Cuộc Truy Tầm Kho Vũ Khí

Lượt đọc: 440 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
image

Người thương binh ấy tên là Ninh, nguyên trưởng ban quân nhu trung đoàn 10, cán bộ cấp tiểu đoàn. Anh bị thương, giải ngũ về coi trại tăng gia sản xuất mấy năm nay, mới được lệnh gọi cấp tốc về khu bộ. Không ngờ cậu lính trẻ gặp tình cờ ở trạm liên lạc lại cũng gặp anh ở đây, trong cuộc truy tầm kho vũ khí mà phòng Chính trị đang tiến hành điều tra. Dũng và Ninh đã lần lượt báo cáo tất cả những sự việc cũ trước đồng chí chính ủy. Đúng theo dự đoán của ông một cách lạ lùng. Y như ông đã biết trước rồi vậy. Theo lời của Dũng và Ninh, phòng Chính trị dựng lại câu chuyện một cách có hệ thống và phác ra bức sơ đồ vạch con đường vào kho vũ khí.

Mọi người ngồi chung quanh, nghe Dũng kể tiếp:

- Chúng tôi từ chỗ cây dương cụt đứng trông xuống chân đồi. Trời nắng gắt. Một dòng suối nhỏ lấp lánh như xà cừ chảy qua đám cỏ năng. Đồng chí Hòa kêu lên: “Muội dầu lửa. Chắc có mỏ dầu đâu gần đây!” Đồng chí Hòa dắt tôi và Khả ngược dòng suối lội phăng lên. Giữa một thung lũng trơ trụi, đất bằng như mặt ruộng có ba cây dương thấp mọc đều đặn như ba cái cọc xanh cắm hình tam giác. Chính giữa có chôn cái nón sắt đựng đầy cuội trắng. Dòng suối từ trên đồi phía trước róc rách chảy xuống như một đường vạch thẳng. Chúng tôi lội một lúc chừng năm trăm thước nữa thì giáp mé núi. Kho vũ khí ở đó. Dòng suối đã chảy qua một hầm chứa súng trung liên, khẩu súng nào cũng có quấn giẻ bôi mỡ bò. Lớp mỡ trôi theo nước.

- Con suối rộng và sâu không? - Chính ủy hỏi.

Dũng chớp chớp cặp mắt tròn hồi lâu. Đoạn, nói cách quả quyết:

- Bề ngang hơn thước, dường như chỉ là nước của những cơn mưa to đọng lại. Mùa nắng cạn, không tìm thấy con suối ấy đâu. Chắc chắn như vậy, thưa chính ủy.

Ông chính ủy “à” một tiếng khẽ trong cổ:

- Đó là lí do máy bay trinh sát địch chỉ lượn tìm vào mùa mưa. - Chính ủy bỗng hỏi Dũng một câu đột ngột. - Khả liên lạc có phải là anh chột mắt không?

- Thưa không.

- Vậy anh chột mắt là ai mà chú đã gọi trong cơn mê sảng theo báo cáo của bác sĩ quân y?

- Thưa đồng chí, có thể là tôi nói cuồng lúc ấy thôi.

Ninh nói chen vào:

- Khi chúng tôi gặp xác đồng chí tiểu đoàn trưởng thì khẩu súng lục của đồng chí đã mất. Bên cạnh có cái mũ vải của người liên lạc vấy máu. Có thể là một kẻ nào đó đã lấy khẩu súng. Trước khi đi hắn đã bắn chết cậu liên lạc, vứt xuống hố sâu nào đó.

Chính ủy lẳng lặng nghe không nói gì. Ông không tin lắm cái giả thuyết ấy. Biết đâu Khả vẫn còn sống? Không phải Khả, vậy anh chột mắt là ai? Ông vẫn tin là hắn có mặt ở kho vũ khí lúc đồng chí Hòa tìm gặp. Những lời thốt ra trong cơn mê sảng đã sống dậy trong tiềm thức mà lúc bình thường Dũng không nhớ được chăng? Điều ấy làm cho đồng chí chính ủy hết sức băn khoăn. Nhưng ông nghĩ mãi vẫn chưa ra.

•O•

Giặc Pháp vẫn ngày đêm chạy ca nô dọc sông Đồng Nai thả biệt kích lên bờ. Từ hướng Phú Riềng, chúng chọc xuống một mũi tiến vòng cung, đốt tất cả các xóm nhà, rẫy của đồng bào ta dọc bìa rừng, đe dọa tấn công vào chiến khu. Tiểu đoàn chủ lực khu phải phân tán ra từng trung đội chuyển sang thế du kích phòng ngự. Trong tình hình đó, không thể lấy nhiều người vào đội truy tầm kho vũ khí. Vả lại công việc này còn phải hết sức giữ bí mật, tránh tai mắt bọn gián điệp địch. Phòng Chính trị quyết định chỉ phái đi một tiểu đội, trang bị toàn súng nhẹ. Khi tìm được kho vũ khí, sẽ cho liên lạc về báo cáo, tổ chức vận chuyển sau.

Đội, do Ninh phụ trách chỉ huy. Dũng được cử làm đội phó. Đội chọn toàn những tay súng giỏi, thông thạo chiến đấu vùng rừng núi. Trong số đó có Nghĩa, một anh có đặc tài leo trèo, chuyền cây như vượn, và Ngư, gốc người làm đáy 4 trên sông Cửu Long, bơi lặn không khác gì một con rái cá. Do dự mãi, trước hôm khởi hành, Ninh vừa mới đề nghị cho chị Năm vào đội, chị này là y tá, con một viên chức đo đạc ngày xưa. Những năm trước kháng chiến, cô gái này theo cha ở nhiều vùng rừng núi, biết nhiều thổ ngữ của các dân tộc ít người. Theo đội, chị có thể làm cứu thương và thông ngôn khi tiếp xúc với đồng bào thiểu số được.

Đội truy tầm sắp sửa lên đường. Đồng chí chính ủy trao cho Ninh bức bản đồ đựng trong chiếc ống thiếc buộc quai da và cái địa bàn tùy thân của ông. Ông cầm mục kỉnh lau mãi mới đeo lên, và đưa mắt rất lâu vào tiểu đội dàn ngang trước mặt mình. Đội trưởng chỉ có một cánh tay. Đội phó thì còn trẻ quá, chân lại khập khễnh thành tật vì vết thương cũ. Cô cứu thương này có thể giúp đồng đội được nhiều, nhưng cũng là một vướng víu cho họ. Toàn đội hầu hết là lính trẻ. Chính ủy nhìn từng người, từ đầu đến chân, như đo lường sức họ trước những khó khăn to lớn có thể vấp phải trên đường. Sau khi dặn dò cẩn thận từng chút, chính ủy nói thêm bằng một giọng xúc động:

- Các đồng chí tất đã nhận thức được tầm quan trọng và tính chất đặc biệt của công tác này rồi. Trong chốc lát rời khỏi nơi đây, các đồng chí sẽ bước vào một cuộc chiến đấu mở ra trước mắt. Chẳng những với địch, mà còn cả với thiên nhiên. Vô rừng rậm, vượt qua các vùng bị tạm chiếm hiểm nghèo. Trong mọi cuộc đấu tranh sống chết, luôn luôn phải có một kỉ luật sắt thép mới đảm bảo dành được thắng lợi cuối cùng...

Chính ủy trỏ vào đội trưởng đứng ở đầu hàng:

- Điều thứ nhất là: Các đồng chí phải tuyệt đối phục tùng chỉ huy. Bất cứ trong trường hợp nào, tiếng nói của đồng chí Ninh là một mệnh lệnh. Điều thứ hai là: Phải tuyệt đối giữ bí mật hành trình, để lộ một sơ hở nhỏ là có thể chết, có thể bị phá vỡ kế hoạch. Điều thứ ba, các đồng chí nên nhớ là lúc nào cũng phải giữ vững tinh thần can đảm và trầm tĩnh trước mọi nguy biến...

Chính ủy nghiêng mình bắt tay từng người:

- Thôi, chúc các đồng chí gặp nhiều may mắn và hoàn thành nhiệm vụ nặng nề khó khăn nhưng cũng hết sức vẻ vang này!

•O•

Chiều thấp và nặng. Không khí oi nồng bực bội, báo trước những ngày mưa sét 5 lay rừng chuyển núi. Lớp lá dày xanh mênh mông che kín vòm trời như trĩu xuống. Rừng nín hơi vươn những cột cây cổ thụ, tủa nhánh lên chống đỡ để trời khỏi đè sập xuống. Họ lần theo đường xe bò nhung nhúc những đám kiến càng chạy rời tổ, lần ra hướng sông Đồng Nai. Trong tiếng sấm xa ầm ì không biết vẳng tới tự hướng nào, tiếng súng đại bác trầm trầm lâu lại nổi lên. Cỏ tranh mọc trong các cánh rừng thưa rùng mình cúi xuống níu theo chân đám người lặng lẽ vạch đường đi tới.

Ban đêm họ trèo lên cây, mắc võng thật cao để tránh hổ. Nhiều lúc mới có chập tối đã có hổ lần theo. Nó cứ men theo đường họ đi, chạy sột soạt trong lau, có khi bò ra đón chặn đầu. Nhưng họ không nổ súng. Những lúc ấy, cả đội rập nhau quát lên. Dũng cầm roi mót quất vun vút vào không khí mới đuổi được nó. Họ đi ròng rã ba ngày như vậy, đói thì cắt bánh tét ra ăn, khát thì vục nước suối lên uống. Đến hôm thứ tư mới thấy làn sương mù thấp thoáng hiện ra trên những ngọn trúc, ngọn cây lồ ô ken nhau mọc dầy như bức trường thành, báo hiệu dòng sông Đồng Nai từ nguồn xanh đổ xuống chắn ngang phía trước.

Đến bờ sông, đội dừng lại vào cả chòi rẫy, “này” 6 gạo thổi cơm. Nhưng đồng bào ở đây chẳng ai còn một nhúm gạo. Họ cho anh em một thúng khoai lang. Chị Năm nhìn dòng nước xanh trong suốt như pha lê êm ả chảy về vùng xuôi, chép miệng kêu lên:

- Chao ôi! “Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai”. Ông bà ta nói không ngoa đâu nhé. Ước gì có một nồi gạo trắng bây giờ!

Câu thốt đó làm cho Dũng chạnh lòng nhớ tới cái chết thê thảm của mẹ, gối đầu lên bọc quả sung non. Bên kia dòng sông là con lộ từ đồn Cây Gáo chạy cặp theo sông, về Biên Hòa. Con lộ đất đỏ ấy, lần lần dắt Dũng trở về tận đường hàng điệp, vào thị xã... Những chiếc xe ngựa chở đầy bưởi chạy lọc cọc dưới tàng hoa điệp đỏ ối, các buổi trưa Hè chói chang ra rả tiếng ve sầu. Cậu bé Dũng đội tùm hum chiếc nón nỉ cũ, tuột cả dây băng, ngồi chầu hẫu bên cạnh cha. Người cha lâu lâu quay sang nhìn con, lắc lắc dây cương, tróc một tiếng cho ngựa vượt lên, hỏi con: “Sau này, con lớn lên, con muốn làm gì?” Dũng đáp: “Con đánh xe như ba!” Bác Tấn vỗ vỗ lên đầu con: “Không nên theo cái nghề bạc bẽo này, con à. Vất vả lắm mới kiếm được chén cơm ăn!” Nói vậy nhưng bác lại trao cương cho thằng bé, móc thuốc ra quấn hút, tay cầm cái bật lửa khắc hình con ngựa đang dựng hai vó trước lên, mài mài vào ngực áo, chỉ dẫn con lái tránh các ổ gà, say sưa nói về cách vỗ ngựa, nói về đặc điểm của những con ngựa hay... Giờ đây, không biết cha Dũng ở chốn nào. Dũng ngồi mơ màng bên bụi trúc, bồi hồi nhớ lại những năm còn bé dại. Những hình ảnh xa xôi ấy như vừa hiện ra lại chợt biến đi trong lớp sương mù... Bỗng thình lình Dũng vụt nhổm dậy. Tiếng đạn cối hu hú bay vèo qua đầu, nổ oàng oàng liên tiếp dọc bờ sông.

Chốc sau, ca nô địch phình phịch chạy lên. Một chiếc, hai chiếc, ba chiếc. Những thằng giặc Pháp râu xồm, cởi trần, da đỏ như heo quay dạng chân đứng trước mũi. Bọn ngụy quì thụp hai bên be, chìa súng lên bờ. Lâu lâu, chúng dò dẫm quét vu vơ một loạt súng trung liên đề phòng du kích trong rừng bắn xuống. Ba chiếc ca nô lần lượt chạy qua. Dũng thở phào một tiếng, đeo súng lên vai: “Bận khác thì tao cho tụi bây lãnh mỗi đứa vài viên đạn, xuống tìm Hà Bá”.

Trời chưa sập tối, đồng bào đã đẩy xuồng ra bến, chèo đưa tiểu đội qua sông. Bên đây là vùng địch kiểm soát. Không có du kích địa phương dẫn đường. Dũng và Nghĩa làm nhiệm vụ xích hầu 7 đi trước. Họ vượt qua những xóm nhà tranh xơ xác, tối om, cửa đóng im ỉm. Tiếng trẻ con khóc vọng ra từ một ngôi lều. Hình như chỉ có một mình thằng bé trong đó. Nó kêu: “Má ơi!” Tiếng gọi mẹ nấc lên, nghẹn ngào lấp mất trong im lặng, nghe hãi hùng như tiếng người chết đuối cố với lên mặt nước, kêu cứu tiếng cuối cùng. Nghe tiếng gọi mẹ, hai chân chị Năm tự nhiên lóng cóng, dường như không bước được nữa, khiến chị phải dừng lại. Ngày chị còn bé, một buổi chiều mưa đi học về, bước vào gian nhà xẩm tối, siêu thuốc tắt lửa từ bao giờ, chỉ còn những tàn tro lạnh ngắt gió thổi bay rơi trắng dưới chân giường bà mẹ ốm đã chết không thấy mặt con. Hai tay bưng mặt, chị nghe trong tai vẳng lên tiếng gọi mẹ của mình hồi thơ ấu, ngơ ngác hãi hùng như tiếng kêu của thằng bé giờ đây. Ninh từ phía sau bươn một tay nắm vai chị xô tới: “Đi chớ! Sao dừng lại vậy?” Chị Năm cúi đầu bước theo người trước đã cách chị một quãng xa. Xóm làng thin thít chìm trong một bầu không khí im lặng đầy đe dọa và chết chóc.

Họ vượt lên đường Cây Gáo. Mùi thuốc lá lờm lợm của bọn giặc phục kích vừa kéo đi còn thoảng trong không khí lành lạnh hơi sương. Sáng hôm sau, họ vào tới một xóm tre. Vùng này cũng như các xã dọc dài theo lộ, giặc thường càn đi quét lại dữ dội. Một số cán bộ đã mất tinh thần, nhảy ra đầu hàng giặc, đưa giặc trở về khủng bố lại đồng bào. Du kích xã đều thoát li. Ban ngày họ sợ, rút sâu vào rừng, tối mới dám mò về công tác. Ngày xưa, Ninh cũng thường qua lại vùng này. Anh vào nhà một ông già quen, “này” gạo thổi cơm cho anh em ăn.

Ông lão không nhận Ninh là người cũ, đứng nhìn tiểu đội chằm chằm, rồi lắc đầu:

- Nhà tôi không có.

Ở đây đồng bào thấy ai lạ cũng sợ. Biết đâu là bọn ngụy trá hình? Đã có lần chúng giả cán bộ vào nhà đồng bào xin cơm. Ăn xong, chúng lôi chủ nhà ra bắn chết giữa sân. Ninh nhét ống tay rỗng vào thắt lưng, siết lại. Anh dắt tiểu đội lần theo các bờ tre đi đến chiều vẫn không ghé nhà ai được. Anh em đành cắt bánh tổ ra ăn. Món lương khô này chỉ được dùng trong trường hợp thắt ngặt lắm, khi không còn tìm ra gì ăn được. Họ ngồi ở bìa rừng chồi. May lúc xế chiều thì gặp đồng chí xã đội. Xã đội trưởng vào xóm, mang cho họ một thúng cơm. Không có thức ăn, chỉ cơm với muối ớt thôi. Nhưng cả tiểu đội đều ăn ngon lành.

Lúc trời đã vàng trên đầu ngọn cây ở hướng các lô cốt thì đội truy tầm theo đồng chí xã đội trưởng lần ra. Đồng chí này đi trước, kế đó là Ninh. Dũng cầm súng các bin khập khiễng đi sau các anh em trong đội. Họ đi lặng lẽ, mắt lúc nào cũng ngóng nhìn quanh quất. Thình lình nghe có tiếng giày đinh chạy giẫm lên đất thình thịch. Dũng quay về phía đó. Trong con đường ngoằn ngoèo từ hông rừng bên trái, một đám giặc mặc quần áo kaki vàng hực chạy ra. Ba bốn loạt súng máy nổ rền liên tiếp. Đồng chí xã đội trưởng ngã sấp xuống, đạn xuyên từ ngực trái trổ ra lưng, chỉ nghe tiếng rên è... è... Tiểu đội không kịp bắn lại. Ninh dắt anh em chạy vượt lên. Chị Năm vướng chân vào bụi gai mắc cỡ quị xuống. Dũng dừng lại, kéo chị dậy, đẩy chạy tới. Giữa lúc Dũng vừa nhớm chân, bỗng nghe nhói một cái dưới gót, và cái chân khập khiễng vừa co lên chưa kịp chạy, bật mạnh tới trước. Dũng nhân đà ấy, phóng luôn chân kia chạy tuôn vào rừng. Súng nổ loạn xạ sau lưng. Tiểu đội quay lại bắn trả bọn giặc mới nằm xuống. Chốc sau, chúng lại đứng dậy cầm súng đuổi theo. Nòng súng chúc xuống đất, chúng chỉ có thể bắn được hai chân người chạy phía trước là cùng. Dũng luồn trong các bụi cây. Toán giặc ở xa không dám bắn, sợ trúng phải đám đuổi gần sát Dũng. Đạn tiểu liên phực phực hai bên chân, bẻ gẫy cành cây, bứt lá xanh rụng lả tả. Trời chập choạng tối, Dũng chạy đến một lùm gai mắc cỡ rùng chân phóng mạnh một cái, lọt thỏm vào giữa. Anh lên cò súng, ghìm trong tay nhìn ra. Bấy giờ Dũng mới thấy chân đau. Viên đạn tiểu liên xuyên từ gót lên mu bàn chân, không chảy máu mấy.

Bọn giặc không tìm được dấu máu. Chúng bu quanh xác đồng chí xã đội trưởng, văng tục, chửi thề một hồi rồi kéo đi.

Dũng ngồi im trong bụi, sợ chúng để người nằm lại phục kích. Dông bỗng kéo tới đùng đùng. Rừng cây gào thét trong một cơn mưa trút nước không kịp vuốt mặt. Dũng đã nhiều lần bị thương, nên rất trầm tĩnh. Anh xé áo may ô mò mẫm băng xong vết đạn, đoạn lấy cái mũ vải trùm lên cho đỡ ướt. Sợ nhất là vết thương ngấm nước, đất cát bết vào. Đã có nhiều anh em du kích xem thường vết thương nhẹ, bị trúng phong đòn gánh chết. Khi đi, đội đã chuẩn bị mang theo bông, băng tẩm thuốc. Bây giờ tất cả nằm trong túi vải của chị Năm. “Không biết anh em đã thoát cả chưa? Hay có người rơi lại như mình...” Anh ngồi trong bụi, mỗi lúc một lạnh run. Vết thương càng nhức buốt. Chốc sau mưa tạnh. Tiếng giun dế bắt đầu kêu ran trong lùm bụi tối đen, lập lòe những chấm sáng xanh nhấp nháy của một bầy đom đóm. Có tiếng chân bước sụp vào vũng nước, giẫm lên lá sột soạt đi về hướng Dũng. Dũng bò tránh đi một chỗ khác, núp sau gò mối, ngón tay lăm lăm cò súng. Bóng một bà già đi lom khom, như đang lục lạo tìm gì trong các bụi cỏ. “Có anh em nào trong đó không?” Bà lão hỏi khe khẽ, đoạn ngẩng nhìn lên nghe ngóng chung quanh, chốc sau lại bước đi, lại hỏi lại câu vừa rồi. Dũng biết chắc là người mình, bèn vẹt gai đi ra.

- Bà ơi! - Anh run run gọi to, giọng nén xuống.

Bà lão mừng rỡ chạy đến:

- Tụi nó đi hết rồi. Có bị thương không, con?

Dũng nghe cổ mình nghèn nghẹn. Giọng bà lão y như giọng đầm ấm của mẹ anh ngày trước. Dũng nói nho nhỏ:

- Bị thương nhẹ thôi, má à!

Bà lão đưa cho Dũng chai nước nóng và một củ gừng, bảo anh nhai gừng uống đi cho ấm. Bà dìu Dũng về xóm. Đồng bào đốt đuốc, khiêng xác đồng chí xã đội trưởng vào chôn trong rừng. Trong đám người đi chôn, Dũng thấy có ông lão tóc bạc mà Ninh ghé vào nhà hỏi gạo ban sáng.

Vết thương ở chân Dũng bắt đầu sưng lên, hành anh sốt mê man. Lúc trời gần sáng, anh em du kích và mấy người đàn bà đặt Dũng lên võng, xỏ đòn khiêng đưa Dũng về trạm dân y xã ở mãi sâu giữa rừng.

Đội truy tầm phải dừng lại mất hai hôm. Khi đã chạy thoát bọn giặc, quay lại không thấy Dũng, ban đầu một số anh em cho là Dũng chạy lạc hoặc còn ẩn lại đâu đó. Họ dừng lại chờ. Ai cũng cố xua khỏi đầu óc mình những hình ảnh và ý nghĩ về một nguy biến nào đó có thể xảy ra cho anh đồng đội trẻ. Chị Năm nói vui như muốn xua cái không khí lo âu bắt đầu lởn vởn chung quanh mọi người mà chị đã cảm thấy rõ ràng:

- Dũng mà không kéo tôi đứng lên kịp có lẽ bây giờ tôi còn nằm lại chỗ bụi gai. Một là lãnh một viên đạn, hai là bị chúng nó bắt. Dũng chạy tài thật!

Nghĩa đang đứng ngóng về phía anh em vừa thoát đến đây, nghĩ bụng: “Con gái, đàn bà theo bộ đội ra trận mạc thì làm được cái tích sự gì...” Nghe chị Năm nói, quay lại thấy chị ngồi tựa lưng vào gốc cây sao vừa thở và hai bàn tay không ngớt măn gỡ những đầu gai còn mắc vào ống chân, anh ta vừa thấy thương hại chị, lại vừa thấy nổi bực.

- May mà gặp bụi mắc cỡ nó xấu hổ, cụp cả lại, chị mới đứng dậy được. Vướng thứ gai khác, thì anh em phải trở lại vác phảng phạt trụi gốc cây mới khiêng chị ra được, chớ tưởng giỡn...

Mọi người đứng im lặng. Không ai cười hưởng ứng. Chưa bao giờ Nghĩa thấy mình trơ trẽn như lúc này. Suốt cơn mưa, tiểu đội đã ngồi lặng lẽ núp bên các gốc cây, chẳng ai nghĩ tới giở áo tơi ra mặc. Lúc gần khuya, Ninh cầm súng đứng lên, giọng trầm tĩnh, nhưng vẫn không giấu được lo lắng ẩn chứa bên trong:

- Có lẽ Dũng không việc gì đâu. Đồng chí nào quay lại với tôi?

- Có tôi! - Tiếng Nghĩa đáp nho nhỏ trong tối.

Hai người dò dẫm, nghe ngóng từng bước đi rất lâu mới trở lại đến chỗ gặp giặc ban chiều. Khi họ tới đó thì Dũng đã được bà mẹ đưa vào xóm và đồng bào cũng đã khiêng xác đồng chí xã đội trưởng đi rồi. Suốt hai đêm, Ninh và Nghĩa vạch từng lùm bụi, lục kiếm khắp nơi. Chẳng thấy Dũng đâu. Tiểu đội đành tiếp tục cuộc hành trình.

Tuy Ninh và Nghĩa không nói ra với anh em, nhưng cả hai đều nghĩ thầm: “Có lẽ Dũng đã hi sinh rồi!”

Hình ảnh
« Lùi
Tiến »