
Cuộc họp kéo dài đã quá nửa đêm.
Người cần vụ già rón bước đến bên bàn, châm thêm dầu vào ngọn đèn bão rồi lặng lẽ quay ra. Như một cái bóng, bác ta lại im lặng đứng về chỗ cũ, bên trong cánh cửa khép hé, chiếu xuống một cầu thang tre. Gian phòng họp trên ngôi nhà gác lợp tranh, ngột ngạt mùi khói thuốc lá, sáng bừng lên theo ngọn lửa cháy rực hình búp sen như cắt bằng một mảnh lụa đỏ, rung rung trong chiếc bóng thủy tinh. Gần hai mươi cán bộ quân sự đủ các cấp thuộc trung đoàn 10 cũ được triệu tập về đây, họp luôn ba ngày rồi mà vấn đề đặt ra vẫn chưa đi đến kết luận. Họ đang ngồi trầm ngâm lặng lẽ chung quanh chiếc bàn gỗ mộc bừa bộn đủ các thứ giấy má chờ nghe ý kiến của đồng chí chính ủy.
- Trong trường hợp không tìm ra người dẫn đường, chúng ta vẫn phải tiến hành ngay công cuộc truy tầm kho vũ khí quan trọng này! - Đồng chí chính ủy vừa nói vừa đưa mắt nhìn các cán bộ dưới quyền chỉ huy của mình, như truyền một mệnh lệnh. - Căn cứ vào báo cáo đặc biệt của bác sĩ quân y lục được năm 1948 thì vấn đề chưa phải là nan giải...
Bằng giọng trầm và sắc của người có tuổi đã trải qua nhiều chiến đấu, trong giọng nói kiên quyết gần như lạnh lùng trước những vấn đề gay go như hôm nay, tiếng nói của đồng chí bao giờ cũng có một sức mạnh thuyết phục khiến cho người nghe do dự vừa không thể cưỡng nhưng cũng vừa được củng cố thêm lòng tin tuyệt đối với quyết định cuối cùng của lãnh đạo.
Mọi người lần lượt đứng dậy, ra khỏi phòng họp. Tiếng thì thào trong góc tối cháy đỏ đầu thuốc lá, những tiếng ho nén từ lâu giữa ngực giờ mới bật ra, tiếng chân dép cao su, chân ủng nặng nề giẫm trên sàn nứa cọt kẹt lần xuống cầu thang. Ánh lửa đèn chai tủa về các cơ quan khu bộ, bập bùng khuất mất trong những nẻo rừng tối đen. Ngôi nhà gác dựng trên những đầu cột gỗ lêu nghêu, sau một lúc ồn ào khua động, giờ đã chìm vào lặng lẽ.
Dưới sân, hai anh đội viên vẫn đứng gác im lìm. Vòng rào nứa vạt nhọn phòng hổ tua tủa chĩa ngược mũi bén ướt đằm sương lên trời đêm, phản chiếu ánh xanh từ một ngôi sao xa tít lọt qua kẽ lá, trông như những mũi thép.
Đồng chí chính ủy còn đứng bên ngoài hiên một lúc mới trở vào ngồi lại bên bàn, rút khăn tay ra lau mục kỉnh đeo lên mắt. Ông vẫn có thói quen lau mục kỉnh những lúc cần tập trung suy nghĩ, dường như công việc đó có tác dụng giúp cho ông nhìn rõ và sâu hơn vào những vấn đề rối rắm, khó khăn.
Chỗ góc phòng lờ mờ ánh đèn không chiếu tới, ông trưởng phòng Chính trị đeo nguyên cả xắc-cốt 1 da, vẫn mặc bộ quần áo kaki quân phục bám đầy bụi cát, nằm nghiêng trên chiếc võng tết bằng dây dù, thiếp đi trong giấc ngủ nặng nề mệt nhọc.
Bác cần vụ già rót cốc nước khẽ đặt lên bàn, lui ra khép cánh cửa phòng. Bác ngồi xổm xuống, tựa lưng bên ngoài vách. Không biết việc gì đã xảy ra, khiến cho đồng chí chính ủy lo lắng đến vậy. Như mọi hôm thì bác đã nhắc ông đi nghỉ rồi, nhưng đêm nay, đến bước đi bác cũng không dám động mạnh. Và tự nhiên bác cũng thấy mình đâm ra lo lắng, không yên tâm đi nằm được.
- Bác già đi ngủ đi. Thức chờ tôi làm gì! - Đồng chí chính ủy ngoái ra, bảo khẽ với người cần vụ.
Bên ngoài không có tiếng đáp. Sự vắng lặng chung quanh làm cho ông thấy nhẹ nhàng dễ chịu. Và ông bắt đầu ôn lại từng mẩu rời rạc trong các hồ sơ, báo cáo có ít nhiều sự việc tình cờ dính dáng xa gần đến cái kho vũ khí năm năm về trước người của ta đã phát hiện nhưng bỗng dưng lạc mất này.
Tất cả những vấn đề đây, thuộc về một quá khứ hoàn toàn xa lạ đối với ông. Ông mới từ chiến trường miền Tây chuyển về đây chưa được hai năm. Theo báo cáo của tình báo ta, bọn địch năm nào đến mùa mưa cũng cho máy bay trinh sát lượn khắp vùng rừng miền Đông, lối khoảng tiếp giáp giữa hai đường kinh tuyến 107-108 và vĩ tuyến 11-12 giao nhau. Bọn địch đã nhận được nguồn tin chính xác, biết ở vùng này có một kho vũ khí quan trọng, do phát xít Nhật chôn giấu năm 1945, và “ Việt Minh đã phát hiện từ lâu, nhưng vì một nguyên nhân chưa rõ, đến nay kho vũ khí ấy vẫn còn nằm nguyên chỗ cũ ”. Có thể, trong hàng ngũ ta có người biết điều bí mật này, đã phản bội, báo với bọn địch. Đơn vị nào đã phát hiện ra kho vũ khí ấy? Tất cả hồ sơ, báo cáo mật lưu trữ của phòng Chính trị, từ đầu kháng chiến đến nay không thấy có tài liệu nào nói đến vấn đề này.
Đồng chí chính ủy ngồi thừ một lúc. “Manh mối có thể lần ra từ mảnh giấy này thôi!” Và ông cầm đọc lại, không biết đến lần thứ mấy rồi, những dòng chữ viết tháu của ông bác sĩ quân y đã hi sinh sau chiến dịch La Ngà:
... “ Hai ngày đêm rồi, cậu ta vẫn mê man. Mảnh đạn đại bác cắm vào đùi bên phải, vết thương tấy lên, thâm tím một cách khủng khiếp. Phải cắt chân mới cứu được. Nhưng cậu ta đã tỉnh dậy và chống cự quyết liệt. Sau đó cậu ta thiếp đi trong cơn sốt 41 độ 3, bàn tay cứ quờ quờ như vẫy gọi ai. Đây là lời Nguyễn Văn Dũng, chú liên lạc tiểu đoàn 7, đã thốt ra giữa lúc mê sảng mà chúng tôi nghe được: “Cái anh chột mắt khốn kiếp này... Đúng rồi, trong này có một cái hang. Thưa đồng chí tiểu đoàn trưởng, nhiều lắm. Dạ không biết thùng gì... Toàn bọc sắt cả. Đồ hộp, cả gạo... Súng đạn nữa. Nhiều quá trời ơi! Anh đi theo đồng chí Hòa về kho 5 đi, tôi chờ ở cây dương cụt, hướng mặt trời mọc...” Độ nửa giờ sau, máy bay địch ném bom đốt cháy lán thương binh số 1. Chúng tôi phải cấp tốc chuyển đi. Không hi vọng gì cứu sống cậu thiếu niên chưa đầy mười lăm tuổi này nữa. Tôi đã gởi cậu ta lại cho dân y địa phương, và dặn nhất thiết phải cắt chân. May ra... ”
Đồng chí chính ủy buông mảnh giấy xuống bàn, rút khăn tay ra lau mục kỉnh. Trong danh bạ tử sĩ của khu vào năm 1947-1948 có ghi: “Đồng chí Lê Thiết Hòa, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 7 bị một máy bay khu trục bắn chết cách kho 5 khoảng năm trăm thước. Hai liên lạc bảo vệ mất tích.” Như vậy thì lúc ấy cậu Dũng còn ở lại chỗ cây dương cụt. Rõ ràng là sau đó, cậu ta còn sống, đã bị thương. Báo cáo của ông bác sĩ quân y và cái chết của đồng chí Lê Thiết Hòa, hai tài liệu này trùng hợp với nhau, gắn liền như một. Không còn nghi ngờ gì nữa, người phát hiện ra kho vũ khí này chính là Lê Thiết Hòa, đã hi sinh, chưa kịp báo cáo lên cấp trên. Nếu như Dũng chết rồi thì bức màn bí mật này khó vén lên được. Bộ tư lệnh đã điện cho khắp các đơn vị tìm Nguyễn Văn Dũng, có nhiều chiến sĩ trùng tên họ, nhưng đều không phải.
Hai bàn tay bóp chặt hai bên thái dương, đồng chí chính ủy ngồi im như một pho tượng trước mớ giấy tờ ngổn ngang. Trên vầng trán cao rủ mấy sợi tóc bạc lưa thưa, giọt mồ hôi đọng giữa những nếp nhăn từ từ lăn rơi xuống mặt bàn. Đồng chí cầm chiếc đèn bão đứng lên, soi vào bức bản đồ trên vách nứa. Bức bản đồ địa hình Nam Bộ 1/25.000 nhằng nhịt những lằn xanh đỏ chỉ các đường giao thông thủy bộ quan trọng, càng đi về hướng Tây Bắc gần vùng giáp giới Lào Miên càng thưa dần, mất hút, và cuối cùng chỉ còn cái mạch xanh của con sông Đa Dung ngoằn ngoèo lượn trên vùng đất mênh mông rừng dày cao nguyên. Ánh đèn dừng lại chỗ cái vòng tròn vạch bằng bút chì hóa học màu đỏ thẫm, trên khoảng giấy tô vàng nhạt vằn lên những vệt xám chỉ độ cao của vùng núi hoang vu này. Tìm một hạt bụi rơi trong cái vòng đỏ này dễ dàng hơn tìm ra một ngọn thái sơn ngoài thực tế.
“Có thể kết luận rằng kho vũ khí này được phát hiện không lâu, trước khi nổ ra chiến dịch La Ngà. Trong thời gian ấy bộ phận quân lương nào đã hoạt động ở vùng này? Kho số 5? Người phụ trách? Chỉ cần tìm ra người này thì con đường đến cây dương cụt xem như đã hé mở một nửa.” Đồng chí chính ủy nghĩ thầm như vậy. Ông vươn vai thở ra một hơi dài nhẹ nhõm. Chiếc đèn bão trên tay ông chạm vào khẩu súng treo bên cạnh khua lanh canh làm ông trưởng phòng Chính trị giật mình ngồi phắt dậy.
- Đồng chí cứ nghỉ cho lại sức. Sáng mai, chúng ta sẽ bàn. - Chính ủy vừa nói một cách khoan thai, vừa ngồi lại chỗ cũ, chòm ria đốm bạc thoáng rung rung động đậy.
Ông trưởng phòng chính trị giương cặp mắt đỏ ngầu vì nhiều đêm mất ngủ nhìn chính ủy. Trông nét cười rạng rỡ trên gương mặt khắc khổ của đồng chí lãnh đạo, ông vụt tỉnh hẳn ra.
- Ồ, hay lắm, nếu đã hết buồn ngủ rồi thì tụi mình tiếp tục bắt tay vào công việc đi! - Đồng chí chính ủy nói bằng một giọng đùa vui và cởi mở.
Khi hai người ngồi vào bàn làm việc thì bên ngoài trời lắc rắc đổ mưa. Bác cần vụ nhóm mẻ lửa, bưng vào, lặng lẽ đặt chỗ góc phòng. Những cơn gió chạy ào ào trong rừng dầu cổ thụ, lay đầu ngọn cây chồm lên vật xuống như sóng, vù vù thổi thốc tới như muốn lôi gian nhà gác bé nhỏ còn sáng đèn ném vào khoảng tối đen mịt mù vô tận.
Những ngày mưa tháng Sáu năm 1952 ở Chiến khu D 2 cứ rả rích kéo dài. Phòng mật mã nhận được điện của tỉnh đội Thủ Biên báo đã tìm được đúng cậu liên lạc Nguyễn Văn Dũng thuộc tiểu đoàn 7 ngày trước trong một đơn vị địa phương quân lưu động vùng tạm chiếm Tân Uyên. Trinh sát liên lạc riêng đã đưa Dũng lên đường về khu căn cứ từ mấy hôm nay.
Đồng chí chính ủy ngày nào cũng khoác áo ca-pốt 3 cùng ông trưởng phòng chính trị lội xuống tận trạm liên lạc hỏi tin. Hai tiểu đội được phái đi đón Dũng - đề phòng bất trắc xảy ra dọc đường - cũng chưa thấy về. Giữa lúc ấy lại có tin địch tập trung ở hai mặt Phú Riềng và Cây Gáo, sắp sửa tấn công vào chiến khu. Tất các cơ quan trực thuộc khu bộ phải cấp tốc dời đi nơi khác.
