
Chỉ còn trạm liên lạc số 23 ở lại. Ông trưởng trạm suốt ngày ngồi bên bếp lửa hơ ba mớ công văn ướt, lại ra đứng vuốt chót ria mép chỗ cầu thang ngó xuống đường. Nhiều đoàn cán bộ công tác các nơi xa về, ghé qua trạm chốc lát, có người nghe tin cơ quan mình đã dời đi, không kịp dừng lại nấu cơm ăn, vội vã đuổi theo. Trong số đó, không có ai theo đường liên lạc tỉnh về đây cả.
Một buổi chiều vừa ngớt cơn mưa, bỗng có một ông khách chống cây gậy dừng lại trước sân, hỏi vọng lên:
- Đây có phải là trạm số 23 không bác?
Nom người khoảng chừng ba mươi lăm tuổi, cao lêu nghêu. Áo đi mưa khoác một bên vai, một nửa tà áo kéo lên che cái ba lô gồ lên sau lưng, một nửa rủ xuống không động đậy, khiến anh ta lại có vẻ như một người còng. Hỏi xong, không đợi ông trưởng trạm đáp, anh ta thoăn thoắt trèo lên thang.
Sau khi trình giấy tờ, người khách bèn lột chiếc áo đi mưa mắc lên vách, để lộ ra cánh tay sơ mi màu rêu lép kẹp nhét vào túi quần phía trái.
- Chà! Bộ cậu thấy thừa sao mà để cho tụi nó mượn một cánh tay vậy?
Ông trưởng trạm bước tới đỡ hộ cái ba lô, nói bằng giọng trêu đùa. Người thương binh chỉ nhếch mép cười, không đáp. Anh ta bước đến bên bếp lửa, ngồi phệt xuống, đưa hai bàn chân lấm lem bùn đất hơ lên lửa một lúc, đợi cho lớp bùn khô rồi, anh ta đập đập hai bàn chân cọ vào nhau cho sạch, như kiểu lính rửa cạn trước khi ngủ.
- Có ai hỏi người phụ trách kho số 5 thì bác kêu giùm cháu, nghe bác!
- Kho nào? - Khi ông trưởng trạm quay lại hỏi thì đã thấy anh chàng thương binh tựa lưng vào cột, đầu ngoẻo một bên vai, mắt nhắm nghiền như đã ngủ tự lúc nào.
•O•
Hai tiểu đội do khu đặc phái ngược theo con đường liên lạc riêng về tỉnh, lặn lội mò khắp các ngõ ngách vẫn không thấy bóng dáng đám trinh sát nào đưa người lên chiến khu.
Trong khi đó, một toán bốn người, từ mấy hôm nay vẫn cắm cúi đi gấp rút về trạm 23. Họ xuyên qua các làng tạm bị giặc chiếm, lội tắt những cánh đồng bưng nước sâu ngang ngực, có lúc trèo hẳn lên đường ô tô, đi cả ban ngày. Người đi trước mở đường chốc chốc lại ngoái cổ giục đám bước lử lả đằng sau đang cố bám theo nhưng cứ bị tụt lại mãi. Anh này tầm vóc cao lớn, mặc bộ quần áo ngụy binh, khẩu súng côn 12 li giắt trong chiếc bao da không cài nắp trễ xuống một bên đùi. Bước đi khệnh khạng, hai vai rộng bè lắc lư chồm tới trước, trông anh ta như một con gấu. Nhiều lúc, người ta thấy anh có mặt trong các cuộc hội nghị ở khu, có khi lại thấy anh ta đi lại ngang nhiên ở thị xã Biên Hòa trong sắc phục sĩ quan ngụy. Đám liên lạc biết anh ta là cán bộ tình báo. Không ai rõ anh ta tên gì. Trông bộ tướng của anh, họ cứ gọi là “Lưng Gấu”. Chính Lưng Gấu đang cùng hai đội viên trinh sát tỉnh đạp đường tắt, đưa Dũng về khu đấy. Lưng Gấu tìm được Dũng trong một trường hợp tình cờ. Chỉ bằng một câu hỏi cầu may thôi. Hôm ấy, Lưng Gấu đang ngồi trong nhà một anh du kích bí mật. Bỗng thấy anh lính địa phương quân mặt còn trẻ măng, bộ tướng mảnh khảnh như con gái vác cây súng trường Anh dài ngoẵng khập khiễng bước vào.
- Cậu nào đấy? - Lưng Gấu hỏi anh du kích.
- Dũng, địa phương quân. Đóng bên nhà đồng chí xã đội.
Trong kháng chiến, có biết bao nhiêu người tự đặt cho mình cái tên Dũng. Từ hôm được điện của khu, Lưng Gấu đã gặp hàng trăm cậu Dũng rồi, nhưng đều không phải người anh muốn tìm. Anh ta đâm ra bực với những người sính mang cái tên “kêu” đó. Dù vậy, Lưng Gấu cũng buột miệng hỏi chơi:
- Ê! Người anh em, bị thương trận La Ngà năm 48 hả?
Cậu lính trẻ chống súng xuống, ngạc nhiên:
- Sao biết? Mình không nhớ... Anh là ai?
Lưng Gấu chồm hai vai tới trước, nhìn chằm chằm vào cậu lính trẻ, tìm xem có nét nào giống như trong đặc điểm chỉ dẫn không? “Bị thương ở đùi... Có thể đã bị cắt mất chân phải rồi...” Lưng Gấu bèn hỏi dò:
- Tưởng hồi đó, cậu bị cưa chân rồi chớ?
- Đâu! Mình chống cự quyết liệt, chết thì chết. Sống phải lành lặn để tiếp tục chiến đấu chớ. Mà mình sống thật. Ông bác sĩ quân y gởi mình lại cho dân y địa phương. May mà gắp được mảnh đạn ra. Đơn vị đi mất. Buộc thuốc nằm có mấy tháng, mình đã mò theo du kích xã đi gài lựu đạn. Anh ở đơn vị nào, mình không nhớ?
- Trời! Hồi đó cậu mới mười lăm tuổi, liên lạc tiểu đoàn 7 chớ gì?
- Sao biết? - Dũng trố mắt hỏi.
Lưng Gấu hét lên một tiếng, đập bàn tay ngón to như chuối mắn lên vai Dũng, làm Dũng muốn khuỵu xuống.
Hai giờ sau, Dũng được lệnh rời khỏi tiểu đội, theo trinh sát liên lạc về chiến khu. Cả trung đội địa phương quân chẳng ai rõ vì sao. Bấy giờ tình hình chiến trường miền Đông đang lâm vào thế gay go. Tiểu đoàn chủ lực khu nhiều lúc thiếu gạo ăn. Anh em du kích, địa phương quân đội phải ăn củ mài. Theo chủ trương của trên đang tiến hành cuộc vận động chính trị lớn, anh em ta gặp ngụy quân Cao Đài phải tránh, không được bắn. Du kích bị chúng bắn thương vong cũng nhiều. Có anh ức quá, ném súng xuống đất ngồi ôm mặt khóc hu hu. Chiến sĩ bị thương không thuốc men điều trị. Có người dao động. Có người đào ngũ, về nhà làm ăn. Năm ngoái trong tiểu đội của Dũng có hai đứa vác súng ra hàng giặc. Dũng nghĩ: “Không biết mình bị nghi ngờ, hay cho là có liên quan gì tới những chuyện ấy không?” Khi trao súng lại cho anh em, Dũng gần như muốn khóc. Trung đội trưởng gọi Dũng ra chỗ vắng, vỗ vai bảo nhỏ: “Cả khu đang tìm mày đó. Tất có công tác gì quan trọng. Biết đâu chỉ có mày mới làm được việc đó. Cứ vững bụng đi!”
Dũng cho đó chỉ là một lời an ủi. Dọc đường, mấy lần Dũng hỏi Lưng Gấu:
- Anh có biết trên khu gọi tôi về vì chuyện gì không?
Lần nào Lưng Gấu cũng đáp cộc lốc:
- Không biết!
Có lúc thấy Dũng hỏi mãi, Lưng Gấu bèn nói: “Về trên ấy sẽ biết!” Lại còn nheo mắt nhìn Dũng, nói thêm một câu có tính cách đe dọa: “Không đùa đâu nhá! Lúc này thì cậu phải chịu hoàn toàn dưới sự chỉ huy của tôi đó. Từ đây về tới khu, nếu gặp người quen, cậu chỉ được chào thôi. Tuyệt đối không được nói mình đi đâu. Đừng có mà lôi thôi!”
Năm năm dài đằng đẵng, lăn lộn trong các vùng giặc tạm chiếm, cậu thiếu niên liên lạc vui tính, liến thoắng như con chim sáo ngày xưa, nhiều lúc nhớ rừng nhớ suối, nhớ anh em đồng đội, ước gì mình có thể biến thành cánh chim bay về thăm nơi cành xưa cội cũ. Nay đã mười chín tuổi rồi, trên đường về chiến khu, mang một nỗi lo canh cánh, nhưng Dũng vẫn thấy nôn nao hồi hộp. Một thứ bâng khuâng xao xuyến lạ kì làm sống lại trong lòng Dũng những ngày đầu theo kháng chiến. Cha Dũng là bác Tấn đánh xe ngựa ở Biên Hòa. Khi giặc Pháp từ Sài Gòn tiến đánh miền Đông, bác Tấn theo dân quân tự vệ đi phá cầu, đốn cây chặn các đường giao thông. Và bác đã ở lại với anh em hoạt động trong thị xã bị giặc chiếm đóng. Dũng theo mẹ cùng những đoàn thuyền tản cư ngược sông Đồng Nai, chạy mãi. Tiếng súng đại bác vẫn ầm ầm đuổi theo mẹ con Dũng đến tận rừng xanh. Mẹ Dũng trúng bệnh thương hàn, chết dưới một gốc cây sung, đầu gối lên bọc quả xanh bà vừa hái để mẹ con ăn cho đỡ đói. Bấy giờ, có một toán anh em bộ đội đang tiến xuống Biên Hòa, đi ngang qua đó. Bà mẹ trước khi nhắm mắt đã gửi con cho những anh em ấy. Bà cầm tay thằng bé, thều thào: “Con yêu của mẹ! Mẹ không còn sống để dắt dìu con được nữa rồi. Hãy đứng dậy theo các anh các chú con đây mà đi tìm ba con. Hồn mẹ sẽ mãi mãi theo phò hộ bên con...” Bàn tay giá ngắt của người chết co lại, nắm chặt tay thằng bé, như không muốn rời. Các anh bộ đội phải gỡ mãi mới ra. Dũng lăn lộn, gào khóc phục xuống ôm nấm đất đỏ tươi như máu đắp vội vàng vừa lấp mất xác mẹ mình, hai bàn tay nhỏ cứ cào cào như muốn bới đất ra, không chịu đi. Các anh bộ đội dỗ mãi. Và họ đã thay nhau cõng Dũng theo họ trên đường hành quân. Nước mắt và cái buồn của tuổi thơ dễ đến và cũng dễ tan như cơn mưa rào. Hai năm sau, Dũng đã mặc bộ quần áo chính quy vải đen, đội chiếc mũ ca lô tím có đính ngôi sao vàng bé tí trên nền tròn bằng đốt tay, thêu chỉ đỏ. Những đêm liên hoan, Dũng đứng ra hát bài Em yêu Bác Hồ Chí Minh , có ra điệu bộ thì ai cũng phải vỡ bụng vì cười. Dũng đỏ mặt như con gái, thẹn thò chạy xô vào lòng các mẹ chiến sĩ. Nhưng ở mặt trận thì Dũng là một cậu gan lì cóc tía. Hai bàn chân bé nhỏ, thoăn thoắt lướt trên làn đạn trung liên địch quét sà mặt đất. Trong một trận công đồn ở Bình Phước, Dũng một mình vượt qua lưới lửa địch, tung lựu đạn phá hủy ổ đại liên, mở đường cho anh em cảm tử quân xung phong chiếm đồn. Hôm Dũng được tuyên dương trước toàn trung đoàn thì có một người lính già từ trong hàng quân chạy xô ra, ôm Dũng. Đó là bác Tấn. Đêm ấy, người cha không ngủ cứ ngồi quạt muỗi cho con. Bác Tấn bị lộ mặt ở thị xã, được điều vào chiến khu mấy tháng nay. Bác có dắt theo đứa con nuôi khoảng ngoài hai mươi tuổi, tên là Khả. Mấy ngày sau Dũng gặp anh ta ở tiểu đội công binh. Nghe đâu anh ta ăn cắp đồ hộp của nhà binh Pháp, bị chúng bắt đem ra bắn gần trường bay. Bác Tấn đã hạ hai thằng lính Pháp, cứu anh ta chạy thoát. Dũng không ưa tay này. Không bởi tại Khả lấc cấc kiểu dân bất hảo ở thành. Cứ mỗi lúc ngó ai thì anh ta nheo hẳn một bên mắt, như thằng chột. Nhưng anh ta được cái gan dạ. Tiểu đoàn bộ rút Khả lên làm liên lạc bảo vệ, cùng một lượt với Dũng. Bác Tấn lâu lâu mới có dịp đến thăm Khả và Dũng. Mỗi lần gặp cha, Dũng đều rân rấn nước mắt. Lưng ông gần như còng xuống và ông già đi một cách trông thấy.
Không biết giờ đây cha Dũng ở đâu...
Nhiều người cho là bác Tấn đã hi sinh trong chiến dịch La Ngà.
Dũng vừa đi vừa nghĩ lan man đến nhiều chuyện không đầu không đuôi cũ. Hết những ngày mưa, lại tới nắng. Nắng như giội lửa xuống cánh đồng cỏ tranh khô nỏ, làm bốc lên hơi nóng hừng hực, khiến Dũng có cảm giác như mình đi giữa một đám cháy. Chốc chốc Lưng Gấu lại nghiêng đôi vai rộng bè quay lại giục. Trước mặt, sau lưng Dũng, hai đầu súng tiểu liên của hai anh trinh sát nhô lên rụt xuống như mài vào tấm thép xanh da trời, làm lóe ra những tia sáng kim khí nhọn hoắt. Dũng càng xốn xang. Nỗi lo trong lòng Dũng cứ như bị một kẻ địch tàng hình luôn luôn đe dọa không biết nó ẩn náu ở nơi nào, khiến Dũng không thể có một phút lơi quên không nghĩ tới nó được.
Lương khô của họ mang đi vừa hết thì trước mắt họ dãy rừng tím biếc của chiến khu cũng vừa thấp thoáng hiện ra trong chiều sương mù. Khuya đêm ấy, Lưng Gấu đưa Dũng về đến trạm 23.
Từ chập tối, người thương binh cụt tay mặc chiếc áo màu rêu vẫn tựa cột ngủ li bì. Anh chàng xem như đã đẫy giấc rồi, vươn vai muốn ngồi dậy. Giữa lúc ấy, bỗng nghe cầu thang rung rinh, anh chống cánh tay phải nghiêng người dòm ra. Cửa xịch mở. Hai đội viên trinh sát liên lạc chiếu đèn pin lia khắp gian chòi trạm, tìm chỗ sửa soạn đặt lưng. Dũng bước theo, treo ba lô lên vách, còn ngoái cổ trông ra cửa.
Dưới chân cầu thang, bác trưởng trạm vuốt ria loay hoay nói vọng lên:
- Có mấy củ khoai mì cất chỗ góc phên. Anh em nướng ăn cho đỡ đói. Coi chừng trạm giùm tôi. Tôi còn đi đằng này một lát.
- Còn xa không bác? - Tiếng Lưng Gấu hỏi bằng giọng uể oải buồn ngủ.
- Đường tắt vừa đi vừa về chừng hai mươi cây số.
- Hay để họ cùng đi.
- Đâu được. Không có phép như vậy. Bất cứ ông gì cũng phải nằm tại trạm, đưa giấy vào trong ấy trước đã.
Bác trưởng trạm và Lưng Gấu đi rồi, Dũng mới bước đến bên mé lửa, đặt củi lại, thổi cho cháy lên. Hai anh trinh sát liên lạc nằm gối đầu lên súng, ngủ ngay từ lúc mới vào. Chỉ còn một mình Dũng ngồi duỗi chân, nhìn ngọn lửa.
Người thương binh cụt tay đã tỉnh ngủ. Nhưng anh ta vẫn không buồn đứng dậy. “Mình thức bây giờ cũng không làm gì?” Anh ta nghĩ bụng, và cứ ngồi tựa lưng vào cột, he hé mắt xem chú lính địa phương quân trẻ này làm gì. Cứ mỗi lúc ngọn lửa vừa liu riu chợt tắt thì cậu ta lại động đậy hai bàn tay nhỏ như tay con gái, bẻ tách một mảnh củi khô, cầm đặt khẽ lên lớp than hồng. Tiếng lắc rắc từ trong thớ gỗ chết nứt ra, bắn theo những tàn nhỏ li ti. Và trong khi mắt người không nhận kịp nó lòe cháy lúc nào, một ngọn lửa đỏ bùng lên nhảy nhót trong mẻ, khiến anh thương binh có cảm giác như cậu ta cầm ngọn lửa bỏ vào đó vậy.
- Chơi một trò ảo thuật hay đa! - Người thương binh buột miệng kêu lên.
Dũng quay lại. Hai luồng mắt giao nhau, dừng một lúc lâu không chớp. Không biết Dũng đã gặp người này ở đâu. Người thương binh lết tới, ngồi lên gốc củi khô cạnh Dũng. Anh cũng không nhớ mình đã gặp cậu này ở đâu. Trông quen lắm. Bộ mặt còn con nít, nhưng dáng vẻ trầm tư của cậu ta bên ngọn lửa khuya, trong cặp mắt tròn đăm chiêu nhìn anh, tỏ ra cậu là một người quá tuổi trưởng thành. Mà hình như anh chưa gặp cậu ta bao giờ. Chẳng qua cái quang cảnh bếp lửa rừng khuya làm anh chợt nhớ tới hình ảnh một bác lính già ngày xưa vẫn hay ngồi thức một mình như vậy. Khi về kiểm tra kho số 5, anh đã gặp bác ta ở đó. Nghe đâu trước kia bác ta làm nghề đánh xe ngựa ở Biên Hòa.
Người thương binh chép miệng nói:
- Trông chú giống như bác Tấn già ở trung đoàn 10, trong đơn vị mình. Đêm nào bác cũng ngồi thu lu bên bếp lửa...
Dũng sửng sốt kêu lên:
- Anh có biết hiện giờ ông ở đâu không? Tôi hồi trước cũng ở trung đoàn 10.
- Tiểu đoàn mấy?
- Tiểu đoàn 7. Anh có biết ông già đó hả?
Người thương binh lắc đầu. Anh móc ra một gói thuốc lá trồng tự túc, ghé răng xé mảnh giấy đặt lên đùi, bỏ nhúm thuốc vào rồi quấn bằng mấy ngón tay thoăn thoắt. Hút hết một hơi, anh mới nói chậm rãi:
- Có thể là bác ấy đã chết rồi. Trước trận La Ngà, đồng chí tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 7 đâu từ rừng lội đến kho gạo số 5 mượn ba người lính dắt đi, nói là mượn chừng mươi ngày thôi. Như có chuyện gì khẩn cấp lắm. Họ lội tắt qua đầm lầy, đi về phía mặt trời mọc. Hôm sau, máy bay địch bỗng nhiên đảo xuống bắn mấy loạt vào rừng, cách chỗ tôi ở chừng năm trăm thước. Nó quần ở đó lâu lắm. Anh em nghi không chừng đó là ám hiệu liên lạc với bọn gián điệp. Mò tới, thì nó bắn chết đồng chí Hòa. Cậu liên lạc bảo vệ mất tích...
Dũng chồm phắt dậy:
- Trời ơi! Vậy mà lâu nay tôi tưởng đồng chí Hòa còn sống, chuyển về đâu khu 9 rồi. Vậy thì cái kho...
Người thương binh chưa nghe hết câu đã cắt ngang:
- Kho 5 à? Sau chiến dịch chúng tôi chuyển cả - Và anh nói tiếp. - Ba người lính của tôi thì biệt luôn, không thấy về. Chắc là họ chết ở đâu rồi. Trong đó có bác Tấn.
Dũng quay mặt đi, cầm mảnh vỏ cây khều tro trong mẻ. Dũng không muốn ai trông thấy sự mềm yếu của lòng mình. Nhưng dầu sao, Dũng cũng vẫn không tin rằng cha mình chết.
Dũng ngước lên, nói:
- Bác Tấn chính là cha tôi đó, anh à!
