì ông đã biết tại nhà Perestrello. Ông đã miêu tả những bước thăng trầm của ông tại triều đình Bồ Dào Nha. Ông đưa cho Cha Marchena xem bức thư của Toscanelli gửi Tu sĩ Martins. ông kể lại dài dòng lòng tin của ông đối với vai trò của những dòng nước biển và gió ở Đại Tây Dương, đặc biệt là những dòng nước và gió không thay đổi ở vĩ tuyến thuộc quần đảo Canarie. Ông bày tỏ sự tin chắc rằng, bên kia Biển Đen tới là châu Á, là Cipango và Cataio, những vùng đất rộng lớn giàu có và đông dân cư, những dân tộc ở những vùng đó đã đợi để được cứu rổi trong nhiều thế kỷ, những người đã không bác bỏ, như người Hồi giáo, Kinh Phúc âm của chúa Ki Tô, mà chỉ đơn giản là chưa biết gì về điều đó. Tất cả những điều đó lại được kể trong lễ xưng tội chăng?
Có sự rằng buộc lễ nghi tôn giáo hay không có? Chắc chắn Colombo đặt niềm tin vào Cha Marchena với một lời nguyện giữ bí mật.
Nhiều điều đã nói với Cha Marchena trong cuộc hợp có tính chất quyết định đó, chắc chắn kéo dài hơn một buổi tối, Colombo đã không nói cho ai biết sợ rằng họ sẽ ăn cắp ý kiến của ông, điều đó không phải là không có lý do. Thí dụ ông đã không nói chuyện ông ở Băng Đảo, về bản đồ của Toscanelli, cũng chẳng nói gì về con đường - hoặc hơn thế hai con đường, đi và về, mà ông đã biết rõ. Chúng ta sẽ thấy những lập luận Colombo đã tìm được, với sự giúp đỡ của Cha Marchena, để nói với các học giả; những lập luận dựa trên những văn bản cổ điển và tôn giáo. Những lập luận đó không phải là những lập luận đầu tiên đã thuyết phục Colombo và Cha Marchena.
Không cần thiết phải tìm một sự giải thích bí mật về sự rằng buộc đã nhanh chóng gắn bó Cha Marchena với Colombo. Người ta thấy điểm chủ chốt là hiện tượng tâm lý đơn giản chung cho cả hai người. Một nhà tư tưởng thường bị cuốn hút vào một con người hành động và hiến dâng bản thân mình cho con người hành động đó, sống tâm tưởng thông qua những hành động của người kia. Ngày nay người ta có thể quan sát hiện tượng này trong các lĩnh vực quan hệ xã hội, chính trị, khoa học và tôn giáo. Ngày nay hiện tượng đó xẩy ra như nó đã luôn luôn xẩy ra, vì bản chất con người không thay đổi, hay ít nhất không thay đổi từ thế kỷ XV. Đây là điều đã xẩy ra giữa Cha Marchena và Colombo. Vị tu sĩ dòng Francesco Tây Ban Nha được khơi động lên bằng nhiệt tình của nhà thủy thủ Genova và sống lại trong những kinh nghiệm, những giấc mơ riêng của ông, như một nhà vũ trụ học và nhà thiên văn học.
Trong khi đó con trai Colombo- Diego - lưu lại ở La Rábida, cho đến khi Colombo có thể gặp những bà con bên vợ của ông, Violante và Miguel Muliart. Colombo ở lại với họ trong ít ngày,vì, một khi cuộc gặp gỡ đó đã được thực hiện thì Diego sẽ đến sống với cô và chú ở Huelva và Colombo sẽ tự do đi đây đi đó.
Cha Marchena giới thiệu Colombo tại triều đình và hỗ trợ ông những lúc khó khăn và thử thách nhất trong bảy năm, từ khi ông đến Palos cho đến chuyện du hành đầu tiên của ông. Ông thường xuyên ở bên cạnh Colombo, ngay cả sau khi ông rời La Rábida để cầm đầu những thành viên dòng tu Francesco chính thống tại Seviglia và ông giới thiệu Colombo với Cha Juan Pérez, người tổ chức cuộc tiếp xúc cuối cùng và quyết định với các vua Tây Ban Nha.
Colombo viết về Cha Marchena: ‘‘Tôi không bao giờ nhận được sự giúp đỡ từ bất cứ ai ngoài Cha Antonio de Marchena, ngoài sự giúp đỡ của Chúa Vĩnh hằng”. Như vậy Cha Marchena là thiên thần hộ mệnh của Colombo, sau chúa là Cha Marchena và chỉ có Cha Marchena dùng mạng lưới rộng lớn của dòng tu Francesco hùng mạnh để mở nhiều cánh cửa nặng nề của triều đình cho nhà thủy thủ Genova. Ngày 20 tháng 1 năm 1486. Isabella và Ferdinando đã tiếp Colombo ở thành phố Alcalá de Henares, không xa Madrid.
Colombo đã trình bày kế hoạch của ông với nhiệt tình và lòng tin của một người sùng đạo, với giọng của người nắm được sự thật. Để tăng thêm lòng tin vào những lập luận của mình, Colombo đã trình bày bản đồ thế giới mà ông đã làm cùng với người anh Bartolomeo, miêu tả những vùng đất và những biển phải phát hiện. Hai năm sau, Bartolomeo sẽ trình bày một bản sao bản đồ này cho nhà vua Anh, khi ông đưa ra dự án chưa được chấp nhận tại Tây Ban Nha. Colombo mang chính bản đồ này trên chuyến đi phát hiện đầu tiên của ông.
Ngày 24 tháng 2 Cha Marchena đã tự giới thiệu mình với triều đình tại lâu đài Madrid, để nói cho họ biết rằng những điều mà nhà thủy thủ nước ngoài đã nói với họ ‘‘là sự thật’’. Nhưng Isabella và Ferdinando đã không tin Colombo. Họ coi trọng hơn những ý kiến phản bác của các học giả thuộc Hội đồng của họ. Tuy nhiên, họ biểu thị một sự tò mò nhất định đối với dự án kỳ lạ. Cùng năm đó, 1486, nhà vua theo Công giáo này đã có được một bản đồ Tolomeo; Honorato Mercader đã mua bản đồ đó từ một người bán sách Jaime Serra giá 160 soldi và gửi bản đồ đó cho nhà vua từ Valencia, Colombo chắc chắn đã nêu bản đồ Tolomeo trong việc giải thích những lý thuyết về vũ trụ học có một không hai của ông vào ngày lịch sử 20 tháng 1 năm 1486, và cái tên ấy thể nào cũng gây một ấn tuợng đối với nhà vua và Hoàng hậu.
Đến đây phải nhấn mạnh rằng từ ngày đến Tây Ban Nha, Colombo đã bắt tay vào việc nghiền ngẫm sách vở một cách kỹ lưỡng, tìm hiểu kỹ từng câu, từng ý, có thể hỗ trợ dự án của ông và sử dụng nhiều câu trích dẫn trong những đàm thoại và phần kết luận bài nói của ông. Như đã nêu, tuy vậy ông không nói về những kinh nghiệm của ông ở Băng Đảo, Galway, Porto Santo và bất cứ nơi nào khác ở Đại Tây Dương, và cũng không nói gì về bức thư của Toscanelli. Cả những kinh nghiệm lần bức thư đều là bí mật của riêng ông; về những kinh nghiệm, những học giả khó tin ông, trong khi từ bức thư, họ có thể học được quá nhiều và lấy cắp ý kiến của ông.
Colombo đã dùng những lập luận dựa trên những văn bản cổ điển và tôn giáo trước cuộc hợp của Hội đồng các học giả, do kết quả lời kêu gọi trực tiếp của ông đến Vua và Hoàng hậu trong tháng giêng. Tuy nhiên sự tiến bộ rất chậm chạp.
Hội đồng nghe ông và xem xét kế hoạch của ông từ tháng 11 - 1486 đến tháng 4 -1487. Suốt năm 1486, Colombo đã theo triều đình chuyển từ Madrid đến Avila (A-vi-la) rồi đến Guadalupe và cuối cùng đến Córdova .Tại Guadalupe, Colombo cầu lễ tại thánh đường nổi tiếng nhất Tây Ban Nha, nhà thờ Đức Bà Guadalupe. Tại Córdoba ông yêu Beatrice de Arana . Hai mối tình – thần thánh và trần thế - để lại những dấu tích sâu sắc và lâu dài trong cuộc đời và sự nghiệp của ông. Guadalupe là một trong những tên gọi đầu tiên được dùng tại những vùng đất mới. Colombo cầu khẩn Đức Bà Guadalupe khi ông cảm thấy mình bị cực kỳ nguy hiểm trong chuyến trở về, sau cuộc đi biển thứ nhất và đã gặp trận bão tồi tệ trong số nhiều trận bão mà ông đã trải qua. Beatrice de Arana cho ông sự thảnh thơi của tâm hồn và thú vui thể xác trong những năm lo lắng và khó khăn chờ đợi lâu dài tại Castiglia.
Colombo không tự hạn chế mình trong việc cầu khẩn Đức Mẹ Đồng Trinh và yêu Beatrice. Ông tiếp tục xúc tiến con đường của ông vào các giới trong triều đình.
Nhiều người giễu cợt ông, những người khác lắng nghe và đánh giá cao ông, một số người thì say mê ông. Không nghi ngờ gì mặc dù có bản chất đa nghi, kín đáo và hãnh diện, Colombo có sức hấp dẫn khi ông giải bày tâm hồn mình cho người nghe. Một khi bắt đầu nói, ông không dừng, trở nên thích thú và có sức thuyết phục. Colombo có thuyết phục được Vua Ferdinando đọc Tolomeo không? Colombo có gây được ấn tượng sâu sắc với Hoàng hậu Isabella nghiêm khắc và khiêm tốn bằng sự mạnh dạn và kiêu hãnh của ông hay không?
Nhưng những điều này đã không giúp ích cho Colombo đối với hội đồng học giả. Những trí thức muốn giữ lại quyền lực không thể không bóp nghẹt tất cả những ý kiến mới. Điều đó đã như vậy trong mọi thời gian lịch sử. Mọi cuộc cách mạng về trí thức đe dọa cơ sở quyền lực của họ. Họ bị ám ảnh phải theo một đường lối tư tưởng hình thức chặt chẽ, làm ngơ và kinh miệt các linh cảm. Họ không nhận thức được thực tế của cuộc sống. Thực tế đó hình như rất vô lý và bị chi phối bởi sự ngẫu nhiên. Người ta chỉ có thể làm chủ thực tế đó bằng một tinh thần tự do, bằng trí tưởng tượng và sự cởi mở đối với các quan điểm khác nhau. Giả thiết nếu Colombo có nói với họ như nói với Cha Marchena, họ vẫn không hiểu ông. Nhưng ông không muốn tiết lộ với họ những bản đồ quan trọng và bí mật nhất. Vậy thay vào đó, ông đã dùng bản đồ thế giới và nêu những nhà địa lý cổ điển và kinh Cựu ước.
Tại Castiglia Colombo bắt đầu đọc và đọc lại những cuốn sách in lần đầu tiên về vũ trụ học và địa lý học. Những cuốn sách đó còn được lưu giữ với nhiều ghi chú của Colombo tại thư viện Colombo ở Seviglia. Những cuốn sách đó gồm có Tractutus de imagine mundi của Hồng y giáo chủ D’Ailly in tại Louvain từ năm 1480 đến 1483; Historia rerum ubique gestarum của Enea Silvio Piccolomini sau này là Giáo hoàng Pio II, in tại Venezia năm 1477; bản tóm tắt bằng tiếng La-tinh cuốn Milione của Marco Polo do Francesco Pipino di Bologna soạn, xuất bản tại Anversa năm 1485; Historia naturalis của Plinio, do Cristoforo Landino dịch sang tiếng Ý và xuất bản tại Venezia năm 1489 Vidas de los ilustres Varones của Plutarco do Alfonso di Palencia đi dịch sang tiếng Castiglia xuất bản tại Seviglia năm 1491; Sumula Confessionis của St. Antonino di Firenze in năm 1476; và một tập sách, trang sách bằng da, Những bi kịch của Seneca. Colombo còn biết đến và đọc những sách khác, ngoài những cuốn có trong thư viện Colombo. Thí dụ chắc chắn Colombo có đọc tác phẩm giàu trí tưởng tượng Voyage d’ outre mer của Giovanni da Mandavilla và De locis, Habitabilibus của Giulio Capitolino; Andres Bernaldez cho biết như vậy vì Colombo đã từng là khách ở trong nhà ông ta. Hình như Colombo đã biết đến cả Tavole Alfonsine một công trình đồ sộ về kiến thức thiên văn làm tại Toledo vào thế kỷ thứ XIII bởi một ủy ban các nhà thiên văn dưới sự bảo trợ của Alfonso, nhà thông thái ở Castiglia.
Colombo đã đọc những cuốn sách này không phải trước khi ông nghĩ ra kế hoạch lớn mà là sau đó, sau khi ý đồ của ông đã biến thành dự án. Hầu hết các nhà sử học đều lẫn lộn hai quá trình tuyệt đối riêng biệt, của kế hoạch phát hiện và sự học tập khoa học của Colombo. Hai quá trình được hoàn thiện ở những thời kỳ khác nhau. Sự ra đời của kế hoạch đã xẩy ra không có học hỏi gì về khoa học, hoặc sự hổ trợ nào, trừ bức thư của Toscanelli. Kế hoạch được vạch ra trên những boong tàu, trên đó viên Đô đốc tương lai đi từ Đông sang Tây, Nam lên Bắc, Bắc xuống Nam, trên những vùng rộng lớn của Đại Tây Dương, từ Băng Đảo đến xích đạo và từ Sagras đến quần đảo Azzorre xa nhất.
Colombo có được trí thức khoa học là từ việc đọc những sách đã nêu, từ thông tin và những gợi ý của Cha Marchena, nhà thiên văn. Colombo lấy việc đạt được tri thức này để thuyết phục những học giả của hội đồng. Có một sợi chỉ chung chạy qua những cuốn sách Colombo đã đọc ở những thời kỳ khác nhau, mặc dù chắc chắn ông đã đọc tất cả những cuốn sách đó sau khi ông đến Tây ban Nha. Sợi chỉ đó mới nhìn lần đầu đã thấy rõ ngay, là sự khiêm nhường của người sinh viên trước cái mà ông ta đang đọc, tính giản dị chân chất, sự tầm thường rõ rệt của một số khái niệm mà ông ta đã chọn trong những văn bản và đánh dấu ở ngoài lề những cuốn sách.
Trong thực tế, Colombo không phải là nhà học thuật như Gómara đã bảo đảm với chúng ta. Theo Bernaldez , ‘‘Ông là một thiên tài vĩ đại nhất, mặc dù không phải là người có học vấn nhiều nhất’’. Nhưng không cần viện ra ý kiến của những người khác; vì chỉ sự đánh giá của Colombo về bản thân ông cũng đã đủ. Bức thư năm 1501 của ông gửi cho Vua và Hoàng hậu có chứa một lời thú nhận ‘‘Có lẽ bệ hạ và tất cả những người khác biết tôi, hoặc có thể đọc bức thư này, một cách riêng tư và công khai, họ sẽ mắng tôi bằng nhiều cách khác nhau, rằng tôi là con người ít văn hóa, một thủy thủ dốt nát, một con người tầm thường’’. Tính từ cuối cùng Colombo dùng là mundanal ngày nay có nghĩa là "đời thường", nhưng thời đó có nghĩa là "tầm thường".
Ít nhất thì ông cũng đúng một phần. Chắc chắn Colombo không "tầm thường", nhưng ông ta ít được học về khoa học, kho kiến thức lý thuyết của ông ta dứt khoát không đủ để đối đầu thành công với những học giả ở Castiglia có trách nhiệm xem xét dự án lớn của ông. Tuy nhiên dự án của ông vẫn lớn, và cuộc phát kiến xuất phát từ đó vẫn lớn nhất trong lịch sử, vì mọi thứ không thể quy thành trí thức khoa học, và khoa học cũng không thể làm được tất cả mọi chuyện.
Trực giác của Colombo thiên tài ngay cả trong những sai lầm đã vượt qua những kiến thức khoa học. Đó là trực giác của một thủy thủ, một người tự học, chỉ tìm cách hỗ trợ trực giác ấy bằng khoa học. Ông ta làm những gì ông ta có thể làm và đã tới những kết luận ông ta có thể tới. Nhưng những giới hạn về nhận thức địa lý mà ông đi tìm để khoác lên trực giác và kế hoạch lớn của ông không làm giảm giá trị và ý nghĩa mà cả điều này lẫn điều kia đã có trong lịch sử nhân loại; giới hạn và kế hoạch đó không hề làm giảm thiên tài phi thường của ông.